Việc xác định đúng đắn đường lối chiến lược là yêu cầu cơ bản quyết định tới thắng lợi của Cách mạng. Sau khi xác định đúng đắn đường lối, điều cần thiết là công tác chỉ đạo để biến lý luận đường lối thành thực tiễn Cách mạng. Thực tiễn Cách mạng nước ta năm 1936 – 1939 cho thấy, Đảng cộng sản Việt Nam đã giải quyết hết sức đúng đắn và thành công vấn đề lựa chọn cũng như xác định đúng đắn đối tượng của Cách mạng. Bằng sự nhạy bén chủ động tiếp cận thực tiễn, Đảng đã đưa ra sự chuyển hướng chỉ đạo chiến lược hết sức đúng đắn, để từ đó giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và giải phóng giai cấp, đóng vai trò quyết định cho những thành công trong cao trào 1936 – 1939, tạo động cơ cho Đảng quyết định chuyển hướng chiến lược vào thời kì 1939 – 1945 Nghiên cứu vấn đề Đảng giải quyết mối quan hệ dân tộc và giai cấp, từ đó đưa ra đường lối chiến đấu giúp chúng ta nhận thức sâu sắc hơn về tính cách mạng, khoa học của Đảng, nguyên nhân của Cách mạng tháng Tám. Mặt khác, giúp chúng ta rút được những kinh nghiệm trong lãnh đạo điều chỉnh chiến lược, nắm bắt tình hình, đưa ra hình thức đấu tranh cho phù hợp thực tiễn, từ đó góp phần vận dụng giải quyết nhiều vấn đề trong tình hình thực tiễn hiện nay, với những chính sách mềm mỏng trong đấu tranh, nhưng kiên quyết giữ vững mục tiêu Cách mạng, giải quyết được những vấn đề về thời cơ và thách thức mà thời đại hiện nay đặt ra.
Trang 1A MỞ ĐẦU
Việc xác định đúng đắn đường lối chiến lược là yêu cầu cơ bản quyết định tới thắnglợi của Cách mạng Sau khi xác định đúng đắn đường lối, điều cần thiết là công tác chỉđạo để biến lý luận đường lối thành thực tiễn Cách mạng
Thực tiễn Cách mạng nước ta năm 1936 – 1939 cho thấy, Đảng cộng sản Việt Nam đãgiải quyết hết sức đúng đắn và thành công vấn đề lựa chọn cũng như xác định đúng đắnđối tượng của Cách mạng Bằng sự nhạy bén chủ động tiếp cận thực tiễn, Đảng đã đưa rasự chuyển hướng chỉ đạo chiến lược hết sức đúng đắn, để từ đó giải quyết đúng đắn mốiquan hệ giữa cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và giải phóng giai cấp, đóng vai trò quyếtđịnh cho những thành công trong cao trào 1936 – 1939, tạo động cơ cho Đảng quyết địnhchuyển hướng chiến lược vào thời kì 1939 – 1945
Nghiên cứu vấn đề Đảng giải quyết mối quan hệ dân tộc và giai cấp, từ đó đưa rađường lối chiến đấu giúp chúng ta nhận thức sâu sắc hơn về tính cách mạng, khoa họccủa Đảng, nguyên nhân của Cách mạng tháng Tám Mặt khác, giúp chúng ta rút đượcnhững kinh nghiệm trong lãnh đạo điều chỉnh chiến lược, nắm bắt tình hình, đưa ra hìnhthức đấu tranh cho phù hợp thực tiễn, từ đó góp phần vận dụng giải quyết nhiều vấn đềtrong tình hình thực tiễn hiện nay, với những chính sách mềm mỏng trong đấu tranh,nhưng kiên quyết giữ vững mục tiêu Cách mạng, giải quyết được những vấn đề về thời
cơ và thách thức mà thời đại hiện nay đặt ra
Với lý do trên, em xin trình bày “Đảng lãnh đạo giải quyết mối quan hệ dân tộc và giai cấp thời kì 1936 – 1939” làm tiểu luận.
Trang 21 Cơ sở lý luận và thực tiễn giải quyết vấn đề dân tộc và giai cấp.
1.1 Cơ sở lý luận
Chủ nghĩa Mác – Lênin đã khẳng định, vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp là hai mặtcủa cuộc Cách mạng giải phóng con người
Giai cấp, theo Lênin, là tập đoàn to lớn gồm những người khác nhau về quyền nắm
giữ tư liệu sản xuất, quyền phân chia lao động nên khác nhau về sản phẩm đầu ra, giai cấp là những người khác nhau về địa vị chính trị trong xã hội
Chủ nghĩa Mác chính là thế giới quan và phương pháp luận để giải quyết và giảiphóng giai cấp vô sản tiến tới giải phóng con người khỏi áp bức, bất công, đưa nhân loại
tiến lên chủ nghĩa cộng sản Lịch sử tất cả các xã hội cho đến ngày nay chỉ là lịch sử đấu
tranh giai cấp Chính các cuộc đấu tranh giai cấp đã làm cho xã hội phát triển, thông qua
các cuộc cách mạng xã hội, và trong xã hội tư bản chủ nghĩa thì trong tất cả các giai cấp
hiện đang đối lập với giai cấp tư sản, thì chỉ có giai cấp vô sản là giai cấp thực sự cách mạng Chính vì vậy, cuộc đấu tranh giai cấp trong xã hội tư bản là cuộc đọ súng giữa giai
cấp vô sản với giai cấp tư sản, là vấn đề xem “ai thắng ai” Vấn đề giai cấp và đấu tranh giai cấp trong xã hội tư bản “là của giai cấp vô sản chứ không ai khác”: Mục đích trước
mắt của những người cộng sản cũng là mục đích trước mắt của tất cả các đảng vô sản
Trang 3khác: tổ chức những người vô sản thành giai cấp, lật đổ sự thống trị của giai cấp tư sản, giai cấp vô sản giành lấy chính quyền Theo ý nghĩa đó, có thể thấy cuộc đấu tranh của
giai cấp vô sản trong xã hội tư bản được tóm tắt thành công thức là xóa bỏ chế độ tư hữu.Đó là nhiệm vụ chủ yếu và chắc chắn của giai cấp vô sản Chỉ có giai cấp vô sản mới làm
được điều này, vì đơn giản công nhân là giai cấp duy nhất “không có tổ quốc”, là giai
cấp bị bóc lột và đàn áp nhiều nhất, nên có tinh thần cách mạng nhất, đó là điều đươngnhiên
Tuy nhiên, không phải chủ nghĩa Mác chỉ nghiên cứu vấn đề giai cấp riêng rẽ, mà chủnghĩa Mác còn xem xét vấn đề giai cấp trong mối quan hệ mật thiết với vấn đề dân tộc vàách áp bức dân tộc
Quyền bình đẳng không chỉ dừng lại ở mức độ giai cấp, mà còn ở tầm độ dân tộc, giácđộ con người Chủ nghĩa Mác khẳng định rằng mọi ách áp bức dân tộc chỉ đơn giản là do
nạn người bóc lột người, giai cấp bóc lột giai cấp mà ra, chính vì vậy xóa bỏ nạn người
bóc lột người thì nạn dân tộc này bóc lột dân tộc khác cũng sẽ bị xóa bỏ, bởi khi sự đối kháng giữa giai cấp không còn thì sự thù địch giữ các dân tộc cũng đồng thời mất theo
Do tính chất quốc tế của giai cấp công nhân, giải quyết vấn đề dân tộc – giải quyếtmâu thuẫn giữa dân tộc quốc gia này với dân tộc quốc gia khác - thực chất chính là giảiquyết một mặt của vấn đề giải phóng giai cấp, giải phóng con người Chủ nghĩa Mác –Lênin đã khẳng định để giải quyết vấn đề dân tộc hay giai cấp, đưa cái nào lên quan trọnghơn cái nào chính là xem xét trong hoàn cảnh tranh đấu mà xem vấn đề nào quan trọnghơn trên cơ sở quyền lợi giai cấp Chủ nghĩa Mác khẳng định ở những nước thuộc địa
không độc lập về mặt lãnh thổ nói chung, phải đặt lên hàng đầu không phải là những
nguyên tắc trừu tượng hoặc hình thức, mà, thứ nhất là sự đánh giá đúng tình hình cụ thể,
và trước hết, là tình hình kinh tế, thứ hai là sự phân biệt rõ rệt lợi ích của giai cấp bị áp
Trang 4bức, của những người lao động, của những người bị bóc lột, với các khái niệm chung về lợi ích của nhân dân nói chung.
Có thể thấy, chủ nghĩa Mác – Lênin đã nghiên cứu và khẳng định rằng, ở những nướcchưa được bình đẳng dân tộc – những quốc gia dân tộc chưa được giải phóng – thì vấn đềdân tộc và vấn đề giai cấp phải được xem xét ở mức độ ngang nhau trong tiến trình giảiphóng giai cấp, giải phóng con người Trong từng giai đoạn cụ thể, vấn đề phải đặt cuộcđấu tranh giải phóng dân tộc lên trước và trên giải phóng giai cấp, điều đó mới phù hợpquy luật của cuộc đấu tranh giai cấp ở những người vô sản nước chưa được hưởng bìnhđẳng dân tộc
1.2 Thực tiễn lịch sử
Sau chiến tranh thế giới thứ nhất (1914 – 1918), các nước tư bản trên thế giới chịu ảnhhưởng nặng nề (Trừ Hoa Kì), do vậy, các nước này đều tăng cường phát triển kinh tế, đẩymạnh đầu tư xuất khẩu tư bản, bóc lột nhân dân trong nước cũng như thuộc địa Chính vìvậy, nền kinh tế tư bản thế giới phát triển một cách nhanh chóng sau chiến tranh, đồngthời với đó là sự xuống cấp trầm trọng của mức sống các giai tầng bị bóc lột ở nước tưbản cũng như các nước thuộc địa, sức mua giảm tỉ lệ nghịch với lượng hàng hóa sản xuất
ngày càng nhiều đã khiến cho giới tư bản lâm vào khủng hoảng “thừa” vào những năm
30 của thế kỉ này Cuộc khủng hoảng đã tàn phá nặng nề hệ thống kinh tế tư bản chủnghĩa, hệ thống chính trị đồng thời với đó bị lung lay
Để thoát khỏi khủng hoảng đồng thời để giải quyết những mâu thuẫn phát sinh từ sauchiến tranh thế giới thứ nhất, nhiều nước đã chuyển nền chính trị dân chủ tư sản sang nền
chuyên chính phát xít, một nền chuyên chính phản động nhất, hiếu chiến nhất, sô – vanh
nhất, đe dọa nghiêm trọng tới nền hòa bình an ninh thế giới và nguy cơ lớn đối với phong
trào giải phóng của nhân loại Trong khi đó, các nước đế quốc đứng đầu là Mỹ – Anh –
Trang 5Pháp lại dung dưỡng cho phát xít phát triển, với mưu đồ tiêu diệt Liên Xô, từ đó đàn ápCách mạng thế giới.
Các tập đoàn phát xít hiếu chiến dần được hình thành trên phạm vi thế giới, cầm đầulà liên minh Đức – Italia – Nhật Bản, cùng với đó, khuynh hướng phát xít hóa cũng lanrộng trong giới tư bản, như ở Ba Lan, Áo, Hy Lạp, Nam Tư, Tây Ban Nha hay ngay cảMỹ, Anh, Pháp, các nhóm phát xít cũng được hình thành và phát triển Bọn chúng ráo riếtchạy đua vũ trang, chuẩn bị chiến tranh nhằm phân chia lại thị trường thế giới, đồng thờiđể tiêu diệt thành trì Cách mạng của thế giới là Liên Xô Nguy cơ chủ nghĩa phát xít đangđẩy nhân loại tới bờ vực của sự hủy diệt
Liên Xô và Quốc tế cộng sản (Quốc tế III)
Cách mạng tháng Mười năm 1917 thành công, nước Nga xây dựng chế độ chủ nghĩaxã hội Nhân dân từ thân phận người nô lệ nay được làm chủ đất nước hăng hái tham giasản xuất phục hồi nền kinh tế, đồng thời vượt mọi gian khổ bảo vệ thành quả của Cáchmạng Chính vì vậy, nước Nga Xô – viết đã đạt được nhiều thành tựu phát triển, dần tạothế cân bằng về lượng và chất với thế giới tư bản, trở thành thành trì của Cách mạng thếgiới Tháng 12 năm 1922, Liên bang cộng hòa xã hội chủ nghĩa Xô viết ra đời
Trong khi đó, hoạt động của Quốc tế cộng sản (Thành lập từ tháng 3 năm 1919) đangphát triển, Quốc tế cộng sản dần trở thành Tổng chỉ huy quân sự chỉ đạo các Đảng cộngsản và phong trào Cách mạng của toàn thế giới Tính tới năm 1928, tổ chức này đã 6 lầnĐại hội, quyết định nhiều vấn đề quan trọng tác động tới phong trào vô sản các nước
Trước nguy cơ chủ nghĩa phát xít và chiến tranh tới gần, yêu cầu bức thiết của phongtrào Cách mạng thế giới là chống chiến tranh, bảo vệ hòa bình, bảo vệ Liên Xô và phongtrào Cách mạng thế giới
Trang 6Đáp ứng yêu cầu đó, Đại hội VII Quốc tế cộng sản đã họp từ ngày 25 tháng 7 tới ngày
25 tháng 8 năm 1935 tại Moscow do đồng chí Đi – mi – tơ – rốp, Tổng bí thư Quốc tếcộng sản chủ trì Tham dự Đại hội có 510 đại biểu đại diện cho 65 Đảng cộng sản, thaymặt cho 3.141.000 Đảng viên trên toàn thế giới
Đại hội đã phân tích nguyên nhân xuất hiện và nguy cơ từ chủ nghĩa phát xít, cũngnhư âm mưu, thủ đoạn của các nước đế quốc, giai cấp tư sản và Đảng Dân chủ xã hộitrong việc thỏa hiệp với chủ nghĩa phát xít Đại hội cũng chỉ ra tình hình đương thời việcphong trào công nhân và Đảng cộng sản các nước còn nhiều hạn chế, chưa đủ sức mạnhđể ngăn chặn xu hướng phát xít
Đại hội xác định kẻ thù chủ yếu trước mắt không phải là giai cấp tư sản nói chung màlà bọn phát xít phản động và đế quốc theo chân phát xít, chính vì vậy nhiệm vụ trước mắtcủa Đảng cộng sản và giai cấp công nhân quốc tế chưa phải là đấu tranh để đánh đổ chủnghĩa tư bản, thiết lập chuyên chính vô sản, xây dựng chủ nghĩa xã hội, mà là đấu tranhchống chủ nghĩa phát xít, chống chiến tranh, giành dân chủ, hòa bình và bảo vệ Liên Xô,xây dựng sự thống nhất hành động của giai cấp công nhân từng nước và trên thế giới.Tuy nhiên, Đại hội phủ định việc đánh giá quá cao chủ nghĩa phát xít, nhấn mạnh chủnghĩa phát xít không thể không bị đánh bại Chính vì vậy, Đại hội đã vạch ra những điềukiện để công cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa phát xít được thắng lợi, đó là phải thực hiệnthống nhất, phát huy tính tích cực trong cách mạng của giai cấp công nhân trên thế giới,đồng thời mở rộng sự đoàn kết giữa các Đảng cộng sản trên phạm vi quốc tế Đại hộinhấn mạnh phải mở rộng sự đoàn kết giữa các giai tầng như công nhân, nông dân, tiểu tưsản thành thị, quần chúng lao động, các dân tộc bị áp bức dưới lá cờ cộng sản
Chủ trương của Đại hội là thành lập một mặt trận thống nhất rộng rãi các lực lượngquần chúng nhân dân lao động, các dân tộc bị áp bức nhằm đấu tranh chống chủ nghĩa
Trang 7phát xít, chống chiến tranh Nhiệm vụ này không chỉ đúng với các nước độc lập mà áp
dụng với cả các nước thuộc địa và nửa thuộc địa, Đại hội cũng chỉ rõ: Do tình hình thế
giới và trong nước có những thay đổi nên vấn đề mặt trận thống nhất đế quốc có tầm quan trọng đặc biệt.
Như vậy, với sự nhạy bén trước tình hình thực tiễn có sự thay đổi, Đại hội VII Quốc tếcộng sản đã tỏ rõ được vai trò lãnh đạo cũng như khả năng dự đoán báo trước tình hìnhcủa mình, xứng đáng với vai trò Tổng chỉ huy cho Cách mạng vô sản toàn thế giới Sựchuyển hướng chỉ đạo sáng suốt và kịp thời này đã giúp cho không chỉ ở tầm vóc phongtrào vô sản thế giới mà còn ở tầm vóc nhân loại ở chỗ giúp cho toàn thế giới tập hợp dướingọn cờ của mặt trận thống nhất chống một kẻ thù chung là chủ nghĩa phát xít, đấu tranhchống họa diệt chủng và sự đàn áp thảm khốc từ phía phát xít, đáp ứng được đúng đắnnguyện vọng bức thiết của giai cấp công nhân và toàn quần chúng lao động trên toàn cầu.Vì vậy, chủ trương chuyển hướng đấu tranh của Quốc tế III được coi là một trong nhữngnguyên nhân thắng lợi của công cuộc chống chiến tranh phát xít Có thể nói, Đại hội lần
này là Đại hội thắng lợi hoàn toàn cảu sự thống nhất giữa giai cấp vô sản Liên Xô –
nước của chủ nghĩa xã hội chiến thắng với giai cấp vô sản trong thế giới tư bản chủ nghĩa đang đấu tranh tự giải phóng
Thực hiện chủ trương của Đại hội VII Quốc tế III, tại nhiều quốc gia chính quốc cũngnhư thuộc địa trên thế giới, một số nước đã thành lập được mặt trận dân chủ Mặt trậnTây Ban Nha, mặt trận thống nhất chống phát xít ở Trung Quốc dần được thành lập ỞPháp, ngày 17 tháng 6 năm 1935, với chủ trương chống phát xít, đòi quyền lợi chính trị,kinh tế cho đông đảo quần chúng, thi hành chính sách đối ngoại hòa bình và cải thiện đờisống kinh tế, chính trị cho "các dân tộc hải ngoại" (tức các thuộc địa của Pháp) Mặt trậngiành thắng lợi trong cuộc bầu cử tháng 5 năm 1936, và thành lập chính phủ do LéonBlum đứng đầu vào ngày 4 tháng 6 năm 1936 Chính phủ này đã thi hành một số chínhsách đối nội và đối ngoại có tính chất giải phóng hơn cho các thuộc địa Điều này có ý
Trang 8nghĩa hết sức to lớn đối với tình hình Cách mạng các nước thuộc địa Pháp nói chung vàCách mạng nước ta nói riêng.
Hoàn cảnh lịch sử trong nước
Đại hội VII Quốc tế III đã tác động sâu rộng tới tình thế Cách mạng nước ta cả giaiđoạn sau 1935 Nghị quyết Đại hội đã công nhận Đảng cộng sản Đông Dương là một chibộ của Quốc tế cộng sản tại Đông Dương Điều này đã mở ra một cơ hội mới cho Cáchmạng nước ta trong tiến trình hòa nhập với Cách mạng thế giới
Tình hình thực tiễn nước ta, chủ nghĩa tư bản lúc này còn ở giai đoạn mới hình thành(Xuất hiện sau cả giai cấp công nhân) chưa phát triển cao, trong khi đó bị đô hộ của thựcdân Pháp nên giai cấp tư sản cũng bị chèn ép Mâu thuẫn chủ yếu ở nước ta lúc bấy giờ làmâu thuẫn giai cấp giữa nông dân với phong kiến, và mâu thuẫn dân tộc giữa toàn thểnhân dân cần lao với đế quốc thực dân Pháp Điều đó có nghĩa là, với thực tiễn lịch sửnước ta có những điểm khác hơn so với mâu thuẫn chủ yếu của các nước phương Tây.Đây chính là đặc điểm riêng quy định những đường lối chính sách đấu tranh của nước taphải khác hơn so với các nước bạn
Cùng với đó, trong nước sau cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới 1929 – 1933, thực dânPháp tăng cường bóc lột, đàn áp dã man phong trào Cách mạng, đẩy mâu thuẫn dân tộclên cao dẫn tới cao trào Xô – viết Nghệ – Tĩnh 1930 – 1931 Cao trào tuy thất bại nhưngđã để cho chúng ta nhiều bài học xương máu, trong đó có bài học về tập hợp lực lượngchĩa mũi nhọn vào một kể thù chung Sau giai đoạn Đảng lãnh đạo khôi phục lực lượng
1932 – 1935, lực lượng Cách mạng nước ta đã dần được phục hồi, các cơ sở Đảng trướcbị khủng bố trắng thì nay dần được xây dựng lại, bám chắc vào quần chúng
Sau Đại hội VII Quốc tế III, tình hình thế giới có nhiều biến động, nguy cơ chủ nghĩaphát xít tới gần đã khiến cho toàn thế giới xích lại gần nhau Chính phủ Blum ở Pháp cầm
Trang 9quyền đã thi hành nhiều chính sách tiến bộ, trong đó có những chính sách liên quan tớicác thuộc địa trong đó có nước ta Chính vì vậy, yêu cầu đối với Đảng hiện giờ chính làthay đổi tình hình chỉ đạo chiến lược cho phù hợp tình hình mới, kiên định mục tiêu giảiphóng dân tộc, giai cấp và con người, nhưng chuyển đổi đúng đắn sách lược sao cho phùhợp với thực tiễn.
Nguy cơ chủ nghĩa phát xít không chỉ đe dọa tới nhân loại nói chung mà còn trực tiếp
đe dọa vào tiến trình Cách mạng giải phóng của chúng ta nói riêng Việc Đảng nhanhchóng nhạy bén chuyển hướng chỉ đạo chiến lược là một tất yếu đòi hỏi sự nhạy béntrong lãnh đạo chỉ đạo Song song với quá trình chuyển hướng chỉ đạo chiến lược ấychính là quá trình xác định đúng đắn vị trí và vai trò của hai cuộc Cách mạng dân tộc vàdân chủ, cũng có nghĩa là phải giải quyết đúng đắn hợp lý nhất mối quan hệ của cuộc đấutranh giải phóng dân tộc và giải phóng giai cấp, đồng nghĩa với việc giải quyết mối quanhệ chung của nhiệm vụ dân tộc và giai cấp mà giai cấp công nhân, tiền phong là Đảngcộng sản lãnh trách nhiệm dẫn dắt dân tộc đấu tranh giành lấy Trước yêu cầu đó, Đảngđã phân tích tình hình thận lợi và đánh giá đúng mức tình hình thuận lợi cách mạng ĐôngDương, khôn khéo nhạy bén giải quyết hợp lý kịp thời mối quan hệ này
2 Nhận thức của Đảng về vấn đề dân tộc và giai cấp trước 1936
Ngay từ khi Đảng mới ra đời (1930), Đảng đã đưa ra những quyết định quan trọngtrong xem xét mục tiêu và chiến lược đấu tranh của Đảng Chính vì vậy, Đảng đã nhậnthức được một cách biện chứng vấn đề độc lập dân tộc và giải phóng giai cấp trongđường lối đấu tranh của mình Ngay trong cương lĩnh đầu tiên của Đảng do Nguyễn ÁiQuốc soạn thảo tại Hội nghị hợp nhất Đảng đầu năm 1930, Đảng đã nhận định đượcnhiệm vụ chống đế quốc, giải phóng dân tộc trong cách mạng giải phóng giai cấp, chủ
trương của Đảng là làm dân quyền Cách mạng và thổ địa Cách mạng để đi tới chủ nghĩa
cộng sản Đảng xác định giải phóng dân tộc phải đi trước giải phóng giai cấp vô sản, độc
Trang 10lập dân tộc đi trước giải phóng giai cấp, Chính cương khẳng định trong đấu tranh về
phương diện chính trị thì đánh đổ đế quốc chủ nghĩa Pháp và bọn phong kiến là đường
lối đấu tranh của mình Điều đó đã chứng tỏ sự nhận thức của Đảng về tầm quan trọngcủa vấn đề dân tộc và giải phóng dân tộc
Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng tháng 10 năm 1930 được triệu tập tạiHương Cảng (Trung Quốc) do đồng chí Trần Phú chủ trì Hội nghị đã quyết định nhữngvấn đề quan trọng như quyết định đổi tên Đảng cộng sản Việt Nam thành Đảng cộng sảnĐông Dương, thông qua Nghị quyết và điều lệ mới của Đảng, bầu Ban chấp hành Trungương… Hội nghị đã thông qua Luận cương chính trị của Đảng cộng sản Đông Dương dođồng chí Trần Phú soạn thảo Trong bản Luận cương đã vạch ra và mở rộng thêm đườnglối đã được đề ra ở Cương lĩnh chính trị đầu tiên do Nguyễn Ái Quốc soạn thảo ở Hộinghị hợp nhất, trong đó có vấn đề dân tộc, giai cấp và giải quyết mối quan hệ dân tộc vàgiai cấp Tuy nhiên, do ảnh hưởng của tư tưởng tả khuynh đang tồn tại trong Quốc tếcộng sản, cho nên bản Luận cương còn có những hạn chế nhất định khi xem xét vấn đềnày
Bản Luận cương tháng 10 năm 1930 đã khẳng định nhiệm vụ cốt yếu của cách mạng
là tranh đấu để đánh đổ các di tích của phong kiến, đánh đổ các cách bóc lột theo lối
tiền tư bổn và để thực hành thổ địa cách mạng cho triệt để và đánh đổ đế quốc chủ nghĩa Pháp, làm cho Đông Dương hoàn toàn độc lập Hai nhiệm vụ chống đế quốc và chống
phong kiến – Nhiệm vụ dân tộc và nhiệm vụ giai cấp – phải đi đôi và có quan hệ khăngkhít với nhau Luận cương đã làm phát triển thêm cho Cương lĩnh chính trị đầu tiên củaĐảng bằng cách chỉ rõ con đường Cách mạng nước ta phải đồng thời giải quyết hai vấnđề giải phóng giai cấp và giải phóng dân tộc, và hai nhiệm vụ này phải có mối quan hệkhông tách rời nhau trong thực tiễn Cách mạng
Trang 11Tuy nhiên, hạn chế cơ bản của Luận cương khi không căn cứ tình hình thực tiễn màvận dụng một cách giáo điều những nguyên tắc của Quốc tế cộng sản mà không áp dụngđược với thực tiễn nước thuộc địa như nước ta Điều này đã dân tới sai là nghiêm trọng
của Hội nghị Thủ tiêu chánh cương sách lược và Điều lệ cũ của Đảng, lấy kinh nghiệm
trong thời kỳ vừa qua mà thực hành công việc cho đúng theo bản Án nghị quyết Hội
nghị đề ra Bản Luận cương nhận định Chính cương đầu tiên nêu lên “những điều sai lầm
về sách lược đã tỏ ra rằng chỉ lo đến việc phản đế, mà quên mất lợi ích giai cấp tranh đấu” Điều này là chưa thỏa đáng, không áp dụng với tình hình đấu tranh của một Đảng
vô sản ở nước thuộc địa Luận cương chưa đánh giá đúng được tầm quan trọng của giảiphóng dân tộc trong Cách mạng nước thuộc địa, đề cao đấu tranh đòi ruộng đất, tức lànặng về đấu tranh giai cấp Vì vậy đã không đề ra được một chiến lược liên minh rộng rãigiữa dân tộc và giai cấp.Vì vậy, chưa tập trung sức mạnh dân tộc chống kẻ thù chung làđế quốc Pháp
Trong cả thời kì 1931 – 1935, đường lối giải quyết vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấpcủa Đảng ta cơ bản vẫn theo hướng chỉ đạo của Luận cương tháng 10 năm 1930 Tuynhiên, trong thực tiễn đấu tranh, nhất là sau khi cao trào 1930 – 1931 thất bại, bị thực dânPháp khủng bố trắng, Đảng đã căn cứ tình hình thực tiễn mà có những quyết sách đúngđắn cho phù hợp tình hình đấu tranh Cách mạng Cụ thể là chỉ thị ngày 18 tháng 11 năm
1930 đã chỉ rõ: Tổ chức Hội phản đế đồng minh là một công tác cần khẩn và hơi mới
đối với chúng ta Vì chúng ta chưa quan niệm đúng cái tổ chức Phản đế đồng minh là một nhiệm vụ giai cấp đấu tranh trong chủ nghĩa Mác? Thời đại đế quốc, và là lêninnít nỗ lực nhất Do đó chúng ta đã tách rời dân tộc cách mạng với giai cấp cách mạng làm hai đường mà chưa nhận định đúng là dân tộc cách mạng vẫn là một nhiệm vụ trong giai cấp cách mạng Sự chuyển biến lối này hay lối khác đó là hoàn cảnh từng nơi từng lúc, chứ không phải hai đường sai trái nhau Điều đó có nghĩa
là, Đảng đã nhận thức được những khuyết điểm trong đường lối đã được vạch ra trong
Trang 12Hội nghị tháng 10 năm 1930 không phù hợp với thực tiễn ở chủ trương tập hợp lực lượnggiải quyết các mâu thuẫn cùng tồn tại Lần lượt trong thực tiễn đấu tranh, Đảng đã khắcphục được những hạn chế trong cương lĩnh mà hoàn chỉnh trong hành động Điều này đãkhẳng định được tính sáng tạo và vận dụng triệt để mối quan hệ lý luận và thực tiễn chođường lối tranh đấu của mình.
II ĐẢNG LÃNH ĐẠO VÀ GIẢI QUYẾT MỐI QUAN HỆ DÂN TỘC VÀ GIAI CẤP TRONG THỰC TIỄN CÁCH MẠNG THỜI KÌ 1936 – 1939
1 Chủ trương chuyển hướng chỉ đạo chiến lược của Đảng
Trước biến đổi của tình hình trong nước và thế giới, dưới ánh sáng của chủ trươngchuyển hướng chiến lược của Đại hội VII Quốc tế cộng sản, Đảng chủ trương chuyểnhướng chỉ đạo chiến lược bước đầu trong Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảngtháng 7 năm 1936 họp tại Thượng Hải (Trung Quốc) dưới sự chủ trì của đồng chí LêHồng Phong, Ủy viên dự khuyết Ban chấp hành Quốc tế cộng sản Hội nghị đã thông quaNghị quyết quan trọng, quyết định chuyển hướng chỉ đạo chiến lược, thể hiện ở nhữngnội dung:
(1)Hướng mục tiêu đấu tranh vào đòi quyền lợi dân sinh, dân chủ, cải thiện đời sống,tập trung chĩa mũi nhọn vào kẻ thù trước mắt là bọn phản động thuộc địa và bè lũ tay sai
(2)Tổ chức mặt trận nhân dân rộng rãi, bao gồm các giai tầng công nhân, nông dân,tiểu tư sản, tư sản dân tộc, các tầng lớp trí thức tiến bộ, các đảng phái khác (Trừ bọn taysai đế quốc phản động)
(3)Thực hiện phòng thủ Đông Dương, không chủ trương nội chiến Cách mạng
(4)Triệt để sử dụng các hình thức đấu tranh công khai hợp pháp và nửa hợp pháp kếthợp các tổ chức bí mật mà tăng cường mọi hình thức hoạt động của Đảng và quần chúng