Trong nền kinh tế sản xuất hàng hóa, hoạt động trao đổi hàng hóa, dịch vụ giưa các thương nhân thông qua hoạt động mua bán là điều kiện quan trọng cho sự tồn tại và phát triển của xã hội. khi mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ trên cũng như tính chất , thời cơ của từng thương vụ, thương nhân có thể lựa chọn phương thức xúc tiến thương mại cho phù hợp. Trong lịch sử phát triển thương mại có rất nhiều phương thức xúc tiến thương mại khác nhau.Các phương thức thường gặp như Khuyến mại; Quảng cáo thương mại; Trưng bày, giới thiệu hàng hóa, dịch vụ; Hội chợ, triển lãm thương mại. Nhưng trong đó, hoạt động Quảng cáo thương mại là phổ biến nhất, với đa dạng cách thức và hình thức khác nhau Quảng cáo là hoạt động xúc tiến thương mại nhằm tuyên truyền giới thiệu hàng hóa, dịch vụ, hay hoạt động của hãng kinh doanh về hàng hóa dịch vụ đó, nhằm tạo sự hứng thú của khách hàng đối với sản phẩm. Trong pháp luật việc nam có nhiều quy định về quảng cáo thông qua Luật Quảng cáo, Luật Thương mại,...Tuy nhiên, việc vận dụng những quy định này vào thực tiễn cũng gặp nhiều khó khăn. Vì vậy, thông qua đề tài tiểu luận này, em xin làm rõ hơn quy định của pháp luật Việt Nam về quảng cáo thương mại.
Trang 1MỤC LỤC
A Lời nói đầu 2
B Nội dung 3
I- Khái quát chung về Quảng cáo 3
1 Khái niệm 3
2 Đặc điểm của hoạt động quảng cáo thương mại: 3
3 Vai trò của quảng cáo thương mại: 5
II- Quy chế pháp lý về quảng cáo thương mại 6
1 Hoạt động quảng cáo 6
2 Quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân trong hoạt động quảng cáo 10
3 Quản lý nhà nước về quảng cáo 13
C Kết luận 18
Trang 2A Lời nói đầu
Trong nền kinh tế sản xuất hàng hóa, hoạt động trao đổi hàng hóa, dịch vụ giưa các thương nhân thông qua hoạt động mua bán là điều kiện quan trọng cho
sự tồn tại và phát triển của xã hội khi mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ trên cũng như tính chất , thời cơ của từng thương vụ, thương nhân có thể lựa chọn phương thức xúc tiến thương mại cho phù hợp
Trong lịch sử phát triển thương mại có rất nhiều phương thức xúc tiến thương mại khác nhau.Các phương thức thường gặp như Khuyến mại; Quảng cáo thương mại; Trưng bày, giới thiệu hàng hóa, dịch vụ; Hội chợ, triển lãm thương mại Nhưng trong đó, hoạt động Quảng cáo thương mại là phổ biến nhất, với đa dạng cách thức và hình thức khác nhau
Quảng cáo là hoạt động xúc tiến thương mại nhằm tuyên truyền giới thiệu hàng hóa, dịch vụ, hay hoạt động của hãng kinh doanh về hàng hóa dịch vụ đó, nhằm tạo sự hứng thú của khách hàng đối với sản phẩm Trong pháp luật việc nam có nhiều quy định về quảng cáo thông qua Luật Quảng cáo, Luật Thương mại, Tuy nhiên, việc vận dụng những quy định này vào thực tiễn cũng gặp nhiều khó khăn Vì vậy, thông qua đề tài tiểu luận này, em xin làm rõ hơn quy định của pháp luật Việt Nam về quảng cáo thương mại
Trang 3B Nội dung
I- Khái quát chung về Quảng cáo
1 Khái niệm
Khoản 1 Điều 2 Luật quảng cáo 2012 quy định: "Quảng cáo là việc sử
dụng các phương tiện nhằm giới thiệu đến công chúng sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ có mục đích sinh lợi; sản phẩm, dịch vụ không có mục đích sinh lợi; tổ chức, cá nhân kinh doanh sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ được giới thiệu, trừ tin thời sự; chính sách xã hội; thông tin cá nhân."
Điều 102 Luật thương mại 2005 cũng quy định: " Quảng cáo thương mại là
hoạt động xúc tiến thương mại của thương nhân để giới thiệu với khách hàng về hoạt động kinh doanh hàng hoá, dịch vụ của mình."
Như vậy, có thể hiểu đối tượng của hoạt động quảng cáo có thể là hoạt động kinh doanh hàng hóa, dịch vụ có khả năng mang lại lợi nhuận cho tổ chức,
cá nhân hoặc các dịch vụ, thông tin nhằm thực hiện một mục tiêu chính trị, văn hóa, xã hội nào đó Trong đó, hoạt động quảng cáo về hoạt động kinh doanh, về hàng hóa, dịch vụ có mục đích sinh lời của thương nhân, hoạt động quảng cáo cho thương nhân khác để thu phí dịch vụ chính là hoạt động quảng cáo thương mại
Nói cách khác, trong pháp luật hiện hành quảng cáo thương mại chỉ là một bộ phận của hoạt động quảng cáo nói chung
2 Đặc điểm của hoạt động quảng cáo thương mại:
Phân biệt với hoạt động quảng cáo nói chung và các hoạt động xúc tiến thương mại nói riêng, quảng cáo thương mại có các đặc điểm chính sau:
2.1 Về chủ thể
Chủ thể hoạt động quảng cáo thương mại là thương nhân Với tư cách là người kinh doanh, thương nhân thực hiện quảng cáo thương mại để hỗ trợ cho hoạt động kinh doanh của mình hoặc thực hiện dịch vụ quảng cáo cho thương nhân khác theo hợp đồng để tìm kiếm lợi nhuận Đây là đặc điểm khác biệt của quảng cáo thương mại đối với các hoạt động thông tin, cổ động do cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức xã hội… thực hiện nhằm tuyên truyền về đường lối, chủ trương, chính sách kinh tế - xã hội của Đảng và Nhà nước
Với bản chất là một hoạt động thương mại do thương nhân thực hiện, quảng cáo thương mại khác biệt với quảng cáo nói chung, mặc dù chúng đều có chung đặc điểm là một quá trình thông tin
Trang 42.2 Về tổ chức thực hiện:
Thương nhân có thể tự mình thực hiện các công việc cần thiết để quảng cáo hoặc thuê dịch vụ quảng cáo của thương nhân khác thông qua hợp đồng dịch
vụ Do quảng cáo có tác động rất lớn đến hoạt động bán hàng, cung ứng dịch vụ nên thương nhân sử dụng quảng cáo để khuếch trương hàng hóa dịch vụ của mình tặng cường cơ hội thương mại và tăng cường lợi nhuận
Trong nến kinh tế thị trường, dịch vụ quảng cáo được pháp luật thừa nhận là một loại dịch vụ thương mại mà thông qua phí dịch vụ, thương nhân thu được lợi nhuận một cách trực tiếp Trong trường hợp tự mình quảng cáo không đạt được hiệu quả mong muốn, thương nhân có quyền thuê thương nhân kahcs thực hiện quảng cáo cho mình và phải chịu chi phí dịch vụ vì việc đó
2.3 Về cách thức xúc tiến thương mại:
Trong hoạt động quảng cáo thương mại, thương nhân sử dụng sản phẩm
và phương tiện quảng cáo thương mại để thông tin về hàng hóa dịch vụ đến khách hàng Những thông tin bằng hình ảnh, tiếng nói, chữ viết về hàng hóa dịch vụ cần giới thiệu… được truyền tải đến công chúng thông qua các phương tiện truyền thanh, truyền hình, ấn phẩm Đặc điểm này là đặc điểm riêng biệt của quảng cáo thương mại với hình thức xúc tiến thương mại cũng có mục đích giới thiệu hàng hóa, dịch vụ như trưng bày, hội trợ triển lãm
2.4 Về mục đích trực tiếp của quảng cáo thương mại:
Mục đích trực tiếp của quảng cáo thương mại là giới thiệu về hàng hóa, dịch vụ để xúc tiến thương mại, đáp ứng nhu cầu cạnh tranh và mục tiêu lợi nhuận của thương nhân Thông qua các hình thức truyền đạt thông tin, thương nhân giới thiệu về một loại hàng hóa, dịch vụ mới, tính ưu việt về chất lượng, giá cả, khả năng đáp ứng nhu cầu sử dụng… Như vậy, thương nhân có thể tạo sự nhận biết và kiến thức về hàng hóa, dịch vụ, có thể thu hút khách hàng đang sử dụng hàng hóa, dịch vụ của công ty khác thông qua việc nhấn mạnh đặc điểm và lợi ích của một nhãn hiệu cụ thể hoặc thông qua việc so sánh tính ưu việt của sản phẩm với các sản phẩm cùng loại Có thể nói đây là những lợi thế mà thương nhân có thể khai thác vì nó có ý nghĩa rất lớn trong việc định hướng nhu cầu tiêu dùng xã hội bao gồm nhu cầu tiêu dùng cá nhân và sản xuất
Các đặc điểm trên đây là cơ sở để phân biệt quảng cáo thương mại với các hoạt động không phải quảng cáo thương mại như: Hoạt động thông tin truyên truyền, cổ động mang tính chính trị, xã hội do cơ quan nhà nước, tổ chức chính
Trang 5trị, tổ chức xã hội thực hieenk, hoạt động thông tin của các tổ chức cá nhân không nhằm mục đích kinh doanh
3 Vai trò của quảng cáo thương mại:
Trải qua quá trình hình thành và phát triển lâu dài, quảng cáo thương mại ngày càng giữ vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế xã hội:
3.1 Đối với thương nhân :
Quảng cáo thương mại là một công cụ hữu hiệu để xúc tiến thương mại Đối với sản phẩm mới xuất hiện hoặc sắp tung ra thị trường thì giúp giới thiệu thông tin đến người tiêu dùng gây được chú ý của họ, tìm kiếm cơ hội thi lợi nhuận Đối với các sản phẩm đã có mặt và quen thuộc thì duy trì sự tín nhiệm, lòng trung thành của người tiêu dùng đối với sản phẩm, húc đẩy việc bán sản phẩm để chiếm lĩnh thị trường, thu lợi nhuận, tăng doanh số bán hàng
3.2 Đối với người tiêu dùng:
Vai trò đầu tiên mà quảng cáo thương mại mang lại đó là thông tin về hàng hóa, sản phẩm dịch vụ đồng thời mang tới cho họ sự lựa chọn và quyết định mua hay sử dụng sản phẩm hàng hóa dịch vụ đó Tùy từng lứa tuổi, sở thích, giới tính, nhu cầu khách hàng có thể dễ dàng tìm thấy cho mình loại mặt hàng phù hợp nhất
3.3 Đối với nền kinh tế:
Đặc biệt trong giai đoạn cạnh tranh thương mại mạnh mẽ như hiện nay, vai trò của quảng cáo thương mại là không thể phủ định Quảng cáo thương mại
là một hình thức xúc tiến thương mại, đóng vai trò là cầu nối giữa người bán hàng và người mua, người sản xuất với người tiêu dùng Góp phần thúc đẩy lưu thông, tiêu thụ hàng hóa dịch vụ trên thị trường, gián tiếp thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh, nâng cao tính cạnh tranh và tạo động lực phát triển mạnh
mẽ cho nền kinh tế, góp phần không nhỏ vào sự phát triển của nền kinh tế thị trường của quốc gia đặc biệt đối với các quốc gia đang phát triển như Việt Nam
Trang 6II- Quy chế pháp lý về quảng cáo thương mại
1 Hoạt động quảng cáo
1.1 Thẩm quyền quảng cáo
Theo quy định tại Điều 103 Luật thương mại Việt Nam 2014 thì nhà nước công nhận và cho phép các tổ chức cá nhan sau có quyền thực hiện hoạt động quảng cáo trên lãnh thổ Việt Nam:
Đối với thương nhân Việt Nam, Chi nhánh của thương nhân Việt Nam, Chi nhánh của thương nhân nước ngoài được phép hoạt động thương mại tại Việt Nam có quyền quảng cáo về hoạt động kinh doanh hàng hóa dịch vụ của mình hoặc có thể thuê thương nhân kinh doanh dịch vụ quảng cáo thực hiện việc quảng cáo thương mại cho mình
Đối với văn phòng đại diện của thương nhân thì không được trực tiếp thực hiện hoạt động quảng cáo thương mại mà trong trường hợp được thương nhân
ủy quyền, Văn phòng đại diện có quyền ký hợp đồng với thương nhân kinh doanh dịch vụ quảng cáo thương mại để thực hiện quảng cáo cho thương nhân
mà mình đại diện chứ không thể tự mình thực hiện hoạt động quảng cáo
Đối với thương nhân nước ngoài khi muốn quảng cáo thương mại về hoạt động kinh doanh hàng hoá, dịch vụ của mình tại Việt Nam thì phải thuê thương nhân kinh doanh dịch vụ quảng cáo thương mại Việt Nam thực hiện
1.2 Sản phẩm quảng cáo và điều kiện quảng cáo
Theo quy định tại điều 105 Luật thương mại 2014 thì sản phẩm quảng cáo thương mại gồm những thông tin bằng hình ảnh, hành động, âm thanh, tiếng nói, chữ viết, biểu tượng, màu sắc, ánh sáng chứa đựng nội dung quảng cáo thương mại
Trang 7Về điều kiện quảng cáo, theo quy định tại điều 20 luật quảng cáo năm 2012 thì để hoạt động quảng cáo cần có các điều kiện sau:
- Quảng cáo về hoạt động kinh doanh hàng hoá, dịch vụ phải có giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh
- Quảng cáo cho các loại sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ phải có các tài liệu chứng minh về sự hợp chuẩn, hợp quy của sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ theo quy định của pháp luật
- Quảng cáo tài sản mà pháp luật quy định tài sản đó phải có giấy chứng nhận quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng thì phải có giấy chứng nhận quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng tài sản
- Quảng cáo cho sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ đặc biệt phải đảm bảo các điều kiện sau đây:
+ Quảng cáo thuốc được phép quảng cáo theo quy định của pháp luật về y tế; phải có giấy phép lưu hành tại Việt Nam đang còn hiệu lực và tờ hướng dẫn sử dụng do Bộ Y tế phê duyệt;
+ Quảng cáo mỹ phẩm phải có phiếu công bố sản phẩm mỹ phẩm theo quy định của pháp luật về y tế;
+ Quảng cáo hóa chất, chế phẩm diệt côn trùng, diệt khuẩn dùng trong lĩnh vực gia dụng và y tếphải có giấy chứng nhận đăng ký lưu hành do Bộ
Y tế cấp;
+ Quảng cáo sữa và sản phẩm dinh dưỡng dùng cho trẻ nhỏ không thuộc quy định tại khoản 4 Điều 7 của Luật này phải có giấy chứng nhận tiêu chuẩn, giấy chứng nhận vệ sinh an toàn thực phẩm đối với sản phẩm dinh dưỡng sản xuất trong nước; đối với sản phẩm dinh dưỡng nhập khẩu thì phải có giấy chứng nhận chất lượng sản phẩm của cơ quan có thẩm quyền của nước sản xuất và giấy phép lưu hành;
+ Quảng cáo thực phẩm, phụ gia thực phẩm phải có giấy chứng nhận đăng ký chất lượng vệ sinh an toàn đối với thực phẩm, phụ gia thực phẩm thuộc danh mục phải đăng ký chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm hoặc
Trang 8giấy tiếp nhận hồ sơ công bố tiêu chuẩn của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với thực phẩm, phụ gia thực phẩm thuộc danh mục phải công
bố tiêu chuẩn;
+ Quảng cáo dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh phải có giấy chứng nhận đủ tiêu chuẩn hành nghề do ngành y tế cấp theo quy định của pháp luật; + Quảng cáo trang thiết bị y tế phải có giấy phép lưu hành đối với thiết bị
y tế sản xuất trong nước hoặc giấy phép nhập khẩu đối với thiết bị y tế nhập khẩu;
+ Quảng cáo thuốc bảo vệ thực vật, nguyên liệu thuốc bảo vệ thực vật, vật
tư bảo vệ thực vậtphải có giấy chứng nhận đăng ký thuốc bảo vệ thực vật Quảng cáo sinh vật có ích dùng trong bảo vệ thực vật phải có giấy phép kiểm dịch thực vật do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cấp;
+ Quảng cáo thuốc thú y, vật tư thú y phải có giấy phép lưu hành sản phẩm và bản tóm tắt đặc tính của sản phẩm;
+ Quảng cáo phân bón, chế phẩm sinh học phục vụ trồng trọt, thức ăn chăn nuôi, chế phẩm sinh học phục vụ chăn nuôi phải có giấy chứng nhận chất lượng sản phẩm hoặc văn bản tự công bố chất lượng sản phẩm
- Chính phủ quy định điều kiện quảng cáo đối với sản phẩm, hàng hóa, dịch
vụ đặc biệt khác khi có phát sinh trên thực tế “ Cụ thể được quy định trong Nghị định 181/2013NĐ/CP Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Quảng cáo”
1.3 Nội dung quảng cáo
Về tiếng nói, chữ viết trong quảng cáo pháp luật quy định trong các sản
phẩm quảng cáo phải có nội dung thể hiện bằng tiếng Việt, trừ hai trường hợp sau:
- Nhãn hiệu hàng hoá, khẩu hiệu, thương hiệu, tên riêng bằng tiếng nước ngoài hoặc các từ ngữ đã được quốc tế hoá không thể thay thế bằng tiếng Việt;
Trang 9- Sách, báo, trang thông tin điện tử và các ấn phẩm được phép xuất bản bằng tiếng dân tộc thiểu số Việt Nam, tiếng nước ngoài; chương trình phát thanh, truyền hình bằng tiếng dân tộc thiểu số Việt Nam, tiếng nước ngoài
Trong trường hợp sử dụng cả tiếng Việt, tiếng nước ngoài trên cùng một sản phẩm quảng cáo thì khổ chữ nước ngoài không được quá ba phần tư khổ chữ tiếng Việt và phải đặt bên dưới chữ tiếng Việt; khi phát trên đài phát thanh, truyền hình hoặc trên các phương tiện nghe nhìn, phải đọc tiếng Việt trước tiếng nước ngoài
Về nội dung quảng cáo yêu cầu phải bảo đảm trung thực, chính xác, rõ
ràng, không gây thiệt hại cho người sản xuất, kinh doanh và người tiếp nhận quảng cáo
Như vậy pháp luật đã quy định chi tiết cụ thể về nội dung của các quảng cáo để tránh trường hợp quảng cáo sai sự thật đánh lừa người tiêu dùng, cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động thương mại
1.4 Phương tiện quảng cáo
Theo quan điểm cá nhân thì phương tiện quảng cáo là những phương thức cách thức mà các chủ thể quảng cáo sử dụng để quảng cao hàng hóa dịch vụ của mình
Hiện nay pháp luật Việt Nam thừa nhận và cho phép sử dụng các phương tiện quảng cáo sau:Báo chí, trang thông tin điện tử, thiết bị điện tử, thiết bị đầu cuối và các thiết bị viễn thông khác, các sản phẩm in, bản ghi âm, ghi hình và các thiết bị công nghệ khác, bảng quảng cáo, băng-rôn, biển hiệu, hộp đèn, màn hình chuyên quảng cáo, phương tiện giao thông hội chợ, hội thảo, hội nghị, tổ chức sự kiện, triển lãm, chương trình văn hoá, thể thao, người chuyển tải sản phẩm quảng cáo; vật thể quảng cáo
Trang 10Như vậy các phương tiện được pháp luật cho phép sử dựng khá đầy đủ và
đa dạng giúp các chủ thể có thể lựa chọn hình thức quảng cáo phù hợp với điều kiện và nhu cầu cần quảng cáo hàng hóa dịch vụ của mình
1.5 Quảng cáo có yếu tố nước ngoài
Quảng cáo có yếu tố nước ngoài xuất hiện trong các trường hợp sau:
Thứ nhất, khi tổ chức, cá nhân nước ngoài hoạt động tại Việt Nam quảng
cáo về sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ và hoạt động của mình tại Việt Nam thì áp dụng như cá nhân, tổ chức trong nước
Thứ hai, khi tổ chức, cá nhân nước ngoài không hoạt động tại Việt Nam
có nhu cầu quảng cáo về sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ và hoạt động của mình tại Việt Nam phải thuê người kinh doanh dịch vụ quảng cáo của Việt Nam thực hiện
Thứ ba, khi cá nhân, tổ chức nước ngoài hợp tác đầu tư với tổ chức cá
nhân trong nước thì áp dụng theo quy định của luật đầu tư
Thứ tư, văn phòng đại diện của doanh nghiệp quảng cáo nước ngoài tại
Việt Nam pháp luật việt nam chỉ cho phép chủ thể này thực hiện hoạt động xúc tiến quảng cáo không được kinh doanh quảng cáo
2 Quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân trong hoạt động quảng cáo 2.1 Người quảng cáo
Người quảng cáo là tổ chức, cá nhân có yêu cầu quảng cáo sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ của mình hoặc bản thân tổ chức, cá nhân đó
Khi thực hiện hoạt động quảng cáo người quảng cáo có quyền quảng cáo
về tổ chức, cá nhân, sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ của mình; quyết định hình thức và phương thức quảng cáo; được cơ quan có thẩm quyền về quảng cáo của địa phương thông tin về quy hoạch quảng cáo ngoài trời đã phê duyệt; yêu cầu thẩm định sản phẩm quảng cáo