1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Giải thích ý nghĩa các đồ thờ được đặt trong chùa, đình bao gồm: trống, chuông, bia, tượng, ngữ án, bài vị, chấp kích, bát cửu, khánh, mõ, mâm bồng, kiệu

84 645 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 84
Dung lượng 2,89 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vai trò của trống Trống chùa là một loại nhạc khí hay pháp khí trong các bộ gõcủa nhà Phật, người ta thường dùng nó để thực hành các loại pháp sự khác nhau hay điểm nhịp trong các việc t

Trang 1

MÔN: NGHIỆP VỤ HƯỚNG DẪN DU LỊCH

BÀI TẬP SỐ 3

Đề bài: Giải thích ý nghĩa các đồ thờ được đặt trong chùa, đìnhbao gồm: trống, chuông, bia, tượng, ngữ án, bài vị, chấp kích, bátcửu, khánh, mõ, mâm bồng, kiệu ( có trích dẫn tài liệu tham khảo)

Trang 2

1 Trống

1.1 Vai trò của trống

Trống chùa là một loại nhạc khí hay pháp khí trong các bộ gõcủa nhà Phật, người ta thường dùng nó để thực hành các loại pháp

sự khác nhau hay điểm nhịp trong các việc trì tụng và lễ nghi

Âm thanh của trống chùa được xem như một quyền lực có chứcnăng mang năng lượng cho tinh thần một cảm giác thiêng liêng,thông qua những lời giảng dạy của Đức Phật để giúp cho người tuhành trồng thêm căn lành trên cuộc sống mỗi ngày Xưa tại Ấn Ðộdùng để báo thời gian, cảnh báo Khi Ðức Phật còn tại thế, dùng nó

để tập họp chúng Tăng bố tát, nghe pháp…

Tiếng trống chùa cũng là một trong những phương tiện củapháp âm nhà Phật để nhắc nhở cho người con Phật luôn sống bằnglòng chân thật, không được giả dối, phải nên tích cực làm việc thiện

có ích cho đời, và biết yêu quý, trân trọng cái đẹp trong cuộc sốngcủa mọi người, dựa theo những gì Đức Phật đã làm, mà phát triễncái tánh giác trong sáng, hay Như Lai Tạng sẵn có trong mỗi người,bằng trí tuệ hiểu biết của chính mình

Tiếng trống chùa là âm thanh truyền tải giai điệu thuần khiếtcho đời sống tâm linh luôn tự kích thích, tự nuôi dưỡng mình, đểmãi mãi sống động không ngừng nghỉ, trong đời sống thành tâm tuhành của mỗi người con Phật

Trang 3

Đức Phật đã nói: "Tâm người như vượn chuyền cây, như ngựarông nơi đồng nội…" và "Tất cả những gì trong thế gian đã là biếnđổi, hư hoại, đều là Vô thường" Hãy thử tự quan sát, tự suy nghiệmngay cái thân tâm hiện hữu của chính mình đang có trong hoàn cảnhhiện thực, thì sẽ biết và sẽ thấy rõ ràng hơn Theo Ngũ Phần Luật có

ghi: "Chư Tỳ-kheo bồ – tát, chúng bất thời tập Phật ngôn: Nhược

đả kiền chuỳ, nhược đả cổ…" Trong Kinh Lăng Nghiêm chép: Đức

Phật dạy: “Này A Nan! Ông hãy nghe tiếng trống mỗi khi dọn cơm

xong, nghe tiếng chuông mỗi khi nhóm họp đại chúng trong Tịnh xá

Kỳ Ðà Hoàn nầy.Tiếng trống hoặc tiếng chuông ấy trước sau nối tiếp nhau Vậy, theo ý ông, mỗi khi ông nghe được các thứ tiếng ấy

là vì nó tự bay đến bên tai ông, hay tai ông đến nơi chỗ phát tiếng ấy?”.(Đây là lúc đức Phật chỉ cái Tâm cho ngài A Nan).

1.2 Nguồn gốc của trống

Trang 4

Nguồn gốc về sự ra đời của trống, hiện nay vẫn chưa có tài liệunào ghi lại một cách rõ ràng, nhưng sự tồn tại của nó từ trước côngnguyên cho tới bây giờ, tính ra ít nhất cũng là hơn 6000 năm Trống

có mặt trong nhiều nền văn hoá trên thế giới và qua những tranhảnh, di tích lịch sử còn lại của ngày xưa trong các viện bảo tàngquốc tế hay những kinh điển của tôn giáo, hoặc những tài liệu thuộc

về văn học nghệ thuật, người ta bắt đầu dựng lại những chi tiết đểlàm lịch sử cho nó

Trung Hoa thời xưa dùng nó trong các dịp lễ lộc, vũ hội Cóloại lớn, loại nhỏ, loại treo hoặc để trên giá Trống lớn gọi là trốngtẩu, nhỏ gọi là trống ứng, treo để đánh gọi là trống treo

Từ đời Ðường về sau, theo thanh quy của thiền môn, trống làmột trong những loại pháp khí dùng làm hiệu lệnh báo thời sớm tối.Sau này Phật Giáo Trung Hoa tiến thêm bước nữa là phối hợp nhịpđiệu, âm thanh của tiếng Trống hòa cùng những lời tán tụng, phổ

thành nhạc điệu, gọi là “Kỹ nhạc cúng dường; trang nghiêm đạo

tràng”, dùng âm thanh làm Phật sự, trợ giúp đại chúng phát tâm

thành kính với Tam Bảo

Ai đã đưa Trống vào tự viện?Dựa vào bản dịch bài Thiền SưĐại Điên và Hàn Dũ thời Đường Hiến Tông năm 820, chúng ta thấychuông và trống đã được sử dụng rộng rãi trong các nghi lễ Phậtgiáo Do đó, ít nhất chúng ta đoán được là trước năm 820, trống đãđược đưa vào chùa để làm pháp khí

Trang 5

Ngày nay, có một vài nghi thức tán tụng ở miền Trung và miềnNam Việt Nam sử dụng Trống nhỏ để hỗ trợ cho chư Tăng Ni khitán tụng Các loại nghi thức tán tụng này có lẽ cũng chịu ảnh hưởngcủa Phật giáo Trung Hoa, vì các thời tụng niệm của Phật giáo TrungHoa đều có tán, và loại trống nhỏ này cũng được xem như một loạipháp khí Trống có trước Chuông hay Chuông có trước nó là mộtcâu hỏi chưa có sự trả lời chính xác.

1.3 Cấu tạo của trống

Trống thường làm bằng đá, cây, đồng, gỗ bọc da của động vật,

…Trống có âm thanh được phát ra nhờ vào việc gõ vào mặt trống,bằng tay hoặc bằng dùi…

Mặt trống là một màng mỏng, thường làm bằng da thú vật hoặcchất dẻo và được đóng bằng đinh trên thùng vỏ trống, hay dán keo,

và có khuy bấm, móc cài rất chắc, đôi khi người ta dùng thêm dâythừng quấn viền quanh mặt da trống vào viền thùng vỏ trống Datrống được thuộc bằng những phương pháp khác nhau Tang Trốngđược làm bằng nhiều mảnh gỗ ghép lại

Khung vỏ trống có nhiều hình thể khác nhau như hình trụ, hìnhthùng, hình ống, hình ly… Trống treo có hai mặt để trên giá còntrống đứng thường chỉ có một mặt nhưng cũng tùy theo kiểu trống

mà người ta đặt làm

Trang 6

1.4 Phân loại trống

Trống có nhiều cở khác nhau, nhỏ, to, bé, lớn Trống to gọi làtrống tẩu, trống nhỏ gọi là trống ứng Trống không chỉ là nhạc cụbình thường,để làm lễ tạ ơn thần linh sau vụ mùa gặt hái hay dùnglàm lễ cầu mưa, mà còn sử dụng nó trong nhiều lãnh vực như nghệthuật âm nhạc hay những nghi lễ long trọng, tôn thờ tín ngưỡng tôngiáo… Ngoài ra, trống cũng được dùng làm thông điệp trong việctruyền tin hay được dùng như những khẩu lệnh để kêu gọi nhữngngười lính trong quân đội

Trống chùa cũng có nhiều loại, nhiều tên và những cách dùngkhác nhau tùy theo nghi thức của các nghi lễ Trống con là một loạitrống có âm thanh cao, trong trẻo, thanh thoát dùng để điểm nhịpcho người tụng kinh Nó có một mặt bịt bằng bong bóng lợn, đườngkính khoảng 20 cm, tang trống bằng gỗ, cao 5 cm, có một tay cầm

12 cm

Trống Sấm là một loại trống to có hai mặt, đường kính của mặttrống là 1,50 m, làm bằng da trâu mộng, tang trống cao 1,70 m, làmbằng gỗ mít Trống này được treo vào giá gỗ sơn son trên đó cóhình một con quạ đứng và được dùng trong những lễ cầu đảo

Trống cái hay Trống lớn là loại trống to có hình dáng như trốngsấm, đặt trên giá và thường dùng đánh xen với chuông đồng haychiêng lớn, trong các đám rước lễ… Âm thanh của nó to, trầm, vangxa

Trang 7

Trống đại, cũng được gọi là trống ngũ liên, bởi vì người ta xài

nó trong đời sống hằng ngày với nhiệm vụ thông báo hay báo độngkhi có trộm cướp, vỡ đê, hỏa hoạn…

Trống Bát Nhã là loại trống lớn, thường thấy treo trong các gáctrống ở chùa Nghi thức sử dụng Trống Bát nhã, có lẽ xuất phát từKhông Tông, là một nghi thức hành lễ rất trang trọng của Phật giáoTrung Hoa Trống này dùng để đệm cho một bài kệ “Bát Nhã Hội”,

và có nhiều cách đánh khác nhau tùy theo nghi thức của từng mônphái

Trống sử dụng trong chùa chiền, tự viện có hai loại:

1 Trống lớn (Dân gian quen gọi là đại cổ, tiếng bình dân ViệtNam còn gọi là trống đại): Đánh vào những buổi lễ Phật và các dịp

lễ lớn gọi là trống Bát Nhã

2 Trống nhỏ (Dân gian quen gọi là tiểu cổ, tiếng bình dân ViệtNam còn gọi là trống cơm): Dùng để đánh mỗi khi tụng kinh nêncũng được gọi là trống kinh Ngoài việc dùng đánh khi tụng kinhhằng ngày vào hai thời công phu khuya và chiều trong các tự viện,còn có rất nhiều thể điệu khác nhau khi dùng trong tang lễ, chẩn tế

cô hồn v.v…

1.5 Tìm hiểu về trống Bát Nhã:

Bát Nhã âm Hán Việt dịch từ Prajñā của Phạn ngữ, viết theomẫu devaganari :प्रज्ञा, và tiếngPāliviết là paññā Trống Bát nhã

Trang 8

thường đánh lên vào những buổi lễ pháp sự đặc biệt, như thuyếtpháp, truyền giới, Sám hối… Tiếng chuông trống Bát Nhã đánh lên

để cung thỉnh Phật đăng bảo tọa Sở dĩ gọi là Bát-nhã (Phiên âm của

từ ngữ “prajnaa” của chữ Sanskrit có nghĩa là “trí tuệ”) vì công

năng của chúng là để thức tỉnh lòng người, có khả năng đánh độngtâm linh của người nghe (Trống thăng long)

Cách đánh Trống Bát-nhã và ý nghĩa biểu trưng:

Mới đầu đánh nhập 2 tiếng: Mời đại chúng : Tăng, Ni và Phật

Đánh 8 tiếng tượng trưng cho câu “Maha Prajnaparamita | MA

HA BÁT NHÃ BA LA MẬT ĐA” hoặc BÁT NHÃ HỘI THỈNHPHẬT LAI CHỨNG MINH, tức tác pháp thỉnh Phật chứng minh

Cuối cùng đánh dứt 4 tiếng tượng trưng cho chứng nhập TỨĐẾ.Có nhiều cách đánh chuông trống Bát Nhã nhưng hầu hết chùachiền Việt Nam áp dụng cách thỉnh chuông trống Bát Nhã theo bài

kệ Bát Nhã Hội nói trên như sau:

Trang 9

2.2 Nguồn Gốc

Theo Đại Tạng Kinh Việt Nam thì Chuông được phát hiện tạiTrường An (khoảng 1.000 năm trước Tây lịch, thời Châu ChiêuVương) thuộc loại sớm nhất tại Trung Quốc Chuông có thể đượclàm bằng gỗ, đá hoặc đồng Nét khắc rất tinh xảo, thường có minhvăn và nhiều kích cỡ khác nhau: từ cái rất nhỏ đến những cái nặnghàng chục tấn Thường xuất hiện ở các công trình tôn giáo, tâm linhnhư đền, chùa, từ đường

Trang 10

Ở Ấn Độ đã biết dùng Chuông từ rất lâu và được sử dụng rộngrãi trong cung đình, đặc biệt trong các chùa chiền Các hình thứcnghệ thuật như điêu khắc chùm Chuông xuất hiện vào thời kỳ đầucủa Phật giáo được tìm thấy trên các bức phù điêu tại các trụ đá củavua A Dục và các tháp tôn trí Xá lợi Đức Phật Không riêng tại Ấn

Độ mà ngay cả các nước lân cận chịu ảnh hưởng lớn từ nền văn hóa

Ấn Độ như Sri Lanka, Myanmar cũng sử dụng Chuông để biểu hiệnlòng thành của người cầu nguyện, đặc biệt dùng khi chấm dứt mộtkhóa lễ Còn đối với tín đồ Phật giáo Tây Tạng thì họ tin rằng: Khi

họ niệm chú, nhờ sức quay của Chuông mà các câu thần chú sẽ đimuôn nơi vạn hướng, làm vơi bớt nỗi khổ đau của cuộc đời Chonên Phật giáo Tây Tạng chế nhiều cỡ Chuông cầm tay cho tín đồ trìniệm và cả những Chuông lăn lớn để tín đồ quay

Về thỉnh Chuông, ngày xưa ở Trung Quốc tuỳ mỗi Tông phái,từng địa phương mà quy định có khác nhau Song tổng quát là khibắt đầu thỉnh 3 tiếng và khi kết thúc đánh nhanh 2 tiếng hoặc 3 hồi 9tiếng cho các loại Chuông nhỏ khi tụng kinh Số lượng tiếng thường

là 18, cũng có khi thỉnh 36 tiếng, 108 tiếng Thỉnh 18 tiếng là biểuthị sự thanh lọc của 6 căn (Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý); 6 trần (Sắctrần, thanh trần, hương trần, vị trần, xúc trần và pháp trần) và 6 thức(Nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thức và ý thức) Thỉnh

108 tiếng biểu thị hành giả (người thỉnh Chuông - PV) nỗ lực làmvơi cạn đi 108 loại phiền não nơi nội tâm.Hoặc có thể là ứng với cáccon số 12 tháng, 24 tiết khí và 72 thời hậu.Cũng có sách giải thích là

Trang 11

để trừ bỏ 108 loại phiền não Vậy nên Chuông thờ Phật còn có têngọi là Bách bát chung.

2.3 Phân loại

Có ba loại Chuông thường được sử dụng trong các chùa chiền,

tự viện song tất cả đều gọi chung một tiếng là Chuông

Thứ nhất, Đại hồng chung: Cũng có tên là Chuông U minh,

thường được đánh vào lúc đầu hôm hay lúc gần sáng Tiếng Chuôngđánh đầu hôm là nhắc nhở cho mọi người biết rằng cơn vô thườngđến với chúng ta không hứa hẹn, rất ngắn ngũi, nhanh chóng

Đánh vào lúc ban sáng là nhắc nhở cho mọi người cố gắn tinhtiến tu hành để mau vượt thoát ra khỏi cảnh đau khổ, không vướngmắc cảnh tội lỗi và dễ dàng ra khỏi luân hồi sanh tử Thông thườngmỗi lần thỉnh Chuông như thế là phải 108 tiếng với mục đích làkhuyến tấn vạn loại hữu tình mà đặc biệt là con người cố gắng đoạntrừ 108 phiền não căn bản Mỗi lần thỉnh Chuông được đọc lênnhững câu kệ để chú nguyện theo tiếng Chuông Tiếng Chuông sớmhay tiếng Chuông chiều không những chỉ để cảnh tĩnh cõi dương màcòn hướng dẫn cho cõi âm nữa Vì thế mà thường gọi là Chuông Uminh

Trang 12

Đại hồng chung

Thứ hai, Chuông báo chúng: Vì kích thước chỉ lớn bằng 1/2 đại

hồng chung nên gọi là bán chung hay còn được gọi là tiểu chung.Hình thái cũng như Chuông U minh, treo ở trai đường Được dùng

để báo tin trong lúc họp chư Tăng biết vào những lúc như nhómchúng, thọ trai, giờ chấp tác, giờ bái sám trong các tự viện

Trang 13

Thứ ba, Chuông gia trì: Chuông này thường được đúc bằng

đồng, cao khoảng 6 đến 8 tấc, thường để tại một góc trong chánhđiện và được sử dụng trong các buổi pháp hội, nên còn có tên khác

là "hành lễ chung" Người Việt Nam cũng như các nước khác ngàynay linh động chế tạo nhiều loại Chuông dạng "bán chung" nàynhưng cũng không có kích thước cố định

Được dùng để đánh lên trong lúc tụng kinh bái sám TiếngChuông gia trì được xử dụng trước khi tụng kinh hay báo hiệu sắphết đoạn kinh đang tụng hay câu niệm Phật

Chuông gia trì cũng thường đánh lên khi lạy Phật mộtmình.Còn khi đông người thì để báo hiệu cùng lạy cho nhịp

Trang 14

nhàng.Chuông gia trì có đủ ba loại lớn, vừa và nhỏ Chuông vừa vànhỏ thì thường thường Phật tử tại gia dùng nhiều hơn và cũng dùngnhư chư Tăng.

Chuông là một pháp khí không thể thiếu trong lễ nghi của Phậtgiáo Tại rất nhiều ngôi chùa cổ nổi tiếng, những gác chuông to lớncàng làm tăng thêm vẻ uy nghiêm cho ngôi chùa Kinh phật dạy:

“Khi đánh lên tiếng chuông thì dừng hết những nỗi khổ trong cácđường ác, khiến cho chúng sinh một lúc cùng lìa khổ, khiến chongười gặp nạn được giải thoát” Âm thanh mượt mà vang vọng,

thâm trầm trong vắt của tiếng chuông như rót vào tai: “Kinh tỉnh

thế gian danh lợi khách, hoán hồi khổ hải mộng mê nhân” Nghĩa

là: Chuông khiến con người thế gian chạy theo danh lợi bừng tỉnh,

kêu gọi người đời mau thoát khỏi bể khổ mênh mông Tiếng chuông

giúp thức tỉnh và giác ngộ chúng sinh

3 Bia

3.1 Nguồn gốc

Bia (hay còn được gọi là văn bia) là hiện tượng văn hóa đượcnảy sinh từ đời sống xã hội như là nét đăc thù và là một trong nhữnghình thức thông tin thời kỳ cổ đại và trung cổ Văn bia xuất hiện từkhá sớm, truyền thống sáng tạo văn bia bắt đầu từ Trung Quốc, sau

đó được lan truyền sang các nước như Triều Tiên, Việt Nam vàNhật Bản (những nước sử dụng chữ khối vuông)

Về tác giả: Đội ngũ sáng tác văn bia chùa gồm các thành phần:

Trang 15

Thứ nhất vua chúa Ngự bút: Văn bia loại này đều do các chúaNguyễn, hoặc các vua triều Nguyễn đích thân viết, sai thợ khắc lên

đá và dựng tại chùa Văn bia loại này thường có hai chữ “Ngự chế”đứng đầu bia, vị trí ở trên và trước dòng thứ nhất, kể từ phải qua.Bên cạnh đó còn có bia do người hoàng tộc (vương) soạn Nhóm tácgiả này gồm có: chúa Nguyễn Phúc Chu, Minh Mệnh, Thiệu Trị,Hồng Thiết, Khải Định Nhóm văn bia này gồm có 10 văn bia.Trong đó vua Thiệu Trị soạn bia nhiều nhất, với 6 bia

Thứ hai các danh nho viết: Mối quan hệ giữa lớp nho sĩ trí thức

và các Tăng sĩ rất mật thiết Do đó, mỗi khi trùng tu chùa xong, vịHòa thượng trú trì thường mời một nhà nho giỏi Phật lý, viết chobài văn bia, đem khắc để dựng tại chùa Nhóm bia này gồm có 18bia Cụ thể như: Nguyễn Thuật, Đặng Huy Trứ, Nguyễn ThượngHiền, Nguyễn Đăng Giai, Nguyễn Khoa Tân… Thậm chí còn có cả

tác giả là danh nho Trung Quốc là Tử Vân Giai trong văn bia Tùng

Sơn tự minh 松山寺銘

Thứ ba do cao tăng hoặc nhóm đệ tử viết: Bia loại này phản ánhhành trạng, công đức của một cao tăng, tổ sư… Giá trị nội dung rấtsâu sắc, là nguồn tư liệu quý về lịch sử Phật giáo Nhóm bia nàygồm có 15 bia (15/226)

3.2 Cấu tạo

3.2.1 Kết cấu văn bia:

Bài văn khắc trên biathường có ba phần sau:

Trang 16

Bên phải một dòng đề hiệu bia để cho người đọc biết đó là bialoại gì; trùng tu chùa hay tiểu sử một vị Tổ, một cao tăng đã tịch.Phần chính văn có hai phần nhỏ: văn trường hàng, viết theo thể

tứ lục; một bài minh theo thể hành, thường gieo độc vận để tóm tắt

ý trên, và nêu ý truyền đạo nêu là bia chùa; tán thán đạo phong của

vị Tổ hay vị cao tăng được đề cập

Phần cuối là vài dòng lạc khoản Niên hiệu vua đương triều,ngày tháng tốt để soạn, khắc văn; tên người soạn và lập bia

Hình thức chữ viết ở văn bia chùa Huế là lối chữ chân và chữtriện Nghệ thuật viết văn bia chùa này đã làm cho thể loại văn nàythêm phong phú và có thể gọi là một thể loại văn học Phật giáo.Ngoài ra, bia chùa ở các chùa Huế còn góp phần mở rộng từ ngữ rấtphong phú Có loại từ khó hiểu vì ý mới lạ, hoặc phiên âm tiếngSanskrit

3.2.2 Trang trí bia:

Nghệ thuật trang trí bia có phần trán bia chạm hình đầu rồnglớn, trực diện uy nghi được chạm ngay chính giữa, xung quanh làmây lá uốn quanh; cũng có khi đó là hình ảnh lưỡng long chầu tháicực, lưỡng long chầu nguyệt với nét chạm rất sắc sảo, thân rồng nhỏnhắn, mềm mại, uyển chuyển cuộn trong mây hoặc chầu hỏa châu,

ít vẻ dữ dằn Ở hầu hết các bia thì phần dưới trán bia hoặc diềm biađều có họa tiết hoa sen, sen cánh phượng là họa tiết đặc trưng của

mỹ thuật Phật giáo Diềm bia cũng thường chạm hoa văn hoa lá, hồi

Trang 17

văn chữ “Vạn”, dải thủy ba, rồng uốn lượn Phần thân bia hình các

ấn triển vuông, tròn, thuẫn, chữ triện, chữ phù Nếu là chùa sắc tứthì có hai chữ “Sắc tứ” lớn chạm nổi được chạm ở phần trên củathân bia, kèm dấu triện Có một vài bia trang trí khá đơn giản, chỉ cóphần thân mà lược bỏ phần trán, không chạm hoa lá mà chỉ vàiđường hồi văn chữ Vạn rất đơn sơ Bia thường được dựng trên lưngrùa lớn, hoặc bệ đá chạm hình cái kỹ chân quỳ, hoặc giản dị hơn,chỉ một khối hình chữ nhật

Văn bia Việt Nam ra đời trong mối quan hệ văn hóa vùng, đó là

sự tiếp nhận ảnh hưởng của truyền thống sáng tạo văn bia ở TrungQuốc, tất nhiên văn bia Việt Nam có những nét đặc trưng mang bảnsắc của truyền thống văn hóa dân tộc Đó là truyền thống của mộtdân tộc có lịch sử dựng nước lâu đời, có truyền thống anh hùngtrong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước, và những phong tụctập quán nhân hậu vị tha của nhân dân Đại Việt

Những văn bia sớm ở nước ta trong thời kỳ Bắc thuộc hiện naytìm thấy quá ít ỏi, chưa thể làm tư liệu khi nghiên cứu lịch sử truyềnthống sáng tạo văn bia ở Việt Nam

Như đối với các nước trong khu vực Điều này có liên quan đếnnhiều yếu tố dẫn tới sự mất mát nguồn tư liệu văn bia ở nước ta, cóthể kể như: chính sách hủy diệt truyền thống văn hóa Việt ở cáctriều đại phong kiến phương Bắc, chiến tranh tàn phá hoặc do thiêntai khắc nghiệt v.v Những văn bia có giá trị trên đất nước Đại Việt

mà hiện nay chúng ta đã tìm thấy chỉ có thể kể từ thế kỷ X, đó là các

Trang 18

cột kinh Phật Đỉnh Tôn Thắng Đà La Ni có niên đại 973 ở Hoa Lư

(Ninh Bình) cùng với sự ra đời của nền văn học viết trong thời kỳđất đôc lập tự chủ

Trong buổi bình minh của nền văn học Việt Nam, khi xuất hiệncác văn bia có giá trị thực sự đối với việc nghiên cứu lịch sử vănhọc có thể kể từ thế kỷ XII, Khi nghiên cứu những bài văn bia củathế kỷ này, chúng ta thấy “các tác giả đã trình bày nội dung của bàivăn bia theo một khuôn mẫu và phong cách thống nhất, đồng thờichúng ta bắt gặp những gia phả, tiểu sử cuộc đời và những lời ngợi

ca về công lao vĩ đại, về phẩm chất tốt đẹp của các thiền tăng, cáctướng lĩnh, các bậc trượng phu…” Điều này dễ dàng nhận thấy ở

các văn bia như: An Hoạch sơn Báo Ân tự bi do Chu Văn Thường

soạn, niên đại Hội Phong 9 (1100) ở chùa Báo Ân núi An Hoạch(Đông Sơn - Thanh Hóa) đã ca ngợi công tích rực rỡ và đạo làm tôi

của Thái úy Lý Thường Kiệt; Bảo Ninh Sùng Phúc tự bi do Lý Thừa

Ân soạn niên đại Long Phù Nguyên Hòa (1107) ở chùa Bảo NinhSùng Phúc (Chiêm Hóa - Tuyên Quang) ghi chép tiểu sử và cuộcđời một viên châu mục vùng núi Vị Long (nay thuộc Tuyên Quang)

- Hà Khánh Di và ca tụng công tích của tổ tiên họ Hà ở vùng này …Tiếp nhận lý luận thể loại văn học để nghiên cứu các bài văn biathời kỳ Lý - Trần, có thể đưa ra nhận xét rằng: Nhiều bài văn bia đãthể hiện phong cách thể loại đặc biệt của nền văn học tiểu sử truyền

thống văn hóa vùng, đây cũng là một đặc điểm cơ bản của thể văn

bia thế kỷ XII - XIII

Trang 19

Từ thế kỷ XIV văn bia Việt Nam bắt đầu mở rộng phong cáchbiểu hiện xuất phát từ nhu cầu xã hội về chức năng và nội dungphản ánh Những bài văn bia thế kỷ này hầu hết tập trung ghi chép

về địa giới đất đai, về việc cúng ruộng vườn cho nhà chùa, hoặc tập

trung miêu tả phong cảnh chùa chiền, như: A Nậu tự Tam bảo điền

bi,khuyết danh, niên đại Hưng Long 1 (1318) ở chùa A Nậu (Hoa

Lư - Ninh Bình); Thị Đức xã tự bi do Thiền sư Huệ Văn soạn, niênđại Khai Hựu 3 (1331) ở chùa xã Thị Đức (Tứ Lộc, Hải Hưng)…Tuy nhiên thể văn xuôi tiểu sử vẫn song song tồn tại, có thể kể

như Hưng Phúc Tự Bi, khuyết danh, niên đại Khai Thái năm Giáp

Tý (1324) ở chùa Hưng Phúc (Quảng Xương - Thanh Hóa) ghi chép

về dòng họ Lê ở hương An Duyên (Thanh Hóa) đã xây dựng nênchùa Hưng Phúc và sau này con cháu lại có công trong cuộc khángchiến chống lại sự xâm lược của giặc Nguyên Mông… Và ở thế kỷXIV, chúng ta thấy người ta bắt đầu khắc sắc chỉ trên bia đá,

như: Thái Thượng Hoàng đế thánh chỉ do vua Trần Hiến Tông soạn,

niên đại Kỷ Sửu Thiệu Phong (1349) ở núi Non Nước (Ninh Bình)khắc sắc chỉ của nhà vua do chùa Thủy Sơn được sở hữu các thứnhư: ruộng đất, cây cối, hoa quả của nhà chùa

Thơ chữ Nôm được khắc trên bia đá hiện sưu tầm được có từ

thế kỷ XV với bài Ngự đề Quang Khánh tự của vua Lê Thánh Tông,

niên đại Hồng Đức 17 (1486) ở chùa Quảng Khánh xã Dưỡng Mông(Kim Thi - Hải Hưng), bài thơ ghi lại cảm xúc của nhà vua trướccảnh đẹp của chùa Tiếp đến các thế kỷ sau, chúng ta thấy có khá

nhiều bia khắc thơ chữ Nôm, có thể kể như: Thiên đài thạch trụ

Trang 20

bi do Nguyễn Thiên Tải soạn, niên đại Chính Hòa 20 (1699) ở chùa

Thanh Tú xã Phượng Trì (Vĩnh Phú), bài thơ ca ngợi những người

có công xây dựng thiên đài thạch trụ …

Từ những đặc điểm nêu trên, có thể đưa ra nhận xét rằng: Vănbia được xác định như là thể văn trong hệ thống thể loại văn học cổchỉ có ý nghĩa giá trị ở thời kỳ khai sáng của thể văn này Trong tiếntrình phát triển, thể văn bia được sử dụng hoàn toàn theo ý đồ sángtác của các tác giả, có nghĩa là tác giả không bị ràng buộc bởi nộidung và hình thức thể loại cũng như chất liệu thể hiện mà đã đượcxác định của thể văn này Như vậy rõ ràng là bia đá đã được coi như

là một trong những loại hình văn bản trong sáng tác văn học nghệthuật

Trang 21

Nhìn chung về hình thức, văn bia thường có hai dạng, một dạngmang cấu trúc gồm hai phần là trên tự (hoặc ký) dưới minh như đãnói ở trên, còn dạng kia chỉ gồm một bài ký (hoặc chí) Bài ký lạithường có cấu trúc gồm hai phần chính, là phần dẫn và phần ký sự,phần dẫn thường là một đoạn văn hay một câu văn ngắn mang tínhnghị luận để dẫn dắt vào vấn đề được nêu ra ở phần ký Phần ký là

Trang 22

phần chính của văn bia, nêu nội dung văn bia Tuy cũng có nhữngvăn bia không tuân thủ nguyên tắc này, nhất là những văn bia cóniên đại muộn về sau, nhưng về cơ bản đều có hai phần như vậy.

Chẳng hạn văn bia Ngưỡng Sơn Linh Xứng tự bi minh (Lý, Thiên

Phù Duệ Vũ năm thứ 7, 1126) mở đầu là phần luận về Phật phápkhá sâu sắc để dẫn dắt đến sự kiện kiến tạo chùa Linh Xứng:

“Phật tổ soi tỏ chữ thực mà chỉ thẳng chữ tâm, thánh nhân thíchứng theo thời mà thông suốt muôn biến “Muôn” là sự phân tán của

“một”, “một” là cội gốc của “muôn” Còn như các bậc hiển thánhthỉnh thoảng ra đời, khuôn phép thay nhau dấy lên, nhóm cái đãphân tán để đưa nó về cội gốc; ôm cái một để thâu tóm cáimuôn.Tạc nên hình tượng để biểu thị “sự thâu tóm”; dựng nên đềntháp để có “sự hướng về”.Hết tâm sức để kinh doanh, bỏ châu ngọc

mà không tiếc.Cho nên đường thì đặt ranh giới bằng dây vàng, hiênthì phô sự quý giá của rèm châu.Tuy rằng hết đỗi trang nghiêm, màvẫn không hề xa xỉ Bởi vì mục đích là ở sự tìm cái “nhất” và cái

“chân”, chứ đâu phải chỉ cốt làm cho bụng dạ và con mắt chói lòa

để khoe khoang sự tráng lệ vậy! Từ khi có Phật giáo tới nay đã hơnhai ngàn năm mà sự thờ phụng ngày càng thêm mới.Hễ có cảnh đẹpnúi non thì không nơi nào là không mở mang để xây dựng chùachiền, nhưng không có các bậc vương công đại nhân giúp đỡ thì sao

có thể làm nên được”

Ngoài hai phần chính đó ra, một văn bia hoàn chỉnh còn cóthêm các chi tiết khác như phần tên bia, thường cho biết bia của địa

Trang 23

phương nào hoặc loại bia gì, chẳng hạn Trùng tu Pháp Vân tự bi

ký là văn bia ghi việc trùng tu chùa Pháp Vân, Ngọc Đình xã bi là

bia của xã Ngọc Đình, hay Phụng Thánh phu nhân Lê thị mộ chí là

bia mộ của Phụng thánh phu nhân, ngoài ra các văn bia công đứcthường có thêm phần ghi công đức của những người có công laotrong sự việc đó kèm theo đóng góp của họ; rồi phần niên hiệu,ngày tháng dựng bia, phần lạc khoản ghi tên họ chức tước của ngườisoạn văn bia, người khắc chữ

Văn bia hầu hết được viết bằng biền văn xen tản văn, hoặc tảnvăn xen biền văn, về sau cũng xuất hiện văn bia chỉ dùng tản văn.Văn bia có số lượng tương đối nhiều và nội dung khá phongphú Chính vì vậy, để dễ nắm bắt, cần phải phân biệt văn bia thànhcác tiểu loại khác nhau Ở đây chúng tôi tạm phân loại văn bia theo

ba nội dung chính Một là thuật đức, ca ngợi hiền tài, nội dung nàynằm trong các văn bia lăng mộ, từ đường, văn bia đề danh Hai làghi công, nội dung này thuộc về các văn bia công đức Ba là ghiviệc, là các văn bia nhằm ghi lại các sự việc cần ghi nhớ, hoặc nhưcác loại giao kèo, khế ước

4 Tượng

4.1 Vai trò của tượng

Tượng đóng vai trò quan trọng trong các nơi thờ tự.Tượng đượcxem là biểu tượng hiện thân của 1 đối tượng được thờ cúng Trongcác cơ sở thờ tự của đạo phật, tượng được coi là hiện thân của chư

Trang 24

phật, bồ tát,… Nhưng đối với đình thì tượng được xem là tôn thâncủa vị thánh ( thành hoàng).

Cách bố trí tượng Phật ở các chùa không giống nhau tuỳ theoThiền phái Các chùa miền Bắc thường là theo Bắc tông, cách bài trítượng Phật khác với chùa miền Nam, thường đơn giản hơn

4.2 Cách bố trí tượng tại các ngôi chùa

Một ngôi chùa Phật giáo (theo Bắc tông – ở miền Bắc nước ta)phổ biến có 4 khu vực: Chính điện, Tiền đường, Nhà hành lang,Nhà tổ và nhà trai

Ở chính điện

1 Tượng Tam Thế là ba pho tượng ngồi ngang nhau ở nơi caonhất trên bàn thờ, đại diện cho chủ Phật trong ba thời gian quá khứ,hiện tại thế, vị lai thế (có thuyết nói đức Phật A-di-đà là Phật quákhứ “tam thế tương liên” thì không đúng Nên nhớ trong kinh Tịnh

Độ, danh hiệu của Ngài Vô Lượng Thọ “hiện nay Ngài đang thuyếtpháp” tiếp dẫn chúng sinh ở mười phương thế giới vãng sinh tới cõicực lạc, vả lại Ngài cũng ra đời cõi Sa Bà này)

Trang 25

Chính điện chùa Bồ Đề (Long Biên, Hà Nội) Lớp trên cùng: Tam thế Phật Lớp thứ hai: Bồ tát Đại thế Chí - Phật A Di đà - Bồ tát Quan Âm Lớp thứ ba: Ananda - Phật Thích Ca - Ca diếp.

2 Tượng A-di-đà Tam Tôn: Tượng còn được gọi là “Tâyphương tam thánh” đặt ở hàng thứ hai từ trên xuống gồm: Phật A-di-đà (ngồi giữa) Đại Thế Chí (bên trái) Đây là 2 vị hộ pháp giúpviệc cứu độ cho Phật A-di-đà Quan Thế Âm (bên phải) với một sốsắc tướng và danh hiệu khác Quan Thế Âm vô uý, Quan Thế ÂmNam Hải, Quan Thế Âm nghìn mắt nghìn tay, Phật bà Quan Âm.Phật A-di-đà là Phật được tạc to nhất trong các nhóm tượng tuỳ theokhuôn khổ từng chùa

Trang 26

Lớp thứ hai: Di Đà Tam Tôn chùa Kim Liên (Ba Đình, Hà Nội)

Phật A-di-đà được tạc trong tư thế toạ thiền, ngồi xếp bằng, haitay đặt giữa lòng đùi, khuôn mặt đôn hậu, mắt nhìn xuống suy tư,miệng hơi mỉm cười Cũng có nơi, tạc tượng A-di-đà ở tư thế thuyếtpháp trên toà sen (ít thôi)

Trang 27

Tượng Phật A Di Đà chùa Kim Liên

Tượng Phật A Di Đà chùa Phật Tích (Bắc Ninh)

Trang 28

3 Tượng Thích-ca Mâu-ni: Tượng đặt ở hàng thứ ba, chínhgiữa Ở trong chùa Phật giáo ta, tượng Thích-ca Mâu-ni được tạc ở

4 tư thế thuộc 4 giai đoạn khác trong chùa Phật giáo ta, tượngThích-ca Mâu-ni được tạc ở 4 tư thế thuộc 4 giai đoạn khác nhau.Theo truyền thuyết về cuộc đời và sự nghiệp của Thích-ca Mâu-nivới cái tên gọi như sau:

Chính điện chùa Côn Sơn (Hải Dương)

Tượng Cửu Long (Thích-ca sơ sinh) tượng Thích-ca ở tư thế đãbước ra rồi đứng lại, một tay chỉ lên trời, một tay chỉ xuống đất, có

9 con rồng uốn chầu xung quanh, tượng Cửu Long dựa vào Phật sửnói rằng, khi Thích-ca giáng sinh có 9 con rồng phun nước để tắmcho Ngài Tắm xong Ngài tự đi 7 bước về phía trước, tay phải Ngàichỉ lên trời, tay trái Ngài chỉ thẳng xuống đất mà nói ngay được

Trang 29

rằng “Thiên thượng, Thiên hạ, duy ngã độc tôn” (có nghĩa là trêntrời, dưới đất, chỉ có “ta” là tôn quý) (Ta đây là “Đại ngã” bản tínhChân Như, không phải là Tiểu Ngã cá nhân riêng của mình, truyềntâm ấn) Hai bên tượng Cửu Long là hai tượng Đế Thích và PhạmVương, chủ thể thế giới, nên tạc theo kiểu nhà vua ngồi trên ngai.

Tượng Tuyết Sơn diễn tả Thích-ca Mâu-ni trong thời kỳ tu khổhạnh trên núi Tuyết Sơn (núi rừng Ni-câu-luật) với thân hình gầy

gò, chỉ có da bọc xương Dân gian quen gọi là tượng “nhịn ăn đểmặc”

Tượng Thích Ca Tuyết Sơn (chùa Bút Tháp, Bắc Ninh)

Tượng Thích-ca thuyết pháp (còn gọi là Thích-ca giáo chủ):Tượng được tạc trong tư thế ngồi trên toà sen, mặc áo pháp, một vai

Trang 30

để trần (tượng tay cầm bông sen là tượng Thế Tôn niêm hoa…) Haibên tượng Thích-ca thuyết pháp có hai vị thị giả là Văn thù Bồ tát(giúp về trí tuệ thuộc lý) và Phổ hiền Bồ tát (giúp về hành nguyệnthuộc sự).Có chùa thay hai tượng này bằng hai tượng đệ tử An-na-

đa và Ca-diếp (thuộc bộ ba của Tiểu thừa)

Tượng Đức Phật Thích Ca niêm hoa tại chùa Côn Sơn

Trang 31

Tượng Phật Thích Ca tại chùa Bồ Đề

Trang 32

Tượng Phật Thích Ca niêm hoa tại làng nghề Sơn Đồng (Hà Tây)

Tượng Nát Bàn Tượng diễn tả Thích-ca Mâu-ni đang nhập Nátbàn Thông thường tượng Nát Bàn ở tư thế nằm nghiêng sườn bênphải xuống thoải mái, tay phải co lại chống lên đầu, mắt lim dim.Tượng Nát Bàn ít thấy ở các ngôi chùa thờ Phật theo Bắc tông, còn

ở các khu chùa thờ Phật theo Nam tông thấy phổ biến

4 Tượng Phật Di Lặc Phật Di Lặc được diễn tả bằng một photượng có dáng thư thái, thanh thản, hết ưu phiền của bậc tu hành sắpđắc đạo thành Phật Vì có thân hình đẫy đà, miệng cười lạc quan,nên dân gian quen gọi là ông “No” hay ông “Nhịn mặc để ăn” (phânbiệt với tượng Tuyết Sơn là ông “Nhịn ăn để mặc”) Thông thườnghai bên tượng Phật Di-Lặc là hai tượng Pháp hoa lâm Bồ tát và Đạidiện tướng Bồ tát, nên còn gọi là Di-Lặc tam tôn

Ở nhà Bái đường

Thông thường nhà Bái đường được xây dựng trước cửa Chínhđiện (còn gọi là tiền đường) Các tượng bày ở nhà Bái đường gồm:

+ Tượng Hộ pháp Hai bên ở Bái đường đặt tượng hai vị Hộ

pháp.Hai vị Hộ pháp là ý nghĩa khuyến Thiện và trừng ác để hộ trìPhật pháp Tượng Hộ pháp thường được tạc rất to, theo kiểu võ sĩ

cổ, mình mặc áo giáp, đầu đội mũ, một vị tay cầm viên ngọc, một vị

Trang 33

tay cầm binh khí, trong tư thế đứng hoặc ngồi trên lưng một con sân(một loại giống sư tử).

Hộ Pháp và Bát bộ kim cương tại chùa Hà (Hà Nội)

Trang 34

Tượng Hộ Pháp chùa Bộc (Đống Đa, Hà Nội)

Tượng Thần Thổ Địa – Thánh Tăng: Một bên tượng thổ địa

và một bên tượng Thánh tăng, lấy điển tích về cùng xuất hiện đồngthời chứng minh khi Đức Thích-ca vừa thành đạo Trưởng giả Cấp-cô-độc, một nhân vật thời Thích-ca tại thế, đã mua một khu vườncây xây tịnh xá, ngôi chùa rất to lớn đầu tiên trên thế giới, thỉnhPhật Thích-ca về thuyết pháp Sau này ông được coi là người bảo vệtài sản của nhà chùa Vì vậy người ta gọi là Đức ông hay Đức chúaGià Lam Chầu Tể (thờ gian bên)

Trang 35

Tượng Đức Thánh Hiền (Chùa Bộc)

Thập Điện Diêm Vương (chùa Bộc)

Trang 36

Nhà Hành lang:

Trong các ngôi chùa thờ Phật ở Việt Nam, nhà hành lang đượcxây rất linh hoạt: có thể là hai dãy nhà riêng để đi lại chạy songsong ở hai bên nhà Chính diện, mà theo đó, đi vào nhà tăng (hậuđường) Tượng bày ở nhà hành lang là 18 vị La Hán (gọi là thập bátHán) Tượng tạc kích thước bằng người bình thường với các tư thếkhác nhau.Vị ngồi trên tảng đá, vị ngồi trên gốc cây, lưng ngựa,lưng tê giác vẻ mặt suy nghĩ trầm mặc La Hán là vị quả thánh caonhất của Tiểu thừa nhưng còn phiền não luân hồi sinh tử Phật giáoTiểu thừa cho rằng có 16 vị La Hán vâng lệnh của Phật ở mãi trênthế gian để cứu độ chúng sinh, không nhập diệt Theo sách Phật, chỉ

có 16 vị La Hán nhưng trên thực tế người ta tạo thêm hai vị nữathành Thập bát La Hán

Nhà Tăng:

Nếu thờ Tổ gọi là Nhà Tổ, dùng trai tăng gọi là Nhà Trai NhàTăng thường được xây dựng sau chính điện nên còn gọi là hậuđường Trên cao của gian giữa thờ hai tượng Thánh tăng A-nan-đa(có người nói rằng Văn Thù Bồ tát) và sư tổ Bồ-đề-đạt-ma(Bohhidharma) Thờ ngài A-nan-đa thuộc Tiểu thừa; Ngài Văn Thù

Bồ tát thuộc Đại thừa; Ngài Bồ-đề-đạt-ma là tổ sư truyền đạo thiềnsang Đông Hoa Dưới là các vị sư tổ đã tu tại chùa.Các vị sư tổ cóthể tạc tượng hoặc không.Ở chùa xây dựng một điện riêng để thờ

Trang 37

các vị thần thánh này Ngoài ra, ở nhà tăng trong một số chùa cònthờ tượng Quan Âm Tổng Tử, Quan Âm toạ sơn…

Nhà tổ chùa Bồ Đề với hình Đức Đệ Nhị Pháp Chủ Thích Tâm Tịch

Trên là cách bố trí có tính phổ biến trong một ngôi chùa Phậtgiáo theo Bắc tông, tuy vậy ở mỗi chùa tuỳ theo vị trí các tượngcũng có sự thay đổi cho phù hợp

Trang 38

Tượng táng Thiền Sư Vũ Khắc Minh tại chùa Đậu (Hà Tây)

Trang 39

Thần phật được thờ trong nhà giống như người khách quý nênngười ta thường đặt ban thờ thần phật ở sảnh giữa nhà, áp lưng vàotường vững chắc hoặc để chung với bàn thờ gia tiên Cho dù đặtriêng hay đặt chung với bàn thờ gia tiên thì cũng đều có nhữngnguyên tắc cần tuân thủ: Gia tiên là chủ nhân, thần minh là kháchquý, có thể chấp nhận có chủ nhân nhưng không có khách, khôngđược có khách mà không có chủ Nếu vừa có chủ vừa có kháchcùng chung một bàn thờ là lý tưởng nhất.

Nhưng cũng không phải tùy tiện thích đặt thế nào thì đặt vì vậy,người xưa cho rằng chỉ cần nhìn vào nơi thờ cúng của gia đình cũng

có thể biết gia chủ có tâm hay không Cái tâm ở đây không được đobằng mâm cao cỗ đầy, vàng mã bao nhiêu mà là ở vị trí đặt bàn thờ,cách sắp xếp bàn thờ ra sao cho phù hợp, trang nghiêm và sạch sẽ.Quan niệm phong thủy thì cho rằng bàn thờ là nơi linh khí quy tụ, làchỗ để người trên dương thế liên hệ với người đã khuất, người chếtthì thành thần, thần lại là trung gian giữa trời với người.Từ đó có thểthấy, khí trường của ban thờ ảnh hưởng rất lớn đến người trong nhà

Trang 40

Ban thờ sắp đặt đúng cách không chỉ khiến người đã khuất an định

mà ở lại coi sóc phù hộ gia đình, nên ban thờ cũng có những quy tắcnhất định

Một trong những đặc điểm văn hóa của người Việt Nam là lòngtín mộ.Có thể nói, từ ngàn xưa, người Việt Nam nào cũng có đốitượng niềm tin riêng và thực hành niềm tin ấy bằng sự thờ cúng mộtcách nào đó.Ý niệm vô thần chỉ mới xuất hiện sau này cùng với sự

du nhập tư tưởng Âu Tây và lí thuyết Cộng Sản

Lòng tín mộ ấy biểu hiện rõ ràng một phần do việc, qua các thời

kì lịch sử, người Việt Nam đã sẵn sàng đón nhận các nền đạo học vàcác tôn giáo truyền từ nước ngoài vào nước ta, như: Khổng - Mạnh,Lão-Trang, Phật giáo, Kitô giáo, Hồi giáo, v.v., hoặc là đã thànhtâm tin theo Cao Đài giáo và Phật giáo Hòa hảo mới được sáng lậpsau này

Song sự biểu hiện lòng tín mộ quan trọng nhất lại chính là cáctín ngưỡng đầy tính dân gian và tính phổ biến của riêng người ViệtNam.Đó là sự thờ cúng các vị thần linh

Bàn về thời điểm xuất hiện và các đối tượng sùng mộ của cáctín ngưỡng nơi người Việt Nam, học giả Đào Duy Anh đã viết: ‘

ta có thể đoán rằng tổ tiên ta ở đời thượng cổ tín ngưỡng một thứ tựnhiên đa thần giáo, tin rằng phàm các hiện tượng và thế lực tự nhiên

ở trong vũ trụ, như trời đất, mưa gió, núi sông, đều có thần linh chủtrương Có lẽ người ta tưởng rằng linh hồn người chết thường đi lạivới người sống Những tín ngưỡng ấy về sau chịu ảnh hưởng của

Ngày đăng: 01/03/2017, 00:18

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình dáng của mỗi loại binh khí này có nét tạo hình riêng, được thể hiện như sau: - Giải thích ý nghĩa các đồ thờ được đặt trong chùa, đình bao gồm: trống, chuông, bia, tượng, ngữ án, bài vị, chấp kích, bát cửu, khánh, mõ, mâm bồng, kiệu
Hình d áng của mỗi loại binh khí này có nét tạo hình riêng, được thể hiện như sau: (Trang 49)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w