1.Tính cấp thiết của đề tài Luật Hôn nhân và Gia đình (HNVGĐ) năm 2000, đƣợc sửa đổi bổ sung năm 2010, khẳng định ngay trong Lời nói đầu: “Gia đình là tế bào của xã hội, là cái nôi nuôi dƣỡng con ngƣời, là môi trƣờng quan trọng hình thành và giáo dục nhân cách, góp phần vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Gia đình tốt thì xã hội mới tốt, xã hội tốt thì gia đình càng tốt.” [80, tr. 9; tr. 74]. Thế nhƣng trong xã hội Việt Nam hiện nay, hiện tƣợng gia đình tan rã hoặc biến thể đang gia tăng. Theo thống kê quốc gia, tình hình ly hôn tăng nhanh mỗi năm: năm 2005 có 65.929 vụ, thì đến năm 2010 có 126.325 vụ [197]. Công giáo vốn đƣợc biết đến là tôn giáo chủ trƣơng gia đình chỉ một vợ một chồng (đơn hôn) và không ly hôn (vĩnh hôn). Cho nên từ trƣớc đến nay, khi viết về gia đình ngƣời Công giáo, đặc biệt là giá trị hôn nhân Công giáo, không ít các nhà nghiên cứu cho rằng đó là hôn nhân có truyền thống bền vững, đảm bảo sự yên ổn trong gia đình và thƣờng lấy đó làm thƣớc đo khi đề cập đến hôn nhân của những thành phần xã hội khác. Thế nhƣng, trải qua thời gian, đặc biệt từ thập niên 90 của thế kỷ XX đến nay, ly hôn trong các gia đình Công giáo đang có chiều hƣớng gia tăng. Nếu t rƣớc năm 1990, tức là cách đây khoảng 20-25 năm, ly hôn trong Công giáo là hiện tƣợng hết sức hiếm, hầu nhƣ không có, hoặc nếu có, chỉ vài ngƣời lén lút, thì hiện nay, giáo dân có thể biết rõ ràng những ai ly hôn trong giáo xứ mình. Điều này cho thấy giá trị hôn nhân của Công giáo đang bị tổn thƣơng, giáo lý về hôn nhân “bất khả phân ly” và bí tích hôn phối đang trở nên bất khả toàn. Nếu ly hôn giải phóng các cặp vợ chồng không đạt đƣợc mục đích của
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
CAO KỲ HƯƠNG
LY HÔN TRONG CÁC GIA ĐÌNH NGƯỜI VIỆT THEO CÔNG GIÁO (QUA NGHIÊN CỨU GIÁO XỨ CHỢ MỚI
NHA TRANG, KHÁNH HOÀ)
CHUYÊN NGÀNH: VĂN HÓA DÂN GIAN
MÃ SỐ : 62 22 01 30
LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HÓA HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: GS.TS LÊ HỒNG LÝ
HÀ NỘI - 2017
Trang 2MỤC LỤC Trang
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN 11
1.1 Tình hình nghiên cứu 11
1.2 Một số vấn đề lý luận 35
1.3 Một số khái niệm được sử dụng trong luận án 38
Tiểu kết chương 1 42
Chương 2 BỐI CẢNH ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU VÀ QUAN NIỆM CỦA GIÁO DÂN CHỢ MỚI, CỦA GIÁO LÝ CÔNG GIÁO VỀ HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH 43
2.1 Tổng quan giáo xứ Chợ Mới 35
2.2 Sự chuyển đổi của địa bàn trong bối cảnh xã hội Việt Nam đương đại 50
2.3 Quan niệm của giáo dân Chợ Mới và của giáo lý Công giáo về hôn nhân và gia đình 62
Tiểu kết chương 2 76
Chương 3 THỰC TRẠNG LY HÔN Ở GIÁO XỨ CHỢ MỚI 77
3.1 Khái quát tình hình ly hôn ở giáo xứ Chợ Mới 77
3.2 Các tham số ly hôn ở giáo xứ Chợ Mới 82
3.3 Hậu quả việc ly hôn của người Công giáo 104
Tiểu kết chương 3 110
Chương 4 MỘT VÀI VẤN ĐỀ ĐẶT RA VÀ BÀN LUẬN TỪ CÁC TRƯỜNG HỢP LY HÔN CỦA GIÁO DÂN CHỢ MỚI 111
4.1 Những nhân tố tác động đến ly hôn của người Công giáo 111
4.2 Tương đồng và khác biệt giữa các trường hợp ly hôn của người Công giáo và người không Công giáo 136
4.3 Hiện tượng thế tục hoá các giá trị tôn giáo 143
Tiểu kết chương 4 149
KẾT LUẬN 151
DANH MỤC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN ĐÃ CÔNG BỐ 154
TÀI LIỆU THAM KHẢO 155
Trang 3MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài
Luật Hôn nhân và Gia đình (HNVGĐ) năm 2000, được sửa đổi bổ sung năm 2010, khẳng định ngay trong Lời nói đầu: “Gia đình là tế bào của xã hội,
là cái nôi nuôi dưỡng con người, là môi trường quan trọng hình thành và giáo dục nhân cách, góp phần vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc Gia đình tốt thì xã hội mới tốt, xã hội tốt thì gia đình càng tốt.” [80, tr 9; tr 74] Thế nhưng trong xã hội Việt Nam hiện nay, hiện tượng gia đình tan rã hoặc biến thể đang gia tăng Theo thống kê quốc gia, tình hình ly hôn tăng nhanh mỗi năm: năm 2005 có 65.929 vụ, thì đến năm 2010 có 126.325 vụ [197]
Công giáo vốn được biết đến là tôn giáo chủ trương gia đình chỉ một vợ một chồng (đơn hôn) và không ly hôn (vĩnh hôn) Cho nên từ trước đến nay, khi viết về gia đình người Công giáo, đặc biệt là giá trị hôn nhân Công giáo, không ít các nhà nghiên cứu cho rằng đó là hôn nhân có truyền thống bền vững, đảm bảo sự yên ổn trong gia đình và thường lấy đó làm thước đo khi đề cập đến hôn nhân của những thành phần xã hội khác Thế nhưng, trải qua thời gian, đặc biệt từ thập niên 90 của thế kỷ XX đến nay, ly hôn trong các gia đình Công giáo đang có chiều hướng gia tăng Nếu trước năm 1990, tức là cách đây khoảng 20-25 năm, ly hôn trong Công giáo là hiện tượng hết sức hiếm, hầu như không có, hoặc nếu có, chỉ vài người lén lút, thì hiện nay, giáo dân có thể biết rõ ràng những ai ly hôn trong giáo xứ mình Điều này cho thấy giá trị hôn nhân của Công giáo đang bị tổn thương, giáo lý về hôn nhân “bất khả phân ly” và bí tích hôn phối đang trở nên bất khả toàn
Nếu ly hôn giải phóng các cặp vợ chồng không đạt được mục đích của hôn nhân, và nhờ đó ly hôn đem lại hạnh phúc cho một số người thì cũng đem
Trang 4đến cho xã hội nhiều bất ổn về các mặt an ninh, an sinh, kinh tế, tâm lý, giáo dục đặc biệt là những tổn thương tình cảm, kinh tế cho trẻ em Mặc dù luật pháp không cấm ly hôn, song việc cha mẹ ly hôn đã ảnh hưởng lớn đến con cái Ở cộng đồng giáo dân, khi người Công giáo đem nhau ra toà ly hôn, họ sẽ còn phải chịu thêm trách nhiệm do giáo lý và giáo luật quy định
Vì thế, việc nghiên cứu ly hôn trong các gia đình Công giáo là hết sức cần thiết, bởi vì tuy đã có một số công trình nghiên cứu ly hôn về các khía cạnh qui mô và đặc điểm của ly hôn, độ dài của hôn nhân, người đứng đơn ly hôn, các nguyên nhân ly hôn, luật pháp và chính sách về hôn nhân và ly hôn, các hậu quả của ly hôn…dưới các góc độ tâm lý, pháp luật, thống kê, xã hội, kinh tế, giới…nhưng vẫn còn khoảng trống về nghiên cứu ly hôn trong các cộng đồng tôn giáo, đặc biệt là hiện tượng ly hôn trong Công giáo ở khu vực
Nam Trung Bộ Trong bối cảnh đó, đề tài Ly hôn trong các gia đình người
Việt theo Công giáo có tính cần thiết, góp phần làm hoàn chỉnh tổng thể các
nghiên cứu khoa học về thực trạng ly hôn ở nước ta
Các nghiên cứu về ly hôn càng có tầm quan trọng và có ý nghĩa sâu rộng hơn khi chúng được đặt trong một khung cảnh xã hội Việt Nam, văn hoá Việt Nam đang chịu tác động mạnh mẽ của sự chuyển đổi từ cơ chế của nền kinh
tế tiểu nông, bao cấp sang cơ chế thị trường nhiều thành phần, và đang tăng tốc trên con đường công nghiệp hoá, hiện đại hoá Nghiên cứu ly hôn của người Việt Công giáo trong giai đoạn này, bối cảnh này giúp thấu hiểu thêm tác động đó, hoàn thiện bức tranh văn hoá xã hội của thời đại
Mặt khác, bởi vì chúng ta đang sống trong thế giới phẳng, mọi hành vi của người này tương tác đến người khác, đến cả cộng đồng, và ngược lại, cho nên nghiên cứu trường hợp ly hôn trong một cộng đồng người Việt theo tôn giáo để tìm thấy ảnh hưởng của xã hội, của văn hóa, tác động đến cả tôn giáo
Trang 5vốn nghiêm khắc với ly hôn như Công giáo Ngược lại, các trường hợp ly hôn của người Việt Công giáo cũng phản ánh tình trạng gia đình trong xã hội hiện nay
Vì những lý do trên, việc chọn nghiên cứu ly hôn ở cộng đồng người Việt Công giáo trong khung cảnh văn hoá, xã hội đất nước ta hiện nay, là một đóng góp cần thiết và hữu ích cho nghiên cứu chung về vấn đề đương đại
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
2.1 Câu hỏi nghiên cứu
Nghiên cứu sinh đặt hai câu hỏi nghiên cứu 1) “Thực trạng ly hôn ở giáo
xứ Chợ Mới, thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hoà trong bối cảnh xã hội chuyển đổi hiện nay như thế nào?” và 2) “Thực trạng đó hiện nay nói lên điều
gì về quan niệm và lối sống của giáo dân ở đó trên phương diện hôn nhân và
ly hôn?”
2.2 Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của đề tài là trên cơ sở lý luận và thực ti n ly hôn của người Công giáo tại một địa phương cụ thể ở vùng đất Nam Trung Bộ, nhìn nhận thực trạng của nó đã di n ra như thế nào và lý giải toàn diện về hiện tượng xã hội này.
2.3 Nhiệm vụ của luận án
Từ đó nhiệm vụ của luận án là 1) Làm rõ bối cảnh xã hội tác động đến vấn đề ly hôn của người Công giáo ở giáo xứ Chợ Mới, thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hoà; 2) Làm rõ quan niệm của người Việt Công giáo tại địa phương đó về hôn nhân và gia đình và vấn đề ly hôn; 3) Làm rõ thực trạng ly hôn của người Việt Công giáo qua khảo sát tại địa phương đó; và 4) Từ đó, luận án sẽ hướng tới việc lý giải tại sao lại di n ra thực trạng đó và những hệ lụy mà nó đem lại như thế nào?
Trang 63 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là thực trạng ly hôn của người Công giáo Đối tượng khảo sát là các trường hợp ly hôn ở địa bàn nghiên cứu Có những trường hợp ly hôn, sau đó một hoặc cả hai bên tái hôn với người mới Những trường hợp này trong đạo gọi là “rối không thể gỡ được” Cụm từ này được hiểu cách tương đối, vì nếu người vợ hoặc chồng tái hôn với người chồng mới, vợ mới, nhưng lại ly hôn với người mới đó và sống độc thân trở lại, thì tự bản thân người ấy đã gỡ rối được Tuy nhiên, bình thường thì hiếm khi xảy ra trường hợp này, nên mới có cụm từ “rối không thể gỡ” với hàm ý người ngoài cuộc không thể gỡ được
Trong luận án, chúng tôi không đề cập đến các trường hợp:
- hôn nhân đồng giới,
- các trường hợp ly thân tạm thời hay vĩnh vi n,
- các trường hợp sống chung, sống thử mà không kết hôn theo luật Hôn nhân và gia đình, hoặc theo luật lệ Công giáo,
Phạm vi khảo sát được thu hẹp ở giáo xứ Chợ Mới thuộc xã Vĩnh Ngọc, thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa Việc chúng tôi chọn lựa địa phương này là vì các lý do sau:
Thứ nhất, đây là địa phương nghiên cứu sinh đã đi thực địa từ những năm 2000 nên khá quen với nhiều cư dân ở đây
Trang 7Thứ hai, đây là một trong số rất ít giáo xứ cổ xưa nhất của giáo phận Nha Trang, đã được hình thành từ trước năm 1671, tức là đã tồn tại gần 350 năm Thứ ba, đây là một giáo xứ thôn quê nhưng lại nằm ở ngoại ô thành phố, đang trong tiến trình chuyển hoá từ nông nghiệp sang phi nông, cung cấp dịch
vụ cho thành phố du lịch Nha Trang
Thứ tư, giáo xứ này đã có nhiều vị tử đạo nổi tiếng như nữ tu Anê Dần, chủng sinh Giuse Hữu, đã cung cấp cho đạo mười linh mục, vài chục tu sĩ nam nữ và hàng trăm ơn gọi tu trì, tức là có nếp sống “Công giáo nòi”
Và cuối cùng, giáo xứ này tham gia tích cực vào các hoạt động, chủ trương của Nhà nước, biểu hiện rõ nhất là linh mục quản xứ hiện nay đang là thành viên của Ủy ban Đoàn kết Công giáo tỉnh Khánh Hòa
4 Phương pháp nghiên cứu của luận án
Để thực hiện đề tài này, nghiên cứu sinh sử dụng phương pháp liên ngành văn hoá học-xã hội học Đó là quan sát, tham dự và chủ yếu là phỏng vấn để tìm hiểu động cơ và ý nghĩa phía sau các hành động của chủ thể văn hoá, cũng như sử dụng phương pháp thống kê của xã hội học để xem xét các
số liệu như những dữ kiện gợi mở, hỗ trợ cho vấn đề đang nghiên cứu Đồng thời nghiên cứu sinh còn quan tâm phân tích-tổng hợp các tài liệu thứ cấp, internet và thực địa, nhằm kế thừa những thành quả của các nghiên cứu có sẵn
và bổ sung những mặt khác của các nghiên cứu đó
Nếu đối tượng quan sát là thực trạng ly hôn ở giáo xứ Chợ Mới, thì đối tượng phỏng vấn sâu bao gồm trước hết các bên ly hôn nhiều người hết sức có thể, rồi đến người thân của họ là cha mẹ, anh chị em, họ hàng, và những người có quan hệ là bạn bè, đồng nghiệp, hàng xóm, trưởng hoặc phó giáo khu Trên thực tế không phải tất cả các đôi ly hôn đều được phỏng vấn đầy đủ
Trang 8hai bên và thân thuộc hai bên, do có một số người đã chuyển địa bàn sinh sống đến chỗ khác, nên việc tìm gặp họ đối với chúng tôi là rất khó khăn… Ngoài những đối tượng cần phỏng vấn sâu vừa kể trên, tôi còn phỏng vấn ngẫu nhiên khoảng 30 đối tượng gồm những người quen, những người có mối liên hệ với tôi như bạn bè, phụ huynh học sinh, trong những lần trò chuyện bên bàn cà phê, hoặc thăm nhà họ, để nghe ý kiến của họ về hôn nhân và ly hôn hiện nay Họ khác nhau về độ tuổi, giới tính, trình độ học vấn, nghề nghiệp, địa phương, tôn giáo, tình trạng gia đình còn độc thân hoặc đã kết hôn, nên ý kiến họ khá phong phú, đa dạng
Để đối tượng được phỏng vấn cảm thấy thoải mái, tôi dành cho họ chủ động về thời gian lẫn địa điểm phỏng vấn Thông thường thì vào các sáng Chủ nhật, là thời gian họ nghỉ ngơi, và bên bàn cà phê góc quán ít người Thời gian và không gian này tạo bầu không khí thuận lợi nhất để nói “chuyện đời” thay cho từ phỏng vấn khiến người nghe e ngại
Cách phỏng vấn gồm phỏng vấn mở (để người được phỏng vấn thoải mái bộc lộ suy nghĩ) và phỏng vấn hồi cố Các câu hỏi được lồng vào câu chuyện như gợi ý, thông cảm, hơn là điều tra Tôi tự ghi chép vào khung điều tra thay
vì để người được phỏng vấn đọc bảng câu hỏi và trả lời vì như vậy họ sẽ đỡ
dè dặt hơn và tránh được trường hợp đôi khi họ không trả lời, hoặc trả lời không đúng sự thật Việc phỏng vấn không thể đường đột, mà phải tiến hành cách chậm rãi theo kiểu vết dầu loang, từ vấn đề này sang vấn đề khác, từ người này giới thiệu sang người khác
Theo nguyên tắc đạo đức khoa học cũng như để người được phỏng vấn yên tâm, tôi phải cam kết giữ bí mật nhân thân của họ bằng cách ẩn các thông tin nhạy cảm khiến họ có thể bị nhận diện khi công bố kết quả nghiên cứu Vì thế, tất cả nhân vật nêu trong luận án này đều đã được thay đổi tên họ
Trang 9Tuy vậy, tôi không hề quên là trong vấn đề d gây tổn thương như ly hôn, những người trong cuộc và cả người thân của họ luôn đổ lỗi cho phía bên kia Vì thế, xác minh sự thật là việc cần thiết, bằng cách kiểm tra chéo qua những người khác, một công việc không hề d dàng khi người cùng giáo xứ thường bênh vực nhau, nhất là khi một bên vợ hoặc chồng từ nơi khác kết hôn với người trong xứ Việc kiểm tra chéo được thực hiện thông qua các chức việc giáo xứ, một vài tổ trưởng của thôn xã và linh mục quản xứ, cũng như qua đơn từ, xác minh của toà án, trong khả năng có thể được
Về nguồn tư liệu, để có những thông tin đáng tin cậy nhất, tôi tìm số liệu nơi linh mục quản xứ và các linh mục có thẩm quyền là chánh án và các thẩm phán của Toà án hôn phối giáo phận Nha Trang với một số án quyết tiêu hôn (có chọn lọc và đã được thay đổi họ tên, địa điểm), một số báo cáo tổng kết hàng năm của giáo xứ gửi về Toà giám mục, hoặc của Toà giám mục gửi về Toà thánh Roma Bên cạnh đó, trên cương vị giảng viên trường Cao đẳng, tôi còn xin được số liệu ly hôn chính thức, các thông tin mà toà án xử ly hôn, từ những phụ huynh công tác ở Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang,
và ở Toà án thành phố Nha Trang
Việc nghiên cứu với tư cách người trong đạo đem lại cho tôi thuận lợi lẫn khó khăn Thuận lợi là có sự cởi mở, d trao đổi khi người phỏng vấn và người được phỏng vấn cùng tôn giáo, mặc nhiên cùng “phe”, cùng quan điểm Các chức sắc tôn giáo tuy dè dặt, thận trọng nhưng tin tưởng vào thiện ý của tôi, đã góp ý để làm rõ một số vấn đề về giáo luật hôn nhân và ly hôn, và cả thực ti n các vị đã giải quyết Đó là những lợi thế mà người nghiên cứu ngoại đạo khó có được, dẫu đầu tư nhiều thời gian, công sức thâm nhập thực địa đến đâu Một cơ may khác là trong thời gian tôi thực địa, linh mục quản xứ địa bàn tôi nghiên cứu vốn từng học chung trường trung học cơ sở và trung học
Trang 10phổ thông với tôi nhưng lớp dưới, đồng thời là em ruột của một người bạn cùng lớp với tôi, cho nên việc xin tài liệu, hoặc tham khảo tình hình lại thêm phần d dàng hơn những người đồng đạo khác Nhờ uy tín của linh mục quản
xứ, việc tiếp xúc với người ly hôn cũng thuận lợi hơn
Còn khó khăn cũng không ít, trước hết vì vấn đề nghiên cứu vô cùng tế nhị với người Công giáo, lại thuộc lĩnh vực cấm kỵ (tabou) Người ta tránh né bàn đến người ly hôn vì cho rằng việc bàn luận đó đụng chạm đến người
khác, nói xấu người khác Trước đây, khi tôi nghiên cứu đề tài Hiếu kính tổ
tiên của người Việt theo Công giáo tại giáo xứ Chợ Mới, người dân sẵn lòng
cho chụp ảnh, ghi âm Nhưng với đề tài ly hôn được thực hiện tại cùng địa phương, giáo dân lại dè chừng, không nhiệt tình hợp tác, tuy họ biết tôi là người đồng đạo, không có ý định bêu xấu địa phương Có lẽ họ vẫn còn tâm
lý cho rằng ly hôn tái hôn không phải là chuyện đáng được nêu lên, dù là được ẩn danh Vì thế, việc ghi hình, ghi âm hầu như không thể được với hầu hết các cuộc phỏng vấn, vì người được phỏng vấn không đồng ý Một khó khăn khác là việc phỏng vấn khơi gợi lại nỗi đau buồn, bực tức hoặc nhục nhã của người bị “chồng bỏ”, “vợ bỏ”, trong khi tình hình gia đình của họ vào lúc này đã tạm lắng, tình trạng đã ổn định Cho nên việc nhập vai người giúp họ giải quyết gỡ rối -và đã thành công với một trường hợp - khiến họ d dàng thổ lộ chuyện cũ hơn Thêm vào số các khó khăn đó, là những lần tôi gặp phải các đối tượng phỏng vấn từ chối trả lời Tôi chỉ còn cách kiểm tra họ gián tiếp thông qua bè bạn, hàng xóm và người thân của họ, dĩ nhiên sau đó tôi trừ đi phần trăm mức độ khả tín
Đó là trường hợp vợ anh Phạm Văn Thái (chi tiết ly hôn sẽ được trình bày trong chương 3) sau khi ly hôn,
đã sinh bé trai và bán ngay cho người khác Gia đình anh Thái hay tin đã tìm gặp người mua, chuộc lại được cháu bé Nhờ nghiên cứu, tôi biết trường hợp này có thể tiêu hôn nên đã hướng dẫn anh gặp linh mục thẩm phán Toà án hôn phối Giáo phận, làm đơn xin tiêu hôn Tin vui là anh đã được xử hôn nhân vô hiệu vào ngày 9-6-2015 căn cứ trên giáo luật số 1101§2: Người vợ khi kết hôn đã loại bỏ một phần chính yếu của hôn nhân
Trang 11Trong những lần được phỏng vấn, ai cũng lãng tránh việc không hoà hợp tình dục dẫn đến ly hôn, vì sợ bị đánh giá là người ham mê dâm dục Người hỏi cũng tránh đi sâu vào vấn đề tế nhị đó Vì thế, vấn đề này còn bỏ ngỏ Ngoài ra, vì là người trong đạo, cái nhìn của người viết thiếu tính mới mẻ của người ngoài đạo, tức là thiếu sự ngạc nhiên để dừng lại đặt câu hỏi, đặt vấn đề Góc nhìn vấn đề của người viết d mang tính chủ quan, có quan điểm nhân sinh của tôn giáo đã thành nếp trong người tín hữu
Tóm lại, có cả khó khăn và thuận lợi, nhưng nhìn chung thuận lợi là chính, vì sự chia sẻ của các chức sắc tôn giáo, của giáo dân và những người trong cuộc vẫn nhiều, mối thiện cảm và sự tin tưởng của họ dành cho người nghiên cứu vẫn vượt trội Hơn thế, vị trí đồng đạo nhưng không ở trong cùng giáo xứ của người viết đem lại cái nhìn bức tranh toàn cảnh mà người trong giáo xứ hoặc người ngoài Công giáo khó thấy được
5 Đóng góp mới về khoa học của luận án
Kết quả nghiên cứu của luận án góp phần vào nhận thức tốt hơn về vấn
đề hôn nhân và ly hôn hiện nay ở Việt Nam, đặc biệt đối với cộng đồng Công giáo ở Việt Nam Luận án bổ sung, hoàn thiện bức tranh nghiên cứu về tình hình ly hôn ở nước ta, đóng góp tư liệu cho nghiên cứu về văn hoá Công giáo
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
Về mặt lý luận, luận án dùng những dữ liệu mới tại một địa phương để thảo luận với lý thuyết về ly hôn của tác giả người Anh là Mary Nicolette Hart, và từ đó xem xét mức độ phù hợp của lý thuyết đó, hoặc bổ sung, kế thừa các luận điểm
Về mặt thực ti n, luận án góp thêm một nghiên cứu trường hợp vào trong các tranh luận về chủ đề đã và đang ngày càng được quan tâm trong các ngành khoa học xã hội Nó đồng thời cũng sẽ là cơ sở khoa học cho các nhà
Trang 12quản lý văn hoá và xã hội ở địa phương tham khảo để xây dựng và hoạch định các chính sách quản lý và phát triển Luận án còn là cứ liệu khoa học giúp các nhà nghiên cứu xã hội hiểu thêm về một bộ phận người Việt theo tôn giáo trong vấn đề ly hôn, đóng góp phần nhỏ vào tổng thể văn hóa xã hội Việt Nam hiện nay Kết quả của luận án góp phần làm phong phú thêm những nghiên cứu về gia đình và cũng là một nguồn tài liệu tham khảo cho các nghiên cứu sinh, học viên cao học khi nghiên cứu về hôn nhân và gia đình
7 Cơ cấu của luận án
Ngoài lời cam đoan, mục lục, bảng chữ viết tắt, mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận án kết cấu gồm 4 chương, 12 tiết và tiểu kết mỗi chương với nội dung như sau:
Chương 1 Tổng quan tình hình nghiên cứu và một số vấn đề lý luận Chương 2 Bối cảnh địa bàn nghiên cứu và quan niệm về hôn nhân và gia đình của giáo dân Chợ Mới
Chương 3 Thực trạng ly hôn ở giáo xứ Chợ Mới
Chương 4 Một số vấn đề đặt ra và bàn luận từ các trường hợp ly hôn của giáo dân Chợ Mới
Trang 13Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN
1.1.Tình hình nghiên cứu
Vào thập niên 1990-2000, tác giả Mai Huy Bích nhận định là ở Việt Nam các nghiên cứu về ly hôn còn ít [16, tr 122], điều này có thể thấy qua một số nghiên cứu về gia đình nhưng không đề cập sâu đến ly hôn, như tác giả
Nguy n Thị Thọ trong cuốn Xây dựng đạo đức gia đình ở nước ta hiện nay, các tác giả Nguy n Hữu Minh và Trần Thị Vân Anh trong cuốn Nghiên cứu
gia đình và giới thời kỳ đổi mới, và Lê Ngọc Văn trong cuốn Gia đình và biến đổi gia đình ở Việt Nam Hoặc tác giả Nguy n Thế Long trong cuốn Gia đình, những giá trị truyền thống đã nêu 4 truyền thống chính là hiếu học với đạo lý
tôn sư trọng đạo, đạo đức, tâm linh và thẩm mỹ Vì không đề cập đến những giá trị hôn nhân như l nghĩa, chung thủy nên tác giả chỉ nói đến một chút về tình yêu nam nữ trong tiểu mục văn hóa và hôn nhân [78, tr 406-412] mà phần lớn nói về văn hóa hơn là về hôn nhân
Tuy nhiên trong những năm gần đây đã có khá nhiều nghiên cứu hoặc cận nghiên cứu bàn về ly hôn dưới nhiều góc độ Dựa vào các tài liệu khai thác được, luận án tạm chia chúng thành hai nhóm theo hướng nghiên cứu sau đây:
1.1.1.Những nghiên cứu về ly hôn nói chung
Trong cuốn Xã hội học gia đình, tác giả Mai Huy Bích đã dành 16 trang,
(từ trang 121-136) để đưa ra các lý thuyết xã hội về ly hôn Tác giả còn trình bày việc ly hôn là một quá trình, tác động của ly hôn đến con cái về các mặt tình cảm, kinh tế, nhân cách, di truyền…Đây là một nghiên cứu nghiêm túc,
Trang 14cơ bản và có tính lý thuyết cao [16, tr 121] Luận án tiếp thu lý thuyết ba
nhân tố trong cuốn Xã hội học gia đình này để làm cơ sở lý luận cũng như để
đối chiếu với thực tế nghiên cứu
Giáo trình Gia đình nhìn từ góc độ Xã hội học của Nguy n Thị Oanh
giảng dạy tại Khoa Phụ nữ, Đại học Mở-Bán công Thành phố Hồ Chí Minh,
đã dành chương 7 [86, tr 165] để đề cập đến các vấn đề của ly hôn như nguyên nhân, quá trình, ảnh hưởng, các vấn đề pháp lý của ly hôn, các vấn đề của tái hôn thông qua các bài báo, các thống kê tòa án vào thời điểm 1995
Vì là giáo trình nên tác giả chỉ điểm sơ các mục chính như những gợi ý mà không đi chuyên sâu vào vấn đề nào Luận án sử dụng các gợi mở đó như những đối chứng với thực tế nghiên cứu
Trong cuốn Sự tương đồng và khác biệt trong quan niệm về Hôn nhân
gia đình giữa các thế hệ người Việt Nam hiện nay, tác giả Lê Thi đã dành 6
trang (từ trang 263-268) để nêu lên những lý do ly hôn của những người được phỏng vấn như ngoại tình, bạo lực gia đình, không quan tâm đến nhau, chênh lệch (tuổi, địa vị xã hội, trình độ…) Tác giả nhận xét rằng có những yếu tố văn hóa xã hội tác động làm gia tăng tỉ lệ ly hôn, chẳng hạn thế hệ trẻ kết hôn không hẳn vì tiền tài, địa vị, sinh con, mà để hạnh phúc lứa đôi về các mặt tâm sinh lý, cho nên khi hết thỏa mãn về nhau, họ d ly hôn [110, tr 273] Ly hôn được đề cập như một phần nhỏ trong toàn bộ, cho nên cần một nghiên cứu chuyên sâu mới đề cập vấn đề rộng hơn
Cuốn Xã hội học do Nguy n Mậu Dựng chủ biên, là tài liệu lưu hành nội
bộ cho Đại học Đà Nẵng, trong phần Xã hội học gia đình [28, tr 155], có trình bày quan điểm của tác giả: “ly hôn là hiện tượng xã hội bất bình thường nhưng nhiều khi là cần thiết để đảm bảo quyền tự do trong hôn nhân và nó như một biện pháp nhằm củng cố chế độ hôn nhân tự nguyện, tiến bộ Song
Trang 15nó cũng đem đến sự bất hạnh cho các thành viên trong gia đình, đặc biệt là con cái” Tác giả cũng nêu một số nguyên nhân ly hôn như không tìm hiểu nhau kỹ, mâu thuẫn sống chung, khó khăn kinh tế…[28, tr 166] Vì là một phần trong giáo trình Xã hội học, ly hôn được đề cập sơ lược dưới góc nhìn
xã hội hơn là văn hoá, cho nên nghiên cứu ly hôn dưới góc độ tôn giáo vẫn còn bỏ trống
Cuốn Model of Divorce in Contemporary Vietnam: A socio-economic
and structural analysis of divorce in the Red River Delta in 2000s (Mô hình ly
hôn ở Việt Nam đương đại: Một phân tích kinh tế-xã hội và cấu trúc của ly hôn ở đồng bằng sông Hồng trong những năm 2000) của Trần Thị Minh Thi
là một công trình công phu, nghiêm túc, mẫu mực cho các nghiên cứu về ly hôn, đã đề cập đầy đủ chi tiết về ly hôn trong 8 chương: quy mô và đặc điểm của ly hôn, độ dài hôn nhân của những người ly hôn, người đứng đơn ly hôn
và các yếu tố tác động, các nguyên nhân ly hôn truyền thống và hiện đại và các yếu tố tác động, phân chia tài sản và con cái sau ly hôn…Tuy nghiên cứu chỉ khoanh vùng ở tỉnh Hà Nam và ở hai quận huyện đồng bằng sông Hồng, nhưng nó cũng đại diện được cho hầu hết các cuộc ly hôn ở nhiều địa phương khác về tính chất ly hôn Nói hầu hết là vì vẫn còn khoảng trống cho các cuộc
ly hôn Công giáo, vốn vừa có nét chung với các cuộc ly hôn người Việt, lại có nét riêng của người Việt theo tôn giáo, mà luận án khai thác
Bài viết Ly hôn ở Đà Nẵng: Nguyên nhân và những vấn đề đặt ra đối
với hệ thống thiết chế xã hội của tác giả Trần Văn Thạch nêu ra 8 loại
nguyên nhân ly hôn và 2 thiết chế xã hội là luật pháp và dư luận [105, tr 76] Các số liệu và nguyên nhân ly hôn cũng như thiết chế xã hội tác giả đưa
ra ở Đà Nẵng có công dụng như một tham khảo cho luận án, vì luận án
Trang 16được thực hiện ở một địa phương khác, và ở vùng quê ven thị chứ không hẳn ở thành phố
Ngày 6 tháng 5 năm 2015 tại Học viện Khoa học Xã hội, Hà Nội, nghiên cứu sinh Phan Thị Luyện đã bảo vệ thành công luận án tiến sĩ cấp Học viện,
chuyên ngành Xã hội học với đề tài “Nguyên nhân ly hôn của phụ nữ qua
nghiên cứu hồ sơ Tòa án nhân dân quận Thanh Xuân, Hà Nội” Trên cơ sở
nghiên cứu hồ sơ dân sự sơ thẩm về các vụ việc ly hôn tại Tòa án nhân dân quận Thanh Xuân, Thành phố Hà Nội từ năm 2005 đến năm 2010 cho thấy, trong xã hội hiện đại, xu hướng ly hôn có chiều hướng gia tăng, trong đó, phụ
nữ là nguyên đơn ly hôn chiếm tỷ lệ cao Luận án đi sâu phân tích các nguyên nhân dẫn đến những mâu thuẫn, xung đột trong cuộc sống hôn nhân thúc đẩy người phụ nữ quyết định ly hôn, và các yếu tố tác động đến vấn đề ly hôn của phụ nữ Từ nghiên cứu thực ti n, luận án đã chỉ ra những nguyên nhân cơ bản
dẫn đến ly hôn bao gồm: Tính tình không phù hợp là nguyên nhân chủ yếu (chiếm tỷ lệ 51,5%); Ngoại tình (chiếm 12,2%) và các nguyên nhân khác như:
Ghen tuông, Bạo lực gia đình, Phạm tội và mắc các tệ nạn xã hội; Nguyên nhân kinh tế… Luận án không đề cập đến ly hôn trong các cộng đồng Công
giáo, nhưng các thông số của luận án này có thể dùng để tham khảo, đối chiếu với các trường hợp ở địa bàn tôn giáo nghiên cứu
Bài nghiên cứu Tình hình ly hôn hiện nay và nguyên nhân của nó
của Lê Phượng không thấy đề cập tình hình ly hôn mà chỉ đưa ra hai loại nguyên nhân ly hôn: nguyên nhân gián tiếp có nguồn gốc trước ly hôn bao gồm quan niệm tình yêu, thời gian tìm hiểu, động cơ kết hôn và sự chuẩn bị kiến thức cần thiết về cuộc sống vợ chồng; nguyên nhân trực tiếp được hình thành sau thời gian kết hôn như quan niệm sai lầm về tình yêu và hôn nhân, thiếu bình đẳng giữa vợ chồng, mâu thuẫn giữa các thế
Trang 17hệ, ngoại tình, quan niệm d dãi về ly hôn Tác giả cũng lưu ý mối quan
hệ qua lại giữa hai loại nguyên nhân này Đây là một cách phân loại mới
lạ, đem lại kiến thức mới về nguyên nhân ly hôn [95, tr 39] Giới hạn của bài viết tạp chí không cho phép tác giả triển khai sâu rộng hơn các ý tưởng đó, cho nên luận án này như một nghiên cứu dài hơi hơn để tiếp tục vấn đề tác giả đã nêu
Còn một số bài viết khác tuy có đề cập đến ly hôn, nhưng chỉ đi lướt qua vấn đề như một bộ phận nhỏ trong tổng thể, chứ không phải là
nghiên cứu về ly hôn thực sự, chẳng hạn bài Cẩm nang về nghiên cứu
gia đình trên thế giới (Handbook of world families) do Bert N Adam và
Jan Trost chủ biên, được Trần Thị Cẩm Nhung giới thiệu [15, tr 78] bao gồm 30 quốc gia trên các châu lục bao gồm nhiều vấn đề như giới, dòng
họ, hình thành gia đình, bạo lực, già Hoặc bài Hôn nhân trong quá
trình đô thị hoá ở thành phố Đà nẵng của Trương Diệu Hải An có nêu số
liệu ly hôn, lý do, trình độ học vấn, người đứng đơn xin ly hôn, số năm
sống trung bình trước ly hôn [1, tr 15]; bài Nghiên cứu gia đình trong
bối cảnh mới của Lê Ngọc Văn nêu tình trạng và nguyên nhân ly hôn
trong nhiều vấn đề khác liên quan đến gia đình [135, tr 3] Và còn nhiều bài viết khác nói về ly hôn, tựu trung giống nhau về bản chất (tình hình
ly hôn, nguyên nhân ly hôn ) chỉ khác số liệu tuỳ từng thời kỳ và địa phương
Nghiên cứu ly hôn ở nước ngoài, có bài Một số vấn đề gia đình ở Nhật
Bản của Hoàng Hoa đã nêu nguyên nhân xa của ly hôn ở Nhật Bản là do
quá trình hiện đại hoá, pháp luật hợp pháp hoá thủ tục ly hôn, còn lý do gần là do vợ chồng không phù hợp trong tính cách, hai người không còn tình yêu và một phần khá lớn là lý do kinh tế [44, tr 63] Luận án sử
Trang 18dụng một số nội dung bài viết này như tài liệu tham khảo về nguyên nhân ly hôn ở một đất nước đã phát triển cao để so sánh với nguyên nhân
ly hôn ở địa bàn nghiên cứu
Bài viết Ly hôn ở Mỹ và những hậu quả của nó do Nguy n Thanh
lược thuật, nêu ra những nhân tố gây thay đổi thể chế gia đình dẫn tới ly hôn như chức năng gia đình thay đổi, phụ nữ đi làm độc lập kinh tế, hạnh phúc cá nhân, thay đổi nhịp điệu và phong cách sống, ảnh hưởng cha mẹ giảm sút; và những nhân tố lịch sử, nhân tố xã hội kinh tế như trình độ học vấn, nghề nghiệp thu nhập ổn định Bài viết còn nêu hậu quả ly hôn với bản thân, con cái, xã hội [106, tr 104] Cũng như ở trên, bài viết có giá trị tham khảo vì chưa bàn đến ly hôn ở cộng đồng tôn giáo
Bài viết The family, its members and society (Gia đình, các thành
viên của gia đình và xã hội), trong sách Hungarian sociology today, của
Laszlo Cseh-Szombathy do Chu Tiến Ánh lược thuật, cho thấy ly hôn ở Hunggari khá cao: cứ 100 đôi kết hôn thì có 30-40 đôi ly hôn Đó là hậu quả từ việc không thoả mãn mong đợi của một bên hoặc hai bên trong quan hệ vợ chồng Trước kia kết hôn hầu hết do kinh tế cho nên không
có xung đột về tình cảm, ngày nay không bị ràng buộc về kinh tế lại không biết xử lý các xung đột một cách thoả đáng thì gia đình rất d tan
vỡ vì nói chung, cuộc sống lứa đôi bao giờ cũng có những điều không vừa ý cho mỗi bên [6, tr 56] Bài viết này cho ta biết thêm lý do ly hôn tại một quốc gia Trung Âu theo Thiên Chúa giáo (gồm Chính thống giáo, Công giáo, Tin Lành) nhưng lại không nêu lý do ly hôn nào về tôn giáo Cho nên luận án còn có thể khai thác khía cạnh mà tác giả chưa đề cập đến
Trang 19Cuốn The Future of marriage của Bernard Jessie là cuốn sách được
một số nhà nghiên cứu như Lê Ngọc Văn, Mai Huy Bích, linh mục Lê Ngọc Dũng sử dụng, trích dẫn Sách đưa ra rất nhiều chủ đề bàn luận như mẫu hôn nhân châu Âu, mẫu hôn nhân Hoa Kỳ, bạn đời và tình dục, quyền lực và tình dục, tương lai của hôn nhân theo ý kiến của từng phái nam, nữ trong đó có chủ đề ly thân và ly hôn Tác giả cho rằng nghề nghiệp cũng như trình độ học vấn liên quan với ly hôn vì mức thu nhập,
và sự giáo dục của Nhà nước về mọi mặt trong đó có bình đẳng giới, nữ quyền [155, tr.168] Đây cũng là điểm cho luận án lưu tâm khi điều tra các trường hợp ly hôn Tác giả không bàn đến các cuộc ly hôn Công giáo, hoặc ảnh hưởng của tôn giáo đến đời sống gia đình Luận án khai thác khoảng trống này
1.1.2 Những nghiên cứu về ly hôn Công giáo
Cuốn Văn hóa gia đình Việt Nam của tác giả Vũ Ngọc Khánh đề cập
đến văn hóa gia đình người Việt theo Thiên Chúa giáo như thờ cúng tổ tiên, giáo dục con cái, nhưng không bàn đến ly hôn Trong chương IV có tựa đề
“Vấn đề hiện nay”, tác giả đưa ra những số liệu phong phú về nguyên nhân ly hôn, cách thức luật pháp, luật tục xử ly hôn, dư luận xã hội của một số vùng miền nước ngoài như Thái Lan, Nhật Bản, Đài Loan, Hồng Kông, Hoa Kỳ Luận án ghi nhận thông tin của tác giả rằng ở Philippines, đất nước đa số dân chúng là tín đồ Công giáo, từ năm 1988 trở đi - tức là sau khi Giáo hội toàn cầu ban hành bộ Giáo luật mới 1983-, trong luật dân sự của quốc gia xuất hiện điều khoản quy định ly hôn được chấp nhận khi cuộc hôn nhân không còn khả năng tâm lý Đó là những rối loạn tâm lý bắt nguồn từ đồng tính luyến ái, nghiện rượu, chưa trưởng thành, thiếu trách nhiệm Điều này cho thấy sự đổi mới luật dân sự phù hợp với Giáo luật mới về hôn nhân: có nhiều
Trang 20lý do để cuộc hôn nhân bất thành trong Giáo hội, từ đó có thể ly hôn trước toà
án dân sự Trước năm 1988, nguyên do ly hôn ở Philippines giới hạn ở loạn dâm, lừa bịp, đa thê, chưa đủ tuổi [67, tr 278] Nhìn chung, sách nêu những
sự kiện chứ không đặt vấn đề tìm hiểu ly hôn
Bài nghiên cứu “Vấn đề ly hôn - nhìn từ sự tác động của yếu tố văn hóa truyền thống (Tham chiếu từ số liệu ở Tòa án Nhân dân Thành phố Huế)” của
Hoàng Thị Ái Hoa trong cuốn Thay đổi của văn hóa truyền thống ở Thừa
Thiên Huế - tiếp cận nhân loại học và sử học từ trong và ngoài nước do
Nguy n Hữu Thông và Suenari Michio chủ biên, bàn về ly hôn ở Huế Huế là thành trì của truyền thống, tuy chịu tác động từ truyền thống nhưng vẫn đang gia tăng ly hôn vì nhiều lý do: gia tăng gia đình hạt nhân, thay đổi quan niệm
về giới truyền thống, chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa thực dụng, bạo hành Trong bài nghiên cứu, tác giả dành 8 dòng đề cập đến khó khăn của các phụ
nữ Huế theo Công giáo khi Giáo luật cấm ly hôn:
Vì vậy, mặc dù nhiều người sống trong tình trạng đau khổ cũng chưa mạnh dạn bày tỏ ý chí thoát ly cuộc sống “cơm không lành, canh chẳng ngọt” Số liệu các án ly hôn của tòa tuy không thống kê thành phần tôn giáo, nhưng ý kiến của các công chức Tòa án cũng cho thấy rất rõ điều đó [45, tr 61]
Bài nghiên cứu đề cập đến việc phụ nữ Công giáo chịu đựng cuộc sống gia đình bất hạnh chứ không ly hôn, tức là cố giữ gia đình ổn định, trong khi luận án nghiên cứu các gia đình đã ly hôn, nên không trùng lặp nội dung
Cùng chung nhận định với Hoàng Thị Ái Hoa, trong bài Tình hình ly hôn
trong xã hội ta ngày nay, Nguy n Thị Ngọc Khanh, phó chánh án Toà án
nhân dân tối cao, cho biết:
Trang 21Đối với đồng bào các vùng Thiên chúa giáo còn ảnh hưởng khá nặng nề của Giáo hội, cấm việc ly hôn, nên mặc dầu nhiều người sống trong tình trạng đau khổ cũng chưa mạnh dạn bày tỏ ý chí của mình muốn thoát ly cuộc sống đó Tuy nhiên, cũng đã có những vụ
ly hôn ở nhiều nơi do chị em đứng nguyên đơn Năm nhiều nhất ở miền Bắc có 280 vụ trong tổng số 16.000 vụ, ở miền Nam trong 6.880 vụ có 190 vụ Điều đó cũng nói lên tác động tích cực của Luật hôn nhân và gia đình tới ý thức giác ngộ quyền lợi của chị em Công giáo [66, tr 27]
Nhận định này đúng đắn dưới góc độ luật pháp, và vào thời điểm 1983 Còn luận án nhìn ly hôn dưới góc độ văn hoá, xã hội và vào thời kỳ sau này (1990-2014), tức là khai thác những yếu tố mới về giáo luật, biến chuyển xã hội sau khi Đổi mới (1986) Luận án tiếp nối chứ không đối nghịch với nghiên cứu trên
Luận văn Thạc sĩ Hôn nhân khác tôn giáo: đặc điểm và tính bền vững
của Chu Văn Tiến, Khoa Xã hội học Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội, nghiên cứu trường hợp hôn nhân giữa người Công giáo và người không theo Công giáo tại Giáo xứ Nghĩa Ải - Hợp Thanh - Mỹ Đức - Hà Nội Đề tài chỉ ra sự tác động của đạo Thiên Chúa giáo tới tính bền vững trong hôn nhân khác tôn giáo Nghiên cứu của Chu Văn Tiến có điểm rất gần với đề tài ly hôn của luận án là xem xét tính bền vững trong hôn nhân giữa người Công giáo và người không Công giáo, nhưng luận
án xem xét thực trạng ly hôn, tức là hiện trạng của hôn nhân không bền vững, trong đó có hôn nhân giữa người Công giáo với người lương Cho nên nội dung luận án khác biệt với nội dung nghiên cứu của Chu Văn Tiến [119]
Trang 22Luận án “Giá trị của hôn nhân và gia đình Công giáo ở Việt Nam hiện
nay” của Đỗ Thị Ngọc Anh thuộc Khoa Triết học Trường Đại học Khoa học
Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội, đã nêu lên được những đặc tính chủ yếu của hôn nhân Công giáo nói chung: đó là một bí tích, có tính đơn hôn và vĩnh vi n, tạo ra một Hội Thánh tại gia Từ đó mới có những quan hệ
vợ chồng, cha mẹ con cái, anh chị em trong một gia đình Tác giả cũng đã nói được sự tương đồng và khác biệt giữa gia đình Công giáo và gia đình không Công giáo cũng như nêu lên các vấn đề của gia đình Công giáo hiện nay như cuộc sống tại những nơi xa lạ mới (khu công nghiệp, khu chế xuất), kế hoạch hóa dân số, kết hôn với người ngoài đạo ,trong đó có vấn đề ly hôn Nhưng tác giả không đào sâu vào vấn đề này, có lẽ vì ngoài phạm vi bài nghiên cứu Như thế, luận án này khai thác sâu một khía cạnh trong luận án của Đỗ Thị Ngọc Anh
Ngoài ra, rải rác trong nhiều bài viết, một số tác giả đề cập đến hôn nhân
và ly hôn Công giáo, như trong cuốn Cấu hình xã hội cộng đồng Công giáo
Bắc di cư tại Nam Bộ, Nguy n Đức Lộc đã viết:
Ở trong cái ấp này hiện tượng bỏ nhau rất là ít, chỉ có một vài trường hợp không thể chịu được nhau thì mới bỏ thôi Ở đây mấy thành phần đi linh tinh rất là hiếm…Cuộc sống như vậy cũng được, chứ cứ tiền bạc nhiều mà sứt mẻ tình cảm thì cũng không thích Kể
ra bên này [bên Công giáo] có cái đạo luật giúp cho gia đình hạnh phúc êm ấm, xã hội không bị lộn xộn” [76, tr 117]
Trong cuốn Tổ chức xứ, họ đạo Công giáo ở Việt Nam, Nguy n Hồng
Dương nhận xét: “Do Giáo luật quy định hôn nhân một vợ một chồng nên ít
có trường hợp ly hôn ở làng Công giáo” [31, tr 292] Còn ở bài “Phác thảo
về tư duy và lối sống của người Công giáo Việt Nam” trong cuốn Nếp sống
Trang 23đạo của người Công giáo Việt Nam do Nguy n Hồng Dương chủ biên, tác giả
Nguy n Quang Hưng nhận định: “Người Công giáo có điểm chung là chung thủy trong hôn nhân…Ở thôn Hoàng III, nơi tập trung phần lớn dân Công giáo của xã Cổ Nhuế, trong số hàng trăm hộ Công giáo, có hai cặp sống ly thân, nhưng vẫn ở vậy, có trách nhiệm nuôi con, không ra tòa ly dị Ở Phùng
Khoang cũng chưa thấy có trường hợp ly dị…” [61, tr 172] Trong cuốn Tìm
hiểu nét đẹp văn hóa Thiên Chúa giáo, Hà Huy Tú cũng nêu “tính bền
vững của gia đình Thiên Chúa giáo có tác dụng to lớn đến việc con cái sống có đạo đức” [127, tr.84], “Thiên Chúa giáo xưa và nay có nhiều yếu
tố tích cực, đóng góp cho xã hội một số nét văn hóa đáng quý, trong đó
có lĩnh vực tình yêu và hôn nhân Tình yêu và hôn nhân đích thực là nền tảng gia đình, gia đình là nền tảng xã hội” [127, tr.91] Hoặc trong cuốn
Nghiên cứu tôn giáo nhân vật và sự kiện, Đỗ Quang Hưng nhận xét:
“nhiều vấn đề cá nhân và gia đình người Công giáo Việt Nam còn khá lạc hậu Ở Việt Nam, họ chưa được công khai bàn đến quyền ly dị và tái
kết hôn” [60, tr 196] Trong bài viết Nghi lễ, chuẩn mực và tính linh
hoạt trong đời sống của người Công giáo ở Việt Nam hiện nay, tác giả
Nguy n Thị Thanh Mai nhận định rằng nhờ giáo lý, giáo luật cũng như tính linh hoạt của giáo luật mà các gia đình Công giáo bền vững, không
bị tan rã trong giai đoạn xã hội và gia đình Việt đang chịu nhiều biến đổi
như hiện nay [82, tr 47] Còn bài Nếp sống người Công giáo: sự giao
thoa giữa đức tin và văn hoá dân tộc của Phạm Huy Thông có nêu tình
hình ổn định của gia đình Công giáo, cụ thể ở xã Hải Vân, Hải Hậu, Nam Định có 6.000 dân từ năm 1980 đến 2000 chỉ có hai đôi bỏ nhau Xứ Sở
Hạ (Hà Nội) có 1.500 giáo dân, mà từ năm 1945 đến nay chỉ có một đôi
Trang 24ly thân Lý do là đức tin tôn giáo chi phối nhân cách của người Công giáo, ảnh hưởng đến nếp sống gia đình họ [117, tr 31]
Tất cả các bài nghiên cứu, bài viết kể trên đều đề cập đến mặt bền vững của hôn nhân người Công giáo, trong khi luận án lại khai thác mặt tan vỡ của hôn nhân người Công giáo Cho nên có sự hỗ trợ, bổ sung cho nhau nhưng không có sự trùng lặp
Giới Công giáo quốc tế và trong nước không thiếu những nghiên cứu về
ly hôn Tuy nhiên trước Công đồng Vatican II (1962-1965), Giáo hội nghiêm cấm mọi tín hữu ly hôn, cho nên Công giáo không có nhu cầu nghiên cứu về
ly hôn Bộ Giáo luật 1917 có điều luật 2356 kết án vạ tuyệt thông cho người Công giáo ly hôn Nhưng do trào lưu thế tục hóa mạnh mẽ, các quốc gia châu
Âu, kể cả Công giáo lẫn không Công giáo, cho đến năm 1930 đều đã quy định các công dân nam nữ chung sống với nhau phải kết hôn dân sự, còn kết hôn tôn giáo thì tùy ý các đôi vợ chồng Một phần khác do ảnh hưởng của đạo Tin Lành, tôn giáo phát triển mạnh mẽ ở Bắc Mỹ và châu Âu, cho phép ly hôn, tái hôn theo luật dân sự, cho nên số người Công giáo ly hôn gia tăng, buộc nhiều nhà nghiên cứu vào cuộc
Văn kiện rõ ràng nhất của công đồng Vatican II về hôn nhân là Hiến chế mục vụ về Giáo hội trong thế giới ngày nay Gaudium et Spes (Vui mừng và
Hy vọng) Hiến chế khẳng định hôn nhân là chia sẻ đời sống giữa hai người yêu thương nhau Việc sinh con không còn là một mục đích rõ ràng của hôn nhân mà chỉ là một sự phát triển tự nhiên của hai người yêu nhau Hôn nhân
là một giao ước không thể phá vỡ được [92, tr 412] Vì vậy, ngay cả khi thiếu con cái, hôn nhân vẫn tồn tại như một quy chế và một sự chia sẻ trọn vẹn đời sống, và vẫn giữ được giá trị và tính bất khả phân ly của nó [92, tr 416] Văn kiện khẳng định tính đơn hôn và vĩnh hôn của hôn nhân Công giáo, nhưng
Trang 25không nhắc đến mục vụ cho những người ly hôn Điều này có thể được hiểu
là vào thời điểm đó, ly hôn nơi người Công giáo chưa phải là vấn đề lớn
Tông huấn Familiaris Consortio (1981) của Giáo hoàng Gioan-Phaolô II
bàn về bản chất gia đình người Công giáo dựa trên Kinh Thánh Sau khi nêu
ra ánh sáng và bóng tối nơi gia đình ngày nay, Giáo hoàng Gioan-Phaolô cho rằng, gia đình là một cộng đồng các ngôi vị có những bổn phận: phục vụ cho
sự sống (truyền sinh, giáo dục), tham dự vào việc phát triển xã hội, tham dự vào cuộc sống và sứ mạng của Hội Thánh Hội Thánh phục vụ các gia đình bằng các bí tích, bằng các vị đảm trách (giám mục, linh mục, tu sĩ, giáo dân
có chuyên môn ) Hội Thánh không chấp nhận hôn nhân thử, chung sống không hôn nhân, người Công giáo chỉ kết hôn dân sự, hoặc ly hôn rồi tái hôn Hội Thánh xem đây là những hoàn cảnh khó khăn đặc biệt, cũng như hoàn cảnh ly thân, ly hôn không tái hôn, không gia đình Tông huấn đưa ra những hướng giải quyết cho từng loại trường hợp, cũng như đặt ra thái độ chung là khoan dung Đây là văn bản chính thức đầu tiên phân biệt quan điểm giáo lý, tín lý về hôn nhân-ly hôn với mục vụ cho những người ly hôn, hướng dẫn các gia đình Công giáo cũng như các người có trách nhiệm mục vụ
Bộ Giáo luật mới 1983 đã điều chỉnh lại một số luật về hôn nhân, đơn cử
Bộ Giáo luật cũ năm 1917 liệt kê 5 loại ngăn trở cấm chỉ và 13 ngăn trở tiêu hôn Còn Bộ Giáo luật 1983 bãi bỏ danh từ ngăn trở cấm chỉ và chỉ còn liệt kê
12 loại ngăn trở tiêu hôn mà thôi Như thế, xét về góc độ các ngăn trở, Bộ Giáo luật mới đơn giản hơn Bộ luật cũ Năng quyền (xem Phụ lục 1 nghĩa của
từ này) mi n chuẩn trong Bộ luật mới cũng được mở rộng hơn cho các Đấng Bản quyền địa phương, tức là các giám mục được nhiều quyền tha, mi n, chuẩn chước trong nhiều vấn đề hơn Giáo luật không còn nói đến vạ tuyệt
Trang 26thông cho những người ly hôn như trong Giáo luật cũ điều 2356 Vì thế, người ly hôn về mặt dân sự không còn bị chế tài theo Giáo luật nữa
Năm 1992, Giáo hội toàn cầu ra cuốn Giáo lý Hội thánh Công giáo (GLHTCG) quy định cụ thể những điều phải tin, phải giữ cho tín hữu Công
giáo Trong phần ly hôn, sách nêu các quan điểm sau:
Ly hôn là một xúc phạm nghiêm trọng đối với luật tự nhiên Ly hôn cố ý phá vỡ khế ước đã được đôi phối ngẫu tự do ưng thuận, để sống với nhau cho đến chết Ly hôn làm tổn thương giao ước cứu độ mà bí tích hôn phối là dấu chỉ Sự tái hôn, mặc dầu được luật dân sự công nhận, càng làm cho tình trạng
đổ vỡ thêm nghiêm trọng: người tái hôn, sau khi ly hôn, sống trong tình trạng ngoại tình công khai và thường xuyên (GLHTCG 2384) [52, tr 666] Tuy nhiên có những hoàn cảnh thực tế đôi phối ngẫu không thể tiếp tục sống chung được, vì rất nhiều lý do khác nhau Trong những trường hợp này, Hội thánh chấp nhận sự ly thân và chấm dứt việc sống chung của đôi phối ngẫu Họ vẫn
là chồng, là vợ của nhau trước mặt Thiên Chúa; họ không được tự do để ký kết một hôn ước mới Trong hoàn cảnh khó khăn như vậy, giải pháp tốt nhất, nếu
có thể, là hòa giải với nhau Cộng đoàn Kitô hữu được mời gọi trợ giúp những người đó sống đời Kitô hữu trong hoàn cảnh của họ, luôn chung thuỷ với dây hôn phối vẫn bất khả phân ly của họ (GLHTCG 1649) [52, tr 490]
Tuy nhiên, Giáo hội thông cảm, chấp nhận cho ly hôn dân sự khi có những lý do chính đáng: nếu việc ly hôn dân sự vẫn còn là phương cách duy nhất để bảo đảm một số quyền lợi hợp pháp, như việc chăm sóc con cái hoặc bảo vệ gia sản, thì có thể chịu đựng mà không lỗi phạm về luân lý (GLHTCG 2383) [52, tr 666] Có thể xảy ra là một người trong đôi phối ngẫu là nạn nhân vô tội của việc ly hôn do tòa án dân sự công bố; lúc đó người này không
vi phạm mệnh lệnh luân lý Có sự khác biệt đáng lưu ý giữa người phối ngẫu
Trang 27thành thật cố gắng trung thành với bí tích hôn phối và bị ruồng bỏ cách bất công, với người phối ngẫu, do trọng tội về phía mình, phá hủy hôn nhân đã thành sự theo Giáo luật (GLHTCG 2386) [52, tr 667] Như thế, Gl 1983 và GLHTCG đã chấp nhận ly hôn khi có lý do chính đáng, kèm theo một số điều kiện Các nghiên cứu tiếp theo cần triển khai ý tưởng những lý do chính đáng
là những lý do nào, và đây là điều mà nhiều nghiên cứu đã thực hiện
Từ ba văn kiện cơ bản trên (Công đồng, Giáo luật, GLHTCG), các nghiên cứu ly hôn Công giáo dưới nhiều góc độ đã được triển khai
Cuốn Hội nhập văn hóa trong hôn nhân và gia đình Việt Nam của linh
mục Nguy n Văn Dụ dành 8 trang (từ trang 216-224) trên tổng số 350 trang, nói về ly hôn theo luật pháp Việt Nam thời xưa, thời nay, những lý do cho phép ly hôn hoặc ly thân Tiếp theo tác giả đưa ra giáo huấn của Giáo hội và trong phần thẩm định, tác giả kết thúc bằng cách khẳng định luật Giáo hội không cho ly hôn [26, tr.216] Như thế, cuốn này không nghiên cứu về ly hôn cho bằng nhấn mạnh sự hội nhập văn hoá trong hôn nhân của người Công giáo
Cuốn Tìm hiểu hôn nhân trong giáo luật, trong luật hôn nhân gia
đình của linh mục FX Tân Yên Nguy n Hùng Oánh đã so sánh các luật
dân sự về hôn nhân và gia đình (HNVGĐ) với Giáo luật Tác giả đã dành
40 trang (từ trang 140-180) trong tổng số 194 trang để đề cập đến ly hôn,
ly thân theo luật Giáo hội và theo luật HNVGĐ Tác giả cho rằng “luật đạo bảo vệ tính hôn nhân bất khả ly, chỉ có cái chết mới tháo gỡ được hôn nhân thành nhận và hoàn hợp Tuy nhiên trong trường hợp hôn nhân thành sự, luật đạo cho tháo gỡ hôn nhân (ly hôn) xem chừng d hơn cả luật đời Luật đời chủ trương hôn nhân bền vững nhưng lại cho ly hôn Hóa ra bền vững mà không chắc chắn” Tác giả thận trọng kết luận:
Trang 28“Chúng tôi không dám luận bàn cho ly hôn hoặc không cho ly hôn là liều thuốc tốt hoặc không đối với gia đình” [89, tr 159] Điểm đáng ghi nhận
là tác giả đã có công nêu ra các khoản luật đạo với luật đời theo từng chủ
đề như thể chế và mục đích hôn nhân, tuổi kết hôn, cấm kết hôn trong những đời họ gần…, và chỉ ra nét giống nhau và khác nhau giữa hai bộ luật [89, tr.140] Luận án tiếp thu và sử dụng các so sánh giữa hai bộ luật
đó của tác giả
Cuốn Tòa án hôn phối và tháo gỡ hôn nhân Công giáo, của linh mục Jos
Bùi Đức Tiến, thẩm phán Tòa án Hôn phối Tổng giáo phận Melbourne & Tasmania của Australia, đề cập trực tiếp vấn đề tiêu hôn: chương 1 nói về hôn nhân trong ý Chúa và ba yếu tố quan trọng trong hôn nhân Công giáo là đơn hôn, vĩnh hôn và đón nhận cũng như giáo dục con cái Chương 2 tác giả nêu
ra 10 nguyên nhân gây ra sự tan vỡ gia đình như tình yêu và thực tế, những khác biệt giữa hai vợ chồng, động lực kết hôn, những người chung quanh…Chương 3 chỉ dẫn cách sống bình thường sau khi gia đình tan vỡ, vấn
đề tái hôn…Chương 4 nói sơ về các tòa án hôn phối trong Công giáo Chương
5, tác giả nêu 12 trường hợp hôn nhân được tháo gỡ Chương 6 nói về các ngăn trở làm hôn nhân bất thành Chương 7 nêu các thắc mắc thường gặp về hôn nhân và giải đáp Tác giả có cách nhìn ly hôn cởi mở và nhân văn, đúng như đề tựa: “tập sách này được thực hiện với hai mục đích: 1 Trình bày một lối thoát có thể, cho những người Công giáo bị vướng mắc trong những hoàn cảnh hôn phối tan vỡ không còn hy vọng hàn gắn 2 Giúp cho những người Công giáo đang âu lo sống trong các “gia đình thứ hai”, một cách thế có thể,
để thực hiện bí tích hôn phối một lần khác” [118, tr 4] Vì thế cuốn sách giống như một bản hướng dẫn chung cho những người đang “rối hôn nhân” hơn là một nghiên cứu về ly hôn Nhưng các nguyên nhân ly hôn được đề cập
Trang 29trong cuốn này đáng được quan tâm để đối chiếu khi quan sát thực tế địa phương.
Trong cuốn Tìm hiểu giáo luật về Hôn nhân và gia đình, linh mục
Nguy n Công Vinh cũng đặt ly hôn như phần phụ của hôn nhân, trong tương quan với giáo luật Sách gồm có hai phần: phần đầu nêu 19 câu hỏi liên quan đến hôn nhân như ảnh hưởng của cha mẹ, của hiếu đạo có xâm phạm tự do ưng thuận kết hôn hay không, những trường hợp hôn phối không thành Phần hai nêu một số trường hợp ly hôn ở nước ngoài,
có trường hợp được tiêu hôn, có trường hợp không được Cuốn này còn
bỏ ngỏ khía cạnh xã hội, các trường hợp cụ thể ở Việt Nam, cho nên luận
án có thể khai thác mặt còn trống này
Ở nước ngoài có rất nhiều nhà nghiên cứu ly hôn xét theo khía cạnh bí
tích hoặc giáo lý như tác giả Joyce G.H với cuốn Christian Marriage An
Historical and Doctrinal Study, tác giả Kerns J.E với cuốn The Theology of Marriage The historical Development of Christian attitudes toward Sex and Sanctity in Marriage, tác giả A Pompei với cuốn Vie nuove per l’indissolubilità, un Dizionario Teologico, tác giả Arjonillo R.B với cuốn Conjugal Love and the Ends of Marriage A Study of Dietrich von Hildebrand and Herbert Doms in the light of the Pastoral Constitution Gaudium et Spes, tác giả Bassett W.W với cuốn The Bond of Marriage An Ecumenical and Interdisciplinary study, tác giả Buckley T.J với cuốn What Binds Marriage Roman Catholic theology in practice, Continuum .v.v
Có thể lấy một tiêu biểu cho nhóm này là cuốn The Marital Sacrament
(Bí tích Hôn phối) của tác giả Mackin Theodore Sách này mô tả lịch sử giáo thuyết về hôn nhân, đi từ các văn bản trong Kinh Thánh, đến các quan điểm của Giáo hội trong những thế kỉ đầu, thời trung đại, thời cận đại và đến Công
Trang 30đồng Vatican II Tác giả cho rằng không thể ly hôn vì hôn nhân là bí tích, là hình ảnh việc Chúa Kitô kết hợp với Giáo hội Chúa Kitô và Giáo hội luôn gắn bó kết hợp với nhau chặt chẽ cho nên vợ chồng cũng phải như thế Cuốn này giúp có cái nhìn tổng quát về hôn nhân Công giáo để hiểu được ly hôn đi ngược với hôn nhân xét dưới góc độ lịch sử giáo thuyết Vì nhấn mạnh tính lịch sử hôn nhân, tác giả xem ly hôn chỉ là phần phụ Cuốn sách không xem xét ly hôn dưới khía cạnh văn hoá, xã hội, cho nên luận án có thể khai thác khía cạnh này
Một cuốn khác là Sex, God & marriage (Tính dục, Thiên Chúa và Hôn
nhân) tái bản năm 2002, của tác giả Johann Christoph Arnold Đây là sách được Mẹ Têrêsa Calcutta viết lời giới thiệu khen ngợi, đã đưa ra 3 tổng đề mục là Ngay từ đầu, Điều gì Thiên Chúa đã nối kết, Tinh thần thời nay Mục thứ hai có 7 chủ đề bàn về mầu nhiệm hôn nhân, tính dục có tính thánh thiêng, sống độc thân…Mục thứ ba cũng có 7 chủ đề trong đó có chủ đề về ly hôn và tái hôn Tác giả ghi lại hồi ký của vài nhân vật có thực (có tên tuổi, địa chỉ) để trình bày luận điểm của mình là: 1) mối liên kết hôn nhân có thể đứt nhưng không bao giờ bị tiêu tan; 2) đứng trước mối liên kết hôn nhân đứt đoạn, câu trả lời là hãy trung thành và yêu thương (ghét tội nhưng không ghét tội nhân); 3) lòng chung thủy không phải hoàn toàn không có ngoại tình vụng trộm; 4) không có gì mà Thiên Chúa không làm được Tác giả giữ vững kỷ cương hôn nhân bằng thần học hơn bằng lý luận, và như thế còn để trống lĩnh vực văn hoá-xã hội cho luận án khai thác
Một cuốn sách đáng chú ý là Một lối nhìn mới về bí tích (A newlook
at the sacraments) của tác giả William J Bausch, từng tái bản 9 lần ở
nước ngoài, được linh mục Đa Minh Nguy n Đức Thông CSsR chuyển
ngữ Tác giả đưa ra cách nhìn nhận mới mẻ về tất cả 7 bí tích của Công giáo
Trang 31Về hôn nhân, xét dưới khía cạnh bí tích, tác giả cho rằng từ Công đồng Lateran II năm 1139, hôn nhân đã được nhìn nhận là bí tích; còn theo Bộ giáo luật năm 1917, hôn nhân chỉ là khế ước được nâng lên bí tích, nhưng theo Hiến chế Gaudium et Spes của Công đồng Vatican II (năm 1965) hôn nhân là giao ước trong đó hai vợ chồng trao nhận chính bản thân họ Sự thay đổi khái niệm về hôn nhân như thế tạo ra những lý do mới để vô hiệu hóa hôn nhân: trước kia các lý do hầu như xoay quanh việc ưng thuận, nghĩa là xem
họ có được tự do không, hoặc có bất lực không hay muốn có con không; còn nay lại dựa trên nền tảng là hai vợ chồng có khả năng về mặt tâm lý, có khả năng hình thành và duy trì một “cộng đoàn yêu thương” không Một số chuyên gia giáo luật phản đối, cho rằng “cộng đoàn yêu thương” là chuyện không thể đo lường được, thì làm sao có thể cho phép hủy bỏ hôn nhân Nhưng như thế, cánh cửa hôn nhân đã mở rộng hơn Ngôn ngữ của Vatican II cho thấy hôn nhân không bao giờ tĩnh mà là một tiến trình, một mối tương quan không ngơi nghỉ: bí tích chỉ tồn tại khi “chất liệu” làm nên bí tích đó còn tồn tại Vậy cả hôn nhân lẫn bí tích có thể chết, nếu cuộc sống của đôi bạn không còn cho thấy một dấu chỉ bề ngoài nào về thực tại của tình yêu Chúa Giêsu đối với Giáo hội Trong truyền thống và khuynh hướng chống ly hôn
của nhiều nhà thần học và giáo luật Công giáo, thì cuốn sách của tác giả
William J Bausch có cách nhìn mới lạ, dùng những lý luận sắc bén để nói lên quan điểm cởi mở của tác giả và một số người khác trong vấn đề hôn nhân
và ly hôn [151, tr 358] Lý luận này gần giống với nhận định của Karl Marx:
“Sự ly hôn chỉ là việc xác lập một sự thật: cuộc hôn nhân ấy là cuộc hôn nhân
đã chết, sự tồn tại của nó chỉ là cái vỏ bề ngoài và là sự giả dối” [18, tr 219] Cuốn sách đưa ra cách nhìn nhận ly hôn theo bí tích, không nghịch với cách nhìn của văn hoá mà luận án trình bày
Trang 32Một số tác giả lại xem xét ly hôn dưới góc độ luật pháp của tôn giáo, như
tác giả Puthotta R với cuốn The Evolution of the Concept of marriage from
Vatican II to the New Code of Canon Law, tác giả Cruz O.V với cuốn Marriage Tribunal ministry, tác giả McAreavey J với cuốn The Canon Law
of Marriage and the Family Có thể thấy đại diện của nhóm này qua cuốn The invalid marriage (hôn nhân vô hiệu) của tác giả Lawrence G Wrenn Cuốn
sách đã nhấn mạnh đến các trường hợp làm hôn nhân vô hiệu theo giáo luật Tác giả phân chia cách khoa học các lỗi khiến hôn nhân bất thành: vì bất lực nam, bất lực nữ, vì thiếu khả năng, vì hiểu sai, vì giả vờ, vì ép buộc…Tác giả phân tích, di n nghĩa, cách ứng dụng, ý kiến các chuyên gia về các khoản giáo luật liên quan đến việc thành sự và hoàn hợp Tác phẩm dùng để tra cứu các trường hợp nghi ngờ là hôn nhân vô hiệu Nhưng qua đó, độc giả cũng có thể thấy được khá nhiều cánh cửa mở rộng cho vấn đề tiêu hôn (ly hôn) Trong những cuốn nêu trên, ly hôn được xem xét dưới góc độ giáo luật, và chung cho người Công giáo toàn cầu Còn luận án xem xét ly hôn dưới góc độ văn hoá, riêng tại một địa phương ở Việt Nam, cho nên không có sự trùng lặp mà chỉ có sự bổ sung
Tác phẩm Studi di diritto matrimoniale canonico, (Nghiên cứu về hôn
nhân theo giáo luật) của tác giả Pompedda Mario F., cuốn I bàn về các vấn đề
tự do ưng thuận kết hôn, không có khả năng đảm đương đời sống hôn nhân,
và khái niệm “hoàn hợp” theo giáo luật số 1061 Về sự tự do ưng thuận, tự do
đó vừa đủ, không mắc các bệnh tâm thần, không bất lực (tâm lý, bệnh lý) trong quyết định Về vấn đề không có khả năng đảm đương đời sống hôn nhân, đó là bất lực giao hợp, bất lực gánh vác đời sống gia đình, có tính tương đối hay tuyệt đối, có giai đoạn hoặc vĩnh vi n, có trước hay sau kết hôn Về thành sự và hoàn hợp, đó là giao hợp với nhau cách có nhân tính: không ép
Trang 33buộc, trong tình yêu thương nhau và hướng đến việc sinh con Cũng cùng tác giả, cuốn II (2002) đề cập đến tính dục, phái tính trong hướng dẫn giáo luật,
và một chương thú vị về con người, xã hội hiện nay trước vấn đề hôn nhân: vì tính đa nguyên văn hóa và đa dạng giá trị văn hóa, cũng như với ảnh hưởng chủ nghĩa Marx, phân tâm học của Freud, con người đang có cảm giác khủng hoảng về giá trị, về đạo đức (giá trị thực ở đâu, đạo đức thực là thế nào) trước mọi vấn đề, trong đó có hôn nhân Nhưng trong đa nguyên lại có mẫu số chung, chẳng hạn hôn nhân bền vững vẫn được ưa chuộng trong các nền văn hóa…Bàn về ly hôn, tác giả nêu khó khăn giữa luật pháp Giáo hội khi cho tiêu hôn dựa trên lương tâm người làm đơn và thực tế cuộc sống hôn nhân: có
ai bảo đảm sự thực đã di n ra trong tâm hồn hai người xin tiêu hôn, ngoài người trong cuộc? Đây là những luận điểm được luận án dùng làm câu hỏi trong khi phỏng vấn sâu cũng như phỏng vấn ngẫu nhiên các đối tượng
Trong cuốn Marriage Tribunal ministry, (Thừa tác vụ tòa án hôn nhân),
tác giả Cruz O.V đã trình bày trong phần I chi tiết 12 trường hợp làm hôn nhân vô hiệu, 12 trường hợp phá hoại sự ưng thuận và 7 quy định về hình thức hôn nhân theo giáo luật; phần II nói về thủ tục, tổ chức xin tiêu hôn hoặc
ly thân; phần III nói về tiến trình, các tòa án ly hôn các cấp trong Giáo hội; phần IV đề cập một số vụ tiêu hôn tiêu biểu; phần V đưa ra một số mẫu đơn xin hủy hôn Cuốn này như một sổ tay luật pháp về hôn nhân hơn là nghiên cứu ly hôn
Luận án Tiến sĩ ở Đại học Urbaniana, Roma, năm 2009 với tựa đề The
New Concept of Conjugal Consummation in the 1983 Code (Khái niệm mới
về hôn nhân hoàn hợp trong bộ Giáo luật 1983) của linh mục Lê Ngọc Dũng
chú trọng tìm hiểu khái niệm hôn nhân thành sự để phân biệt các cuộc hôn
nhân chưa thành, giúp hủy hôn đúng cách Chương 1 nói về ngữ cảnh khái
Trang 34niệm hôn nhân trong những thế kỉ đầu Kitô giáo Chương 2 đề cập đến cuộc tranh luận về vai trò của sự hoàn hợp ở thời kì trung cổ: một trường phái cho rằng chỉ cần cha mẹ hai bên kết ước là hai người nam nữ đã thành vợ chồng,
trường phái kia cho rằng họ chỉ mới là đính hôn (sponsi) nhưng chưa là vợ chồng (coniuges) vì chưa hoàn hợp (xin lưu ý: hai từ sponsi và coniuges chỉ là
để phân biệt chưa hoàn hợp và đã hoàn hợp ở thời kỳ trung cổ, ngày nay hai
từ đó đều có nghĩa vợ chồng) Trường phái này trưng dẫn nhiều lý chứng như
lý chứng về bất lực, lý chứng về đa thê hoặc đa phu, lý chứng về loạn luân, về bạo lực…Trong các trường hợp này, hôn nhân đều không thành sự Chương 3 nói về vai trò của hôn nhân hoàn hợp trong thần học về bí tích hôn nhân, từ các giáo phụ (Fathers) thời kì đầu của Công giáo cho đến các nhà Kinh viện trung cổ như Thomas Aquinas, Robert Bellarmin, Francisco Suarez…Chương
4 nói về hôn nhân thành sự và hoàn hợp theo bộ Giáo luật 1917 Công đồng Trentô (1545-1563) đã đề cập đến khái niệm này dưới thành ngữ la-tinh
“matrimonium ratum et non consummatum” (hôn nhân thành sự nhưng chưa hoàn hợp) để chống lại Luther và Giáo hội Cải cách vốn không xem hôn nhân
là bí tích Chương 5 nói về hôn nhân hoàn hợp theo giáo luật 1983: đã có tiến hóa trong khái niệm hôn nhân, từ khế ước chuyển sang giao ước hôn nhân, thông hiệp cuộc sống; cũng như tiến hóa trong khái niệm hoàn hợp: giao hợp với nhau một cách hợp với nhân tính Thế nào là hợp với nhân tính? Tác giả
đã đưa ra cách hiểu của nhiều nhà nghiên cứu như Navarrete, Pompedda, Orlandi, Graziani…cũng như của các Ủy ban nghiên cứu khác: đó là có ý thức, có lý trí, tự nguyện, không bị ép buộc, hận thù, sợ hãi, lừa gạt…Đây là yếu tố quyết định để có thể huỷ hôn Luận án của linh mục Lê Ngọc Dũng nghiên cứu ly hôn dưới góc độ giáo luật khi tìm cách biện minh hợp pháp cho các trường hợp ly hôn của tín hữu, còn luận án này tìm hiểu ly hôn dưới khía
Trang 35cạnh văn hoá-xã hội khi đặt các người ly hôn vào khung cảnh của một nền văn hoá, một xã hội cụ thể
Trong cuốn Hôn nhân và gia đình (110 câu hỏi và đáp), tác giả Dietzen
John J đã dành 50 câu hỏi và trả lời liên quan đến ly hôn, tiêu hôn, hủy hôn, trong đó có những câu hỏi như “tôi cưới nhầm một người ưa mặc quần áo của người khác phái, như thế hôn nhân có thành hay không”, hoặc “con cái có ngăn trở tiêu hôn không?”, “sau tiêu hôn, con cái có hợp pháp không?”, “tôi đã ly hôn với người đó, nay muốn tái hôn với cùng người
đó, có mắc án phạt gì không?”, “tiêu hôn có phải là ly hôn không?”…Tuy nhiên sách vẫn tuân theo truyền thống luật pháp Công giáo, thận trọng với ly hôn Cuốn này chưa đề cập đến các khía cạnh xã hội của người Công giáo ly hôn, cho nên luận án này có thể được xem như một bổ sung cho góc nhìn luật lệ về ly hôn của người Công giáo
Ngoài ra còn những cuốn sách gián tiếp bảo vệ hôn nhân như Suy niệm
với các bí tích của Hương Việt; Hôn nhân Công giáo của Toà giám mục
Xuân Lộc, Giảng trong lễ hôn phối của linh mục Nguy n Hữu Triết; Tin
mừng cho đôi tân hôn, Giáo lý hôn nhân và gia đình (2004) của Hội đồng
Giám mục Việt Nam; Cho đôi bạn tâm tình của Bùi Văn Khiết Tâm; Hôn
nhân Kitô giáo (1998) của linh mục Phaolô Nguy n Bình Tĩnh, Hôn nhân và gia đình (1995) của Tòa Giám mục Long Xuyên…
Còn hàng trăm trang web của Công giáo (cá nhân, tập thể chính thức, bán chính thức của các giáo xứ, dòng tu, giáo phận, cộng đoàn, hiệp hội ) trong nước và ngoài nước khi đề cập đến hôn nhân đều đồng thanh kêu gọi hôn nhân bền vững và đều bài bác ly hôn Không thể kể hết tên gọi các websites, các lý luận được họ viện dẫn để kêu gọi điều này, bài bác điều kia
và cũng không cần thiết phải kể hết vì các websites đều có nét tương đồng
Trang 36Ở tôn giáo khác là Phật giáo, nhà nghiên cứu Lê Thọ Quốc trong bài Vấn
đề hôn nhân - gia đình trong quan niệm và nghi l Phật giáo Huế, đăng trong
Thông tin Khoa học, số tháng 9-2007, trình bày quan điểm của Phật giáo về
hôn nhân thông qua các lời giảng dạy của Phật tổ trong kinh Đại Bảo tích, kinh Thiện sinh (Singalovada Suttanta, còn gọi là kinh Thiện sanh tử hoặc Thi
ca la việt lục phương l ) trong Trường Bộ Kinh (Digha-Nikaya): vợ chồng chung thủy, kính nhường nhau, hiếu với cha mẹ hai bên Nghi l Hằng thuận (cầu an Thành hôn) trong Phật giáo ở Huế tạo hiệu ứng nhất định đến nhận thức, quan niệm của người hành l (các đôi tân hôn) để đưa những lời giảng dạy và cách sống của Phật giáo đến họ Đây như một giải pháp giúp hôn nhân bền vững [98, tr 90] Bài nghiên cứu này cho thấy Phật giáo cũng quan tâm đến hôn nhân bền vững, và đưa ra một phương cách gìn giữ nó bằng nghi l
1.1.3 Nhận xét tình hình nghiên cứu
Qua tình hình nghiên cứu đã nêu ở trên, chúng tôi có thể rút ra một số nhận xét sau:
1.1.3.1.Các vấn đề đã được đề cập
Đó là các công trình phân tích về thực trạng, nguyên nhân, hậu quả của
ly hôn, dựa trên các thống kê đáng tin cậy Những phân tích này, trong nước cũng như ngoài nước, là khá chi tiết và khai thác các khía cạnh mới của xã hội hiện nay như kinh tế, tâm lý, luật pháp, dư luận, phong tục, ý thức về giới Các nhà nghiên cứu ly hôn trong Công giáo thống nhất việc gìn giữ, bảo
vệ hôn nhân bền vững, với nhiều lý do về Kinh Thánh, giáo lý, giáo luật, thần học, bí tích Còn các tác giả ngoài Công giáo đã ít nhiều nói lên giá trị của hôn nhân Công giáo Đây là những tiền đề để các nghiên cứu tiếp nối sau này
có thêm cơ sở lý luận và thực ti n
Trang 371.1.3.2 Các vấn đề chưa được đề cập
Có những tài liệu trình bày ly hôn như một phần nhỏ trong toàn bộ (ly hôn là một mặt của hôn nhân và gia đình, hoặc chỉ là một tiết nhỏ của giáo trình xã hội học), hoặc chưa đi sâu vào trường hợp ly hôn của tôn giáo cụ thể nào Còn các nghiên cứu ly hôn của các tác giả Công giáo chưa quan tâm đủ đến các khía cạnh khác như văn hóa, xã hội, tâm lý…
Chúng tôi nhận thấy còn thiếu mảng chuyên sâu trong nghiên cứu ly hôn người Việt theo Công giáo Trong đề tài này lại còn nhiều khía cạnh có thể được khai thác như góc nhìn, địa bàn, thời gian, quan hệ, so sánh Luận án chọn góc nhìn văn hoá, địa phương là cộng đồng Công giáo thôn quê, và thời gian từ 1990-2014
1.2 Một số vấn đề lý luận
Trên thế giới có nhiều lý thuyết nghiên cứu ly hôn Ở Hoa Kỳ, các lý thuyết cấp độ vi mô của xã hội học và kinh tế học nổi trội Như thuyết của Levinger (1976) cho rằng “hôn nhân tan vỡ là do tác động của sự hấp dẫn hôn nhân, những điều thay thế hôn nhân và trở ngại đối với ly hôn Sự hấp dẫn của hôn nhân là những điều được và mất mà người ta cân nhắc theo xác suất chủ quan Những điều thay thế hôn nhân bao gồm bạn tình khác, hay những cách thức khác để thoả mãn ý nguyện Những trở ngại ly hôn khiến người ta giữ một cuộc hôn nhân nguyên vẹn, nhưng đôi khi dẫn đến tình trạng “cái vỏ hàu rỗng” (empty shell), tức là vợ chồng vẫn chung sống với nhau, nhưng thực ra hôn nhân đã chết” [16, tr 124]
Thuyết của Becker, Landes và Michael (1977) cho rằng “các chiến lược hôn nhân cá nhân đều muốn phát huy tối đa giá trị của những điều được trong đời, bao gồm cái được gọi là “thu nhập bằng tiền và phi tiền tệ” (monetary and nonmonetary income) Người ta có thể quyết định ly hôn vì khi kết hôn
Trang 38họ chưa có đủ thông tin, hoặc vì tình hình đã thay đổi (ví dụ con cái đã lớn) khiến không còn cần đến cuộc hôn nhân đó nữa Theo lý thuyết này, xác suất
ly hôn giảm cùng với sự tích lũy cái được gọi là “vốn đặc biệt của hôn nhân” (marital-specific capital) như con cái, tài sản [16, tr.125]
Nicky Han phân tích ly hôn theo quan điểm mác-xít Theo nữ tác giả này, tỉ lệ ly hôn tăng lên là sản phẩm của xung đột giữa hệ thống kinh tế đang thay đổi và thượng tầng kiến trúc về xã hội và hệ tư tưởng của nó (tức gia đình) Trong xã hội công nghiệp tư bản chủ nghĩa tiên tiến, người vợ vừa đi làm với đồng lương rẻ mạt, đồng thời vẫn phải chịu trách nhiệm chính về việc nhà và nuôi dạy con cái, và người ta vẫn đòi hỏi chị phải phục tùng người chồng chủ hộ Những mong đợi vai trò này mâu thuẫn với vai trò người vợ với tư cách người làm công ăn lương, chia sẻ gánh nặng kinh tế gia đình Xung đột giữa vợ với chồng trong trường hợp này có thể dẫn đến ly hôn [16,
tr 127]
Để nghiên cứu các trường hợp ly hôn cụ thể ở một địa phương, luận án
sử dụng lý thuyết ba nhóm nhân tố của tác giả người Anh là Mary Nicolette
Hart trong cuốn When marriage ends, A study in Status passage Ba nhóm
nhân tố đó là nhân tố tác động đến giá trị của hôn nhân, nhân tố tác động đến xung đột vợ chồng, và những nhân tố tác động đến cơ hội để cá nhân thoát khỏi hôn nhân Việc sử dụng lý thuyết xã hội học trong nghiên cứu văn hoá học không có gì nghịch thường, vì hai bộ môn khoa học này liên hệ qua lại và tương tác chặt chẽ với nhau
Về nhóm nhân tố thứ nhất, xét theo quan điểm chức năng, hành vi phần lớn là sự đáp lại những chuẩn mực và giá trị chung Từ đó suy ra rằng một sự thay đổi trong tỉ lệ ly hôn ở mức độ nào đó là sự phản ánh những chuẩn mực
và giá trị nói chung, nhất là những chuẩn mực và giá trị gắn với hôn nhân và
Trang 39ly hôn Các tác giả chức năng luận Hoa Kỳ như T Parsons và Ronald Fletcher lập luận rằng sự gia tăng tỉ lệ ly hôn phần lớn bắt nguồn từ việc người ta ngày càng đánh giá cao hôn nhân (người ta đòi hỏi nhiều và cao hơn ở hôn nhân, và
để chấm dứt một cuộc hôn nhân mà trong quá khứ là chấp nhận được) Nghịch lý là việc gắn cho hôn nhân một giá trị cao hơn có thể dẫn đến gia tăng ly hôn: khi người ta kỳ vọng quá cao vào hôn nhân, người ta d thất vọng khi đi vào thực tế đời sống gia đình, và muốn tìm cách sửa sai bằng ly hôn Tác giả Hart xét nhóm thứ hai cũng theo quan điểm chức năng Việc gia đình thích nghi với những đòi hỏi của hệ thống kinh tế đã tạo ra căng thẳng trong quan hệ vợ chồng Nó dẫn tới sự cô lập tương đối của gia đình hạt nhân
so với mạng lưới quan hệ thân tộc bên ngoài Theo W Goode, kết quả là so với khi gia đình là một đơn vị nhỏ trong mạng lưới thân tộc rộng hơn, thì lúc này nó gánh vác trách nhiệm tình cảm nặng hơn, và do vậy tương đối d vỡ Nhà nhân học Edmund Leach cũng giữ quan điểm tương tự Theo ông, gia đình hạt nhân phải gánh chịu một trọng trách tình cảm quá lớn nên mức độ xung đột giữa vợ chồng tăng lên Trong xã hội công nghiệp hiện đại, gia đình thực hiện ít chức năng hơn, nhưng chuyên biệt hóa hơn Theo tác giả N Denis, sự chuyên biệt hóa của gia đình hiện đại dẫn tới tăng ly hôn Nói cách khác, khi tình yêu không còn, thì chẳng có gì để giữ cặp vợ chồng với nhau Nhóm thứ ba liên quan đến khả năng để cá nhân thoát khỏi hôn nhân Nếu hành vi bị chi phối bởi các chuẩn mực và giá trị, thì có thể lường trước một sự thay đổi trong những chuẩn mực và giá trị liên quan đến ly hôn Nói chung, những giá trị và niềm tin tiếp tục đang ngày càng chi phối hành vi nhiều hơn Dưới góc độ ly hôn, thì sự tai tiếng do nó gây ra đã giảm đi ở nhiều nơi: hiện nay tại nhiều quốc gia ly hôn không còn gây sốc cho người khác, không còn là chuyện xấu xa nữa Bản thân việc này khiến d ly hôn hơn [16, tr 126]
Trang 401.3 Một số khái niệm được sử dụng trong luận án
Hôn nhân hoàn hợp (nguyên ngữ latinh “ratum et consummatum”) có
nghĩa là hôn nhân giữa hai người Công giáo đã được cử hành hợp (thể) thức, hợp pháp và đã giao hợp vợ chồng Hôn nhân này không thể tháo gỡ
Hôn nhân thành sự, còn gọi là thành nhận, (nguyên ngữ latinh “ratum
tantum”), có nghĩa là hôn nhân giữa hai người Công giáo đã cử hành hợp thức, hợp pháp nhưng chưa giao hợp Hôn nhân này có thể được tháo gỡ (tiêu hôn)
Ly hôn là chấm dứt quan hệ hôn nhân do Toà án công nhận hoặc quyết
định theo yêu cầu của vợ hoặc chồng hoặc cả hai vợ chồng (Luật Hôn nhân và
gia đình điều 8) Theo pháp luật Nhà nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt
Nam, chấm dứt quan hệ hôn nhân là giải quyết quan hệ vợ chồng trên ba mặt:
quan hệ hôn nhân vợ chồng; quan hệ về con chung; quan hệ về tài sản chung
Luật Công giáo công nhận ly hôn của toà án dân sự khi một cuộc hôn nhân chưa hoàn hợp, hoặc một trong hai người cải sang Công giáo mà người còn lại không muốn theo đạo Còn trong trường hợp ngoại tình, hoặc bạo lực gia đình gây nguy hiểm đến sự an toàn của các thành viên trong gia đình thì
ly hôn trước tòa án dân sự vẫn được tôn trọng, nhưng phải được xem là ly thân trong Giáo hội, tức là chưa được tái hôn, trước khi Toà án hôn phối giáo
phận tuyên bố án tiêu hôn Xét theo ngữ nghĩa thì tiêu hôn của Công giáo (còn gọi là hủy hôn hoặc tháo gỡ hôn phối) có ý nghĩa khác với ly hôn của xã
hội dân sự: ly hôn là kết thúc một cuộc hôn nhân đã được xác lập, còn tiêu hôn là xác nhận hôn nhân chưa được xác lập Mặt khác, tòa án hôn phối Công giáo chỉ giới hạn trong phạm vi thiêng liêng, còn Tòa án dân sự mới giải quyết tài sản chung, quan hệ con cái, quan hệ vợ chồng …Nhưng xét theo hiệu quả, việc tiêu hôn cũng giống như ly hôn dân sự: hai người đang trong tình trạng vợ chồng nay được tự do muốn sống độc thân hay tái hôn tùy ý Vì