Khi bóng đèn huỳnh quang này bị hư hỏng, chúng sẽ trở thành mối hiểm họa đối với môi trường và sức khỏe con người nếu chúng không được xử lý đúng cách.. Vấn đề đặt ra là cần phải xử lý n
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
CHUYÊN NGÀNH KINH TẾ TÀI NGUYÊN MÔI TRƯỜNG
Thành phố Hồ Chí MinhTháng 07/2014
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH
Trang 3Hội đồng chấm báo cáo khoá luận tốt nghiệp đại học Khoa Kinh tế, trường Đại Học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh xác nhận khoá luận “Ứng dụng công cụ ký thác hoàn trả trong quản lý bóng đèn huỳnh quang hỏng tại Thành phố Hồ Chí Minh”
do Hà Thị Thu Hậu, sinh viên khoá 2011 – 2015, ngành Kinh Tế Tài Nguyên Môi Trường, đã bảo vệ thành công trước hội đồng vào ngày _
TS Đặng Minh PhươngNgười hướng dẫn
Ngày tháng năm
Chủ tịch hội đồng chấm báo cáo Thư ký hội đồng chấm báo cáo
_ _ Ngày tháng năm Ngày tháng năm
Trang 4LỜI CẢM TẠ
Lời đầu tiên, con xin gửi những dòng tri ân đến Ba Mẹ và gia đình, những người đã sinh thành, nuôi nấng và tạo mọi điều kiện cho con có được ngày hôm nay
Xin cảm ơn toàn thể quý thầy cô trường Đại học Nông Lâm TP.HCM, đặc biệt
là quý thầy cô Khoa Kinh Tế, đã truyền dạy cho em những kiến thức quý báu trong suốt thời gian qua
Đặc biệt xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy Đặng Minh Phương, người đã nhiệt tình hướng dẫn, truyền đạt nhiều kiến thức mới, bổ ích cũng như những kinh nghiệm quý báu giúp em hoàn thành luận văn tốt nghiệp này
Cảm ơn các Cô Chú, Anh Chị công tác tại Sở Tài Nguyên và Môi Trường TP.HCM, đặc biệt là anh Phùng Hoàng Vân công tác tại Phòng Quản lý Chất thải rắn và chị Phan Anh Thư công tác tại Quỹ Tái Chế, đã tạo điều kiện thuận lợi cũng như giúp đỡ em trong suốt thời gian thực tập tại đơn vị
Gửi lời cảm ơn tới bạn bè tôi, những người đã giúp đỡ tôi về mặt tinh thần, cũng như đóng góp ý kiến để tôi hoàn thành luận văn này
Tôi đã nỗ lực và cố gắng hết mình để hoàn thành luận văn này Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện luận văn, do hạn chế về kiến thức cũng như kinh nghiệm còn yếu kém nên không tránh khỏi những sai lầm và thiếu sót Kính mong quý thầy cô, anh chị và các bạn đóng góp ý kiến để tôi hoàn thành luận văn này tốt hơn
Xin chân thành cảm ơn!
Sinh viên
HÀ THỊ THU HẬU
Trang 5NỘI DUNG TÓM TẮT
HÀ THỊ THU HẬU Tháng 07 năm 2014 “Ứng Dụng Công Cụ Ký Thác Hoàn Trả Trong Quản Lý Bóng Đèn Huỳnh Quang Hỏng Tại Thành Phố Hồ Chí Minh”.
HA THI THU HAU July 2014 “Applying Deposit Refund System in Managing Broken Flourescent Lamps at Ho Chi Minh City”.
Đề tài hướng đến mục tiêu chính là xây dựng chính sách quản lý bóng đèn huỳnh quang hỏng tại TP.HCM bằng công cụ ký thác hoàn trả Sau khi cung cấp thông tin về tác hại của thủy ngân trong bóng đèn huỳnh quang và giới thiệu về công cụ ký thác hoàn trả cho người dân, đề tài đã xác định được mỗi người dân sống tại TP.HCM sẵn lòng ký thác trung bình 3.000VNĐ/bóng khi mua mỗi bóng đèn huỳnh quang và mức hoàn trả để đạt được tỷ lệ thu gom bóng đèn 100% là 2.000VNĐ/bóng Để rút ngắn một giai đoạn trung gian trong quá trình thu gom bóng đèn huỳnh quang hỏng, đề tài đã đề xuất xây dựng một công ty nhà nước để đảm nhận nhiệm vụ quản lý tiền ký thác hoàn trả kiêm xử lý bóng đèn huỳnh quang Tính toán được NPV= 11,12 tỷ VNĐ (trong 50 năm hoạt động, với suất chiết khấu 8%) và BCR = 1,06, do đó khi công ty này hoạt động sẽ mang lại lợi ích cho xã hội
Dự án tái chế bóng đèn huỳnh quang không chỉ mang lại lợi ích kinh tế cho xã hội tính bằng tiền là 512 triệu/năm mà còn có lợi ích làm giảm tình trạng sụt giảm IQ ở thai nhi.
Trang 6MỤC LỤC
Trang
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC CÁC BẢNG vii
DANH MỤC CÁC HÌNH vii
DANH MỤC PHỤ LỤC ix
CHƯƠNG 1 1
CHƯƠNG 2 4
CHƯƠNG 3 18
CHƯƠNG 4 28
CHƯƠNG 5 61
TÀI LIỆU THAM KHẢO 63
PHỤ LỤC 77
Trang 7DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 3.1 Các Biến Đưa Vào Mô Hình và Kỳ Vọng Dấu 27
Bảng 4.2 Tổng Quan về Bóng Đèn Huỳnh Quang Tuyến Tính Thông Dụng 28
Bảng 4.3 Thống Kê Tỷ Lệ Bóng Đèn Hỏng Theo Thời Gian Sử Dụng 29
Bảng 4.4 Thống Kê Số Bóng Đèn Huỳnh Quang Hỏng trong Từng Chu Kỳ 30
Bảng 4.5 Độ Tuổi Của Người Được Phỏng Vấn 36
Bảng 4.6 Đánh Giá Tầm Quan Trọng của DRS 39
Bảng 4.7 Phản Ứng Của Người Dân khi Được Hỏi với Các Mức Giá 39
Bảng 4.8 Lý Do Tham Gia Ký Thác 40
Bảng 4.9 Lý Do Không Tham Gia Ký Thác 41
Bảng 4.10 Kết Quả Ước Lượng Mô Hình 41
Bảng 4.11 Kiểm Tra Kỳ Vọng Dấu 42
Bảng 4.12 Mức Độ Phù Hợp của Mô Hình 42
Bảng 4.13 Thống Kê Mô Tả Các Biến 43
Bảng 4.14 Khảo Sát Ý Kiến Người Dân Về Các Mức Ký Thác Hoàn Trả 43
Bảng 4.15 Địa Điểm Trao Trả Bóng Đèn Huỳnh Quang và Nhận Tiền Ký Thác 45
Bảng 4.16 Các Hạng Mục Công Trình trong Khu Đất Của Nhà Máy 50
Bảng 4.17 Tiền Lương Trả cho Nhân Viên 51
Bảng 4.18 Chi Phí Đầu Tư Dự Án Ban Đầu 53
Bảng 4.19 Chi Phí Phát Sinh Trong Thời Gian Hoạt Động 53
Bảng 4.20 Ngân Lưu Thu Gọn Của Dự Án 55
Bảng 4.21 Những Yếu Tố Phát Thải Khí Nhà Kính 59
Bảng 4.22 Giảm Phát Thải Khí Nhà Kính 59
Bảng 4.23 Ảnh Hưởng của Thủy Ngân Hữu Cơ đến Sức Khỏe Thai Nhi 60
DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang 9Trang
Hình 2.1 Ống Phóng Điện 9
Hình 2.2 Cấu Tạo Bên Trong của Một Bóng Đèn Huỳnh Quang 9
Hình 2.3 Con Chuột 10
Hình 2.4 Tăng Phô 11
Hình 4.5 Thống Kê Tổng Số Bóng Đèn Huỳnh Quang Sử Dụng trong Từng Hộ 29
Hình 4.6 Bóng Đèn Hỏng bị Vứt Bỏ Chung Cùng Rác Thải Sinh Hoạt 30
Hình 4.7 Bóng Đèn Huỳnh Quang Thải tại Trường Học với Số Lượng Lớn 31
Hình 4.8 Số Người Từng Nghe Qua Tác Hại của Thủy Ngân trong Bóng Đèn 32
Hình 4.9 Đánh Giá Mức Gây Hại của Thủy Ngân trong Bóng Đèn Huỳnh Quang 33
Hình 4.10 Thu Gom Bóng Đèn Huỳnh Quang trong Ngày Hội Tái Chế Lần V 35
Hình 4.11 Giới Tính Của Người Được Phỏng Vấn 36
Hình 4.12 Trình Độ Học Vấn Của Người Được Phỏng Vấn 37
Hình 4.13 Nghề Nghiệp Của Người Được Phỏng Vấn 37
Hình 4.14 Thu Nhập Của Người Được Phỏng Vấn 38
Hình 4.15 Sự Hiểu Biết về DRS 38
Hình 4.16 Sơ Đồ Vận Hành và Trao Trả Bóng Đèn Huỳnh Quang Hỏng 45
Hình 4.17 Hệ Thống Tái Chế Bóng Đèn MP6000 47
Hình 4.18 Nguyên Lý Hoạt Động Của Hệ Thống Tái Chế Bóng Đèn MP6000 48
Hình 4.19 Bản Đồ Khu Công Nghiệp Tân Tạo Mở Rộng, Tỷ Lệ 1/2000 49
Hình 4.20 Sơ Đồ Tổ Chức của Công Ty 51
Trang 10DANH MỤC PHỤ LỤC
Phụ lục 1 Bảng Câu Hỏi Phỏng Vấn
Phụ lục 2 Bảng Kết Xuất Mô Hình Hồi Quy Logit
Phụ lục 3 Kiểm Định Mức Phù Hợp của Mô Hình
Phụ lục 4 Giá và Lệ Phí của Khu Công Nghiệp Tân TạoPhụ lục 5 Chi Tiết Chi Phí Xây Dựng
Phụ lục 6 Ngân Lưu Dự Án Chi Tiết
Trang 11mà còn đóng góp không nhỏ trong giảm thiểu biến đổi khí hậu Tuy nhiên, mỗi bóng đèn huỳnh quang có chứa khoảng 5 mi - li - gam thuỷ ngân Mặc dù, đây chỉ là một lượng nhỏ, nhưng 5 mi - li - gam thuỷ ngân đủ để nhiễm bẩn khoảng 22680 lít nước uống, theo khuyến cáo của Cơ quan bảo vệ môi trường Hoa Kỳ (EPA) Khi bóng đèn huỳnh quang này bị hư hỏng, chúng sẽ trở thành mối hiểm họa đối với môi trường và sức khỏe con người nếu chúng không được xử lý đúng cách EPA nghiên cứu và công bố những ảnh hưởng nghiêm trọng của thủy ngân đối với sức khỏe con người, môi trường và động vật như sau:
Đối với sức khỏe con người: Tiếp xúc thuỷ ngân ở lượng thấp (dưới 5 mi - li - gam) có thể gây ra các hiện tượng run, thay đổi tính tình, bị mất ngủ, mệt mỏi cơ bắp, và chứng nhức đầu Và nếu tiếp xúc lâu dài có thể dẫn đến chứng đần độn, thay đổi nhân cách, điếc, mất trí nhớ…
Mối nguy hiểm đối với môi trường và động vật: Thủy ngân có thể rò rỉ vào hệ thống nước hoặc trôi nổi trong không khí cho tới bề mặt của các lớp đất, do đó chất thủy
Trang 12ngân độc hại hiện diện ở: những con cá mà chúng ta ăn và nguồn nước mà chúng ta uống Các loại thức ăn và nước uống dùng cho chăn nuôi cũng có thể bị ô nhiễm thủy ngân và sau đó con người lại ăn thịt động vật bị nhiễm chất thủy ngân.
Hiện nay theo quy định tại thông tư 12/2011/TT-BTNMT thì bóng đèn huỳnh quang là chất thải nguy hại loại 2 sao (**) có mã 16 01 06, mã Basel tương đương là A1030 và cần phải được thu gom xử lý bởi đơn vị có đủ chức năng Vấn đề đặt ra là cần phải xử lý những bóng đèn huỳnh quang hỏng như thế nào để giảm thiểu ảnh hưởng của thủy ngân tới sức khỏe con người cũng như môi trường sống và động vật? Do đó, việc thực hiện đề tài “Áp dụng công cụ ký thác – hoàn trả trong quản lý bóng đèn huỳnh quang hỏng tại TP.HCM” nhằm tìm ra hướng giải quyết vấn đề trên
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Ứng dụng công cụ ký thác hoàn trả trong quản lý bóng đèn huỳnh quang hỏng tại Thành phố Hồ Chí Minh
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Phân tích hiện trạng sử dụng bóng đèn huỳnh quang của hộ gia đình tại TP.HCM
- Xác định mức ký thác, hoàn trả thích hợp
- Xây dựng chính sách quản lý bóng đèn huỳnh quang hỏng bằng công cụ ký thác hoàn trả
- Đánh giá hiệu quả của hệ thống ký thác hoàn trả trong quản lý bóng đèn huỳnh quang hỏng
1.3 Phạm vi nghiên cứu
1.3.1 Phạm vi không gian
Phạm vi nghiên cứu của đề tài được giới hạn trong địa bàn TP.HCM
1.3.2 Phạm vi thời gian
Đề tài được tiến hành nghiên cứu từngày 17/03/2014 đến ngày 14/07/2014
1.3.3 Giới hạn nghiên cứu
Bóng đèn huỳnh quang hỏng là chất thải nguy hại quy định trong Quyết định 23/2006/QĐ-BTNMT: Danh mục chất thải nguy hại do Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành, thuộc diện bắt buộc phải xử lý của các doanh nghiệp, công ty nhưng
Trang 13không bao gồm hộ gia đình, trường học, cơ quan hành chính, trung tâm mua sắm, Do thời gian và nhân lực hạn chế, đề tài chỉ nghiên cứu đối tượng là hộ gia đình tại TP.HCM, tại các 3 quận là quận Thủ Đức, quận 9, quận Bình Thạnh.
1.4 Bố cục luận văn
Luận văn bao gồm 5 chương
Chương 1 Mở Đầu
Chương này trình bày lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu cũng như tóm tắt bố cục của luận văn
Chương 2 Tổng quan
Chương này trình bày các nội dung sau: tổng quan về địa bàn nghiên cứu, tài liệu nghiên cứu, tổng quan về bóng đèn huỳnh quang, phương pháp CVM và công thức Kaseke
Chương 3 Nội dung và phương pháp nghiên cứu
Chương này bao gồm cơ sở lý luận và nội dung nghiên cứu:
Phần cơ sở lý luận đề cập đến một số khái niệm như: khái niệm về CTNH, DRS Trình bày các phương pháp nghiên cứu như: Phương pháp thu thập số liệu, phương pháp thống
kê mô tả, phương pháp CVM
Chương 4 Kết quả và thảo luận
Chương này trình bày các kết quả đạt được trong quá trình nghiên cứu bao gồm: phân tích hiện trạng sử dụng bóng đèn huỳnh quang của hộ gia đình tại TP.HCM, xác định mức ký thác, hoàn trả thích hợp, từ đó xây dựng chính sách quản lý bóng đèn huỳnh quang hỏng bằng công cụ DRS và cuối cùng là đánh giá hiệu quả của hệ thống DRS khi áp dụng để quản lý bóng đèn huỳnh quang hỏng
Chương 5 Kết luận và kiến nghị
Chương này trình bày phần kết luận và kiến nghị Kết luận nhằm tóm tắt những kết quả đạt được trong chương 4 còn kiến nghị nhằm đưa ra những ý kiến đóng góp cho việc áp dụng công cụ DRS vào quản lý bóng đèn huỳnh quang hỏng có hiệu quả hơn
Trang 14CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN
2.1 Tổng quan về các tài liệu nghiên cứu
Luận văn “Ứng dụng công cụ ký thác hoàn trả vào quản lý rác thải từ vỏ chai nhựa nước giải khát tại TP.HCM” của Bùi Tiến Đạt (2010) với mục tiêu chính là xây dựng chính sách quản lý rác thải từ vỏ chai nhựa nước giải khát tại TP.HCM bằng công cụ ký thác hoàn trả Đề tài sử dụng phương pháp đánh giá ngẫu nhiên và công thức Kaseke đã tính toán ra được rằng trung bình mỗi người dân sinh sống, làm việc tại TP.HCM sẵn lòng ký thác 2.250VNĐ cho mỗi chai nước giải khát mà họ mua và được nhận lại 2.000VNĐ/chai nếu như họ mang trả lại chai nước đã sử dụng xong về bất kì cửa hàng bán nước giải khát nào Sau khi xác định được mức giá ký thác và hoàn trả phù hợp, để tài tiến hành xây dựng chính sách quản lý rác thải từ vỏ chai nhựa nước giải khát tại TP.HCM Trong đó đã nêu lên được cách thức ký thác cũng như nhận tiền hoàn trả cho người tiêu dùng Bên cạnh đó đề tài cũng xác định được mức hoa hồng cho mỗi mức trung gian là 150VNĐ/chai Từ đó tính toán được lợi ích ròng của toàn xã hội khi chính sách đi vào hoạt động là 13,65 tỷ VNĐ/tháng
2.2 Tổng quan về Thành phố Hồ Chí Minh
2.2.1 Điều kiện tự nhiên
a) Vị trí địa lí
TP.HCM có tọa độ 10°10' – 10°38' Bắc và 106°22' – 106°54' Đông, phía bắc giáp tỉnh Bình Dương, Tây Bắc giáp tỉnh Tây Ninh, Đông và Đông Bắc giáp tỉnh Đồng Nai, Đông Nam giáp tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Tây và Tây Nam giáp tỉnh Long
An và Tiền Giang Nằm ở miền Nam Việt Nam, TP.HCM cách Hà Nội 1.730 km theo đường bộ, trung tâm thành phố cách bờ biển Đông 50 km theo đường chim bay Với vị trí tâm điểm của khu vực Đông Nam Á, TP.HCM là một đầu mối giao thông quan
Trang 15trọng về cả đường bộ, đường thủy và đường không, nối liền các tỉnh trong vùng và còn
là một cửa ngõ quốc tế
b) Địa hình
Nằm trong vùng chuyển tiếp giữa miền Đông Nam Bộ và đồng bằng sông Cửu Long, địa hình thành phố thấp dần từ Bắc xuống Nam và từ Tây sang Đông Vùng cao nằm ở phía bắc - Đông Bắc và một phần Tây Bắc, trung bình 10 đến 25 mét Xen kẽ
có một số gò đồi, cao nhất lên tới 32 mét như đồi Long Bình ở quận 9 Ngược lại, vùng trũng nằm ở phía nam - Tây Nam và Ðông Nam thành phố, có độ cao trung bình trên dưới 1 mét, nơi thấp nhất 0,5 mét Các khu vực trung tâm, một phần các quận Thủ Đức, quận 2, toàn bộ huyện Hóc Môn và quận 12 có độ cao trung bình, khoảng 5 tới
10 mét
c) Khí hậu
TP.HCM nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa cận xích đạo.Cũng như các tỉnh ở Nam Bộ, đặc điểm chung của khí hậu – thời tiết TP.HCM là nhiệt độ cao đều trong năm và có hai mùa mưa – khô rõ rệt Mùa mưa được bắt đầu từ tháng 5 tới tháng 11 (khí hậu nóng ẩm, nhiệt độ cao mưa nhiều), còn mùa khô từ tháng 12 tới tháng 4 năm sau (khí hậu khô mát, nhiệt độ cao vừa mưa ít) Trung bình, TP.HCM có 160 tới 270 giờ nắng một tháng, nhiệt độ trung bình 27°C, cao nhất lên tới 40°C, thấp nhất xuống 13,8°C Hàng năm, thành phố có 330 ngày nhiệt độ trung bình 25 tới 28°C Lượng mưa trung bình của thành phố đạt 1.949mm/năm Một năm, ở thành phố có trung bình
159 ngày mưa, tập trung nhiều nhất vào các tháng từ 5 tới 11, chiếm khoảng 90%, đặc biệt hai tháng 6 và 9 Trên phạm vi không gian thành phố, lượng mưa phân bố không đều, khuynh hướng tăng theo trục Tây Nam – Ðông Bắc Các quận nội thành và các huyện phía bắc có lượng mưa cao hơn khu vực còn lại
d) Thủy văn
Nằm ở vùng hạ lưu hệ thống sông Ðồng Nai - Sài Gòn, TP.HCM có mạng lưới sông ngòi kênh rạch rất đa dạng Sông Ðồng Nai Bắt nguồn từ cao nguyên Lâm Viên, hợp lưu bởi nhiều sông khác, có lưu vực lớn, khoảng 45.000km² Với lưu lượng bình quân 20–500m³/s, hàng năm cung cấp 15 tỷ m³ nước, sông Đồng Nai trở thành nguồn nước ngọt chính của thành phố Sông Sài Gòn bắt nguồn từ vùng Hớn Quản, chảy qua Thủ Dầu Một đến TP.HCM, với chiều dài 200 km và chảy dọc trên địa phận thành phố
Trang 16dài 80 km Sông Sài Gòn có lưu lượng trung bình vào khoảng 54m³/s, bề rộng tại thành phố khoảng 225m đến 370m, độ sâu tới 20m Nhờ hệ thống kênh Rạch Chiếc, hai con sông Đồng Nai và Sài Gòn nối thông ở phần nội thành mở rộng Một con sông nữa của TP.HCM là sông Nhà Bè, hình thành ở nơi hợp lưu hai sông Đồng Nai và Sài Gòn, chảy ra biển Đông bởi hai ngả chính Soài Rạp và Gành Rái Trong đó, ngả Gành Rái chính là đường thủy chính cho tàu ra vào bến cảng Sài Gòn Ngoài các con sông chính, TP.HCM còn có một hệ thống kênh rạch chằng chịt: Láng The, Bàu Nông, rạch Tra, Bến Cát, An Hạ, Tham Lương, Cầu Bông, Nhiêu Lộc-Thị Nghè, Bến Nghé, Lò Gốm, Kênh Tẻ, Tàu Hũ, Kênh Ðôi Hệ thống sông, kênh rạch giúp TP.HCM trong việc tưới tiêu, nhưng do chịu ảnh hưởng dao động triều bán nhật của biển Ðông, thủy triều thâm nhập sâu đã gây nên những tác động xấu tới sản xuất nông nghiệp và hạn chế việc tiêu thoát nước ở khu vực nội thành.
2.2.2 Tình hình xã hội
a) Dân số
Theo tổng cục thống kê, dân số bình quân trên địa bàn thành phố năm 2013 ước hiện có 7.990,1 ngàn người, tăng 2,5% so với năm 2012; khu vực thành thị là 6.591,9 ngàn người, chiếm 82,5% trong tổng dân số, tăng 2,7% so năm trước
Sự phân bố dân cư ở TP.HCM không đồng đều Trong khi một số quận như 4, 5,10 và 11 có mật độ lên tới trên 40.000 người/km², thì huyện ngoại thành Cần Giờ có mật độ tương đối thấp 98 người/km² Về mức độ gia tăng dân số, trong khi tỷ lệ tăng
tự nhiên khoảng 10,04‰, thì tỷ lệ tăng cơ học lên tới 15,42‰ Những năm gần đây dân số các quận trung tâm có xu hướng giảm, trong khi dân số các quận mới lập vùng ven tăng nhanh, do đón nhận dân từ trung tâm chuyển ra và người nhập cư từ các tỉnh đến sinh sống
Tính đến 30/11, trên địa bàn thành phố còn khoảng 18.542 hộ nghèo với 81.709 nhân khẩu, chiếm tỷ lệ 1,02% tổng số hộ dân, ước cả năm 2013 tỷ lệ này đạt 0,8%
Quỹ giảm nghèo đến ngày 30/11 có 260,1 tỷ đồng, đang trợ vốn cho 31.519 hộ nghèo và 165 cơ sở sản xuất kinh doanh thu nhận 1.820 lao động nghèo với tổng số tiền 214,2 tỷ đồng
b) Y tế
Trang 17TP.HCM, với dân số đông, mật độ cao trong nội thành, cộng thêm một lượng lớn dân vãng lai, đã phát sinh nhu cầu lớn về y tế và chăm sóc sức khỏe Các tệ nạn xã hội, như mại dâm, ma túy, tình trạng ô nhiễm môi trường gây ảnh hưởng lớn tới sức khỏe dân cư thành phố Những bệnh truyền nhiễm phổ biến ở các nước đang phát triển như sốt rét, sốt xuất huyết, tả, thương hàn hay các bệnh của những quốc gia công nghiệp phát triển, như tim mạch, tăng huyết áp, ung thư, tâm thần, bệnh nghề nghiệp đều xuất hiện ở TP.HCM Tuổi thọ trung bình của nam giới ở thành phố là 71,19, con
số ở nữ giới là 75,00
Năm 2013, Ngành Y tế Thành phố ước thực hiện khám và điều trị cho khoảng
31 triệu lượt bệnh nhân, tăng 14,8% so với cùng kỳ năm 2012 Tổng số lượt bệnh nhân điều trị nội trú gần 1,4 triệu lượt bệnh nhân, tăng 6,1 % so với cùng kỳ năm 2012
c) Giáo dục
Về mặt hành chính, Sở Giáo dục TP.HCM chỉ quản lý các cơ sở giáo dục từ bậc mầm non tới phổ thông Các trường đại học, cao đẳng phần lớn thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo Việt Nam Hệ thống các trường từ bậc mầm non tới trung học trải đều khắp thành phố Trong khi đó, những cơ sở xóa mù chữ, phổ cập giáo dục tập trung chủ yếu vào bốn huyện ngoại thành Củ Chi, Bình Chánh, Nhà Bè, Cần Giờ Các trường ngoại ngữ ở TP.HCM không chỉ giảng dạy những ngôn ngữ phổ biến mà còn một trường dạy quốc tế ngữ, một trường dạy Hán Nôm, bốn trường dạy tiếng Việt cho người nước ngoài TP.HCM hiện nay cũng có 40 trường quốc tế do các lãnh sự quán, công ty giáo dục đầu tư
Giáo dục bậc đại học, trên địa bàn thành phố có trên 80 trường, đa số do Bộ Giáo dục và Đào tạo quản lý, trong đó chỉ có 2 trường đại học công lập (Trường đại học Sài Gòn vàTrường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch) do thành phố quản lý Là thành phố lớn nhất Việt Nam, TP.HCM cũng là trung tâm giáo dục bậc đại học lớn bậc nhất, cùng với Hà Nội Đại học Quốc gia TP.HCM với 6 trường đại học thành viên Nhiều đại học lớn khác của thành phố như Đại học Kiến trúc, Đại học Y Dược, Đại học Ngân hàng, Đại học Luật, Đại học Kinh tế đều là các đại học quan trọng của Việt Nam Trong số học sinh, sinh viên đang theo học tại các trường đại học, cao đẳng của thành phố, 40% đến từ các tỉnh khác của quốc gia
Trang 182.2.3 Kinh tế
Theo tổng cục thống kê, tổng sản phẩm trong nước (GDP) năm 2013 trên địa bàn tăng 9,3% so năm trước, cao hơn mức tăng 9,2% của năm 2012 Giá trị tăng thêm khu vực nông lâm thủy sản đạt 7.769 tỷ đồng, chiếm 1,02% GDP, tăng 5,6% Giá trị tăng thêm của khu vực công nghiệp và xây dựng đạt 310.641 tỷ đồng chiếm 40,6% GDP, tăng 7,4% Giá trị tăng thêm khu vực dịch vụ đạt 446.151 tỷ đồng chiếm 58,4% GDP tăng 10,7% Thu ngân sách năm 2013 ước đạt 229.514 tỷ đồng, đạt 100% dự toán, tăng 8,2% so cùng kỳ
Thành phố đã thu hút lao động, giải quyết việc làm 293,2 ngàn lượt người, vượt 10,6% kế hoạch năm, tăng 1,47% so với năm 2012 Số chỗ việc làm mới được tạo ra trong năm là 123 ngàn, vượt 2,5% kế hoạch năm, tăng 0,06% so với năm trước Trong năm 2013 (tính từ 02/01 đến 06/12), trên địa bàn thành phố có 117,6 ngàn người lao động đến Trung tâm giới thiệu việc làm thành phố đăng ký thất nghiệp, giảm 15,6% so với năm 2012 Có 104,9 ngàn người nộp hồ sơ hưởng bảo hiểm thất nghiệp 104,2 ngàn người đã nhận quyết định hưởng trợ cấp thất nghiệp, giảm 12,9% so cùng kỳ, số tiền chi trả trợ cấp thất nghiệp là 1.174 tỷ đồng Số người được tư vấn, giới thiệu việc làm là 154,8 ngàn người; Số người được hỗ trợ học nghề là 4,9 ngàn người, với số tiền
hỗ trợ 870 triệu đồng
Giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản năm 2013 đạt 14.633,5 tỷ đồng, tăng 5,7% so với năm trước Giá trị sản xuất nông nghiệp đạt 10.742,1 tỷ đồng, tăng 4,6%; trong đó trồng trọt tăng 5,4%, chăn nuôi tăng 4% Diện tích gieo trồng cây hàng năm ước đạt 44.371 ha, tăng 6,7% so năm trước Giá trị sản xuất lâm nghiệp 132,1 tỷ đồng,tăng 5,6% Tổng diện tích đất lâm nghiệp 36.727 ha, trong đó diện tích đất có rừng là 34.411 ha, đạt tỉ lệ che phủ là 16,4% Sản lượng gỗ khai thác 19.825 m3, tăng 22,1%; sản lượng củi 3.871 Ste Giá trị sản xuất thuỷ sản ước đạt 3.759 tỷ đồng, tăng 9,6% Sản lượng thuỷ sản ước đạt 52.163,5 tấn tăng 5,3%
Trang 19Về hành chính, Hội đồng Nhân dân thành phố, với các đại biểu được bầu cử trực tiếp nhiệm kỳ 5 năm, có quyền quyết định các kế hoạch phát triển dài hạn về kinh
tế, văn hóa, giáo dục của thành phố Đứng đầu Hội đồng Nhân dân gồm một Chủ tịch, một Phó chủ tịch và một Uỷ viên thường trực Hội đồng Nhân dân chịu sự giám sát và hướng dẫn hoạt động của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, chịu sự hướng dẫn và kiểm tra của Chính phủ trong việc thực hiện các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên theo quy định của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội
2.3 Tổng quan về bóng đèn huỳnh quang
2.3.1 Cấu tạo của bóng đèn huỳnh quang
Cấu tạo chung của một đèn huỳnh quang bao gồm: Ống phóng điện; hai điện cực; hệ thống mồi phóng điện
a) Ống phóng điện
Ống phóng điện: là một ống thủy tinh dài (10cm-120cm), bên trong ống được bơm khí trơ Argon và một lượng thủy ngân thích hợp Trên thành ống có phủ một lớp huỳnh quang (hợp chất phosphor)
Hình 2.1 Ống Phóng Điện
Nguồn: Nguyễn Văn Thọ, 2003
b) Hai điện cực
Hai điện cực là hai dây tóc được làm bằng kim loại hay hợp kim có công thoát nhỏ thường làm bằng vonlfram có pha một số tạp chất khác nhằm giảm công thoát và nâng cao tuổi thọ của bóng đèn
Hình 2.2 Cấu Tạo Bên Trong của Một Bóng Đèn Huỳnh Quang
Trang 20Nguồn: Nguyễn Văn Thọ, 2003
c) Hệ thống mồi phóng điện
(1) Starter (“Con chuột”)
Cấu tạo gồm một cặp điện cực và một tụ điện Cặp điện cực được đặt trong mộtống thủy tinh bơm đầy khí neon Cặp điện cực và tụ điện được mắc song song vớinhau, hai dây nối được nối ra ngoài với hai nút kim loại Cả ống thủy tinh và tụ
điện đều được đặt trong một hộp nhựa hình trụ
Hình 2.3 Con Chuột
Nguồn: Nguyễn Văn Thọ, 2003(2) Ballast (Chấn lưu hay Tăng phô):
Trang 21Một cuộn dây quấn quanh một lõi sắt có thiết kế đặc biệt.
Hình 2.4 Tăng Phô
Nguồn: Nguyễn Văn Thọ, 2003
2.3.2 Nguyên lý hoạt động của đèn huỳnh quang
Đèn huỳnh quang là dạng đèn phóng điện trong môi trường khí Sự phóng điện trong môi trường khí không giống như trong dây dẫn, vì để có được sự phóng điện trong ống đòi hỏi phải có một hiệu điện thế hay điện áp ban đầu đủ lớn giữa hai điện cực để tạo ra hồ quang điện kích thích sự phát sáng Do vậy, bóng đèn cần phải mồi phóng điện nhờ hai bộ phận là chấn lưu hay còn gọi là tăng phô (Ballast) và tắc te (Starter)
- Chấn lưu: Chấn lưu được mắc nối tiếp với hai đầu điện cực, có tác dụng điều chỉnh và ổn định tần số của dòng điện Nó là một cuộn dây cảm kháng có tác dụng duy trì độ tự cảm tức là điện áp rơi trên nó để điện áp trên bóng luôn khoảng từ 80 -140V
- Tắc te: Tắc te được mắc song song với hai đầu điện cực Bản chất của nó là một
tụ điện dùng rơle nhiệt lưỡng kim, bên trong chứa khí neon Khi có dòng điện đi qua, hai cực của nó tích điện đến một mức nào đó thì phóng điện Nó có tác dụng khởi động đèn ban đầu
Khi bật công tắc, lúc này điện áp giữa hai đầu cực là 220V chưa đủ lớn để phóng điện Khi đó, vì tắc te mắc song song với bóng đèn nên nó cũng có điện áp là 220V và đóng vai trò như con mồi sẽ phóng điện khiến hai mạch của nó nóng lên chạm vào nhau khép kín mạch điện
Tuy nhiên, sau một lúc nó sẽ bị nguội đi và co lại gây hở mạch đột ngột Khi đó cuộn chấn lưu sẽ bị mất điện áp và sẽ sinh ra một suất điện động chống lại sự mất của
Trang 22dòng điện ban đầu Lúc này trên hai điện cực của đèn có điện áp bằng tổng điện áp trên chấn lưu cộng với điện áp đầu vào là 220V gây ra một tổng điện áp khoảng 350V đến 400V giữa hai điện cực bóng đèn (tùy vào đèn bị lão hóa, đen đầu nhiều hay ít) Khi đó, nó sẽ tạo thành một nguồn điện cao nung nóng dây tóc bóng đèn, phát xạ ra các hạt electron di chuyển trong ống với vận tốc cao từ đầu này đến đầu kia Trên đường vận động, chúng va chạm vào các phân tử khí trơ làm phóng ra nhiều các hạt ion hơn.
Quá trình này tỏa nhiệt sẽ làm thủy ngân trong ống hóa hơi Khi các electron và ion di chuyển trong ống, chúng sẽ va chạm vào các nguyên tử khí thủy ngân Những
va chạm này sẽ làm các nguyên tử thủy ngân phát xạ ra các photon ánh sáng cực tím tức là các tia tử ngoại mà mắt thường không thấy được Do đó, loại ánh sáng này cần phải được chuyển đổi thành ánh sáng nhìn thấy để thắp sáng bóng đèn và đây chính là nhiệm vụ của lớp huỳnh quang trong ống
Khi những tia cực tím này va chạm vào mặt trong bóng đèn, nó sẽ làm cho các nguyên tử phốt pho giải phóng ra các hạt photon dạng tia hồng ngoại với ánh sáng trắng mắt thường có thể thấy được mà không sinh ra nhiệt lượng lớn Các nhà sản xuất
có thể thay đổi màu sắc của ánh sáng bằng cách sử dụng các hợp chất huỳnh quang khác nhau
Đồng thời, khi đèn đã sáng lên, chấn lưu lại có nhiệm vụ giảm điện áp lên bóng đèn, duy trì ở mức 80 - 140V tùy theo từng loại đèn Tắc te lúc này không còn tác dụng vì điện áp đặt lên hai đầu tắc te nhỏ hơn điện áp hoạt động của nó và đèn sáng liên tục
2.3.3 Ưu, nhược điểm của bóng đèn huỳnh quang
a) Ưu điểm
Bóng đèn huỳnh quang có 4 ưu điểm chính, đó là:
- Hiệu quả chiếu sáng cao
- Tuổi thọ cao
- Độ sáng lớn hơn
- Nhiệt độ thấp hơn
b) Nhược điểm
Bóng đèn huỳnh quang có 4 nhược điểm chính, đó là:
Trang 23- Thường xuyên bật tắt điện sẽ làm bóng đèn mau hỏng.
- Độ sáng không ổn định (nhấp nháy) làm ảnh hưởng tới mắt
- Phát thải một lượng nhỏ tia cực tím
- Thủy ngân trong bóng đèn huỳnh quang khi bị bể sẽ thoát ra bên ngoài môi trường, gây hại tới hệ sinh thái và sức khỏe con người
Dù có không ít nhược điểm nhưng có thể nói bóng đèn huỳnh quang vẫn là thiết
bị chiếu sáng phổ rộng và ưa chuộng nhất hiện nay Tùy vào mục đích sử dụng, người
sử dụng có thể sử dụng bóng đèn huỳnh quang ở những mục đích thích hợp như chiếu sáng đường phố, công viên, cây xanh, phòng khách
Nguyên lý hoạt động của bóng compact giống như đèn tuýp nên có tên huỳnh quang compact Đường kính bóng giảm xuống bằng ngón tay người lớn (T3) Để giảm
độ dài, bóng được uốn thành hình chữ U Tùy theo công suất mà mỗi bóng được cấu tạo nhiều hay ít chữ U Tăng phô (chấn lưu) của bóng được thay thế bằng những linh kiện điện tử đặt gọn phía trong đui đèn, nên đui của bóng compact to và dài hơn đui bóng đèn sợi đốt
2.4 Tổng quan về phương pháp nghiên cứu:
2.4.1 Tổng quan về phương pháp đánh giá ngẫu nhiên (CVM)
Theo Callan (2000) khi dữ liệu thị trường không có sẵn hoặc không đáng tin cậy cho việc quyết định giá một loại hàng hóa nào đó, các nhà kinh tế có thể áp dụng các phương pháp thay thế khác dựa vào việc xây dựng một thị trường giả định Thông qua thị trường giả định đó, các nhà nghiên cứu có thể thăm dò mức sẵn lòng trả (WTP) hay sẵn lòng nhận đền bù (WTA) của các cá nhân cho một sự thay đổi trong chất lượng môi trường Cách tiếp cận dựa vào số liệu khảo sát để ước lượng các lợi ích hay thiệt hại của một sự thay đổi chất lượng môi trường được gọi là phương pháp đánh giá ngẫu nhiên, gọi là “ngẫu nhiên” vì các kết quả phụ thuộc hoặc thay đổi theo các điều kiện khác nhau được đưa ra trong thị trường giả định
Phương pháp CVM thường được sử dụng trong các lĩnh vực như: Chất lượng nước, chất lượng không khí, những nơi có hoạt động vui chơi giải trí (như câu cá, săn bắn…) mà do một dự án nào đó sắp được triển khai gây ảnh hưởng đến chúng, việc bảo tồn các khu rừng tự nhiên, các khu vực hoang dã, bảo tồn đa dạng sinh học, bảo tồn loài (Bowker và Stoll (1988) đã ước lượng rằng các cá nhân có thể trả 22$/năm để
Trang 24bảo tồn loài sấu châu Mỹ, Boyle và Bishop (1987) chỉ ra rằng các cá nhân sẽ trả 11$/năm để bảo tồn đại bàng trọc…) và những rủi ro đối với sức khỏe cộng đồng…Phương pháp CVM sẽ thích hợp hơn khi vùng nghiên cứu có những đặc điểm sau: những sự thay đổi chất lượng môi trường không gây ảnh hưởng trực tiếp lên năng suất, sản lượng…, khó theo dõi một cách trực tiếp sở thích của người dân, khu vực lấy mẫu
là tiêu biểu, quan tâm, am hiểu tầm quan trọng của nghiên cứu và có sự nhận thức cao
về vấn đề đang nghiên cứu…
2.4.2 Tổng quan về công cụ ký thác hoàn trả (DRS)
a) Phạm vi áp dụng DRS
Công cụ này được áp dụng đối với các sản phẩm bền lâu hoặc là có thể sử dụng lại hoặc là không bị tiêu hao, tiêu tán trong quá trình tiêu dùng (như bao bì đồ uống, pin, lốp xe,…); các sản phẩm sau khi sử dụng có khả năng gây ô nhiễm môi trường nhưng có thể xử lý, tái chế hoặc tái sử dụng; các sản phẩm làm tăng lượng chất thải, cần bãi chứa chất thải quy mô và tốn nhiều chi phí tiêu hủy, công cụ còn được áp dụng cho các chất có nguy cơ tiềm tàng về phá hủy môi trường như CFC,…
b) Ưu điểm của DRS
Trên thực tế, công cụ DRS tỏ ra hiệu quả hơn là các hệ thống tự nguyện hoàn trả trong việc thu gom chất thải nhờ vào những kích thích kinh tế
- Làm giảm đáng kể lượng chất thải cần xử lý; ngăn chặn sự vứt bỏ bất hợp lý và trái pháp luật các chất thải gây ô nhiễm môi trường làm ảnh hưởng đến đời sống của sinh vật, con người và mỹ quan; giảm thiểu lượng chất thải phát tán bừa bãi vào môi trường mà không thể thu gom lại được toàn bộ
- Thúc đẩy quá trình tái sinh, tái sử dụng chất thải vào các mục đích có lợi khác hoặc quá trình tái chế các dòng phế liệu, từ đó làm giảm tốc độ và số lượng khai thác tài nguyên đồng thời làm giảm chi phí nguyên vật liệu cho các đơn vị sản xuất
- Tạo công ăn việc làm cho những người thu gom và tái chế chất thải
- Một cách lý thuyết, hệ thống này là có hiệu quả vì chúng không đòi hỏi sự giám sát và sự can thiệp của các cơ quan nhà nước Phần lớn việc quản lý thuộc về các khu vực tư nhân, tạo ra động lực khuyến khích cho các bên thứ ba tham gia vào dịch vụ thu gom, tái chế hoặc tái sử dụng chất thải
c) Đánh giá hiệu quả của hệ thống DRS
Trang 25Để đánh giá tính hiệu quả của DRS có thể dựa vào mức độ thay đổi trạng thái đối ứng của người tiêu dùng trong việc trả lại sản phẩm sau sử dụng (%QR) theo từng mức ký thác - hoàn trả (%DR) Mối tương quan giữa hai yếu tố nay được thể hiện thông qua hệ số co giãn El (Elasticity), được tính toán dựa theo công thức: (Nyasha Kaseke, 2003, trang 14):
Xảy ra 2 trường hợp của El:
Khi El = 0 (xảy ra khi %QR = 0): điều này có nghĩa là người tiêu dùng sẽ không đem trả lại chất thải cho dù tỷ lệ ký quỹ hoàn trả là bao nhiêu Đây là trường hợp không mong muốn của nhà quản lý, vì như vậy hệ thống DRS thất bại hoàn toàn (không thực hiện được mục tiêu giải quyết vấn đề môi trường do tỷ lệ thu gom không đạt)
Khi El > 0: nghĩa là có sự trả lại chất thải từ phía người tiêu dùng (QR ≠ 0) Khi
đó có 2 trường hợp xảy ra:
0 < El < 1 (khi % QR < % DR): điều này có nghĩa là mức độ gia tăng tỷ lệ trả lại sản phẩm sau khi sử dụng so với gia tăng tỷ lệ hoàn trả/ ký thác chưa tương ứng Trong trường hợp này, việc sử dụng công cụ DRS để kích thích tỷ lệ thu gom chất thải gặp nhiều trở ngại
Trang 26Trên thực tế có thể có nhiều lý do tác động nên El chỉ nằm trong khoảng từ 0 đến dưới 1 Tuy nhiên những người hoạch định chính sách có thể lựa chọn giá trị El lớn nhất để có thể đạt được, đồng thời có giải pháp điều chỉnh phù hợp trong quá trình thực hiện DRS
El ≥ 1 (khi % QR ≥ DR): điều này có nghĩa là mức độ gia tăng tỷ lệ trả lại sản phẩm sau sử dụng nhanh hơn so với gia tăng tỷ lệ hoàn trả/ ký thác Các cơ quan quản lý thường mong muốn và cố gắng đạt được trạng thái co giãn này, khi đó việc áp dụng công cụ DRS cho thấy có ảnh hưởng tốt lên tỷ lệ thu gom phế phẩm, là cơ sở cho việc thực thi công cụ DRS trong tiến trình tìm kiếm giải pháp tái chế bóng đèn huỳnh
quang hỏng một cách có hiệu quả nhất
d) Những khó khăn và các mục tiêu cần đạt để thực hiện DRS hiệu quả
Nếu giá ký thác cao, người tiêu dùng có thể không đủ khả năng tài chính để mua sản phẩm và thực hiện ký thác Điều này dẫn đến sức mua thị trường giảm hoặc người tiêu dùng lựa chọn sản phẩm thay thế, gây bất lợi cho doanh nghiệp Ngược lại, nếu giá ký thác thấp sẽ không đủ kích thích việc trả lại chất thải Người tiêu dùng có thể cảm thấy bất tiện hơn khi phải đem trả lại các chất thải mà số tiền hoàn trả không đáng kể, do vậy họ có thể chịu mất số tiền đã ký thác và chất thải vẫn bị vứt bỏ bừa bãi Như vậy cần đưa ra giá ký thác hợp lý dựa trên khả năng và mức chi trả của xã hội, phù hợp với thu nhập của người tiêu dùng, đảm bảo sức mua hàng hóa không giảm và đảm bảo thu gom hiệu quả các sản phẩm sau sử dụng
Các yếu tố về nhận thức, ý thức của nhà sản xuất và người tiêu dùng đối với vấn đề thu gom chất thải chưa cao, chưa hiểu rõ về hệ thống nên không muốn tham gia Do vậy, cần làm cho doanh nghiệp và người dân thấy được sự cần thiết và lợi ích của DRS trong việc bảo vệ môi trường để họ tự nguyện tham gia và thực thi chính sách
Khả năng tổ chức, quản lý hệ thống thu gom còn nhiều bất cập Chi phí để quản lý DRS (bao gồm chi phí hành chính, các phương tiện thu gom, tái chế và thải bỏ) rơi vào khu vực tư nhân Cách đền bù duy nhất là nâng cao giá, tác động đến thị trường cũng như nảy sinh nhiều vấn đề tiêu cực Do đó, để thiết lập phần lớn các DRS cần phải có các cơ cấu tổ chức mới để thu gom và điều hành việc tái chế các phế phẩm/chất thải, cũng như để quản lý các công việc tài chính; sự thống nhất và thực hiện đồng bộ từ nhà sản xuất, nhà phân phối, đại lý bán lẻ và người tiêu dùng Bên
Trang 27cạnh đó, cần có sự ràng buộc đối với các đối tượng trên Cũng phải yêu cầu các cơ quan có thẩm quyền cấp quốc gia và địa phương thiết lập nên hệ thống này.
Việc phải trả lại tiền cho các chất ô nhiễm được trả lại, rất có khả năng tạo ra sự khuyến khích đối với việc làm hàng giả nếu như không có các biện pháp chế tài, kiểm soát chặt chẽ Bên cạnh đó, vấn đề về công nghệ tái chế cũng ảnh hưởng không nhỏ tới sự hoạt động và thành công của hệ thống Vì vậy, cần có các chính sách hỗ trợ đảm bảo hệ thống đạt hiệu quả chặt chẽ, liên tục, tránh ngưng đọng
e) Các ví dụ về áp dụng DRS trên thế giới
Đối với các chai đựng đồ uống, ở Mỹ đã thực hiện ký quỹ bắt buộc đối với các bao bì nước giải khát và bia tại 10 bang Các bang áp dụng DRS này báo cáo rằng 80-95% các bao bì ký thác đã được tự nguyện hoàn trả để tái chế (Moore và cộng sự, 1989) Ở Đan Mạch, bộ trưởng Môi trường đã ban hành một lệnh bắt buộc, người dùng phải nạp tiền ký thác đối với các chai bia và nước ngọt có thể tái sử dụng được cho phép bán Ở Phần Lan, các hệ thống DRS đối với bao bì, đồ uống rất thành công với khoảng 90% số bao bì được hoàn trả lại Ở Thụy Điển, việc tăng tiền ký thác các can bia nhôm gấp đôi, đã làm tăng tỉ lệ can được trả lại từ 70% lên 80% (OECD, 1989)
Ngoài việc áp dụng cho bao bì đồ uống, DRS còn tỏ ra có hiệu quả trong tái chế các ác quy ô tô và mô tô Năm 1978, Na Uy áp dụng DRS đối với vỏ thân các ô tô con và mini bus cửa lùa Theo hệ thống này, người mua xe mới phải trả một khoản tiền ký quỹ Khi xe không còn sử dụng nữa và đưa trả về địa điểm khôi phục chính thức, thì một số tiền lớn hơn sẽ được hoàn trả Mục tiêu của chương trình này là giảm bớt số lượng xe bị vứt bỏ ngoài trời và khuyến khích sử dụng lại vật liệu Số xe được trả lại chiếm khoảng 90-99% Tiền thu nhập được dùng để tài trợ cho việc thu gom, vận chuyển và các phương tiện để đập vụn
Trang 28CHƯƠNG 3
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Cơ sở lí luận
3.1.1 Một số khái niệm
a) Khái niệm về chất thải nguy hại
Theo chương trình môi trường của Liên Hợp Quốc (UNEP): CTNH là các chất thải (không bao gồm các chất phóng xạ) có khả năng phản ứng hóa học hoặc có khả năng gây độc, gây cháy, ăn mòn, có khả năng gây nguy hại cho sức khỏe con người hay môi trường khi tồn tại riêng lẻ, hoặc khi tiếp xúc với các chất khác
Theo luật Bảo tồn và Phục hồi tài nguyên Mỹ (RCRA): CTNH là chất thải rắn hoặc tổ hợp các chất thải rắn do lượng hoặc nồng độ hay đặc tính vật lý, hóa học hoặc truyền nhiễm mà chúng có thể: (1)Tạo ra hoặc góp phần đáng kể vào việc tăng khả năng tử vong hay là nguyên nhân dẫn đến tình trạng nguy kịch không thể cứu chữa; (2)Tạo ra sự nguy hại đến sức khỏe con người hoặc môi trường trong khi xử lý, bảo quản, vận chuyển
Ở Việt Nam, lần đầu tiên khái niệm CTNH được đề cập đến một cách chính thức tại quy chế quản lý CTNH ban hành kèm theo QĐ 155/1999/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ Tại Khoản 2 Điều 3 Quy chế quy định: “CTNH là chất thải có chứa các chất hoặc hợp chất có một trong các đặc tính gây nguy hại trực tiếp (dễ cháy, dễ
nổ, làm ngộ độc, dễ ăn mòn, dễ lây nhiễm và các đặc tính gây nguy hại khác) hoặc tương tác với các chất gây nguy hại đến môi trường và sức khỏe con người”
Đến năm 2005, định nghĩa này đã được sửa đổi và hoàn thiện hơn với các diễn đạt ngắn gọn và súc tích tại Khoản 11 Điều 3 Luật Bảo vệ môi trường 2005 Theo đó, CTNH là chất thải chứa yếu tố độc hại, phóng xạ, dễ cháy, dễ nổ, dễ ăn mòn, dễ lây nhiễm, gây ngộ độc hoặc đặc tính nguy hại khác
Trang 29Có nhiều tiêu chí để phân loại CTNH như: Phân loại theo nguồn thải đặc thù, phi đặc thù; phân loại theo chất thải công nghiệp, phân loại theo loại nguy hại; theo nhóm hóa học; theo thành phần hóa học ban đầu; theo tình trạng vật lý….
b) Khái niệm ký thác hoàn trả
Ký thác là khi mua một sản phẩm hoặc một hàng hóa … thay vì phải trả số tiền là giá của nó, thì người tiêu dùng phải trả thêm một khoản tiền nữa, khoản tiền này gọi là ký thác
Sau một thời gian sử dụng, nếu người tiêu dùng giao nộp lại phần rác của hàng hóa, sản phẩm hoặc là hàng hóa, sản phẩm đã bị hư hỏng cho các cơ quan quản lý thì người tiêu dùng sẽ nhận lại một khoản tiền có thể bằng hoặc nhỏ hơn số tiền ký thác ban đầu, gọi là hoàn trả
Tỷ lệ ký thác hoàn trả (hay số tiền ký thác hoàn trả) nhiều hay ít phụ thuộc vào mục tiêu của nhà làm chính sách, hoặc lợi ích của xã hội, của người tiêu dùng Thông thường thì số tiền hoàn trả thường nhỏ hơn hoặc bằng số tiền ký thác Khoản chênh lệch giữa số tiền ký thác so với hoàn trả sẽ được sử dụng để vận hành hệ thống ký thác hoàn trả (như trả lương cho nhân viên, xây dựng kho bãi, hỗ trợ ngành công nghiệp tái chế…)
3.2 Phương pháp nghiên cứu
3.2.1 Phương pháp thu thập số liệu
a) Thu thập số liệu thứ cấp
Thu thập số liệu thứ cấp là thu thập thông tin, số liệu liên quan đến điều tự nhiên, kinh tế – xã hội của TP.HCM và tình hình chất thải nguy hại hiện nay tại TP.HCM thông qua các báo cáo, thống kê của Sở Tài nguyên và Môi trường, các cơ quan, tổ chức có liên quan và các số liệu trên các báo, bài viết
b) Thu thập số liệu sơ cấp
(i) Cách xác định số mẫu
Theo Nguyễn Trí Hùng (1991) quy mô mẫu khảo sát tối thiểu được xác định dựa trên công thức sau:
n =
Trong đó:
Trang 30n: số mẫu tối thiểu
N: Tổng số đơn vị lấy mẫu của tổng thể nghiên cứu
Z: Biến số chuẩn (Normail variable)
p: Tỉ lệ mẫu ước lượng (hoặc có sẵn)
d: sai số tối đa có thể chấp nhận được
(ii) Cách chọn mẫu
Lựa chọn mẫu phỏng vấn dựa vào phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên Tiến hành chọn ngẫu nhiên 150 mẫu tại 3 quận là quận Bình Thạnh, quận Thủ Đức, quận 9 tại TP.HCM không phân biệt giới tính, tuổi tác, trình độ học vấn … nhưng phải thỏa điều kiện là có nhà tại TP.HCM
(iii) Phương pháp phỏng vấn
Đề tài lựa chọn phương pháp phỏng vấn trực tiếp vì giúp truyền tải thông tin một cách tốt nhất về tình huống giả định, kết hợp với hình ảnh minh họa… đề giúp người được hỏi rõ hơn về mục đích nghiên cứu Ngoài ra, việc nghe phỏng vấn viên
mô tả cũng sẽ hấp dẫn người được hỏi hơn và việc họ phải tự đọc các nội dung đó Điều này tạo nên sự hợp tác giữa người phỏng vấn và người trả lời, làm cho chất lượng cuộc phỏng vấn cao hơn Cách hỏi được lựa chọn ở đây là câu hỏi đóng theo kiểu Single – bounded dichotomouc choice, theo đó phân khoản từ WTP kỳ vọng cao nhất đến WTP kỳ vọng thấp nhất và người được phỏng vấn sẽ chỉ trả lời là “đồng ý” hay “không đồng ý” với mức giá này
3.2.2 Phương pháp thống kê mô tả
Đây là một phương pháp mà hoạt động chính là việc thu thập thông tin, dữ liệu
để kiểm chứng các giả thuyết, trả lời các câu hỏi có liên quan đến vấn đề cần nghiên cứu Nghiên cứu mô tả nhằm xác định và tường trình sự việc xảy ra Những nghiên cứu mô tả điển hình thường liên quan đến việc đánh giá thái độ, ý kiến, các thông tin
về xã hội, con người trong các điều kiện và quy trình hoạt động Các số liệu trong nghiên cứu mô tả thông thường được thu thập bằng các cuộc phỏng vấn điều tra qua các bảng câu hỏi, phỏng vấn, quan sát trực tiếp hoặc các phương pháp khác kết hợp thành những hình thức nêu trên
Ngoài ra, nghiên cứu mô tả còn là một quá trình khẳng định và tường trình sự việc theo cách mà sự việc xảy ra Để thực hiện được, người nghiên cứu phải tiếp cận thái độ và ý kiến của các cá nhân, tổ chức, sự kiện hoặc quy trình cần nghiên cứu
Trang 31Cụ thể trong nghiên cứu này, việc xây dựng bảng câu hỏi kết hợp với việc điều tra phỏng vấn từng cá nhân sẽ giúp đề tài thu thập được những thông tin về hiện trạng sử dụng bóng đèn huỳnh quang và mức sẵn lòng ký thác của họ nhằm tái chế bóng đèn huỳnh quang hỏng.
3.2.3 Phương pháp đánh giá ngẫu nhiên
CVM dùng các kĩ thuật phỏng vấn cá nhân để định giá loại hàng hoá hay dịch
vụ môi trường vốn không có giá trên thị trường hay giá trị của một sự thay đổi chất lượng môi trường
Phương pháp này được tiến hành hỏi các cá nhân về mức sẵn lòng trả hay mức sẵn lòng nhận đền bù của họ cho sự thay đổi chất lượng môi trường hay sản phẩm dịch
vụ của tài nguyên thiên nhiên môi trường đã được mô tả trong trường hợp giả định trên Vì vậy CVM sẽ đưa ra các kết quả chính xác nếu những người được phỏng vấn hiểu đầy đủ về tính nghiêm trọng của những biến đổi môi trường
Nhược điểm của CVM
Các ước lượng có được từ CVM chỉ phản ánh các hoạt động giả định do các hoạt cảnh (trường hợp) đưa ra khi điều tra phỏng vấn là những hoạt cảnh (trường hợp) giả định đã được xây dựng nên
Khi áp dụng CVM có thể gặp phải kết quả sai nếu người được điều tra cho là các giá trị mà họ đưa ra có thể có một ảnh hưởng nào đó đến chính sách sẽ đề ra, và có ảnh hưởng đến quyền lợi của họ thì họ có thể trả lời các giá trị quá cao hay quá thấp so với giá trị thực tế của họ
Giữa mức sẵn lòng trả và mức sẵn lòng nhận đền bù của cùng một cá nhân về một sự thay đổi chất lượng môi trường cũng có sai lệch Mức sẵn lòng trả (WTP) thường thấp hơn so với mức sẵn lòng nhận đền bù (WTA) do mức sẵn lòng chịu ảnh
Trang 32hưỏng bởi giới hạn thu nhập của người được phỏng vấn còn mức sẵn lòng nhận đền bù thì không bị ảnh hưởng.
b) Các dạng câu hỏi
- Payment Card (Thẻ thanh toán)
Các mức giá được viết lên thẻ và người trả lời được yêu cầu chọn một mức giá
Ưu điểm: người trả lời dễ lựa chọn
Nhược điểm: Cách hỏi này thường đem lại mức sẵn lòng trả thấp, vì theo tâm lí chung các mức giá thấp thường được chú ý hơn
- Open- ended question (Câu hỏi mở)
Câu hỏi thường được hỏi là “Anh/ chị sẵn lòng trả bao nhiêu tiền để… bảo tồn ?” và số tiền bao nhiêu là do người trả lời suy nghĩ và nói ra
Ưu điểm: người trả lời có thể trả lời mức WTP cực đại thật của họ, mức này phản ánh đúng giá trị thực tế tài nguyên mang lại cho họ
Nhược điểm: gây khó cho người trả lời, nếu người trả lời e ngại rằng họ sẽ phải trả số tiền mà họ trả lời, họ sẽ đưa ra một mức giá thấp mặc dù trên thực tế giá trị mà tài nguyên đó đem lại cho họ cao hơn rất nhiều
- Close- ended (Câu hỏi đóng)
Có hai cách hỏi là:
+ Single - bounded dichotomous (lưỡng phân một giá trị): Tiến hành phân khoảng từ mức WTP kì vọng cao nhất đến WTP kì vọng thấp nhất Tại mỗi mức giá sẽ tiến hành hỏi một nhóm đối tượng phỏng vấn, người được phỏng vấn chỉ trả lời “Có” hay “Không” với mức giá đưa ra
Ưu điểm: Giúp người trả lời dễ quyết định
Nhược điểm: dễ hướng người trả lời theo ý của người phòng vấn, tạo kết quả thiên lệch Chính vì vậy, cần phải đảm bảo mức độ tin cậy trong việc lấy mẫu ngẫu nhiên
+ Double - bounded dicbomous choice (lưỡng phân hai giá trị)
Phương pháp này, người được phỏng vấn được hỏi câu trả lời “Có/Không” về việc sẵn lòng trả một khoản tiền nhất định cho một mục đích được mô tả Nếu câu trả lời là “Có” thì câu hỏi nảy sẽ được lặp lại với một số tiền lớn hơn, nếu họ trà lời
“Không” thì câu hỏi thứ hai sẽ hỏi một khoản tiền nhỏ hơn Điều này sẽ được lặp lại cho đến khi WTP cuối cùng được xác định
Trang 33Ưu điểm: có thể xác định được khả năng đóng góp tối đa của người trả lời.Nhược điểm: mất thời gian, có thể gây khó chịu cho người trả lời.
- Bidding Games (Trò chơi đấu giá)
Khi người được phỏng vấn được hỏi về việc có đồng ý đóng góp cho một mức giá nào đó không, nếu câu trả lời là “Có” thì hỏi một mức giá cao hơn, nếu “Không” thì hạ giá xuống Quá trình mặc cả này sẽ ngừng khi người phỏng vấn đạt được giá trị tối đa mà người trả lời muốn trả Nhược điểm lớn nhất của phương pháp này là dễ sai lệch do mức giá khởi đầu Mức giá khởi đầu quá cao hay quá thấp đều ảnh hưởng đến kết quả nghiên cứu
c) Tiến trình xây dựng bảng câu hỏi
Bảng câu hỏi có vai trò quan trọng, quyết định kết quả cuối cùng và sự thành công của nghiên cứu, vì một bảng câu hỏi phù hợp, dễ hiểu sẽ khai thác được thông tin một cách hiệu quả và chính xác nhất, đặc biệt là mức sẵn lòng chi trả Trong nghiên cứu này, quá trình thiết kế bảng câu hỏi được tiến hành qua 3 bước:
Bước 1: Xác định 5 vấn đề then chốt trong bảng câu hỏi:
5 vấn đề then chốt trong bảng câu hỏi được xác định như sau:
Lựa chọn giữa mức sẵn lòng trả hoặc mức sẵn lòng ký thác: nghiên cứu này chọn
mức sẵn lòng trả (WTP) là cách tiếp cận để định mức ký thác
Lựa chọn cách hỏi WTP: Cách hỏi WTP được sử dụng là cách hỏi Dicbomous
choice, mà cụ thể là hình thức Single – bounded
Cách thức trả tiền, cơ quan thu tiền: Thực hiện việc ký thác khi mua mỗi sản phẩm
bóng đèn huỳnh quang Cơ quan tiếp nhận tiền ký thác là Quỹ tái chế TP.HCM
Xây dựng tình huống giả định và xác định mức sẵn lòng ký thác cao nhất:
Đầu tiên bảng câu hỏi giới thiệu chung về tác hại của thủy ngân trong bóng đèn huỳnh quang cho người dân hiểu rõ tác hại của việc vứt bỏ bóng đèn huỳnh quang bừa bãi Đây là cơ sở quan trọng để khai thác mức sẵn lòng trả tối ưu
Thẻ 1: Giới thiệu về tác hại của thủy ngân trong bóng đèn huỳnh quang.
Mỗi bóng đèn huỳnh quang có chứa khoảng 5 mi - li - gam thuỷ ngân Khi những bóng đèn huỳnh quang bị hư hỏng và bị vứt bỏ bừa bãi, chúng sẽ gây hại cho sức khỏe con người như: Gây ra hiện tượng run, thay đổi tính tình, bị mất ngủ, mệt mỏi cơ bắp và chứng nhức đầu Nếu tiếp xúc lâu dài có thể dẫn đến chứng đần độn,
Trang 34thay đổi nhân cách, điếc, mất trí nhớ.
Đối với hệ sinh thái: Thủy ngân có thể rò rỉ vào hệ thống nước và đất Do đó, những thực phẩm mà chúng ta ăn, nguồn nước mà chúng ta uống đều có nguy cơ bị nhiễm thủy ngân
Hiện nay, theo thông tư 12/2011/TT-BTNMT thì bóng đèn huỳnh quang là chất thải nguy hại loại 2 sao (**), cần phải được thu gom xử lý bởi đơn vị có đủ chức năng
Công cụ DRS còn tương đối mới tại Việt Nam, rất nhiều người dân chưa từng biết đến DRS hoặc chỉ biết một ít về nó Do đó thẻ 2 giới thiệu về DRS cho người dân biết về lợi ích của công cụ này, cũng như những người dân đã từng được nghe về công cụ này hiểu rõ hơn về nó
Thẻ 2: Giải thích hệ thống ký thác hoàn trả:
Giả sử hệ thống ký thác hoàn trả đã được áp dụng cho việc quản lý vỏ chai nước giải khát Khi người tiêu dùng mua 1 chai Coca thì thay vì phải trả 9.000 VNĐ theo giá của nó thì người tiêu dùng lúc này phải trả thêm một số tiền có thể 1000 VNĐ
hoặc 2000VNĐ…., số tiền này gọi là ký thác Và sau khi đã sử dụng xong, nếu người
tiêu dùng mang trả lại vỏ chai thay vì vứt đi, thì người tiêu dùng sẽ nhận được 1 khoản
tiền tương ứng có thể là: 800VNĐ hoặc 1500VNĐ, số tiền này được gọi là hoàn trả
Khoảng chênh lệch giữa ký thác và hoàn trả dùng để bù đắp cho chi phí vận chuyển, tái chế vỏ chai nhựa nhằm bảo vệ môi trường
Sau khi cung cấp cho người dân biết tác hại của bóng đèn huỳnh quang và giới thiệu công cụ DRS, đề tài xây dựng kịch bản như trong thẻ 3
Thẻ 3: Kịch bản
Thủy ngân trong bóng đèn huỳnh quang gây ra nhiều tác hại nghiêm trọng tới sức khỏe con người và hệ sinh thái như đã giới thiệu ở thẻ 1 Giả sử có một dự án áp dụng công cụ ký thác hoàn trả để thu gom và xử lý bóng đèn huỳnh quang hỏng Theo
đó, khi mua mỗi bóng đèn huỳnh quang, mọi người ký thác một số tiền theo quy định,
có thể là 2.000VNĐ, và khi bóng đèn huỳnh quang hỏng, người dân mang tới bất cứ đại lý, cửa hàng nào bán bóng đèn huỳnh quang để nhận lại số tiền hoàn trả, có thể là 1000VNĐ Số tiền người dân ký thác sẽ do Cục quản lý chất thải rắn TP.HCM quản lý
và khoảng chênh lệch giữa ký thác và hoàn trả cùng với số tiền ký thác dư do người dân không mang hoàn trả sẽ được sử dụng để bù đắp vào chi phí vận chuyển, tái chế
Trang 35Bước 2: Pretest bảng câu hỏi
Như vậy, ở bước 1 đã cho chúng ta một bảng câu hỏi tương đối hoàn chỉnh Tuy nhiên, vẫn còn một bước quan trong đó là phải Pretest bảng câu hỏi Pretest bảng câu hỏi là bước khởi đầu của các cuộc phỏng vấn chính thức Pretest để nhận ra những vấn đề nào chưa phù hợp trong bảng câu hỏi, lược bỏ những câu hỏi dài dòng, không cần thiết để bảng câu hỏi hoàn chỉnh hơn, vừa dễ hiểu vừa đầy đủ thông tin Quá trình Prestest bảng câu hỏi được đề tài tiến hành với 10 cá nhân có nhà tại TP.HCM và được lựa chọn theo phương pháp chọn mẫu thuận tiện
Bước 3: Hoàn chỉnh bảng câu hỏi
Quá trình Pretest đã giúp nhận ra những tồn tại của bảng câu hỏi, đề tài tiến hành khắc phục, chỉnh sửa để bảng câu hỏi phù hợp và mạch lạc hơn Bảng câu hỏi cuối cùng bao gồm 2 phần: Phần I – Nội dung khảo sát, phần II - Thông tin và đặc điểm kinh tế - xã hội của người được phỏng vấn
d) Cơ sở lựa chọn mô hình và kỳ vọng các biến
Cơ sở lựa chọn mô hình
Đề tài sử dụng phương pháp CVM để hỏi mức sẵn lòng đóng góp của người dân để tham gia DRS bằng cách ứng dụng kỹ thuật hỏi Single-Bounded Điều này đồng nghĩa với việc biến phụ thuộc là sẵn lòng ký thác chỉ nhận hai giá trị 1 và 0 (Có hay không) Như vậy đề tài sẽ ứng dụng mô hình Logit để phân tích ảnh hưởng của các biến giải thích với câu trả lời “Có” của người được phỏng vấn
Trong các nghiên cứu sử dụng phương pháp CVM, mô hình Logit được xây dựng dựa trên cơ sở hàm hữu dụng gián tiếp Hanemann (1984) cho rằng, với một cá nhân có hàm hữu dụng gián tiếp V (P, M, Q, S) Phản ứng của cá nhân tùy thuộc vào giá cả P, thu nhập (M), các đặc điểm kinh tế – xã hội (S) và chất lượng môi trường hoặc tài nguyên (Q) Khi cá nhân đó được hỏi “có sẵn lòng ký thác ở mức giá P để tham gia DRS không?” Người đó trả lời là “Có” nếu:
Trang 36V (M – P, Q1, S) > V (M – 0, Q0, S) (3.1)
Bất phương trình chỉ ra rằng cá nhân đó sẽ trả lời là “Có” nếu chất lượng môi trường được cải thiện từ Q0 lên Q1 và cá nhân đó phải ký thác một số tiền là P Nếu V(P, M, Q, S) là những thành phần có thể quan sát được của hàm hữu dụng, thì xác suất của người trả lời sẽ là:
Xác suất trả lời “Có” = Xác suất [V (M – P, Q1, S)+ 1 > V (M – 0, Q0, S) + 0]Trong đó: i là thành phần không quan sát được
Xác suất trả lời “Có”= 1/(1+e-V)
Trong đó: -V = V (M – P, Q1, S) > V (M – 0, Q0, S)
Henemann chỉ ra rằng nếu V(P, M, Q, S) được xác định rõ thì khi đó xác suất người được phỏng vấn trả lời “Có” sẽ là:
Log[xác suất (Có)/(1-xác suất (Có))] = α0 – β1P + β2Q + βiSi (3.2)
Các tham số α0 và βi là các tham số ước lượng
Mức độ sẵn lòng ký thác đối đa trung bình (mean maximum WTP) cho việc tham gia DRS có thể tính toán bằng công thức (3.3)
Mean maximum WTP = 1/ β1[ln(1 + e^ α0 – β2Q + βiSi)] (3.3)
Thiết lập các mức giá và lựa chọn các biến
Dựa theo lý thuyết cung cầu hàng hóa, lý thuyết thỏa dụng, thu nhập,… để lựa chọn các biến đưa vào mô hình kinh tế lượng để phân tích Thông thường thì mức sẵn lòng trả của người dân phụ thuộc vào thu nhập, cũng như nhu cầu của họ đối với loại hàng hóa môi trường đó Ngoài ra việc tham khảo các bài nghiên cứu trước đây cũng rất cần thiết
Trước khi chính thức điều tra, tác giả đã tiến hành phỏng vấn thử trên 10 mẫu kết hợp tham khảo các nghiên cứu trước đây về các vấn đề liên quan Qua đó, đề tài chọn 6 mức giá để hỏi: 1000; 1500; 2000; 2500 và 3000 VNĐ/bóng
Phương trình logistic:
Log( ) = β0 + β1 PRICE + β2 INCOME + β3 USE + β4 AWA + β5 EVA
Trong đó:
Trang 37Biến phụ thuộc:
WTP: xác suất chấp nhận công cụ ký thác, với 0 ≤ P ≤ 1Biến độc lập được trình bày trong bảng sau:
Bảng 3.1 Các Biến Đưa Vào Mô Hình và Kỳ Vọng Dấu
Kí hiệu Tên biến Loại biến Đơn vị Ý nghĩa kinh tế Kì vọng
dấu
PRICE Giá ký
thác
Biến liên tục Đồng Mức giá càng cao thì xác suất
người dân chấp nhận công cụ
ký thác hoàn trả càng thấp
-INCOME Thu nhập Biến liên tục Đồng Khi thu nhập càng cao thì xác
suất họ chấp nhận công cụ ký thác hoàn trả là cao hơn
+
USE Sử dụng Biến liên tục Cái Khi người dân càng sử dụng
nhiều bóng đèn thì họ cảm thấy thủy ngân trong bóng đèn ảnh hưởng đến họ nhiều hơn, do đó
mức xác suất chấp nhận công cụ là cao hơn
Khi người dân càng nhận thức
rõ được tác hại của bóng đèn huỳnh quang hỏng lên con người và môi trường thì mức xác suất họ chấp nhận công cụ
là cao hơn
+
EVA Đánh giá Biến giả, với:
HB=1: Không quan trọngHB=2: Khá quan trọngHB=3: Bình thườngHB=4: Quan trọngHB=5: Rất quan trọng
Người dân càng đánh giá cao tầm quan trọng của các lợi ích
mà công cụ ký thác hoàn trả mang lại thì xác suất người dân chấp nhận công cụ càng cao
+
Mức ký thác trung bình được ước tính như sau:
Trang 38CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
4.1 Hiện trạng sử dụng bóng đèn huỳnh quang của hộ gia đình tại TP.HCM
4.1.1 Hiện trạng sử dụng và thải bỏ bóng đèn huỳnh quang
Bóng đèn huỳnh quang đã trở thành thiết bị chiếu sáng không thể thiếu trong mỗi hộ gia đình Theo thống kê của công ty Cổ phần Bóng đèn Điện Quang, các loại bóng đèn huỳnh quang tuyến tính thông dụng là bóng đèn T10 và T8 Thông tin chi tiết được thể hiện trong bảng 4.1
Bảng 4.2 Tổng Quan về Bóng Đèn Huỳnh Quang Tuyến Tính Thông Dụng
Loại bóng Kích thước Lượng sản xuất Lượng thủy ngân *
Đường kính ( )
Chiều dài (m)
Ghi chú: * là thủy ngân ở dạng lỏng
Nguồn: Công ty Cổ phần Điện Quang, 2014Hiện nay, khi nhận thức được tác hại của thủy ngân trong bóng đèn cũng như nhờ sự tiến bộ của khoa học công nghệ, công ty Điện Quang đang chuyển sang sản xuất bóng đèn huỳnh quang sử dụng thủy ngân dạng hạt thay thế cho thủy ngân dạng lỏng để hạn chế tác hại của thủy ngân ra môi trường
Theo kết quả điều tra thực tế, số hộ sử dụng từ 12 đến 15 bóng chiếm 4%, còn phần lớn những hộ gia đình tại TP.HCM sử dụng từ 6 đến 12 bóng, chiếm đến 91%, và 5% những hộ còn lại thì chỉ sử dụng từ 3 đến 6 bóng
Trang 39Hình 4.5 Thống Kê Tổng Số Bóng Đèn Huỳnh Quang Sử Dụng trong Từng Hộ
Nguồn: Số Liệu Điều Tra Và Tổng Hợp Theo tính toán từ dữ liệu trên, trung bình mỗi hộ gia đình tại TP.HCM sử dụng
9 bóng/hộ trong đó bao gồm khoảng 6 bóng đèn huỳnh quang tuyến tính (FL) và 3 bóng đèn huỳnh quang compact (CFL) Theo tổng cục thống kê, năm 2013 có khoảng 1.824.095 hộ gia đình có nhà tại TP.HCM Như vậy, tổng số bóng đèn người dân sử dụng hiện nay là 16.416.855 bóng Qua khảo sát, mỗi bóng FL khi mua về phần lớn sẽ bị hỏng sau khoảng 3 năm sử dụng, và thời gian này là khoảng 2 năm đối với bóng đèn CFL Do mỗi gia đình có những điều kiện khác nhau, nên mức độ sử dụng bóng đèn cũng khác nhau, dẫn đến cùng 1 loại bóng nhưng có thời gian hỏng nhanh hoặc chậm hơn với hộ khác Số liệu về tỷ lệ bóng đèn theo thời gian hỏng được thống kê trong bảng sau đây:
Bảng 4.3 Thống Kê Tỷ Lệ Bóng Đèn Hỏng Theo Thời Gian Sử Dụng
Thời gian sử dụng
Trang 40Bảng 4.4 Thống Kê Số Bóng Đèn Huỳnh Quang Hỏng trong Từng Chu Kỳ
Và theo kết quả khảo sát, có 73% người dân thải bỏ bóng đèn huỳnh quang chung với rác sinh hoạt, 27% còn lại sử dụng giấy bao bóng đèn lại, sau đó mới bỏ chung với rác thải sinh hoạt Như vậy, 100% hộ dân đều thải bỏ bóng đèn huỳnh quang chung với rác thải sinh hoạt, và hầu như tất cả các bóng đèn đều bị bể khi đến bãi rác
Hình 4.6 Bóng Đèn Hỏng bị Vứt Bỏ Chung Cùng Rác Thải Sinh Hoạt