Đề tài được bố cục chặt chẽ với các nội dung khái quát như lý do chọn đề tài, mục đích nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, bố cục được chia làm ba chương với đầy đủ phần giới thuyết các khái niệm liên quan, khái quát về nơi lễ hội tồn tại, thực trạng bảo tồn và phát huy giá trị lễ hội và phần định hướng bảo tồn trong tương lai cùng với đó là danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục...
Trang 1MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 3
1 Lý do chọn đề tài 3
2 Mục đích nghiên cứu 3
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
4 Phương pháp nghiên cứu 4
5 Cấu trúc của đề tài 4
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT THỊ XÃ QUẢNG YÊN VÀ LỄ HỘI TIÊN CÔNG 5 1.1.Tổng quan về thị xã Quảng Yên 5
1.1.1.Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên 5
1.1.2.Kinh tế 6
1.1.3.Văn hóa xã hội 6
1.2.Đôi nét về lễ hội Tiên Công 7
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG LỄ HỘI TIÊN CÔNG Ở THỊ XÃ QUẢNG YÊN, TỈNH QUẢNG NINH HIỆN NAY 11
2.1 Diễn trình của lễ hội 11
2.1.1 Phần lễ 11
2.1.2.Phần hội 16
2.2.Những giá trị của lễ hội Tiên Công 17
2.2.1 Lễ hội Tiên Công đề cao giá trị của con người 18
2.2 2 Kho tàng tri thức dân gian 19
2.2.3 Giáo dục truyền thống và đạo đức 20
2.2.4 Sự hòa trộn giữa văn hóa cung đình và văn hóa dân gian 21
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ VÀ ĐỀ XUẤT NHẰM BẢO TỒN, PHÁT HUY NHỮNG GIÁ TRỊ TỐT ĐẸP CỦA LỄ HỘI TIÊN CÔNG 25
3.1.Trong công tác quản lý lễ hội 25
Trang 23.2.Đề ra mục tiêu xây dựng nếp sống văn hóa mới trong tổ chức lễ hội Tiên
Công 27
KẾT LUẬN 28
TÀI LIỆU THAM KHẢO 30
PHỤ LỤC 31
Trang 3Ở ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Từ hàng trăm năm nay, lễ hội Tiên Công vùng “Tứ xã” là lễ hội mùa xuân lớn nhất ở khu vực thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh Các lão nông khi đạt tuổi thọ 80 sẽ được con cháu mừng thọ rước lên Miếu Tiên Công ở xã Cẩm La yết cáo và bái tạ tổ tiên
Là một người con của mảnh đất Quảng Yên, từ nhỏ mỗi khi tết đến xuân
về, lũ trẻ chúng tôi luôn háo hức chờ đọi ngày hội Tiên Công, đó là ngày chúng tôi được hòa mình vào không khí tưng bừng của hội làng, được tham gia vào các trò chơi dân gian như: đánh đu, chọi gà, đập niêu đất từ ngày đó đến khi lớn lên, tình yêu đối với lễ hội ấy, tình yêu với quê hương luôn in sâu và thường trực trong tâm hồn tôi Tôi luôn muốn làm một điều gì đó nhỏ bé cho quê hương mình, tôi muốn đưa hình ảnh quê hương của mình đến với những bạn bè của tôi, hay xa hơn nữa là bạn bè trên khắp cả nước và nước ngoài Là một sinh viên của khoa Di sản văn hóa, tôi luôn yêu thích nghiên cứu khoa học, vì nghiên cứu khoa học là cơ hội để chúng tôi thực hành, áp dụng các lý thuyết mình đã được học trên ghế nhà trường, đồng thời cũng giúp chúng tôi trau dồi kiến thức từng bước hoàn thiện bản thân, phục vụ tốt cho công tác chuyên môn Chính vì thế,
tôi đã chọn đề tài: “Những giá trị văn hóa tiêu biểu của lễ hội Tiên Công ở thị
xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh” làm đề tài tiểu luận của mình Tôi hy vọng
những gì mình viết trong bài viết này sẽ góp phần bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa vô cùng quý giá của lễ hội “có một không hai” trên cả nước, phần nào khắc phục những tồn tại hạn chế trong công tác quản lý bảo tồn bảo, tàng lễ hội này
2 Mục đích nghiên cứu
- Nghiên cứu, tìm hiểu về thực trạng lễ hội Tiên Công ở thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh
Trang 4- Đề xuất một số giải pháp nhằm bảo tồn và phát huy giá trị lễ hội Tiên Công trong giai đoạn hiện nay
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Lễ hội Tiên Công
- Phạm vi nghiên cứu: Lễ hội tiên Công ở thị xã Quảng Yên, Quảng Ninh vào ngày 07/1 âm lịch của “ Tứ xã đảo”, Quảng Yên, Quảng Ninh
4 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp chung: sử dụng phương pháp điền dã; phương pháp nghiên cứu tư liệu, phương pháp lịch sử…
5 Cấu trúc của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo, bài tiểu luận được kết cấu gồm 3 chương:
Chương 1: Khái quát về thị xã Quảng Yên và lễ hội Tiên Công
Chương 2: Thực trạng lễ hội Tiên Công ở thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh hiện nay
Chương 3: Một số kiến nghị và đề xuất nhằm bảo tồn và phát huy những giá trị tốt đẹp của lễ hội Tiên Công
Trang 5CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT THỊ XÃ QUẢNG YÊN VÀ LỄ HỘI TIÊN CÔNG
1.1 Tổng quan về thị xã Quảng Yên
1.1.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên
1.1.1.1.Vị trí địa lý
Quảng Yên là một thị xã ven biển nằm ở phía tây nam của tỉnh Quảng Ninh, thuộc Vùng Đông Bắc Bộ, Việt Nam Ngày 25 tháng 11 năm 2011, Chính phủ Việt Nam ban hành Nghị quyết số 100/NQ-CP, tái lập thị xã Quảng Yên trên cơ sở toàn bộ diện tích tự nhiên và nhân khẩu của huyện Yên Hưng, thuộc tỉnh Quảng Ninh
Thị xã Quảng Yên nằm ven biển nằm thuộc phía tây nam của tỉnh Quảng
Ninh, có tọa độ địa lý20 o 45'06 - 21o02'09 độ vĩ Bắc và 106 o 45'30 - 106o0'59 độ
kinh Đông Phía đông giáp với thành phố Hạ Long và Vịnh Hạ Long, phía tây
giáp huyện Thủy Nguyên, thuộc địa phận củathành phố Hải Phòng, phía nam giáp với huyện Cát Hải, cũng của thành phố Hải Phòng, ở phía bắc giáp thành phố Uông Bí và huyện Hoành Bồ
1.1.1.2 Điều kiện tự nhiên
Thị xã Quảng Yên có đặc điểm địa hình và đất đai của một đồng bằng cửa sông ven biển, có tiềm năng lớn về phát triển nông nghiệp và nuôi trồng thuỷ sản Đất đại tại Quảng Yên nhìn chung có thể chia thành 3 nhóm đất chính
là đồng bằng, đồi núi và đất bãi bồi cửa sông Trong đó, Đất đồng bằng chiếm 44,% diện tích, gồm chủ yếu là đất phù sa cổ và đất phù sa cũ nằm trong đê Vùng Đồi núi chiếm 18,3% diện tích, phân bố ở khu vực phía Bắc, bao gồm chủ yếu là các loại đất feralit vàng đỏ trên đá macma axit và đất feralit nâu vàng, xám vàng trên các đá trầm tích phiến thạch, sa thạch, đá vôi Đất bãi bồi cửa sông, ven biển gồm các loại đất mặn và đất cát chiếm 37,1% diện tích, phân bố
ở các khu vực ven biển và cửa sông
Trang 6Quảng Yên có khí hậu đặc trưng của vùng ven biển Miền Bắc Việt Nam, khí hậu nhiệt đới gió mùa có mùa đông lạnh Thời tiết nơi đây phân hóa thành 2 mùa gồm mùa hè nóng ẩm và mưa nhiều, trái ngược là mùa đông lạnh
và khô Trong đó, Mùa hè thường bắt đầu từ tháng 5 đếntháng 10, Mùa đông kéo dài từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau Nhiệt độ trung bình hàng năm từ
23 đến 24oC, Số giờ nắng trung bình 1700 - 1800 h/năm Lượng mưa trung bình hàng năm gần 2000 mm, cao nhất có thể lên đến 2600 mm Mùa mưa kéo dài
từ tháng 5 đến tháng 10 tập trung 88% tổng lượng mưa cả năm, số ngày mưa trung bình hàng năm 160 - 170 ngày Độ ẩm không khí hàng năm khá cao, trung bình 81%, cao nhất vào tháng 3, 4 lên tới 86%, và thấp nhất 70% vào tháng
10, tháng 11 Với những lợi thế về thời tiết, Khí hậu Quảng Yên rất thuận lợi cho sản xuất nông lâm ngư nghiệp và phát triển du lịch
1.1.2 Kinh tế
Năm 2012, Do thời tiết nắng nóng, mưa lớn thất thường nên tình hình nuôi trồng thuỷ sản trên địa bàn thị xã Quảng Yên gặp nhiều khó khăn[7]
Tuy nhiên, Sản lượng nuôi trồng thuỷ sản đạt hơn 5.680 tấn, trong đó sản lượng tôm nuôi đạt hơn 2.300 tấn
Tình hình kinh tế xã hội 8 tháng đầu năm 2012, tren địa bàn thị xã Quảng Yên, gặp nhiều khó khăn, do ảnh hưởng của suy thoái kinh tế toàn cầu nên số thu thực hiện thấp Do vậy, khả năng hụt thu ngân sách trong năm 2012, là 4,568
tỷ, tăng thu thuế vãng lai là 4 tỷ đồng, thu tiền thuê đất tăng 1 tỷ đồng và một số chỉ tiêu thu khác đạt 1,56 tỷ đồng Tính đến hết tháng 10, tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn đạt trên 208 tỷ đồng Tất cả các khoản thu đều vượt kế hoạch, trong đó Thu ngân sách nhà nước đạt trên 109 tỷ đồng, thu ngoài cân đối ngân sách đạt trên 99 tỷ đồng
1.1.3 Văn hóa xã hội
Quảng Yên được đánh giá là một vùng đất có nhiều tiềm năng để phát triển du lịch, bên cạnh cảnh quan thiên nhiên tươi đẹp, Quảng Yên còn sở hữu
Trang 7khá nhiều di tích, danh thắng và các lễ hội truyền thống đặc sắc Hơn thế nữa, nơi đây còn lưu giữ được không gian yên tĩnh, thanh bình của một làng quê nông nghiệp thuần khiết Tuy nhiên, du lịch Quảng Yên vẫn ở dạng tiềm năng, chưa trở thành điểm dừng chân của khách du lịch trong và ngoài nước Địa bàn Thị xã Quảng Yên có khoảng hơn 200 di tích lịch sử văn hoá, trong đó
có 1 di tích cấp quốc giađặc biệt, 38 di tích quốc gia, 12 di tích cấp tỉnh
Quảng Yên còn có khá nhiều các lễ hội, trong đó có 3 lễ hội lớn được tổ
chức hàng năm, như Lễ hội Bạch Đằng, lễ hội Tiên Công, lễ hội Xuống đồng
Vào mùa xuân, ở Quảng Yên có khoảng 20 chùa làng mở hội, 30 từ đường tổ chức ngày ra cỗ họ với tính chất như một lễ hội của dòng họ không chỉ là vùng đất gắn với các di tích lịch sử văn hoá, Quảng Yên còn được biết đến với nghề thủ công đan ngư cụ truyền thống, tập trung tại vùng quê Hương Học, Nam Hoà
với nhiều nghệ nhân sống bằng nghề Một số di tích quan trọng như đình Phong
Cốc, miếu Tiên Công, bãi cọc Bạch Đằng, Cây Lim Giếng Rừng, đình Trung Bản đã được xếp hạng quốc gia, đó là tiềm năng cho ngành du lịch của thị xã
phát triển
1.2 Đôi nét về lễ hội Tiên Công
Theo truyền thuyết, bia ký và gia phả của các dòng họ, năm Thiệu Bình thứ nhất (1434) có 17 vị Tiên Công là người cùng quê ở vùng Đầm Sét, Đồng Lầm, phường Kim Hoa, phủ Phụng Thiên, thành Thăng Long, (nay thuộc phường Kim Liên-Hà Nội) đã tới đây khai thác lập nên phường Bồng Lưu, sau thành xã Bồng Lưu Từ quê cũ, các cụ vẫn sinh nhai bằng nghề cày cấy và đánh cá trên dòng sông Cái (sông Hồng) Có nhiều người là quan lại, nho sĩ, thợ thủ công… Cùng thời gian đó phía đông nam có hai ông Hoàng Nông và Hoàng Nênh lập nên xã Trung Bản Xã Trung Bản sau nhập vào xã Bồng Lưu Sau xã Bồng Lưu đổi tên thành xã Phong Lưu và phát triển thành 4 thôn Về sau 4 thôn lại phát triển thành 4 xã, gọi là “Tứ xã” gồm: Yên Đông, Phong Cốc, Cẩm La và Trung Bản… Phía nam xã Phong Lưu, trước đó có nhóm hai cụ Đỗ Độ và Đào Bá Lệ
Trang 8cầm đầu một vạn chài đánh cá trên vịnh Hạ Long tụ lại chiêu tập người quai đê lấn biển lập nên xã Lương Qui, nay là xã Liên Hoà Phía tây nam, hai cụ Hoàng Kim Bảng và Đồng Đức Hấn lập nên xã Vị Dương, nay là xã Liên Vị Phía tây bắc, tiếp sau có cụ Phạm Nhữ Lãm lập nên xã Hải Triều, nay là thôn Hải Yến xã Yên Hải Như vậy, có được vùng Hà Nam ngày nay, trước hết là nhờ công lao của 24 vị Tiên Công kế tiếp nhau khai sáng đồng điền để lại di sản đất đai cho hậuthế
Theo Gia phả họ Nguyễn Thực, Nguyễn Nghệ là Gia phả sớm nhất ở xã Yên Hải viết lại vào thời Cảnh Hưng (1740-1786) thì năm 1434, để xây dựng đất nước, vua Lê Thái Tông (1434-1442) tiếp tục mở rộng kinh thành Thăng Long,
đã hạ chiếu khuyến dân dời đi chỗ khác làm ăn sinh sống Họ đi đến đâu được phép thấy đất hoang thì khai khẩn, lập nên làng mạc đến đó 17 cụ đã rủ nhau cùng xuôi thuyền dọc sông Hồng, qua sông Bạch Đằng; đến cửa biển trấn An Bang thì gặp bãi sú vẹt rừng ngập mặn Nơi đây cửa sông Bạch Đằng lộng gió, sóng vỗ trắng xoá lưng trời mở rộng ra xa khơi Nhìn lại đằng sau thấy cảnh sông nước mênh mang màu phù sa đỏ láng từ phía thượng nguồn đổ xuống cùng với màu thuỷ triều xanh biếc của biển dâng lên giao nhau, từng đàn cá ăn nổi như sao sa, họ đã dừng lại để quăng chài, tung lưới Cuộc sống neo trên ngọn sóng Thế rồi, trong một đêm mưa, chợt nghe tiếng ếch kêu văng vẳng dưới chân mây Đoán biết nơi này có thể có nước ngọt, các cụ đã rẽ rừng sú tìm theo; thì gặp ngay một gò bãi cao um tùm cỏ sậy, năn lác, giữa có một hố sâu đầy nước Mọi người nếm thử thấy rõ ràng nước ngọt và cùng nhau uống cho thoả cơn khát Họ reo vui và bàn tính chuyện cắm thuyền dừng lại Sau đó đã đắp đê, khai khẩn đất hoang lập nên hương ấp đầu tiên Bến thuyền đầu tiên đã đón những cánh buồm từ kinh thành, từ những phương trời xa xôi tới đậu
Theo bằng sắc Khải Định thứ 9 (1925), các Tiên Công khi mới đặt chân xuống đây đã có 5 người là Quốc Tử giám sinh và 3 người đỗ Hiệu sinh Trong
đó có nhiều cụ là anh em ruột như các cụ họ Vũ, họ Nguyễn, họ Lê Gia phả họ
Trang 9Vũ để lại ghi rõ buổi đầu các cụ khai căn ở Yên Đông Sau 3 năm khai phá được một khoảnh đất ở Bồng Lưu khoảng 100 mẫu xung quanh Hồ Mạch Đến thời Hồng Đức, ruộng bao trưng thu thuế là 300 mẫu lập thành 1 xã 4 thôn Đến năm Hồng Đức thứ 2 (1472), sau 44 năm số ruộng đã lên tới hơn 1599 mẫu với số nhân đinh gần 650 người Qua 570 năm (1434 – 2004), vùng đất bãi triều hoang
vu thời Hậu Lê trong bàn tay và trí tuệ tạo dựng của những cư dân thành Thăng Long và bao thế hệ con cháu của họ cùng với cộng đồng người Việt các nơi thấy
“đất thơm cò đậu” kéo về… Những mảnh ruộng đầu tiên đã trở thành vùng làng đảo Hà Nam với 9 230 ha, có những cánh đồng thẳng cánh cò bay nằm trong vòng 34 km đê biển kiên cố được lát mái kè đá, xây tường chắn sóng bao quanh vững chắc Ngoài ra còn có hàng trăm ha sông ngòi, đầm nước ngọt nuôi trồng thuỷ sản Từ những người đầu tiên quyết chí chinh phục thiên nhiên, đương đầu với sóng gió, nắng mưa, bão dông, giặc giã… đến hiện tại, Hà Nam có 8 xã với gần 6 vạn dân cùng hàng vạn người đã toả đi xây dựng các vùng kinh tế mới: Phương Nam (Uông Bí), Hà An, Sông Khoai (Yên Hưng), Đại Yên, Hoành Bồ,
Lễ hội Tiên Công diễn ra vào ngày mùng 06 và mùng 07 tháng giêng âm lịch hàng năm Đây là thời gian cư dân đã cấy xong vụ lúa chiêm, bước vào thời
kỳ trồng màu và cũng là khoảng thời gian người dân đảo Hà Nam chuẩn bị ra quân làm thủy lợi, sửa sang mương máng, bồi đắp đê điều Theo gia phả của họ
Trang 10Dương và họ Bùi để lại thì ngày 07 tháng giêng chính là ngày các Tiên Công tìm thấy mạch nước ngọt trên đảo và quyết định quai đê lấn biển lập làng
Lễ hội Tiên Công gắn liền với đời sống của nhân dân trong xã và được tổ chức đều đặn hàng năm qua nhiều thế hệ Tuy nhiên do ảnh hưởng của hoàn cảnh lịch sử trong thời kỳ chiến tranh chống Pháp và chống Mỹ, lễ hội đã bị giản lược đi rất nhiều
Năm 1962 huyện ủy xã Yên Hưng phát động phong trào làm thủy lợi, khai hoang lấn biển nên đã chủ trì tổ chức lễ hội vào ngày mùng 7 tháng giêng Trong
lễ hội, có tổ chức triển lãm sản vật độc đáo của khu vực và rước bằng kiệu, có buổi sinh hoạt thơ ca ngợi thiên nhiên, con người vùng đảo Hà Nam, lễ hội còn
tô chức mít tinh biểu dương lực lượng các ngành Các trò chơi trong ngày hội có: cắm trại, đánh đu, chọi gà…Việc tổ chức lúc này chỉ thiên về phần hội, ít quan tâm đến phần lễ do phần lễ được cho là có các thủ tục rườm rà không quan trọng
Trong những năm tiếp theo từ 1962 đến năm 1964 lễ hội vẫn được tổ chức thường niên Nhưng đến năm 1965, do ảnh hưởng cuộc chiến tranh phá hoại của
đế quốc Mỹ, để bảo đảm an toàn cho nhân dân tham gia lễ hội vì thế mà lễ hội không được tổ chức trong một khoảng thời gian
Vào năm 1980, lễ hội bắt đầu được khôi phục lại dần bằng việc các cụ ông
80 tuổi được lên miếu tế tổ, ý nghĩa là báo cho tổ tiên biết mình đã đạt tuổi ngọc Lúc này lễ vật rất đơn giản chỉ là một nhành cau, cơi trầu không có các hình thức rước đình đám Về sau này, khi điều kiện kinh tế đã phát triển hơn thì các gia đình tổ chức lễ thượng thọ cho những cụ cao tuổi với nhiều nghi thức và lễ vật Trước đây thì tuổi qui định để các cụ ông được làm lễ thượng thọ là 60 tuổi được coi tương đương với bậc tú tài, 70 tuổi gọi là cử nhân, 80 tuổi là tiến sĩ Riêng tiến sĩ được rước rất long trọng có cả võng lọng Ngày nay, các cụ đạt thượng thọ 80, 90, 100 tuổi mới được làm lễ thượng thọ Lễ hội được tổ chức chung cho cả 04 xã gồm xã Phong Hải, xã Yên Hải, xã Phong Cốc và xã Cẩm
La
Trang 11CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG LỄ HỘI TIÊN CÔNG Ở THỊ XÃ QUẢNG YÊN, TỈNH
QUẢNG NINH HIỆN NAY
2.1 Diễn trình của lễ hội
Lễ hội Tiên Công bao gồm hai phần chính đó là phần lễ và phần hội phần
lễ được tiến hành trước từ ngày mùng 6 âm lịch và kéo dài sang ngày mùng 7, còn phàn hội bắt đầu vào ngày mùng 7 song song với các hoạt động lễ trong ngày hôm đó
2.1.1 Phần lễ
Phần lễ bao gồm hai phần : phần lễ tại miếu Tiên Công và phần lễ tại gia đình
Tại miếu Tiên Công
Phần lễ tại miếu Tiên Công được diễn ra trong hai ngày mùng 06 và mùng
07 tháng giêng âm lịch hàng năm
Trước đây, cư dân trên đảo Hà Nam nhất là bốn xã Cẩm La, Phong Cốc, Yên Hải và Trung Bản( hiện nay xã Trung Bản đã tách ra chỉ còn 4 xã là Phong Cốc, Phong Hải, Cẩm La, Yên Hải) khi chuẩn bị ăn tết Nguyên Đán cũng đồng thời chuẩn bị cho ngày hội miếu Tiên Công Từ 30 tết, miếu thờ Tiên Công đã được sửa sang, mở cửa ngày đêm để con cháu Tiên Công xa gần về thắp hương cúng bái tưởng niệm Tiên Công Toàn bộ không gian trong miếu được trang trí sửa sang cẩn thân, tường được quét lại vôi màu, các khánh tiết được trang hoàng
và sơn sủa lại, sắp xếp cẩn thận Các vị tiên thứ chỉ, chức sắc trong xã họp bàn chuẩn bị cho lễ tế Tiên Công Hiện nay, ban tổ chức lễ hội được thành lập, gồm
15 người với thành phần là chủ tịch xã, phó chủ tịch xã, đại diện của ban mặt trận, công an, ban văn hóa…Ban tổ chức chia các tiểu ban nhỏ như: ban tế lễ, ban an ninh, ban hậu cần, ban khánh tiết…Mỗi tiểu ban được phân công từng nhiệm vụ riêng Còn các gia đình có cụ Thượng (tức là các cụ già đạt thọ 80, 90,
Trang 12100 tuổi) họp bàn gia đình chuẩn bị lễ khao thượng thọ và rước các cụ lên miếu Tiên Công để lễ tổ tiên trong ngày hội
Tối ngày mùng 06 tháng Giêng ban tổ chức thường tập trung bên ban thờ Thập cửu Tiên Công làm lễ cáo yết các vị tổ tiên, chủ tế đại diện cho ban tổ
chức trình báo với tổ tiên xin tổ chức Lễ Tiên Công, đồng thời làm lễ tắm tượng, diễn các tục hèm ( diễn lại tích quai đê lấn biển của các vị Tiên Công trước kia)
,chọn ban tế lễ làm lễ cáo yết cho các cụ thượng thọ vào ngày chính hội đồng thời kiểm tra lại các khâu chuẩn bị lễ tế trong ngày hội hôm sau như: chủ tế, ban nhạc lễ, người viết văn tế…Lại chọn bốn cụ Thượng 80 tuổi khỏe mạnh, gia đình phương trưởng để thay mặt các cụ Thượng thực hiện nghi thức đắp đê tượng trưng làm lễ động thổ và đánh vật trong ngày hội
Đồng thời dưới Nghè ngay cạnh miếu Tiên Công( nghè thờ 1 ông nghè đỗ đạt, mất vào giờ thiêng, tương truyền nghè rất linh, nên người dân xung quanh
có con đi thi thường đến đây cầu xin để mong đỗ đạt ), tại đây các hoạt động cúng tế được diễn ra, ngoài ra còn có Hát chèo thuyền- hát mời linh hồn của tổ tiên về chứng giám, thụ lễ của con cháu dâng tế
Các nghi thức lễ ngày mùng bảy, chủ yếu là phần lễ cáo yết của gia đình có
cụ thượng được đưa lên miếu các gia đình có cụ thượng sẽ lần lượt đưa cụ vào trong làm lễ cáo yết với tổ tiên, cám ơn tổ tiên đã ban phước thọ, đồng thời cầu xin thêm thọ, an khang thịnh vượng cho con chàu trong gia đình dòng họ sau khi làm lễ xong, 4 cụ thượng khỏe mạnh đã được chọn từ tối hôm trước, tiến ra sân, vái trời đất và làm lễ động thổ, diễn tả lại hoạt động quai đê lấn biển của các
vị tiên công trước kia Sau lễ rước, các cụ kế bước vào Miếu đường bái lạy Tiên Công Các ông văn trịnh trọng đọc bài văn tế tạ ơn công đức 17 vị Tiên Công, cầu cho “nhân khang vật thịnh”, ruộng đồng “phong đăng hoả cốc”, “Quốc thái dân an” Phần lễ hết nửa buổi sáng Phần hội tiếp theo Lệ cổ có trò đánh vật mở đầu: bầu hai Cụ Thượng còn khoẻ mạnh đánh vật tượng trưng, rồi mỗi cụ vác một hòn đất đã xẻ sẵn đắp vào nền Miếu (thể hiện truyền thống đắp đê lấn biển)
Trang 13Từ ngày đó các làng xã mới được động thổ, đào móng làm nhà, ra quân làm thuỷ lợi… Nay trò này đã được khôi phục trong Lễ hội Những hoạt động này nhằm cầu cho mùa màng tươi tốt, những chuyến đi biển nhiều tôm cá, biểu thị sức mạnh và tinh thần thượng võ của cư dân vùng biển Hà Nam
Tại gia đình:
Tại gia đình các cụ Thượng, từ những ngày trước tết con cháu đi làm ăn xa hay ở gần đều về nhà đầy đủ, quây quần Cả gia đình họp nhau từ những ngày trước tết để bàn tổ chức lễ cho bố mẹ lên thượng thọ, từ kinh phí, đặt các khánh tiết, thuê đám rước, làm cỗ tùy vào điều kiện từng gia đình,mà tổ chức to hay nhỏ Các gia đình dựng rạp trước đó hai ngày, trang trí bàn thờ, nhà cửa, thường treo đại tự, câu đối chúc thọ cụ Thượng và gia đình, bày án gian ngũ quả, đặt
con Long mã “con Long mã (con vật giúp dân trị thủy) được kết bằng hoa quả
là điểm nhấn của ban thờ Đầu long mã xếp bằng quả đu đủ, thân bằng quả chuối, chân bằng hoa chuối, đuôi bằng hoa cây sập chim (loại cây dùng để bẫy chim, có hoa mọc thành từng chuỗi dài giống hoa mây) Quả đu đủ không được
to quá cũng không được nhỏ quá, không quá xanh và cũng không quá chín, quả
đủ đủ đạt tiêu chuẩn là gọi là quả đu đủ “ràu ràu” Còn những nải chuối để xếp làm thân long mã là chuối lá, các nải chuối quả phải đều nhau, chuối già nhưng không chín Một quả na làm mũi, hai quả cau làm mắt, quả hạt tiêu làm răng nanh Con long mã mang ý nghĩa nhắc nhở con cháu truyền thống trị thủy của
cư dân đảo Hà Nam.” Ngoài ra, các gia đình còn làm các loại bánh truyền thống như: bánh trưng, bánh gio, bánh ngọt,…, các món ăn ngon cúng gia tiên, các gia đình khá giả còn mời họ hàng thân tộc, làng xóm ăn uống vui vẻ
Các cụ Thượng mặc áo thọ bằng vải lụa ( do con cháu đặt may từ trước tết), sau lưng thêu chữ thọ lớn, ngồi trên một ghế ngai bằng gỗ phủ vải hoa Trong cả ngày và tối mùng 06 tháng giêng, Con cháu, họ hàng, xóm láng, bằng hữu đến mừng, từng hàng đứng trước Cụ Thượng Người trịnh trọng dâng lễ, kẻ kính cẩn tung hô, chắp tay quì lạy Cho nên dân gian vùng này có câu “một lễ sống bằng
Trang 14một đống lễ chết” là thế Ai nấy tay bắt mặt mừng, thật là cảm động Sau đó mọi người cùng dự tiệc chia lộc Thọ với Cụ Thượng và gia đình Chí ít cũng phải nhận một chén rượu lấy lộc, lấy may đầu xuân! Sau đó cụ thưởng phong bao đỏ cho con cháu, chiếc phong bao mang ý nghĩa ban thọ cho con cháu Con cái cụ Thượng thường đọc bài văn truy ơn cha mẹ, hứa với cha mẹ sẽ ăn ở hiếu thảo, hòa thuận trong gia đình, làng xóm
Lễ rước cụ thượng:
Sáng ngày mùng 07 tháng giêng các gia đình tổ chức lễ rước cụ Thượng lên miếu Tiên Công Đám rước các cụ Thượng lên miếu lễ tổ tiên được chuẩn bị từ rất sớm và bắt đầu xuất phát từ gia đình Hiện nay, một số dòng họ lớn trong vùng đã tổ chức rước chung, lúc này công việc tổ chức được toàn bộ chức sắc trong họ đứng lên lãnh đạo tổ chức đoàn rước, đoàn rước sẽ bắt đầu rước từ nhà thờ tổ dòng họ đó
Trước đây, đi đầu đoàn rước là hai hàng cờ ngũ sắc, nếu đoàn đi về hướng Đông thì cờ xanh đi đầu, hướng Tây thì cờ trắng đi đầu, hướng Bắc thì cờ tím đi đầu, hướng Nam thì cờ đỏ đi đầu Nếu dừng lại thì cờ vàng chữ Thọ Người đi xem hội hay các đoàn rước khác cứ nhìn vào cờ của đám rước khác mà điều khiển đám rước của mình Ngày nay, qui định về cờ đi đầu đám rước không còn theo qui chuẩn như xưa nữa Xen vào đó là đoàn trống hội, chiêng, cùng với đôi lân sư, chú tễu, con đĩ đánh bồng….tạo ra sự nhộn nhịp, không khí tưng bừng cho ngày hội
Sau hàng cờ là hàng bát bửu sơn son thiếp vàng do con cháu các cụ Thượng mang vác; tấm bảng chữ Thọ được con cháu khiêng, tiếp đó là tấm bảng ghi tên, quê quán, chứng nhận cụ thượng của cơ quan nhà nước; Tiếp đến là đội nhạc với trống lệnh và dàn nhạc bát âm Đi sau là các mâm lễ vật có trầu cau, rượu, xôi, gà hoặc thủ lợn, hương án có kết hoa và kết hình long mã Rồi đến võng đào của các cụ Thượng, các cụ thượng thường mặc áo the khăn xếp màu vàng hoạch xanh da trời, bên cạnh là võng đào có lọng che, các cụ khỏe mạnh
Trang 15sẽ đi bộ bên cạnh võng cùng đoàn rước, các cụ già yếu ngồi trên võng đào để con cháu khiêng Đi cuối cùng là hàng dọc con cháu, họ hàng thân thích Mỗi gia đình dòng họ như vậy đã tạo thành một đám rước, các đám rước nhập lại khi đến gần miếu Tiên Công tạo nên một không khí tưng bừng, náo nhiệt Ngày nay,
để phù hợp với thời đại mới, nhiều cụ được con cháu đưa rước bằng xe xích lô hoặc xe máy
Người dân đi tham gia hội cũng hòa mình vào đoàn rước, tạo nên không khí nhộn nhịp vui tươi và hoành tráng cho đoàn rước, mỗi đoàn rước thường kéo dài cả vài trăm mét
Vào chính Ngọ các cụ thượng đã đến đủ trong nhà bái đường bàn thờ các vị Tiên Công Đến đầu giờ chiều thì đội tế thực hiện các nghi thức tế lễ chính Đội
tế chính này do ban tổ chức lập ra từ trước với khoảng 20 người (đội tế trước đây thường là nam, năm 2010 lần đầu tiên chọn đội tế là nữ) Chủ tế có 01 người, có 02 thông xướng,04 bồi tế, 02 phân hiến, 01 đọc văn còn lại là thành viên đội tế Đội tế là những người được tuyển chọn kĩ càng, nhất là chủ tế Phải
là người vợ chồng song toàn, con cái phương trưởng, gia đình có truyền thống gia giáo, hạnh phúc Ngày nay, do số lượng cụ thượng ngày càng đông, số lượng con cháu trong gia đình lớn nên việc tế cùng giờ sẽ gây ách tắc so với không miếu, vì vậy, việc tế lễ diễn ra song hành với phần hội, gia đình nào đưa cụ thượng đến trước sẽ tế trước, sau đó sẽ đưa rước cụ thượng về gia đình, cứ lần lượt như thế cho đến hết hội
Sau khi đội tế thực hiện các nghi lễ tế xong, các cụ Thượng vào miếu dâng
lễ vật và tế Tiên Công trong không khí trang trọng và thành kính Trước đây, sau phần tế lễ sẽ đến lễ động thổ, 04 cụ Thượng khỏe mạnh được tuyển chọn từ trước sẽ bê 04 hòn đất vuông (cũng được chuẩn bị từ trước) đặt trước bàn thờ Tiên Công sau đó diễn trò đánh vật nhằm biểu thị tinh thần đấu tranh với thiên nhiên, tiếp tục sự nghiệp quai đê lấn biển, bảo vệ xóm làng của các Tiên Công Nhưng hiện nay nghi thức này không còn nữa
Trang 162.1.2 Phần hội
Phần hội cũng được diễn ra trong hai ngày mùng 6 và mùng 7 âm lịch Tối ngày mùng 6 người dân trong khu vực tập trung rất về miếu Tiên Công, xung quanh sân khấu nhỏ bên đặt phải của sân miếu, tại đây diễn ra các hoạt động văn
nghệ chào mừng như: hát đối đáp, hò biển, hát quan họ, hát đúm hát đúm là
cách hát đối nhau giữa một tốp nam và một tốp nữ do những nghệ sĩ là con em trong xã biểu diễn Đây là một hình thức diễn xướng dân gian đặc sắc mang đậm dấu ấn của đất và người đảo Hà Nam Những làn điệu hát đúm được hát trong dịp lễ hội phản ánh tâm tư, nguyện vọng và cũng chính là cuộc sống thực tế trong lao động, sản xuất của nhân dân Đây là dịp để lớp người cao tuổi nhớ lại những kỉ niệm ngày xưa, còn lớp thanh niên được nghe và hiểu biết về vốn văn hóa dân gian của địa phương… các diễn viên là quần chúng nhân dân trong các thôn xã, hoặc chính là người dân đi tham gia lễ hội đây là cơ hội để họ giao lưu làm quen, trao đổi tâm tư tình cảm
Các hoạt động hội diễn ra vào ngày chính hội, phần hội được diễn ra song song cung với phần lễ, phần hội trong ngày này gồm các trò chơi dân gian như: đánh đu, chọi gà, đấu vật, tổ tôm điếm,kéo co…ngày nay có thêm một số trò chơi như bong chuyền, được tổ chức tại sân UBND phường Phong Cốc và các tiết mục văn nghệ đặc sắc tại sân khấu Các trò chơi thường được diễn ra trong không khí từng bừng của ngày hội người tham gia không quá đề cao thắng thua mà chủ yếu là tìm niềm vui và cầu may mắn đầu năm
Trò chơi đánh đu được ban tổ chức chuẩn bị rất kỹ lưỡng, từ những ngày trước hội, ban tổ chức cử người đi tìm chọn những cây tre to đẹp nhất để dựng cột đu Cột đu được dựng giữa bãi đất trống, rộng, cạnh miếu Cây đu được cấu tạo gồm có trụ đu, thượng đu, tay đu và bàn đu Trụ đu gồm 06 cây tre lớn tạo thành 02 bên cột trụ Thượng đu làm bằng thanh tre đặt ngang nối 02 phần trụ
đu với nhau Tay đu làm bằng hai cây tre già nhỏ vừa với tay cầm Và được buộc chốt chắc chắn để người chơi nắm khi đu Bàn đu được kết bằng tre, làm
Trang 17chỗ người chơi đứng lên Khi đu có hai loại là đu đơn và đu đôi Đu đôi gồm có đôi nam, đôi nữ và đôi nam nữ Tuy nhiên đẹp nhất, hấp dẫn và thích thú nhất vẫn là chơi đu đôi nam nữ Hai người lên đu quay mặt vào nhau, dùng tay vịn thân đu, dùng sức từ đôi chân đẩy cho đu bay cao Người chơi càng nhún mạnh,
đu càng bay lên cao Khi cần đu lên ngang tầm với ngọn đu là lúc đu hay nhất, người đu kết hợp nhịp nhàng nhất, nếu người chơi đu khéo, đu giỏi có khi bàn
đu còn bay qua ngọn đu một vòng Để chơi đu người chơi phải thật bình tĩnh và
có sức khỏe và lòng dũng cảm Ngoài ra hai người chơi đu phải có sự khéo léo
và kết hợp nhịp nhàng Chính vì tính chất của trò đánh đu như vậy nên thu hút được rất nhiều người muốn tham gia chơi và xung quanh cây đu lúc nào cũng tập trung rất đông khán giả đứng xem và cổ vũ
Bóng chuyền không phải trò chơi dân gian nhưng cũng thu hút được rất nhiều sự quan tâm của nhân dân Trước lễ hội, mỗi thôn đã tự lập một đội bóng riêng, hăng say tập luyện để thi đấu với nhau trong ngày hội Các đội đấu với nhau theo hình thức loại trực tiếp Đội thắng sẽ đi tiếp vào vòng trong Đội thua
sẽ bị loại khỏi cuộc thi Trò chơi bóng chuyền đòi hỏi phải có tinh thần đồng đội, sức khỏe dẻo dai và sự nhanh nhẹn Các trò chơi dân gian, hoạt động thể thao được tổ chức trong lễ hội vừa là phù hợp với cuộc sống đương đại, vừa rèn luyện sức khỏe, nêu cao tinh thần thể dục thể thao, vừa nhằm mục đích đoàn kết nhân dân và góp phần thỏa mãn đời sống tinh thần của người dân
Phần hội của lễ hội là nơi giao lưu gặp gỡ của nhân dân trong vùng cũng
là dịp để mọi người tranh tài, giải trí, tạo cho lễ hội một không khí sôi nổi, vui
vẻ là cơ sở để giữ gìn và phát huy các giá trị tốt đẹp của lễ hội truyền thống
2.2 Những giá trị của lễ hội Tiên Công
Lễ hội Tiên Công mang trong mình những giá trị văn hóa đặc sắc, tiêu biểu cho nền văn hóa nông thôn Bắc Bộ cổ truyền