1. Trang chủ
  2. » Kinh Doanh - Tiếp Thị

Pháp luật về khoảng không vũ trụ - tiếp cận từ góc độ luật học so sánh

15 224 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 282,78 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nguyễn Bá Diến Năm bảo vệ: 2009 Abstract: Tìm hiểu những nội dung cơ bản của pháp luật quốc tế về vấn đề sử dụng khoảng không vũ trụ vì mục đích hòa bình, tình hình ký kết, thực hiện

Trang 1

Pháp luật về khoảng không vũ trụ - tiếp cận

từ góc độ luật học so sánh

Hoàng Trung Kiên

Khoa Luật Luận văn Thạc sĩ ngành: Luật Quốc tế; Mã số: 60 38 60

Người hướng dẫn: PGS.TS Nguyễn Bá Diến

Năm bảo vệ: 2009

Abstract: Tìm hiểu những nội dung cơ bản của pháp luật quốc tế về vấn đề sử

dụng khoảng không vũ trụ vì mục đích hòa bình, tình hình ký kết, thực hiện các điều ước quốc tế về lĩnh vực này của các quốc gia trên thế giới để thấy được nguyên tắc chung, cơ bản thể hiện qua các quyền và nghĩa vụ của các quốc gia trong hoạt động liên quan đến khoảng không vũ trụ Để thực hiện so sánh những điểm tương đồng và khác biệt trong các nội dung cơ bản trong pháp luật quốc tế về khoảng không vũ trụ, tác giả tập trung nghiên cứu pháp luật về khoảng không vũ trụ của các quốc gia đại diện cho các cường quốc vũ trụ, đại diện cho các châu lục

và đặc biệt là một số nước châu Á và đặc biệt là thuộc khối ASEAN với nhiều điểm tương đồng với Việt Nam về trình độ phát triển điều kiện kinh tế, khoa học - kỹ thuật, xã hội và hoạt động nghiên cứu, ứng dụng công nghệ vũ trụ Nhằm mục đích tìm hiểu sâu hơn để hoàn thiện hệ thống các quy định của pháp luật Việt Nam về khoảng không vũ trụ, tác giả sẽ tập trung nghiên cứu tình hình ký kết, thực hiện các điều ước quốc tế có liên quan đến sử dụng khoảng không vũ trụ vì mục đích hòa bình; thực trạng các hoạt động vũ trụ ở Việt Nam và tình hình xây dựng và ban hành các quy định pháp luật của Việt Nam nhằm thực hiện các nghĩa vụ quốc tế và nhu cầu quản lý nhà nước đối với các hoạt động liên quan đến sử dụng khoảng không vũ trụ Trong Chương III này, các nội dung cơ bản mang tính chất phổ quát, phương thức thực hiện theo quy định của pháp luật quốc tế cũng như của các quốc gia khác cũng được xem xét như những bài học kinh nghiệm trong việc xây dựng

pháp luật vũ trụ của Việt Nam

Keywords: Luật Quốc tế; Luật so sánh; Không gian; Pháp luật vũ trụ

Content

MỞ ĐẦU

Sự kiện Liên Xô phóng vệ tinh nhân tạo của Trái đất mang tên Sputnik vào khoảng không vũ trụ ngày 04 tháng 10 năm 1957 đã tạo nên một điểm mốc quan trọng đánh dấu một bước tiến trong tiến trình chinh phục khoảng không vũ trụ, mở ra một kỷ nguyên đối

Trang 2

với các hoạt động của loài người đối với việc sử dụng khoảng không vũ trụ với nhiều ứng dụng khoa học hết sức to lớn phục vụ cuộc sống của con người

Trong những năm qua, ngoài việc ứng dụng triển khai các hoạt động vũ trụ ở nước

ta, Việt Nam cũng đã sớm tham gia một số Điều ước quốc tế liên quan đến hoạt động sử dụng khoảng không vũ trụ, do vậy nhu cầu về xây dựng một khung pháp lý về các hoạt động vũ trụ của Việt Nam là việc làm cần thiết cần thiết nhằm đáp ứng các nghĩa vụ của mình

Nghiên cứu pháp luật quốc tế, pháp luật nước ngoài về lĩnh vực này dưới góc độ của luật học so sánh nhằm hiểu rõ hơn về nội dung thực chất của các quy định pháp luật này khi tìm ra các điểm tương đồng và khác biệt, đồng thời đưa ra các nhận xét, kiến nghị nhằm từng bước hoàn thiện hệ thống pháp luật của Việt Nam nhằm thuân thủ các điều ước quốc tế đã ký kết và giải quyết nhu cầu về quản lý, điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong hoạt động sử dụng khoảng không vũ trụ của Việt Nam

CHƯƠNG 1

PHÁP LUẬT QUỐC TẾ VỀ KHOẢNG KHÔNG VŨ TRỤ

Các Điều ước quốc tế và pháp luật quốc gia về khoảng không vũ trụ hầu hết đều đề cập đến các nguyên tắc, nghĩa vụ cơ bản được quy định trong 5 Điều ước quốc tế của Liên hiệp quốc về khoảng không vũ trụ, do vậy việc tìm hiểu các nội dung của 5 Điều ước quốc

tế này là việc làm không thể thiếu khi nghiên cứu pháp luật quốc tế về khoảng không vũ trụ

1.1 Hiệp ước quốc tế về những nguyên tắc điều chỉnh hoạt động của các quốc gia trong lĩnh vực thăm dò và sử dụng khoảng không vũ trụ bao gồm Mặt trăng và các thiên thể khác (Hiệp ước về khoảng không vũ trụ 1967)

Hiệp ước về khoảng không vũ trụ 1967 được thông qua bằng Nghị quyết 2222 (XXI) của Đại Hội đồng Liên hợp quốc năm 1966 với nhiều nội dung của Tuyên bố về những nguyên tắc pháp luật điều chỉnh hoạt động của các quốc gia trong lĩnh vực thăm dò

và sử dụng khoảng không vũ trụ được Đại hội đồng thông qua bằng Nghị quyết số 1962 (XVIII) năm 1963 nhưng có bổ sung một số quy định mới Hiệp ước này được đông đảo cộng đồng quốc tế xem như là một nền tảng vững chắc cho tiến trình hình thành và phát triển của pháp luật về khoảng không vũ trụ và là một Điều ước quốc tế quan trọng đối với hoạt động xây dựng hệ thống pháp luật quốc tế đương đại thể

Hiệp ước này tuy đề cập đến một khái niệm “khoảng không vũ trụ” nhưng không đưa ra được một định nghĩa rõ ràng về nó, thay vào đó là tiếp cận theo chức năng đó là về tính mục đích và định hướng của hoạt động liên quan đến khoảng không vũ trụ bằng cụm

từ "việc thăm dò và sử dụng khoảng không vũ trụ bao gồm cả mặt trăng và các thiên thể khác phải được thực hiện vì mục đích hoà bình và vì lợi ích của tất cả các quốc gia, không phân biệt trình độ kinh tế và khoa học và là công việc chung của toàn nhân loại"

Điều I của Hiệp ước tuyên bố hai quyền tự do quan trọng: thứ nhất, quyền tự do khai thác và sử dụng khoảng không vũ trụ kể cả Mặt trăng và các thiên thể khác không phân biệt đối xử ở bất kỳ hình thức nào, trên cơ sở bình đẳng và theo pháp luật quốc tế; thứ hai, quyền nghiên cứu khoa học được tiến hành tự do trong khoảng không vũ trụ kể cả Mặt

Trang 3

trăng và các thiên thể khác và được các quốc gia tạo điều kiện thuận lợi và khuyến khích thông qua việc hợp tác quốc tế trong các hoạt động nghiên cứu khoa học này

Điều II tuyên bố nguyên tắc khoảng không vũ trụ kể cả Mặt trăng và các thiên thể khác "không thể bị chiếm làm của riêng của một quốc gia bằng hành vi tuyên bố chủ quyền, hành vi chiếm giữ, sử dụng hay bất kỳ hành vi nào khác Nguyên tắc này đủ rộng

để không chỉ bao trùm toàn bộ khoảng không vũ trụ mà còn đề cập đến cả các thành phần của nó – các thiên thể tồn tại trong khoảng không vũ trụ Điểm hạn chế của các nội dung tại Điều II cũng như trong toàn bộ nội dung của Hiệp ước là sự im lặng về vấn đề xác định ranh giới của khoảng không vũ trụ với vùng trời thuộc chủ quyền quốc gia đặt trong sự liên

hệ về nguyên tắc pháp lý chống lại việc chiếm giữ bằng bất kỳ hình thức nào, hay như các hình thức vi phạm trật tự pháp luật quốc tế trong vùng này

Trong nội dung của Điều III quy định tính chất bắt buộc của tính hợp pháp quốc tế của các hoạt động thăm dò, khai thác khoảng không vũ trụ được quy định trực tiếp, rõ ràng

là các hoạt động này phải được thực hiện "theo quy định của pháp luật quốc tế, kể cả Hiến Chương Liên hợp quốc" và khẳng định sự cần thiết giữ gìn yếu tố hoà bình trong các hoạt động này được nhấn mạnh "nhằm duy trì hoà bình và an ninh quốc tế, tăng cường sự hợp tác và hiểu biết quốc tế" Ngoài ra Điều này còn ghi nhận nguyên tắc chung "duy trì khoảng không vũ trụ vì mục đích hoà bình", và được củng cố thêm khi kết hợp với một số các biện pháp cụ thể về phi quân sự hoá khoảng không vũ trụ được quy định trong Điều

IV

Các nguyên tắc khác của Hiệp ước mang ý nghĩa quan trọng cho đặc trưng của khung khổ pháp luật về khoảng không vũ trụ, bao gồm: trợ giúp nhà du hành vũ trụ - được coi như là "sứ giả của loài người trong khoảng không vũ trụ" đối với trường hợp tai nạn, khẩn nguy hoặc hạ cánh khẩn cấp (Điều V); nghĩa vụ quốc tế đối với hoạt động của quốc gia trong khoảng không vũ trụ không kể là các hoạt động đó được các cơ quan nhà nước hoặc các thực thể phi chính phủ thực hiện bảo đảm việc tuân thủ với Hiệp ước (Điều VI khoản 1); trách nhiệm quốc tế về bồi thường thiệt hại do các hoạt động của quốc gia thành viên của Hiệp ước gây ra cho thể nhân, pháp nhân của các quốc gia khác hoặc của chính mình (Điều VI khoản 2); đăng ký vật thể vũ trụ và quyền tài phán, kiểm soát đối với các vật thể đó dựa trên đăng ký (Điều VII, Điều VIII); hợp tác và trợ giúp đa phương trong thăm dò, khai thác khoảng không vũ trụ với vai trò đặc biệt của Liên hợp quốc, Tổng thư

ký Liên hợp quốc đối với việc phát triển hợp tác quốc tế trong lĩnh vực này (Điều IX, Điều XX)

1.2 Hiệp ước về cứu hộ nhà du hành vũ trụ, trao trả nhà du hành vũ trụ và các vật thể được phóng vào vũ trụ (Hiệp ước về cứu hộ 1968)

Hiệp ước về Cứu hộ nhà du hành vũ trụ, trao trả nhà du hành vũ trụ và các vật thể được phóng vào khoảng không vũ trụ được thông qua bởi Nghị quyết 2345 (XXII) của Đại Hội đồng Liên hợp quốc 18/12/1967

Cấu trúc của Hiệp ước này có mối quan hệ đơn giản và được thiết kế có thể chia làm hai nhóm vấn đề

Nhóm các quy định đầu tiên được đưa vào 4 điều giải quyết các vấn đề liên quan đến việc hỗ trợ và trao trả các nhà du hành vũ trụ Cũng giống như các ngành luật khác như hàng không hay hàng hải quốc tế, các quy định về mục đích của hoạt động tiềm kiếm, cứu hộ đều xuất phát từ các quan điểm về nhân đạo thể hiện qua Điều I quy định việc thông báo về vụ tai nạn, sau đó Hiệp ước đi thẳng vào vấn đề cứu hộ và trợ giúp các nhân viên của tàu vũ trụ hạ

Trang 4

cánh trên lãnh thổ của quốc gia thành viên quy định tại Điều II cũng như hạ xuống vùng biển quốc tế nêu tại Điều III; việc trao trả một cách an toàn, nhanh chóng các nhân viên phi hành đoàn vô điều kiện được quy định trong Điều IV

Nhóm các quy định thứ hai, tập trung vào 5 khoản của Điều V, liên quan đến việc tìm kiếm và trao trả các vật thể vũ trụ Vấn đề này dựa trên một số cách tiếp cận khác với các quy định trước đó, do xuất phát từ quyền sở hữu của vật thể được phóng vào khoảng không vũ trụ và đòi hỏi đền bù đối với dịch vụ tìm kiếm và trao trả

Điều VI có ý nghĩa đặc biệt trong việc giải thích thuật ngữ "cơ quan phóng hành", quy định này cũng giải quyết vấn đề xác định địa vị pháp lý của các tổ chức quốc tế liên chính phủ theo phạm vi điều chỉnh của Hiệp ước này

Điều I đến Điều IV giải quyết các vấn đề về nhân viên phi hành đoàn, tình huống có thể xảy ra trong vấn đề cứu hộ và trợ giúp đối với nhân viên phi hành đoàn là không tách rời với hoạt động tìm kiếm và thu hồi tàu vũ trụ Trong trường hợp như vậy, lý do nhân đạo sẽ chiếm ưu thế và việc hoàn thành các hoạt động này cần phải được điều chỉnh bởi các quy định liên quan đến việc trợ giúp và cứu hộ các nhà du hành vũ trụ

Giống như việc trợ giúp các nhân viên phi hành đoàn của tàu vũ trụ hạ cánh thuộc lãnh thổ thuộc quyền tài phán của quốc gia thành viên, theo quy định tại Điều II, cơ quan phóng hành phải có nghĩa vụ với quốc gia có lãnh thổ mà tàu vũ trụ hạ cánh Nguyên tắc chung về sự tôn trọng yếu tố chủ quyền quốc gia được thể hiện qua cấu trúc của các quy định này như sau: Thứ nhất, nghĩa vụ của quốc gia có lãnh thổ tàu vũ trụ hạ cánh phải thực hiện mọi công việc có thể nhằm mục đích cứu hộ; thứ hai, trách nhiệm về thông báo sự việc của cơ quan phóng hành; thứ ba, nghĩa vụ của cơ quan phóng hành trong việc hợp tác

và đặc biệt nêu rõ trong đoạn cuối của Điều II "Các hoạt động phải được đặt dưới sự kiểm soát và chỉ đạo của quốc gia có lãnh thổ nơi tàu vũ trụ hạ cánh và hoạt động dưới sự tư vấn chặt chẽ và liên tục của cơ quan phóng hành" cho thấy ưu thế của của quốc gia của lãnh thổ quốc gia nơi tàu vũ trụ hạ cánh

Khoản cuối cùng của Điều V giải quyết vấn đề về chi phí phát sinh trong việc đáp ứng nghĩa vụ thu hồi và trao trả vật thể vũ trụ hoặc các bộ phận thành phần sẽ do cơ quan phóng hành trang trải Không giống như việc cứu hộ nhà du hành vũ trụ, việc thu hồi và trao trả các vật thể vũ trụ qua các hoạt động nhằm mục đích dịch vụ được Hiệp ước về khoảng không vũ trụ 1967 công nhận và trong mối quan tâm chủ yếu của cơ quan phóng hành, do đó chi phí cho hoạt động này sẽ chỉ do cơ quan phóng hành chịu trách nhiệm Nghĩa vụ như vậy là cân đối và hợp lý bởi lợi ích của cơ quan phóng hành sẽ có được bằng việc thực hiện thu hồi và trao trả

Ngoài các quốc gia, các Tổ chức quốc tế liên chính phủ chịu trách nhiệm phóng hành vật thể vũ trụ có thể là người thụ hưởng các quyền và người nhận các nghĩa vụ phát sinh từ Hiệp ước này nếu Tổ chức quốc tế đưa ra lời tuyên bố chấp nhận các quyền và nghĩa vụ quy định trong Hiệp ước

1.3 Công ước về trách nhiệm quốc tế về bồi thường thiệt hại do các vật thể vũ trụ gây

ra (Công ước về trách nhiệm bồi thường thiệt hại 1972)

Công ước về trách nhiệm bồi thường thiệt hại 1972 được sự nhất trí thông qua bằng Nghị quyết 2777 (XXVI) của Đại hội đồng Liên hợp quốc năm 1971, có hiệu lực tháng 9 năm 1972 Công ước đã cụ thể hoá nội dung Điều VII Hiệp ước về khoảng không vũ trụ

1967 với nội dung chính là ràng buộc cho quốc gia phóng hành trách nhiệm bồi thường

Trang 5

thiệt hại một cách tuyệt đối hay hạn chế đối với thiệt hại do các vật thể vũ trụ gây ra cho nạn nhân trên bề mặt Trái đất hoặc đối với tàu bay đang bay

Trước hết, Công ước chỉ áp dụng đối với các thiệt hại do vật thể vũ trụ gây ra như định nghĩa tại Điều I bao gồm "chết, bị thương hoặc thương tật vĩnh viễn; tài sản của Nhà nước hoặc của cá nhân, pháp nhân hoặc của các tổ chức quốc tế bị phá huỷ hoặc bị hư hại", như vậy theo định nghĩa này sẽ không áp dụng đối với các thiệt hại về môi trường vũ trụ hay ngay cả đối với môi trường của Trái đất Công ước này áp dụng đối với các vật thể vũ trụ bao gồm cả các thành phần cấu thành vật thể vũ trụ cũng như các thiết bị phóng và các phần của nó và cách giải thích theo xu hướng này thì các mảnh vỡ trong vũ trụ cũng được coi là vật thể vũ trụ

Mục đích và cơ sở lý luận của định nghĩa này khi đưa ra 4 khả năng để xác định có thể là quốc gia phóng hành chính là nhằm bảo vệ lợi ích của nạn nhân trong việc tìm một quốc gia có trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp có thiệt hại

Công ước bồi thường thiệt hại đưa ra khái niệm về quốc gia phóng hành như được định nghĩa tại Điều I như sau: quốc gia phóng hoặc được quốc gia khác thực hiện cho việc phóng một vật thể vũ trụ; hoặc quốc gia có lãnh thổ hoặc thiết bị phóng vật thể vũ trụ Công ước phân chia hai loại trách nhiệm: trách nhiệm tuyệt đối và trách nhiệm do lỗi Theo Điều II, quốc gia phóng hành có trách nhiệm tuyệt đối trong việc bồi thường đối với các thiệt hại do các vật thể vũ trụ gây ra trên mặt đất hay với tàu bay đang bay Vì vậy, trách nhiệm đối với nạn nhân trên mặt đất là khách quan, không cần phải chứng minh yếu

tố lỗi Trách nhiệm này không giới hạn về số tiền cũng như không thời hiệu.Trách nhiệm này là tuyệt đối Chỉ có "vi phạm trắng trợn" hoặc "hành động hoặc không hành động được thực hiện nhằm mục đích phá hoại "có thể không phải chịu trách nhiệm, tuy nhiên không

có bất kỳ việc miễn trách nhiệm nào trong trường hợp thiệt hại là kết quả của hành vi bất hợp pháp do quốc gia phóng hành thực hiện theo luật quốc tế đặc biệt là Hiến Chương Liên hợp quốc và Hiệp ước về khoảng không vũ trụ 1967 Trách nhiệm của quốc gia phóng hành áp dụng cho toàn bộ hoạt động từ khi phóng tên lửa đẩy, trong khi tiến vào quỹ đạo, tới khi vật thể vũ trụ hoạt động trên quỹ đạo, quay quanh quỹ đạo và đến khi ra khỏi quỹ đạo

Như trên đã đề cập, khi có hơn một quốc gia phóng hành (Điều V) hoặc khi có hai vật thể vũ trụ liên quan (Điều IV) các quốc gia phóng hành đều đồng trách nhiệm và riêng biệt Theo cách này nghĩa là quốc gia có người bị thiệt hại có thể yêu cầu toàn bộ khoản bồi thường từ bất kỳ quốc gia phóng hành nào Sau đó, các quốc gia phóng hành sẽ chia sẻ chi phí bồi thường theo Điều IV hoặc Điều V

Công ước này không áp dụng đối với các thiệt hại gây ra cho công dân của quốc gia phóng hành tham gia vào quá trình phóng vật thể vũ trụ (Điều VII) Nó cũng không áp dụng đối với công dân nước ngoài tham gia vào hoạt động phóng hành Sự loại trừ này xác nhận rằng Công ước chỉ đặc biệt quan tâm đến việc bảo vệ những nạn nhân "vô tội", những người không liên quan gì đến hoạt động nguy hiểm này

Một nội dung quan trọng khác của Công ước là giải quyết về thủ tục đòi bồi thường Điều III khoản 1 quy định cho quốc gia chịu thiệt hại hoặc quốc gia có thể nhân hoặc pháp nhân chịu thiệt hại khả năng đưa ra yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại với quốc gia có trách nhiệm Vì thế, Công ước thiết lập quyền được xem xét của các quốc gia liên quan, và vì lý

do đó các thể nhân, pháp nhân chịu thiệt hại không có quyền mặc nhiên để lấy cớ yêu cầu quốc gia mình phải đòi trách nhiệm bồi thường quốc tế đối với quốc gia phóng hành Tuy nhiên vì quyền lợi của người bị thiệt hại, quốc gia mà người đó mang quốc tịch không đưa

ra yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại thì quốc gia khác có lãnh thổ mà trên đó thiệt hại được

Trang 6

gây ra đối với cá nhân hoặc pháp nhân có thể yêu cầu quốc gia phóng hành bồi thường thiệt hại hoặc trong trường hợp quốc gia mà người thiệt hại mang quốc tịch hoặc quốc gia

có lãnh thổ nơi xảy ra thiệt hại đều không yêu cầu đòi bồi thường thì quốc gia nơi có địa chỉ thường trú của người bị thiệt hại có quyền yêu cầu quốc gia phóng hành bồi thường thiệt hại

Điều IX quy định yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại phải được đưa ra đối với quốc gia phóng hành qua kênh ngoại giao Trong trường hợp quốc gia này không duy trì quan hệ ngoại giao đối với quốc gia phóng hành liên quan, quốc gia đó có thể yêu cầu quốc gia khác đại diện cho lợi ích của mình theo Công ước yêu cầu quốc gia phóng hành bồi thường Quốc gia này cũng có thể yêu cầu bồi thường qua Tổng thư ký Liên hợp quốc, miễn rằng hai quốc gia này đều là thành viên Liên hợp quốc

1.4 Công ước về Đăng ký các vật thể được phóng vào khoảng không vũ trụ (Công ước về đăng ký 1975)

Công ước Đăng ký vật thể được phóng vào khoảng không vũ trụ bao gồm 12 Điều, được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua trong Nghị quyết số 3235 (XXIX) ngày 12/11/1974 Điều III Hiệp ước về khoảng không vũ trụ 1967 quy định "Các quốc gia thành viên Hiệp ước mà có vật thể vũ trụ được đăng ký sẽ giữ quyền tài phán và kiểm soát đối với vật thể vũ trụ và bất kỳ người nào trên đó trong thời gian trong khoảng không vũ trụ

và trên thiên thể" Trong ý này, nó bao hàm ba nguyên tắc quan trọng về vấn đề đăng ký: thứ nhất, tất cả các vật thể vũ trụ phải được đăng ký theo quy định của quốc gia; thứ hai, các vật thể này được đặt dưới quyền tài phán và kiểm soát của quốc gia đăng ký; thứ ba, những vật thể vũ trụ bị bị thất lạc phải được trao trả cho quốc gia đăng ký Tuy nhiên, trong khi Hiệp ước về khoảng không vũ trụ 1967 cho rằng vật thể vũ trụ phải được đăng ký nhưng lại không có quy định nào cụ thể về vấn đề đăng ký và nó cũng không đề cập đến quốc gia nào thực hiện quyền tài phán và kiểm soát đối với vật thể vũ trụ không được đăng

Do đó, Công ước đăng ký vật thể vũ trụ 1975 chỉ làm nhiệm vụ lấp khoảng trống này với các nội dung sau:

Thứ nhất, Công ước yêu cầu quốc gia phóng vật thể vũ trụ vào khoảng không vũ trụ phải cung cấp thông tin về vật thể vũ trụ cho Cơ quan đăng ký của Liên hợp quốc Mục đích cho việc nhận dạng của Công ước Đăng ký được phản ánh tại lời nói đầu của Công ước” … quan điểm tạo điều kiện cho các quốc gia trong việc nhận diện vật thể vũ trụ, " và

"tin tưởng rằng một hệ thống đăng ký bắt buộc về các vật thể vũ trụ được phóng vào khoảng không vũ trụ sẽ đặc biệt hỗ trợ việc nhận dạng chúng "

Thứ hai, các quốc gia được công ước yêu cầu duy trì cơ quan đăng ký quốc tịch của mọi vật thể vũ trụ do mình phóng vào quỹ đạo hoặc vượt ra ngoài quỹ đạo

Thứ ba, Công ước quy định quy trình để nhận biết vật thể vũ trụ gây thiệt hại cho quốc gia thứ ba hoặc thiệt hại cho thể nhân, pháp nhân của quốc gia thứ ba hoặc vật thể vũ trụ có bản chất nguy hiểm, độc hại của nó

1.5 Hiệp ước điều chỉnh các hoạt động của các quốc gia trên Mặt trăng và các thiên thể khác ( Hiệp ước Mặt trăng 1979)

Hiệp ước Mặt trăng 1979 được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua bằng Nghị quyết 34/68 năm 1979 nhằm quy định chi tiết một số nguyên tắc của Hiệp ước về khoảng

Trang 7

không vũ trụ 1967, đặc biệt liên quan đến Mặt trăng và các thiên thể khác Quy định của Hiệp ước về khoảng không vũ trụ 1967 liên quan đến tình trạng hoà bình của Mặt trăng sẽ được xác định bằng việc cấm "bất kỳ sự đe doạ hoặc sử dụng vũ lực bất kỳ hành động thù địch khác hoặc đe doạ sử dụng hành động thù địch trên Mặt trăng" Tương tự như vậy, Hiệp ước Mặt trăng cấm "sử dụng Mặt trăng để tiến hành bất kỳ hành động nào hoặc tham gia vào bất kỳ sự

đe doạ nào liên quan đến Trái đất, Mặt trăng, tàu vũ trụ, nhân viên tàu vũ trụ hoặc các vật thể

vũ trụ do con người tạo ra"

Ngoài ra, Hiệp ước Mặt trăng 1979 bao gồm một số nhân tố mới, một vài trong số đó hoàn toàn có ý nghĩa mới khi nói đến các hình thức khác về hợp tác quốc tế như vấn đề liên quan đến việc trợ giúp trong việc thăm dò Mặt trăng, thiết lập trạm có và không có người điều khiển trên Mặt trăng, bảo vệ cuộc sống và sức khoẻ người thực hiện các hoạt động vũ trụ và cuối cùng không kém phần quan trọng là bảo vệ môi trường của Mặt trăng

Các quy định gây tranh cãi nhiều nhất của Hiệp ước được thể hiện tại Điều XI mà theo

đó Mặt trăng và nguồn tài nguyên thiên nhiên trên Mặt trăng được tuyên bố như là "di sản chung của loài người" Tại khoản 5 của Điều này, các quốc gia thành viên Hiệp ước cam kết

"thiết lập một cơ chế quốc tế bao gồm các quy trình thích hợp để điều chỉnh việc khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên của Mặt trăng và công việc khai thác như vậy phải bảo đảm tính khả thi" Hơn nữa, tại khoản 7 Điều XI, mục đích chính của cơ chế quốc tế phải được thiết lập được đánh số, bao gồm "sự chia sẻ công bằng bởi các quốc gia thành viên về lợi ích có được từ nguồn tài nguyên đó vì lợi ích và nhu cầu của các nước đang phát triển cũng như nỗ lực của các quốc gia đóng góp trực tiếp hoặc gián tiếp vào công việc khai thác Mặt trăng sẽ được quan tâm đặc biệt"

CHƯƠNG 2

PHÁP LUẬT QUỐC GIA VỀ KHOẢNG KHÔNG VŨ TRỤ

Chương này chủ yếu phân tích các quy định trong hệ thống pháp luật quốc gia nhằm thực hiện các quy định chung của Liên hợp quốc thường được đề cập đến với tên gọi pháp luật quốc gia về khoảng không vũ trụ (national space law) mà chứa đựng các nhóm quy định cơ bản giải quyết trực tiếp các vấn đề mang tính nguyên tắc từ hệ quả của việc tham gia vào các hoạt động vũ trụ của các thành phần tư nhân Điều này cũng được khẳng định tại Nghị quyết 59/155 của Đại hội đồng Liện hợp quốc ngày 10/12/2004 khi khuyến nghị các quốc gia ban hành nội luật để cấp phép và giám sát các hoạt động về khoảng không vũ trụ do các chủ thể tư nhân thực hiện và các văn bản pháp luật xác định chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của một tổ chức thuộc bộ máy Chính phủ nhằm thực hiện nghĩa vụ quốc tế của quốc gia theo các điều ước quốc tế về khoảng không vũ trụ

2.1 Áchentina

Trong hệ thống pháp luật Achentina có hai văn bản pháp lý cho thấy vấn đề thực hiện trách nhiệm cấp phép và tiếp tục giám sát các hoạt động vũ trụ của các thực thể phi chính phủ là Nghị định số 995/91 ngày 03/06/1991 về việc Thành lập Ủy ban Quốc gia

về các hoạt động vũ trụ và Nghị định số 125/95 ngày 19/07/1995 về Thành lập cơ quan đăng ký quốc gia các vật thể được phóng vào khoảng không vũ trụ

Nghị định số 995/91 nhằm mục đích thiết lập cơ quan quản lý Nhà nước (CONAE) về hoạt động vũ trụ với chức năng, nhiệm vụ quản lý hành chính, kiểm tra giám sát cụ thể Qua nhiệm vụ này, các hoạt động vũ trụ cũng sẽ được xác định như là phạm vi điều chỉnh của pháp

Trang 8

luật vũ trụ Nghị định 129/95 thiết lập Cơ quan đăng ký quốc gia các vật thể phóng vào khoảng không vũ trụ, trực thuộc và dưới quyền quản lý trực tiếp của CONAE; quy định các loại thông tin bắt buộc phải được cung cấp để hoàn thiện quá trình đăng ký

2.2 Anh

Luật khoảng không vũ trụ 1986 của Anh, có hiệu lực ngày 31/07/1989 là văn bản pháp lý duy nhất đề cập đến hoạt động về khoảng không vũ trụ Luật này ban hành nhằm cơ chế cấp phép và các quyền hạn khác của Bộ trưởng Bộ ngoại giao để bảo đảm việc tuân thủ các nghĩa vụ quốc tế trong việc phóng và khai thác vật thể vũ trụ

Luật này xác định phạm vi áp dụng (phóng hành hoặc thực hiện các công việc để phóng hành vật thể vũ trụ, khai thác vật thể vũ trụ hoặc các hoạt động vũ trụ khác thực hiện tại Vương quốc Anh và bất kỳ nơi nào khác), đối tượng áp dụng của Luật (tất cả công dân của Vương quốc Anh, các công ty, pháp nhân được thành lập theo pháp luật của Vương quốc Anh) Luật về khoảng không vũ trụ Anh cấm thực hiện bất kỳ hoạt động nào điều chỉnh bởi Luật mà không được cấp phép; nguyên tắc cấp phép phải được quy định phải đáp ứng được các yêu cầu theo quy định đảm bảo sức khỏe, an toàn cho con người và tài sản và phù hợp với các nghĩa vụ quốc tế của Vương quốc Anh và không ảnh hưởng đến

an ninh quốc gia; nguyên tắc hoàn trả lại tiền cho Chính phủ Anh vì các khoản bồi thường đòi Chính phủ đối với các thiệt hại do các hoạt động vũ trụ của mình gây ra; quy định các biện pháp cưỡng chế về hành chính, hình sự đảm bảo tuân thủ các quy định của Luật

2.3 Australia

Các hoạt động vũ trụ ở Australia được điều chỉnh bởi các quy định của Luật hoạt động vũ trụ số 123 ngày 21/12/1998, được sửa đổi năm 2002

Luật này xác định đối tượng thực hiện là người thực hiện hoạt động vũ trụ trên lãnh thổ Australia cũng như các hoạt động vũ trụ do người Australia thực hiện ngoài lãnh thổ Australia; xác định cơ quan chịu trách nhiệm quản lý Nhà nước thông qua cơ chế cấp phép là

Bộ trưởng Bộ công nghiệp – Khoa học – Tài nguyên (Cơ quan an toàn và cấp phép vũ trụ); xác định cụ thể các điều kiện cho nhiều loại hoạt động vũ trụ phải được cấp phép; nguyên tắc cấp phép đáp ứng các yêu cầu đảm bảo sức khỏe và an toàn cho cộng đồng và không làm phương hại đến an ninh quốc gia cũng như các quan hệ và nghĩa vụ quốc tế của Australia; nghĩa vụ cung cấp thông tin cho các nhân viên an toàn phóng hành thực hiện nhiệm vụ thừa lệnh Bộ trưởng; vấn đề cấp phép cho việc quay trở lại trái đất của các vật thể vũ trụ vào một vùng cụ thể của Australia Luật về Hoạt động vũ trụ của Australia có các quy định rất chi tiết giải quyết về trách nhiệm bồi thường đối với thiệt hại do các vật thể vũ trụ gây ra

2.4 Hoa Kỳ

Hệ thống các văn bản pháp luật của Hoa Kỳ về các hoạt động có liên quan đến khoảng không vũ trụ rất đa dạng, bao gồm: Luật Hàng không và Vũ trụ 1958; Luật Phúc lợi y tế số 42 USC, Chương 26: Chương trình vũ trụ quốc gia; Luật phóng hành vũ trụ thương mại năm 1984 số 49 USC; Cạnh tranh thương mại vũ trụ - Chương 8 và Chính sách viễn thám - Chương 82, Luật số 15 USC; Phát minh sáng chế trong vũ trụ - Điều 105 chương 10 Luật 35 USC

Các văn bản này phân chia trách nhiệm cho các cơ quan khác nhau trong việc quản

lý các hoạt động vũ trụ: Bộ trưởng Bộ Giao thông Vận tải (Văn phòng vận tải vũ trụ - Cục Hàng không liên bang) có trách nhiệm giám sát và điều phối việc thực hiện các hoạt động

Trang 9

phóng hành và đưa vật thể vũ trụ quay trở lại Trái đất mang tính chất thương mại qua cơ chế cấp phép; Ủy ban Viễn thông Liên bang được thiết lập theo Luật Viễn thông năm 1934 cấp phép với các hoạt động khai thác máy móc cho việc truyền năng lượng hoặc liên lạc, tín hiệu bởi trạm vũ trụ hoặc mặt đất nhằm hợp tác nội địa và quốc tế về các hoạt động viễn thông vệ tinh và ngăn chặn mức độ can nhiễu; Bộ trưởng Thương mại với sự giúp việc của Cục Đại dương và khí quyển quốc gia chịu trách nhiệm cho phép hoạt động và cấp phép cho hệ thống viễn thám từ khoảng không vũ trụ của các thực thể phi Chính phủ Nguyên tắc khác cũng được đề cập như: việc cấp phép phải trên cơ sở đáp ứng các yêu cầu về an toàn cho cộng đồng về người và tài sản, an ninh quốc gia, lợi ích quan hệ quốc

tế, bảo đảm khả năng bồi hoàn cho Chính phủ trong trường hợp bồi thường thiệt hại; nguyên tắc thu hồi, đình chỉ giấy phép, xử lý vi phạm; cung cấp thông tin về vật thể vũ trụ trong cấp phép và đăng ký

2.5 Indonesia

Sắc lệnh số 24 năm 1963 được sửa đổi bằng Sắc lệnh số 99 năm 1993 về việc thành lập Ủy ban quốc gia Hàng không vũ trụ (DEPANRI) là văn bản pháp lý quan trọng ngoài Hiến pháp Indonesia đề cập tới vấn đề khoảng không vũ trụ

Chính sách vũ trụ quốc gia của Indonesia được thông qua tại kỳ họp toàn thể năm

1984 với các nội dung chủ yếu như sau: xây dựng, thành lập các hệ thống quan điểm của quốc gia để định hướng và xác lập chính sách vũ trụ và kế hoạch phát triển vũ trụ quốc gia bao gồm cả việc soạn thảo các nguyên tắc và các quy phạm pháp luật nhằm chuyển hóa nội dung trong các văn bản điều ước quốc tế liên quan đến hoạt động sử dụng khoảng không

vũ trụ vào pháp luật quốc gia trong đó đặc biệt là các Điều ước quốc tế của Liên hợp quốc

mà Indonesia là thành viên Xây dựng Luật khoảng không vũ trụ nhằm quản lý một cách đồng bộ các hoạt động vũ trụ của Indonasia hiện tại cũng như trong tương lai kể cả của các thực thể Chính phủ và phi Chính phủ

2.6 Nam Phi

Văn bản pháp lý cơ sở điều chỉnh các hoạt động liên quan đến vũ trụ của cả

tổ chức chính phủ và các thực thể phi Chính phủ là Luật về Vũ trụ số 84 ngày 02/07/1993

và Luật về vũ trụ sửa đổi số 64 ngày 06/10/1995 Luật này xác định Ủy ban về vũ trụ của Nam Phi trực thuộc Bộ thương mại và công nghiệp có trách nhiệm thực hiện Chính sách

vũ trụ của Nam Phi bao hàm cả chức năng quản lý Nhà nước như: cấp giấy phép, quy định các điều kiện bổ sung trong giấy phép, thu hồi đình chỉ và yêu cầu người được cấp phép báo cáo thông tin liên quan đến hoạt động vũ trụ Bộ trưởng có trách quy định các hoạt động vũ trụ phải cấp phép, điều kiện cấp phép bảo đảm an toàn, an ninh quốc gia, nghĩa vụ quốc tế Luật cấm thực hiện các hoạt động vũ trụ không được cấp phép trong đó xác định phạm vi và đối tượng áp dụng của Luật theo tiêu chí quốc tịch và lãnh thổ Nam Phi nơi tiến hành các hoạt động vũ trụ; quy định các hành vi vi phạm phải bị xử lý tùy theo cấp độ; trách nhiệm mua bảo hiểm của người được cấp phép đối với các hoạt động vũ trụ của mình

2.7 Nga

LB Nga có nhiều văn bản pháp luật hoạt động vũ trụ, tuy nhiên Luật về các Hoạt động vũ trụ số 5663-1 ngày 20/08/1993 được sửa đổi bằng 147-F3 ngày 29/11/1996, Nghị định số 104 của Chính phủ Liên bang ngày 02/02/1996 về Quy chế cấp phép các hoạt động

Trang 10

vũ trụ và Nghị định số 486 của Chính phủ Liên bang ngày 15/05/1995 về Quy chế của Cơ quan vũ trụ Liên bang Nga là các văn bản pháp lý quan trọng về hoạt động vũ trụ

Pháp luật vũ trụ LB Nga xác định được đối tượng và phạm vi áp dụng bằng cách liệt kê rõ ràng cụ thể các loại hình hoạt động vũ trụ: nghiên cứu khoa học vũ trụ, sử dụng công nghệ vũ trụ và viễn thông vũ trụ; hoạt động viễn thám Trái đất từ không gian (bao gồm cả theo dõi khí hậu và môi trường); sử dụng hệ thống vệ tinh dẫn đường, quan trắc địa lý; thực hiện các nhiệm vụ có người điều khiển trong không gian; quan sát các vật thể và hiện tượng trong khoảng không vũ trụ; thử nghiệm công nghệ trong điều kiện vũ trụ; chế tạo vật liệu và sản phẩm trong vũ trụ và các loại hoạt động khác được thực hiện với sự hỗ trợ của công nghệ vũ trụ; xác định cơ quan RSA có trách nhiệm cấp phép nhiều hoạt động

vũ trụ cụ thể theo chủ thể và địa điểm thực hiện Các nguyên tắc cấp phép, điều kiện, quy trình, thủ tục cấp phép được xác định nhằm đảm bảo an toàn, an ninh quốc gia; trách nhiệm cung cấp thông tin đăng ký vật thể vũ trụ; giải quyết vấn đề trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo Điều ước quốc tế; vấn đề điều tra sự cố, tai nạn

2.8 Nhật Bản

Luật số 161 ngày 13/12/2002 về Cơ quan vũ trụ Nhật Bản (JAXA) JAXA được thành lập với tư cách là cơ quan quản lý hành chính độc lập có nhiệm vụ thúc đẩy các nghiên cứu và ứng dụng công nghệ vũ trụ, phóng, điều khiển và khai thác vệ tinh Hoạt động cấp phép, giám sát hoạt động vũ trụ của các thực thể tư không được thể hiện rõ nét Chương III của Luật quy định các hoạt động của JAXA cần phải tuân thủ các chỉ dẫn của

Bộ trưởng các Bộ liên quan Như vậy, JAXA chủ yếu thực hiện chức năng nghiên cứu và ứng dụng thuộc Chính phủ Nhật Bản hơn là nhiệm vụ quản lý Nhà nước mặc dù được xác định là cơ quan hành chính Luật này quy định việc JAXA phải thực hiện việc mua bảo hiểm trước khi thực hiện phóng hành Mức mua bảo hiểm phải được Bộ trưởng có thẩm quyền phê duyệt; giải quyết vấn đề bồi thường thiệt hại và chia sẻ trách nhiệm bồi thường thiệt hại giữa JAXA và bên thuê phóng vệ tinh theo sự phê chuẩn của Bộ trưởng

2.9 Thụy Điển

Thụy Điển có hai văn bản pháp lý điều chỉnh các hoạt động vũ trụ là Luật về Hoạt động vũ trụ số 9 (1982:963) và Nghị định về Hoạt động vũ trụ (1982:1069) bổ sung cho các quy định của Luật

Luật áp dụng cho toàn bộ các hoạt động được thực hiện hoàn toàn trong khoảng không vũ trụ cũng như hoạt động phóng vật thể vũ trụ vào khoảng không vũ trụ và mọi biện pháp điều khiển hoặc cách thức tác động đến vật thể được phóng vào khoảng không

vũ trụ Luật này loại trừ khỏi phạm vi áp dụng việc nhận tín hiệu đơn thuần hoặc thông tin

ở các hình thức nhất định từ vật thể phóng vào vũ trụ; đối tượng áp dụng là được xác định theo tiêu chí lãnh thổ Thụy Điển Luật còn xác định các nguyên tắc: hạn chế sử dụng giấy phép đảm bảo việc kiểm soát phù hợp đối với một hoạt động vũ trụ cụ thể; vấn đề thanh tra các hoạt động vũ trụ của người được cấp phép do cơ quan được Chính phủ chỉ định; đăng ký vật thể được phóng vào vũ trụ mà Thụy Điển được coi là quốc gia phóng hành; trách nhiệm bất lợi khi vi phạm các quy định pháp luật đối với người vi phạm

2.10 Ucraina

Luật về Hoạt động vũ trụ số 503/96-VR ngày 15/11/1996; Sắc lệnh số 117 ngày 29/02/1992 của Tổng thống Ucraina Cơ quan vũ trụ quốc gia Ucraina và Sắc lệnh số

Ngày đăng: 26/02/2017, 21:51

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm