Tại Điều 46, “ quần đảo” được xác định là “ một tổng thể các đảo, kể cả các bộ phận của các đảo, các vùng nước tiếp liền và thành các phần tự nhiên khác cóliên quan với nhau đến mức tạo
Trang 1Môn: Nghiệp vụ hướng dẫn du lịch
I.KHÁI QUÁT VỀ HỆ THỐNG ĐẢO VÀ QUẦN ĐẢO VIỆT NAM
Nước Việt Nam chúng ta bao gồm phần đất liền hình chữ S và các vùng biển,thềm lục địa rộng gấp nhiều lần so với diện tích đất liền Trong vùng biển, nước talại có các đảo ven bờ, nhiều đảo và quần đảo xa bờ rất quan trọng như: quần đảoHoàng Sa, quần đảo Trường Sa, quần đảo Thổ Chu, đảo Bạch Long Vĩ
Mỗi 1 hòn đảo là 1 thế giới thu gọn và tượng trưng cho từng đặc điểm riêngbiệt về phong cảnh đẹp đẽ và tài nguyên giàu có của biển 3 ngàn hòn đảo là 3 ngàncảnh sắc huy hoàng và kho tàng quý báu của đất nước ta Có người đã nói một cáchtượng hình rằng đất nước Việt Nam lưng tựa vào dãy núi Trường Sơn hùng vĩ, 2 tay
ôm lấy 2 quần đảo tuyệt đẹp, ở phía đông bắc và phía tây nam 2 chân đạp trên 2quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa
Trước khi tìm hiểu về các đặc điểm cơ bản, giá trị đặc hữu của hệ thống đảo
và quần đảo nước ta, hãy cùng xem lại khái niệm về đảo và quần đảo
Theo như công ước về Luật biển năm 1982, tại Điều 121, “ đảo” được địnhnghĩa như sau: “Đảo là một vùng đất tự nhiên có nước bao bọc, khi thuỷ triều lênvùng đất này vẫn ở trên mặt nước”
Tại Điều 46, “ quần đảo” được xác định là “ một tổng thể các đảo, kể cả các
bộ phận của các đảo, các vùng nước tiếp liền và thành các phần tự nhiên khác cóliên quan với nhau đến mức tạo thành về thực chất một tổng thể thống nhất về địa
lý, kinh tế và chính trị, hay được coi như thế về mặt lịch sử”
I.1 Vị trí địa lý và phân loại
Vị trí địa lý
Vùng biển nước ta có trên 4000 hòn đảo lớn nhỏ trong đó:
+ Vùng biển Đông Bắc có trên 3.000 đảo
+ Bắc Trung Bộ trên 40 đảo
Trang 2+ Còn lại ở vùng biển Nam Trung Bộ, vùng biển Tây Nam và hai quần đảoHoàng Sa và Trường Sa ở giữa biển Đông.
Phân loại:
+) Căn cứ vào vị trícủa đảo và quần đảo nước ta:
a Hệ thống đảo gần bờ:
- Theo các nhà khoa học, là hệ thống đảo, quần đảo phân bố trên thềm lục địa,
kể từ sát bờ cho tới những đảo xa nhất là Bạch Long Vỹ, Hòn Hải, Bảy Cạnh, ThổChu, Phú Quốc,
Theo định nghĩa về đảo nhỏ của UNESCO ( < 2000 km2 là đảo nhỏ, < 100km2 là đảo rất nhỏ) thì chỉ trừ 3 đảo Phú Quốc, Cái Bầu và Côn Đảo là loại nhỏ,còn lại tất cả các đảo ở Việt Nam đều thuộc loại rất nhỏ Cũng theo đó Việt Nam cótổng diện tích các đảo gần bờ là khoảng 1720 km2 trong đó có 3 đảo lớn và 21 đảotrung bình và 60 đảo nhỏ Mặc dù số đảo ven bờ nhiều nhưng cũng chỉ có diện tích
> 1 km2 là những đảo đủ lướn để có thể sử dụng thuận lợi trong quốc phòng và pháttriển kinh tế biển và quốc phòng Chúng chỉ chiếm 3,03 % số đảo ven bờ nhưng lạichiếm 92,78% tổng diện tích các đảo
- Ven bờ Bắc Bộ tập trung nhiều đảo nhất tới 83,7% tổng số đảo
- Ven bờ Bắc Trung Bộ có ít đảo nhất, chỉ tới 2% tổng số đảo
- Ven bờ Nam Trung Bộ và Nam Bộ tương đương nhau về số lượng đảo( khoảng 7%) nhưng về mặt diện tích thì các đảo ven bờ Nam Bộ lại khá tươngđương với Bắc Bộ, chiếm 40,3% tổng diện tích các đảo, còn đảo ven bờ Nam Trung
Bộ chỉ chiếm 10% tổng diện tích các đảo
- Các tỉnh có nhiều đảo nhất là Quảng Ninh (74,94%), Hải Phòng ( 8,76%),Kiên Giang ( 5,73%), Khánh Hoà ( 3,82%),
- Điều kiện tự nhiên trên các đảo đa dạng Địa hình các đảo chủ yếu là đồi núithấp trên đá vôi, đá bazan và trên đá trầm tích có thế nằm khác nhau, với sườn dốckhoảng 15-35 độ Độ cao phổ biến của các đảo vào khoảng 100-200m
- Khí hậu các đảo ven bờ tương đối điều hoà hơn so với đất liền Lượng mưa
và độ ẩm của các đảo vùng Nam Trung Bộ thấp hơn các vùng khác
- Các tài nguyên dạng khoáng sản, nước ngọt, đất canh tác trên các đảo là rấthạn chế.Một số ít đảo có triển vọng dầu khí, có than với trữ lượng không lớn, vật
Trang 3liệu xây dựng như cát, cao lanh Tầng đất trên các đảo mỏng, thường xuyên bị rửatrôi nên nghèo chất dinh dưỡng Chỉ 20% diện tích tự nhiên có khả năng nôngnghiệp.
- Thực, động vật trên các đảo nói chung phong phú, có nhiều loài cây, con quýhiếm Trên đảo có nhiều cây lấy gỗ, thuốc,quả, cây cảnh, cây làm thức ăn cho người
và gia súc Sinh vật ở đảo, vùng biển quanh đảo phong phú và có giá trị kinh tế cao.Ngoài các sinh vật phù du cón hàng trăm loài động vật đáy
- Tiềm năng du lịch của các đảo ven bờ là thế mạnh nổi trội Ở cả 3 vùng biểnBắc Bộ, Trung Bộ và Nam Bộ hiện nay đều có nhiều khu du lịch, nghỉ dưỡng nổitiếng với các đảo thuộc Vịnh Hạ Long, quần đảo Cát Bà, Hòn Mê, Cồn Cỏ và cácđảo trong vịnh Vân Phong, Cam Ranh, Côn Đảo,Phú Quốc,…
b Hệ thống đảo xa bờ :
- Việt Nam có 2 quần đảo xa bờ là Hoàng Sa và Trường Sa với trên 168 đảo,
đá và bãi Trong đó Hoàng Sa trên 37 đảo Con số này chưa phải số liệu cuối cùng
vì hiện nay (2014) chưa có số liệu chính thức
- Một nghiên cứu địa chất về các rạn san hô ở quần đảo Hoàng Sa của nướcngoài cho biết ở đây có tất cả 31 đảo, trong đó có 3 đảo rộng hơn 1,5 km2, 8 đảothuộc cấp 0,1-0,5 km2, 5 đảo trong khoảng 0,05-0,09 km2, còn lại là các đảo nhỏhơn 0,05 km2
- Ở Trường Sa tuy số lượng đảo, đá, bãi nhiều nhưng cũng chỉ có 16 đảo vàdiện tích tổng cộng của các đảo đó chỉ khoảng 180 ha, tức 1,8 km2
- Hai quần đảo xa bờ của nước ta được tổ chức thành 2 huyện đảo: Huyện đảoHoàng Sa được thành lập năm 1982 thuộc tỉnh Quảng Nam-Đà Nẵng và từ ngày23/1/1997 trực thuộc thành phố Đà Nẵng, huyện đảo Trường Sa được thành lậpngày 9/12/1982 trực thuộc tỉnh Đồng Nai, nay trực thuộc tỉnh Khánh Hoà
I.2 Vai trò và tầm quan trọng của đảo, quần đảo nước ta
* Về chính trị:
Việt Nam là một quốc gia tiếp giáp với biển, có vị trí địa-chính trị đặc biệtquan trọng trong giao lưu quốc tế Vai trò quyết định tới địa chính trị chính trênbiển Việt Nam cần nhấn mạnh tới vai trò của hệ thống đảo ven bờ và các quần đảoHoàng Sa,Trường Sa
Trang 4Ở nước ta, 2 quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa có vị trí chiến lược hết sứcquan trọng Hai quần đảo này nằm rải rác,kéo dài từ bắc xuống nam, ở ngay giữabiển Đông như tấm bình phong che chở cho lãnh thổ Việt Nam Hai quần đảo nàykhông những nằm ở vị trí tiền tiêu “ bảo vệ sườn đông của tổ quốc, bảo vệ vùngbiển, các hải đảo ven bờ mà còn giống như trại quan sát nổi theo dõi, kiểm soát toàn
bộ vùng biển Tổ quốc”
Dải ven biển nước ta, hệ thống đảo ven bờ là phần lãnh thổ quan trọng ảnhhưởng đến kinh tế-xã hội-chính trị của đất nước “ Dải ven biển Việt Nam là mộthành lang phía đông của bán đảo Đong Dương, hành lang này kéo dài theo phươngbắc-nam trên 2000 km, không những là cửa mở, mặt tiền của các nước thôngthương với thế giới bên ngoài và hội nhập quốc tế mà còn là cửa ngõ đi ra biển củanhiều quốc gia và lãnh thổ phương Tây” Vị trí địa lý của các đảo, quần đảo ảnhhưởng đến sự vững chắc của hệ thống quốc phòng an ninh, cũng như thuận lợi đểnước ta giao lưu kinh tế với các nước láng giềng
* Về kinh tế:
Biển đảo là một phần lãnh thổ có vai trò lớn ảnh hưởng trực tiếp đến nề kinh
tế quốc dân Công-nông-ngư là 3 ngành của kinh tế Việt Nam Nguồn sản lượngđộng, thực vật biển cùng trữ lượng khoáng chất trong biển là nguồn lợi về kinh tếnếu biết khai thác đúng mực để không tác động đến cảnh quan tự nhiên Đảo kếthợp với các dải ven biển là cơ sở để phát triển các dịch vụ biển cũng như dịch vụ dulịch Các dải ven biển gắn với hệ thống đảo và quần đảo nước ta như: Vịnh HạLong, Bái Tử Long với du lịch Quảng Ninh và Hải Phòng; Hòn Tre, Hòn Mun với
du lịch Nha Trang; Phú Quốc đối với du lịch Kiên Giang,…
Ở các đảo và dải biển ven bờ thường hình thành các ngư trường rộng lớn, làtiềm năng để phát huy khả năng đánh bắt thuỷ hải sản Nhờ vậy, lượng hải sản thubắt được nhiều có thể đem bán ngoài thị trường hay xuất khẩu Thu nhập nhờ hoạtđộng này chiếm 1 phần lớn tỉ trọng GDP ở Việt Nam
* Tạo nên nét đặc sắc trong văn hoá Việt Nam:
Mô hình văn hoá của cư dân Bách Việt đã chi phối sâu sắc cuộc sống củangười dân trên mọi miền đất nước.Tuy nhiên, từ lâu người Việt cổ cũng đã nhậnbiết được một nền văn hoá mới có ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống của một bộ
Trang 5phận người dân ở Việt Nam, đó là văn hoá biển đảo Từ việc sinh sống dựa vàonguồn tài nguyên biển đảo, các lớp ngư dân đã hình thành và tích luỹ vô vàn các giátrị văn hoá từ đời này sang đời khác Cũng vì sự gắn kết giữa biển và đảo ấy đã hìnhthành nên các nét đẹp văn hoá mà nổi bật trong đó là tín ngưỡng của người dânvùng ven biển hay các huyện đảo: tín ngưỡng thờ Cá Ông, tục thờ Tứ vị ThánhNương, tục thờ Cô Bác Bên cạnh đó cũng có những kiêng kị từ việc chế tạo công
cụ, chuẩn bị ra khơi, ra khơi và khi về bến
I.3 Đặc điểm của hệ thống đảo và quần đảo Việt Nam
Nhìn chung, hệ thống đảo và quần đảo Việt Nam có các đặc điểm sau:
- Hệ thống đảo, quần đảo Việt Nam giàu tài nguyên sinh vật
- Kinh tế đảo, quần đảo có xu hướng tăng nhờ hoạt động kinh doanh du lịch
và các dịch vụ biển
- Hệ thống đảo, quần đảo Việt Nam có tiềm năng về việc khai thác cácnguồn khoáng sản hay các nguồn năng lượng trên biển như sóng, gió,
1.4 Giá trị đặc hữu của hệ thống đảo, quần đảo Việt Nam
- Giá trị về cảnh quan, tài nguyên sinh vật
+ Tài nguyên sinh vật đảo
Động, thực vật trên các đảo tuy không phong phú như trên đất liền nhưngthường là những loại quý hiếm, có giá trị kinh tế và giá trị về khoa học về nguồngen và đa dạng sinh học của chúng
Đặc biệt là nguồn lợi hải sản, sinh vật trên bãi triều và vùng biển quanh đảo rấtphong phú và có giá trị kinh tế cao Ngoài các sinh vật phù du, có hàng trăm loàiđộng vật đáy (bào ngư, trai ngọc, nghêu, ốc nón, hải sâm…) san hô, rong biển, vớinhiều ngư trường, bãi tôm, cá, mực có mật độ lớn, trữ lượng cao
Nhìn chung, nguồn lợi sinh vật của các đảo ven bờ Bắc Bộ và Bắc Trung Bộphong phú hơn vùng phía Nam, ngược lại nguồn lợi hải sản: cá, tôm, mực… vùngbiển ven đảo phía Nam lại phong phú hơn
Trên thềm san hô quần đảo Trường Sa có nhiều loại hải sản quý như: hải sâm,rùa biển, cá ngừ, tôm hùm, rong biển và các loại ốc có giá trị dinh dưỡng cao, nếu
Trang 6được khai thác, chế biến tốt sẽ mang lại thu nhập lớn cho nhân dân và và làm hànghóa xuất khẩu thu lợi nhuận cao.
Cho đến nay, danh sách 15 khu bảo tồn thiên nhiên biển Việt Nam đều gắnliền với các đảo
Các hệ sinh thái đảo biển có chỉ số đa dạng sinh học cao >3,3, nhưng khốilượng của các loài sinh vật không lớn do diện tích đảo rất hạn hẹp và tính nhiệt đớicủa địa sinh học Trong khi đó các loài đặc sản biển của đảo mang tính địa phươngcao
Khác với đất liền, hệ sinh thái rừng trên đảo phát triển rất khó khăn, phải trảiqua hàng chục năm, thậm chí hàng trăm năm và có tính đặc hữu cao, đem lại chocon người những giá trị vật chất và tinh thần
Tài nguyên rừng ở đảo không chỉ là sản phẩm từ rừng như gỗ, lâm sản ngoài
gỗ mà còn là những dịch vụ môi trường mà rừng mang lại như là áo giáp bảo vệđảo, chống xói mòn giữ ẩm cho đảo, là nguồn nuôi dưỡng mọi sự sống, là cảnhquan sinh thái có sức hấp dẫn du khách
Trong thảm thực vật rừng trên đảo phần lớn là các loài cây có nguồn gốc từđất liền, và có những loài thực vật có tính đặc hữu khác có giá trị dược liệu
Tại đảo Cù Lao Chàm có tới 116 loài cây có giá trị dược liệu, chiếm 22,8%tổng số loài Thiên tuế là loài cây cảnh có tính đặc hữu của Cù Lao Chàm được xếphạng trong sách đỏ, cần được bảo vệ
Tại Hòn Giài, Cù Lao Chàm thiên tuế mọc thành “rừng”, cao 1m - 3m, có tuổi
từ 100 – 200 năm là điểm du lịch sinh thái hấp dẫn Nguồn lợi động vật rừng trênđảo tuy không phong phú nhưng có nhiều loài sống rất gần gũi với con người nhưsóc, khỉ, khiếu, vẹt.v.v
Biển quanh đảo cũng có tính đa dạng sinh học cao với các sinh cảnh bãi cát,rạn san hô, cỏ biển và các loài động thực vật biển khác
Trang 7Tại Vườn quốc gia Côn Đảo với 14.000 ha diện tích vùng nước là nơi có sựhiện diện của 3 loại hệ sinh thái chính là hệ sinh thái rừng ngập mặn (18ha), hệ sinhthái cỏ biển (200ha), hệ sinh thái các sạn san hô (1.000ha) Mối liên hệ của rạn san
hô, thảm cỏ biển và rừng ngập mặn đã tạo nên một môi trường thuận lợi cho sinhsản, ươm giống và bảo tồn các loài sinh vật biển
Khu hệ sinh vật biển đã thống kê được có 1.493 loài trong đó: Thực vật ngậpmặn (Mangro forest) 23 loài, Rong biển (Algae) 127 loài, Cỏ biển (Seagrass) 11loài, thực vật Phù du (Phytoplankton)157 loài, động vật Phù du (Zooplankton) 115loài, San hô (Coral) 342 loài, thân mềm (Mollusa) 187 loài, cá rạn san hô (Coralreef fishes) 202 loài, Giáp xác (Crustacea) 116 loài , Da gai (Echiodermarta) 75loài, Giun nhiều tơ (Polycheta) 130 loài, thú và bò sát biển 8 loài
Kết quả nghiên cứu đã thống kê được ở thuỷ vực Côn Đảo có tới 44 loài lànguồn gien cực kỳ quí hiếm của biển Việt nam và đã được đưa vào Sách đỏ
Chúng bao gồm: 02 loài rong, 02 loài thực vật ngập mặn, 03 loài san hô, 12loài thân mềm, 01 loài giáp xác, 04 loài da gai, 07 loài cá, 07 loài bò sát, 05 loàichim và 01 loài thú Vùng nước nông ven đảo là nơi phân bố nhiều loài động vậtquý như rùa biển, cá heo, bò biển (dugong) v.v
Sự đa dạng sinh học của vùng biển Côn Đảo có ý nghĩa quốc gia về bảo tồnthiên nhiên biển ở Việt Nam Là một vùng đảo tương đối xa bờ, hoạt động của conngười chưa làm biến đổi lớn tính tự nhiên của các hệ sinh thái biển Rạn san hô ởđây còn giữ được những đặc tính đặc trưng cho vùng biển
Các nghiên cứu cho thấy san hô có độ phủ trung bình là 42,6% Trong số rạnsan hô nghiên cứu, có đến 74,2% san hô đạt độ phủ cao, chỉ có 2,8% thuộc loại phủthấp Mật độ cá rạn san hô ở những điểm nghiên cứu đạt trung bình 400 con/m2.Đây là giá trị rất cao so với các vùng biển ven bờ khác ở Việt Nam Hiện nay,Côn Đảo là vùng có nhiều rùa biển nhất ở Việt Nam, với hai loài thường gặp là đồimồi và tráng đông Có 17 bãi cát được ghi nhận là bãi đẻ của rùa, trong đó có đếnbốn bãi được ghi nhận là có 1.000 rùa mẹ lên đẻ hàng năm
Trang 8Côn Đảo cũng là nơi duy nhất ở Việt Nam còn tồn tại một quần thể bò biển(Dugong dugong) có cuộc sống không tách rời các thảm cỏ biển.
+ Tài nguyên thuỷ, hải sản
Khai thác cá ở biển đảo phụ thuộc vào hai yếu tố có tính quyết định Thứ nhất,
vị trí của đảo phải gần với các ngư trường khai thác truyền thống Thứ hai là trình
Tô, khá thuận tiện cho lưu thông
Các đảo thuộc Vịnh Bắc Bộ có khả năng phát triển nghề khai thác hải sản,nghề nuôi cá lồng, bè qui mô vừa như Cô Tô, Cát Bà, Vĩnh Thực, Vân Đồn đạt hiệuquả cao
Đối với các đảo lớn, gần ngư trường lớn như Trường Sa, Hoàng Sa, Phú Quốc,Phú Quý, Lý Sơn, Côn Đảo và Cô Tô…việc khai thác, chế biến hải sản rất nhiềutriển vọng nếu được đầu tư vốn, công nghệ, dịch vụ hậu cần nghề cá
- Giá trị về kinh tế:
Kinh tế các đảo và quần đảo góp phần tạo nên sự phong phú cho cơ cấu nềnkinh tế nước ta, đặc biệt là những nguồn thu từ hoạt động du lịch hay hoạt độngkhai thác tài nguyên của đảo , quần đảo
+ Hoạt động du lịch:
Vùng biển đảo Bắc bộ nổi tiếng với nhóm đảo thuộc Vịnh Hạ Long và Bái TửLong; Do đặc điểm kiến tạo khu vực, các dãy núi đá vôi vươn ra sát bờ biển đã tạothành nhiều cảnh quan thiên nhiên sơn thủy rất đa dạng, nhiều vịnh, bãi cát trắng,hang động, các bán đảo và các đảo lớn nhỏ liên kết với nhau thành một quần thể dulịch hiếm có trên thế giới như di sản thiên nhiên vịnh Hạ Long được UNESCO xếphạng, vừa qua bầu chọn là một trong bảy kỳ quan thiên nhiên thế giới
Trang 9Đảo du lịch nổi tiếng Tuần Châu là một trong những điểm dừng chân khôngthể thiếu đối với du khách khi đến tham quan Hạ Long, Việt Nam Một Di sản thiênnhiên thế giới về cảnh quan và địa chất - địa mạo là vịnh Bái Tử Long, quần đảoCát Bà (với các Vườn quốc gia - khu dự trữ sinh quyển), vùng đảo Cô Tô, Trà Bản,Ngọc Vừng.
Tiềm năng du lịch kể trên rất phù hợp để phát triển các loại hình du lịch hiệnđại như nghỉ ngơi; dưỡng bệnh; tắm biển; du lịch sinh thái, nghiên cứu khoa họcvùng ven bờ, hải đảo, ngầm dưới nước; du lịch thể thao: bơi, lặn sâu, lướt ván, nhảysóng, đua thuyền…có thể tổ chức các giải thi đấu thể thao quốc gia và quốc tếquanh năm; dịch vụ hội nghị, hội thảo trong nước và quốc tế Và thực tế không phủnhận, du lịch biển, đảo hiện đóng vai trò rất quan trọng trong chiến lược phát triển
du lịch Việt Nam
Số liệu thống kê của Tổng cục Du lịch cho thấy trong giai đoạn từ 2006-2010,khách du lịch quốc tế đến tham quan, nghỉ dưỡng tại các tỉnh ven biển chiếm trên70%
Riêng thu nhập từ du lịch biển đảo đã chiếm tới 70% doanh thu của ngành dulịch
Tính đa dạng và đặc thù của cảnh quan phần đất trên đảo và vùng biển xungquanh đảo mang lại cho các đảo tiềm năng du lịch to lớn Không khí biển - đảo vànước biển là môi truờng trong lành nhất, là thiên đường của những du khách muốntránh xa nhịp sống ồn ào và nhiễm của đô thị, vui với biển, nắng, gió và cát
Đảo biển thỏa mãn 3 yêu cầu của du lịch biển - 3 chữ S : sea (biển), shore(gió) và sun (nắng), song khác với vùng biển ven bờ là chất lượng cao hơn nhiềulần Ở các độ cao 200m, 300m, thực vật có khả năng phát triển do nhiệt độ thấp, độ
ẩm cao mang đặc điểm khí hậu biển và khí hậu cao nguyên
Ở đây có thể phát triển kinh tế sinh thái và du lịch, có thể xây dựng các nhànghỉ dưỡng, nhanh chóng phục hồi sức khỏe
Trang 10Ở các đảo ven biển Việt Nam có thể tìm thấy cảnh quan sinh thái kiểu này trêncác đảo: Hòn Khoai, Cái Bầu, Cù Lao Chàm, Cát Bà… Biển quanh đảo và các bãicát thạch anh trắng mịn cùng với hệ sinh thái san hô là nguồn tài nguyên du lịchsinh thái biển vô giá.
Có thể tổ chức các cụm du lịch tắm biển, tham quan các hệ sinh thái san hô đasắc màu ngầm dưới nước mà không làm ảnh hưởng đến môi trường sinh thái
Quần đảo Phú Quốc gồm 22 đảo lớn, nhỏ rộng 550km2, - là nơi được xem làvốn quý để phát triển du lịch sinh thái, là nơi có rất nhiếu thắng cảnh thiên nhiênđẹp như Bãi Thơm, Bãi Khem, suối Đá Bàng, suối Tranh…
Đặc biệt Bãi Dài đứng đầu danh sách các bãi biển đẹp được các hãng thôngtấn cũng như du khách nước ngoài bình chọn bãi biển đứng đầu 5 bãi biển đẹp nhấtthế giới
Ngoài sản phẩm du lịch sinh thái tự nhiên, thì cảnh quan sinh thái về văn hóa ởPhú Quốc rất phong phú như: Làng chài, làng nước mắm, nuôi cấy ngọc trai, canhtác vườn tiêu, văn hóa truyền thống Cách mạng (trại tù Phú Quốc), văn hóa lễ hội
Đến Phú Quốc, khách nước ngoài rất thú vị với tour bơi lặn bình hơi, tour câu
cá, thẻ mực và câu cá chạy hay thưởng thức giao thừa cùng ngư dân trên đảo, cưỡingựa đi chợ và làm chả cuốn cá bóp
Tính đến nay, tỉnh Kiên Giang đã cấp phép trong 21 dự án cơ sở hạ tầng trênđảo Phú Quốc trị giá 1,7 tỷ USD, chủ yếu cho các khu nghỉ mát dọc theo bờ biển.Sân bay quốc tế Dương Tơ trên đảo trị giá 16.000 tỷ đồng (khoảng 910 triệuUSD), công suất 3 triệu hành khách/năm dự kiến hoàn tất trong năm 2012
Trang 11Với qui hoạch đảo Phú Quốc vừa được đều chỉnh đến năm 2030, tầm nhìn sau
2030 thực sự là đòn bẩy cho Phú Quốc phát triển du lịch và bảo vệ môi trường sinhthái sẽ là ưu tiên hàng đầu của hòn đảo này
+ Hoạt động khai thác các dịch vụ biển
Vai trò của các hệ thống đảo ven bờ trong dịch vụ biển còn rất khiêm tốn,nhưng tiềm năng của chúng là to lớn như: dịch vụ giao thông vận tải biển; thông tinliên lac, tìm kiếm cứu nạn; dịch vụ đánh bắt hải sản; dịch vụ khai thác dầu khí,thương mại, du lich… tiềm năng đó có được do vị trí phân bố của các đảo gần vớicác khu khai thác hải sản, dầu khí hoặc các tuyến giao thông vận tải biển
Những đảo có tiềm năng lớn cho dịch vụ biển là: Quần đảo Hoàng Sa, Trường
Sa, Phú Quý, Lý Sơn, Côn Đảo, Phú Quốc, Thổ Chu, Vân Đồn, Cát Bà, Cô Tô,Bạch Long Vỹ…
- Giá trị về các tài nguyên phi sinh vật
+ khoáng sản
Những nghiên cứu, khảo sát về tiềm năng khoáng sản trên các đảo còn chưađầy đủ Tuy nhiên đã phát hiện được tiềm năng khoáng sản tại một số đảo như mỏcát thủy tinh tại Vân Hải (Quảng Ninh) Tại khu vực quần đảo Hoàng Sa – Trường
Sa cũng phát hiện biểu hiện của khoáng sản như Pirit với hàm lượng khá cao (đạt5,5 – 7,5% vật liệu trầm tích tại vùng phía nam đảo), thạch cao (ở lớp trầm tích tầngmặt ở rìa quần đảo, thay đổi từ 2,9 – 6,5%), Sắt - Mangan (tăng dần theo chiều sâuquanh đảo từ 500m – 3000m với hàm lượng 1,5%)
Các đảo ven bờ nằm gần các bồn trũng có trữ lượng dầu khí như lớn các bồn(bể) sông Hồng, Phú Khánh, Cửu Long, Nam Côn Sơn, Thổ Chu - Mã Lai… đã vàđang được thăm dò, khai thác
Đặc biệt nguồn năng lượng mới băng cháy ( Hydrat) đang được đánh giá cónhiều triển vọng ở vùng biển sâu quần đảo Trường Sa, Hoàng Sa Trên hệ thống đảoven bờ có khoảng 30 loại hình khoáng sản như: nhóm khoáng sản cháy (than), thủytinh, cao lanh…
Trang 12+ Năng lượng gió
Nhiều vùng đảo ngoài khơi như Bạch Long Vĩ, đảo Phú Quý, Trường Sa.v.v
là những địa điểm gió có vận tốc trung bình cao, tiềm năng năng lượng gió tốt, cóthể xây dựng các trạm phát điện gió công suất lớn để cung cấp năng lượng điện chodân cư trên đảo
Tại Đảo Cô Tô, căn cứ vào dữ liệu nhiều năm (25 năm) về chế độ gió của trạmkhí tượng thủy văn Cô Tô và kết quả đo gió trực tiếp trong 1 năm của Viện Khoahọc Năng lượng (Viện KH&CNVN) cho thấy huyện đảo Cô Tô có tiềm năng nănglượng gió rất lớn: ở độ cao 10 m mật độ năng lượng trung bình và tổng năng lượngtrung bình năm đạt 55.6W/m2 và 489.1KWh/m2, ở độ cao 80 m là 383.1W/m2 và3371.5KWh/m2 ,
Theo tiêu chuẩn đánh giá của hiệp hội năng lượng gió thế giới, tại độ cao 25 mthích hợp sử dụng điện gió công suất nhỏ, từ độ cao 50m đến 80m có khả năng sửdụng máy phát điện sức gió công suất vừa và lớn
+ Năng lượng mặt trời
Với đặc điểm có số giờ nắng và số ngày nắng trong năm cao, nhiều đảo củaViệt Nam còn có khả năng phát triển nguồn năng lượng mặt trời
Cũng tại đảo Cô Tô, các nhà khoa học đã tính toán tiềm năng và điện năng sảnxuất của một số modul pin mặt trời tại huyện đảo Cô Tô và cho thấy huyện đảo cótiềm năng năng lượng mặt trời tương đối tốt, có thể khai thác làm nguồn cấp nănglượng cho huyện đảo một cách hiệu quả Có thể sử dụng thiết bị đun nước nóng mặttrời cho các hộ dân, khách sạn, nhà hàng, khu du lịch
+ Năng lượng sóng
Nhóm nghiên cứu gồm các nhà khoa học thuộc Viện Cơ học và trường Đạihọc Khoa học tự nhiên đã nghiên cứu tiềm năng năng lượng sóng tại khu vực vùngbiển quần đảo Trường Sa và tính toán chi tiết tổng năng lượng sóng trung bình nămcho khu vực nghiên cứu Nhóm nghiên cứu đã lựa chọn loại thiết bị chuyển đổinăng lượng sóng thành điện năng thích hợp cho khu vực quần đảo Trường Sa
Trang 13Kết quả cho thấy, năng lượng sóng tại khu vực đảo Trường Sa lớn nói riêng vàquần đảo Trường Sa nói chung thuộc vào loại mạnh nhất trong các khu vực ven bờ
và vùng khơi lãnh thổ Việt Nam Các nhà khoa học cũng đã nghiên cứu và xác địnhđược địa điểm lắp đặt các thiết bị chuyển đổi năng lượng sóng thành điện năng vàloại thiết bị phù hợp
- Giá trị về an ninh-quốc phòng
Đặc biệt các đảo và quần đảo có ý nghĩa chiến lược trong bảo vệ an ninhquốc phòng Các đảo và quần đảo tạo thành hệ thống tiền tiêu bảo vệ đất liền, hệthống căn cứ để nước ta tiến ra biển và đại dương, khai thác có hiệu quả cácnguồn lợi vùng biển, hải đảo và thềm lục địa Việc khẳng định chủ quyền củanước ta đối với các đảo và quần đảo có ý nghĩa là cơ sở để khẳng định chủ quyềncủa nước ta đối với vùng biển và thềm lục địa quanh đảo
II Đặc điểm và giá trị đặc hữu của một số đảo, quần đảo của Việt Nam
2.1 Các đảo, quần đảo xa bờ:
2.1.1 Quần đảo Hoàng Sa
* Khái quát chung:
Quần đảo Hoàng Sa là một trong hai quần đảo xa bờ thuộc chủ quyền của ViệtNam từ lâu đời Trong lịch sử quần đảo Hoàng Sa còn có tên là “Bãi cát vàng” Tênquốc tế thường được thể hiện trên các hải đồ là Paracels Quần đảo gồm 37đảo, đá,bãi cạn, bãi ngầm và một số đối tượng địa lý khác thuộc huyện Hoàng Sa, thành phố
Đà Nẵng Khu vực quần đảo nằm trên vùng biển rộng khoảng 30.000 km2 Phạm viquần đảo được giới hạn bằng các đảo, bãi ở các cực Bắc, Nam, Đông, Tây như sau:
Vị trí các cực của quần đảo Vỹ độ Bắc Kinh độ ĐôngCực Bắc: đảo Đá Bắc 17o 06' 0" 111o 30' 8"Cực Nam: Bãi ngầm Ốc Tai
Voi
15o 44' 2" 112o 14' 1"Cực Đông: Bãi cạn Gò Nổi 16o 49' 7" 112o 53' 4"Cực Tây: đảo Tri Tôn 15o 47' 2" 111o 11' 8"
Trang 14Quần đảo gồm 37 đảo, đá, bãi cạn, bãi ngầm và một số đối tượng địa lý khácthuộc huyện Hoàng Sa, thành phố Đà Nẵng Tổng diện tích phần nổi khoảng 10km2, đảo lớn nhất là Phú Lâm, có diện tích khoảng 1,5 km2 Khu vực quần đảoHoàng Sa thuộc vùng biển rộng khoảng 30.000 km2, nằm ngang bờ biển các tỉnhQuảng Trị, Thừa Thiên Huế, Quảng Nam và một phần tỉnh Quảng Ngãi Phạm viquần đảo này được giới hạn bởi đảo Đá Bắc ở cực Bắc, bãi ngầm Ốc Tai Voi ở cựcNam, bãi cạn Gò Nổi ở cực Đông và đảo Tri Tôn ở cực Tây.
Các đảo tại đây được chia thành 2 cụm Cụm Lưỡi Liềm có hình cánh cunghay lưỡi liềm, nằm ở phía Tây quần đảo, gần đất liền Việt Nam, gồm 08 đảo chính
là Đá Bắc, Hoàng Sa, Hữu Nhật, Duy Mộng, Quang Ảnh, Quang Hòa, Bạch Quy,Tri Tôn và các bãi ngầm, mỏm đá Cụm An Vĩnh được đặt tên theo xã An Vĩnh,huyện đảo Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi, nằm ở phía Đông, bao gồm các đảo tương đốilớn đồng thời cũng là các đảo san hô lớn nhất Biển Đông như đảo Phú Lâm, đảoCây, đảo Linh Côn, đảo Trung, đảo Bắc, đảo Nam, đảo Tây, đảo Hòn Đá…
Hoàng Sa nằm trong vùng "xích đạo từ" có độ sai lệch từ không thay đổi hoặcthay đổi rất nhỏ, rất thuận lợi cho việc phát triển du lịch Trên một số đảo có nguồnnước ngọt, đa dạng các loại cây cối, vô số chim và đặc biệt là có nhiều rùa biển sinhsống Hoàng Sa còn có nguồn tài nguyên có thể tái sinh lớn Theo nhà nghiên cứu
La Fontaine, quần đảo là nơi sinh sống của các sinh vật như rùa, chim… Tại đâycòn có tiềm năng lớn về khoáng sản và nguồn hải sản phong phú với nhiều loài cógiá trị cao như tôm hùm, rùa, đồi mồi, bào ngư quý hiếm…
- Điều kiện tự nhiên:
Thời gian nắng ở quần đảo Hoàng Sa dao động trong khoảng 2.400-2.600 giờ/năm, trong đó mùa hè (từ tháng 5 đến tháng 10) có thời gian chiếu sáng khoảng
1300 giờ, lớn hơn so với mùa Đông (từ tháng 11 đến tháng 4) Trong các tháng mùa
hè thời gian chiếu sáng ở quần đảo Hoàng Sa luôn lớn hơn ở quần đảo Trường Sa.Nhiệt độ không khí ở vùng biển Hoàng Sa có giá trị thấp nhất 22o-24oC trongtháng 1, tăng dần đạt cực đại 28.5o -29oC trong tháng 6, 7 và giảm từ từ tới 25oCvào tháng 12 Sự chênh lệch nhiệt độ giữa các tháng nhiệt độ cao nhất và thấp nhất
là 5.5oC-6oC
Trang 15Chế độ gió vùng quần đảo Hoàng Sa phức tạp và thể hiện ảnh hưởng của địahình lục địa Việt Nam và Trung Quốc Vào mùa hè hướng gió Tây Nam chiếm ưuthế 57%, các hướng gió Tây, Nam, Đông-Nam khoảng 10-12% Các hướng gióĐông, Đông-Bắc và Bắc đều xuất hiện với tần suất thấp Vận tốc gió trong mùa hètrung bình 5-7 m/s Trong mùa Đông gió Đông-Bắc chiếm ưu thế với tần suất 48-50% và tốc độ 7-10m/s Hướng gió Bắc có tần suất 27-30% và tốc độ 7-10m/s Cáchướng gió Đông, Đông Nam, Nam và Tây Bắc đều xuất hiện trong mùa Đông vớitần suất thấp và vận tốc cực đại đạt 7-10 m/s.
Lượng mưa trung bình nằm ở quần đảo Hoàng Sa khoảng 1.200-1.600mm,thấp hơn nhiều so với mưa ở vùng đảo Trường Sa và các vùng khác trên đất liền.Mưa chủ yếu tập trung vào mùa hè (từ tháng 5 đến tháng 10) lượng mưa trung bìnhhàng tháng 100-200mm, đạt 200-400mm trong tháng 10 Lượng mưa trung bìnhtrong mùa Đông (từ tháng 11 đến tháng 4) 200-300mm với lượng mưa hàng tháng20-25mm (tháng 1,2,3) và đạt đến 50-100mm trong tháng 12 đến tháng 4
Độ ẩm tương đối trung bình ở Hoàng Sa 80-85% và hầu như không bị biếnđộng nhiều theo mùa Các quan sát cho thấy trong các tháng 1 (đặc trưng cho mùaĐông), tháng 7 (đặc trưng của mùa hè), tháng 4 và tháng 10 (các thời kỳ chuyểntiếp), độ ẩm tương đối đều không đổi và bằng 80 - 85%
So với quần đảo Trường Sa thì Hoàng Sa nằm gần đại lục hơn và vì vậy cáctrường sóng, gió chịu ảnh hưởng của địa hình các lục địa Trong mùa Đông, sóngĐông Bắc chiếm ưu thế với tần suất 70–72% với độ cao cực đại đạt tới 4–6m Cáchướng sóng Đông và Bắc có tần suất 10–15% và có độ cao cực đại 3–4m Trongmùa hè, hướng sóng Tây-Nam chiếm ưu thế, 53–55% Độ cao sóng 3–4m, chiếm12% và cực đại 4–6m, chiếm 1-2% Sóng hướng Nam chiếm 23–25% và có độ caocực đại 3–4m Các hướng sóng khác có tần suất thấp và độ cao nhỏ hơn 3–4m.Trong các thời kỳ chuyển đổi mùa, tháng 4 và tháng 10, trong khi ở quần đảoTrường Sa, sóng Đông Bắc có tần suất giảm xuống 20–25% thì ở Hoàng Sa hướngsóng này vẫn chiếm ưu thế 50-60% và độ cao sóng vẫn có thể đạt tới 4–5m
Đặc điểm phân bố của trường nhiệt đã được nghiên cứu theo diện và theochiều sâu Vào mùa hè, nhiệt độ nước biển bề mặt thay đổi trong giới hạn 29oC
Trang 16Mùa Đông, trong dải độ sâu 0–10 m trường nhiệt ít biến động với các giá trị25oC-26oC.
Trong mùa hè độ mặn nước biển bề mặt ở vùng quần đảo Hoàng Sa biến đổiphức tạp với các giá trị lớn hơn 34‰
Trong mùa Đông, ở tầng sâu 0–10m độ mặn nước biển có xu hướng tăng dần
từ Đông sang Tây, từ các giá trị 33‰–34‰ Độ mặn nước biển tăng dần theo độsâu đạt các giá trị 33.9‰-34‰ và 34.5‰–34.6‰ ở các độ sâu 50 và 100m Dướinhững độ sâu này, từ 100 đến 300m, độ mặn ít biến đổi và ổn định trong giới hạn34.5‰–34.7‰ Đồng thời trên hầu hết các tầng sâu xu hướng tăng dần độ mặn từĐông sang Tây cũng luôn được thể hiện
* Đặc điểm và giá trị đặc hữu
- Giá trị về sinh thái, sinh vật
Động, thực vật trên các đảo tuy không phong phú như trên đất liền nhưngthường là những loại quý hiếm, có giá trị kinh tế và giá trị về khoa học về nguồngen và đa dạng sinh học của chúng
Đặc biệt là nguồn lợi hải sản, sinh vật trên bãi triều và vùng biển quanh đảo rấtphong phú và có giá trị kinh tế cao Ngoài các sinh vật phù du, có hàng trăm loàiđộng vật đáy (bào ngư, trai ngọc, nghêu, ốc nón, hải sâm…) san hô, rong biển, vớinhiều ngư trường, bãi tôm, cá, mực có mật độ lớn, trữ lượng cao Trên thềm san hôquần đảo Hoàng Sa có nhiều loại hải sản quý như: hải sâm, rùa biển, cá ngừ, tômhùm, rong biển và các loại ốc có giá trị dinh dưỡng cao, nếu được khai thác, chếbiến tốt sẽ mang lại thu nhập lớn cho nhân dân và và làm hàng hóa xuất khẩu thu lợinhuận cao Tài nguyên rừng ở đảo không chỉ là sản phẩm từ rừng như gỗ, lâm sảnngoài gỗ mà còn là những dịch vụ môi trường mà rừng mang lại như là áo giáp bảo
vệ đảo, chống xói mòn giữ ẩm cho đảo, là nguồn nuôi dưỡng mọi sự sống, là cảnhquan sinh thái có sức hấp dẫn du khách Biển quanh đảo cũng có tính đa dạng sinhhọc cao với các sinh cảnh bãi cát, rạn san hô, cỏ biển và các loài động thực vật biểnkhác
Với độ phong phú về thủy hải sản và sinh vật, đảo Hoàng Sa có điều kiện vôcùng thuận lợi cho việc phát triển du lịch sinh thái, du khách đến đây với chuyến du
Trang 17lịch khám phá thiên nhiên hoang sơ của đảo cùng chiêm ngưỡng và tìm hiểu về cácđộng thực vật quý hiếm mà không phải nơi nào cũng có.
- Giá trị du lịch- dịch vụ biển
Quần đảo Hoàng Sa có các đảo chính gồm cụm Song Tử gồm bốn đảo nhỏ: ĐáBắc, Song Tử Đông, đảo Song Tử Tây và đá Nam, trong đó có một đảo dài khoảng1km, Bãi Đinh Ba, Một bãi cạn nửa nổi nửa chìm khoảng 14-11km, bãi núi Cau,đảo Thị Tứ được tạo bởi hai đảo san hô mà đảo lớn nhất có kích thước 1-5-1km, tại
đó có thực vật và nước ngọt; Đá xubi là một rạng san hô; Đảo loai ta là một đảo nhỏdài 0,3km nằm trong một bãi cạn lớn nửa nổi nửa chìm, cụm Nam Yết gồm hai đảochính và ba đảo đá ngầm, trong đó có đảo Ba Bình có kích thước 1-04km, tại đảonày còn có giếng nước ngọt
Với những nguồn tài nguyên là các rạn san hô lớn, các bãi cạn nửa nổi nửachìm là điều kiện vô cùng thuận lợi cho các chuyến du lịch nghỉ dưỡng trên đảo.Nơi đây còn có đảo đá lớn với đá thám hiểm lớn, đây là một loại đá ngầm cóhình vành khuyên Với tài nguyên đá thám hiểm này quần đảo Hoàng Sa có điềukiện thuận lợi cho các chuyến du lịch thám hiểm cộng với nghỉ dưỡng
Nơi đây còn có điều kiện thuận lợi nữa Đảo Đá Chữ Thập, là một bãi cạn nửanổi nửa chìm dài khoảng 26km hình thành một hồ nửa kín trong đó có mộ số đángầm nhô cao
Cùng các rạn sn hô, đảo đá Quần đảo Hoàng Sa còn có rất nhiều các bãi cátlớn nhỏ còn rất hoang sơ và kì vĩ,…
Vai trò của các hệ thống đảo ven bờ trong dịch vụ biển còn rất khiêm tốn,nhưng tiềm năng của chúng là to lớn như: dịch vụ giao thông vận tải biển; thông tinliên lac, tìm kiếm cứu nạn; dịch vụ đánh bắt hải sản; dịch vụ khai thác dầu khí,thương mại, du lich… tiềm năng đó có được do vị trí phân bố của các đảo gần vớicác khu khai thác hải sản, dầu khí
- Giá trị về chính trị- an ninh quốc phòng
Vị trí chiến lược của quần đảo Hoàng Sa được thể hiện ở chỗ có thể dùng cácquần đảo này cho các mục đích quân sự như đặt trạm ra đa, các trạm thông tin, xâydựng các trạm dừng chân và tiếp nhiên liệu cho tàu bè qua lại, kiểm soát các tuyến
Trang 18hàng hải qua lại biển Đông Năm 1974, Trung Quốc đánh chiếm quần đảo Hoàng Sacủa Việt Nam và hiện nay đang chiếm đóng trái phép trên toàn bộ quần đảo này.Đây cũng là vẫn đề nóng trong mấy năm trở lại đây, qua đó cũng khẳng định vị trí,vai trò và giá trị của Hoàng Sa về vấn đề an ninh quốc phòng.
2.1.2 Quần đảo Trường Sa
- Quần đảo Trường Sa nằm giữa biển Đông về phía đông nam nước ta, phíaBắc giáp đảo Hoàng Sa, phía Đông giáp biển Philipin, phía Nam giáp biểnMalaysia, Runay và Indonesia Từ trung tâm quần đảo Trường Sa cách Cam Ranh
243 hải lý, cách Vũng Tàu 440 hải lý Quần đảo Trường Sa án ngữ đường hàng hảiquốc tế nối liền Thái Bình Dương với Ấn Độ Dương và Đại Tây Dương, giữa Châu
Âu, Châu Phi, chung cập đông với Trung Quốc và Nhật Bản với các nước ĐôngNam Á và Đông Bắc Á Đây là một trong 10 tuyến đường hàng hải lớn trên thế giới,giao thông nhộn nhịp đứng thứ hai thế giới sau Địa Trung Hải Trung bình mỗingày có từ 250 đến 300 tàu biển các loại đi qua biển Đông
Quần đảo Trường Sa xứng đáng là “nơi đầu sóng ngọn gió”, là vị trí tiền tiêucủa Tổ quốc Việt Nam vả về nghĩa đen lẫn nghĩa bóng 2 quần đảo xa bờ Hoàng Sa
và Trường Sa được phân bố khá đều theo chiều dài bờ biển với vị trí đặc biệt quantrọng như 1 tuyến phòng thủ tiền tiêu bảo vệ sườn đông đất nước
Quần đảo Trường Sa gồm trên 100 hòn đảo nhỏ và bãi san hô với diện tíchvùng biển rộng khoảng 160 ngàn đến 180 ngàn km2 Khí hậu thời tiết ở quần đảo
Trang 19Trường Sa khá bất tiện, hiếm nước ngọt Một năm có tới 131 ngày bão gió từ cấp 6trở lên Mỗi tháng có từ 13 đến 20 ngày gió mạnh.
* Đặc điểm và giá trị đặc hữu:
+) Đặc điểm
- Đặc điểm địa lý
+Vị trí: nằm ở Đông Nam Châu Á trên vùng biển Đông
+ Tọa độ trung tâm: 8039’N – 111055’E
+ Diện tích các đảo: tổng số không quá 5 km2
+ Diện tích biển: nằm trên diện tích 180.000 km2 giữa biển Đông
+ Đường bờ biển dài 926 km
+ Khí hậu nhiệt đới; địa hình bằng phẳng
+ Tài nguyên thiên nhiên: Hải sản, phân chim, dầu khí, khí gas
- Đặc điểm dân cư khu vực
Quần đảo Trường Sa đã được người Việt tổ chức khai thác cá, phân chim từthế kỷ thứ X và mạnh mẽ ở thế kỷ XVII Trường Sa đã được xác định là 1 phần củatỉnh Quảng Ngãi và hiện trực thuộc tỉnh Khánh Hòa Dân chài thường từ đất liền rađảo khai thác dài ngày và quay lại đất liền sinh sống Trải qua nhiều biến cố lịch sử,Trường Sa bị quân đội nhiều nước chiếm đóng trái phép và trở thành khu vực luônbất ổn về an ninh Đến nay dân cư trên đảo chủ yếu là lính và một số không nhiềungười dân được di cư từ đất liền ra và một số ít công nhân đèn biển, vận hành sânbay, cầu cảng Duy nhất trên thị trấn Trường Sa, Nam Yết, Sinh Tồn và Thị Tú hiệnđang có dân sinh sống, được tổ chức thành các xã và thị trấn Số lượng dân đánh cávãng lai qua đây rất đông cùng với 1 lượng khách du lịch
- Đặc điểm an ninh xã hội quần đảo Trường Sa
Quần đảo Trường Sa là một phần lãnh thổ không thể chia cắt của Việt Nam.Tính đến tháng 10 – 1998, Việt Nam đang đóng quân trên 32 điểm thuộc 21 đảo vàbãi đá ngầm Các nước khác như Philipin, Trung Quốc, Malaixia, Đài Loan cũngđang chiếm đóng trái phé quần đảo, bãi ngầm, rạn ngầm thuộc quần đảo Trường Sa.Đặc biệt có một số đảo lớn như Thị Tứ với diện tích 37,2 ha đang bị Philipin chiếmtrái phép; đảo Bình Nguyên với diện tích 62 ha bị Đài Loan chiếm đóng trái phép.Đặc biệt, Trung Quốc đã dùng lực lượng quân đội xâm chiếm 1 loạt các đảo san hô
Trang 20ngầm và xây các công trình quân sự ở đây Malaixia cũng là nước chiếm đóng tráiphép nhiều đảo của Việt Nam Sau khi chiếm được đảo, các nước thường xây dựngcăn cứ quân sự, thậm chí di dân ra các đảo lớn để sinh sống Các hoạt động bất hợppháp của các nước đã gây ra sự mất an ninh trầm trọng ở vùng biển Trường Sa củaViệt Nam.
- Đặc điểm ngành nghề
+ Các hoạt động khai thác biển: Nguồn tài nguyên của Trường Sa bao gồmnguồn hải sản, dầu khí, gas tự nhiên, phân chim và là đường hàng hải quan trọngbậc nhất trên biển Đông Theo các kết quả nghiên cứu được công bố thì hoạt độngthăm dò dầu khí ở Trường Sa đã được tiến hành từ năm 1973 dưới thời Việt Namcộng hòa Tuy nhiên, các hoạt động khai thác dầu khí vẫn chưa có điều kiện triểnkhai tại khu vực này; cá có sản lượng khai thác đạt từ 10 – 99 kg/km2 Các hoạtđộng chính tại Trường Sa bao gồm thăm dò, nghiên cứu, đánh bắt hải sản, dịch vụvận tải đường biển và đường không, du lịch sinh thái
+ Các hoạt động nghiên cứu, khảo sát
Ngay từ thời Lê Thánh Tông (1460 – 1497) đã tổ chức các đoàn thuyền khảosát và khai thác các đảo Hoàng Sa và Trường Sa Giai đoạn 1630 – 1653, bản đồ vềquần đảo Trường Sa và Hoàng Sa thuộc lãnh thổ Việt Nam đã được xuất bản Trướcthế kỷ XVII, người Bồ Đào Nha và Hà Lan đã nghiên cứu và vẽ bản đồ Trường Sa
và Hoàng Sa là các đảo thuộc Việt Nam Tiếp theo đó có rất nhiều chuyến nghiêncứu ở vùng này và đã có hàng trăm công trình cồn bố của người Việt Nam và ngườinước ngoài có liên quan đến quần đảo Trường Sa
+ Các hoạt động phát triển kinh tế trên đảo
Xây dựng trên quần đảo Trường Sa: trong tổng số trên 130 đảo, có tới 28 đảo
có công trình xây dựng với các mục tiêu khác nhau như đơn vị quân đội, khu vựcdân ở
Các dịch vụ sinh hoạt như máy phát điện, giếng nước, tượng đài, trạm dịch
vụ kỹ thuật được xây dựng tại 5 đảo có 7 trạm đèn biển, 9 sân bay dã chiến, 5 cầucảng, 2 cơ sở du lịch và 1 trạm khí tượng thủy văn
Dịch vụ hàng hải: Có tổng số 7 trạm đèn biển, trong đó 3 trạm thuộc ViệtNam, 4 trạm do Philipin và Malaixia quản lý trái phép
Trang 21 Giao thông vận tải trên biển: có 5 cầu cảng nhưng Việt Nam chỉ có 1.
Hoạt động hàng không: hiện nay, quần đảo Trường Sa có tới 9 sân bay nhỏphục vụ cho các mục đích vận chuyển hành khách giữa đảo và đất liền Việt Nam
có sân bay tại đảo Trường Sa phục vụ cho vận tải khách du lịch
Hoạt động du lịch: Việt Nam đang tiến hành tổ chức các tuyến du lịch sinhthái từu đất liền ra Trường Sa Một số nước nhưu Malaixia cũng đã xây dựng tráiphép 1 số cơ sở du lịch như nhà nghỉ dạng Resort trên các đảo mà họ chiếm đóng
Hoạt động khai thác: khai thác hải sản là hoạt động hiệu quả nhất ở khu vựcnày, ngoài ra còn có hoạt động khai thác các mỏ phân chim
- Đặc điểm địa hình: địa hình quần đảo Trường Sa chia làm 2 phần rõ rệt: phầnđảo nổi và địa hình dưới nước
* Giá trị đặc hữu
+) Giá trị cảnh quan
“Trên đảo mặt trời thường lên sớm
Cát vàng hẹn lối dấu chân quen
Con sóng nhuộm mây trời ửng đỏ
Cánh buồm vượt sóng cuối trời xa”
(Hoa đảo xa – Bùi Văn Bồng)
- Nhắc tới Trường Sa là nhắc tới đảo xanh Giữa điều kiện khắc nghiệt củavùng biển, có những loài cây vẫn kiên cường đứng vững: bàng vuông, mù u, phong
ba, bão táp
- Là quần đảo có tới trên 329 loài thuộc 69 giống và 15 họ, những rạn san hôrực rỡ màu sắc được ví như những cánh đồng muôn màu dưới lòng đại dương Đặcbiệt, tại quần đảo Trường Sa có sự hiện diện của loài san hô trúc quý hiếm có hìnhthù khá kỳ ảo với màu vàng hoặc đỏ tươi mà trên vùng biển nước ta không nơi nàocó
Trang 22- Quần đảo Trường Sa với những bãi cát trải dài là điểm nhấn về giá trị cảnhquan Những đảo như Trường Sa Lớn, Trường Sa Đông, An Bang, Phan Vinh,Thuyền Chài A là một trong những đảo có những bãi cát nhô lên giữa đại dương.Minh chứng cụ thể và rõ nét nhất là đảo An Bang, hòn đảo được ví như một “thiếu
nữ xinh đẹp nằm tắm sóng biển Đông” bởi có bãi cát vàng êm ả trải dài hàng cây sốquanh đảo Đứng từ trên tháo hải đăng nhìn xuống như một thiếu nữ
+) Giá trị sinh thái, sinh vật
- Quần đảo Hoàng Sa nói riêng và biển đảo Việt Nam nói chung là nơi có giátrị sinh thái đặc sắc, đa dạng Đến với Trường Sa chúng ta có cơ hội khám phá cuộcsống thiên nhiên đầy thú vị của những loài động thực vật biển quý hiếm trong lòngbiển Việt Nam
- Tiêu biểu cho hệ sinh thái và sinh cảnh Trường Sa là 3 kiểu đặc thù: Hệ sinhthái đảo xa bờ, hệ sinh thái rạn san hô và hệ sinh thái thảm cỏ biển mang nhiều ýnghĩa và có giá trị cao
- Rạn san hô là 1 trong những hệ sinh thái đặc sắc Quần đảo Trường Sa làvùng có số giống san hô nhiều nhất biển Đông “Trường Sa cũng nằm trong giới hạnvùng có giống san hô nhiều nhất biển Đông (trên 70 giống), một trung tâm phát tánsan hô và sinh vật biển nhiệt đới ven bờ Philipin – Indonesia của vùng phía TâyThái Bình Dương" “Về quy mô, số lượng san hô và mức độ đa dạng, quần dảoTrường Sa có thể ngang với khu bảo tồn san hô nổi tiếng Great Barrier củaAustralia” ( Theo cuốn Biển đảo Việt Nam – Tài nguyên vị thế và những kìquan địa chất sinh thái tiêu biểu – Trần Đức Thạnh, Lê Đức An, Nguyễn Hữu Cờ,Trần Đình Lân, Nguyễn Văn Quân, Tạ Văn Phương)
Rạn san hô còn là nơi sinh sống, đẻ trứng, ẩn náu, kiếm mồi của rất rất nhiềucác loài hải sản, sinh vật biển Nền đáy cứng trên rạn là nơi mà nhiều sinh vật đáyđặc trưng như trai, sò, hải miên, huê biển, hải quỳ và tảo bám bẩm sinh trưởng Vớimột số loài khác, rạn lại là nơi kiếm ăn, đẻ trứng, ương con hay trú ẩn của Rùa xanhhay đồi mồi