Đối tượng Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những bài dân ca trong nghi lễ vòng đời của người Dao Tuyển, cụ thể là: dân ca trong nghi lễ cấp sắc, dân ca trong nghi lễ đám cưới và dân c
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
BÀN THỊ QUỲNH GIAO
DÂN CA NGHI LỄ TRONG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA
CỦA NGƯỜI DAO TUYỂN Ở VIỆT NAM
Chuyên ngành: Văn học dân gian
Mã số: 62 22 01 25
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HỌC
HÀ NỘI – năm 2017
Trang 2Công trình được hoàn thành tại: Học viện Khoa học xã hội Việt Nam
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Thị Huế
Phản biện 1:
Phản biện 2:
Phản biện 3:
Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp Học viện họp tại
vào hồi ……… … giờ ………… phút, ngày ……… tháng ……… năm ………
Có thể tìm hiểu luận án tại thư viện: Thư viện Quốc gia Việt Nam; Thư viện Học viện Khoa học xã hội Việt Nam; Thư viện Viện Văn học
Trang 3
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Người Dao Tuyển nói riêng và người Dao nói chung di cư đến Việt Nam khá sớm Trên con đường di cư cũng như khi “cắm bản” tại vùng đất mới Ở vùng đất mới điều kiện vật chất gặp nhiều khó khăn nhưng không vì thế mà họ đánh mất đi đời sống văn hóa vô cùng phong phú và đa dạng của mình Trong nền văn hóa ấy, nổi bật lên là kho tàng dân ca nghi lễ phong phú về thể loại và đặc sắc về nội dung – một tài sản văn hóa phi vật thể vô giá của người Dao Tuyển Dân ca nghi lễ của người Dao Tuyển không chỉ phản ánh phong tục, tập quán, tín ngưỡng, tư tưởng, tình cảm mà còn là bản sắc văn hóa mang nét đặc trưng riêng của tộc người Dao nói chung và người Dao Tuyển nói riêng Do vậy, nghiên cứu dân ca nghi lễ của người Dao Tuyển đặt trong cơ tầng văn hóa tộc người Dao sẽ giúp chúng ta hiểu sâu hơn đời sống văn hóa của tộc người này
Dân ca nghi lễ của người Dao Tuyển phong phú về thể loại, số lượng, có vai trò quan trọng trong thực hành nghi lễ vòng đời đồng thời phản ánh được đời sống sinh hoạt, đời sống tâm linh của đồng bào, chứa đựng trong nó văn hóa truyền thống của tộc người Ở đó thế giới tâm linh (thế giới quan, vũ trụ quan) và triết lý nhân sinh quan được phản ánh rõ nét Từ những bài dân ca nghi lễ được thực hành trong đời sống văn hóa ta thấy được đặc tính văn hóa cũng như những tâm tư, tình cảm của cộng đồng cư dân người Dao Tuyển Song nó vẫn chưa được nghiên cứu chuyên sâu đúng với tiềm năng và thực trạng vốn có
Người Dao Tuyển ở Việt Nam cư trú trên những địa bàn có điều kiện sinh tồn khác nhau Vì thế, ở mỗi địa phương người Dao Tuyển lại có những sắc thái văn hóa riêng, điều đó đã tạo nên tính đa dạng, phong phú trong nguồn mạch văn hóa Dao nói chung Việc sử dụng dân ca trong thực hành nghi lễ vừa thể hiện tính thống nhất trong đời sống tinh thần tộc người, vừa biểu hiện nét khác biệt của người Dao Tuyển so với các nhóm Dao khác Luận án nghiên cứu dân ca nghi lễ của người Dao Tuyển ở Việt Nam nhằm góp phần chỉ ra những nét đặc thù và phổ quát của loại hình nghệ thuật này
Bản thân nghiên cứu sinh là một người mang dòng máu và tâm thức văn hóa của người Dao, sinh tồn trong môi trường văn hóa ấy nên có vốn hiểu biết nhất định về đời sống, phong tục, tập quán, tín ngưỡng của dân tộc mình Khi tiến hành khảo sát, nghiên cứu về dân ca nghi lễ của người Dao Tuyển, nghiên cứu sinh có điều kiện tiếp cận thực tế, sưu tầm, tìm hiểu các nghi lễ trong đời sống văn hóa của tộc người Do đó, trong đề tài nghiên cứu của luận án, nghiên cứu sinh hy vọng sẽ trình bày được những hiểu biết của mình về dân ca nghi lễ của người Dao Tuyển từ góc nhìn khoa học của một người trong cuộc Đồng thời nghiên cứu sinh cũng mong muốn thông qua luận án góp một phần vào việc giữ gìn, bảo tồn những giá trị văn hóa truyền thống của tộc người Dao Tuyển ở Việt Nam
Trang 42 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
2.1 Mục đích nghiên cứu
Luận án tập trung nghiên cứu các nội dung phản ánh, phương thức phản ánh của dân ca nghi lễ người Dao Tuyển trong đời sống văn hóa tộc người (đời sống văn hóa vật chất và đời sống văn hóa tinh thần) thông qua việc phân tích,
diễn giải các văn bản dân ca nghi lễ
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Luận án tiến hành tập hợp, hệ thống, đối chiếu tư liệu trên các văn bản đã được công bố đồng thời điền dã, khảo sát thêm một số tư liệu mới, quan sát thực tế bối cảnh diễn xướng dân ca nghi lễ của người Dao Tuyển
Luận án tập trung nghiên cứu nội dung, nghệ thuật của dân ca nghi lễ với
tư cách là một thành tố quan trọng trong mối quan hệ giữa bối cảnh diễn xướng với các lễ thức tín ngưỡng dân gian Bên cạnh đó, luận án cũng xem xét dân ca nghi lễ như một hiện tượng văn hóa dân gian mang tính nguyên hợp đồng thời dựa vào những đặc trưng văn hóa tộc người để có cơ sở lý giải ý nghĩa cơ bản của một số hình ảnh nghệ thuật thẩm mĩ Để từ đó làm nổi bật lên mối quan hệ mật thiết giữa văn hóa và dân ca nghi lễ người Dao Tuyển
Trong luận án, ở một mức độ cho phép chúng tôi sẽ cố gắng so sánh dân
ca nghi lễ của người Dao Tuyển với dân ca nghi lễ của một số ngành Dao khác
để tìm ra sự tương đồng, nét văn hóa đặc trưng của dân ca nghi lễ người Dao Tuyển với dân ca nghi lễ của dân tộc Dao nói chung, nhằm làm rõ tính chuyên biệt và phổ quát của các loại hình dân ca nghi lễ người Dao Tuyển
Luận án, đặt dân ca nghi lễ trong đời sống văn hóa, với mong muốn làm rõ những khía cạnh phản ánh của dân ca nghi lễ trong đời sống văn hóa vật chất
và đời sống văn hóa tinh thần nhằm góp phần nâng cao nhận thức về giá trị của loại hình dân ca này trong cộng đồng người Dao Tuyển nói riêng và người Dao nói chung ở Việt Nam
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của luận án
3.1 Đối tượng
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những bài dân ca trong nghi lễ vòng đời của người Dao Tuyển, cụ thể là: dân ca trong nghi lễ cấp sắc, dân ca trong nghi lễ đám cưới và dân ca trong nghi lễ tang ma qua các công trình sưu tầm, nghiên cứu đã được xuất bản
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Chúng tôi một mặt căn cứ vào các thư tịch, văn bản dân ca nghi lễ đã được tuyển chọn và giới thiệu, cụ thể: Lễ cưới người Dao Tuyển, xuất bản năm 2001; Thơ ca dân gian người Dao Tuyển xuất bản năm 2005; Thơ ca dân gian người Dao Tuyển (Song ngữ: Việt – Dao) xuất bản năm 2011; Đám cưới người Dao Tuyển xuất bản năm 2011; Những bài ca giáo lý xuất bản năm 2012 Mặt khác, chúng tôi tiến hành nghiên cứu, điền dã sưu tầm, đối chiếu các bài dân ca nghi lễ của người Dao Tuyển đã được xuất bản các bài dân ca nghi lễ trong thực tiễn sinh hoạt, thực hành nghi lễ của họ từ quá khứ tới hiện tại Việc khảo sát, đối chiếu dân ca trong thực tiễn sinh hoạt thực hành nghi lễ của người Dao Tuyển được chúng tôi tiến hành trên các địa bàn có sự sinh tồn của người Dao
Trang 5Tuyển ở nước ta như Lào Cai, Yên Bái, Tuyên Quang Trong đó tập trung chủ yếu trên địa bàn tỉnh Lào Cai – địa phương có số lượng người Dao Tuyển sống tập trung đông nhất ở các huyện Bảo Yên, Bảo Thắng, Bát Xát, Mường Khương, Bắc Hà và thành phố Lào Cai – nơi văn hóa truyền thống của người Dao Tuyển còn được lưu giữ khá nguyên vẹn Tại địa bàn tỉnh Lào Cai, với điều kiện tự nhiên đặc thù của vùng núi cao, nhất là đối với các huyện vùng sâu, vùng xa, biên giới là nơi cư trú lâu đời của người Dao Tuyển thì sự tác động của các yếu tố văn hóa ngoại lai đến đời sống kinh tế, văn hóa của cộng đồng Dao Tuyển chậm hơn các khu vực khác Do vậy, các phong tục, tập quán, tín ngưỡng nơi đây ít bị biến đổi so với các địa phương khác có người Dao Tuyển cư trú
Ngoài ra, trong quá trình điều tra điền dã, chúng tôi sẽ mở rộng phạm vi thực địa ra các địa phương như tỉnh Sơn La, Yên Bái… đó là những tỉnh có người Dao Tuyển sinh sống với số lượng ít hơn và mật độ phân bố thưa thớt hơn ở Lào Cai để có một cái nhìn toàn diện hơn về sự ảnh hưởng của dân ca nghi lễ trong đời sống văn hóa của tộc người
4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận án
4.1 Phương pháp luận
Ngoài phương pháp luận chung của nghiên cứu khoa học xã hội nhân văn, thực hiện đề tài nghiên cứu này, chúng tôi xác định việc triển khai trên nguyên tắc phương pháp luận riêng sau đây:
Đặt dân ca nghi lễ trong bối cảnh diễn xướng folklore: Chúng tôi không
nghiên cứu dân ca nghi lễ như là một thành tố tồn tại độc lập mà đặt trong bối cảnh diễn xướng của tộc người để tìm hiểu dân ca trong mối quan hệ với các thành tố văn hóa khác Đồng thời đặt dân ca nghi lễ của người Dao Tuyển trong bối cảnh diễn xướng để có những luận giải về đời sống văn hóa vật chất
và đời sống văn hóa tinh thần thông qua các yếu tố nghệ thuật và phương thức phản ánh
Vận dụng linh hoạt lý thuyết tính nguyên hợp ở phương diện chức năng của folklore: Cụ thể là trong luận án chúng tôi đặc biệt chú ý đến chức năng
thực hành – sinh hoạt của dân ca nghi lễ trong đời sống văn hóa của tộc người Dao Tuyển Song do đặc thù của loại hình dân ca nghi lễ và cũng do sự quy định của mã ngành nghiên cứu nên trong luận án chúng tôi chỉ đi sâu nghiên cứu tính chất thực hành – sinh hoạt của dân ca nghi lễ biểu hiện trực tiếp thông qua chủ thể diễn xướng, không gian, thời gian diễn xướng, ngôn ngữ, thể thơ trong các nghi lễ cấp sắc, đám cưới, tang ma
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng 4 phương pháp nghiên cứu: phương pháp phân tích ngữ văn; phương pháp so sánh lịch sử và so sánh loại hình; phương pháp nghiên
cứu liên ngành; phương pháp sưu tầm điền dã
5 Đóng góp mới về khoa học của luận án
Thứ nhất: Qua khảo sát của chúng tôi, cho đến thời điểm hiện tại chưa có
một công trình nghiên cứu nào đi sâu, tìm hiểu một cách hệ thống, khoa học về dân ca nghi lễ trong đời sống văn hóa của người Dao Tuyển Luận án là công
Trang 6trình đầu tiên cung cấp một bức tranh cơ bản về diện mạo dân ca nghi lễ của người Dao Tuyển ở Việt Nam theo từng tiểu loại đã và đang tồn tại trong đời sống văn hóa của người Dao Tuyển
Thứ hai: Từ các cuộc điều tra điền dã, chúng tôi có sự so sánh, đối chiếu
giữa các văn bản hóa của dân nghi lễ với các văn bản dân ca nghi lễ được thực hành trong đời sống văn hóa của người Dao Tuyển hiện nay Điều này, giúp chúng ta hiểu sâu hơn về đặc điểm, giá trị nội dung, giá trị nghệ thuật cũng như quy luật sản sinh, diễn biến, lưu truyền của dân ca nghi lễ đặt trong bối cảnh văn hoá tộc người
Thứ ba: Bằng việc tiến hành khảo sát, giải mã dân ca trong đời sống văn
hóa của người Dao Tuyển, bước đầu chúng tôi hệ thống dân ca nghi lễ theo các loại hình nghi lễ như sau: dân ca trong nghi lễ cấp sắc, dân ca trong nghi lễ đám cưới, dân ca trong nghi lễ tang ma Khi tiến hành nghiên cứu từng tiểu loại dân ca nghi lễ ấy, chúng tôi sẽ chỉ ra chức năng và ý nghĩa nội dung và giá trị nghệ thuật của các tiểu loại dân ca nghi lễ ấy
Thứ tư: Đề tài cũng góp phần thực hiện chủ trương chính sách bảo tồn,
phát huy các di sản văn hóa truyền thống của các tộc người Việt Nam
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
Luận án là công trình khoa học có ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn, cũng sẽ là tài liệu giúp cho các nhà nghiên cứu văn học, nghiên cứu văn hóa người Dao Tuyển nói riêng và người Dao nói chung, có hướng tiếp cận mới với thể loại dân ca này cũng như có cách đánh giá, nhìn nhận mới về các giá trị của dân ca nghi lễ trong đời sống văn hóa của người Dao Tuyển nói riêng và các dân tộc thiểu số ở khu vực miền núi phía Bắc nói chung
7 Cơ cấu của luận án:
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, nội dung
của luận án gồm có 4 chương: Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ
sở lý luận và đối tượng nghiên cứu; Chương 2: Diễn trình diễn xướng dân ca nghi lễ của người Dao Tuyển; Chương 3: Sự phản ánh thế giới tâm linh và đời sống con người trong dân ca nghi lễ của người Dao Tuyển; Chương 4: Các yếu tố nghệ thuật trong dân ca nghi lễ của người Dao Tuyển
Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN
VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 1.1 Tình hình nghiên cứu
1.1.1 Tình hình nghiên cứu về người Dao và dân ca nghi lễ Dao
Theo khảo sát của chúng tôi, tình hình nghiên cứu về người Dao và dân
ca nghi lễ Dao ở Việt Nam thời kỳ trước năm 1945 ít được các nhà nghiên cứu quan tâm đến, các công trình giai đoạn này gần như chỉ thiên về giới thiệu sơ lược nguồn gốc, địa bàn cư trú, trang phục… Tiêu biểu là nhà bác học Lê Quí
Đôn với Kiến văn tiểu lục (1778), tiến sĩ Hoàng Bình Chính với cuốn Hưng
hóa xứ phong thổ lục (1778), nhà sử học Phạm Thận Duật với Hưng Hóa ký lược Có thể thấy, mặc dù chưa đi sâu tìm hiểu và khám phá về tộc người Dao
Trang 7thành các công trình chuyên biệt, nhưng các tác giả thời phong kiến của Việt Nam bước đầu đã có ý thức đề cập đến nguồn gốc, phong tục, tập quán của người Dao một cách tương đối có hệ thống Điều đó chứng tỏ rằng, ngay từ thế
kỷ XVIII, người Dao ở Việt Nam đã được quan tâm tìm hiểu, ghi chép
Thời kỳ Pháp thuộc ở Việt Nam, một số cha cố và sĩ quan Pháp đã có những tìm hiểu, ghi chép về người Dao nhằm hiểu hơn về tộc người này
Từ sau năm 1945: tình hình nghiên cứu về người Dao và dân ca Dao có sự
khởi sắc hơn giai đoạn trước đó, song có thể thấy ở tất cả các hướng nghiên cứu không có công trình nghiên cứu sâu nào về dân ca nghi lễ của người Dao Trong số các công trình được giới thiệu, chúng tôi thấy một số bài dân ca nghi
lễ của dân tộc Dao như các bài dân ca nghi lễ cấp sắc, các bài dân ca nghi lễ đám cưới đã được tuyển chọn và giới thiệu Căn cứ vào những công trình nghiên cứu về dân tộc Dao và văn học Dao chúng tôi tạm chia thành ba hướng nghiên cứu chính, đó là: nghiên cứu khái quát về người Dao, nghiên cứu chuyên sâu về văn hóa Dao, văn học dân gian Dao
Nhìn từ quá trình sưu tầm, biên soạn và dịch thuật văn học dân gian của người Dao, chúng tôi nhận thấy nổi bật một số vấn đề như sau: Về thời gian, việc sưu tầm và nghiên cứu về người Dao được tiến hành khá sớm (từ năm 1778), song đến nay nhiều công trình vẫn chỉ tồn tại dưới dạng tư liệu, chưa được công bố trên các tạp chí chuyên ngành; Về số lượng, các ấn phẩm về người Dao, được in ấn xuất bản từ năm 1963 cho đến năm 2012 bao gồm 20 bộ sách với rất nhiều tác phẩm thuộc các thể loại như truyện cổ, thơ ca dân gian, tục ngữ, câu đố Trong đó, đáng chú ý là những bài dân ca của dân tộc Dao đã được các tác giả nói trên sưu tầm và giới thiệu Đây chính là nguồn tư liệu phong phú phục vụ cho việc tham khảo và sử dụng trong quá trình khảo sát, nghiên cứu của chúng tôi
1.1.2 Tình hình nghiên cứu về người Dao Tuyển và dân ca nghi lễ Dao Tuyển
Đến nay, những công trình nghiên cứu chuyên biệt về người Dao Tuyển
hầu như vắng bóng ngoại trừ cuốn Nhà ở truyền thống của người Dao Tuyển ở
quy trình, chức năng và sinh hoạt văn hóa trong ngôi nhà của người Dao Tuyển Lào Cai Riêng về dân ca của người Dao Tuyển, cho đến nay, Trần Hữu Sơn là tác giả có nhiều công trình nghiên cứu và sưu tầm: Đầu tiên là cuốn Lễ cưới
người Dao Tuyển (2001), cuốn thứ hai là cuốn Thơ ca dân gian người Dao Tuyển (2005), cuốn sách này được tác giả tái bản, bổ sung thêm phần chữ Nôm
Dao năm 2011, xuất bản dưới tên Thơ ca dân gian người Dao Tuyển (Song
ngữ: Việt- Dao), cuốn thứ ba là Đám cưới người Dao Tuyển (2011), cuốn thứ
tư là Những bài ca giáo lý
Trong quá trình khảo sát tư liệu, chúng tôi cũng dành sự chú ý cho những công trình chưa được xuất bản nghiên cứu về văn hóa và dân ca của người Dao Tuyển Cụ thể: Năm 1997, Sở văn hóa tỉnh Lào Cai đã sưu tầm được gần 40 bài hát hội đầu xuân của người Dao Tuyển, đây là những bài hát trao duyên dịp đầu xuân của trai gái người Dao Tuyển nhưng đến nay tập bài hát này vẫn chỉ
Trang 8nằm dưới dạng bản thảo tại phòng tư liệu của sở văn hóa tỉnh Lào Cai Năm
2008, tác giả Phạm Vinh Quang đã bảo vệ thành công luận văn Thạc sỹ tại
trường Đại học sư phạm Thái Nguyên, đề tài Thơ ca dân gian của người Dao
Tuyển ở Lào Cai Năm 2010, tác giả Phan Thị Hằng với luận văn thạc sỹ tại
trường Đại học sư phạm Thái Nguyên, đã lựa chọn đề tài Lễ cấp sắc và tang
ma của người Dao Tuyển ở huyện Bảo Thắng tỉnh Lào Cai
Như vậy, nhìn chung tình hình nghiên cứu về tộc người và văn học dân gian người Dao Tuyển ở Việt Nam trong hơn nửa thế kỷ qua còn tồn tại một số điểm như sau:
1 Cho đến nay chưa có một chuyên khảo chuyên biệt nào của các nhà nghiên cứu đi sâu vào nghiên cứu về lịch sử tộc người, quá trình thiên và văn hóa của người Dao Tuyển cũng như dân ca nghi lễ của họ
2 Các bộ sách dân ca người Dao Tuyển đã được xuất bản tập trung chủ yếu là sưu tầm các bài dân ca nghi lễ của tộc người này, nhưng lại chưa có một chuyên khảo nào chỉ ra mối liên hệ giữa dân ca với các nghi lễ trong đời sống văn hóa của người Dao Tuyển
3 Những thể loại văn học dân gian khác của người Dao Tuyển như: Tục ngữ, câu đố, truyện cổ tích, truyện cười chưa được sưu tầm và biên soạn thành công trình riêng Từ những công trình đó, luận án vừa kế thừa thành tựu vừa
mở ra một vấn đề mới với hướng tiếp cận riêng đó là đặt dân ca nghi lễ trong bối cảnh diễn xướng foklore để thấy được đời sống văn hóa, tinh thần phong phú của tộc người Dao Tuyển
1.2 Cơ sở lý luận
1.2.1 Khái niệm
Ở đây chúng tôi xin làm rõ một số khái niệm liên quan đến nội dung luận
án như: dân ca, dân ca nghi lễ, đời sống văn hóa, tộc người và văn hóa tộc
người… nhằm phục vụ cho việc tìm hiểu dân ca nghi lễ của người Dao Tuyển
1.2.2 Cơ sở lý luận
Đối với người Dao Tuyển dân ca nghi lễ có ý nghĩa đặc biệt quan trọng
Bởi trong dân ca nghi lễ phản ánh đầy đủ về thế giới quan, vũ trụ quan, nhân sinh quan của tộc người Khi những lời ca trong các nghi lễ cất lên cũng là lúc tâm tư, tình cảm của họ hướng về thế giới siêu nhiên, hướng về thế giới tổ tiên
để khẩn nguyện, cầu xin sự che chở của thần linh để họ có cuộc sống an lành, hạnh phúc nơi trần gian Vì vậy, khi tìm hiểu dân ca nghi lễ không thể tách rời chúng ra khỏi các nghi lễ và bối cảnh diễn xướng của nó Trên quan điểm ấy, luận án coi dân ca nghi lễ như một sự kiện xã hội tổng thể và đặt nó trong bối cảnh văn hóa tộc người Để khai mở được những lớp lang ẩn chứa sâu trong dân ca nghi lễ, chúng tôi sử dụng lý thuyết bối cảnh diễn xướng folklore làm cơ
sở nghiên cứu dân ca nghi lễ của người Dao Tuyển
1.3 Khái quát về người Dao Tuyển và dân ca nghi lễ người Dao Tuyển ở Việt Nam
1.3.1 Khái quát về người Dao Tuyển
Dao Tuyển là tên gọi của một bộ phận người Dao thuộc nhóm Dao Làn Tiẻn, đây là tên gọi mang tính địa phương của bộ phận người Dao này ở Lào
Trang 9Cai Ở Lai Châu người Dao Tuyển được gọi là Dao đầu bằng; ở Hà Giang người Dao Tuyển được gọi là Dao áo dài; ở Tuyên Quang tên Dao Chàm được dùng chỉ tới nhóm Dao Tuyển Theo ý kiến thống nhất của các nhà dân tộc học thì người Dao Tuyển có nguồn gốc xuất phát từ Trung Quốc, di cư sang Việt Nam qua nhiều con đường khác nhau trong một khoảng thời gian dài Quá trình thiên di của người Dao Tuyển vào Việt Nam bằng hai tuyến đường chính
là đường biển và đường bộ
Theo thống kê của Trần Hữu Sơn người Dao Tuyển cư trú rải rác chủ yếu
ở bốn tỉnh: Lào Cai, Hà Giang, Tuyên Quang và Lai Châu, với khoảng 45.000 người, thì ở địa bàn Tỉnh Lào Cai có tới 31.325 người, chiếm gần 70% Như vậy, xét theo mức độ tập trung dân cư thì người Dao Tuyển sinh sống chủ yếu
ở Lào Cai tại các huyện: Bảo Yên, Bảo Thắng, Bát Xát, Cam Đường, Bắc Hà
và Mường Khương Dù sinh sống ở các vùng miền khác nhau nhưng người Dao Tuyển có chung cội nguồn lịch sử, ngôn ngữ Tuy nhiên ở mỗi vùng khác nhau người Dao Tuyển lại có những nét văn hóa đặc sắc riêng mà nguyên nhân
là do điều kiện địa lý, môi trường sinh thái, giao lưu kinh tế, văn hóa với các dân tộc anh em
Người Dao Tuyển cư trú chủ yếu ở vùng núi phía Bắc vì thế họ có cách ứng xử với môi trường tự nhiên và môi trường xã hội nơi họ sinh sống vô cùng đặc biệt Họ luôn coi môi trường tự nhiên như một người bạn thân thiết, thủy chung gắn bó, họ tôn trọng và bảo vệ tự nhiên theo cách riêng của mình, nên
họ có một hệ thống các luật tục để bảo vệ tự nhiên như: Luật tục bảo vệ nguồn nước, luật tục bảo vệ rừng, luật tục bảo vệ đất canh tác…
Người Dao Tuyển từ xưa tới nay vẫn luôn nói với nhau là “người Dao ta”, dù là nhóm Dao nào thì cũng đều được sinh ra từ quả bí nên trong cách xưng hô giữa các nhóm Dao có sự tương đồng Người Dao Tuyển và các nhóm Dao khác phân biệt vai thứ, anh em bằng cách “ai nhìn thấy mặt trời trước” người đó là anh (chị), bất kể là con dì hay con chú, trong làng bản cũng như vậy Người Dao Tuyển có 5 họ chính là: Họ Bàn, họ Lý, họ Đặng, họ Triệu, họ Tráng, trong quá trình cộng cư, cộng sinh người Dao Tuyển hiện nay có tới 12
trần gian rồi mới có “nhân loài”, “núi cao núi đối núi”, “ các thầy với các
cô” Đó cũng chính là nét độc đáo trong quan niệm về trời đất của người Dao
Tuyển là mặt trời xuất hiện trước, rồi mới đến con người và vạn vật
Người Dao Tuyển quan niệm con người có hai phần là phần hồn và phần xác Nếu hồn rời khỏi cơ thể đi “lang thang” ở đâu đó, con người rơi vào trạng thái đau ốm Khi bị ốm người Dao Tuyển làm lễ cúng để gọi hồn về với xác nhưng nếu gọi mãi mà hồn với xác không nhập vào với nhau, cái chết sẽ xảy ra
Trang 10với con người Người Dao Tuyển quan niệm: “Sinh, tử, nhân hồn tầm lưỡng
cực/ Ngũ vận tuần hoàn với luân xe” (Có nghĩa là: “Sinh ra là người ở thế giới cực dương/ Chết đi là hồn ở thế giới cực âm/ Con người như bánh xe quay vòng qua năm vận”) nên họ có những nghi lễ (làm ma) cho người chết rất khác
biệt so với các dân tộc khác
1.3.2 Khái quát về dân ca nghi lễ của người Dao Tuyển
Trong đề tài nghiên cứu của luận án, chúng tôi tập trung đi sâu vào nghiên cứu ba loại dân ca tiêu biểu trong nghi lễ vòng đời là dân ca nghi lễ cấp sắc, dân ca nghi lễ đám cưới và dân ca nghi lễ tang ma Bởi đây là ba nghi lễ lớn trong vòng đời của một người Dao Tuyển, còn nghi lễ đặt tên mặc dù được coi là nghi lễ đầu tiên, đánh dấu sự ra đời của một con người nhưng nó chỉ là một nghi lễ nhỏ, không có sự tham góp của cả cộng đồng, chủ thể diễn xướng chỉ là cha đứa trẻ, hoặc ông nội Nghi lễ này không mời thầy cúng và chỉ sử
dụng duy nhất một bài dân ca nghi lễ đó là bài La jủng kẻng (Bài hát đặt tên)
Dân ca của người Dao Tuyển cũng giống như dân ca của các nhóm Dao khác nó được hình thành từ thơ và ca, bởi thơ và ca gắn liền với nhau Các bài dân ca nghi lễ của người Dao Tuyển chiếm một vị trí đáng kể, có 83/ 90 bài dân ca được sử dụng trong nghi lễ cấp sắc và tang ma, còn 07 bài dân ca đó là
các bài: Hiến hương, Hiến hoa, Hiến đèn, Hiến trà, Hiến cơm, Hát dâng trống,
Hát dâng thanh la được sử dụng chung cho phần hát dâng hiến của 2 nghi lễ
Nghi lễ đám cưới ngoài 43 bài dân ca được sử dụng trong các nghi lễ chính thì còn có tới 58 bài dân ca được ông mối hát đơn xin ma tổ tiên phù hộ cho việc xin dâu thành công, hát xin nghỉ trạm, hát xin được vào làng… Bên cạnh đó
một số truyện thơ của dân tộc như: Trường ca Bàn Hộ, Truyện Bàn Vương, Inh
tòi dung (Hát Anh Đài), Ly hương ca, Cửu giang ca cũng được người Dao
Tuyển sử dụng trong các nghi lễ vòng đời Các bài ca ấy người Dao Tuyển gọi
là Có, bởi nội dung những bài dân ca nghi lễ (đồng thời là những bài cúng) ấy
đã “phản ánh quan niệm của người Dao về nguồn gốc vũ trụ, nguồn gốc muôn vật, nguồn gốc loài người nói chung và nguồn gốc người Dao nói riêng”, các bài “Dằm ja jủng” được người Dao Tuyển ghi chép trong các sách dạy hát (dạy cúng) bằng chữ Nôm Dao
Các bài dân ca nghi lễ có ý nghĩa quan trọng với cuộc đời mỗi người Dao Tuyển, bởi thông qua các bài ca người đọc, người nghe hiểu được những khát vọng, những mong muốn của con người với thế giới tự nhiên với thế giới thần linh
Tiểu kết chương 1
Như vậy, từ những lát cắt về dân ca nghi lễ, về văn hóa tâm linh chúng ta có thể hình dung một cách khái quát về lịch sử cư trú, những đặc trưng cơ bản về văn hóa tộc người và dân ca nghi lễ của người Dao Tuyển Những vấn đề đó mang tính chất tiền đề cho việc tìm hiểu, nghiên cứu chuyên sâu về nội dung phản ánh và nghệ thuật trong dân ca nghi lễ của người Dao Tuyển Bên cạnh đó, việc trình bày tổng quan về lịch sử vấn đề nghiên cứu, khái niệm, thuật ngữ, phương pháp nghiên cứu, đóng góp của
Trang 11luận án….cũng là cơ sở để chúng tôi tìm hiểu từng vấn đề cụ thể trong quá trình khám phá dân ca nghi lễ của người Dao Tuyển
Chương 2 DIỄN TRÌNH DIỄN XƯỚNG DÂN CA NGHI LỄ
CỦA NGƯỜI DAO TUYỂN
Trong khuôn khổ của luận án, chúng tôi chỉ đi vào nghiên cứu mảng các bài dân ca nghi lễ trong sinh hoạt gia đình với ba loại hình tiêu biểu đó là: Dân
ca nghi lễ cấp sắc, dân ca nghi lễ đám cưới và dân ca nghi lễ tang ma Ba loại hình dân ca nghi lễ tiêu biểu của người Dao Tuyển được chúng tôi xem xét trong quy trình diễn xướng dân ca, cụ thể như sau:
2.1 Dân ca trong nghi lễ cấp sắc
Chúng tôi thiết lập bảng biểu theo diễn trình các nghi lễ sử dụng dân ca trong bối cảnh buổi lễ cấp sắc của người Dao Tuyển như sau:
Bảng 1: Diễn trình nghi lễ cấp sắc của người Dao Tuyển
Bối cảnh diễn xướng Bài ca
Sáng ngày thứ nhất: Mở chay đàn
mời Công Tào, Thánh Sư
Thầy cúng chính hát bài Mời thầy Công
Buổi chiều ngày thứ nhất: Dâng
lễ mời các thầy của các thầy cúng
về giúp sức
Các thầy hát bài Mời sư thầy
Tại cửa lầu nơi ngự của thần Đế
Mẫu
Sau khi mời các sư thầy các thầy cúng
sẽ hát bài Mời Thần Đế mẫu
Tại cửa nơi địa ngục, cửa Lạnh,
cửa Huyền môn (đây là các cửa
tượng trưng)
Các thầy hát xin mở các cửa để người
cấp sắc đi qua, các thầy hát bài Ngọc nữ
hát xin qua cửa
Đêm thứ nhất: Trước bàn thờ các
thầy làm lễ khai quang cho người
cấp sắc
Hát bài Ngọc nữ lên đèn, lên hương,
Ngọc nữ về đàn, Tạ ơn Pháp sư, Tạ ơn Ngọc Hoàng
Lễ Đồng tử giáng sinh tại Mai Sơn Các thầy hát bài Ngọc nữ lên đèn
Buổi trưa ngày thứ hai : Lễ cấp
Chiều ngày thứ hai: Lễ dạy đệ tử
kinh giáo lý
Các thầy cúng dạy người cấp sắc các
bài kinh Đạo làm con, đạo làm trò, biết
ơn các Thánh Sư…
Tối ngày thứ hai : Trước Choong
tàn, các thầy cúng trao lại con cho
cha mẹ
Các thầy cúng cùng đệ tử của các thầy
múa và hát bài Dâng trống, dâng thanh
la, dâng tiền
Sáng ngày thứ ba: Các thầy cúng Các thầy hát bài Ngọc nữ hát giáng
Trang 12thực hiện nghi lễ đưa người thụ lễ
từ Mai Sơn giáng sinh về dương
thế đã có đủ âm binh và ấn tín trở
thành đệ tử của Công Tào, Thánh
Sư trước Choong tàn
sinh
Trưa ngày thứ ba: Lễ cấp Lương
liệu bổng lộc cho người cấp sắc
Thầy cúng chính hát bài Cấp lương liệu
bổng lộc
Chiều ngày thứ ba: Lễ chúc mừng
Tân Ân (tức là chúc mừng người
thụ lễ đã được cấp sắc)
Các thầy cúng hát bài Mừng Tân Ân
hoa, Hiến cơm, Hiến rau, Hát dâng bảng, Hát tiễn thần…
Dựa vào bảng mô tả diễn trình dân ca nghi lễ cấp sắc đã nêu ở trên chúng tôi phân ra thành hai chặng đoạn sử dụng các bài dân ca trong nghi lễ cấp sắc,
đó là: Các bài dân ca trước khi thực hành nghi lễ cấp sắc và các bài dân ca trong khi thực hành nghi lễ cấp sắc
2.2 Dân ca trong nghi lễ đám cưới
Diễn trình nghi lễ cưới xin của người Dao Tuyển được tiến hành theo các nghi thức cụ thể, chúng tôi lập bảng biểu các nghi thức có sử dụng các bài dân
ca như sau:
Bảng 2: Diễn trình nghi lễ cưới hỏi của người Dao Tuyển
Bối cảnh diễn xướng Các bài dân ca
Lễ so tuổi Không có bài dân ca mang tính chất cố
định nào được diễn xướng, chỉ có những câu ca đối đáp tự do
Lễ dạm ngõ Ông mối hát bài hát cố định: So duyên,
sau đó hai bên hát những bài hát giao duyên tự do
Lễ ăn hỏi Ông mối và ông cậu cô dâu hát đối đáp
về các lễ vật thách cưới như: Thách lợn, rượu, gạo, gà… Các bài hát này thường
là những lời hát tự do có thể do hai bên
tự ứng tác hoặc cũng có thể là dựa vào những lời hát cố định có sẵn để ứng tác
Lễ cưới, gồm các nghi thức sau:
Thành hoàng ải (Ải thôn)
Hát đối đáp 15 bài dân ca về các nội
dung sau: Cửa ải, lý do đến ải, đưa tiền
cúng thành Hoàng làng, hát hỏi các sự vật ở quanh cửa ải, nguồn gốc ra đời của đồng tiền Ti Lộ…
Hát ở sân nhà gái (trong nghi
thức trao lễ vật cưới)
Hát đối đáp 38 bài về các nội dung sau:
Các lễ vật nhà trai mang đến nhà gái để xin dâu, hát về công lao sinh thành của
Trang 13cha mẹ, hát về nguồn gốc ra đời của các lễ vật, hát về công lao của các vị thần đã xe duyên và phù trợ…
Hát ở trước bàn thờ nhà gái
(trong nghi thức trầu cau)
Hát đối đáp 32 bài về các nội dung sau:
Bình “Lạy éng”, nguồn gốc trầu cau, nguồn gốc lúa ngô, nguồn gốc chè, thuốc lào, trình báo ma tổ tiên…
Hát ở cửa buồng cô dâu (Trong
nghi thức trao tờ bản mệnh)
Hát đối đáp 36 bài về các nội dung sau:
Trình hồng thư cho nhà gái, làm lễ xe duyên âm cho cô dâu chú rể, bàn giao
“Clong gai” (12 hồng lễ)…
Cửa nhà gái (trong nghi thức
trai, hát cảm ơn ông mối…
Hát ở ngoài sân ban đêm tại nhà
trai
Các bài hát tự do được hai bên nhà trai gái tự ứng tác hát để chào tạm biệt nhau
Nhìn vào bảng mô tả diễn trình nghi lễ nêu trên chúng ta có thể thấy bối cảnh diễn xướng được gắn liền với các lời ca trong từng nghi lễ và trong từng không gian thời gian
2.3 Dân ca trong nghi lễ tang ma
Chúng tôi xin trình bày diễn trình các nghi lễ có sử dụng dân ca trong nghi lễ tang ma trong bối cảnh diễn xướng qua bảng biểu về các nghi lễ ấy như sau:
Bảng 3: Diễn trình nghi lễ tang ma của người Dao Tuyển
Bối cảnh diễn xướng Bài ca
Nghi lễ làm ma tươi
được diễn xướng trong
các bối cảnh sau: Lễ
nhập quan
Thầy cúng hát bài: Nhập quan ca
Nghi lễ làm ma khô,
được diễn xướng trong
các bối cảnh sau: Lễ cải