Lý do chọn đề tài Hình tợng con ngời trong điêu khắc, trang trí của một số ngôi đình làng Việt tiêu biểu thế kỷ 17, chủ yếu là miêu tả “con ngời”.. Trong các kiến trúc dân gian truyền th
Trang 1Bộ Văn hoá- Tr ờng Đại học Mỹ thuật
Tiểu luận tốt nghiệp
Hình tợng con ngời trong CHạM khắc đình làng việt NAM thế kỷ 17
Trang 2I- Mở đầu
1 Lý do chọn đề tài
Hình tợng con ngời trong điêu khắc, trang trí của một số ngôi đình làng Việt tiêu biểu thế kỷ 17, chủ yếu là miêu tả “con ngời” Hình tợng con ngời với cuộc sống lao động sản xuất của họ (cảnh sản xuất, chèo thuyền đánh trổ,
điều voi, dự hội, mẹ con…).)
Tuỳ từng đề tài các nghệ nhân dùng nhiều thủ pháp trạm khắc để thể hiện ý tởng của mình và tăng giá trị biểu đạt của tác phẩm Có thể chia tác phẩm thành hai dạng, loại tợng tròn, loại phù điêu Dùng thủ pháp chính chạm nổi, chạm lộng, chạm thủng
Với các nhìn nhận và phân tích khách quan, là một sinh viên Khoa SPMT em khâm khục thế hệ đi trớc đã làm Để lại cho thế hệ trẻ bài học, với các đề tài thể hiện phải luôn bám sát cuộc sống Với đề tài này Em mong muốn các thầy các cô sửa chữa, bổ sung thiếu sót, cho đề tài của em Em chân thành sẵn sàng ghi nhận sự góp ýphê bình của các thầy và các cô
Trong các kiến trúc dân gian truyền thống, đặc biệt với mỗi ngôi đình làng Việt, điêu khắc,trang trí là một phần rất quan trọng và mỗi giai đoạn lịch
sử, mỗi đề tài trang trí lại để lại một dấu ấn riêng Chính những tác phẩm điều khắc, trang trí đó đã làm tăng giá trị của mỗi công trình kiến trúc Trong dòng chảy chung của một nền Mỹ thuật Việt đậm chất dân dã, mỗi giai đoạn lịch
sử, mỗi đề tài trang trí lại để lại một dấu ấn riêng Việc phân tích, nghiên cứu chúng sẽ góp phần đoán định đợc niên địa di tích - vốn đã không ghi niên đại tuyệt đối, lại bị tu sửa nhiều qua thời gian tồn tại
Đề tài con ngời cũng đã xuất hiện trong trang trí kiến trúc của đình làng Việt ngay từ những ngày đầu (cuối thế kỷ 15, đầu 16) và trở nên phổ biến ở thế kỷ 17…) Việc nghiên cứu và điêu khắc, trang trí hình ngời trên kiến trúc
đình làng Việt thế kỷ 17 là bớc khởi đầu cho việc tìm hiểu một cách kỹ càng
về nghệ thuật điều khắc, trang trí trên kiến trúc dân gian truyền thống của Việt Nam, từ đó định hình đợc một phơng pháp khoa học cho việc xác định niên
đại khởi dựng cũng nh lịch sử tồn tại, phát triển của mỗi di tích, làm cơ sở cho việc trung tu di tích sau này
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Đề tài này trớc đây đã đợc một số học giả nớc ngoài dới thời Pháp quan tâm nhng mới chỉ dừng lại ở mức độ giới thiệu và tập trung bàn về ý nghĩa
xấu, đẹp cha nói tới kết cấu phân loại, tổng hợp Nh cuốn cuốn “Nghệ thuật
Trang 3An Nam” của Bezaciez đã có một số nghiên cứu sơ lợc về các đình làng tiêu
biểu ở miền Bắc
ở Việt Nam chỉ từ sau khi miền Bắc đợc giải phóng các nghiên cứu Việt Nam mới có điều kiện thuận tịên hơn để nghiên cứu những đề tài trang trí dân gian truyền thống này Bao gồm các nhà nghiên cứu của các cơ quan thuộc ngành bảo tồn, bảo tàng, khảo cổ học, các cơ quan nghiên cứu nghệ thuật tạo hình, một số cơ quan gắn với văn hoá cơ sở
Gần đây đã có một vài công trình của Viện Mỹ thuật đề cập tới vấn đề này một cách tổng quát Những kết quả nghiên cứu đó đã cho chúng ta một cách nhìn khái quát về điêu khắc trang trí trong kiến trúc dân gian truyền thống của ngời Việt nói chung, trong loại hình di tích đình làng Việt nói riêng
Trang 4Chơng I Bối cảnh Xã hội Việt Nam
và phong trào dựng Đình thế kỷ XVII 1.1 Bối cảnh xã hội
Chiến tranh Lê - Mạc kết thúc, xã hội trở lại thái bình Nhiều năm đợc mùa, nhân dân no ấm Vào thế kỷ 16, dới thời Mạc, kinh tế, xã hội phong kiến Việt Nam đặc biệt phát triển về mọi mặt Xã hội phong kiến Việt Nam phát triển lên một mức mới Cuối thế kỷ 16, cuộc nội chiến Lê - Trịnh - Mạc kết thúc, nhà Mạc bị đẩy lên Cao Bằng nhng đất nớc tạm thời yên ổn Không nh những cuộc chiến tranh khác, ở cuộc chiến này, cơ sở hạ tầng của xã hội Việt Nam không bị tàn phá nặng nề Những thành tựu cho xã hội nhà Mạc tạo dựng vẫn đợc kế thừa và phát huy…)
Triều đình trung ơng đã bị phân quyền Một nớc 2 vua (Vua Lê - Chúa Trịnh) Chính vì vậy chính quyền Trung ơng khó có điều kiện về sâu xuống các làng xã Kinh tế làng xã, tính chất tự quản phát triển
Xã hội ổn định đời sống ấm no và hệ quả tất yếu, các kiến trúc công cộng của làng xã phát triển, đình chùa đợc tu bổ, xây dựng nhiều; yếu tố hơng
đảng tiểu triều đình bắt đầu manh nha xuất hiện…)
Đình làng bùng nổ không chỉ về số lợng mà còn cả về đề tài trang trí
Đề tài trang trí không chỉ thể hiện tài năng của các nghệ nhân chạm gỗ mà còn là nơi ngời dân gửi gắm những tâm t ớc vọng của mình…)
1.2 Phong trào dựng đình:
Trong hơn 20 năm niên đại chính hòa(1680-1705),Có thể do nguyên nhân đình chiến giữa chúa Trịnh (đàng ngoài) và chúa Nguyễn (đàng trong), nhiều ngời thoát khỏi chiến tranh loạn lạc trở về đoàn tụ với gia đình, làng xã lại hng thịnh Dựa vào văn bia ,70 năm đầu thế kỉ 17 có 28 đình, 30 năm cuối con số đình lên tới 135 đình cùng với số liệu này có thể hiểu thêm về phong trào dựng đình gắn với tổ chức llàng xã phát triển theo bề rộng trên đồng bằng bắc bộ đình Trà cổ, đình Phong Cốc (Quảng Ninh) sát biên giới Trung Quốc
và ven biển: đình Xốm.đình Hữu Bổ (Phú Thọ) gần khu vực dân tộc thiểu số : Hải Phòng đình Kiền Bái: Bắc Giang đình Phủ Lãng Nam Định đình Hơng Lộc: Hà Nam đình Chẩy Một số làng nghề nổi tiếng có thể là tác giả của những ngôi đình thời này nh là Phú Khuê (Bắc Ninh), Đồng minh (Hải Phòng)
Trang 5Tràng Sơn (Hà Tây) tùy từng thời mà nghề của họ lúc hng lúc thịnh, lúc suy vong theo biến động thời cuộc, nhng những kiệt tác để lại trên kiến trúc giá trị mỹ thuật không thể lặp lại
Các đình điển hình ở TK 17
Phong trào dựng đình đạt đến đỉnh cao ở TK 17, đặc biệt giai đoạn nửa sau thế kỷ 17 Đây là giai đoạn mà các đình lớn và đẹp nhất đợc đồng loạt khởi dựng Trên toàn Bắc bộ căn bản xét 4 vùng sau: Hà Bắc, Hà Sơn Bình,
Hà Nam Ninh, Vĩnh Phú
a Hà Bắc
- Đình Cao Thợng (Cao Thợng, Tân Yên, Hà Bắc)
- Đình Thắng (Đức Thắng, Hiệp Hoà, Hà Bắc)
- Đình Phù Lão (Đào Mỹ, Lạng Giang, Hà Bắc)
- Đình Diễn (Viên Xá, Hoà Trung, Bắc Ninh, Hà Bắc)
b Hà Sơn Bình
- Đình Chu Quyến (Chu Quyến, Chu Minh, Quảng Oai, Hà Tây)
- Đình Đông Lỗ (Viên Đình, Đông Lỗ, ứng Hoà, Hà Tây)
- Đình Hồng Xá (Mai Đình, ứng Hoà, Hà Tây)
- Đình Liên Hiệp (Hạ Hiệp, Liên Hiệp, Hà Tây)
- Đình Xung Xá (Đông Đoài, Xung Xá, Mỹ Đức, Hà Tây)
c Hà Nam
- Đình Hơng Lộc (Hơng Lộc, Nghĩa Minh, Nghĩa Hng)
- Đình Tùng Thợng và Đình Tùng Hạ (Tùng Nội, Gia Tân, Gia Viênc)
d Hải Phòng
- Đình Kiều Bái (Kiều Bái, Thuỷ Nguyên)
e Vĩnh Phúc - Phú Thọ
- Đình Lâu Thợng (Trng Vơng - TP Việt Trì - Phú Thọ)
- Đình Thổ Tang (Thổ Tang, Yên Lạc, Vĩnh Phúc)
- Đình Đào Xá (Đào Xá, Tam Thanh, Phú Thọ)
Trang 6- Đình Xốm (Hùng Lô, Phong Châu, Phú Thọ)
- Đình Hơng Canh (Tam Canh, Tam Đảo, Vĩnh Phú)
- Đình Ngọc Canh và đình Tiên Hờng (Tam Canh, Tam Đảo, Vĩnh Phú)
1.3 Nghệ thuật chạm khắc đình làng
Trong các kiến trúc dân gian truyền thống, đặc biệt với mỗi ngôi đình làng Việt, điêu khắc, trang trí là một phần rất quan trọng và mỗi giai đoạn lịch
sử, mỗi đề tài trang trí lại để lại một dấu ấn riêng Chính những tác phẩm điêu khắc, trang trí đó đã làm tăng giá trị của mỗi công trình kiến trúc Trong dòng chảy chung của nền mỹ thuật Việt đậm chất dân dã, mỗi giai đoạn lịch sử, mỗi đề tài trang trí lại để lại một dấu ấn riêng Việc phân tích, nghiên cứu chúng sẽ góp phần đoán định đợc niên đại di tích - vốn đã không ghi niên đại tuyệt đối, lại bị tu sửa nhiều qua thời gian tồn tại
Đề tài con ngời đã xuất hiện trong trang trí kiến trúc của đình làng Việt ngay từ những ngày đầu (cuối thế kỷ 15, đầu thế kỷ 16) và trở nên phổ biến ở thế kỷ 17 Việc nghiên cứu về điêu khắc, trang trí hình ngời trên kiến trúc
đình làng Việt thế kỷ 17 là bớc khởi đầu cho việc tìm hiểu một cách kỹ càng
về nghệ thuật điều khắc, trang trí trên kiến trúc dân gian truyền thống của Việt Nam, từ đó định hình đợc một phơng pháp khoa học cho việc xác định phong cách nghệ thuật, điêu khắc hình thức trạm lộng, nổi với các hình thức tả cảnh sinh hoạt đời sống thờng nhật và những ớc vọng vơn tới vẻ đẹp hoàn thiện của con ngời
Đình làng Việt Nam trang trí cầu kỳ những mảng trạm khắc này chủ yếu đợc chạm vì, nóc, ván, lá gió, cốm các đầu bẩy, đầu d, ván bng, trực trốn v.v…) Những mảng chạm khắc này gần gũi cuộc sống làng xã về vật chất, tâm hồn phản ánh đời thờng mà trong đó hình tợng con ngời chiếm vị trí quan trọng
Thế kỷ VII cũng là thế kỷ các đề tài này phát triển mạnh mẽ nhất kết hợp với các kỹ thuật chạm khắc gỗ phát triển đỉnh cao Khác thế kỷ 16, do các mảng chạm đợc thể hiện 3 phần trên các thành phần chịu lực nên chỉ cho phép chạm nông Sang thế kỷ 17 với sự cải tiến kỹ thuật các bức chạm dờng nh không còn phụ thuộc vào các thành phần chịu lực này Có những nơi chúng
đ-ợc chạm rời ra, gắn lên nên cho phép, chạm sâu, chạm lộng, chạm bong, chạm kênh Do đó hoàn cảnh có thể hiện hình tợng con ngời ở thế kỷ này cũng đợc phát triển phong phú đa dạng hơn Các bức chạm khắc nh cảnh hội hè, vui
Trang 7chơi hay hoạt cảnh lao động sản xuất càng ngày càng đợc phát triển phong phú và đa dạng hơn
Trang 8Chơng II Hình tợng con ngời trong chạm khắc Đình Làng thế kỷ XVII
Niên đại sớm nhất của đình làng hiện nay đợc xác định ở thế kỷ 16 bởi vậy hình tợng con ngời xuất hiện sớm nhất ở đình làng sẽ có cùng niên đại này, ngay ở những ngôi đình làng sớm nhất, hoạt cảnh có ngời đợc thể hiện rất nhiều Đó là các cảnh (vui chơi, chèo thuyền, làm xiếc, đánh cờ v.v…).)
Các đề tài mô tả cuộc sống hàng ngày nh: lao động sản xuất (đi cày…).)
đồng thời cũng xuất hiện những đề tài mang tính chất thần thoại nh (tiên nữ) Các đề tài này đợc kết thừa từ nghệ thuật chạm khắc của thế kỷ trớc, trong các ngôi chùa Ví dụ: Chùa Thái Lạc
Sang thế kỷ 17 các hoạt cảnh có ngời mất dần ở các chùa, mà tập chung chủ yếu ở các đình Điều này chứng tỏ đình làng chiếm vai trò quan trọng của làng xã trong thế kỷ này Các đề tài có hình tợng con ngời trên cơ sở chạm khắc thế kỷ 16 ngày càng đợc phát triển phong phú hơn, đồng thời xuất hiện những bức chạm mang t tởng nho giáo, và những đề tài đề cao sự học nh (vinh quy bái tổ…).)
Đình Hng Lộc (Nam Định): là một ngôi đình nhỏ nhng phần chạm khắc
bên trong có lẽ vợt qua cả nhiều đình lớn danh tiếng Ngoài hình rồng, hình
điểu đợc phát triển đủ dạng, đình Hng Lộc còn chạm nhiều hình “tiên” hiếm gặp Các nàng “tiên” ở đây đứng múa chắp tay vái, đều là những thiếu nữ yếm trần váy áo đơn giản, tay mang cả túi trầu cau Nhng khác lạ hơn nữa rồng này không gặp ở đâu khác bộ râu tóc công đều tua tủa cứng nhọn, vút lên cao Xen giữa các cô tiên hiền hậu và những đầu rồng gai góc, hình Hng Lộc trai gái
đùa dỡn nhau hết sức thoải mái Một anh trai làng tí tới bế cô gái trên lòng Tạc đục cách đây hơn 300 năm nhóm tợng hồn nhêin số đông này tỏ ra đã chống phong kiến khá sớm và khá bạo
2.2 Đề tài sinh hoạt làng xã.
Bao gồm các đề tài lao động sản xuất cảnh đi cày, săn bắn nh là cỡi voi,
đánh hổ, đâm thú, các đề tài khác nh mả táng Hàm Rồng (Đình Liệu Hiệp Hà Tây, Vinh quy bái tổ, đề cao sự học, cho châu ăn, mẹ gánh con, chạy giặc…).)
2.3 Đề tài vui chơi.
Trang 9Đây là mảng đề tài chiếm đa phần hoạt cảnh của Đinh Ví dụ nh : Đấu vật, chèo thuyền, đánh cờ, trai gái vui đùa, uống rợu chọi gà, gẩy đàn
Các trạm khắc ở đây gây ấn tợng mạnh trên bề mặt trang trí động tác mỗi nhân vật đảo chiều liên tục từ cảm ứng của nghệ nhân tác động lên nét
đục trạm Mỗi nhóm một trung tâm, một mật đột khối tập hợp lại trong khung tác giác cốm, vì kèo hoặc khung ván là gió đã định sẵn Hình Tợng săn thú ,
đấu vật, bắn chim, cỡi ngựa, uống rợu, đánh cờ, tắm ao sen…) đều có thể dồn vào vị trí bất kỳ mà bố cục có cảm giác là th hiếu, chẳng hạn phù điêu đình
An Hoà (Hà Nam) chạm nguyên nhóm đua thuyền Đinh Hng Lộc (nam Định) trạm trai gái vui đua đình cổ Mễ (Bắc Ninh) chạm cảnh lênh đồng
Ngoài ra ta còn gặp ở vô số các đình làng khác, nhng cảnh dân dã nh: vật ôm chân giật chẳng (Đình Kim Hoàng - Hà Tây) Thi đấu vỗ (đến Vua Bà
- Nghệ an) Đấu khiên mặt ngửa, chân tay, chuyển động trong thế võ (đình Liên Hiệp - Hà tây, đình Phù lão - Hà Bắc …).) Các cảnh vui chơi trai gá yêu nhau (đình Hơng lộc - Nam Định) ca hát nhà quan, quan ghẹo gái ( đình Tiên Chợc - Nam Hà) Cảnh trai gái vui đùa (đình Đông Viên) chọi gà (đình An Hoà- (Nam Hà) hát nhà quan (Ngọc canh - Vĩnh Phúc) Đánh cờ, uống rợu (Ngạch Canh - Vĩnh Phúc)
2.4 Nhận xét về nghệ thuật chạm khắc
Đề tài phong phú đa dạng Có đề tài tả thực lại có đề tài mang tính ớc lệ cao Nhiều đề tài phản ánh cuộc sống đơng đại, lối sống của ngời đơng thời Hình tợng ngời phụ nữ đợc đề cao và đợc mô tả với nhiều chủ đề khác nhau Tuỳ từng đề tài, các nghệ nhân dùng nhiều thủ pháp chạm khắc để thể hiện ý tởng của mình, và tăng giá trị biểu đạo của tác phẩm
Về mặt kỹ thuật, có thể chia tác phẩm thành 2 dạng:
Loại tợng tròn
Loại phù điêu
Các thủ pháp chính
Chạm nổi
Chạm lộng
Chạm thủng
Trang 10Nhận xét về chạm lộng Đình Việt Nam, ông Đức đã viết: “Hình tợng ngây thơ, giản dị, không chuẩn mực, thiếu chau chuốt, đầy ngẫu hứng dân gian, xuất sắc về tính biểu cảm Cấu trúc phức tạp 2-3 lớp chồng chéo lên nhau dày đặc nh chen lấn xô đẩy, đầy tính phồn thực, và rất ba rốc - là đỉnh cao của nghệ thuật dân gian thời phong kiến
Điêu khắc đình làng xứ Bắc quả là 1 di sản nghệ thuật qúy báu Nói
điêu khắc đình làng là nói đến nghệ thuật trang trí đình làng Điêu khắc ở đây
là điêu khắc trang trí Nh chúng ta đã biết, ngời thợ hàn đình chẳng những thành thạo trong công việc dựng đình mà còn biết tô điểm cho ngôi đình thêm
đẹp Điêu khắc ở đây, do đó gắn liền với hài hoà, với kiến trúc “Hầu nh trên các thành phần của kiến trúc đình làng đều đợc các nghệ nhân xa dùng bàn tay điêu luyện của mình chạm khắc thành những hình mẫu có giá trị nghệ thuật cao, thu hút sự chú ý của mọi ngời lúc ghé thăm đình Nhiều thành phần kiến trúc, do yêu cầu của kỹ thuật làm nông, nên bắt buộc phải d thừa ra ngoài những khối gỗ cục mịch và nặng nề, nay đợc các nghệ nhân biến thành những
đầu rồng ngậm ngọc với những bờm lửa dài sinh động của đình làng Hoặc cũng có những đầu cột có chốt nhiều lớp, kiểu cánh gà, nay đợc tranh trí thành những con rồng hội tụ với nhau thật vui mắt nhiều con rồng đuôi ở bên này cột, thân chui sang bên kia và đầu đang nghiêng mặt cời đùa (đình Tây Đằng) Nhiều chỗ chạm đẹp đến nỗi đôi khi ngời xem có cảm tởng nh nghệ nhân cố tình tọ ra những khối d thừa đó để trang trí cho đẹp chứ không phải do yêu cầu
kỹ thuật mà có, rồi nghệ nhân phải chạm để che đậy che bớt phần thô lệch d-ờng nh hễ có chỗ trống là có ngay những đd-ờng lợn của nhát đục Những thành phần của kiến trúc đợc chú ý trang trí nhiều nhất là các ván bng (tức là ván nổi giữa xà thơng và xà hạ) Các cốn (tức khung tam giác giơi hạn bởi xà nách, cột cái và các đờng chéo của mái nhà) và các vì nóc (1) dựng rất nhiều, nhất là vào niên đại Chính Hoà (1680-1705) Thế kỷ 17 cũng chứng kiến sự phát triển lên đến đỉnh cao của điêu khắc đình làng Ta hãy nghe các nhà nghiên cứu mỹ thuật hiểu biết về nghiên cứu đình làng thời kỳ này:
“Bớc chuyển từ trang trí sang phù điêu ở chạm khắc đình làng phù hợp với việc giải phóng công năng cho một số thành phần tự do và bán chịu lực trên vì kèo kỹ thuật chạm lộng, chạm bong tạo nhiều lớp chồng chéo, tách khỏi nền để trở thành những bức chạm hoàn thiện ở nhiều đình, ngời ta treo hẳn một cây gỗ với hàng nghìn tợng trên đó Những bức phù điêu dài 5m cao 1,20m dày 0.740m với bốn năm lớp hình thể đan xen tạo thành một chuỗ phức tạp rất đặc biệt, trong đó khoảng cách giữa các hình thể đợc chú trọng nh bản