Ở Việt Nam thì chi Ráng đà hoa Davallia tuy là một chi nhỏ, nhưng chúng chủ yếu có mặt trong các hệ sinh thái rừng nguyên sinh, một số ít phân bố trong rừng thứ sinh, thường thuộc thực
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA SINH - KTNN
TRẦN THỊ THÚY
BƯỚC ĐẦU NGHIÊN CỨU PHÂN LOẠI
CHI RÁNG ĐÀ HOA (DAVALLIA Sm.) Ở
VIỆT NAM
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Thực vật học
Hà Nội, 2016
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA SINH - KTNN
TRẦN THỊ THÚY
BƯỚC ĐẦU NGHIÊN CỨU PHÂN LOẠI
CHI RÁNG ĐÀ HOA (DAVALLIA Sm.) Ở
VIỆT NAM
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phân loại Thực vật
Người hướng dẫn khoa học:
TS Đỗ Thị Xuyến
TS Hà Minh Tâm
Hà Nội, 2016
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình làm khóa luận, tôi đã nhận được sự hướng dẫn và giúp đỡ của TS.Đỗ Thị Xuyến (Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, ĐHQGHN) và TS Hà Minh Tâm (Trường đại học Sư phạm Hà Nội 2) Nhân dịp này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất đến các thầy cô
Tôi xin trân trọng cảm ơn tập thể cán bộ phòng Thực vật – Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật cùng Bộ môn Thực vật, khoa Sinh học, trường Đại học Khoa học Tự nhiên, ĐHQGHN, ban chủ nhiệm đề tài “Nghiên cứu xây dựng cơ sở dữ liệu thông minh đa dạng thực vật bậc cao có mạch Vườn Quốc gia Ba Vì” thuộc Viện hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam VAST 04.07/13-14, đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và tận tình giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện đề tài, tôi còn nhận được sự giúp đỡ của nhiều tổ chức và cá nhân trong và ngoài trường Nhân dịp này tôi xin trân trọng cảm ơn tập thể Khoa Tài nguyên – Viện Dược liệu; Ban chủ nhiệm khoa Sinh _ KTNN – Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2; đặc biệt là sự giúp đỡ, động viên của gia đình, bạn bè trong suốt thời gian tôi học tập và nghiên cứu
Một lần nữa, tôi xin trân trọng cảm ơn!
Trường ĐHSP Hà Nội 2, ngày 10 tháng 5 năm 2016
Sinh viên
Trần Thị Thúy
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Để đảm bảo tính trung thực của khóa luận, tôi xin cam đoan:
Khóa luận “Bước đầu nghiên cứu phân loại chi Ráng đà hoa (Davallia
Sm.) ở Việt Nam” là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi, được thực hiện dưới sự
hướng dẫn của TS.Đỗ Thị Xuyến và TS Hà Minh Tâm Các kết quả được trình
bày trong khóa luận là trung thực và chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào
trước đây
Trường ĐHSP Hà Nội 2, ngày 10 tháng 5 năm 2016
Sinh viên
Trần Thị Thúy
Trang 5MỤC LỤC
Trang
LỜI CẢM ƠN
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1 1 Trên thế giới 3
1 2 Ở Việt Nam 5
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 8
2 1 Đối tượng nghiên cứu 8
2 2 Phạm vi nghiên cứu: 8
2 3 Nội dung nghiên cứu 8
2.4 Phương pháp nghiên cứu 9
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 14
3 1 Hệ thống phân loại và vị trí chi Ráng đà hoa (Davallia Sm.) 14
3.2 Đặc điểm hình thái chi Ráng đà hoa (Davallia Sm.) ở Việt Nam: 15
DAVALLIA Sm – RÁNG ĐÀ HOA 15
3 3 Khoá định loại các loài thuộc chi Ráng đà hoa (Davallia Sm.) 21
3 4 Đặc điểm phân loại các loài thuộc chi Ráng đà hoa (Davallia Sm.) ở Việt Nam 22
3.4.1 Davallia denticulata (Burm f.) Mett ex Kuhn – Ráng đà hoa răng 22
Trang 63.4.2 Davallia divaricata (C Chr ex Wu) Tard & C Chr – Ráng đà
hoa quả 26
4.4.3 Davallia griffithiana Hook – Ráng đà hoa griffithiana 30
3.4.4 Davallia heterophylla J Sm – Ráng đà hoa lá khác 33
(Hình vẽ theo Phạm Hoàng Hộ, 1999) 34
3.4.5 Davallia pectinata J Smith – Ráng đà hoa lược 34
3.4.6 Davallia repens (L f.) Kuhn – Ráng đà hoa bò 37
3.4.7 Davallia solida (Forst.) Sw – Ráng đà hoa chắc 41
3.4.8 Davallia trichomanoides Blume – Ráng đà hoa sói 44
3.5 Bước đầu tìm hiểu giá trị tài nguyên của các loài thuộc chi Ráng đà hoa (Davallia Sm.) ở Việt Nam 47
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 48
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 7đa dạng và phong phú của giới thực vật, cung cấp đấy đủ số liệu chính xác về nguồn gốc, quá trình hình thành và phát triển, cách sử dụng, lợi ích và tác hại của mỗi loại thực vật Đây còn là cơ sở quan trọng cho các ngành khoa học khác trong sinh học như Dược học, Sinh lý thực vật, Tài nguyên sinh vật
Chi Ráng đà hoa (Davallia Sm.) thuộc họ Ráng đà hoa (Davalliaceae) Ở Việt Nam thì chi Ráng đà hoa (Davallia) tuy là một chi nhỏ, nhưng chúng chủ yếu có
mặt trong các hệ sinh thái rừng nguyên sinh, một số ít phân bố trong rừng thứ sinh, thường thuộc thực vật “ngoại tầng” bởi chúng thường sống bì sinh vào các loài cây khác trong rừng Cho đến nay nhiều loài trong chi Ráng đà hoa được ghi nhận sử dụng làm thuốc, làm cây cảnh Vì vậy, ngoài ý nghĩa về mặt khoa học, chi Ráng đà
hoa (Davallia Sm.) còn có giá trị rất lớn về mặt giá trị sử dụng
Tuy các loài thuộc chi Ráng đà hoa (Davallia Sm.) được ghi nhận có nhiều ý nghĩa nhưng việc nghiên cứu phân loại các loài này ở Việt Nam vẫn còn khá ít ỏi
Để chuẩn bị cho việc nghiên cứu một cách toàn diện về phân loại chi Ráng đà hoa
(Davallia Sm.) ở Việt Nam và góp phần cung cấp dữ liệu cho việc nhận biết, sử
dụng các loài thuộc chi này, chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài: “Bước đầu
nghiên cứu phân loại chi Ráng đà hoa (Davallia Sm.) ở Việt Nam”
Trang 82
Mục đích nghiên cứu:
Hoàn thành công trình khoa học về phân loại chi Ráng đà hoa (Davallia
Sm.) Ở Việt Nam một cách có hệ thống, làm cơ sở cho việc nghiên cứu họ Ráng đà hoa (Davalliaceae), phục vụ cho việc biên soạn Thực vật chí Việt Nam và cho những nghiên cứu có liên quan
Ý nghĩa khoa học và thực tiễn:
Ý nghĩa khoa học:
+ Kết quả của việc nghiêm cứu đề tài này sẽ cung cấp tài liệu cho việc biên
soạn Thực vật chí Việt Nam về chi Ráng đà hoa (Davallia Sm.) nói riêng và họ
Ráng đà hoa (Davalliaceae) nói chung
+ Cung cấp và bổ sung kiến thức cho chuyên ngành phân loại thực vật và cơ
sở nghiên cứu cho các loài thuộc chi Ráng đà hoa (Davallia Sm.) sau này
Ý nghĩa thực tiễn:
Kết quả nghiên cứu phục vụ trực tiếp vào việc ứng dụng của một số ngành:
lâm nghiệp, y học, đa dạng, sinh thái và tài nguyên sinh vật…
Điểm mới của đề tài (nếu có):
Cho đến nay, đây là công trình đầu tiên tiến hành phân loại chi Ráng đà hoa
(Davallia Sm.) ở Việt Nam một cách đầy đủ và có hệ thống
được chia thành các phần chính như sau: Mở đầu (2 trang), chương 1 (Tổng quan tài liệu:5 trang), chương 2 (Đối tượng, phạm vi, thời gian và phương pháp nghiên cứu:6 trang), chương 3 (Kết quả nghiên cứu: 33 trang), kết luận và kiến nghị (1 trang), tài liệu tham khảo:3 tài liệu, bảng tra tên khoa học và tên Việt Nam, phụ lục
Trang 93
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1 1 Trên thế giới
Người đầu tiên nghiên cứu về các loài Ráng đà hoa trên thế giới là Smith vào
năm 1793, trong công trình “Mem Acad Turin” với tên gọi là Davallia gồm 8 loài, trong đó loài Davallia canariensis (L.) Sm là loài chuẩn Các loài đại diện có các
đặc điểm hình thái thân có vảy dày đặc, vảy hình lọng thuôn, hình khiên, hình kim, không có sáp trắng; lá xẻ thùy sâu gần như đến gân giữa; ổ túi bào tử có áo bảo vệ hình chén hay hình trụ; túi bào tử có vòng cơ; bào tử hình cầu hay hình thận Về sau, nhiều tác giả nghiêm cứu đã đi theo quan điểm này như:
Takhtazan A L (1978) khi nghiên cứu hệ thống thực vật trên toàn thế giới đã
xếp chi Ráng đà hoa (Davallia Sm.) trong họ Davalliaceae
M Tagawa và Kiwatsuki (1985) khi nghiên cứu hệ thực vật của Thái Lan
trong công trình “Flora of Thailand” [16] đặt chi Ráng đà hoa (Davallia Sm.) trong
họ Davalliaceae Tác giả đã công bố trong khu vực nghiên cứu có 6 loài thuộc chi Ráng đà hoa có ở Thái Lan là: Davallia denticulata, Davallia divaricata, Davallia solida, Davallia trichomanoides, Davallia petelotii, Davallia corniculata
K U Kramer (1990) khi nghiên cứu về các loài thực vật có bào tử trên thế
giới trong công trình “The Families and Genera of Vascular Plants” [12], cũng đã xếp chi Ráng đà hoa (Davallia Sm.) trong họ Davalliaceae Theo quan điểm của tác giả này, các taxon thuộc về chi Humata Cav đều thuộc chi Ráng đà hoa (Davallia
Sm.) do có đặc điểm ổ túi bào tử có dạng hình cốc hay hình chén Đây là chi có đặc
điểm đặc trưng bởi thân chỉ thường có vẩy, không có lông, ổ túi bào tử có áo túi
Shieh, Wang-chueng, Devol, Charles and Yang, Tai-ying (1994) khi nghiên
cứu về hệ thực vật vùng lãnh thổ Đài Loan đã công bố công trình “Flora of Taiwan” [11] cũng xếp chi Ráng đà hoa (Davallia Sm.) vào họ Davalliaceae và công bố gồm
3 loài thuộc chi Ráng đà hoa có ở vùng nghiên cứu là: Davallia solida, Davallia mariesii, Davallia forrmosana
Smith Alan R.và cộng sự (2006) khi nghiên cứu về hệ thống của các nhóm thực vật bậc cao có mạch sinh sản bằng bào tử đã đưa ra quan điểm sắp xếp chi
Trang 104
Ráng đà hoa (Davallia Sm.) vào họ Ráng đà hoa (Davalliaceae) Tác giả cũng đã nhập cả các taxon thuộc chi Humata vào chi này do có đặc điểm ổ túi bào tử hình
cốc Đặc điểm ổ túi bào tử hình cốc là đặc điểm lớn, có khả năng nhận biết dễ dàng,
cho nên việc nhập Humata vào Davallia đƣợc nhiều tác giả nghiên cứu về sau sử
dụng
M Velayos, C Aedo, F Cabezas & M Estrella (2008) khi nghiên cứu hệ thực
vật vùng Guinea Ecuatoria trong “Flora de Guinea Ecuatoria”[21] đã công bố 2 loài là D denticulate và D repens có ở vùng nghiên cứu
Wang Fa-Guo, Chen Hong-Feng, and Xing Fu-Wu (2011) đã công bố thêm
một loài mới thuộc chi Ráng đà hoa từ Trung Quốc mang tên Davallia napoensis,
mẫu vật đƣợc thu từ tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc
Xing Fuwu, Wang Faguo & Hans P Nooteboom (2013) khi nghiên cứu hệ
thực vật Trung Quốc trong công trình thực vật chí Trung quốc trong “Flora of China” [22], tác giả đã công bố trong khu vực nghiêm cứu có 6 loài thuộc chi Ráng
đà hoa (Davallia Sm.) có mặt ở vùng nghiên cứu là Davallia denticulata, Davallia divaricata, Davallia solida, Davallia trichomanoides, Davallia sinensis, Davallia napoensis
Bên cạnh các công trình nghiên cứu về phân loại và hệ thống học, có một số
công trình nghiên cứu về chi Ráng đà hoa (Davallia Sm.) nhƣ:
- Chie Tsutsumi, Xian-Chun Zhang, Masahiro Kato (2008); Tsutsumi C & M Kato (2005) Các tác giả đã nghiên cứu các đặc điểm về sinh học phân tử của các taxon và xây dựng cây phát sinh chủng loại cho các loài thuộc họ Ráng đà hoa nói chung trong đó có chi Ráng đà hoa [10 và 20]
- Đặc điểm hình thái nhƣ cuống lá, bào tử cũng là những đặc điểm quan trọng đƣợc nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu Gần đây T Noraini, A.R Ruzi., N Nadiah, R.N Nis (2012) đã nghiên cứu đặc điểm giải phẫu của cuống lá ở các loài
Ráng đà hoa tại Malaixia trong công trình “Stipe Anatomical Characteristics in Some Davallia (Davalliaceae) Species in Malaysia” [14]
- Titien Ngatinem Praptosuwiryo, P C M Jansen (2003) Đã nghiên cứu về
giá trị sử dụng của các loài thuộc chi Davallia J E Smith trong công trình “Plant
Trang 115
Resources of South-East Asia, Cryptogams: Ferns and fern allies” Tác giả đã đưa
ra 5 loài có giá trị sử dụng thuộc chi Davallia ở khu vực Đông Nam á Bên cạnh
thông tin về nhận dạng loài, giá trị sử dụng của loài, tác giả cũng đưa ra một số thông tin về tình hình thương mại, gây trồng, và triển vọng phát triển chúng [19]
1 2 Ở Việt Nam
Người đầu tiên đề cập đến các loài thuộc chi Ráng đà hoa (Davallia Sm.) ở
Việt Nam là Tardieu-Blot and Christensen (1939) trong công trình Thực vật chí đại
cương Đông Dương “Flore Générale de L' Indo-Chine” [18], tác giả đã mô tả đặc điểm của chi Ráng đà hoa (Davallia Sm.) xây dựng khóa định loại và mô tả 5 loài
có ở Đông Dương cũng như có mặt ở Việt Nam là: Davallia petelotii, Davallia solida, Davallia lorrainii, Davallia divaricata, Davallia denticulata Trong công trình này tác giả xếp chi Davallia vào họ Davalliaceae
Trong công trình “Cây cỏ Việt Nam” [5] của Phạm Hoàng Hộ (1991), tác giả
đã tóm tắt đặc điểm nhận biết của 4 loài và thứ cùng hình ảnh sơ bộ kèm theo là
Davallia denticulata, Davallia divaricate var orientalis, Davallia solida var sinensis, Davallia lorrainii Trong công trình này, tác giả đã xếp các loài thuộc chi Humata thành chi riêng
Tiếp theo Phạm Hoàng Hộ (1999) trong công trình “Cây cỏ Việt Nam” được
tác bản có bổ sung [6], đã tóm tắt đặc điểm nhận biết của 13 loài và thứ cùng hình
ảnh sơ bộ kèm theo là Davallia denticulata, Davallia divaricate var orientalis, Davallia griffithiana, Davallia pectimata, Davallia repens, Davallia solida, Davallia trichomanoides, Davallia heterophylla, Davallia angustata, Davallia lorrainii, Davallia membranulosa, Davallia pulchra và D submarginata Riêng loài D submarginata chỉ đưa ra danh pháp mà không có bất cứ thông tin gì đưa ra Theo đó có chi Ráng đà hoa – Davallia được xếp vào họ Ráng đà hoa – Davalliaceae Theo quan điểm này, các loài thuộc chi Humata, Davalllodes, Araiostegia được tác giả chuyển sang chi Davallia nên đưa số loài ghi nhận của chi
Ráng đà hoa ở Việt Nam lên tới 13 loài Đây là công trình tương đối đầy đủ về thành phần loài, cho tới nay, đây vẫn là tài liệu quan trọng cho việc định loại sơ bộ
Trang 126
những loài thực vật có ở Việt Nam Tuy nhiên, cũng có nhiều hạn chế như chưa đưa
ra danh pháp của các taxon, không có tài liệu trích dẫn, không có mẫu nghiên cứu
Phan Kế Lộc (2001) trong “Danh lục các loài thực vật Việt Nam” [7] đã thống
kê sự có mặt của 8 loài thuộc chi Ráng đà hoa (Davallia Sm.) ở Việt Nam là Davallia denticulata, Davallia divaricata, Davallia griffithiana, Davallia pectimata, Davallia repens, Davallia solida, Davallia trichomanoides var lorrainii, Davallia heterophylla Theo tác giả, các loài thuộc chi Humata Cav được nhập vào chi Davallia Sm.; bên cạnh đó vẫn có sự tồn tại độc lập của chi Araistenogia, Davalloides do vậy số loài của chi Davallia chỉ có 8 loài Ngoài danh pháp được
đưa ra, tác giả cũng cung cấp thêm của một số thông tin về phân bố, dạng sống của cây, đặc điểm sinh thái và giá trị sử dụng
Cũng theo Phan Kế Lộc (2010) khi sắp xếp các taxon thuộc ngành Dương xỉ của Việt Nam theo hệ thống mới của J Smith và cộng sự năm (2006) (hệ thống được xây dựng có sự kết hợp giữa đặc điểm hình thái và đặc điểm về sinh học phân
tử) trong “J Fairylake Bot Gard.” [13] cũng vẫn giữ chi Ráng đà hoa – Davallia trong họ Davalliaceae Trong công trình này, tác giả vẫn giữ quan điểm năm 2001 chi Davallia bao gồm cả các taxon thuộc chi Humata, tổng số loài ghi nhận ở Việt
Nam là 8 loài Tuy nhiên công trình này chỉ đưa ra tên danh pháp của các loài mà không đưa ra bất kỳ thông tin gì thêm
Ngoài ra còn có một số công trình đề cập đến chi Ráng đà hoa (Davallia Sm.) dưới dạng tài nguyên như: Võ Văn Chi (2003) trong cuốn “Từ điển thực vật thông dụng” [3] đề cập tới chi Ráng đà hoa (Davallia Sm.) với 2 loài được ghi nhận làm thuốc là Davalli denticulata (Ráng đà hoa có răng), Davallia divaricata (Ráng đà
hoa chẻ)
Tuy Ráng đà hoa (Davallia Sm.) là một chi thực vật có nhiều loài có giá trị
nhưng cho đến nay các công trình nghiên cứu về chi này còn có các dẫn liệu vẫn chưa đầy đủ và thống nhất, đặc biệt là thông tin về phân bố, sinh thái, hình ảnh
minh họa, mẫu nghiên cứu,… Chính vì vậy công trình nghiên cứu: “Bước đầu
nghiên cứu phân loại chi Ráng đà hoa (Davallia Sm.) ở Việt Nam” của chúng tôi
Trang 137
hy vọng sẽ là công trình nghiên cứu phân loại một cách có hệ thống, cập nhật về chi
Ráng đà hoa (Davallia Sm.) ở Việt Nam
Trang 148
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
2 1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng: Các loài thuộc chi Ráng đà hoa (Davallia Sm.) ở Việt Nam, dựa
trên cơ sở mẫu vật và tài liệu
Tài liệu: Các tài liệu về phân loại chi Ráng đà hoa (Davallia Sm.) trên thế giới
và của Việt Nam, nhất là các chuyên khảo về phân loại học
Mẫu vật: Các mẫu vật thực vật thuộc chi Ráng đà hoa (Davallia Sm.) ở Việt
Nam, hiện được lưu giữ ở các phòng tiêu bản thực vật Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật (HN), Phòng tiêu bản thực vật thuộc trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Hà Nội (HNU)
Tổng số 112 số hiệu với hơn 123 tiêu bản mẫu nghiên cứu Việc phân tích mẫu vật được tiến hành tại Phòng tiêu bản thực vật thuộc Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật với 30 số hiệu và hơn 32 tiêu bản; phòng tiêu bản thực vật trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Hà Nội (HNU) với 38 số hiệu và hơn 39 tiêu bản; phòng tiêu bản thực vật, Viện Sinh học nhiệt đới Tp Hồ Chí Minh (HN) với 44 số hiệu và 52 tiêu bản (là ảnh chụp)
Bên cạnh đó, tôi đã tham khảo thêm một số tiêu bản ở internet
2 2 Phạm vi nghiên cứu:
- Phạm vi nghiêm cứu: Các loài thuộc chi Ráng đà hoa (Davallia Sm.) phân bố
khắp cả nước
- Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 7 năm 2015 – tháng 5 năm 2016
2 3 Nội dung nghiên cứu
2.3.1 Xác định vị trí và lựa chọn hệ thống phân loại phù hợp để sắp xếp các loài Ráng đà hoa (Davallia Sm.)
2.3.2 Đặc điểm phân loại của chi Ráng đà hoa (Davallia Sm.) ở Việt Nam: Điều tra nghiên cứu thực địa để thu thập mẫu vật và các thông tin về phân bố, sinh
Trang 152.4 Phương pháp nghiên cứu
Để nghiên cứu phân loại về chi Ráng đà hoa (Davallia Sm.) ở Việt Nam,
chúng tôi sử dụng phương pháp sau:
2.4.1.Phương pháp kế thừa:
Kế thừa các tài liệu về chi Ráng đà hoa (Davallia Sm.) đã được công bố, đặc
biệt là các công trình về phân loại học Bên cạnh đó, tìm hiểu thêm những công trình về giá trị tài nguyên, tình trạng hiện tại của các loài Ráng đà hoa, để nhằm mục tiêu tìm hiểu về đặc điểm sinh học, sinh thái, tình trạng của loài
2.5.2 Phương pháp hình thái so sánh:
Đây là phương pháp cổ điển nhưng cho tới nay vẫn là phương pháp chính và phổ biến nhất Phương pháp này dựa trên đặc điểm cấu tạo bên ngoài các cơ quan của thực vật, quan trọng nhất là cơ quan sinh sản vì đặc điểm của nó liên quan chặt chẽ với bộ mã di truyền và ít biến đổi bởi tác động của môi trường Việc so sánh dựa trên nguyên tắc chỉ so sánh các cơ quan tương ứng với nhau trong cùng một giai đoạn phát triển (cây trưởng thành so sánh với cây trưởng thành, ổ túi bào tử so sánh với ổ túi bào tử, bào tử so sánh với bào tử, ) (phương pháp theo Nguyễn Nghĩa Thìn, 2007) [8]
2.4.3 Các bước tiến hành
Để hoàn thành tốt nội dung nghiên cứu, chúng tôi thực hiện công việc ở ngoài thực địa (ngoại nghiệp) cũng như trong phòng thí nghiệm (nội nghiệp) Chúng tôi
Trang 1610
đã sử dụng các phương tiện hỗ trợ nghiên cứu như máy ảnh, kính hiển vi và các tài liệu tham khảo
Công tác ngoại nghiệp: Được thực hiện trong các chuyến đi thực địa nhằm thu
thập mẫu vật, chụp ảnh, quan sát và ghi chép các đặc điểm của mẫu ở trạng thái tươi, quan sát về phân bố, môi trường sống và các đặc điểm khác Trong quá trình nghiên cứu khóa luận, tôi đã được tham gia các chuyến đi thực địa như Trạm Đa dạng sinh học Mê Linh (Vĩnh Phúc), VQG Tam Đảo (Vĩnh Phúc), VQG Cát Bà (Hải Phòng),… Tuy nhiên, do đặc trưng của các loài thuộc chi Ráng đà hoa
(Davallia Sm.) thường sống trong rừng nguyên sinh, phụ sinh trên cây gỗ và thường
là những nơi có độ ẩm cao, vì vậy tôi vẫn chưa thu thập được loài ngoài thực địa Các mẫu vật nghiên cứu trong khóa luận là mẫu hiện đang được lưu trữ tại các phòng tiêu bản HN, HNU, HM
Công tác nội nghiệp: Được tiến hành trong phòng thí nghiệm, bao gồm việc
xử lý, phân tích và bảo quản mẫu vật Tại đây, các mẫu vật được phân tích, chụp ảnh, vẽ hình và mô tả, sau đó dựa vào các bản mô tả gốc và mẫu vật chuẩn (nếu có), các chuyên khảo, các bộ thực vật chí (nhất là của Việt Nam và các nước lân cận) để phân tích, so sánh và định loại
Các bước tiến hành nghiêm cứu phân loại chi Ráng đà hoa – Davallia được
tiến hành theo các bước như sau:
Bước 1: Tổng hợp, phân tích các tài liệu trong và ngoài nước về chi Ráng đà
hoa (Davallia Sm.) Từ đó lựa chọn hệ thống phân loại phù hợp với việc phân loại chi này ở Việt Nam
Bước 2: Phân tích, định loại các mẫu vật thuộc chi Ráng đà hoa (Davallia
Sm.) hiện có
Bước 3: Tham gia các chuyến điều tra, nghiên cứu thực địa để thu thêm mẫu,
tìm hiểu thêm về sinh thái học, sự phân bố và các thông tin có liên quan khác
Bước 4: Tổng hợp kết quả nghiên cứu, mô tả các đặc điểm chung của chi, xây
dựng khoá định loại, mô tả các phân chi và các loài, chỉnh lý phần danh pháp theo luật danh pháp quốc tế và cuối cùng hoàn chỉnh các nội dung khoa học khác của đề tài
Trang 1711
Soạn thảo chi và các loài dựa theo quy ước quốc tế về soạn thảo thực vật và quy phạm soạn thảo thực vật chí Việt Nam, thứ tự như sau:
Thứ tự soạn thảo chi: Tên khoa học chính thức kèm theo tên tác giả công bố
tên gọi, tên Việt Nam thường dùng, trích dẫn lại tên tác giả công bố tên khoa học, năm công bố, tài liệu công bố, số trang, tài liệu chính và các tài liệu ở Việt Nam đề cập đến, các tên đồng nghĩa (nếu có), tên Việt Nam khác (nếu có), mô tả, loài typ của chi, ghi chú (nếu có)
Thứ tự soạn thảo loài: Tên khoa học chính thức kèm theo tên tác giả công bố
tên gọi, tên Việt Nam thường dùng, trích dẫn lại tên tác giả công bố tên khoa học, năm công bố, tài liệu công bố, số trang, tài liệu chính và các tài liệu ở Việt nam đề cập đến, tên đồng nghĩa gốc (nếu có), các tên đồng nghĩa (nếu có), tên Việt Nam khác (nếu có), mô tả, địa điểm thu mẫu chuẩn (Loc class.), mẫu vật chuẩn (Typus) kèm theo nơi bảo quản (theo quy ước quốc tế), sinh học và sinh thái, phân bố, mẫu nghiên cứu, giá trị sử dụng, ghi chú (nếu có)
Cách mô tả: Mô tả liên tục những đặc điểm cơ bản theo nguyên tắc truyền tin
ngắn gọn, theo trình tự từ cơ quan dinh dưỡng (dạng sống, lá, thùy ) đến cơ quan sinh sản (ổ bào tử, túi bào tử và bào tử)
Để xây dựng bản mô tả cho một loài, chúng tôi tập hợp các số liệu đã phân tích về loài đó sau đó so sánh với tài liệu gốc, các chuyên khảo và mẫu typ (nếu có),
từ đó xác định các tiêu chuẩn và dấu hiệu định loại cho loài Bản mô tả chi được xây dựng trên cơ sở tập hợp các bản mô tả của các loài trong chi Nếu bản mô tả này có sự khác biệt so với tài liệu gốc và các tài liệu khác (thường do số loài trong chi ở mỗi tài liệu khác nhau), chúng tôi sẽ có những ghi chú bổ sung
Xây dựng khoá lưỡng phân: Trong phạm vi của đề tài này, chúng tôi lựa chọn
cách xây dựng khoá lưỡng phân kiểu song song hay có dấu ngoặc, cách làm được tiến hành như sau:Từ tập hợp các đặc điểm mô tả cho các taxon, chọn ra cặp các tập hợp đặc điểm đối lập và xếp chúng vào hai nhóm (các đặc điểm được chọn phải ổn định, dễ nhận biết và thể hiện tính chất phân biệt giữa các taxon) Sau lại tiếp tục chọn ra cặp đặc điểm đối lập và xếp chúng vào hai nhóm khác, cứ tiếp tục như vậy
đến khi phân biệt hết các taxon
Trang 1812
Danh pháp: của các taxon được chỉnh lý theo luật danh pháp quốc tế hiện hành và theo Quy phạm soạn thảo thực vật chí Việt Nam [2]
Địa điểm theo mẫu chuẩn (Loc Class.), mẫu vật chuẩn (Typus): Dựa vào tài
liệu gốc, mẫu vật chuẩn và các chuyên khảo, được trích dẫn theo quy ước quốc tế
Sinh học và sinh thái: Trình bày theo khả năng thông tin hiện có (được thu
thập thông qua tài liệu và mẫu vật) Dữ liệu sinh học bao gồm các thông tin về thời gian ra hoa và quả là chủ yếu… Dữ liệu về sinh thái là những thông tin về nơi sống, khả năng thích ứng, loại hình sinh thái thích hợp (như ven biển, đồi trọc, rừng rậm thường xanh …), độ cao so với mực nước biển
Phân bố: Bao gồm phân bố ở Việt Nam và trên thế giới
- Phân bố ở Việt Nam: Căn cứ vào mẫu vật và tài liệu thu được để xác định Các tỉnh được trích dẫn theo thứ tự từ Bắc vào Nam và từ Tây sang Đông theo quy ước soạn thảo thực vật chí Việt Nam
- Phân bố trên thế giới: Được xác định căn cứ vào tài liệu và trích dẫn theo quy phạm soạn thảo thực vật chí Việt Nam
Mẫu nghiên cứu: Được xác định căn cứ vào những mẫu vật đã nghiên cứu,
trích dẫn kèm theo trình tự địa điểm thu mẫu và theo quy phạm soạn thảo thực vật chí Việt Nam
Giá trị sử dụng: Được xác định thông qua tài liệu và điều tra thực địa, bao
gồm giá trị khoa học (loài đặc hữu, loài quý hiếm, nguồn gen độc đáo), giá trị kinh
tế (làm thực phẩm, làm thuốc,…) và hiện trạng nguồn lợi (theo sách đỏ, theo các tài liệu tham khảo khác)
Ghi chú: Nêu những ý kiến còn tranh cãi, những bổ sung của tác giả (nếu có)
để lưu ý
Trang 2014
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3 1 Hệ thống phân loại và vị trí chi Ráng đà hoa (Davallia Sm.)
Sau khi phân tích các hệ thống phân loại chi Ráng đà hoa (Davallia Sm.) và họ
Ráng đà hoa (Davalliaceae), tham khảo các công trình thực vật chí ở các nước trên thế giới cũng như ở Việt Nam, chúng tôi thấy hệ thống phân loại chi Ráng đà hoa
(Davallia Sm.) là tương đối đồng nhất ở hầu hết các tác giả nghiên cứu Hầu hết các
tác giả đều đưa ra hệ thống từ chi phân loại trực tiếp đến các loài mà không qua các bậc trung gian như nhánh, phân chi
Quan điểm: Xếp chi Davallia vào họ Ráng đà hoa (Davalliaceae) Đi theo
quan điểm này là các tác giả như Tardieu-Blot and Christensen (1939), M Tagawa and Kiwatsuki (1985), Kramer K U in K Kubitzki, (1990) Shieh, Wang-chueng, Devol, Charles and Yang, Tai-ying (1994), Phạm Hoàng Hộ (1991 và 1999),…
Quan điểm xếp chi Davallia vào họ Ráng đà hoa (Davalliaceae) hiện được hầu hết các tác giả nghiên cứu về chi Ráng đà hoa (Davallia Sm.) sử dụng để sắp xếp chi và các loài Vì vậy, trong khi nghiên cứu về chi Ráng đà hoa (Davallia Sm.) ở
Việt Nam, chúng tôi cũng đi theo quan điểm này Theo đó chi Ráng đà hoa được
xếp vào họ Ráng đà hoa (Davalliaceae) bao gồm cả các taxon của chi Humata Theo quan điểm hệ thống này chi Ráng đà hoa (Davallia Sm.) ở Việt Nam có
Trang 2115
3.2 Đặc điểm hình thái chi Ráng đà hoa (Davallia Sm.) ở Việt Nam:
DAVALLIA Sm – RÁNG ĐÀ HOA
J E Smith, 1793 1793 Mem Acad Turin 5: 414; Tardieu-Blot & Christ 1939
Fl Gen Indoch 7(2): 103; Ching R C 1959 Fl Reip Pop Sin 2: 297; M Tagawa
& K Iwatsuki, 1985 Fl Thail 3(2): 157; P K Loc, 2003 Checkl Pl Sp Vietn 1:
987
– HUMATA Cav 1802 Descr PL 272; Ching R C 1959 Fl Reip Pop Sin 2:
306
3.2.1 Dạng sống: Cỏ, thân dạng thân rễ, sống nhiều năm, thường bám trên đá hay
bì sinh trên cây Thân rễ bò, kích thước ngắn hay dài thay đổi theo từng loài Trên thân có vảy dày đặc
Hình thái của vảy trên thân rất đa dạng: vảy dạng thuôn mũi giáo (D denticulata, D divarcata, D griffithiana), hình thoi (D repens), hình kim (D denticulata, D divarcata), do phần đính gốc của vảy thường nằm sâu trong phiến vảy nên tạo thành kiểu hình lọng thuôn mũi giáo hay hình khiên (D solida, D trichomanoides, D griffithiana, D pectimana), hiếm khi có kiểu hình khiên có đuôi kéo dài (D griffithiana)
Trang 2216
Hình 3.1: Một số dạng vảy trên thân của chi Davallia Sm
1 vảy hình lọng thuôn hay hình thuôn mũi giáo; 2 vảy hình khiên gốc rộng (D
solida, D trichomanoides); 3 vảy hình khiên có đuôi (D griffithiana); 4-5 vảy
hình khiên thuôn (D repens); 6 vảy hình kim (D divarcata)
(hình vẽ theo W C Shieh, C E Devol và C M Kuo, 1994)
Vảy thường màu vàng nâu hay nâu đen; trên vảy có lông (D solida, D divarcata, D., denticulate), có gai dạng gai thịt (D trichomanoides), có răng (D denticulate) hay không có lông (D heterophylla, D denticulate,…); có đường viền quanh mép (D pectinata) hay không có (D solida, D trichomanoides, D griffithiana); có gân giả (D denticulata) hay không có gân (D divarcata); thường
vảy có nhiều hình dạng trên cùng một loài Có hay không có sáp trắng ở dưới vẩy
3.2.2 Lá: Lá dài; cuống lá dài, nhẵn bóng, màu xanh xám (chủ yếu) (D
denticulata, D divarcata, D solida, D repens, D pectimana), màu xanh nhạt (D trichomanoides), màu vàng nâu (D denticulata, D divarcata, D solida), màu nâu
đo đỏ (D griffithiana, D heterophylla), màu nâu đậm (D heterophyta); cuống lá
thường có vảy giống ở thân hay vảy có kích thước nhỏ hơn trên thân, có thể không
có vảy trên thân (D denticulate, D pectinata, D solida, D trichomanodes); phiến
lá, nhẵn, hình tam giác (D denticulata, D trichomanoides, D solida, D griffithiana, D repens), hình ngũ giác (D trichomanoides), chóp nhọn, chủ yếu là không lông, hiếm khi có lông rải rác ở mặt dưới (D trichomanoides)
Trang 2317
Hình 3.2 Một số dạng lá của chi Davallia Sm
1 lá hình ngũ giác, xẻ thùy nhiều lần (D trichomanoides); 2 lá hình tam giác, chia
thùy một lần (D pectinata)
(Hình Đỗ Thị Xuyến, 2014)
Lá có cấu tạo phức tạp, chia thùy kép lông chim, có thể kép lông chim 1 lần
khá đơn giản (D pectinata, D heterophylla), nhưng cũng có khi chia thùy 3-4 lần phức tạp (D trichomanoides, D denticulata,…) Đôi khi cùng một loài và cùng một cây lá có hai loại với hình dạng và kích thước khác nhau (D heterophylla)
+ Lá chia thùy lông chim một lần tạo thành các thùy Thùy thường cũng sẻ thùy nông hay sâu thùy loài
+ Lá chia thùy lông chim nhiều lần tạo thành thùy cấp 1, thùy cấp 2, thùy cấp
3 (tương ứng) Thùy cấp 1, 2, 3 cũng xẻ sâu đến 1/2 hoặc gần như đến gân giữa tạo
các thùy lá
Trang 2418
Hình 3.3 Cấu tạo lá chia thùy nhiều lần của chi Davallia Sm
3.2.3: Ổ túi bào tử: Ổ túi bào tử có kích thước nhỏ, thường nằm ở đỉnh của gân
phụ của thùy lá chét, tạo thành các đường liên tục (D pectinata, D repens) hay tách thành từng đoạn (D denticulate, D trichomanoides,…); nằm ở sát mép lá (D denticulata, D repens, D pectinata) hay cách mép lá khoảng 0,2-0,4 mm (D divaricata, D solida) Ổ túi bào tử thường có dạng hình chén cốc (D solida, D denticulate, D heterophyta, D trichomanoides, D divaricata), hình chén nông (D repens, D grifithiana) hay gần hình chén lệch như hình vỏ sò (D pectinata); luôn
có áo túi
Trang 2519
1 2 3
Hình 3.4 Một số hình dạng của ổ túi bào tử của chi Davallia Sm
1 Ổ túi bào tử ở hình chén lệch như hình vỏ sò (D pectinata); 2 Ổ túi bào tử hình chén nông (D grifithiana); 3 Ổ túi bào tử hình cốc có túi bào tử khi chín (D
trichomanodes)
3.2.4 Túi bào tử: hình cầu (D divaricata, D solida) hay hình trứng (D
heterophyta); thường có cuống dài đa bào; vòng cơ là một vòng không liên tục,
thẳng với cuống, mang các tế bào sẫm màu
3.2.5: Bào tử: Hình trứng ngược (D denticulata, D heterophyta) hay gần hình
cầu (D divaricata, D solida) hay hình thận (D divaricata, D solida, D trichomanoides); màu vàng nhạt hay không màu
Trang 2620
Hình 3.5 Một số dạng túi bào tử của chi Davallia Sm
1 Túi bào tử hình cầu (D denticulata, D solida) (Hình Đỗ Thị Xuyến, 2014); 2
Túi bào tử hình cầu và bào tử hình thận (D divaricata, D solida, D
trichomanoides); 3 Túi bào tử hình trứng ngược và bào tử hình cầu (D pectinata,
D griffithiana) (Theo Đỗ Huy Bích và cộng sự, 2004)
Typus: D canariensis (L.) Sm
Chi Ráng đà hoa (Davalia Sm.) có khoảng trên 12 loài phân bố chủ yếu ở các
nước nhiệt đới và cận nhiệt đới Việt Nam hiện biết có 8 loài, phân bố rải rác trong
cả nước
Trang 2721
3 3 Khoá định loại các loài thuộc chi Ráng đà hoa (Davallia Sm.)
1A Vảy trên thân có gai 3 D trichomanoides
1B Vảy trên thân không có gai
2A Ổ túi bào tử hình cốc
3A Túi bào tử hình trứng ngược; lá có hai loại khác nhau về hình dạng và
kích thước 8 D heterophyta
3B Túi bào tử hình cầu, lá chỉ có một loại giống nhau về hình dạng và kích
thước
4A Bào tử hình cầu; vảy trên thân không có lông 1 D denticulata
4B Bào tử hình thận; vảy trên thân không có lông
5A Ổ túi bào tử ở sát mép lá 4 D solida 5B Ổ túi bào tử ở sát mép lá 2 D divaricata
2B Ổ túi bào tử không có dạng hình cốc, thường hình chén nông hay có dạng hình chén lệch như hình vỏ sò 6A Ổ túi bào tử hình chén nông
7A Lá chia thùy kép lông chim 1 lần; ổ túi bào tử nằm sát nhau liên tục; vảy
trên thân hình thoi là chủ yếu 7 D repens
7B Lá chia thùy kép lông chim nhiều hơn 2 lần; ổ túi bào tử nằm gián đoạn; vảy trên thân hình lọng, nhiều khi tạo thành hình lọng có đuôi
5 D griffithiana 6B Ổ túi bào tử hình chén lệch như hình vỏ sò 6 D pectinata
Trang 2822
3 4 Đặc điểm phân loại các loài thuộc chi Ráng đà hoa (Davallia Sm.) ở Việt
Nam
3.4.1 Davallia denticulata (Burm f.) Mett ex Kuhn – Ráng đà hoa răng
Mett ex Kuhn 1867 Fil Deck : 27 ; Tardieu-Blot & Christ 1939 Fl Gen Indoch 7(2): 107; Ching R C 1959 Fl Reip Pop Sin 2: 298; M Tagawa & K Iwatsuki,
1985 Fl Thail 3(2): 160; Phamh 1991 Illustr Fl Vietn 1: 247 f 665; id 1999
op cit 200 f 800; P K Loc, 2003 Checkl Pl Sp Vietn 1: 987
– Adiantum denticulatum Burm f 1768 Fl Ind.: 236
– Trichomanes denticulatum Hultt 1783 Hist 14: 212 1 100 f 2
– Davallia elegans Sw 1801 Schrad Journ Bot 1800(2): 87
– Trichomanes elegans Poir 1808 Encycl 8: 79
– Humata elegans Desv 1827 Prodr 324
– Parestia elegans Presl 1849 Epim Bot 99
– Vẩy lợp, Huỳnh xà
Đặc điểm: Cỏ nhiều năm, thân rễ bám dài, đường kính 3-15 mm, không có sáp
trắng, thân rễ có vảy bao phủ dày đặc; vảy màu nâu hoặc đỏ nâu hay nâu đậm, với đường viền xanh-xám từ gốc tới đỉnh hoặc hiếm khi không có đường viền xanh xám; vảy hình kim, hình lọng thuôn hay hình khiên; kích thước dài 4-8 mm, rộng 0,5-1,5mm, gốc rộng có thể tạo thành dạng có tai, tai có thể tới 5 x 0,2 mm, mép có lông mịn và đôi khi có răng nhưng răng không được rõ ràng Lá có cuống xanh xám hay nâu đỏ, không có vảy, thường nhẵn bóng, dài đến 15-17 cm Phiến lá hình tam giác hay hình tam giác-trái xoan, dài khoảng 30-50 cm, chóp nhọn, chia thùy 3-4 lần kép, không lông Lá chét cấp 1 mọc so le, những lá ở gốc có cuống dài cách nhau một khoảng 4 cm, hình tam giác Lá chét cấp 2 mọc so le khá xa nhau Lá chét cấp 3 hình tam giác thuôn, có cuống ngắn, xẻ thùy sâu đôi khi sâu hơn cả ½ chiều dài của lá chét, các thùy cuối cùng hình dải tù ở gốc Ổ túi bào tử nằm ở giữa hai răng của lá, đỉnh của gân phụ thùy lá chét, riêng biệt hoặc tách riêng thành từng đoạn, hình cốc dài khoảng 1 mm; có áo túi Túi bào tử hình cầu, kích thước 0,7 x
Trang 2923
0,4 mm, cuống túi gồm nhiều tế bào; vòng cơ thẳng từ gốc của túi Bào tử hình cầu, màu vàng nhạt, có chấm đỏ không rõ rệt
Loc class.: Indonesia, Java.; Holotypus: Pryon sine num (G)
Sinh học và hình thái: Có bào tử tháng 5-8 Cây trung sinh; chịu hạn và ưa nơi
ít bị che bóng; thường bám trên cây gỗ hay đá (granit, phiến sét, đá vôi…) ẩm và giàu mùn, đôi khi cả trên đất và trong rừng rậm thường xanh hay nửa rụng lá khác nhau, thường ở độ cao 0-600m
Phân bố: Khá rộng, ở một số vùng núi thấp của Lào Cai, Quảng Trị, Khánh
Hòa (dãy núi Co Inh gần Nha Trang; Hòn Tre), Ninh Thuận (Phan Rang: Cà Ná), Bình Dương (Lái Thiêu), Đồng Nai (Biên Hòa, Bảo Chánh), Bà Rịa-Vũng Tàu (núi Dinh gần Bà Rịa; Côn Đảo), Tây Ninh và Kiên Giang (đảo Phú Quốc) Còn gặp ở Trung Quốc, Lào, Campuchia cũng như nhiều vùng khác thuộc xứ hệ thực vật cổ nhiệt đới của Châu Úc và Châu Đại Dương
Mẫu nghiên cứu: LÀO CAI, Petelot 8272 (HM) _ QUẢNG TRỊ, P K Lộc,
N Q Hiếu, P V Thế CRC 2786 _ KHÁNH HÒA, Poilane 4538 (HM) _ NINH THUẬN, Poilane 5807 & 5807 (HM)– BÌNH DƯƠNG, Thorel 1546 (HM) _ ĐỒNG NAI, Pierre 5778 (HN) _ TÂY NINH, Pierre 5780 (HM)
Giá trị sử dụng: Nhân gian dùng thân rễ làm thuốc trị ban chẩn và rắn cắn [3]
Trang 3024
Hình 3.6 Davallia denticulata (Burm f.) Mett ex Kuhn
1 hình dạng chung; 2 ổ túi bào tử ở mặt sau của lá
(Hình vẽ theo Võ Văn Chi, 2003)
Trang 3125
Ảnh 5 Davallia denticulata (Burm f.) Mett ex Kuhn
1 một phần của lá mang ổ túi bào tử (http://www.daovien.net/t8904p110-topic);
2 dạng chung; 3 mặt trên của lá; 4 ổ túi bào tử ở mặt sau của lá
(Ảnh T T Thúy chụp mẫu CRC 2786-HNU)
Trang 3226
3.4.2 Davallia divaricata (C Chr ex Wu) Tard & C Chr – Ráng đà hoa quả
Blume 1828 En Pl Jav 237; Tardieu-Blot & Christ 1939 Fl Gen Indoch 7(2): 107; M Tagawa & K Iwatsuki, 1985 Fl Thail 3(2): 161; P K Loc, 2003 Checkl
Pl Sp Vietn 1: 987 non Dunn & Tutch, 1912
– Davallia polyantha Hook 1846 Sp 1: 168 tab 59A
– Microlepia polyantha Fée 1850-1852 Gen 327
– Davallia orientalis C Christ apud Wu 1903 Bull Dept Biol Coll Sci Sun
Yatsen Univ 3: 104 tab 43; Auct 1972 Icon Corn Sin 1: 144
– Davallia formosana Hay 1911 Journ Coll Sci Univ Tokyo: 430; Ching R C
1959 Fl Reip Pop Sin 2: 301
– Davallia divaricata var orientalis Tardieu-Blot & Christ 1939 Fl Gen Indoch
7(2): 107; Phamh 1991 Illustr Fl Vietn 1: 248 f 666; id 1999 op cit 201 f
805
– Araiostegia divaricata (Blume) Kato 1975 Acta Phytotax Geobot 26: 158
– Ráng đà hoa chẻ, Ráng đà hoa to
Đặc điểm: Cỏ nhiều năm, thân rễ bám dài, bò lan rộng, đường kính 10-15 mm,
không có sáp trắng, phủ nhiều vảy xếp lợp; vảy màu hung hay vàng nâu, không có viền xanh xám, hình lọng thuôn hay thuôn mũi giáo, hình kim, thường rất hẹp về phía đỉnh, kích thước 6-15 x 1,5-2 mm, có lông mảnh Lá có cuống dài từ 15-30 (đôi khi tới 60) cm, màu vàng hay xanh xám, nhẵn bóng, gốc có vảy rất nhỏ rải rác,
có rãnh dọc Phiến dài hơn cuống, xanh đậm, dày và cứng, hình tam giác thuôn, không lông, chia thùy 3-4 lần hình lông chim; lá chét ở gốc rộng nhất Lá chét hình tam giác Lá chét cấp 2 có cuống dài Ổ túi bào tử nhỏ, tận cùng có một gân-phụ, thường cách mép lá 0,2-0,4 mm, tồn tại riêng rẽ hoặc phân thành từng đoạn, nổi rõ
ở mặt trên của lá, hình cốc dài, kích thước 1,2 x 0,6-0,7 mm; có áo túi Túi bào tử nhỏ, hình cầu, vòng cơ thẳng với gốc Bào tử hình thận, màu vàng nhạt hay không màu, bề mặt hơi sần sùi
Loc class.: Indonesia, Java
Sinh học và hình thái: Mùa ra bào tử tháng 5-10 Cây trung sinh; chịu hạn và ít
ánh sáng; thường bám trên cây gỗ, có khi trên đá (granit, đá vôi…) ẩm và giàu mùn,