Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên lãnh đạo phát triển kinh tế nông nghiệp theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa 1997 2010Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên lãnh đạo phát triển kinh tế nông nghiệp theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa 1997 2010Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên lãnh đạo phát triển kinh tế nông nghiệp theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa 1997 2010Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên lãnh đạo phát triển kinh tế nông nghiệp theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa 1997 2010Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên lãnh đạo phát triển kinh tế nông nghiệp theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa 1997 2010Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên lãnh đạo phát triển kinh tế nông nghiệp theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa 1997 2010Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên lãnh đạo phát triển kinh tế nông nghiệp theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa 1997 2010Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên lãnh đạo phát triển kinh tế nông nghiệp theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa 1997 2010Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên lãnh đạo phát triển kinh tế nông nghiệp theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa 1997 2010Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên lãnh đạo phát triển kinh tế nông nghiệp theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa 1997 2010Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên lãnh đạo phát triển kinh tế nông nghiệp theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa 1997 2010Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên lãnh đạo phát triển kinh tế nông nghiệp theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa 1997 2010Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên lãnh đạo phát triển kinh tế nông nghiệp theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa 1997 2010Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên lãnh đạo phát triển kinh tế nông nghiệp theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa 1997 2010Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên lãnh đạo phát triển kinh tế nông nghiệp theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa 1997 2010Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên lãnh đạo phát triển kinh tế nông nghiệp theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa 1997 2010Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên lãnh đạo phát triển kinh tế nông nghiệp theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa 1997 2010
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC
BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP ĐẠI HỌC
ĐẢNG BỘ TỈNH THÁI NGUYÊN LÃNH ĐẠO PHÁT TRIỂN KINH TẾ NÔNG NGHIỆP THEO HƯỚNG
CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA 1 97 - 20 0
Mã số: ĐH2013 - TN06 - 13
Chủ nhiệm đề tài: ThS Nguyễn Minh Tuấn
THÁI NGUYÊN, 12/ 2016
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC
BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP ĐẠI HỌC
ĐẢNG BỘ TỈNH THÁI NGUYÊN LÃNH ĐẠO PHÁT TRIỂN KINH TẾ NÔNG NGHIỆP THEO HƯỚNG
CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA 199 - 201 0
Mã số: ĐH2013 - TN06 - 13
Xác nhận của tổ chức chủ trì Chủ nhiệm đề tài
Ths Nguyễn Minh Tuấn
THÁI NGUYÊN, 12/ 2016
Trang 3DANH SÁCH THÀNH VIÊN THAM GIA THỰC HIỆN ĐỀ TÀI VÀ ĐƠN VỊ
PHỐI HỢP CHÍNH
I Thành viên thực hiện đề tài
- ThS Đoàn Thị Yến - Bộ môn Lịch sử - Trường Đại học Khoa học - Đại học Thái Nguyên
- ThS Nguyễn Đại Đồng - Bộ môn Lịch sử - Trường Đại học Khoa học - Đại học Thái Nguyên
II Đơn vị phối hợp thực hiện
- Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh Thái Nguyên
- Hội Nông dân tỉnh Thái Nguyên
- Phòng Thống kê tỉnh Thái Nguyên
- Thư viện tỉnh Thái Nguyên
- Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên
- Phòng Tư liệu khoa Lịch sử - Đại học KHXH&NV - ĐHQG Hà Nội
Trang 4MỤC LỤC
DANH SÁCH THÀNH VIÊN THAM GIA THỰC HIỆN ĐỀ TÀI VÀ ĐƠN VỊ PHỐI
HỢP CHÍNH i
MỤC LỤC ii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG ĐỀ TÀI iv
MỞ ĐẦU 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 5
Chương 1 ĐẢNG BỘ TỈNH THÁI NGUYÊN LÃNH ĐẠO PHÁT TRIỂN KINH TẾ NÔNG NGHIỆP TỪ NĂM 1997 ĐẾN NĂM 2000 15
1.1 Những căn cứ để xác định chủ trương phát triển kinh tế nông nghiệp 15
1.1.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội tỉnh Thái Nguyên 15
1.1.2 Tình hình kinh tế nông nghiệp trên địa bàn Thái Nguyên (1986 - 1997) 21
1.1.3 Chủ trương của Đảng về phát triển kinh tế nông nghiệp 24
1.2 Chủ trương của Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên 26
1.2.1 Phát triển nông nghiệp theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa 26
1.2.2 Xác định những vấn đề trọng tâm nhằm phát triển kinh tế nông nghiệp 27
1.3 Chỉ đạo thực hiện của Đảng bộ 29
1.3.1 Tập trung chỉ đạo phát triển kinh tế hộ, kinh tế trang trại, chuyển đổi Hợp tác xã theo luật 29
1.3.2 Bước đầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển sản xuất nông nghiệp 33
1.3.3 Tăng cường cơ sở vật chất, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp 39
TIỂU KẾT 43
Chương 2 ĐẨY MẠNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ NÔNG NGHIỆP TỪ NĂM 2001 ĐẾN NĂM 2010 45
2.1 Chủ trương đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp của Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên 45
2.1.1 Những yêu cầu đối với nhiệm vụ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp 45
2.1.2 Chủ trương của Đảng bộ tỉnh 50
2.2 Chỉ đạo thực hiện đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp 59
Trang 52.2.1 Chỉ đạo thực hiện các chính sách, biện pháp đẩy mạnh công nghiệp hóa,
hiện đại hóa 59
2.2.2 Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp 65
2.2.3 Phát triển cây công nghiệp mũi nhọn 73
2.2.4 Phát triển nông nghiệp gắn với hiện đại hóa nông thôn 76
TIỂU KẾT 80
Chương 3 NHẬN XÉT, KINH NGHIỆM 82
3.1 Nhận xét 82
3.1.1 Ưu điểm 82
3.1.2 Hạn chế 90
3.2 Kinh nghiệm 95
3.2.1 Nhận thức đúng vai trò của kinh tế nông nghiệp từ đó lựa chọn hướng đi, giải pháp phù hợp với điều kiện của địa phương 95
3.2.2 Gắn chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp với công nghiệp chế biến và nhu cầu của thị trường một cách hiệu quả 97
3.2.3 Phát triển kinh tế nông nghiệp gắn lợi ích của nông dân 99
TIỂU KẾT 100
TÀI LIỆU THAM KHẢO 104
PHỤ LỤC 118
Trang 6DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG ĐỀ TÀI
STT Chữ viết tắt Nghĩa của chữ viết tắt
1 CNH, HĐH Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Trang 7ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC
THÔNG TIN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
1 Thông tin chung:
- Tên đề tài: Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên lãnh đạo phát triển kinh tế nông nghiệp theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa 1997 - 2010
- Mã số: ĐH2013 - TN06 - 13
- Chủ nhiệm: ThS Nguyễn Minh Tuấn
- Cơ quan chủ trì: Trường Đại học Khoa học - Đại học Thái Nguyên
- Thời gian thực hiện: 01/2013 - 12/2014
2 Mục tiêu:
Làm sáng tỏ sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên đối với kinh tế nông nghiệp từ năm 1997 đến năm 2010; bước đầu rút ra một số kinh nghiệm lịch sử từ sự lãnh đạo của Đảng bộ
3 Tính mới và sáng tạo:
- Đề tài dựng lại một cách có hệ thống quá trình Đảng bộ Thái Nguyên quán triệt, vận dụng những chủ trương, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với kinh tế nông nghiệp vào thực tế địa phương từ năm 1997 đến năm 2010
- Tạo dựng bức tranh sinh động về kinh tế nông nghiệp tỉnh Thái Nguyên trong những năm 1997 - 2010 dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh
- Phân tích sự phát triển nhận thức của Đảng bộ trong quá trình lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện phát triển kinh tế nông nghiệp qua các giai đoạn 1997 - 2000, 2001 - 2010; góp phần tổng kết thực tiễn và lý luận, gợi mở những kinh nghiệm đúc kết trong quá trình Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên lãnh đạo kinh tế nông nghiệp
4 Kết quả nghiên cứu:
- Đề tài góp phần tổng kết sự lãnh đạo của Đảng và Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên đối với kinh tế nông nghiệp, một lĩnh vực chủ yếu của nền kinh tế Việt Nam trong những năm đổi mới
- Đề tài cung cấp một số dữ liệu có giá trị tổng kết thực tiễn để Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên tiếp tục hoạch định chủ trương và chỉ đạo đối với kinh tế nông nghiệp trong thời kỳ mới đạt hiệu quả cao hơn
- Kết quả nghiên cứu của đề tài là tài liệu tham khảo phục vụ cho công tác giảng dạy và nghiên cứu Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam ở các học viện, nhà trường
Trang 85 Sản phẩm:
5.1 Sản phẩm khoa học: Có 03 bài báo đăng trên tạp chí Khoa học và 02 bài báo đăng trên Kỷ yếu hội thảo, hội nghị
* Bài báo đăng trên tạp chí khoa học:
1 Nguyễn Minh Tuấn - Lê Văn Hiếu (2014), “Làm rõ vai trò của Đảng bộ tỉnh
Thái Nguyên với vấn đề phát triển kinh tế nông nghiệp theo hướng công
nghiệp hóa, hiện đại hóa 1997 - 2005”, Tạp chí Khoa học và Công nghệ Đại
học Thái Nguyên, 121(07), tr 29 - 33
2 Nguyễn Minh Tuấn (2016), “Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên lãnh đạo phát triển
kinh tế nông nghiệp (1997 - 2011)”, Tạp chí Lịch sử Đảng, (303), tr 87 - 90
3 Nguyễn Minh Tuấn (2016), “Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên lãnh đạo phát triển
cây công nghiệp mũi nhọn (1997 - 2010)”, Tạp chí Lịch sử Đảng, (311), tr
98 - 101
* Bài báo đăng trên Kỷ yếu hội thảo, hội nghị:
1 Nguyễn Minh Tuấn - Nguyễn Thị Liên (2014), “Quản lý, sử dụng tài nguyên
đất trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp,
nông thôn”, Kỷ yếu Hội nghị Nghiên cứu khoa học năm học 2013 - 2014,
NXB Đại học Thái Nguyên, tr 116 - 125
2 Nguyễn Minh Tuấn - Lê Văn Hiếu (2015), “Sự phát triển kinh tế trang trại
ở tỉnh Thái Nguyên trong thời kỳ hội nhập ASEAN”, Kỷ yếu hội thảo quốc tế: Kinh tế và văn hóa - xã hội các dân tộc thiểu số trong bối cảnh hội nhập quốc tế - International conference on socio - cultural and economic
intergration of indigenous people in the context of Asean, tr 591 - 595
5.2 Sản phẩm đào tạo:
* Có 01 đề tài SVNCKH đã nghiệm thu:
Mai Thị Thùy Linh (2015), Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên lãnh đạo xây dựng nông thôn mới (2008 - 2015), Đề tài sinh viên nghiên cứu khoa học, Trường
Đại học Khoa học - Đại học Thái Nguyên
* Có 01 KLTN Đại học đã nghiệm thu:
Trang 9Bùi Văn Chương (2015), Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên lãnh đạo phát triển kinh tế
nông nghiệp (2010 - 2015), Khóa luận tốt nghiệp Đại học, Trường Đại học Khoa
học, Đại học Thái Nguyên
* Đề tài là một phần của Luận án tiến sĩ của chủ nhiệm đề tài:
Tên đề tài: Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên lãnh đạo kinh tế nông nghiệp từ năm
- Đề tài cung cấp một số dữ liệu có giá trị tổng kết thực tiễn để Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên tiếp tục hoạch định chủ trương và chỉ đạo đối với kinh tế nông nghiệp trong thời kỳ mới đạt hiệu quả cao hơn
- Kết quả nghiên cứu của đề tài là tài liệu tham khảo phục vụ cho công tác giảng dạy và nghiên cứu Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam ở các học viện, nhà trường
Trang 10INFORMATION ON RESEARCH RESULTS
1 General information:
Project title: Thai Nguyen Provincial Party led agricultural economy towards industrialization and modernization from 1997 to 2010
Code number: ĐH2013 - TN06 - 13
Coordinator: MA Nguyen Minh Tuan
Implementing institution: College of Sciences - Thai Nguyen University
Duration: from 01/2013 to 12/2014
2 Objective(s):
To clarify the process of Thai Nguyen provincial Party Committee led agriculture economy from 1997 to 2010, on that basis, the project has concluded some historical experiences to contribute to the leadership of the Thai Nguyen provincial
Communist Party Committee about this field for next period
3 Creativeness and innovativeness:
The Project has reconstructed systematically about the process of the Thai Nguyen provincial Communist Party Committee in directing and applying all policies
of agricultural economy of Vietnamese Communist Party based on the real situation of province during the period 1997 - 2010
Besides, the Project has illustrated a lively picture about the fact of the agricultural economy of Thai Nguyen province from period (1997 - 2010) through the leadership of provincial Communist Party Committee
The Project has analyzed the maturation about the comprehension of Thai Nguyen provincial Communist Party Committee in the leading, directing, and practicing process the agricultural economic policies during periods: 1997 - 2000 and
2001 - 2010 Furthermore, the thesis also has contributed to recapitulate in both practical and theory, suggest several experiences which are concluded from the leadership process of the Party in agricultural economy
4 Research results:
The Project contributes to summarize the leadership of Vietnam Communist Party of Vietnam and Thai Nguyen provincial Communist Party Committee in agricultural economy which is considered as an main factor of Vietnam economy system since Doi Moi
The Project supplies valuable data for Thai Nguyen provincial Communist Party Committee in continually planning and directing policies in agricultural economy in renewal period
The results of Project is an important reference which is provided for researching and teaching activities about Communist Party of Vietnam in academies and universities
Trang 115 Products:
5.1 Scientific publications
* There are 03 articles published on the journal of Science:
1 Nguyen Minh Tuan - Le Van Hieu (2014), “Demonstrating the role of Thai
Nguyen provincial Communist Party Committee in developing agriculture
oriented industrialization and modernization (1997 - 2005)”, Journal of
Science and Technology Thai Nguyen University, 121(07), pp 29 - 33
2 Nguyen Minh Tuan (2016), “Thai Nguyen provincial Communist Party
Committee’s leadership in developing agricultural economy (1997 -
2011)”, Journal of Vietnam Communist Party’s History, (303), pp 87 - 90
3 Nguyen Minh Tuan (2016), “Thai Nguyen provincial Party Committee’s
leadership in developing flagship industrial plants (1997 - 2010)”, Journal
of Vietnam Communist Party’s History, (311), pp 98 - 101
* There are 02 articles published at the seminar, conference:
1 Nguyen Minh Tuan - Nguyen Thi Lien (2014), “Management and use of
land resources in the process of promoting industrialization, agricultural
modernization”, Proceedings of the scientific conference school year 2014 -
2015, Publisher TNU, pp 141 - 156
2 Nguyen Minh Tuan - Le Van Hieu (2015), “The development of farm
economy in Thai Nguyen province during the ASEAN integration”
International conference on socio - cultural and economic intergration of
indigenous people in the context of Asean, pp 591 - 595
5.2 Training results:
* There is 1 scientific research student:
Mai Thi Thuy Linh (2015), Thai Nguyen provincial Party Committee’s
leadership in building countryside, Student topic research, College of Sciences
- Thai Nguyen University
* There is 1 under graduation thesis:
Bui Van Chuong (2015), Thai Nguyen provincial Party Committee ’ s leadership
in developing agriculture economy from 2010 to 2015, Under graduation thesis,
College of Sciences - Thai Nguyen University
* The project is a part of the coordinator’s PhD thesis:
Offical title of the thesis: The leadership in Agricultural economy of Thai
Nguyen Provincial Communist Party Committee from 1997 to 2010
6 Transfer alternatives, application institutions, impacts and benefits of reserach results:
The project contributes to summarize the leadership of Vietnam Communist Party of Vietnam and Thai Nguyen provincial Communist Party Committee in agricultural economy which is considered as an main factor of Vietnam economy system since Doi Moi
Trang 12The Project supplies valuable data for Thai Nguyen provincial Communist Party Committee in continually planning and directing policies in agricultural economy in renewal period
The results of Project is an important reference which is provided for researching and teaching activities about Communist Party of Vietnam in academies and universities
Trang 13MỞ ĐẦU
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Việt Nam là một quốc gia nông nghiệp Phát triển kinh tế nông nghiệp là con đường tất yếu để đưa Việt Nam thoát khỏi tình trạng yếu kém, lạc hậu Vì vậy, xuyên suốt trong các thời kỳ cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam hết sức coi trọng vấn đề này Thời kỳ đất nước đổi mới, hội nhập, vai trò của phát triển kinh tế nông nghiệp
được Đảng Cộng sản Việt Nam nhìn nhận thấu đáo hơn Từ quan điểm đặc biệt coi
trọng CNH, HĐH nông nghiệp và nông thôn, phát triển toàn diện nông, lâm, ngư nghiệp gắn với công nghiệp chế biến nông - lâm - thủy sản được đề ra tại Đại hội VIII
(1996) đến quan điểm đẩy nhanh CNH, HĐH nông nghiệp và nông thôn, tiếp tục phát
triển và đưa nông, lâm, ngư nghiệp lên một trình độ mới được đề ra tại Đại hội IX
(2001) và đẩy mạnh hơn nữa CNH, HĐH nông nghiệp và nông thôn, giải quyết đồng
bộ các vấn đề nông nghiệp, nông thôn và nông dân tại Đại hội X (2006) cho thấy xuất
phát từ thực tiễn và yêu cầu phát triển đất nước, nhận thức của Đảng và Chính phủ Việt Nam là ngày càng quan tâm, chú ý tới phát triển nông nghiệp nông dân và nông thôn [7] Điều đó không chỉ bởi nông dân là lực lượng quan trọng trong xã hội, chiếm
tỷ lệ lớn trong dân số mà bởi chính nông nghiệp, nông dân Việt Nam luôn khẳng định vai trò đóng góp hết sức to lớn trong sự nghiệp phát triển kinh tế của đất nước Chính nông nghiệp đã mở đường trong quá trình đổi mới, tạo nền tảng, động lực cho tăng trưởng kinh tế và là nhân tố quan trọng, đảm bảo sự ổn định kinh tế, chính trị, xã hội cho Việt Nam Sau 25 năm đổi mới (1986 -2010), kinh tế đất nước đã phát triển khá toàn diện, song sản phẩm nông nghiệp Việt Nam vẫn là những sản phẩm chủ yếu thể hiện sự hội nhập của nền kinh tế Việt Nam với thế giới
Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu có ý nghĩa lịch sử đó thì sản xuất nông nghiệp Việt Nam vẫn gặp nhiều khó khăn như sản xuất manh mún, nhỏ lẻ, chưa bền vững; tính cạnh tranh của sản phẩm với khu vực và thế giới còn thấp, đời sống nông dân vẫn còn khó khăn, nhiều nơi không còn đói ăn nhưng chưa giàu Trong bối cảnh
đó, Đảng và Chính phủ Việt Nam tiếp tục xác định “phát triển nông - lâm - ngư nghiệp toàn diện theo hướng CNH, HĐH gắn với giải quyết tốt vấn đề nông dân, nông thôn”
Thái Nguyên là một tỉnh miền núi, thuộc vùng trung du và miền núi Bắc Bộ, diện tích đất nông nghiệp lớn và đa dạng tạo tiềm năng để tỉnh phát triển kinh tế nông nghiệp theo hướng đa dạng Ngay từ khi tái lập tỉnh (năm 1997), Đảng bộ Thái Nguyên luôn chú ý lãnh đạo quán triệt, vận dụng đường lối của Đảng nhằm đẩy nhanh quá trình phát triển kinh tế nông nghiệp theo hướng CNH, HĐH Nhờ đó, kinh tế nông nghiệp Thái
Trang 14Nguyên đã có nhiều chuyển biến tích cực theo hướng đổi mới cơ cấu cây trồng, vật nuôi, cơ cấu mùa vụ và tăng giá trị sản xuất ngành nông nghiệp Những kết quả của ngành kinh tế nông nghiệp đã góp phần thúc đẩy sự chuyển biến về kinh tế - xã hội, giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập cho người nông dân, xóa đói giảm nghèo và làm giàu cho người sản xuất nông nghiệp
Bên cạnh những kết quả đã đạt được, kinh tế nông nghiệp tỉnh Thái Nguyên vẫn đặt ra nhiều vấn đề, thách thức, tồn tại: nguồn lực chưa được khai thác hiệu quả, ngành nông nghiệp phát triển vẫn chưa tương xứng với tiềm năng, thế mạnh của tỉnh; sản xuất chủ yếu là kinh tế hộ, nhỏ lẻ và phân tán; tình trạng lãng phí tài nguyên đất; cơ cấu ngành kinh tế nông nghiệp còN bất hợp lý; thị trường tiêu thụ nông sản có nhiều biến động; các mặt hàng xuất khẩu còn hạn chế; quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng kinh tế thị trường và tiến hành CNH, HĐH còn chậm và chưa đồng bộ…
Trước tình hình kinh tế thế giới có nhiều biến đổi, tác động đến mọi quốc gia dân tộc, kinh tế Việt Nam ngày càng hội nhập sâu với quốc tế và khu vực thì việc đánh giá quá trình Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên trong quá trình lãnh đạo thúc đẩy phát triển kinh tế nông nghiệp trên địa bàn tỉnh sẽ góp phần hoạch định sát hợp các chủ trương phát triển kinh tế nông nghiệp, là việc làm có ý nghĩa khoa học và thực tiễn…
Trước những đòi hỏi cấp thiết trong thực tiễn lãnh đạo nông nghiệp của Đảng
bộ, lại được sinh ra và lớn lên từ làng quê Thái Nguyên, được hưởng thành quả trực
tiếp từ nông nghiệp đã thôi thúc tác giả chọn đề tài “Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên lãnh
đạo phát triển kinh tế nông nghiệp theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa (1997 – 2010)” làm đề tài nghiên cứu khoa học cấp Đại học
2 MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
Làm rõ quá trình Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên lãnh đạo phát triển kinh tế nông nghiệp từ năm 1997 đến năm 2010, trên cơ sở đó nêu ra một số nhận xét và đúc rút một số kinh nghiệm
3 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
Làm rõ những căn cứ để Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên xác định chủ trương phát triển kinh tế nông nghiệp từ năm 1997 đến năm 2010
Phân tích hệ thống chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên đối với kinh tế nông nghiệp, trong những năm 1997 – 2000 đề tài tập trung nghiên cứu chủ trương của Đảng bộ tỉnh phát triển kinh tế nông nghiệp theo hướng CNH, HĐH; những năm 2001 – 2010 đề tài nghiên cứu chủ trương của Đảng bộ tỉnh đẩy mạnh CNH, HĐH
Trang 15Phân tích, đánh giá những ưu điểm, hạn chế, nguyên nhân và rút ra những kinh nghiệm của Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên trong quá trình lãnh đạo kinh tế nông nghiệp từ năm 1997 đến năm 2010
4 NGUỒN TÀI LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
4.1 Nguồn tài liệu của đề tài
Nguồn tư liệu chung:
- Văn kiện của Đảng và Chính phủ, Bộ NN&PTNT; các văn kiện của Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên và các đảng bộ cơ sở về kinh tế nông nghiệp…
- Tài liệu của các cấp, các ban ngành, cơ quan trong tỉnh Thái Nguyên về kinh
tế nông nghiệp, như: các báo cáo hằng năm, các đề án phát triển, các đề tài quy hoạch, niên giám thống kê… được lưu trữ tại Văn phòng Tỉnh ủy, Ủy ban, Hội đồng Nhân dân, Sở NN&PTNN tỉnh Thái Nguyên, Chi cục Thống kê tỉnh Thái Nguyên
- Các sách chuyên khảo, báo, tạp chí, đề tài khoa học đã công bố liên quan đến vấn đề kinh tế nông nghiệp
Nguồn tư liệu thực tế:
- Các dữ kiện, số liệu thu thập từ quá trình điều tra thực tế của tác giả đề tài có liên quan đến đề tài
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài được tiến hành dựa trên những quan điểm duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và những quan điểm của Đảng với một số phương pháp nghiên cứu chung của khoa học lịch sử như: phương pháp lịch sử, lôgic và kết hợp chặt chẽ hai phương pháp đó Ngoài ra tác giả còn sử dụng các phương pháp khác: phương pháp phân tích, tổng hợp, đối chiếu, thống kê, điều tra thực địa… Trong đó:
- Phương pháp lịch sử được sử dụng chủ yếu trong chương 2 và chương 3 để phân kỳ thời gian; làm rõ hoàn cảnh lịch sử; trình bày hệ thống các chủ trương, quan điểm của Đảng và Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên về kinh tế nông nghiệp
- Phương pháp lôgic được sử dụng trong chương 2 và chương 3 để xâu chuỗi các
sự kiện lịch sử, nêu những nội dung trọng tâm của từng văn kiện và liên kết các nội dung
đó để thấy được quá trình nhận thức, hoàn thiện chủ trương của Đảng và Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên về kinh tế nông nghiệp; sử dụng để khái quát quá trình chỉ đạo kinh tế nông nghiệp của Đảng bộ thành phố Thái Nguyên Trong chương 4, phương pháp lôgic được sử dụng chủ yếu để khái quát những ưu điểm, hạn chế và rút ra những kinh nghiệm từ quá trình Đảng bộ Thái Nguyên lãnh đạo kinh tế nông nghiệp từ năm 1997 đến năm 2010
Trang 16- Tác giả còn sử dụng các biện pháp khác như: phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh, khảo sát thực địa để đánh giá kết quá tăng trưởng của kinh tế nông nghiệp Thái Nguyên qua từng giai đoạn; phục dựng chân thực tình hình phát triển kinh tế nông nghiệp, để thấy rõ vai trò lãnh đạo của Đảng bộ Thái Nguyên
Trang 17TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
1 Nhóm nghiên cứu về nông nghiệp, nông thôn thời kỳ đổi mới
Năm 1991, tác giả Nguyễn Sinh Cúc đã biên soạn và xuất bản cuốn Thực trạng
nông nghiệp, nông thôn và nông dân Việt Nam 1976 – 1990 [24] Tác phẩm đã phản
ánh một cách khách quan về thực trạng nông thôn và đời sống của người nông dân Việt Nam Những nội dung tác giả đã trình bày là những tư liệu cần thiết cho việc hoạch định chính sách phát triển nông nghiệp, nông thôn Việt Nam trong quá trình tiếp tục thực hiện đường lối đổi mới của Đảng Tuy nhiên, cuốn sách này vẫn còn phân tích chưa sâu về chuyển biến của kinh tế nông nghiệp trước và sau đổi mới; chưa thấy
rõ được sự thay đổi của bộ mặt nông thôn và những chuyển biến tích cực của đời sống nhân dân Việt Nam
Năm 2004, Ban biên tập Lịch sử nông nghiệp Việt Nam đã viết cuốn Lịch sử
nông nghiệp Việt Nam [6] Nội dung của cuốn sách tập trung vào những vấn đề: những
chặng đường phát triển lịch sử nông nghiệp của Việt Nam đã đi qua kể từ thời tiền sử cho đến ngày nay; lịch sử phát triển các loại tài nguyên nông nghiệp; lịch sử các bộ phận hợp thành nên nông nghiệp Việt Nam; lịch sử phát triển các biện pháp kỹ thuật, phương thức canh tác trong nông nghiệp; lịch sử tổ chức, quản lý nông nghiệp qua các thời đại; những bài học rút ra được từ lịch sử phát triển kinh tế nông nghiệp Việt Nam,
và có những dự báo cho nông nghiệp nước ta trong thời gian tới
Với công trình: Đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp - Thành tựu, vấn đề và triển
vọng [14], tác giả Nguyễn Văn Bích tập trung phân tích thực trạng nông nghiệp và quản
lý kinh tế nông nghiệp của Việt Nam trước thời kỳ đổi mới để dẫn đến nhu cầu cấp bách cần phải đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp Đồng thời khẳng định đổi mới cơ chế quản lý nông nghiệp bước đầu đã phát huy được tiềm năng kinh tế nông nghiệp trở thành động lực thúc đẩy kinh tế đất nước Tác giả đã đưa ra một số giải pháp tiếp tục đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp trong những năm tiếp theo
Năm 1995, tác giả Lê Nghiêm, Nguyễn Đình Nam đã viết cuốn Kinh tế nông
thôn [80] Công trình này đã cung cấp những kiến thức cơ bản, có hệ thống về kinh tế
nông thôn và gợi mở những vấn đề thực tiễn mà nông thôn Việt Nam đang đặt ra
Cùng bàn về nội dung này, năm 1997, tác giả Nguyễn Đình Hợi đã viết cuốn
Kinh tế nông nghiệp [61] Nội dung chính của cuốn sách tập trung vào tìm hiểu những
vấn đề: nông nghiệp nông thôn trong hệ thống kinh tế quốc dân; các hình thức tổ chức kinh tế trong nông nghiệp; quản lý và sử dụng các nguồn lực để phát triển kinh tế nông
Trang 18nghiệp nông thôn; cơ cấu kinh tế nông nghiệp và nông thôn; vai trò của nhà nước với
sự phát triển kinh tế nông nghiệp - nông thôn
Năm 1999, công trình Nông thôn trong bước quá độ sang kinh tế thị trường (tập
1) của Viện Thông tin khoa học Xã hội [166] cứu về đặc điểm biến đổi của xã hội
nông thôn Việt Nam trong thời kì đổi mới, nêu lên những đánh giá về thành tựu của công cuộc đổi mới, thực chất các vấn đề mới nảy sinh và chiến lược phát triển nông thôn Việt Nam Đây là công trình có giá trị để các nhà nghiên cứu có những đối sánh
về chính sách phát triển kinh tế nông nghiệp giữa các nước XNCN, từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm quý cho Việt Nam
Bàn về kinh tế trang trại, có những công trình như: Thực trạng, giải pháp phát
triển kinh tế trang trại trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa của tác giả
Nguyễn Đình Hương [69]; Tập trung ruộng đất trong mô hình kinh tế trang trại cho
mục tiêu phát triển nông nghiêp bền vững của Đặng Hùng Võ [168] Các công trình đều
thống nhất về vai trò của kinh tế trang trại trong nông nghiệp, nông thôn Các tác giả đã nêu lên những khó khăn trong quá trình phát triển kinh tế trang trại như: vấn đề tích tụ ruộng đất, đầu ra của nông sản Do đó, để phát triển nền nông nghiệp bền vững, các tác giả nêu ra một loạt các giải pháp nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế trang trại
Năm 2002, để định hướng con đường CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn, Bộ
NN&PTNT biên soạn và phát hành cuốn Con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa
nông nghiệp, nông thôn Việt Nam [19] Cuốn sách đã phân tích sâu sắc, cụ thể con
đường Việt Nam sẽ đi trong quá trình thực hiện mục tiêu CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn Đi theo con đường đó, Việt Nam sẽ gặp phải rất nhiều khó khăn và thử thách nhưng với với lòng quyết tâm của toàn dân tộc, Việt Nam nhất định sẽ thành công và bước những bước vững chắc hoàn thành mục tiêu đã đề ra Đồng thời, tác giả cũng giải thích một cách thuyết phục lý do Việt Nam phải đi theo con đường đó mà không đi theo con đường mà các nước tư bản đã đi qua
Trong cuốn Góp phần phát triển bền vững nông thôn Việt Nam, tác giả Nguyễn
Xuân Thảo [104] đã đề cập đến nhiều vấn đề rất cơ bản, rất bức xúc của nông nghiệp, nông thôn như vấn đề sử dụng đất đai, an ninh lương thực, quy hoạch các vùng kinh tế, vấn đề việc làm ở nông thôn, lợi ích người lao động; đi sâu phân tích và đóng góp ý kiến cho phương hướng phát triển của những lĩnh vực, chuyên ngành lớn của nông nghiệp như vấn đề phát triển cây công nghiệp, vùng nguyên liệu, nuôi trồng thủy sản…
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn ở Việt Nam con đường và bước đi là công trình của tác giả Nguyền Kế Tuấn [144] Theo tác giả, sau 20 năm đổi
Trang 19mới kinh tế nông nghiệp Việt Nam có nhiều chuyển biến tích cực, đời sống xã hội ở nông thôn đang hướng tới hình thành nông thôn mới, hiện đại Theo tác giả để tiếp tục quá trình đổi mới, CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn ở Việt Nam phải giải quyết những khó khăn như: chất lượng sản phẩm, hiệu quả tăng trưởng kinh tế nông nghiệp thấp, năng lực canh tranh của hàng hóa nông sản thấp, sản xuất manh nhỏ Đây là những vấn đề lớn
mà việc giải quyết chúng phải có bước đi và cách làm phù hợp, thận trọng
Trong công trình Vài nét về nông nghiệp Việt Nam chặng đường 60 năm sau
cách mạng (1945 - 2005) [26], tác giả Đinh Thị Thu Cúc đã phân tích những vấn đề cơ
bản của nông nghiệp Việt Nam qua những giai đoạn lịch sử quan trọng: nền nông nghiệp cách mạng mất hơn một chục năm kháng chiến chống thực dân Pháp và thực hiện “người cày có ruộng” (1945 - 1957; ba mươi năm nền nông nghiệp hợp tác hóa - tập thể hóa (1958 -1988); nền nông nghiệp khởi sắc trong thời kỳ đổi mới (1989 - 2005)
Nghiên cứu về hội nhập và kinh nghiệm quốc tế trong quá trình CNH, HĐH nông
nghiệp, nông thôn, tiêu biểu như cuốn: Vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn - Kinh
nghiệm Việt Nam và Trung Quốc do tác giả Phùng Hữu Phú và Nguyễn Viết Thông
đồng chủ biên [84]; Kinh nghiệm quốc tế về nông nghiệp và nông dân trong quá trình
công nghiệp hóa, hiện đại hóa của Đặng Kim Sơn [96]; Tác động của hội nhập kinh tế quốc tế đối với phát triển nông nghiệp Việt Nam của Nguyễn Từ [146] Các công trình
trên đều đề cập đến tầm quan trọng và vai trò của kinh tế nông nghiệp và phân tích quá trình công nghiệp hóa nông nghiệp, nông thôn ở một số nước trên thế giới và có liên hệ vào thực tiễn Việt Nam, trong đó có những vấn đề mang tính lý luận và thực tiễn sâu sắc như: vấn đề chuyển dịch cơ cấu kinh tế, giải quyết việc làm, vấn đề đất đai, thị trường nông sản, thu nhập của nông dân Đây là những vấn đề nông nghiệp Việt Nam đang trải qua và cần học tập kinh nghiệm từ các quốc gia đi trước trong quá trình hội nhập quốc tế
Những công trình trên đã cung cấp cho tác giả một bức tranh khái quát về kinh
tế nông nghiệp Việt Nam sau đổi mới
2 Nhóm nghiên cứu về chủ trương, vai trò của Đảng đối với quá trình đổi mới kinh tế nông nghiệp
Trên cơ sở nghiên cứu quá trình ra đời, phát triển và vai trò của Đảng Cộng sản
Việt Nam, tác giả Nguyễn Trọng Phúc viết cuốn Vai trò của Đảng Cộng sản Việt Nam
trong thời kỳ đổi mới [85] Công trình đã đề cập đến vai trò của Đảng trong phát triển
kinh tế, trong đó nhấn mạnh quá trình tìm tòi, đổi mới nông nghiệp của Đảng Từ đó các tác giả đi đến kết luận, trên cơ sở đổi mới tư duy, trước hết là tư duy kinh tế, trong đó
Trang 20đổi mới kinh tế nông nghiệp là khâu đột phá Trong quá trình Đảng lãnh đạo phát triển kinh tế nông nghiệp đã để lại nhiều bài học cho quá trình thực hiện những chủ trương, chính sách phát triển nông nghiệp hiện nay
Năm 1996, tác giả Nguyễn Văn Bích - Chu Tiến Quang đã viết cuốn Chính sách
kinh tế và vai trò của nó đối với phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn Việt Nam
[15] Công trình này đã đề cập một cách khá toàn diện những vấn đề về chính sách phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn của Đảng Cộng sản Việt Nam Thông qua việc phân tích đánh giá vai trò của các chính sách kinh tế đó, bức tranh về phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn nước ta được tái hiện với tất cả những thành tựu và hạn chế khiếm khuyết, những thách thức và mâu thuẫn, những tiềm năng dự báo và giới hạn phát triển, những vấn đề đang đặt ra và hướng xử lý các chính sách và giải pháp lớn
Năm 1999, tác giả Trương Thi Tiến xuất bản cuốn Đổi mới cơ chế quản lý kinh tế
nông nghiệp ở Việt Nam [111] Cuốn sách phân tích những bất hợp lý, cản trở lực lượng
sản xuất phát triển của cơ chế quản lý kinh tế nông nghiệp thời kỳ trước đổi mới Qua đó tác giả khẳng định, đổi mới cơ chế kinh tế nông nghiệp là nhu cầu cấp thiết Tác giả đã phân tích, làm rõ quá trình đổi mới tư duy trong quản lý kinh tế nông nghiệp
Tiếp tục bàn về chính sách nông nghiệp của Đảng và Chính phủ, có các công
trình như Phân tích chính sách nông nghiệp, nôn thôn của tác giả Ngô Đức Cát [22];
Chính sách phát triển nông nghiệp và nông thôn sau Nghi quyết 10 của Bộ Chính trị
của tác giả Lê Đình Thắng [105] Theo các tác giả, chính sách nông nghiệp là tổng thể các biện pháp mà Chính phủ sử dụng để tác động vào kinh tế nông nghiệp nhằm phát triển nông nghiệp theo những mục tiêu nhất định, trong thời hạn nhất định Các tác giả
đi sâu phân tích vai trò của chính sách nông nghiệp đối với sự phát triển của nông nghiệp, nông thôn, nhất là sau Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị Các công trình có ý nghĩa lý luận và thực tiễn, giúp người đọc hiểu được các bước xây dựng, điều chỉnh chính sách và quá trình tổ chức thực hiện chính sách đối với nông nghiệp, nông thôn Việt Nam
Trong công trình Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn Việt
Nam và chương trình đẩy mạnh xuất khẩu nông sản của Nguyễn Hữu Khải [70] đã hệ
thống hóa các lý luận cơ bản về nông nghiệp, nông thôn và các quan điểm của Đảng và Nhà nước về CNH, HĐH và đẩy mạnh xuất khẩu; tìm hiểu mô hình CNH, HĐH đặc biệt là công nghiệp hóa nông nghiệp, nông thôn của một số nước Từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm cho quá trình CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn của Việt Nam; Qua
đó làm rõ mối quan hệ biện chứng giữa CNH, HĐH nông nghiệp và nông thôn với xuất
Trang 21khẩu nông sản Phân tích và đánh giá về thực trạng CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn của Việt Nam và thực trạng xuất khẩu một số mặt hàng nông sản Từ đó chỉ ra những thuận lợi và khó khăn đối với Việt Nam những năm tới nhằm đưa ra những quan điểm định hướng và mục tiêu thực hiện CNH, HĐH nông nghiệp và nông thôn, cùng với những giải pháp nhằm đẩy mạnh xuất khẩu nông sản để thực hiện CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn Việt Nam trong những năm đầu thế kỉ XXI
Tạp chí Lịch sử Đảng, số tháng 5 năm 2004 đăng bài của tác giả Nguyễn Lê
Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo điều chỉnh quan hệ sản xuất trong nông nghiệp
[74] Theo bài báo, quan hệ sản xuất trong nông nghiệp mà thực chất là cơ chế quản lý sản xuất trong nông nghiệp đã được Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo điều chỉnh từ
cơ chế quản lý tập trung quan liêu, bao cấp sang cơ chế quản lý theo thị trường Nhờ
đó, nông nghiệp Việt Nam đã khắc phục được sự khủng hoảng, trì trệ, khơi dậy phát huy được tiềm năng sáng tạo của người nông dân Tác giả kết luận, từ thực tiễn khó khăn của nông nghiệp Việt Nam, Đảng đã tìm tòi và quyết tâm đổi mới Thành tựu đạt được trong nông nghiệp Việt nam hiện nay bắt nguồn trước hết từ đường lối phát triển kinh tế nông nghiệp của Đảng
Tạp chí Lịch sử Đảng, số tháng 2 năm 2006 đăng bài Tìm hiểu chủ trương, chính
sách của Đảng và Nhà nước về nông nghiệp, nông thôn trong thời kỳ đổi mới của tác giả
Phạm Văn Búa [21] Tác giả bài báo đã khái quát các chủ trương, chính sách của Đảng
và Nhà nước sau 20 năm đổi mới và khẳng định chủ trương đúng đắn của Đảng về nông nghiệp, nông thôn trong thời kỳ đổi mới không chỉ đảm bảo sự phát triển hài hòa giữa công nghiệp và nông nghiệp, giữa thành thị và nông thôn mà còn đảm bảo cho nông nghiệp Việt Nam phát triển nhanh, bền vững theo định hướng xã hội chủ nghĩa
Công trình Đảng với vấn đề nông dân, nông nghiệp và nông thôn (1930 -
1975) của tác giả Vũ Quang Hiển chủ biên [60] đã góp phần tái hiện lại bức tranh kinh
tế - xã hội Việt Nam giai đoạn 1930 - 1975, trong đó đặc biệt đi sâu phân tích chủ trương chính sách của Đảng đối với nông dân, nông nghiệp, nông thôn; từ đó, rút ra một số nhận xét và những bài học kinh nghiệm trong việc tiếp tục phát huy vị trí, vai trò, sức mạnh của giai cấp nông dân, địa bàn nông thôn và ngành kinh tế nông nghiệp trong giai đoạn hiện nay
Đầu thế kỷ XXI, đã có nhiều luận án đề cập đến chủ trương, vai trò của Đảng,
Đảng bộ các địa phương về đổi mới kinh tế, trong đó có kinh tế nông nghiệp: Đảng
Cộng sản Việt Nam lãnh đạo sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn từ 1991 đến 2000 [83]; Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa lãnh đạo chuyển dịch cơ
Trang 22cấu kinh tế nông nghiệp từ năm 1986 đến 2005 [164]; Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp từ năm 1986 đến năm 2006 [82]; Đảng bộ thành phố Hải Phòng lãnh đạo kinh tế nông nghiệp từ năm 1996 đến năm 2010 [108]
Đây là những công trình nghiên cứu về chủ trương của Ðảng, vai trò của Đảng đối với kinh tế nông nghiệp Việt Nam trong thời kỳ đổi mới Các công trình tập trung phân tích, làm rõ chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước về vấn đề kinh tế nông nghiệp Nghiên cứu các công trình khoa học trên đã gợi mở cho tác giả đề tài hướng nghiên cứu, tiếp cận các nguồn tư liệu liên quan đến đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước về kinh tế nông nghiệp và những luận cứ khoa học trong quá trình triển khai đề tài
3 Nhóm nghiên cứu về nông nghiệp tỉnh Thái Nguyên
Nông nghiệp là một tiềm năng, thế mạnh của tỉnh Thái Nguyên, cho nên nghiên cứu về kinh tế nông nghiệp luôn được sự quan tâm của các nhà nghiên cứu, các nhà khoa học trong và ngoài tỉnh Đây là một trong những mảng đề tài đã có nhiều công trình nghiên cứu trực tiếp hoặc gián tiếp ở những khía cạnh khác nhau và đã được công bố:
Trong Luận án Tiến sĩ kinh tế Những vấn đề kinh tế phát triển cây chè ở Thái
Nguyên của tác giả Phạm Thị Lý [78] đã làm sáng tỏ cơ sở khoa học của những vấn đề
kinh tế trong phát triển chè Đề xuất những giải pháp kinh tế - kỹ thuật khả thi cho việc phát triển chè Thái Nguyên Đề xuất các kiến nghị về việc thực hiện các chính sách kinh
tế phù hợp đối với cây chè Thái Nguyên
Luận án Tiến sĩ kinh tế Tác động của Nhà nước trong quá trình chuyển kinh tế
hộ nông dân lên sản xuất hàng hóa ở tỉnh Thái Nguyên của tác giả Lê Quang Dực [35]
đã hệ thống hóa quan điểm của các nhà khoa học về vị trí, vai trò của hộ nông dân, vai trò của nhà nước trong sự phát triển của thành phần kinh tế này Công trình đã phân tích thực trạng kinh tế hộ nông dân và vai trò của nó trong kinh tế tỉnh Thái Nguyên
Từ đó, đưa ra những biện pháp khả thi cho việc chuyển đổi kinh tế hộ nông dân sang kinh tế hàng hóa
Trong Luận án Thực trạng và một số giải pháp chủ yếu nhằm thúc đẩy quá trình
chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh Thái Nguyên của tác giả Vương Xuân Tình [113] đề cấp đến cơ sở lý luận, thực tiễn và
phương pháp nghiên cứu chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng CNH, HĐH; thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn ở tỉnh Thái Nguyên
Trang 23Trong Luận án của tác giả Nguyễn Văn Sơn (chuyên ngành Địa lí) Chuyển dịch
cơ cấu kinh tế tỉnh Thái Nguyên trên quan điểm phát triển bền vững [97] nghiên cứu và
đánh giá sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế trên quan điểm phát triển bền vững của tỉnh Thái Nguyên Ngoài ra, tác giả đưa ra những quan điểm, đề xuất những định hướng và giải pháp chủ yếu bảo đảm chuyển dịch cơ cấu kinh tế trên quan điểm phát triển bền vững của tỉnh Thái Nguyên
Luận án Tiến sĩ kinh tế Nghiên cứu năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp chè ở
tỉnh Thái Nguyên của tác giả Đỗ Thị Thúy Phương [87] đưa ra một số vấn đề lý luận và
thực tiễn về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp chè Trình bày đặc điểm, thực trạng năng lực cạnh tranh, cùng một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp chè ở tỉnh Thái Nguyên - cây nông nghiệp mũi nhọn của tỉnh Thái Nguyên
Luận án Tiến sĩ kinh tế Phát triển nông nghiệp, nông thôn với giảm nghèo ở
tỉnh Thái Nguyên của tác giả Nguyễn Thị Yến [170] đã phân tích lý luận cơ bản về
phát triển nông nghiệp, nông thôn và đói nghèo Trên cơ sở trình bày thực trạng và phân tích ảnh hưởng của phát triển nông nghiệp nông thôn với xoá đói giảm nghèo tỉnh Thái Nguyên, tác giả đã đề xuất giải pháp phát triển nông nghiệp, nông thôn nhằm góp phần xóa đói giảm nghèo ở khu vực này
Luận án Tiến sĩ kinh tế Tổ chức và quản lý sản xuất, chế biến, tiêu thụ rau trên
địa bàn tỉnh Thái Nguyên trong điều kiện hội nhập của tác giả Lưu Thái Bình [18]
trình bày cơ sở khoa học về tổ chức và quản lý sản xuất, chế biến, tiêu thụ rau trong điều kiện hội nhập, đồng thời đưa ra những giải pháp chủ yếu hoàn thiện tổ chức và quản lý sản xuất chế biến, tiêu thụ rau ở tỉnh Thái Nguyên trong điều kiện hội nhập kinh tế sâu rộng
Luận án Tiến sĩ Lịch sử Quá trình chuyển biến kinh tế tỉnh Thái Nguyên từ
năm 1997 đến năm 2010 của tác giả Hoàng Thị Mỹ Hạnh [59] đã tái hiện một cách
hệ thống quá trình chuyển biến kinh tế, xã hội của tỉnh Thái Nguyên từ năm 1997 đến năm 2010 Từ đó, luận án đã đưa ra những đánh giá về lợi thế, tiềm năng nguồn lực phát triển kinh tế, xã hội của tỉnh Thái Nguyên; những ưu điểm, hạn chế, bất cập trong quá trình chuyển biến kinh tế xã hội của tỉnh
Liên quan đến đề tài kinh tế nông nghiệp Thái Nguyên, còn có các công trình nghiên cứu:
Lịch sử Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên 1965-2000 của Ban Chấp hành Đảng bộ
Tỉnh Thái Nguyên [5] đã ghi lại một cách trung thực khách quan và tương đối đầy đủ những thành tựu to lớn và cả những mặt chưa thành công trên mọi lĩnh vực của Đảng
Trang 24bộ và nhân dân các dân tộc tỉnh Thái Nguyên trong 35 năm Đặc biệt trong lĩnh vực kinh tế, cuốn sách tập trung phản ánh sự chuyển biến của kinh tế công nghiệp dịch vụ tính từ năm 1965 đến năm 2000 Tuy cuốn sách tác giả chưa trình bày và phân tích cụ thể về tình hình kinh tế nhưng những tư liệu cuốn sách cung cấp là rất quan trọng cho quá trình nghiên cứu, đề ra chủ trương phát triển kinh tế tỉnh Thái Nguyên, trong đó có vấn đề nông nghiệp, nông thôn
Sở NN&PTNT tỉnh Thái Nguyên biên soạn và phát hành cuốn Lịch sử ngành
nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Thái Nguyên (1945- 2010) [103] Cuốn sách
đã khát quát một về ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Thái Nguyên những năm đầu thực hiện đường lối CNH, HĐH đất nước (1997 - 2000) thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước (2001 - 2005) Công trình này đã trình bày một cách cụ thể những kết quả đạt được, những hạn chế cần khắc phục, đồng thời đề ra những giải pháp sắp xếp ổn định dân cư khu vực nông thôn và quy hoạch tổng thể phát triển nông nghiệp, nông thôn tỉnh Thái Nguyên thời kỳ 2003 - 2010
Địa chí Thái Nguyên do Tỉnh ủy Thái Nguyên biên soạn, công bố năm 2005
[133] phản ánh một cách khái quát về tỉnh Thái Nguyên: vị trí địa lý; điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, dân cư; lịch sử hình thành, đấu tranh và phát triển của tỉnh Thái Nguyên; các huyện thành của tỉnh Trong đó, các tác giả đặc biệt quan tâm đến việc giới thiệu và trình bày về nên kinh tế công - nông nghiệp của toàn tỉnh Đây là công trình khoa học có ý nghĩa quan trọng góp phần giúp cán bộ, nhân dân tỉnh Thái Nguyên cũng như nhân dân trong nước hiểu biết thêm về lịch sử phát triển, những cơ sở nguồn lực tự nhiên, nguồn lực con người để Thái Nguyên đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế - xã hội Đây cũng là nguồn tư liệu quan trọng để các nhà nghiên cứu sử dụng, tham khảo trong quá trình nghiên cứu về tỉnh Thái Nguyên Đặc biệt những tri
thức tập hợp trong Địa chí Thái Nguyên sẽ giúp cho các nhà lãnh đạo, quản lý ở các
cấp, các ngành có thêm những hiểu biết về địa phương mình, từ đó hoạch định những chủ trương, chính sách, quy hoạch phù hợp, thúc đẩy kinh tế phát triển nhanh và vền vững, thu hút nguồn vốn đầu tư trong và ngoài nước Đặc biệt là trong thực hiện mục tiêu công nghiệp hóa nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới
Trong cuốn Kinh tế - xã hội tỉnh Thái Nguyên sau 15 năm tái lập (1997 -
2012) [33] của Cục thống kê đã tập trung thống kê, hệ thống hóa số liệu về kinh tế
- xã hội theo từng giai đoạn và có những phân tích, đánh giá về các số liệu đó; so sánh một số chỉ tiêu giữa các năm 1986, năm 1997 và năm 2011, trong đó có kinh
tế nông nghiệp Công trình cũng tập trung trình bày về sự phát triển của nông
Trang 25nghiệp - ngành kinh tế trọng điểm của tỉnh và kết quả thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới Tuy nhiên, cuốn sách mới chỉ dừng lại ở những con số cụ thể, chưa phân tích được những thành tựu, hạn chế, bài học kinh nghiệm cụ thể trong lĩnh vực kinh tế nông nghiệp
Với các công trình nghiên cứu khoa học nói trên, mặc dù không đề cập một cách toàn diện đến kinh tế nông nghiệp của tỉnh Thái Nguyên, nhưng kết quả nghiên cứu của các công trình đó đã giúp tác giả đề tài có thêm những hiểu biết về thực tiễn của nền kinh tế nông nghiệp Thái Nguyên cũng như những tác động của nó đối với
sự phát triển xã hội cho đến thời điểm mà đề tài nghiên cứu Những kết quả nghiên cứu trên được tác giả chọn lọc, kế thừa trong việc nghiên cứu và trình bày trong đề tài của mình; đồng thời những công trình nghiên cứu trên đây đã giúp tác giả có thêm nhiều tài liệu có giá trị khoa học
4 Nhận xét
Qua việc khảo sát những công trình trên, đề tài nhận thấy có những vấn đề cần làm sáng rõ hơn như: quá trình Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên quán triệt chủ trương của Đảng về kinh tế nông nghiệp vào thực tiễn ra sao? Quá trình hoạch định chủ trương và chỉ đạo thực hiện ở Thái Nguyên diễn ra như thế nào? Những kinh nghiệm rút ra từ thực tiễn quá trình lãnh đạo kinh tế nông nghiệp Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên là gì? Chừng nào những vấn đề trên chưa được làm sáng tỏ và luận giải thấu đáo thì những đánh giá, kiến giải về lãnh đạo thực hiện chính sách của Đảng về kinh tế nông nghiệp
ở Thái Nguyên vẫn chưa đầy đủ, sâu sắc và toàn diện
Để làm rõ sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên đối với kinh tế nông nghiệp từ năm 1997 đến năm 2010, đề tài tập trung nghiên cứu một số vấn đề sau:
- Quá trình quán triệt, vận dụng những chủ trương, chính sách đó của Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên vào thực tiễn địa phương từ năm 1997 đến đến năm 2010 qua hai khoảng thời gian 1997 - 2000 và 2001- 2010
- Quá trình chỉ đạo hiện thực hóa chủ trương của Đảng bộ trên các lĩnh vực cụ thể: phát kinh tế hộ, kinh tế trang trại; chuyển dịch cơ cấu kinh tế; tăng cường cơ sở vật chất, áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp
- Đánh giá những thành công cũng như hạn chế trong quá trình Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên lãnh đạo kinh tế nông nghiệp từ năm 1997 đến năm 2010
- Đúc kết một số kinh nghiệm trong lãnh đạo thực hiện
Xuất phát từ vị trí, vai trò của mình, kinh tế nông nghiệp được nhiều tập thể,
nhà khoa học quan tâm từ những góc độ khác nhau (lịch sử Việt Nam, lịch sử Đảng
Trang 26Cộng sản Việt Nam, xã hội, kinh tế, địa lý), với những mức độ khác nhau: từ những
bài báo đăng trên các tạp chí đến những sách tham khảo, chuyên khảo; từ những luận văn thạc sĩ đến những luận án tiến sĩ Những công trình đó đã giải quyết được rất nhiều vấn đề giúp cho đề tài có thể kế thừa, phát triển nhằm đi sâu nghiên cứu về sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên đối với kinh tế nông nghiệp Thái Nguyên từ năm 1997 đến năm 2010 Đặc biệt là những vấn đề như: chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam đối phát kinh tế nông nghiệp; một số tư liệu về sự phát triển của kinh tế nông nghiệp tỉnh Thái Nguyên trên một số lĩnh vực: trồng trọt, chăn nuôi trong thời gian 1997 - 2010
Tuy nhiên chưa có công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống về vai trò lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên đối với kinh tế nông nghiệp từ năm 1997 đến năm
2010 Do vậy, việc thực hiện đề tài này sẽ góp phần làm sáng rõ nền kinh tế nông
nghiệp của Thái Nguyên trong thời gian này dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh
Trang 27Chương 1
ĐẢNG BỘ TỈNH THÁI NGUYÊN LÃNH ĐẠO PHÁT TRIỂN KINH TẾ
NÔNG NGHIỆP TỪ NĂM 1997 ĐẾN NĂM 2000
1.1 Những căn cứ để xác định chủ trương phát triển kinh tế nông nghiệp
1.1.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội tỉnh Thái Nguyên
Nhóm nhân tố về điều kiện tự nhiên
Thái Nguyên là tỉnh miền núi, thuộc vùng trung du, miền núi Đông Bắc; diện tích đất tự nhiên 3.541,67 km2; nằm trong hệ tọa độ địa lý từ 21019’ đến
22003’ vĩ độ bắc và 105029’ đến 106015’ kinh đông, từ bắc đến nam dài 43 phút vĩ
độ (80 km), từ tây sang đông rộng 46 phút vĩ độ (85 km) Điểm cực bắc ở vĩ độ
22003’ thuộc xã Linh Thông, huyện Định Hóa; điểm cực nam ở vĩ độ 21019’thuộc
xã Thuận Thành, huyện Phổ Yên; điểm cực tây ở kinh độ 105029’ thuộc xã Yên Lãng, huyện Đại từ; điểm cực đông ở kinh độ 106015’ thuộc xã Phượng Giao, huyện Võ Nhai [133, tr 22]
Thái Nguyên có phía bắc giáp tỉnh Bắc Kạn; phía đông giáp tỉnh Lạng Sơn, Bắc Giang; phía nam giáp thủ đô Hà Nội; phía tây giáp các tỉnh Vĩnh Phúc và Tuyên Quang Với vị trí đó, Thái Nguyên là cầu nối giữa vùng rừng núi Việt Bắc với các tỉnh vùng châu thổ sông Hồng, là phên dậu bảo vệ phía bắc kinh thành Thăng Long xưa và thủ đô Hà Nội ngày nay, thuận lợi cho việc giao lưu trao đổi hàng hóa
Năm 1997, khi mới tách tỉnh, Thái Nguyên có 9 đơn vị hành chính: 7 huyện, 01 thành phố và 01 thị xã; với 177 xã phường thị trấn (20 phường, 13 thị trấn và 144 xã), trong đó có 16 xã vùng cao, có 110 xã, thị trấn miền núi Đến năm 2010, tỉnh Thái Nguyên có 01 thành phố, 01 thị xã, 7 huyện với 181 đơn vị hành chính (25 phường, 13 thị trấn, 143 xã) [103, tr 367]
Trang 28với vùng đồng bằng tạo bởi sông Cầu và sông Công, thuận lợi cho trồng các loại cây lương thực: lúa, ngô, khoai và các loại rau màu; các loại cây công nghiệp ngắn ngày lạc, đỗ và cây công nghiệp dài ngày như chè
Nhóm địa hình đồi, gồm có địa hình đồi núi thấp, dạng bát úp, đỉnh bằng rộng
có độ cao phổ biến 50 - 70 m, phân bố chủ yếu ở phía đông bắc Phú Bình, tây Phổ Yên, đặc biệt là khoảng giữa sông Cầu và sông Công; loại cảnh quan đồi cao, đỉnh bằng hẹp, có độ cao phổ biến 100 - 125 m, phân bố ở phía tây bắc của tỉnh, kéo dài từ huyện Đại Từ đến huyện Định Hóa và phía tây thành phố Thái Nguyên; loại địa hình dãy đồi cao, đỉnh nhọn hẹp kéo dài, với độ cao phổ biến 100 - 125 m, phân bố ở phía bắc thành phố Thái Nguyên, các huyện Đồng Hỷ, Phú Lương, Định Hóa Loại địa hình này phù hợp với trồng các loại cây công nghiệp như chè, cây lấy gỗ như keo, mỡ
Nhóm địa hình núi thấp, chủ yếu là núi thấp, sườn khá dốc, bề mặt lồi lõm phức tạp, phân bố chủ yếu ở phía đông, đông bắc, tây, tây bắc và tây nam của tỉnh Loại địa hình này chỉ thuận lợi cho phát triển kinh tế rừng
Về đặc điểm khí hậu
Đặc điểm của chế độ khí hậu Thái Nguyên là tính chuyển tiếp giữa đồng bằng
và miền núi Sự chuyển tiếp được thể hiện ở biên độ giao động nhiệt độ giữa ngày và đêm lớn hơn đồng bằng Bắc Bộ Tính chất chuyển tiếp còn thể hiện trong chế độ mưa
và chế độ gió; mưa ở đây thường lớn hơn đồng bằng, gió yếu hơn vùng đồng bằng Do ảnh hưởng của địa hình nên Thái Nguyên chịu ảnh hưởng sâu sắc của gió mùa đông bắc Mùa đông thường đến sớm, nhiệt độ khá thấp và kết thúc muộn hơn các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ Điều này đã ảnh hưởng nhiều đến sản xuất nông nghiệp của địa phương
Phía tây Thái Nguyên là dãy núi Tam Đảo, có hướng tây bắc - đông nam nên gió mùa đông nam dễ xâm nhập và gây mưa lớn, đồng thời ngăn gió mùa đông bắc cho nên thường gây mưa lớn ở sườn đông dãy Tam Đảo thuộc địa phận phía đông tỉnh Thái Nguyên, cho nên thường xuyên có hiện tượng lũ, lụt ảnh hưởng không nhỏ đến sản xuất nông nghiệp và đời sống nhân dân
Ngược lại, phía đông Thái Nguyên là dãy núi đá thấp, hướng địa hình đông bắc
- tây nam, làm cho gió mùa đông bắc dễ dàng xâm nhập, nhưng lại ngăn cản gió mùa đông nam.Vì vậy, đây là vùng có khí hậu khắc nghiệt, lạnh hơn các vùng khác, ít mưa hơn, mùa hè nóng hơn, mùa đông thường xuất hiện hiện tượng sương muối đã ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động trồng trọt và chăn nuôi
Vùng trung du và đồng bằng phía nam tỉnh, khí hậu mang sắc thái của đồng bằng Bắc Bộ Nhìn chung, địa hình đã phân hóa khí hậu Thái Nguyên thành 3 vùng rõ
Trang 29nét: phía tây nóng và mưa nhiều; phía đông lạnh ít mưa; phía nam khí hậu có tính chất trung gian chuyển tiếp giữa phía đông và phía tây, giữa các tỉnh miền núi Đông Bắc với các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ
Lượng mưa trung bình hằng năm ở Thái Nguyên khoảng 1600 - 1900 mm Tuy nhiên lượng mưa diễn ra không đồng đều giữa các vùng Phía đông nam lượng mưa thấp, có thể xuống tới 1450 mm Ngược lại, vùng phía tây nam tỉnh lượng mưa trung bình năm lên tới 2000 mm Chế độ mưa có thể phân thành 2 mùa Mùa mưa trùng với mùa nóng, có lượng mưa lớn, kéo dài 7 tháng từ tháng 5 đến tháng 10, chiếm 85 - 90% lượng mưa cả năm Mùa khô trùng với mùa lạnh, từ tháng 11 đến tháng 4, lượng mưa thấp chỉ bằng 10 đến 15% lượng mưa cả năm
Nhìn chung khí hậu Thái Nguyên được hình thành trên một nền nhiệt cao, kết hợp với địa hình cụ thể đã làm nên đặc điểm khí hậu nóng ẩm, mưa mùa, có mùa đông lạnh và rất thất thường trong năm
Hệ thống thủy văn
Thái Nguyên có hệ thống sông ngòi khá dày, trong đó lớn nhất là sông Cầu, với lưu lượng nước trung bình hằng năm là 135 m3/giây, chế độ nước phù hợp với chế độ mưa, mùa lũ chiếm 75% lượng nước, mùa khô chiếm 25% lượng nước trong năm Bên cạnh sông Cầu, trên địa bàn Thái Nguyên còn có sông Chu (Định Hóa), sông Đu (Phú Lương), sông Công (Phổ Yên, Sông Công), sông Nghinh Tường (Võ Nhai), sông Khe
Mo (Đồng Hỷ), sông Đào (Phú Bình) Hệ thống sông ngòi đã góp phần quan trọng vào quá trình tưới tiêu theo mùa vụ, phục vụ hiệu quả quá trình sản xuất nông nghiệp
Cùng vời hệ thống sông, Thái Nguyên có nhiều hồ nhân tạo do ngăn dòng chảy, lấy nước làm thủy lợi mà thành Hệ thống hồ nhân tạo trên địa bàn Thái Nguyên ngoài chức năng cắt lũ, điều tiết nước tưới tiêu cho Thái Nguyên và các tỉnh lân cận, còn là nguồn nước để duy trì mực nước ngầm, tạo điều kiện cho sản xuất thủy sản, du lịch phát triển Trong đó lớn nhất là hồ Núi Cốc, với diện tích 25 km2, dung tích là 175 triệu m3 nước, là nguồn nước tưới cho 12000 ha lúa, 6900 ha cây công nghiệp của thành phố Thái Nguyên, thị xã Sông Công, huyện Phổ Yên và Phú Bình Ngoài ra, ở Thái Nguyên còn có các hồ nhân tạo: hồ Phú Xuyên, hồ Phượng Hoàng, hồ Vai Miếu (Đại Từ), hồ Bảo Linh (Định Hóa), hồ Cặp Kè (Đồng Hỷ), hồ Suối Lạnh (Phổ Yên),
hồ Trại Gạo (Phú Bình), hồ Ghềnh Chè (Sông Công), hồ Quán Chẽ (Võ Nhai), hồ Đồng Xiển (Phú Lương) Những hồ nước nhân tạo góp phần cung cấp nước cho sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là vào mùa khô và những vùng đất xa sông ngòi Do được
Trang 30cung cấp nước kịp thời cho nên nông nghiệp Thái Nguyên có thể tiến hành sản xuất 2 -
3 vụ/năm
Tình hình sử dụng đất đai
Theo thống kê năm 2009, toàn tỉnh có 150.591ha đất nông nghiệp, trong đó diện tích trồng cây hằng năm là 115.896 ha, diện tích trồng cây lâu năm 34.695 ha; có 171.697 ha rừng, trong đó diện tích rừng tự nhiên có 98.633 ha, rừng trồng 73.064 ha;
có 4.813 ha mặt nước nuôi trồng thủy sản
Với vị trí địa lý là trung du miền núi nên tiềm năng đất ở Thái Nguyên rất đa dạng Tổng diện tích đất rừng chỉ chiếm 7,5% tổng diện tích toàn tỉnh; diện tích đất bằng phẳng thuận lợi cho phát triển nông nghiệp chiếp tỷ lệ rất thấp (khoảng 10%), chỉ tập trung chủ yếu ở hai huyện phía Nam là Phổ Yên và Phú Bình và diện tích đất tận dụng ở các thung lũng, ven sông suối có thể trồng lúa và hoa màu có diện tích khoảng 2%; diện tích đất dành cho nông nghiệp chiếm tỷ lệ khá lớn, vì thế có thể khẳng định thế mạnh của Thái Nguyên là nông nghiệp; diện tích đất rừng xen nương rẫy chiếm khoảng 44% tổng diện tích đã phản ánh tình trạng chặt phá rừng làm nương rẫy diễn ra khá phổ biến, là nguyên nhân dẫn đến tình trạng suy giảm diện tích rừng; đất trồng màu và cây công nghiệp, chiếm tỷ lệ khá lớn (15,7%), thích hợp với các loại cây chủ yếu là ngô, khoai, đậu, đỗ, chè Trong đó chè là loại cây đặc sản, có giá trị hàng hóa cao, được trồng tập trung tại các huyện Phổ Yên, Đồng Hỷ, Đại Từ, Định Hóa, Phú Lương, thành phố Thái Nguyên
Nhóm nhân tố về kinh tế - xã hội
Thái Nguyên là trung tâm kinh tế, chính trị của vùng trung du miền núi đông bắc, kề sát đồng bằng Bắc Bộ, giáp với Hà Nội, thuận lợi cho giao lưu hàng hóa, dễ tiếp thu những thành tựu khoa học - công nghệ, nguồn đầu tư từ các tỉnh đồng bằng Đây là một lợi thế so với các tỉnh lân cận mà Thái Nguyên cần khai thác
Thái Nguyên là tỉnh có hệ thống cơ sở hạ tầng, kỹ thuật khá hoàn chỉnh: với 2753
km đường giao thông; hệ thống kênh đầu mối và kênh mương nội đồng phục vụ sản xuất nông nghiệp khá đồng bộ; mạng lưới điện quốc gia đã phủ kín các địa phương; mạng lưới bưu chính viễn thông đã phủ kín 100% số xã phường
Thái Nguyên là tỉnh có nền văn hóa đa sắc tộc Trên địa bàn tỉnh có 34 dân tộc cùng chung sống, trong đó có 8 tộc người có nguồn gốc bản địa như người Kinh, Tày, Sán Dìu, Dao Các tộc người nhập cư vào địa bàn tỉnh trong những thế kỷ gần đây như: Nùng, Sán Chay, Mông, Hoa Ở Thái Nguyên, tộc người Kinh chiếm số lượng đông nhất, gồm nhiều bộ phận hợp thành: người dân bản địa và một bộ phận di cư từ
Trang 31vùng đồng bằng lên Mỗi tộc người có ngôn ngữ riêng, phong tục tập quán riêng, có phương thức canh tác nông nghiệp riêng…đã tạo nên một nền kinh tế đa dạng và phong phú
Tuy nhiên, hạn chế tồn tại của kinh tế - xã hội Thái Nguyên đó là: nền kinh tế còn nhỏ bé và phát triển chưa tương xứng với tiềm năng của tỉnh Các tiềm năng về vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, đất đai, khí hậu và cơ sở hạ tầng chưa được khai thác hiệu quả Việc áp dụng khoa học - công nghệ vào quản lý, sản xuất, kinh doanh còn chậm Hiệu quả quản lý nhà nước của các cấp, các ngành còn yếu Nền hành chính công còn yếu về con người, phương tiện và năng lực thi hành công vụ Điều này đã kìm hãm khả năng khai thác các nguồn lực và lợi thế trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội
Về hệ thống Giáo dục - Đào tạo: Dù thuộc khu vực trung du miền núi nhưng
dân cư của tỉnh Thái Nguyên phần lớn có nguồn gốc từ miền xuôi, đồng bằng nên mặt bằng dân trí tương đối cao Tỉnh Thái Nguyên là trung tâm đào tạo nguồn nhân lực lớn thứ 3 sau Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh Đây là điều kiện thuận lợi cho tỉnh Thái Nguyên trong đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao; thúc đẩy hoạt động chuyển giao khoa học - công nghệ; phối hợp thực hiện các chương trình, dự án phát triển kinh tế
nông nghiệp theo hướng CNH, HĐH
Về dân số và nguồn lao động
Dân số của tỉnh Thái Nguyên tính vào cuối thời điểm năm 1997 là 1.029.600 người, đến năm 2010 là 1.131.278 người, tăng 101.678 nhân khẩu Lao động nông nghiệp chiếm tới 78,35% tổng số lao động toàn tỉnh Dân cư trong tỉnh có sự phân bố không đều giữa miền núi và đồng bằng, giữa nông thôn và thành thị, giữa các huyện trong tỉnh Những nơi tập trung đông dân cư như thành phố Thái Nguyên, các huyện Đại Từ, Phú Bình, Phổ Yên, Đồng Hỷ, thị xã Sông Công Những nơi tập trung ít dân
cư là các huyện Phú Lương, Định Hóa, Võ Nhai Mật độ dân cư giữa các thành phố, huyện, thị có sự chênh lệch nhau khá nhiều Thành phố Thái Nguyên có mật độ dân số trung bình là 1.250 người/km2, cao gấp 2 lần so với thị xã Sông Công và các huyện Phú Bình, Phổ Yên, trong khi đó mật độ dân cư trung bình huyện Võ Nhai chỉ đạt 72 người/km2 [133, tr 105]
Dân cư của tỉnh Thái Nguyên phần lớn trong độ tuổi lao động, luôn chiếm hơn 70% dân cư Đây là tỷ lệ cao hơn rất nhiều so với cả nước Vì vậy, nếu tổ chức đào tạo tốt sẽ trở thành nguồn lực quan trọng đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh theo hướng CNH, HĐH Đây vừa là thị trường vừa là động lực thúc đẩy kinh tế nông nghiệp phát triển
Trang 32Nhóm cơ sở hạ tầng
Giao thông: Thái Nguyên là cửa ngõ giao lưu kinh tế - xã hội giữa vùng trung
du miền núi với vùng đồng bằng Bắc Bộ Việc giao lưu đã được thực hiện thông qua
hệ thống đường bộ, đường sắt, đường sông hình rẻ quạt mà thành phố Thái Nguyên là trung tâm Trên địa bàn tỉnh hiện có 3 tuyến quốc lộ đi qua là quốc lộ 3, quốc lộ 1B, quốc lộ 37 và nhiều tỉnh lộ khác như: 242, 259, 262 Đến năm 2005, 100% số xã, phường, thị trấn trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên đều có đường ô tô đến trung tâm Ngoài ra, ở Thái Nguyên còn có tuyến đường sắt Hà Nội - Quán Triều Hệ thống quốc
lộ, tỉnh lộ và đường sắt đã tạo điều kiện thuận lợi cho giao thông, giao lưu hàng hóa giữa các địa phương trong tỉnh và với các tỉnh lân cận
Lưới điện: Tính đến thời điểm 31/12/2005, toàn tỉnh có 1 trạm biến áp 220 KV
và 4 trạm biến áp 110 KV, có 17 trạm biến áp trung gian 35 KV Tổng chiều dài lưới điện trung áp là 974 km với 549 trạm biến áp, số hộ nông thôn được sử dụng điện lưới
là 120.049 hộ, chiếm 63,2% tổng số hộ ở nông thôn Tuy nhiên, do có hệ thống sông suối nhiều, cho nên có nhiều hộ gia đình ở vùng sâu, vùng xa đã sử dụng máy thủy điện công suất nhỏ để phục vụ sản xuất, sinh hoạt
Thủy lợi: Bên cạnh hệ thống sông ngòi tự nhiên, hệ thống thủy lợi phục vụ sản
xuất nông nghiệp Thái Nguyên khá đa dạng, bao gồm 2.027 công trình lớn nhỏ như:
hệ thống đập Thác Huống, sông Máng, hồ Núi Cốc, hệ thống các trạm bơm, đập nước… đảm bảo tưới tiêu cho 33.000 ha vụ mùa, 23.000 ha vụ xuân và 8000 ha vụ đông Hệ thống thủy lợi đã giúp cho kinh tế nông nghiệp Thái Nguyên phát triển, đem lại nguồn thu lợi lớn về kinh tế mặt nước và nuôi trồng thủy sản, kinh doanh du lịch, dịch vụ
Hệ thống cơ sở dịch vụ nông nghiệp: Trung tâm Khuyến nông tỉnh với với
mạng lưới 60 cụm khuyến nông trên địa bàn tỉnh với chức năng thúc đẩy quá trình chuyển giao những tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp Công ty vật tư nông nghiệp tỉnh hằng năm thực hiện cung cấp vật tư, giống ngô, lúa, thức ăn phục vụ chăn nuôi Các trại giống: An Khánh, Tân Thái, Gia Sàng, Cù Vân, Núi Cốc, Hòa Sơn… đã cung cấp đủ số lượng cây, con giống phục vụ sản xuất Dịch vụ công nghiệp đã bước
đầu gắn với sản xuất nông nghiệp, đã thực hiện cơ giới hóa từng bước trong sản xuất
Như vậy, với những nhân tố về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, cơ sở hạ tầng như trên, Thái Nguyên có nhiều lợi thế để phát triển kinh tế nông nghiệp theo hướng đa dạng Tuy nhiên, xem xét từ góc độ kinh tế nông nghiệp, một số vấn đề cụ thể được đặt ra như sau:
Trang 33Thứ nhất: Dù thuộc khu vực miền núi nhưng dân cư của tỉnh Thái Nguyên phần
lớn có nguồn gốc từ miền xuôi, đồng bằng nên mặt bằng dân trí tương đối cao Tỉnh Thái Nguyên lại là trung tâm đào tạo nguồn nhân lực lớn thứ 3 sau Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh nên đây là điều kiện thuận lợi cho tỉnh Thái Nguyên trong việc ứng dụng khoa học công nghệ, kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp
Thứ hai: Thái Nguyên có vị trí giáp với Hà Nội, là cửa ngõ giao lưu kinh tế - xã
hội giữa vùng trung du miền núi với vùng đồng bằng Bắc Bộ Trên địa bàn của tỉnh Thái Nguyên có nhiều trường đại học, cao đẳng, trung học Đây là một lợi thế so sánh quan trọng của tỉnh Thái Nguyên về thị trường tiêu thụ nông sản
Thứ ba, Thái Nguyên còn khoảng 35 ngàn ha đất chưa sử dụng (theo số liệu
thống kê năm 2008), trong đó có thể khai thác đưa vào sản xuất nông nghiệp khoảng
24 – 25 ngàn ha Khí hậu ở Thái Nguyên cho phép phát triển cây trồng, vật nuôi phong phú, có lợi thế hơn các tỉnh đồng bằng trong phát triển nông, lâm nghiệp tổng hợp và đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp của địa phương theo hướng sản xuất hàng hóa
Thứ tư, những yếu tố để phát triển kinh tế Thái Nguyên còn nhiều hạn chế: địa
hình chia cắt mạnh, đất dốc dẫn đến sản xuất phân tán, suất đầu tư cao và dễ gây thoái hóa đất nếu không có giải pháp canh tác hợp lý; kết cấu hạ tầng, đặc biệt là ở nông thôn miền núi còn yếu kém, làm ảnh hưởng đến tốc độ phát triển kinh tế; trình
độ sản xuất ở nông thôn còn thấp, gây trở ngại cho sản xuất nông nghiệp hàng hóa; tài nguyên rừng bị cạn kiệt do tình trạng phá rừng bừa bãi từ những năm trước; tỷ lệ đói nghèo còn cao, gây nhiều khó khăn cho việc đầu tư thâm canh
1.1.2 Tình hình kinh tế nông nghiệp trên địa bàn Thái Nguyên (1986 - 1997)
Trước năm 1986, kinh tế nông nghiệp trên địa bàn Thái Nguyên được tổ chức theo cơ chế kế hoạch hóa tập trung bao cấp, do vậy không chỉ kìm hãm sức sản xuất trong nông nghiệp mà còn tạo ra một cơ cấu kinh tế bất hợp lý: chỉ tập trung vào sản xuất lương thực trong điều kiện đất trồng lúa ít, độ màu mỡ kém, tưới tiêu gặp nhiều khó khăn; sản xuất không gắn với chế biến và dịch vụ, cơ sở hạ tầng phục vụ nông nghiệp yếu kém; sản phẩm sản xuất ra không đủ để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trên địa bàn tỉnh Sản xuất nông nghiệp trong thời kỳ này được tiến hành dưới hai hình thức chủ yếu: các HTX nông nghiệp kiểu cũ và các nông lâm trường quốc doanh, chưa hình thành những vùng sản xuất chuyên canh tập trung
Từ sau năm 1986, quán triệt nội dung của Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ VI, VII, VIII và đặc biệt là chủ trương về CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn, nền kinh tế
Trang 34nói chung của Thái Nguyên, trong đó có kinh tế nông nghiệp đã có sự phát triển, giá trị gia tăng của kinh tế nông nghiệp qua các năm ổn định Năm 1990, giá trị gia tăng nông nghiệp là 198.644 triệu đồng, năm 1992 là 198.729 triệu đồng, năm 1993 là 210.928 triệu đồng, năm 1995 là 766,0 triệu đồng [27, tr 140]
Cơ cấu kinh tế nông nghiệp chuyển từ độc canh thuần nông sang nền nông nghiệp đa canh, đa ngành nghề theo hướng sản xuất hàng hóa
Tốc độ tăng trưởng bình quân GDP của ngành nông nghiệp ổn định Thời kì
1990 - 1993 là 3,9% (GDP cả tỉnh tăng bình quân 8,7%) Giá trị tăng thêm GDP ngành nông nghiệp chiếm 32,9 - 41,4% là ngành có tỷ trọng lớn nhất trong tỉnh (công nghiệp chỉ chiếm 20 - 26,7%) Trong ngành nông nghiệp trồng trọt chiếm 57 - 66% giá trị tổng sản lượng toàn ngành, chăn nuôi chỉ chiếm 30 - 38%, và cần phải đẩy mạnh phát triển chăn nuôi Trong ngành trồng trọt, cây lương thực chiếm tỷ trọng cao nhất 56 - 62%, cây công nghiệp chiếm 13 - 18%.Trong chăn nuôi, gia súc chiếm tỷ trọng 42 - 61%, gia cầm chiếm 13 -34%
Bên cạnh những điểm tích cực trên, trong giai đoạn 1986 - 1997 nông nghiệp trên địa bàn Thái Nguyên vẫn tồn tại những điểm yếu kém sau:
Do chưa có cơ sở vững chắc nên sản xuất nông nghiệp vẫn giản đơn, chưa chuyển sang kinh tế hàng hóa nên vẫn tập trung chủ yếu vào trồng cây lúa Sản xuất nông nghiệp vẫn chịu ảnh hưởng bởi thời tiết, thị trường, vốn cho nên không ổn định nên hiệu quả kinh tế thấp Nông dân miền núi gặp khó khăn về vốn; giống cây trồng, vật nuôi; kinh nghiệm và kỹ thuật sản xuất lạc hậu; giao thông khó khăn Trong nông nghiệp, giá trị tổng sản lượng nông nghiệp tăng chậm, bình quân giai đoạn 1990 - 1994 tăng 2,4%, trong đó trồng trọt tăng 1,2%, chăn nuôi tăng 4,6%, sản xuất nông nghiệp chủ yếu là trồng trọt, chăn nuôi phát triển chậm, tỷ trọng giá trị gia tăng của trồng trọt chiếm 62 - 63%, trong khi ngành chăn nuôi chiếm 33 - 34% Cây chè là thế mạnh nhưng cũng chỉ chiếm 10% giá trị gia tăng của ngành [103, tr 414]
Cơ cấu giá trị nông, lâm nghiệp chiếm tỷ trọng cao trong tổng sản phẩm trong tỉnh (GDP): năm 1990 chiếm 57,8%, năm 1994 chiếm 51,2% Thủy sản chưa được chú trọng, chủ yếu tận dụng mặt nước ao hồ để nuôi thả cá tự phát
Năng suất cây trồng chính đạt thấp; năng suất lúa năm 1990 chỉ đạt 27,1 tạ/ha và đạt 28,8 tạ/ha năm 1994, trong đó năng suất lúa đông xuân đạt 28,3 tạ/ha (1990) và 30,8 tạ/ha (1994); năng suất lúa màu đạt 27,8 tạ/ha (1990) và 30,1 tạ/ha (1994), dẫn đến việc lương thực bình quân đầu người thấp, năm 1990 lương thực bình quân đầu người đạt 227 kg và năm 1994 đạt 282 kg [103, tr 319]
Trang 35Hệ thống cây trồng chủ yếu là sản xuất lương thực như lúa, ngô, khoai lang, với giống không tốt nên dẫn đến chất lượng thấp, năng suất lao động không cao Mặt khác đất đai canh tác manh mún, lô thửa nhiều Tình hình ruộng đất manh mún đã làm hạn chế đến quá trình cơ giới hóa nông nghiệp và không hình thành được vùng nông sản hàng hóa tập trung Tuy kinh tế hộ gia đình có bước phát triển song vẫn nặng tính tiểu nông, chưa chuyển sang cơ chế hàng hóa Các vùng chuyên canh chưa hình thành rõ rệt, dẫn tới chủng loại nông sản thì nhiều, nhưng khối lượng từng loại ít
Mức độ cơ giới hóa một số khâu trong nông nghiệp còn thấp, tỷ lệ diện tích đất đai được làm bằng máy chỉ đạt 20%, tỷ lệ cơ giới hóa trong khâu thu hoạch đạt 15%, trong ngành chăn nuôi đạt khoảng 5% Việc sử dụng điện phục vụ sản xuất nông nghiệp còn thấp chỉ đạt 18%, chất lượng điện không đảm bảo phục vụ sản xuất, giá điện cao [103, tr 371]
Việc chuyển giao khoa học - kỹ thuật đến nông dân còn hạn chế, dẫn đến nông dân thiếu kiến thức khoa học - kỹ thuật Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ nông thôn phát triển chưa đồng bộ, vững chắc, tỷ trọng còn thấp Năm 1996 công nghiệp chiếm 10,6%, dịch vụ chiếm 10,7%, cơ sở kinh tế nông nghiệp còn lạc hậu về công nghệ, thiết bị máy móc chất lượng sản phẩm thấp, dịch vụ manh mún Thị trường tiêu thụ sản phẩm còn hạn hẹp và chậm, vốn cho sản xuất kinh doanh còn thiếu đặc biệt là vốn cho đầu tư trang bị công nghệ mới phục vụ sản xuất Năm 1996, nguồn vốn đầu tư cho công nghiệp nông thôn chỉ chiếm 6,7% trong tổng số vốn đầu tư phát triển của tỉnh, nguồn vốn này chủ yếu là vốn tự có, vốn vay ngân hàng, sự hỗ trợ hay ưu đãi của Nhà nước hạn chế
Kinh tế tập thể và tổ chức HTX ở nông thôn còn yếu, năm 1996 trên 60% số thôn,
xã có HTX, nhưng hoạt động chưa có hiệu quả, chưa làm kinh tế hộ phát triển, chưa thực
sự là thành phần kinh tế chủ yếu ở nông thôn
Những khó khăn trên đây tồn tại là do một số nguyên nhân chủ quan và khách quan sau đây:
Trước hết là xuất phát điểm kinh tế thấp, thu chi ngân sách hàng năm của tỉnh không cân đối, nguồn vốn tập trung của Nhà nước đầu tư lại rất hạn chế Dân cư nông thôn phần lớn là nông dân vẫn mang nặng tâm lý tiểu nông, công cụ lạc hậu Tỉnh chưa có kế hoạch, quy hoạch mang tính tổng thể, toàn diện về phát triển kinh tế - xã hội nông thôn, hệ thống chính sách, hệ thống pháp luật chưa đồng bộ, do đó chưa làm cho người dân an tâm làm giàu
Trang 36Ngoài ra, đội ngũ cán bộ các cấp nhất là cán bộ ở cơ sở hạn chế về trình độ năng lực, tư duy kinh tế, nhiều chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước chưa đến được người dân Nhìn tổng thể, nền kinh tế Thái Nguyên trước năm 1997 đã có chuyển biến nhất định, nhưng nếu so sánh riêng về tốc độ tăng trưởng so với cả nước thì sự phát triển chưa tương xứng với tiềm năng, thế mạnh của tỉnh Thái Nguyên 1
Tất cả những hạn chế và yếu kém trên đòi hỏi Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên phải tìm ra cách khắc phục, nhằm đẩy nhanh quá trình thực hiện CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn nhằm chuyển dịch theo hướng đa dạng hóa ngành nghề, nông nghiệp phải gắn với công nghiệp chế biến để giải quyết tình trạng lao động dư thừa trên địa bàn tỉnh
1.1.3 Chủ trương của Đảng về phát triển kinh tế nông nghiệp
Sau 10 năm thực hiện công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, đến năm 1996, Việt Nam cơ bản đã thoát ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, tạo thế và lực mới cho phép kết thúc chặng đường đầu tiên của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội Tiếp tục kiên trì sự nghiệp đổi mới, Đại hội VIII (1996) của Đảng đã đề ra đường lối về CNH,
HĐH trong đó trọng tâm là công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn
Nội dung cơ bản của CNH, HĐH trong những năm còn lại của thế kỷ XX được Đảng Cộng sản Việt Nam xác định là: phải đặc biệt coi trọng CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn, phát triển toàn diện nông, lâm, ngư nghiệp gắn với công nghiệp chế biến nông, lâm, thủy sản, phát triển các ngành nghề, làng nghề truyền thống và các ngành nghề mới bao gồm tiểu thủ công nghiệp, công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng, xuất khẩu, dịch vụ cho sản xuất và đời sống nhân dân, xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội nông thôn, từng bước hình thành nông thôn mới văn minh - hiện đại [8]
Cụ thể hóa Nghị quyết Đại hội VIII, Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa VIII) đã ban hành Nghị quyết Số 02-NQ/HNTW, ngày 24 tháng 12 năm 1996 xác định nhiệm vụ của khoa học - công nghệ đến năm 2000 là: đẩy mạnh nghiên cứu tuyển chọn các giống cây, con có năng suất và chất lượng cao; làm chủ được các công nghệ sản xuất các giống ưu thế lai về lúa, ngô và rau quả; áp dụng các
1 So sánh tốc độ tăng trưởng kinh tế Thái Nguyên với cả nước (1991 – 1995)
Trang 37biện pháp sinh học hiện đại và công nghệ sinh học, sử dụng hợp lý hoá chất, sản xuất các loại nông sản sạch; phát triển chăn nuôi; nâng cao trình độ chế biến và bảo quản lương thực, thực phẩm, đánh bắt và chế biến thuỷ sản; đẩy nhanh cơ giới hoá; sử dụng phương pháp tưới tiêu tiên tiến; có các chính sách, giải pháp công nghệ để đưa diện tích có rừng che phủ lên 40%, bảo vệ và sử dụng có hiệu quả diện tích đất trồng trọt cũng như khai thác hợp lý các vùng đất mới; áp dụng đồng bộ các tiến bộ kỹ thuật để phát triển các ngành công nghiệp, dịch vụ và thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn, gắn hợp tác hoá với công nghiệp hoá nông nghiệp và công nghiệp hoá nông thôn; hình thành các cụm dân cư, các thị tứ, xây dựng các mô hình làng sinh thái, giải quyết nước sạch, vệ sinh môi trường ở nông thôn [9]
Để thúc đẩy sự phát triển nông nghiệp, nông thôn theo hướng CNH, HĐH, Quốc hội và Chính phủ đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách và luật pháp Luật HTX có hiệu lực từ ngày 01/7/1997, trong đó có nội dung quan trọng là chuyển đổi các HTX sản xuất nông nghiệp trước đây sang làm chức năng dịch vụ theo mô hình HTX kiểu mới, làm dịch vụ cho nền kinh tế hộ
Thực hiện chủ trương của Đảng, ngày 10/11/1998, Bộ Chính trị đã có Nghị
quyết 06 về “Một số vấn đề phát triển nông nghiệp, nông thôn” Nghị quyết nêu
những quan điểm lớn về CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn: Coi trọng thực hiện CNH, HĐH trong phát triển nông nghiệp và xây dựng nông thôn, đưa nông nghiệp và kinh tế nông thôn lên sản xuất lớn là nhiệm vụ cực kỳ quan trọng cả trước mắt và lâu dài Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế, gắn phát triển nông nghiệp với công nghiệp chế biến, ngành nghề gắn sản xuất với thị trường để hình thành sự liên kết nông - công nghiệp - dịch vụ và thị trường ngay trên địa bàn nông thôn và trên phạm vi cả nước; gắn phát triển nông nghiệp với xây dựng nông thôn mới; gắn công nghiệp hoá với thực hiện dân chủ hoá và nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực ở nông thôn: tạo ra sự phân công lao động mới, giải quyết việc làm, nâng cao đời sống, xoá đói giảm nghèo, thu hẹp dần khoảng cách về mức sống giữa thành thị và nông thôn, thực hiện có kết quả mục tiêu phát triển dân số
Tiếp đó, ngày 15/06/2000, Chính phủ ban hành Nghị quyết 09 Về một số chủ
trương và chính sách về chuyển dịch cơ cấu kinh tế và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp
Đây là lần đầu tiên Chính phủ cho phép chuyển diện tích đất lúa ven biển chua mặn, thiều nước ngọt, năng suất thấp sang nuôi trồng thủy sản; chuyển dịch một phần diện tích đất lúa năng suất thấp sang trồng màu, cây công nghiệp, cây ăn quả… thực hiện đa dạng hóa cây trồng để tăng thu nhập trên một diện tích đất nông nghiệp Đó là sự đổi
Trang 38mới tư duy theo xu hướng sản xuất nông nghiệp hàng hóa, lấy hiệu quả làm mục tiêu, khác hẳn với tư duy tự túc lương thực bằng mọi giá, kể cả cấm chuyển đất lúa sang trồng cây khác, khác với tư duy chạy theo năng suất cao, sản lượng nhiều mà không quan tâm đến chất lượng, giá cả nông sản và sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế
Nhìn chung, trong những năm đầu của sự nghiệp đẩy mạnh CNH, HĐH (1996 – 2000), Đảng Cộng sản Việt Nam đã nhận thức rõ hơn về yêu cầu phát triển kinh tế
nông nghiệp và nông thôn, xem đẩy mạnh việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp
và nông thôn theo hướng CNH, HĐH là một biện pháp để thực hiện CNH, HĐH nông
nghiệp, nông thôn Chủ trương, quan điểm của Ðảng về vấn đề CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn trên đây là cơ sở lý luận để các địa phương trong các nước vận dụng phù hợp với điều kiện của từng địa phương
1.2 Chủ trương của Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên
1.2.1 Phát triển nông nghiệp theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Trong quá trình thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, đặc biệt là từ khi thực
hiện Nghị quyết 10 (1988) của Bộ Chính trị, kinh tế nông nghiệp của tỉnh Thái Nguyên có sự phát triển rõ rệt Năm 1997 là năm đạt được các chỉ tiêu sản xuất cao nhất sau 10 năm đổi mới: tổng sản lượng lương thực quy thóc đạt trên 27 vạn tấn; sản xuất lâm nghiệp năm 1997 tăng 4.39% so với năm 1996; một số loại nông sản hàng hóa bước đầu được hình thành như chè, lạc, cây ăn quả, rừng nguyên liệu; đời sống nông dân được cải thiện rõ [117, tr 1] Đây là tiền đề quan trọng cho quá trình thực
hiện CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn
Trong hoàn cảnh đó, quan điểm phát triển kinh tế nông nghiệp của Đảng bộ tỉnh
Thái Nguyên trong những năm 1997 - 2000 được Đại hội XV xác định theo hướng
CNH, HĐH làm cơ sở để ổn định xã hội và phát triển kinh tế bền vững, tạo đà thực
hiện CNH, HĐH Đó là: (1) phát triển nông lâm nghiệp và kinh tế nông thôn đa dạng, toàn diện theo hướng sản xuất hàng hóa; (2) tích cực chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi, hình thành các vùng sản xuất tập trung gắn với phát triển nền nông nghiệp sạch; chú trọng tăng chất lượng nông sản, nâng cao giá trị gia tăng trên một đơn vị diện tích; (3) phát triển cây lương thực, thực phẩm là trọng tâm, cây ăn quả và cây công nghiệp theo mô hình kinh tế vườn đồi là hướng chiến lược quan trọng; (4) gắn phát triển công nghiệp với nông nghiệp, giữa sản xuất với chế biến và lưu thông [52, tr 26]
Đây là bước phát triển mới trong việc xác định quan điểm đối với kinh tế nông nghiệp của Đảng bộ, đảm bảo cho nông nghiệp của tỉnh phát huy thế mạnh của địa phương, kế thừa những thành quả đạt được Chủ trương đó đã mở đường cho nông
Trang 39nghiệp tỉnh Thái Nguyên phát triển theo hướng hàng hóa Đồng thời Đại hội XV cụ thể hóa quan điểm, mục tiêu trên đây bằng các chỉ tiêu trong những năm 1997 - 2000 như: sản lượng lương thực bình quân hàng năm 270.000 tấn; đưa giá trị sản xuất trên 1
ha canh tác hằng năm từ 12 triệu đồng trở lên trên đất ruộng; 20 triệu đồng đối với đất vườn đồi đã được đầu tư thâm canh; nâng độ che phủ của rừng từ 33% lên 40%, có kế hoạch khai thác rừng kinh tế hợp lý; đến năm 2000 sử dụng được 75% lao động ở nông thôn
Để nông nghiệp địa phương phát triển theo hướng CNH, HĐH, Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên đưa ra những giải pháp trên các lĩnh vực:
Về trồng trọt: đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu cây trồng theo hướng sản
xuất hàng hóa; chuyển diện tích lúa nước không chắc ăn, hiệu quả thấp sang cây trồng
và vật nuôi khác có hiệu quả cao hơn, có thị trường tiêu thụ ổn định; xây dựng cơ chế, chính sách khuyến khích và giúp đỡ các hộ nông dân, tạo điều kiện cho thâm canh, sản xuất lớn và thúc đẩy quá trình cơ khí hóa nông nghiệp; quy hoạch phát triển sản xuất nông nghiệp để hình thành các vùng sản xuất tập trung; sớm hình thành các vùng cây công nghiệp, cây ăn quả theo hướng sản xuất hàng hóa để đến năm 2000 toàn tỉnh có trên 11.000 ha chè, trên 10.000 ha cây ăn quả
Về chăn nuôi: phát triển chăn nuôi toàn diện và theo hướng sản xuất hàng hóa
tập trung; đẩy mạnh chăn nuôi gia súc, gia cầm, thay đổi cơ cấu giống trong chăn nuôi
để đặt giá trị kinh tế cao; cải tạo đàn bò lấy thịt, sữa, đàn lợn hướng nạc; ban hành chính sách khuyến khích các thành phần kinh tế phát triển mở rộng hệ thống chế biến thức ăn chăn nuôi, mạng lưới dịch vụ thú y để đảm bảo cho ngành chăn nuôi phát triển mạnh và vững chắc
Về chính sách khuyến nông: ưu đãi các thành phần kinh tế liên kết với nông
nghiệp và phát triển nông thôn, nhằm đầu tư tiền vốn, công nghệ, chất xám để mở rộng ngành nghề sản xuất, chế biến tiêu thụ các sản phẩm nông nghiệp; hỗ trợ quá trình hình thành các HTX hoạt động theo Luật HTX để các HTX kiểu mới sớm vươn lên đóng vai trò chủ chốt trong việc cung cấp các dịch vụ sản xuất và tiêu thụ sản phẩm ở nông thôn
1.2.2 Xác định những vấn đề trọng tâm nhằm phát triển kinh tế nông nghiệp
Quán triệt Nghị quyết 06 - NQ/TW ngày 10-11-1998 của Bộ Chính trị về Một
số vấn đề phát triển nông nghiệp, nông thôn, cụ thể hóa nghị quyết Đại hội Đảng bộ
lần thứ XV, ngày 28/7/1998, Tỉnh ủy Thái Nguyên đã ban hành Chương trình
06-CTr/TU Về chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong sản xuất nông lâm nghiệp và phát triển
Trang 40nông thôn tỉnh Thái Nguyên Bên cạnh việc đánh giá những chuyển biến tích cực của
nông nghiệp, nông thôn Thái Nguyên từ khi thực hiện Nghị quyết 10 (1988) của Bộ Chính trị, Tỉnh ủy Thái Nguyên thẳng thắn nhìn nhận những hạn chế của nông nghiệp địa phương: hiệu quả sử dụng đất đai chưa cao; một số nông sản chính chưa được đầu
tư để cạnh tranh trên thị trường trong nước và xuất khẩu; lao động nông thôn chiếm tới 80% lao động toàn tỉnh nhưng có tới 40% thời gian nhàn rỗi; vấn đề xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn còn nhiều bất cập
Trên cơ sở đánh giá thực trạng của kinh tế nông nghiệp Thái Nguyên, Tỉnh ủy
đã xác định vấn đề trọng tâm để phát triển kinh tế nông nghiệp của địa phương đó là
chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong sản xuất nông nghiệp Tỉnh ủy xác định, mục đích
của chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong sản xuất nông nghiệp là nhằm: phấn đấu đạt tốc
độ tăng trưởng trong sản xuất nông nghiệp bình quân 4,5%/năm để đến năm 2000, tỉnh Thái Nguyên có cơ cấu kinh tế công nghiệp - nông nghiệp - lâm nghiệp - dịch vụ; tạo
ra các vùng sản xuất nông lâm sản hàng hóa tập trung của tỉnh (vùng lương thực - thực phẩm, vùng chè, vùng cây ăn quả, vùng lạc, vùng rừng nguyên liệu); giải quyết việc làm, nâng cao đời sống cho nông dân [117, tr 2] Nội dung chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong sản xuất nông nghiệp được Tỉnh ủy Thái Nguyên xác định như sau:
Về trồng trọt:
- Trên đất nông nghiệp: ổn định diện tích sản xuất lúa nước; tăng diện tích sản xuất màu, trong đó tập trung vào 3 cây trồng chủ yếu: ngô lai, lạc, cây thực phẩm; mở rộng thêm diện tích trồng lạc ở các huyện Phú Bình, Phổ Yên, Sông Công, Thành phố Thái Nguyên; cần đầu tư về kỹ thuật để đưa năng suất lên 1,5 - 2 tấn/ha, đảm bảo tăng
tỷ lệ lạc nhân đạt chuẩn xuất khẩu; phát triển cây thực phẩm với tập đoàn rau đậu phong phú ở các huyện, thành, thị phía nam của tỉnh
- Trên đất vườn đồi: tăng diện tích cây chè và cây ăn quả trên đất đồi, (coi đây
là hướng chiến lược quan trọng của địa phương); tiến hành việc đưa các giống chè mới vào sản xuất và áp dụng các biện pháp thâm canh; cần có biện pháp sử dụng hóa chất hợp lý để có chè sạch, nâng cao sức cạnh tranh trên thị trường trong nước và xuất khẩu; địa phương trong tỉnh cần rà soát lại quỹ đất vườn đồi để xây dựng thành các dự
án theo hướng ưu tiên phát triển cây chè và cây ăn quả; phát triển vùng trồng mía nguyên liệu ở các huyện Võ Nhai, Đồng Hỷ, Phú Lương
- Trên đất lâm nghiệp: ngoài diện tích rừng đặc dụng phải trồng thêm 43.000 ha rừng sản xuất được chia ra theo 4 vùng: vùng sản xuất gỗ lớn (Định Hóa, Võ Nhai và 1