Khác với vùng miền núi phía Bắc, vùng Tây Nguyên có quỹ đất phong phú, nhất là đất đỏ bazan 1,36 triệu ha, chiếm 66% diện tích đất ba zan toàn quốc19 có điều kiện thuận lợi cho phát triể
Trang 1Bài 6 Tình hình hoạt động của các thành phần kinh tế trong
nông nghiệp ở miền núi thời kỳ 1991 - 2000
Hoàng Ngọc Vĩnh
Phó vụ trưởng Vụ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Ban Kinh tế Trung ương
I Khái quát tình hình
Do điều kiện lịch sử tự nhiên mà các tỉnh miền núi phía Bắc gặp nhiều khó khăn trong phát triển kinh tế, xã hội so với các tỉnh khác Có nơi hầu hết diện tích tự nhiên đều là núi đá như các huyện Mèo Vạc, Đồng Văn, Yên Minh, Quản Bạ của tỉnh Hà Giang, hoặc như các xã ở vùng Lục Khu của tỉnh Cao Bằng điều kiện sản xuất nông nghiệp không thuận lợi dù chỉ là đảm bảo tự túc, tự cấp lấy lương thực Toàn bộ các tỉnh vùng miền núi phía Bắc chỉ có một số cánh đồng lúa lớn mà người dân ở đây thường nói là "nhất Thanh" (Mường Thanh - Lai Châu: 2800 ha), "nhì Lò" (Mường Lò - Yên Bái: 2300 ha), ngoài ra còn có cánh đồng lúa ở Lào Cai, Sơn La cũng chỉ có trên 1000 ha Bình quân diện tích đất cây hàng năm có 300-400 m2/người16, nếu thâm canh ở mức cao để đạt 10 tấn lương thực/ha/năm, thì mới được 300-400 kg lương thực/người/năm, trong
đó ở nhiều huyện lương thực chính dùng trong bữa ăn vẫn là ngô Cũng do địa hình "thừa đá" và thiếu "đất" mà chi phí cho thâm canh các loại cây trồng, vật nuôi ở đây khá cao, nên việc lựa chọn cây gì, con gì để sản xuất có lãi và làm giầu, quả đang là một thách thức lớn Chỉ tính ở các xã
đặc biệt khó khăn của 4 huyện vùng cao núi đá của tỉnh Hà Giang, vùng Lục Khu của tỉnh Cao Bằng vào mùa khô từ tháng 10 đến tháng 4 hàng năm, bình quân chỉ có 10-15 lít nước/người/ngày17, do vậy rất thiếu nước cho cây trồng và gia súc Tình hình đó đã làm cho sản xuất và đời sống của nhân dân rất khó khăn, khắc nghiệt và đây cũng là nguyên nhân chính dẫn
đến tình trạng di dân tự do đi nơi khác, bỏ trống vùng lãnh thổ biên giới với Trung Quốc (theo Điều tra của Tổng cục Thống kê, năm 1998 có đến 73,5% số xã có dân di chuyển đi nơi khác)18 Không có dân, thưa dân cũng là một khó khăn, trở ngại lớn cho việc bảo đảm được toàn vẹn
đường biên, mốc giới của Tổ quốc
Khác với vùng miền núi phía Bắc, vùng Tây Nguyên có quỹ đất phong phú, nhất là đất đỏ bazan (1,36 triệu ha, chiếm 66% diện tích đất ba zan toàn quốc)19 có điều kiện thuận lợi cho phát triển các cây công nghiệp, nhưng gần đây, tình trạng di cư tự do ở các tỉnh phía Bắc vào Tây Nguyên đã làm cho cộng đồng dân cư không thuần nhất (theo Điều tra trên, đến năm 1998 có
đến 93% số xã có dân di chuyển đến), trình độ sản xuất, đời sống và dân trí có sự chênh lệch rất
xa, đang chứa đựng nhiều vấn đề phải quan tâm giải quyết về quyền lợi kinh tế trong khai thác tài nguyên đất nông nghiệp và đất rừng, về mặc cảm dân tộc trong lối sống và dân trí, về bảo vệ tài nguyên và môi trường
16 Báo cáo các tỉnh miền núi năm 2000
17 Báo cáo tỉnh Cao Bằng năm 1999
18 Điều tra mức sống dân cư năm 1997-1998 của Tổng cục Thống kê
19 Báo cáo Bộ Kế hoạch và Đầu tư năm 2000
Trang 2Lợi dụng trình độ dân trí thấp và đời sống còn nhiều khó khăn của đồng bào các dân tộc ở các vùng miền núi phía Bắc và Tây Nguyên, một số đạo giáo phát triển mạnh, trong đó có cả tà
đạo đã làm ảnh hưởng tiêu cực đến truyền thống, bản sắc văn hoá, đạo đức của dân tộc, gây chia
rẽ giữa các dân tộc làm mất ổn định xã hội nông thôn
Tóm lại, có thể nói các tỉnh miền núi là địa bàn đặc trưng cho những khó khăn, bức xúc về phát triển sản xuất và nâng cao mức sống cho nhân dân; về bảo vệ biên giới và chủ quyền lãnh thổ quốc gia; về đoàn kết các dân tộc và ổn định xã hội nông thôn Mặc dù vậy, trong những năm đổi mới vừa qua, nhất là thực hiện Nghị quyết 22 của Bộ Chính trị (khoá VII) về phát triển kinh tế - xã hội miền núi và gần đây là Nghị quyết 06 của Bộ Chính trị về một số vấn đề phát triển nông nghiệp và nông thôn , tình hình kinh tế - xã hội nông thôn và nhất là hoạt động của các thành phần kinh tế trong vùng đã có những chuyển biến nhất định Tuy nhiên, trong quá trình chuyển từ cơ chế kế hoạch hoá tập trung sang cơ chế thị trường định hướng XHCN, hoạt động của các thành phần kinh tế đã xuất hiện và nảy sinh một số vấn đề mới cần được tiếp tục quan tâm giải quyết, nhằm tiếp tục phát huy nội lực, chuẩn bị tốt hơn các điều kiện cần thiết để cùng với cả nước bước vào giai đoạn công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
II Thực trạng hoạt động của các thành phần kinh tế
II.1 Tình hình hoạt động
II.1.1 Kinh tế hộ
- Bình quân diện tích đất sử dụng vào sản xuất nông nghiệp và nhất là lâm nghiệp của 1 nhân khẩu ở miền núi khá cao, nhưng tỷ lệ đất được giao ổn định lâu dài cho hộ lại thấp nhất so với các vùng khác
Theo Niên giám Thống kê, năm 2000 tỷ lệ dân số của vùng Đông Bắc, Tây Bắc, Tây Nguyên và tỉnh Bình Phước chỉ chiếm 20,8% tổng dân số cả nước, nhưng diện tích đất nông nghiệp chiếm tới 31,8% tổng diện tích đất nông nghiệp cả nước và diện tích đất lâm nghiệp có rừng chiếm tới 59,5% tổng diện tích đất lâm nghiệp có rừng của cả nước
Bảng II.6.1 Sử dụng đất năm 2000
Nguồn: Niên giám Thống kê, năm 2000
Bình quân diện tích đất nông nghiệp và lâm nghiệp có rừng/người năm 2000 ở nông thôn nước ta chỉ có 1.582m2 và 1.960m2, thì vùng miền núi, trừ đất nông nghiệp vùng Đông Bắc (1.217m2), còn lại đều cao hơn so với bình quân của cả nước:
Trang 3Bảng II.6.2 Bình quân đất nông nghiệp và đất lâm nghiệp có rừng/người khu vực nông
Nguồn: Niên giám Thống kê, năm 2000
Đồ thị II.6.1 Bình quân đất nông nghiệp và đất lâm nghiệp có rừng/người khu vực nông
thôn năm 2000
Về quyền sử dụng đất của hộ, theo số liệu điều tra của Tổng cục thống kê năm 1998, đất nông, lâm nghiệp được sử dụng lâu dài ở vùng miền núi phía Bắc chiếm 35,38% tổng diện tích đất của hộ, vùng Tây Nguyên chiếm 10,97%, còn lại là hộ nhận đất khoán, đấu thầu hoặc thuê mướn (tính đến 30/6/2000, cả nước đã có 10.991.540 hộ nông dân được cấp giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất, đạt 89,2% tổng số hộ sử dụng đất, với diện tích 5.954.443 ha, bằng 88,22% diện tích đất nông nghiệp và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất rừng cho hộ gia đình mới
được 1,09 triệu ha rừng, gần bằng 10% diện tích đất rừng)
- Tuy vậy, khác với vùng đồng bằng, việc mua bán đất đai nông lâm nghiệp ở các tỉnh miền núi, nhất là các tỉnh Tây Nguyên diễn ra khá phổ biến:
Bảng II.6.3 Tỷ lệ hộ mua, bán đất và giá mua, bán đất
Nguồn: Điều tra mức sống dân cư, năm 1997-1998 của Tổng cục Thống kê
Trang 4Điều đó chứng tỏ tỷ lệ số hộ mua đất để sản xuất nông nghiệp nhiều hơn số hộ bán đất
và do đó đã có chênh lệch giá lớn giữa mua và bán đất Hơn nữa, một số năm trước đây do giá cà phê tăng đột biến, nhiều hộ ở thành phố đến Tây Nguyên mua đất rừng để lập vườn cà phê, làm cho giá đất nông lâm nghiệp tăng lên và diện tích đất lâm nghiệp bị thu hẹp dần (diện tích đất trồng cà phê ở Tây Nguyên đã vượt gần gấp đôi so với quy hoạch: quy hoạch
đến năm 2000 có 150.000ha, thì năm 2000 đã tăng lên hơn 313.000ha-cả nước có 516.700 ha)
- Mặc dù bình quân lương thực/người đã tăng lên so với trước nhờ tiếp tục đẩy mạnh thâm canh, nhưng tỷ trọng hàng hoá nông nghiệp chủ yếu vẫn là sản phẩm cây công nghiệp hàng năm và lâu năm:
Bảng II.6.4 Năng suất lúa và bình quân lương thực/người/năm
Nguồn: Điều tra mức sống dân cư, năm 1997-1998 của Tổng cục Thống kê
Theo kết quả điều tra trên, cơ cấu giá trị sản phẩm nông nghiệp đã bán của cả nước chủ yếu là cây lương thực (42,46%), còn vùng miền núi phía Bắc, lại chủ yếu là cây công nghiệp hàng năm (chiếm 37%), tiếp đến là cây công nghiệp lâu năm (26,2%), cây lương thực (24%) và vùng Tây Nguyên, hầu hết là cây công nghiệp lâu năm (chiếm 85%) Giá trị sản phẩm năm 1998 bình quân/ha cây công nghiệp hàng năm của vùng miền núi phía Bắc đạt 14,9 triệu đồng, cao hơn bình quân của cả nước (cả nước 13,05 triệu đồng); vùng Tây Nguyên
đạt thấp, có 8,04 triệu đồng, nhưng riêng cây công nghiệp lâu năm, mà chủ yếu là cà phê, năm 1998 đạt khá cao: 40 triệu đồng/ha, đến nay, tuy giá cà phê xuống thấp, nhưng cũng còn
đạt khoảng 10 triệu đồng/ha và vẫn cao hơn so với cây công nghiệp hàng năm ở đây
- Chăn nuôi của hộ gia đình ở miền núi, nhất là chăn nuôi đại gia súc có điều kiện phát triển về số lượng, nhưng năng suất chăn nuôi còn thấp.
Bảng II.6.5 Bình quân giá trị đàn gia súc, gia cầm, cá và giá trị sản phẩm bán ra trong
năm/hộ:
(Đơn vị tính: Triệu đồng)
Nguồn: Điều tra mức sống dân cư, năm 1997-1998 của Tổng cục Thống kê
Theo số liệu điều tra trên, bình quân giá trị đàn gia súc, gia cầm, cá của 1 hộ ở vùng miền núi bằng và cao hơn so cả nước, nhưng trị giá bán sản phẩm gia súc, gia cầm, thuỷ sản, bình quân/hộ ở đây thấp hơn so cả nước Như vậy, tuy vùng miền núi, kinh tế hộ đã chú trọng
Trang 5đầu tư vốn cho chăn nuôi, nhưng hiệu quả còn thấp, do năng suất chăn nuôi chưa tăng lên
được
- Thu nhập/hộ/năm đã tăng lên, nhưng tỷ trọng thu nhập về nông, lâm nghiệp giảm chậm, có nơi lại tăng cao hơn so với trước
Thu nhập/hộ/năm theo giá hiện hành ở vùng Tây Nguyên từ năm 1993 đến năm 1998
đã bớt chênh lệch so với bình quân cả nước, năm 1993 bằng 91,8% cả nước (5,05/5,5 triệu
đồng/hộ), thì đến năm 1998 bằng 96% cả nước (đạt 17/17,7 triệu đồng); nhưng vùng miền núi phía Bắc khoảng cách chênh lệch lại tăng lên, từ 73,6% cả nước năm 1993 (4,05/5,5 triệu
đồng/hộ), thì đến năm 1998 chỉ bằng 65% cả nước (11,5/17,7 triệu đồng/hộ)20
Bảng II.6.6 Tỷ trọng thu nhập/hộ năm 1993 so với năm 1998 (%)
Thu nhập từ phi nông nghiệp 1993 63,7 36,9 35,4
Thu nhập từ phi nông nghiệp 1998 68,0 39,8 25,4
Nguồn: Điều tra mức sống dân cư, năm 1997-1998 của Tổng cục Thống kê
Đồ thị II.6.2 Tỷ trọng thu nhập/hộ năm 1993 và 1998
Điều đó chứng tỏ, cơ cấu thu nhập của kinh tế hộ ở vùng miền núi chưa có chuyển biến
rõ, thu nhập chủ yếu dựa vào nông nghiệp và vùng Tây Nguyên đang có xu hướng trở lại kinh
Trang 6Nguyên Số hộ có tích luỹ tăng lên nhanh, nhưng trị giá tích luỹ bình quân 1 hộ/năm còn nhỏ
Kết quả điều tra mức sống dân cư của Tổng cục Thống kê năm 1997-1998 cho biết tỷ lệ hộ/tổng số hộ ở nông thôn và trị giá bình quân tích luỹ/hộ (số tiền còn lại của thu nhập trong năm, sau khi đã chi cho sinh hoạt, đời sống; thu nhập = Giá trị sản xuất - Chi phí sản xuất) như sau:
Bảng II.6.7 Tỷ lệ hộ có tích luỹ và bình quân trị giá tích luỹ được/hộ/năm
Tỷ lệ hộ có tích luỹ năm 1993 (%) 48,3 19,0 6,9 Trị giá tích luỹ/hộ năm 1993 (tr.đ) 3,7 1,6 1,2
Tỷ lệ hộ có tích luỹ năm 1998 (%) 90,5 80,6 97,3 Trị giá tích luỹ/hộ năm 1998 (tr.đ) 4,4 2,0 2,7
Với mức tích luỹ ở miền núi như trên, nếu 1 hộ ở nông thôn muốn mua 1 máy chuyên dùng trị giá 20 triệu đồng để chuyển dịch cơ cấu sản xuất kinh doanh, thì phải tích luỹ khoảng
10 năm Hơn nữa, hiện vẫn còn khoảng 1,5 triệu người sống du canh, du cư, khả năng tích luỹ rất thấp Đó là những trở ngại lớn cho quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn
II.1.2 Kinh tế trang trại
- Những năm gần đây số lượng trang trại phát triển nhanh, phổ biến là trang trại gia đình, quy mô đất đai xoay quanh mức hạn điền Một số ít trang trại đã thành lập doanh nghiệp tư nhân, đầu tư khai thác với diện tích lớn ở các vùng đất hoang hoá theo
dự án của Nhà nước
Từ sau khi thực hiện Nghị quyết 10-NQ/TW của Bộ Chính trị (1998), Nghị quyết Trung
ương 5 khoá VII (1993) và đặc biệt là quy định 5 quyền của Luật đất đai (1993) đã phát huy vai trò tự chủ của kinh tế hộ, thì kinh tế trang trại thực sự có bước phát triển khá nhanh và đa dạng Đến năm 2000 cả nước có khoảng 110.000 trang trại, trong đó vùng Đông Bắc 24.400, vùng Tây Bắc 9.700, Tây Nguyên 12.642 và tỉnh Bình Phước 3.076 trang trại21 Bình quân chung quy mô đất đai 1 trang trại của cả nước là 6,2 ha Vùng Tây Bắc, Đông Bắc và Tây Nguyên trang trại có quy mô từ 2 ha đến 5 ha chiếm trên 80%, còn lại từ 5 ha trở lên Tỉnh Yên Bái có trang trại trên 500 ha trồng rừng nguyên liệu giấy, đã chuyển sang doanh nghiệp tư nhân Một số tỉnh miền núi khác, cũng có những trang trại quy mô lớn, cá biệt rất lớn
- Phần lớn các chủ trang trại xuất thân là nông dân ở tại địa phương, số còn lại là cán bộ, công nhân viên chức đã nghỉ hưu về nông thôn, một số ít là người nơi khác
Trang 7các tỉnh miền núi phía Bắc chiếm trên 90%, tỉnh Lâm Đồng 70%, Gia Lai 65%, Bình Phước 91,16% còn lại là cán bộ công nhân viên và các thành phần khác
- Các trang trại đều sử dụng lao động của gia đình là chính, có thuê mướn lao
động thường xuyên và lao động thời vụ Nguồn thu nhập chủ yếu từ lao động trong gia
đình
Do quy mô sản xuất còn nhỏ, nên các trang trại sử dụng lao động của gia đình là chính, chỉ thuê mướn lao động vào thời điểm cần thiết Đối với các trang trại có quy mô sản xuất lớn thường phải thuê cả lao động thường xuyên và lao động thời vụ, giá thuê mướn lao động thời
vụ ở các tỉnh miền núi phía Bắc từ 10.000 - 20.000 đồng/ngày, lao động thường xuyên từ 250.000 - 300.000 đồng/tháng; ở Tây Nguyên từ 18.000 - 25.000 đồng/ngày, lao động thường xuyên từ 500.000 - 600.000 đồng/tháng (tỉnh Gia Lai, cứ 3-5 ha thuê mướn 1 lao động thường xuyên, tỉnh Kon Tum, Lâm Đồng 1 trang trại thuê mướn từ 3-5 lao động và từ 2-20 lao động thời vụ)22
- Nguồn vốn đầu tư của các chủ trang trại nhìn chung chưa lớn, nhưng hầu hết là vốn tự có và một phần là vốn của Nhà nước thông qua các chương trình, dự án và huy
động từ các nguồn vốn khác trong dân
Mức đầu tư bình quân của một trang trại ở các tỉnh miền núi phía Bắc khoảng 30 triệu
đồng, ở các tỉnh Tây Nguyên khoảng 70 triệu đồng Trong thời kỳ kiến thiết cơ bản, bình quân
1 ha trồng rừng đầu tư 15 - 20 triệu đồng, cà phê 35 - 40 triệu đồng, hồ tiêu 180 - 200 triệu
đồng, cao su 20 - 25 triệu đồng, mía 5 triệu đồng (tỉnh Gia Lai có 70% số trang trại dùng vốn
tự có là chủ yếu, số còn lại dùng vốn vay là chủ yếu; tỉnh Kon Tum bình quân 60 - 150 triệu
đồng/trang trại; tỉnh Đắk Lắk 100 triệu đồng/trang trại, tỉnh Lâm Đồng 50 - 100 triệu
đồng/trang trại, tỉnh Bình Phước 150 - 200 triệu đồng/trang trại) Để có nguồn vốn lớn làm kinh tế trang trại, phần lớn các hộ nông dân thực hiện phương châm "lấy ngắn, nuôi dài" và tích luỹ dần, ngoài ra, còn huy động thêm nguồn vốn trong dân cư và được hỗ trợ của Nhà nước thông qua các chương trình mục tiêu quốc gia như Chương trình trồng rừng, xoá đói giảm nghèo, giải quyết việc làm
- Trang trại ở miền núi phía Bắc tập trung phát triển cây ăn quả kết hợp với nhận trồng rừng, còn ở Tây Nguyên tập trung trồng cây công nghiệp dài ngày và phát triển chăn nuôi đại gia súc Tuy nhiên, gần đây các trang trại ở miền núi đang có xu hướng chuyển sang sản xuất kinh doanh tổng hợp
Trong tổng số 34.100 trang trại ở vùng Tây Bắc và Đông Bắc, có 17.000 trang trại trồng cây ăn quả (50%), 6.000 trang trại trồng rừng (17,6%), 9.000 trang trại kinh doanh tổng hợp (26,4%) Với quy mô đạt giá trị sản phẩm hàng hoá từ 40 triệu đồng trở lên, tỉnh Cao Bằng
có 20 trang trại, thì 10 trồng cây ăn quả, 5 trồng rừng và 5 kinh doanh tổng hợp; tỉnh Bắc Giang có 2.808 trang trại, thì 2.460 trồng cây ăn quả, 317 trồng rừng, 2 chăn nuôi, 24 thuỷ sản, 5 tổng hợp Vùng Tây Nguyên và tỉnh Bình Phước có 15.718 trang trại, trong đó có 13% trồng cây hàng năm, 54,3% trồng cây công nghiệp lâu năm, 2% chăn nuôi, 23% kinh doanh tổng hợp Với quy mô trang trại đạt giá trị sản phẩm hàng hoá từ 50 triệu đồng trở lên, tỉnh
22 Báo cáo các tỉnh miền núi năm 1998
Trang 8Gia Lai có 2.057 trang trại, thì 200 trồng cây hàng năm, 989 trồng cây công nghiệp lâu năm,
27 chăn nuôi, 24 nuôi trồng thuỷ sản và 817 kinh doanh tổng hợp; tỉnh Đắk Lắk có 1.418 trang trại, thì 301 trồng cây hàng năm, 1.044 trồng cây công nghiệp lâu năm, 14 trồng rừng,
15 chăn nuôi, 9 nuôi trồng thuỷ sản và 35 kinh doanh tổng hợp23
Tóm lại, kinh tế trang trại ở miền núi đã góp phần khơi dậy được tiềm năng đất đai, lao
động, vốn trong dân cư cho đầu tư phát triển nông nghiệp, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh
tế nông nghiệp và nông thôn, nhưng nhìn chung hiệu quả, chất lượng và sức cạnh tranh của các sản phẩm từ kinh tế trang trại tuy có hơn kinh tế hộ, nhưng còn thấp so với yêu cầu của thị trường, cũng như so với sản phẩm cùng loại của khu vực, do vậy sự phát triển của kinh tế trang trại chưa có tính ổn định và bền vững cao và chưa tương xứng với tiềm năng đất đai, lao
động trong vùng Nhiều trang trại mở rộng quy mô diện tích, nhưng đầu tư thâm canh chưa cao, lại có hiện tượng quảng canh, lạm dụng đất rừng, gây tác động xấu đến môi trường
II.1.3 Kinh tế tập thể
II.1.3.1 Kinh tế tổ hợp tác
Hiện nay cả nước có trên 100.000 tổ hợp tác nông nghiệp với nhiều tên gọi khác nhau Mỗi tổ thường có từ 10 đến 60 hộ Khảo sát 27.429 tổ hợp tác ở 31 tỉnh, thành cho thấy, vùng miền núi phía Bắc và Tây Nguyên là nơi có nhiều tổ hợp tác, chiếm tới 36,1% tổng số tổ hợp tác (cao nhất là vùng đồng bằng sông Cửu Long: 49,9%) Phạm vi hoạt động của tổ hợp tác trong nông nghiệp rất linh hoạt và thường hình thành theo địa bàn dân cư
- Tổ hợp tác là tổ chức kinh tế xuất hiện phổ biến ở vùng miền núi, phù hợp với trình
độ phát triển của kinh tế hộ hiện nay, là mô hình kinh tế của dân, do dân tự nguyện lập ra để giúp nhau sản xuất, giải quyết khó khăn trong đời sống, góp phần xoá đói giảm nghèo, thực
sự có vai trò và sức sống không những hiện tại mà cả trong nhiều năm tới
Trong những năm qua, khi số lượng hợp tác xã (HTX) theo mô hình và cơ chế cũ giảm nhanh thì tổ hợp tác trở nên phổ biến, mang tính chất của một tổ chức kinh tế tập thể với nhiều trình độ khác nhau Các tổ hợp tác ở miền núi đang chuyển dần từ tổ vần công, đổi công, tổ chuyên khâu sang tổ hợp tác làm nhiều loại dịch vụ sản xuất; một số tổ hợp tác đã có tư liệu sản xuất chung của một số thành viên để làm dịch vụ cho các thành viên khác trong tổ
Tổ hợp tác sản xuất giúp hộ về kỹ thuật, sức lao động, công cụ, kinh nghiệm sản xuất, góp phần nâng năng lực của kinh tế hộ, giúp hộ có thể tiếp nhận được những thông tin, tiến bộ khoa học kỹ thuật, sử dụng có hiệu quả hơn các nguồn lực của chính mình
- Tuy vậy, tổ hợp tác cũng bộc lộ những hạn chế nhất định: Đa số tổ hợp tác có qui mô còn nhỏ, quản lý giản đơn, còn mang tính tự phát, phần lớn chưa đủ sức hỗ trợ cho các hộ thành viên phát triển mạnh sản xuất hàng hoá, góp phần hạn chế các rủi ro của thiên tai và của thị trường
23 Báo cáo Tỉnh uỷ năm 1998
Trang 9II.1.3.2 Kinh tế hợp tác xã
Đến năm 2000, lĩnh vực nông, lâm, diêm, ngư nghiệp (gọi chung là nông nghiệp) của cả nước có 10.853 HTX, trong đó 5.959 HTX đã chuyển đổi (chiếm 54,9% tổng số HTX nông nghiệp), thành lập mới 1.765 HTX (chiếm 16,3%) và 3.129 HTX chưa chuyển đổi (chiếm 28,8%) Vùng miền núi phía Bắc có 3.546 HTX (11 HTX thuỷ sản), trong đó có 1.658 HTX đã chuyển đổi
và 157 HTX mới thành lập, còn lại 1.731 HTX chưa chuyển đổi (48,8%); Tây Nguyên 296 HTX, trong đó có 56 HTX đã chuyển đổi và 46 HTX mới thành lập, còn lại 194 HTX chưa chuyển đổi (65,5%); tỉnh Bình Phước 21, trong đó có 16 HTX đã chuyển đổi và 5 HTX mới thành lập
Một số kết quả đạt được:
- Các HTX đã làm được một số khâu dịch vụ thiết yếu mà từng hộ xã viên không làm
được, hoặc làm không hiệu quả như: Hướng dẫn kế hoạch sản xuất, tưới tiêu, bảo vệ đồng ruộng vì lợi ích chung Vốn quỹ của HTX còn nhỏ, nhưng đã có vai trò quan trọng trong hỗ trợ một phần cho kinh tế hộ phát triển, góp phần phát triển cộng đồng, củng cố quan hệ sản xuất mới ở nông thôn miền núi
- Nhiều HTX chuyển đổi và mới thành lập đã thể hiện được các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của HTX, tinh giản được bộ máy quản lý, phát huy được vai trò tự chủ của kinh tế
hộ xã viên Công tác quản lý trong HTX từng bước được củng cố và hoàn thiện, nhất là quản lý tài chính của HTX bước đầu đã khắc phục những yếu kém, trì trệ trước đây
Hợp tác xã từng bước được giải phóng khỏi sự ràng buộc cứng nhắc của cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, tự chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh, thích ứng dần với cơ chế kinh tế thị trường Nơi sản xuất hàng hoá phát triển đã có một số HTX mới được thành lập
Đã phân định rõ chức năng quản lý kinh tế của HTX với chức năng quản lý Nhà nước của chính quyền cấp xã, giảm bớt những công việc làm thay chức năng chính quyền Đồng thời phân định được đâu là sở hữu tập thể và đâu là sở hữu hộ xã viên; quyền tự chủ của kinh tế hộ không bị mất đi, mà được hỗ trợ thêm từ phía HTX
Nhìn chung, các HTX đã xác định được giá trị tài sản, phân loại được các khoản nợ phải thu, phải trả, đề ra phương án, giải pháp xử lý nợ; đã đề nghị xét miễn giảm, khoanh, xoá các khoản HTX nợ Nhà nước (bình quân 1 HTX vùng miền núi phía Bắc, đề nghị Nhà nước xoá nợ
10 triệu đồng, vùng Tây Nguyên 57,3 triệu đồng, cả nước 30,4 triệu đồng)
- Nội dung hoạt động của HTX được sắp xếp lại theo hướng nâng cao hiệu quả và mở rộng dịch vụ, xoá bỏ những hoạt động kém hiệu quả, ít tác dụng đối với kinh tế hộ trên cơ sở tôn trọng tính tự chủ của kinh tế hộ
Nhiều HTX từ tổ chức dịch vụ đã chuyển sang trực tiếp làm dịch vụ kỹ thuật; một số HTX đã
mở ra nhiều dịch vụ mới theo yêu cầu của xã viên, như làm tín dụng nội bộ, chế biến nông sản Kết quả phỏng vấn hộ xã viên năm 2001, ở miền núi phía Bắc có 67,9%, Tây Nguyên 42,4% (cả
Trang 10nước 84,7%) ý kiến đánh giá là HTX hoạt động khá hơn trước khi chuyển đổi, chất lượng dịch vụ của HTX tốt hơn và giá dịch vụ bằng và thấp hơn so với tư nhân.24
- Thông qua việc tổ chức lại sản xuất kinh doanh, chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật, cung ứng dịch vụ, các HTX đã góp phần chuyển dịch cơ cấu, nâng cao hiệu quả sản xuất
Một số HTX ở tỉnh Hà Giang, Tuyên Quang, Lai Châu, Đắk Lắk đã liên kết được với các công ty, trạm trại vật tư kỹ thuật của Nhà nước, làm tốt công tác khuyến nông, chuyển giao tiến
bộ kỹ thuật, giống cây, con mới có giá trị kinh tế cao, có thị trường tiêu thụ, góp phần chuyển dịch cơ cấu cây con, ngành nghề, nâng cao hiệu quả sản xuất cho hộ xã viên
- Một số HTX chuyển đổi và thành lập mới còn mang tính hình thức, chưa có sự chuyển biến về nội dung và hiệu quả hoạt động
Nhiều xã viên không làm đơn vào HTX, không đóng thêm cổ phần, chưa xây dựng được phương án sản xuất kinh doanh có hiệu quả, các quan hệ về quản lý không thay đổi so với trước Một số HTX tồn tại trên danh nghĩa (có nơi Trưởng thôn, Trưởng bản kiêm cả chức năng của Ban quản lý HTX), chưa tổ chức được các hoạt động dịch vụ cho hộ xã viên; nhiều HTX chưa giải quyết được công nợ, tài sản cũ, nhưng vẫn được cấp đăng ký kinh doanh
- Nội lực của HTX còn yếu, hiệu quả sản xuất kinh doanh, dịch vụ thấp, chưa đáp ứng
được yêu cầu của hộ xã viên và đòi hỏi của thị trường
Đội ngũ cán bộ chủ chốt vừa thiếu, vừa yếu Vùng miền núi phía Bắc chỉ có 4% (cả nước 20%) cán bộ quản lý HTX có trình độ trung cấp và 0,8% (cả nước 8%) có trình độ đại học Riêng chủ nhiệm HTX chưa qua đào tạo chuyên môn nghiệp vụ vùng miền núi phía Bắc chiếm tới 79,2% (cả nước 51,2%) và vùng Tây Nguyên có khá hơn: 43,6%
Năng lực tài chính yếu, giá trị tài sản thấp, chủ yếu là tài sản cố định gồm hệ thống thuỷ lợi, điện cũ kỹ lạc hậu (bình quân giá trị tài sản cố định tự có của 1 HTX miền núi phía Bắc là
248 triệu đồng, tài sản lưu động tự có 36 triệu đồng; Tây Nguyên là 800 triệu đồng và 275 triệu
đồng (cả nước 462 triệu đồng và 186 triệu đồng); trong khi vốn lưu động chủ yếu lại là các khoản nợ khó đòi hoặc không đòi được (bình quân 1 HTX miền núi phía Bắc xã viên nợ HTX 33 triệu đồng) Nhiều HTX khi chuyển đổi đã bàn giao tài sản vốn là của HTX cho chính quyền xã, làm mất đi phần tài sản quan trọng của HTX
24 Báo cáo của Ban chỉ đạo tổng kết kinh tế hợp tác và HTX năm 2001
Trang 11II.1.4 Kinh tế quốc doanh
II.1.4.1 Nông trường quốc doanh
Thực hiện Nghị định 12/CP, ngày 2/3/1993 Ban hành quy định về sắp xếp lại tổ chức và đổi mới cơ chế quản lý doanh nghiệp nông nghiệp Nhà nước, đến năm 2000 cả nước có 221 doanh nghiệp Nhà nước có sử dụng đất nông nghiệp (nông trường), trong đó các Tổng công ty quản lý
103 doanh nghiệp và tỉnh, thành quản lý 118 doanh nghiệp Trong số 103 doanh nghiệp của các
Tổng công ty, thì vùng miền núi có các Tổng công ty Cao su Việt Nam, quản lý 23 Công ty (khoảng 148 nông trường phụ thuộc, hạch toán báo sổ); Tổng Công ty Cà phê Việt Nam, quản
lý 46 doanh nghiệp (trong đó có 16 Công ty và 30 nông trường hạch toán độc lập); Tổng Công ty
Chè Việt Nam , quản lý 16 doanh nghiệp (15 Công ty và 1 xí nghiệp); Tổng công ty dâu tằm tơ,
quản lý 10 doanh nghiệp (7 nông trường, 2 công ty, 1 xí nghiệp) Trong số 118 doanh nghiệp tỉnh, thành quản lý bao gồm 26 công ty, 81 nông trường, 11 xí nghiệp, thì vùng miền núi có 29 doanh nghiệp cao su, 20 cà phê, 38 chè, 2 dâu tằm, 3 hồ tiêu và 26 doanh nghiệp trồng cây ăn quả, mía, ngô 25 Như vậy, vùng miền núi hiện có 213 doanh nghiệp (chiếm 96,4% tổng số doanh
nghiệp có sử dụng đất nông nghiệp của cả nước), bao gồm 52 cao su; 66 cà phê; 54 chè; 12 dâu tằm, 3 hồ tiêu và 26 doanh nghiệp trồng cây hàng năm, cây ăn quả Sau 10 năm có thể
đánh giá tình hình hoạt động của các nông trường như sau:
- Hiệu quả sử dụng đất đai của nhiều nông trường đã tăng so với trước, nhưng nhìn chung còn thấp
Từ khi thực hiện Nghị định 01/CP ngày 4/1/1995 về quy định việc giao khoán đất sử dụng vào mục đích sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp và nuôi trồng thuỷ sản trong các doanh nghiệp Nhà nước cho các hộ thành viên, đất đai đã được sử dụng có hiệu quả hơn, năng suất các vườn cây tăng lên rõ rệt Chẳng hạn, năng suất cà phê bình quân năm 1990-1991 là 435 kg/ha, thì sau khi giao khoán, năm 1999 đã đạt 1.510 kg/ha (diện tích kinh doanh đạt 2.000 kg/ha); năng suất chè búp tươi từ 2.234 kg/ha lên 4.100 kg/ha (diện tích kinh doanh đạt 6.000-7.000 kg/ha) Tuy vậy, còn nhiều nông trường chưa thực hiện tốt việc giao khoán vườn cây ổn định lâu dài, chuyển sang làm dịch vụ cho hộ thành viên nên năng suất cây trồng tăng chậm, vẫn còn một số diện tích
đất chưa được sử dụng Một số nông trường thuộc Tổng công ty dâu tằm tơ, Công ty chè Lâm
Đồng vẫn còn tình trạng cấp đất làm nhà ở không đúng thẩm quyền, để dân lấn chiếm đất, hoặc mua bán, chuyển nhượng đất đai công khai, nhưng chưa có biện pháp ngăn chặn kịp thời Một số nông trường đã để xảy ra tranh chấp đất đai giữa các đơn vị với nhau, hoặc với nhân dân trong vùng làm cho sản xuất không được ổn định (theo số liệu điều tra 27 nông trường, năm 2000
có 2.478,7 ha bị dân tranh chấp, lấn chiếm, chiếm 3,65% diện tích đất tự nhiên của các nông trường)
- Quá trình phát triển các nông trường quốc doanh ở miền núi đã góp phần quan trọng mở rộng vùng sản xuất nông sản hàng hoá, là chỗ dựa cho đồng bào các dân tộc trong sản xuất và cải thiện đời sống Tuy vậy, hiệu quả sản xuất kinh doanh của nhiều nông trường còn thấp, chưa làm được vai trò là trung tâm kinh tế - xã hội, khoa học - kỹ thuật của tiểu vùng
25 Báo cáo tổng kết nông trường quốc doanh của Bộ NN&PTNT năm 2000