1. Trang chủ
  2. » Tài Chính - Ngân Hàng

Hoạt động bảo lãnh tín dụng cho DNNVV tại quỹ ĐTPT thành phố hà nội thực trạng và giải pháp

93 411 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 93
Dung lượng 134,31 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Như vậy, Bảo lãnh tín dụng là sự cam kết của Tổ chức tín dụng bênbảo lãnh với bên có quyền bên nhận bảo lãnh về việc thực hiện nghĩa vụ tàichính thay cho khách hàng bên được bảo lãnh khi

Trang 1

MỤC LỤC

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tác giả xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu khoa họcđộc lập của tác giả Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và cónguồn gốc rõ ràng

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Nguyễn Đức Mạnh

Trang 3

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

1 CGS Các hệ thống bảo lãnh tín dụng Nhật Bản

2 CIC Trung tâm thông tin tín dụng

3 CRD Hệ thống kiểm tra rủi ro tín dụng

4 DNNVV Doanh nghiệp nhỏ và vừa

6 GDP Tổng sản phẩm quốc nội

9 JASME Tập đoàn tài chính Nhật Bản

10 KCGF Quỹ Bảo lãnh tín dụng Hàn Quốc

11 KOTECH Quỹ Bảo lãnh công nghệ Hàn Quốc

12 NHTM Ngân hàng thương mại

13 NSNN Ngân sách nhà nước

14 Quỹ BLTD Quỹ bảo lãnh tín dụng

15 Quỹ ĐTPT Quỹ đầu tư phát triển

16 SXKD Sản xuất kinh doanh

20 VDB Ngân hàng phát triển Việt Nam

Trang 4

DANH MỤC BẢNG

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Sự cần thiết của vấn đề nghiên cứu:

Trong cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam, thì doanh nghiệp nhỏ và vừa(DNNVV) là loại hình doanh nghiệp chiếm đa số và chủ yếu trong nền kinh

tế Hiện nay, số lượng DNNVV chiếm hơn 95% doanh nghiệp của cả nước.Với sự gia tăng liên tục về số lượng và hoạt động, các DNNVV được đánh giá

là một trong những động lực chính thúc đẩy nền kinh tế phát triển, đóng gópcho xã hội khối lượng hàng hóa lớn, giải quyết công ăn việc làm cho ngườilao động, tạo nguồn thu nhập ổn định cho dân cư Chính vì vậy, việc quan tâmđầu tư phát triển DNNVV có ý nghĩa đặc biệt quan trọng cả về kinh tế lẫnchính trị và xã hội

Hà Nội là thủ đô của Việt Nam, là trung tâm kinh tế chính trị của đấtnước, góp phần vào sự phát triển toàn diện của thủ đô không thể không kể đếnvai trò tích cực của các thành phần kinh tế khác nhau, trong đó có bộ phậnkhông nhỏ là các DNNVV Trong những năm qua, Hà Nội đã không ngừng

hỗ trợ cho khối doanh nghiệp này Bên cạnh những thành tựu đạt được, cònrất nhiều khó khăn trong quá trình phát triển khối DNNVV mà Hà Nội cầngiải quyết

Trong bối cảnh nền kinh tế gặp nhiều khó khăn như hiện nay, việc tiếpcận nguồn vốn tín dụng, nhất là đối với các DNNVV rất khó khăn do không

có tài sản thế chấp Thực tế, không ít doanh nghiệp đang hoạt động hiệu quả,

có dự án khả thi cần vay vốn ngân hàng để mở rộng đầu tư sản xuất kinhdoanh (SXKD) nhưng không đủ điều kiện tín chấp và tài sản thế chấp nênđành hoạt động cầm chừng, mất cơ hội phát triển Xác định tầm quan trọngcủa khối DNNVV trong nền kinh tế, căn cứ Kế hoạch phát triển DNNVV vàcác văn bản của Thủ tướng Chính phủ ban hành nhằm hỗ trợ DNNVV (Nghịđịnh số 56/2009/NĐ-CP, Quyết định số 58/2013/QĐ-TTg), Ủy ban nhân dân

Trang 6

(UBND) Thành phố Hà Nội đang tích cực xúc tiến xây dựng Quỹ Bảo lãnhtín dụng (BLTD) cho các DNNVV với mục tiêu giúp DNNVV tiếp cận nguồnvốn phục vụ SXKD, không vì mục tiêu lợi nhuận Đây được coi là một giảipháp cần thiết giúp tháo gỡ phần nào khó khăn về nguồn vốn cho doanhnghiệp, qua đó thúc đẩy phát triển Kinh tế - Xã hội của Thành phố.

Xuất phát từ thực tế trên, trong thời gian làm việc tại Quỹ ĐTPT Thànhphố Hà Nội và được tìm hiểu về những chủ chương chính sách của UBND

Thành phố Hà Nội, tôi đã chọn đề tài “Hoạt động bảo lãnh tín dụng cho DNNVV tại Quỹ ĐTPT Thành Phố Hà Nội - Thực trạng và giải pháp” làm

đề tài luận văn của mình

2 Mục tiêu nghiên cứu:

Bài nghiên cứu sẽ dựa trên cơ sở phân tích khái niệm, đặc điểm, vị trí

và vai trò của các DNNVV đối với nền kinh tế, nêu lên thực trạng phát triểncủa DNNVV trên địa bàn thành phố Hà Nội, từ đó trình bày các vấn đề khókhăn cần giải quyết

Dựa trên thực trạng nêu trên, đồng thời tham khảo và phân tích kết quảcủa hoạt động bảo lãnh tín dụng cho DNNVV tại các đơn vị khác (Ngân hàngthương mại, Quỹ Bảo lãnh tín dụng tại các tinh, thành phố khác …) để từ đó

đề xuất một số giải pháp giải quyết khó khăn, hoàn thiện Quy chế hoạt độngcho phù hợp với điều kiện và tình hình thực tế tại thành phố Hà Nội

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động bảo lãnh tín dụng cho DNNVV.Phạm vi nghiên cứu: Giới hạn nghiên cứu trong phạm vi là cácDNNVV trên địa bàn thành phố Hà Nội từ 2011 đến nay

4 Phương pháp nghiên cứu:

Bài nghiên cứu sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học để phântích lý luận và thực tiễn như: Phương pháp tư duy biện chứng, suy luận logic

Trang 7

và kết hợp sử dụng số liệu thực tế để luận giải thông qua các phương pháp sosánh, thống kê, tổng hợp, phân tích…

5 Kết cấu của luận văn:

Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm có 3 chương:

Chương 1: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về hoạt động bảo lãnh

tín dụng cho DNNVV

Chương 2: Thực trạng hoạt động bảo lãnh tín dụng cho DNNVV tại

Quỹ đầu tư phát triển Thành phố Hà Nội

Chương 3: Định hướng và giải pháp triển khai hoạt động bảo lãnh tín

dụng cho DNNVV

Trang 8

CHƯƠNG I MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ HOẠT ĐỘNG BẢO LÃNH TÍN DỤNG CHO DOANH NGHIỆP NHỎ

VÀ VỪA1.1 Doanh nghiệp nhỏ và vừa:

1.1.1 Khái niệm DNNVV:

Đối với mỗi trình độ phát triển kinh tế khác nhau lại có những quanđiểm về DNNVV là khác nhau Theo tiêu chí của Nhóm Ngân hàng Thế giới,doanh nghiệp siêu nhỏ là doanh nghiệp có số lượng lao động dưới 10 người,doanh nghiệp nhỏ có số lượng lao động từ 10 đến dưới 200 người và nguồnvốn 20 tỷ trở xuống, còn doanh nghiệp vừa có từ 200 đến 300 lao động vớinguôn vốn 20 đến 100 tỷ Ở Việt Nam, theo Điều 3, Nghị định số56/2009/NĐ-CP ngày 30/6/2009 của Chính phủ, quy định:

Quy mô

Khu vực

doanh nghiệp siêu nhỏ

doanh nghiệp nhỏ doanh nghiệp vừa

Số lao động Tổng

nguồn vốn

Số lao động

Tổng nguồn vốn

Số lao động

I Nông, lâm

nghiệp và thủy

sản

10 người trở xuống

20 tỷ đồng trở xuống

từ trên 10 người đến

200 người

từ trên 20

tỷ đồng đến 100

tỷ đồng

từ trên

200 người đến 300 người

II Công nghiệp

và xây dựng

10 người trở xuống

20 tỷ đồng trở xuống

từ trên 10 người đến

200 người

từ trên 20

tỷ đồng đến 100

tỷ đồng

từ trên

200 người đến 300 người III Thương mại

và dịch vụ

10 người trở xuống

10 tỷ đồng trở xuống

từ trên 10 người đến

50 người

từ trên 10

tỷ đồng đến 50 tỷ đồng

từ trên 50 người đến

100 người

Bảng 1.1: Phân loại DNNVV

Trang 9

Phần lớn các DNNVV hoạt động trong các lĩnh vực thương mại, dịch

vụ và SXKD nhỏ DNNVV có những đặc điểm chủ yếu sau:

Thứ nhất, DNNVV có quy mô vốn thấp, lao động ít

Đặc trưng cơ bản nhất của DNNVV là quy mô vốn SXKD nhỏ Đặctrưng này quyết định những đặc trưng khác của DNNVV Tất cả các quốc giatrên thế giiới dù phân chia DNNVV đều có đặc trưng này Đặc điểm này chothấy rõ năng suất lao động của các DNNVV thường không cao, mặt khác cácDNNVV cũng gặp rất nhiều khó khăn trong hoạt động SXKD, rõ nét nhất làtrong hoạt động huy động vốn trên thị trường

Thứ hai, DNNVV có tính linh hoạt, dễ thích ứng với các thay đổi của

thị trường

Với ưu thế quy mô nhỏ, gọn, năng động, dễ quản lý, các DNNVV dễ cơđộng, dễ thích ứng với sự thay đổi của nhu cầu thị trường về khả năng thayđổi phương án SXKD, thay đổi mặt hàng nhanh, phù hợp với xu hướng củakhách hàng Theo số liệu của các nước thành viên Tổ chức Hợp tác và Pháttriển Kinh tế, DNNVV là khu vực doanh nghiệp có sự linh hoạt, năng độngcao hơn hẳn so với các doanh nghiệp quy mô lớn

Thứ ba, tổ chức bộ máy linh hoạt.

DNNVV được xây dựng chủ yếu trên nền tảng của mối quan hệ giađình, bạn bè, số lao động sử dụng trong doanh nghiêp không nhiều nên không

Trang 10

có khoảng cách lớn giữa người sử dụng lao động và người lao động Giữa các

bộ phận trong nội bộ doanh nghiệp dễ dàng trao đổi thảo luận công việc trựctiếp với nhau, điều này cho phép tránh được sai lệch thông tin trong quá trìnhhoạt động

Thứ tư, trình độ trang bị kỹ thuật và công nghệ thấp

Tại các quốc gia đang phát triển, phần lớn công nghệ các DNNVVđang sử dụng đều đã lạc hậu, nhiều DNNVV sử dụng thiết bị thải loại của cácdoanh nghiệp lớn, thiết bị tự chế tạo với trình độ thiết kế và gia công thấp,hoặc bị sử dụng những thiết bị không đồng bộ Hậu quả là sản phẩm củanhiều DNNVV có chất lượng thấp, làm giảm sức cạnh tranh trên thị trường

Thứ năm, trình độ quản lý, trình độ tay nghề của lao động thấp.

Lao động trong các DNNVV chủ yếu là lao động phổ thông, ít đượcđào tạo cơ bản Bên cạnh đó, trình độ của đội ngũ cán bộ quản lý cũng cònyếu kém Không ít các chủ doanh nghiệp không được đào tạo một cách chínhquy và cơ bản nên thiếu những kỹ năng cần thiết về quản lý và điều hành, luậtpháp, cơ chế chính sách

1.1.2.2 Vai trò của DNNVV:

Sự phát triển của DNNVV đã góp phần quan trọng giải quyết nhữngmục tiêu kinh tế - xã hội, được thể hiện thông qua các vai trò sau:

Thứ nhất, DNNVV có đóng góp quan trọng cho sự tăng trưởng của nền

kinh tế quốc gia Khu vực doanh nghiệp này đóng góp phần lớn vào GDP.Theo đánh giá của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, khu vựcDNVVN chiếm một vị trí quan trọng trong nền kinh tế Con số thống kê chohay, DNVVN chiếm trên 97% tổng số doanh nghiệp cả nước, đóng góp 50%GDP, 33% thu ngân sách nhà nước

Thứ hai, DNNVV giữ vai trò quan trọng trong việc tạo công ăn việc

làm, tạo nguồn thu nhập ổn định và thường xuyên cho một bộ phận lớn dân

Trang 11

cư góp phần ổn định chính trị - xã hội Trong cộng đồng doanh nghiệp ViệtNam, thì DNNVV là loại hình doanh nghiệp chiếm đa số và chủ yếu trongnền kinh tế Theo đó, loại hình doanh nghiệp này đóng vai trò quan trọng,nhất là tạo việc làm, tăng thu nhập cho người lao động, giúp huy động cácnguồn lực xã hội cho đầu tư phát triển, xóa đói giảm nghèo… Cụ thể, về laođộng, hàng năm tạo thêm trên nửa triệu lao động mới; sử dụng tới 51% laođộng xã hội Với đặc tính phân bổ rải rác, các doanh nghiệp này thường phântán nên có thể đảm bảo cơ hội việc làm cho nhiều vùng địa lý và nhiều đốitượng lao động, góp phần giảm bớt chênh lệch về thu nhập và mức sống giữacác bộ phận dân cư, giữa các vùng, các địa phương; đồng thời tạo ra sự pháttriển tương đối đồng đều trên toàn quốc.

Thứ ba, DNNVV làm cho nền kinh tế trở lên năng động, dễ điều chỉnh.

Nếu như doanh nghiệp lớn thường đặt cơ sở tại những trung tâm kinh tế củađất nước, thì DNNVV lại được phân bổ rộng khắp các địa phương, nên cácDNNVV đặc biệt có lợi thế trong huy động và sử dụng các nguồn lực xã hộitrong dân cư Ngoài ra, DNNVV vì quy mô nhỏ nên có thể hoạt động mộtcách linh hoạt, dễ thay đổi trong kinh doanh, cùng với hình thức tổ chức kinhdoanh có sự kết hợp chuyên môn hóa và đa dạng hóa, hòa nhịp được vớinhững thay đổi của nền kinh tế thị trường

Thứ tư, DNNVV thường chuyên môn hóa vào sản xuất một vài chi tiết

được dùng để lắp ráp thành một sản phẩm hoàn chỉnh, tạo nên ngành côngnghiệp và dịch vụ phụ trợ quan trọng Hiện nay, các nước phát triển có sựchuyên môn hóa trong sản xuất cao, DNNVV cũng tham gia vào sự chuyênmôn hóa đó Xu hướng thành công hai bên cùng có lợi và đồng tăng trưởnggiữa các doanh nghiệp lớn và DNNVV ngày càng phát triển mạnh mẽ, khôngchỉ giữa các DNNVV với các tập đoàn kinh tế lớn trong phạm vi một quốc gia

Trang 12

mà còn mở rộng ra phạm vi quốc tế, trong đó các DNNVV đóng vai trò là bộphận quan trọng trong sự phát triển chung.

1.1.3 Ưu thế của DNNVV:

DNNVV có những lợi thế rõ ràng, đó là khả năng thoả mãn nhu cầu cóhạn trong những thị trường chuyên môn hoá, khuynh hướng sử dụng nhiềulao động với trình độ lao động kỹ thuật trung bình thấp, đặc biệt là rất linhhoạt, có khả năng nhanh chóng thích nghi với các nhu cầu và thay đổi của thịtrường DNNVV có thể bước vào thị trường mới mà không thu hút sự chú ýcủa các doanh nghiệp lớn (do quy mô doanh nghiệp nhỏ), sẵn sàng phục vụ ởnhững nơi xa xôi nhất, những khoảng trống vừa và nhỏ trên thị trường mà cácdoanh nghiệp lớn không đáp ứng vì mối quan tâm của họ đặt ở các thị trường

có khối lượng lớn DNNVV là loại hình sản xuất có địa điểm sản xuất phântán, tổ chức bộ máy chỉ đạo gọn nhẹ nên nó có nhiều điểm mạnh:

- Dễ dàng khởi sự, bộ máy chỉ đạo gọn nhẹ và năng động, nhạy bén với thay đổi của thị trường

doanh nghiệp chỉ cần một số vốn hạn chế, mặt bằng không lớn, cácđiều kiện sản xuất đơn giản là đã có thể bắt đầu hoạt động Vòng quay sảnphẩm nhanh nên có thể sử dụng vốn tự có, hoặc vay bạn bè, người thân dễdàng Bộ máy tổ chức gọn nhẹ linh hoạt, dễ quản lý, dễ quyết định Đồngthời, do tính chất linh hoạt cũng như quy mô nhỏ cảu nó, doanh nghiệp có thể

dễ dàng phát hiện thay đổi nhu cầu của thị trường, nhanh chóng chuyển đổihướng kinh doanh, phát huy tính năng động sáng tạo, tự chủ, nhạy bén tronglựa chọn thay đổi mặt hàng Từ đó doanh nghiệp sẽ tạo ra sự sống động trongphát triển kinh tế

- Sẵn sàng đầu tư vào các lĩnh vực mới, lĩnh vực có mức độ rủi ro cao.

Đó là bởi vì các doanh nghiệp loại này có mức vốn đầu tư nhỏ, sử dụng

ít lao động nên có khả năng mạo hiểm sẵn sàng mạo hiểm Trong trường hợp

Trang 13

thất bại thì cũng không bị thiệt hại nặng nề như các doanh nghiệp lớn, có thểlàm lại từ đầu được Bên cạnh đó các DNNVV có động cơ để đi vào các lĩnhvực mới này: do tính chất nhỏ bé về quy mô nên khó cạnh tranh với cácdoanh nghiệp lớn trong sản xuất dây chuyền hàng loạt Họ phải dựa vào lợinhuận thu được từ các cuộc kinh doanh mạo hiểm.

- Dễ dàng đổi mới trang thiết bị, đổi mới công nghệ, hoạt động hiệu quả với chi phí cố định thấp.

doanh nghiệp có nguồn vốn kinh doanh ít nên đầu tư vào các tài sản cốđịnh cũng ít, do đó dễ tiến hành đổi mới trang thiết bị khi điều kiện cho phép.Đồng thời doanh nghiệp tận dụng được lao động dồi dào để thay thế vốn Vớichiến lược phát triển, đầu tư đúng đắn,sử dụng hợp lý các nguồn lực củamình, các DNNVV có thể đạt được hiệu quả kinh tế - xã hội cao, cũng như cóthể sản xuất được hàng hoá có chất lượng tốt và có sức cạnh tranh trên thịtrường ngay cả khi điều kiện SXKD của doanh nghiệp có nhiều hạn chế

- Không có hoặc ít có xung đột giữa người thuê lao động với người lao động.

Quy mô DNNVV tất nhiên là không lớn lắm Số lượng lao động trongmột doanh nghiệp không nhiều, sự phân công lao động trong xí nghiệp chưaquá mức rõ rệt Mối quan hệ giữa người thuê lao động và người lao động khágắn bó Nếu xảy ra xung đột, mâu thuẫn thì dễ dàn xếp

1.1.4 Hạn chế của DNNVV:

Các hạn chế của loại hình doanh nghiệp này đến từ hai nguồn Các hạnchế khách quan đến từ thực tế bên ngoài, và các hạn chế đến từ chính các lợithế của DNNVV

- Hạn chế đầu tiên và lớn nhất của DNNVV nằm trong chính đặc điểmcủa nó, đó là quy mô nhỏ, vốn ít, do đó các doanh nghiệp này thường lâm vào

Trang 14

tình trạng thiếu vốn trầm trọng mỗi khi muốn mở rộng thị trường, hay tiếnhành đổi mới, nâng cấp trang thiết bị.

- Các DNNVV thường phụ thuộc vào doanh nghiệp mà nó cung cấpsản phẩm

- Khó khăn trong nâng cấp trang thiết bị, đầu tư công nghệ mới, đặcbiệt là các công nghệ đòi hỏi vốn lớn, từ đó ảnh hưởng đến năng suất laođộng, chất lượng sản phẩm và tính cạnh tranh trên thị trường

- Có nhiều hạn chế trong đào tạo công nhân và chủ doanh nghiệp, thiếu

bí quyết và trợ giúp kỹ thuật, không có kinh nghiệm trong thiết kế sản phẩm,thiếu đầu tư cho nghiên cứu và phát triển, nói cách khác là không đủ nănglực sản xuất để đáp ứng các yêu cầu về chất lượng, khó nâng cao được năngsuất và hiệu quả kinh doanh

- Thiếu trợ giúp về tài chính và tiếp cận thị trường, các DNNVVthường tỏ ra bị động trong các quan hệ thị trường

- Do tính chất vừa và nhỏ của nó, DNNVV gặp khó khăn trong thiết lập

và mở rộng quan hệ hợp tác với các đơn vị kinh tế bên ngoài địa phươngdoanh nghiệp đó đang hoạt động

- Cũng do tính chất vừa và nhỏ của nó, DNNVV gặp khó khăn trongthiết lập chỗ đứng vững chắc trong thị trường

1.2 Hoạt động bảo lãnh tín dụng cho DNNVV:

1.2.1 Khái niệm bảo lãnh tín dụng:

Trong pháp luật dân sự ở nước ta, khái niệm bảo lãnh được nêu trongđiều 366 của Bộ luật dân sự: “ Bảo lãnh là việc người thứ ba (người bảolãnh ) cam kết với bên có quyền (người nhận bảo lãnh) sẽ thực hiện nghĩa vụthay cho bên có nghĩa vụ (người được bảo lãnh), nếu khi đến hạn mà người đ-ược bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ….”

Trang 15

Trong pháp lệnh hợp đồng kinh tế: “Bảo lãnh tài sản là sự bảo đảmbằng tài sản thuộc quyền sở hữu của người nhận bảo lãnh để chịu trách nhiệmtài sản thay cho người được bảo lãnh khi người này vi phạm hợp đồng kinh tế

đã ký kết….”

Từ đó khái niệm chung về bảo lãnh được xác định như sau:

“Bảo lãnh là sự cam kết của người nhận bảo lãnh sẽ thực hiện đầy

đủ các nghĩa vụ và quyền lợi nếu người xin bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng với bên yêu cầu bảo lãnh”.

Tín dụng là khái niệm thể hiện mối quan hệ giữa người cho vay vàngười đi vay Trong quan hệ này, người cho vay có nhiệm vụ chuyển giaoquyền sử dụng tiền hoặc hàng hóa cho vay cho người đi vay trong một thờigian nhất định Người đi vay có nghĩa vụ trả số tiền hoặc giá trị hàng hóa đãvay khi đến hạn trả nợ có kèm hoặc không kèm theo một khoản lãi

Như vậy, Bảo lãnh tín dụng là sự cam kết của Tổ chức tín dụng (bênbảo lãnh) với bên có quyền (bên nhận bảo lãnh) về việc thực hiện nghĩa vụ tàichính thay cho khách hàng (bên được bảo lãnh) khi khách hàng không thựchiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ đã cam kết với bên nhận bảo lãnh.Khách hàng phải nhận nợ và hoàn trả cho Tổ chức tín dụng (TCTD) số tiền đãđược trả thay

1.2.2 Quy trình thực hiện bảo lãnh:

Quy trình để một doanh nghiệp được bảo lãnh gồm 5 bước cơ bản sau:

Bước 1: Khi doanh nghiệp phát sinh yêu cầu vay vốn để thực hiện dự

án đầu tư, SXKD… thì sẽ lập và gửi Hồ sơ đề nghị bảo lãnh

Bước 2: Tổ chức bảo lãnh thẩm định hồ sơ và ra quyết định bảo lãnh.

Nhận được Hồ sơ đề nghị bảo lãnh của khách hàng, tổ chức bảo lãnhtiến hành thẩm định hồ sơ đó Sau khi thẩm định, tổ chức bảo lãnh sẽ quyếtđịnh việc bảo lãnh hay không bảo lãnh (trường hợp không bảo lãnh cần trả lời

Trang 16

bằng văn bản cho khách hàng và nêu rõ lý do) Khi ra quyết định chấp thuậnbảo lãnh, tổ chức bảo lãnh cần cân nhắc hình thức và nội dung bảo lãnh thíchhợp nhất với yêu cầu của khách hàng và khả năng, kinh nghiệm, nghiệp vụcủa tổ chức bảo lãnh.

Bước 3: Tổ chức bảo lãnh ký hợp đồng bảo lãnh với khách hàng và

phát hành chứng thư bảo lãnh

Khách hàng nhận được hợp đồng bảo lãnh do tổ chức bảo lãnh pháthành Tổ chức bảo lãnh kiểm tra theo dõi chặt chẽ tiến trình bảo lãnh nhằmhạn chế rủi ro, đôn đốc khách hàng thực hiện các nghĩa vụ được bảo lãnh

Bước 4: Khách hàng thanh toán phí bảo lãnh và các khoản phí khác

(nếu có) theo hợp đồng bảo lãnh

Bước 5: Tất toán bảo lãnh

Sau khi Thư bảo lãnh hết thời gian hiệu lức hoặc khi có thông báo, xácnhận của bên nhận bảo lãnh về việc hoàn thành nghĩa vụ liên quan đến bảolãnh, tổ chức bảo lãnh tiến hành tất toán bảo lãnh Trường hợp bên được bảolãnh vi phạm nghĩa vụ được bảo lãnh, bên bảo lãnh phải thực hiện trả thay,đồng thời áp dụng các biện pháp cần thiết để thu hồi nợ

1.2.3 Các hoạt động bảo lãnh:

* Bảo lãnh đảm bảo tham gia dự thầu: là một bảo lãnh do bên bảo lãnh

phát hành cho bên mời thầu để đảm bảo nghĩa vụ tham gia dự thầu của kháchhàng Trường hợp khách hàng bị phạt do vi phạm quy định dự thầu mà khôngnộp hoặc nộp không đủ tiền phạt cho bên mời thầu thì ngân hàng thực hiệnnghĩa vụ bảo lãnh đã cam kết

Mục đích của bảo lãnh dự thầu là để hứa thanh toán trong trường hợpngười dự thầu đã thay đổi các điều kiện thầu hoặc đã rút thầu trong thời gianthầu hoặc không ký hợp đồng mặc dù trúng thầu Thời gian của bảo lãnh

Trang 17

tương đương với thời gian trúng thầu hoặc bảo lãnh sẽ hết hạn cho đến khihợp đồng được ký kết.

* Bảo lãnh thực hiện hợp đồng: là một bảo lãnh do bên bảo lãnh phát

hành cho bên nhận bảo lãnh bảo đảm việc thực hiện đúng, đầy đủ các nghĩa

vụ của khách hàng với bên nhận bảo lãnh theo hợp đồng đã ký kết Trongtrường hợp khách hàng không thực hiện đúng, đầy đủ các nghĩa vụ trong hợpđồng, ngân hàng thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh đã cam kết

Bảo lãnh có hiệu lực cho đến khi hoàn thành việc thực hiện hợp đồngnhư cung cấp xong hàng hóa, thiết bị… Hợp đồng nào đầu tư máy móc thiết

bị và có dùng nguyên liệu chạy thử máy, thời hạn này còn bao gồm cả thờihạn bảo hành để chạy máy móc hoặc hệ thống máy chính xác

* Bảo lãnh đảm bảo hoàn trả tiền ứng trước: nhiều người cung cấp yêu

cầu khách hàng (người mua hàng hóa dịch vụ) phải đặt trước một phần tiềntrong giá trị hợp đồng cung cấp nhằm vừa giúp bên cung cấp có một phần vốn

để sản xuất kinh doanh, vừa có tác dụng ràng buộc người mua phải mua hàng

đã đặt Tuy nhiên, người cung cấp có thể không cung cấp hàng đồng thời lạikhông trả tiền đặt cọc, do đó bên mua yêu cầu bên cung cấp phải có bảo lãnhcủa ngân hàng về việc sẽ trả tiền ứng trước

Vậy bảo lãnh bảo đảm hoàn trả tiền ứng trước là một bảo lãnh do bênbảo lãnh phát hành cho bên nhận bảo lãnh về việc bảo đảm nghĩa vụ hoàn trảtiền ứng trước của khách hàng theo hợp đồng đã ký kết với bên nhận bảolãnh Trường hợp khách hàng vi phạm các cam kết với bên nhận bảo lãnh vàphải hoàn trả tiền ứng trước nhưng không hoàn trả hoặc hoàn trả không đủ sốtiền ứng trước cho bên nhận bảo lãnh thì bên bảo lãnh sẽ hoàn trả số tiền ứngtrước cho bên nhận bảo lãnh Thời hạn có hiệu lực của bảo lãnh hoàn trả tiềnứng trước được giới hạn, nó hết hạn vào ngày hoàn thành nghĩa vụ giao hàngcủa người bán

Trang 18

* Bảo lãnh đảm bảo hoàn trả vốn vay (bảo lãnh vay vốn): nhiều TCTD

khi cho vay đòi hỏi phải có đảm bảo hoặc bằng hàng hóa, chứng khoán, bấtđộng sản, hoặc bảo lãnh của bên thứ ba… Bảo lãnh hoàn trả vốn vay là camkết của bên bảo lãnh đối với người cho vay (TCTD, cá nhân…) về việc sẽ trả

nợ thay cho khách hàng (người đi vay) trong trường hợp khách hàng khôngtrả nợ hoặc không trả nợ đầy đủ, đúng hạn Bảo lãnh vay vốn bao gồm: Bảolãnh vay vốn trong nước và bảo lãnh vay vốn nước ngoài

* Bảo lãnh đảm bảo thanh toán: là một bảo lãnh do bên bảo lãnh phát

hành cho bên nhận bảo lãnh cam kết sẽ thanh toán thay cho khách hàng trongtrường hợp khách hàng không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa

vụ của mình khi đến hạn Loại bảo lãnh này được phát hành để đảm bảo thanhtoán đầy đủ các hàng hóa, dịch vụ đã được giao với thủ tục hành chính tươngđối ít đối với người mua và người bán, đảm bảo thanh toán cho người bánhoặc người cung cấp ít nhất là đối với việc giao hàng hóa đã thực sự đượcthực hiện hoặc dịch vụ đã hoàn thành

* Bảo lãnh đảm bảo chất lượng sản phẩm: là một bảo lãnh do bên bảo

lãnh phát hành cho bên nhận bảo lãnh bảo đảm khách hàng thực hiện đúngcác thỏa thuận về chất lượng của sản phẩm theo hợp đồng đã ký kết với bênnhận bảo lãnh Trường hợp khách hàng bị phạt tiền do không thực hiện đúngcác thỏa thuận trong hợp đồng về chất lượng sản phẩm với bên nhận bảo lãnh

mà không nộp hoặc nộp không đủ tiền phạt cho bên nhận bảo lãnh, bên bảolãnh thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh đã cam kết

* Bảo lãnh bảo hành: Bảo lãnh bảo hành thường được yêu cầu cho các

hợp đồng xây dựng Mục đích của bảo lãnh bảo hành là đảm bảo nghĩa vụ củanhà thầu trong giai đoạn bảo hành khi việc xây dựng đã hoàn thành Loại bảolãnh này có thể được phát hành để thay thế cho tiền giữ lại cho giai đoạn bảohành

Trang 19

* Bảo lãnh hối phiếu: là cam kết của bên bảo lãnh thanh toán cho

người thụ hưởng khi hối phiếu đến hạn trả tiền mà bên được bảo lãnh khôngthanh toán

* Bảo lãnh phát hành chứng khoán: là lĩnh vực hoạt động của ngân

hàng thương mại hỗ trợ cho công ty phát hành chứng khoán của mình khicông ty chưa có đủ uy tín trên thị trường hoặc chủ sở hữu chứng khoánphát hành và phân phối chứng khoán bằng việc thỏa thuận mua bán chứngkhoán để bán lại hoặc bán chứng khoán thay mặt người phát hành hayngười chủ sở hữu

* Bảo lãnh về hải quan: bên bảo lãnh đứng ra bảo lãnh về việc tạm

nhập hàng hóa cũng tránh cho doanh nghiệp xuất quỹ để nộp thuế hải quan,bởi vì doanh nghiệp có ý muốn tái xuất lại hàng hóa đó Ví dụ như nhữngtrường hợp hàng hóa được nhập khẩu vào để trưng bày trong hội chợ hoặc đểtriển lãm hay máy móc được nhập khẩu về để thi công một công trình nào đósau đó lại đem trả lại thì tất cả những hàng hóa, máy móc đó không phải nộpthuế hải quan Người thụ hưởng cma kết bảo lãnh này là tổ chức thuế quan.Trong trường hợp nếu quá thời hạn quy định mà hàng hóa, máy móc đókhông được tái xuất thì bên bảo lãnh sẽ phải trả tiền phạt thay cho bên đượcbảo lãnh

1.2.4 Các kênh thực hiện bảo lãnh:

* Ngân hàng Phát triển Việt Nam:

Ngày 28/11/2008 Thủ tướng Chính Phủ có Công văn số KTTH giao cho Ngân hàng Phát triển Việt Nam thực hiện bảo lãnh tíndụng cho DNNVV khi vay vốn của caccs tổ chức tín dụng để sản xuất kinhdoanh Đồng thời giao Bộ Tài chính phối hợp Ngân hàng Nhà nước hướngdẫn thực hiện

Trang 20

2081/TTg-Đối tượng được bảo lãnh là các DNNVV thuộc các thành phần kinh tếhoạt động theo quy định của pháp luật thực hiện đầu tư vào các dự án pháttriển sản xuất kinh doanh, có nhu cầu vay vốn tại các NHTM Mức bảo lãnhtín dụng là 100% giá trị vốn vay, không bảo lãnh cho các hoạt động chứngkhoán, vay kinh doanh bất động sản, dịch vụ vui chơi giải trí mà chủ yếu tậptrung bảo lãnh DNNVV phục vụ phát triển sản xuất và dân sinh.

* Quỹ tín dụng tại địa phương:

Ngày 15/10/2013 Thủ tướng Chính Phủ đã ban hành Quyết định số58/2013/QĐ-TTg ban hành Quy chế thành lập, tổ chức và hoạt động của Quỹbảo lãnh tín dụng cho DNNVV Quỹ bảo lãnh tín dụng do UBND tỉnh, thànhphố trực thuộc Trung ương thành lập và quản lý, là tổ chức tài chính, hoạtđộng không vì mục tiêu lợi nhuận; thực hiện chức năng bảo lãnh tín dụng chocác DNNVV vay vốn tại các tổ chức tín dụng thành lập và hoạt động theoLuật các tổ chức tín dụng

Doanh nghiệp nhỏ và vừa chỉ được Quỹ bảo lãnh tín dụng xem xét, cấpbảo lãnh khi hội đủ 4 điều kiện: i) có dự án đầu tư, phương án sản xuất kinhdoanh có hiệu quả, có khả năng hoàn trả vốn vay Dự án đầu tư, phương ánsản xuất kinh doanh được Quỹ bảo lãnh tín dụng thẩm định và quyết định bảolãnh theo quy định tại Quy chế ban hành kèm theo Quyết định số58/2013/QĐ-TTg; ii) có tổng giá trị tài sản thế chấp, cầm cố tại tổ chức tíndụng theo quy định của pháp luật tối thiểu bằng 15% giá trị khoản vay; iii) cótối thiểu 15% vốn chủ sở hữu tham gia dự án đầu tư, phương án sản xuất kinhdoanh; và iv) tại thời điểm đề nghị bảo lãnh, không có các khoản nợ đọngnghĩa vụ với ngân sách nhà nước, nợ xấu tại các tổ chức tín dụng hoặc tổchức kinh tế khác

Trang 21

Quỹ bảo lãnh tín dụng có thể cấp bảo lãnh một phần hoặc bảo lãnh toàn

bộ phần chênh lệch giữa giá trị khoản vay và giá trị tài sản thế chấp, cầm cốcủa bên được bảo lãnh tại tổ chức tín dụng Thời hạn bảo lãnh tín dụng đượcxác định phù hợp với thời hạn vay vốn đã thỏa thuận giữa bên được bảo lãnh

và tổ chức tín dụng Mức bảo lãnh tín dụng tối đa cho một khách hàng đượcbảo lãnh không vượt quá 15% vốn chủ sở hữu của Quỹ bảo lãnh tín dụng.Tổng mức bảo lãnh tín dụng của Quỹ bảo lãnh tín dụng cho các bên được bảolãnh tối đa không vượt quá 5 lần so với vốn điều lệ thực có của Quỹ bảo lãnhtín dụng

* NHTM và các TCTD:

Căn cứ theo Luật số 47/2010/QH12 được Quốc Hội ban hành ngày16/6/2010 quy định Luật Các tổ chức tín dụng: Bảo lãnh ngân hàng là hìnhthức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng cam kết với bên nhận bảo lãnh vềviệc tổ chức tín dụng sẽ thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng khikhách hàng không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ đã camkết; khách hàng phải nhận nợ và hoàn trả cho tổ chức tín dụng theo thỏathuận

* Đơn vị chủ quản doanh nghiệp:

Phổ biến nhất trong trường hợp này là Công ty mẹ bảo lãnh cho Công

ty con Trong thực tế, do tiềm lực tài chính của công ty mẹ thường tốt hơncông ty con nên ngân hàng thường muốn cho công ty mẹ vay hơn là cho công

ty con vay Tuy nhiên nếu dự án được đầu tư lại do công ty con thực hiện thìgiải pháp này không khả thi do pháp luật hiện hành cấm việc một công tykhông có hoạt động ngân hàng (công ty mẹ) được cho một công ty khác (công

ty con) vay vốn Chính vì thế việc có được bảo lãnh từ công ty mẹ cho khoảnvay của công ty con được xem là một giải pháp mà ngân hàng trông đợi trong

Trang 22

trường hợp này.

1.2.5 Sự cần thiết phải thực hiện bảo lãnh tín dụng cho DNNVV:

Một là, xuất phát từ vị trí của DNNVV đối với nền kinh tế đang phát triển trong xu thế hội nhập:

Trong xu thế toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, tất cảcác quốc gia trên thế giới đều chú ý hỗ trợ các DNNVV nhằm huy động tối đacác nguồn lực phát triển kinh tế và tăng sức cạnh tranh trên thị trường Đứngtrước xu thế mới đó, các DNNVV của Việt Nam đã bước đầu tạo dựng đượcthế và lực trong kinh doanh nội địa và từng bước tham gia vào thị trườngquốc tế, thu hút đầu tư vốn và công nghệ của nước ngoài Đặc biệt là cácdoanh nghiệp xuất khẩu có cơ hội được mở rộng thị trường tiêu thụ rộng lớn,

đa dạng hóa sản phẩm tiêu thụ hơn từ những lợi ích mà WTO mang lại nhữngQuy chế quan hệ thương mại bình thường và đối xử quốc gia giữa các thànhviên WTO Các sản phẩm của các DNNVV dễ dàng vào các thị trường nướcngoài, nhờ đó khai thác được lợi thế lao động rẻ do hàng rào thuế quan và phithuế quan bị thu hẹp hoặc dỡ bỏ

Bên cạnh những thuận lợi do hội nhập mang lại, các DNNVV cũng đốimặt với những thách thức to lớn Đó chính là áp lực về cạnh tranh sản phẩm,năng lực tài chính yếu kém, sự chồng chéo trong những chính sách pháp lý,thủ tục hành chính… Để tháo gỡ những khó khăn này cần thiết phải có nhữngchính sách hỗ trợ, giúp đỡ của chính phủ trong việc nâng cao năng lực tàichính, định hướng phát triển đúng đắn cho doanh nghiệp để các DNNVV cóthể phát triển bền vững trong môi trường cạnh tranh quốc tế

Hai là, xuất phát từ nhu cầu về vốn và khó khăn của DNNVV trong việc huy động vốn:

Nguồn vốn của các DNNVV hiện nay vẫn chủ yếu phụ thuộc từ chínhdoanh nghiệp, vốn vay ngân hàng và các TCTD Tuy nhiên, khi vay ngân

Trang 23

hàng, các DNNVV gặp phải rất nhiều vướng mắc từ phía bản thân doanhnghiệp như không có tài sản thế chấp, năng lực quản lý yếu kém, khả năng trả

nợ kém,… Hay các khó khăn từ phía ngân hàng như quy trình thủ tục phứctạp, trình độ năng lực cán bộ ngân hàng chưa đáp ứng yêu cầu, lãi suất caochưa thực sự mang tính hỗ trợ doanh nghiệp Để loại hình DNNVV phát triểnngày càng lớn mạnh, có thể đương đầu với những thách thức, cạnh tranh, cảbản thân doanh nghiệp đến các đối tượng cung cấp vốn và bảo lãnh tín dụng,cũng như Chính Phủ cần có sự phối hợp và thay đổi để giải quyết vấn đề khókhăn về tiếp cận vốn cho DNNVV

Ba là, xuất phát từ những ưu điểm của hoạt động bảo lãnh tín dụng đối với điều kiện nền kinh tế nước ta hiện nay:

Hoạt động bảo lãnh tín dụng cho DNNVV là một hoạt động rất phổbiến trên thế giới Hiệu quả mà các Quỹ này mang lại cho các DNNVV đãđược kiểm chứng ở nhiều quốc gia trên thế giới như Nhật Bản, Ấn Độ,… Sở

dĩ mô hình này có ý nghĩa to lớn và ngày càng được khuyến khích phát triển

là bởi những ưu thế mà nó mang lại:

- Bảo lãnh tín dụng là hình thức bổ sung vốn cho những doanh nghiệpkhông đảm bảo yêu cầu về tài sản thế chấp của ngân hàng thương mại(NHTM) Đó là cơ chế cho phép các doanh nghiệp này có thể đáp ứng đượcnhu cầu vốn thông qua việc đề nghị tổ chức bảo lãnh đứng ra bảo lãnh vayvốn cho họ

- Các tổ chức bảo lãnh tín dụng chủ yếu chịu sự quản lý, chỉ đạo củachính phủ có quy mô vốn đủ để thực hiện nghĩa vụ trả thay khi doanh nghiệp

vi phạm nghĩa vụ được bảo lãnh, có trình độ chuyên môn nghiệp vụ phù hợp

để thực hiện hoạt động thẩm định để tránh rủi ro Do đó, các NHTM sẽ dễdàng đồng ý cho vay đối với những doanh nghiệp đã được tổ chức này đứng

ra bảo lãnh

Trang 24

- Thông qua việc hình thành một hệ thống bảo lãnh tín dụng hiệu quả,các DNNVV có cơ hội nâng cao trình độ quản lý, trình độ lập kế hoạchSXKD,… đó chính là những thành quả mà nhờ đó các DNNVV sẽ phát triểnchuyên nghiệp hơn.

- Đối với các NHTM và các tổ chức đứng ra cho vay, thông qua hoạtđộng này, các NHTM sẽ thu được lợi nhuận lớn do việc mở rộng thị trườngtới những doanh nghiệp mà trước đó chưa đủ điều kiện vay vốn Ngoài ra, khithực hiện góp vốn vào các doanh nghiệp này, NHTM còn có cơ hội nhậnđược những ưu đãi từ chính phủ

- Trong điều kiện Việt Nam hiện nay, việc vận hành hoạt động bảo lãnhtín dụng càng trở nên có ý nghĩa hơn khi Việt Nam hội nhập nền kinh tế quốc

tế, khi Việt Nam phải xóa bỏ các hỗ trợ về thuế, tín dụng cho các doanhnghiệp Bởi vậy việc hình thành tổ chức bảo lãnh tín dụng đứng ra thực hiệnhoạt động bảo lãnh tín dụng cho các DNNVV sẽ là giải pháp hợp lý hỗ trợđược các DNNVV mà không vi phạm cam kết

1.3 Kinh nghiệm một số nước trong hoạt động bảo lãnh tín dụng cho DNNVV và bài học rút ra đối với Việt Nam:

1.3.1 Hoạt động bảo lãnh tín dụng một số quốc gia trên thế giới:

1.3.1.1 Kinh nghiệm của Hàn Quốc:

Hàn Quốc luôn coi trọng vai trò của khối các DNNVV trong sự pháttriển nền kinh tế của nước này, các DNNVV đã góp phần không nhỏ vàothành công của Hàn Quốc, giúp cho Hàn Quốc từ một đất nước đang pháttriển trở thành con rồng châu Á như hiện nay

Tại Hàn Quốc, chức năng nhiệm vụ của hệ thống bảo lãnh tín dụng được quy định chặt chẽ Hệ thống bảo lãnh tín dụng Hàn Quốc bao gồm hệ

thống bảo lãnh tín dụng trực thuộc ngân hàng trung ương và các cơ cấu tài

Trang 25

chính khác thuộc chính phủ Cho đến hiện nay, hệ thống bảo lãnh tín dụngcho DNNVV được phân theo 3 kênh chính gồm: (i) Quỹ BLTD Hàn Quốc(KCGF): hoạt động theo luật Quỹ BLTD số 2696 ngày 21/12/1974 và hiệnnay đã có 7 lần sửa đổi bổ sung, lần sửa đổi cuối cùng gần đây nhất là ngày13/01/1998; (ii) Quỹ BLTD công nghệ Hàn Quốc (KOTECH): thành lập từtháng 4/1986 theo Nghị định của Chính phủ khuyến khích các DNNVV pháttriển kỹ thuật, công nghệ mới nhưng thiếu vốn sản xuất; (iii) Quỹ BLTD địaphương: do các chính quyền địa phương thành lập và hoạt động theo nghịquyết riêng của mình Hiện nay chưa có luật điều chỉnh chung cho các QuỹBLTD địa phương Hiện Hàn Quốc có 10 Quỹ BLTD cho các DNNVV địaphương thuộc các vùng lớn trong toàn quốc như Thủ đô Seoul, Thành phốPusal.

Hệ thống bảo lãnh được tổ chức và quản lý rất chặt chẽ và logic từtrung ương đến địa phương Chẳng hạn Quỹ BLTD Hàn Quốc và Quỹ BLTDcông nghệ do ủy ban tài chính quốc gia giám sát hoạt động, còn Quỹ BLTDđịa phương do ban quản lý khối DNNVV quản lý

Vốn hoạt động của Quỹ: Vốn hoạt động của KCGF từ các nguồn sau:

(i) đóng góp của Chính phủ theo luật định; (ii) đóng góp của các NHTM từcác khoản cho vay có lãi suất được phân chia như sau: mỗi khoản cho vay cólãi suất được tính 0,3% số tiền vay để hình thành vốn hoạt động cho KCGF

và KOTECH, trong đó 0,2% số tiền vay để hình thành vốn hoạt động choKCGF và 0,1% số tiền vay để hình thành vốn hoạt động cho KOTECH.Ngoài ra còn từ doanh nghiệp và các cá nhân

Nguồn vốn của Quỹ BLTD Hàn Quốc chủ yếu là từ đóng góp củaChính phủ (khoảng hơn 80%) và các NHTM (Ngân hàng phát triển HànQuốc, ngân hàng Công nghiệp Hàn Quốc, ngân hàng nhà Hàn Quốc, Ngânhàng xuất khẩu Hàn Quốc…) Vốn của các Quỹ BLTD địa phương được hình

Trang 26

thành từ nguồn: Vốn của ngân sách địa phương đóng góp chủ yếu, ngoài racòn vốn hỗ trợ của chính phủ, đóng góp của các NHTM và các tổ chức cũngnhư doanh nghiệp.

Cung cấp nhiều dịch vụ bảo lãnh tín dụng cho các DNNVV nhằm phục

vụ tốt hơn cho hoạt động SXKD Chức năng của hệ thống bảo lãnh này bao

gồm: (i) Bảo lãnh tín dụng để giúp đỡ các công ty đầu tư tư nhân đầu tư vàocác lĩnh vực có tính chất xã hội; (ii) bảo lãnh tín dụng cho các DNNVV trongviệc vay vốn của các NHTM; (iii) bảo hiểm tín dụng cho các khoản phải thucủa DNNVV; (iv) tư vấn về quản lý cho các DNNVV

Quy trình thực hiện, xét duyệt bảo lãnh, mức bảo lãnh: Các DNNVV

khi muốn được bảo lãnh sẽ gửi đơn xin đề nghị bảo lãnh lên Quỹ BLTD, Quỹnày sẽ tiến hành thẩm định và xếp hạng tín dụng cho các doanh nghiệp Tùyvào điểm xếp hạng, tổ chức này sẽ quyết định việc có cho vay hay không vàcho vay bao nhiêu Mức bảo lãnh tín dụng tối đa đối với một DNNVV là 3 tỷwon, trong trường hợp nền kinh tế khó khăn (chẳng hạn như khủng hoảngnăm 2008) mức hỗ trợ có thể lên tới 7 tỷ won.Các loại hình bảo lãnh choDNNVVcủa các Quỹ bảo lãnh cũng rất đa dạng Ngoài bảo lãnh vay vốn còn

có bảo lãnh dự thầu, bảo lãnh thanh toán, bảo lãnh thuế, bảo lãnh phát hànhchứng khoán…

1.3.1.2 Kinh nghiệm của Nhật Bản:

Cách thức quản lý của chính phủ trong hoạt động bảo lãnh tín dụng và hình thức tổ chức của các hệ thống bảo lãnh tín dụng (CGS) Tại Nhật Bản,

tập đoàn tài chính Nhật Bản (JASME) là tổ chức trực tiếp quản lý hoạt độngbảo lãnh tín dụng của các CGS Được chính phủ tài trợ, tập đoàn không thựchiện bảo lãnh tín dụng trực tiếp mà cung cấp các chương trình bảo hiểm hiểmcho các CGS Hệ thống bảo lãnh tín dụng cho DNNVV Nhật Bản có haichức năng chính (i) bảo lãnh tín dụng: Chức năng này cho phép các công ty

Trang 27

thực hiện hoạt động bảo lãnh (CGS) bảo lãnh cho các DNNVV vay vốn trướccác TCTD Nhật Bản; (ii) bảo hiểm tín dụng trong đó JASME (do ngân sáchnhà nước cấp vốn hoạt động) sẽ tiến hành tái bảo hiểm cho khoản vay đãđược bảo lãnh này.

Về mặt quy trình thực hiện, các DNNVV muốn được bảo lãnh vay vốn

có thể nộp đơn đề nghị bảo lãnh trực tiếp đến CGS hoặc có thể gửi đơn thôngqua các TCTD Khi CGS đồng ý bảo lãnh cho một khoản vay của DNNVV,khoản vay này sẽ tự động được bảo hiểm bởi JASME Để được bảo hiểm cácCGS phải trả cho JASME một khoản phí Trong trường hợp các CGS nàyphải thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho các DNNVV, thì nó sẽ nhận đượcmột khoản có giá trị bằng 70-90% số tiền mà nó đã chi ra từ việc bán nợ choJFC Sau đó, khi thu được nợ từ các DNNVV, các CGS này lại trả lại mộtphần tiền cho JASME (70-90% khoản tiền) Điều này đóng vai trò then chốtđảm bảo cho các CGS duy trì được khả năng thanh toán, hạn chế rủi ro và mởrộng hoạt động bảo lãnh của họ

Về mức phí đối với hoạt động bảo lãnh: Mức phí cho một nghiệp vụ

bảo lãnh tín dụng phụ thuộc vào mức độ rủi ro của phương án kinh doanh củadoanh nghiệp Thông thường mức phí này thường giao động trong khoảng0,5 % đến 2,2% giá trị bảo lãnh phụ thuộc vào điểm xếp hạng tín dụng củadoanh nghiệp do hệ thống kiểm tra rủi ro tín dụng đánh giá Thêm vào đó,các DNNVV sẽ có thể được giảm một mức phí tối đa là 0,1% nếu đáp ứngđược đầy đủ các hồ sơ theo yêu cầu Đối với những phương án của các doanhnghiệp được thực hiện theo chính sách của nhà nước, chính quyền địaphương, mức phí sẽ được ưu đãi thấp hơn mức phí quy định

1.3.2 Bài học kinh nghiệm rút ra với Việt Nam:

Trên đây chỉ là 2 bài học kinh nghiệm về hệ thống bảo lãnh tín dụngtiêu biểu trên thế giới Với mô hình hiện đại ,hiệu quả các hệ thống này là

Trang 28

nền tảng vững chắc khiến cho các nước này có được một lực lượng cácDNNVV phát triển vững chắc Từ những kinh nghiệm của các tổ chức bảolãnh tín dụng ở Hàn Quốc, Nhật Bản và những kết luận từ những nghiên cứu

về một hệ thống bảo lãnh tín dụng có hiệu quả, có thể rút ra những tiêu chímang tính định hướng cho việc xây dựng một hệ thống bảo lãnh tín dụng ởViệt Nam như sau:

Một là, hệ thống bảo lãnh tín dụng phải do một cơ quan hợp pháp độc

lập quản lý

Hai là, về mô hình Quỹ BLTD có ba mô hình, đó là:

- Do Chính phủ thành lập, hoạt động vì mục tiêu phi lợi nhuận (như

mô hình hiện nay ở Việt Nam)

- Do các tổ chức hiệp hội thành lập (vốn hoạt động của Quỹ BLTD docác thành viên trong tổ chức hiệp hội đóng góp) nhằm bảo lãnh, trợ giúp cácDNNVV thành viên, hoạt động phi lợi nhuận

- Do các tổ chức, công ty thành lập, hoạt động kinh doanh chính là bảolãnh, trợ giúp các doanh nghiệp, doanh thu là từ phí thu được từ hoạt độngcấp BLTD và tư vấn, trợ giúp các khách hàng là các DNNVV, hoạt động vìmục đích lợi nhuận

Ba là, Chính sách bảo đảm tín dụng phải đảm bảo được lợi ích của các

bên như người bảo lãnh (Quỹ BLTD), người thụ hưởng bảo lãnh (TCTD) vàngười được bảo lãnh (DNNVV) Bên cạnh đó, cần xây dựng một hệ thốngchia sẻ rủi ro thích hợp giữa những người cho vay, đi vay,và bản thân cơquan đứng ra bảo lãnh Ngoài ra, nên tái bảo hiểm một phần thông qua nhàbảo lãnh

Bốn là, đội ngũ quản lý và nhân viên của Quỹ BLTD phải là những

người có kinh nghiệm

Trang 29

Năm là, cần xây dựng hệ thống phí thích hợp Ngoài ra, cần đào tạo và

cung cấp những hỗ trợ khác cho các DNNVV đi vay nhằm tạo điều kiện chocác doanh nghiệp này hoạt động kinh doanh có hiệu quả

CHƯƠNG II THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG BẢO LÃNH TÍN DỤNG CHO DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA TẠI QUỸ ĐẦU TƯ PHÁT

Quỹ ĐTPT Thành phố Hà Nội là tổ chức tài chính Nhà nước trực thuộcUBND Thành phố Hà Nội, được quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn,

cơ cấu tổ chức tại Quyết định số 28/2008/QĐ-UBND ngày 09/10/2008 củaUBND Thành phố Hà Nội Quỹ được thành lập nhằm mục đích tiếp nhận vốnngân sách, huy động vốn từ các tổ chức cá nhân trong và ngoài nước để đầu

tư phát triển xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội của Thành phố Quỹ có

tư cách pháp nhân, có vốn điều lệ, có bảng cân đối kế toán, có con dấu và tàikhoản riêng Quỹ chịu sự quản lý toàn diện các mặt công tác của UBNDThành phố Hà Nội, đồng thời, chịu sự chỉ đạo, kiểm tra, hướng dẫn về chuyênmôn, nghiệp vụ của Bộ Tài chính

Trang 30

Quỹ ĐTPT Thành phố Hà Nội có tên giao dịch quốc tế là: Hanoi Investment Fund for Development;

Tên viết tắt là: HANIF;

Trụ sở hiện nay tại: số 2 ngõ Phan Chu Trinh, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội.

Vốn điều lệ pháp định khi thành lập Quỹ là 1.000 tỷ đồng, sau khi hợpnhất được tăng lên 2.000 tỷ đồng (theo Quyết định số 2396/2008/QĐ-UBNDngày 04/12/2008 của UBND TP Hà Nội) Vốn điều lệ của Quỹ bao gồm vốnđiều lệ tiếp nhận từ Quỹ Phát triển Nhà ở thành phố Hà Nội và vốn tiếp nhận

từ ngân sách Thành phố cấp bổ sung trong hai năm đầu thành lập cho đủ 50%

số vốn điều lệ Số còn lại được Thành phố cân đối ngân sách và cấp bổ sungtrong những năm tiếp theo

Khung hành lang pháp lý cho hoạt động của Quỹ ĐTPT Thành phố Hà

Nội là các quy định tại Nghị định số 138/2007/NĐ-CP ngày 28/8/2007 của

Thủ tướng Chính phủ quy định tổ chức và hoạt động của Quỹ ĐTPT địa

phương và Nghị định số 37/32013/NĐ-CP ngày 22/4/2013 của Chính phủ

sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 138/2007/NĐ-CP ngày

28/8/2007; Thông tư số 139/2007/TT-BTC ngày 29/11/2007 của Bộ trưởng

Bộ Tài chính hướng dẫn cơ chế quản lý tài chính của Quỹ ĐTPT địa phương;

Quyết định 2396/2008/QĐ-UBND ngày 4/12/2008 của UBND TP Hà Nội

quy định về Điều lệ tổ chức và hoạt động của Quỹ ĐTPT Thành phố Hà Nội;

Quyết định 3386/QĐ-UBND ngày 26/7/2012 của UBND TP Hà Nội về việc

phê duyệt các nhóm đối tượng cho vay và khung lãi suất cho vay vốn điều lệcủa Quỹ ĐTPT Thành phố Hà Nội

Cơ chế hoạt động của Quỹ Đầu tư có sự kết hợp giữa một định chế tàichính công thuộc địa phương với định chế của một doanh nghiệp hoạt độngkinh doanh trong lĩnh vực tài chính Điều này thể hiện rõ trong mục tiêu xâydựng, phát triển Quỹ đầu tư trở thành một công cụ đầu tư tài chính chủ lực

Trang 31

của Thành phố nhằm thực hiện nhiệm vụ đầu tư kinh doanh theo mô hình củamột doanh nghiệp tài chính công, hoạt động trên nguyên tắc tự chủ về tàichính, đảm bảo an toàn và phát triển nguồn vốn, bù đắp chi phí và tự chịu rủi

ro Đồng thời, Quỹ đầu tư phải đảm nhận thực hiện các nhiệm vụ, yêu cầu dochính quyền thành phố Hà Nội giao nhằm thực hiện các mục tiêu, chươngtrình, chiến lược, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của thành phố Hà Nội vàcác mục tiêu khác

2.1.2 Hoạt động của Quỹ ĐTPT Thành phố Hà Nội:

Quỹ ĐTPT Thành phố Hà Nội vận hành theo chức năng, nhiệm vụđược quy định tại Nghị định số 138/2007/NĐ-CP ngày 28/8/2007 của Chínhphủ về tổ chức và hoạt động của Quỹ ĐTPT địa phương và Điều lệ tổ chức vàhoạt động được UBND Thành phố phê duyệt tại Quyết định số 2396/QĐ-UBND ngày 04/12/2008 và các Quyết định giao nhiệm vụ khác với nhữnghoạt động chính:

2.1.2.1 Huy động vốn:

Quỹ Đầu tư được phép huy động vốn trung và dài hạn đối với các tổchức, cá nhân trong và ngoài nước dưới các hình thức: vay các tổ chức, cánhân trong và ngoài nước thông qua hợp đồng vay vốn; Phát hành trái phiếuQuỹ theo quy định của pháp luật; Các hình thức huy động khác theo quy địnhcủa pháp luật

2.1.2.2 Đầu tư trực tiếp:

Quỹ được phép thực hiện hoạt động đầu tư trực tiếp với tư cách là chủđầu tư hoặc tham gia góp vốn với các tổ chức khác vào các dự án đầu tư kếtcấu hạ tầng thuộc các chương trình, chiến lược phát triển kinh tế - xã hội củathành phố Quỹ có thể thực hiện đầu tư theo các hình thức: BOT, BTO, BThoặc tìm kiếm dự án, thực hiện giai đoạn chuẩn bị đầu tư rồi chuyển nhượng

Trang 32

cho chủ đầu tư khác tiếp tục thực hiện đầu tư.

2.1.2.3 Cho vay đầu tư:

Đối tượng cho vay của Quỹ là các dự án đầu tư thuộc danh mục cáclĩnh vực kết cấu hạ tầng kinh tế- xã hội ưu tiên phát triển của thành phố đãđược UBND Thành phố ban hành sau khi có ý kiến chấp thuận của Hội đôngnhân dân Thành phố Danh mục này được lập căn cứ chiến lược phát triểnkinh tế- xã hội của Thành phố và thuộc danh mục các lĩnh vực đầu tư kết cấu

hạ tầng kinh tế- xã hội đã được ban hành kèm Nghị định số 37/2013/NĐ-CPngày 22/4/2013

2.1.2.4 Các hoạt động khác:

a) Góp vốn thành lập các tổ chức kinh tế:

Để thực hiện hoạt động đầu tư trực tiếp, Quỹ được góp vốn thành lậpcông ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty liên doanh theo quyđịnh của pháp luật

b) Nhận ủy thác:

Quỹ được nhận ủy thác quản lý nguồn vốn đầu tư, cho vay đầu tư vàthu hồi nợ, cấp phát vốn đầu tư cho các công trình, dự án từ Ngân sách nhànước, VDB, các doanh nghiệp và tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước thôngqua hợp đồng ủy thác

Quỹ nhận ủy thác quản lý hoạt động của các Quỹ do UBND thành phốgiao

Quỹ thực hiện phát hành trái phiếu chính quyền địa phương để huyđộng vốn cho ngân sách địa phương theo ủy quyền của UBND thành phố

c) Ủy thác:

Quỹ được ủy thác cho các TCTD và VDB thực hiện cho vay và thu hồi

nợ các dự án thuộc đối tượng vay vốn của Quỹ thông qua hợp đồng ủy thác

d) Bảo lãnh tín dụng cho DNNVV:

Trang 33

Hội đồng quản lý

Tổng Giám đốc

Phó Tổng Giám đốc Phó Tổng Giám đốc

Ban kiểm soát

Ban Quản lý dự ánPhòng Nghiệp vụ 1

Phòng Kế hoạch Tổng hợpPhòng Nghiệp vụ 6

Phòng Nghiệp vụ 2 Văn phòng

Văn phòng Phòng Kế toán Tài chính

Phòng Nghiệp vụ 5

Phó Tổng Giám đốc Phó Tổng Giám đốc

Phòng Nghiệp vụ 3 Phòng Nghiệp vụ 4

Quỹ đã hoàn thiện dự thảo Đề án Quỹ BLTD cho DNNVV thành phố

Hà Nội theo phương thức thành lập Quỹ BLTD đối với DNNVV và ủy tháccho Quỹ quản lý vốn, thực hiện nhiệm vụ bảo lãnh tín dụng đối với DNNVVtrên địa bàn Hà Nội

e) Thu hồi vốn ngân sách đã đầu tư tại các dự án cấp nước hoặc hạng mục cấp nước, hạng mục điện theo Quyết định số 21/2012/QĐ-UBND ngày 14/8/2012 của UBND Thành phố:

Quỹ xây dựng các biện pháp thực hiện và tổ chức công tác thu hồi vốnngân sách đã đầu tư tại các dự án cấp nước, hạng mục điện bàn giao cho cácdoanh nghiệp quản lý, khai thác sử dụng sau đầu tư trên địa bàn Thành phốđảm bảo đúng quy định

2.1.3 Cơ cấu tổ chức:

Trang 34

Biểu đồ 2.1: Cơ cấu tổ chức bộ máy của Quỹ ĐTPT Thành phố Hà Nội

Hội đồng quản lý Quỹ: thực hiện chức năng quản lý xem xét và thông

qua phương hướng hoạt động, kế hoạch huy động vốn, kế hoạch đầu tư, kếhoạch tài chính dài hạn và hàng năm để trình UBND Thành phố phê duyệt;thẩm định và thông qua báo cáo quyết toán của Quỹ và các chức năng kháctheo đúng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn đã được quy định trong Điều lệ tổchức và hoạt động của Quỹ Đầu tư Hội đồng quản lý hiện có 7 thành viên doUBND Thành phố quyết định, bao gồm: Phó Chủ tịch UBND - Chủ tịchHĐQL; Tổng Giám đốc Quỹ - Phó Chủ tịch thường trực HĐQL, Phó Giámđốc Sở Tài chính - Phó Chủ tịch HĐQL và Phó Giám đốc các Sở Xây dựng,

Sở Kế hoạch và đầu tư, Sở Quy hoạch kiến trúc, Sở Tài nguyên môi trườnglàm Ủy viên HĐQL

Ban Kiểm soát: là bộ phận giúp việc Hội đồng quản lý Quỹ ĐTPT

Thành phố Hà Nội để giúp Hội đồng quản lý thực hiện chức năng kiểm tra,giám sát các hoạt động của Quỹ Thông qua công tác kiểm tra, giám sát đểđánh giá một cách toàn diện, đầy đủ kết quả hoạt động của Quỹ, đồng thờiphát hiện những sai sót, khuyết điểm, những vướng mắc trong việc thựchiện các chính sách chế độ và nghiệp vụ hoạt động của Quỹ ĐTPT Thànhphố Hà Nội

Phòng Nghiệp vụ 1: có nhiệm vụ tiếp tục thực hiện giải ngân vốn ủy

thác của Ngân sách thành phố; quản lý phần vốn góp tại các doanh nghiệp doQuỹ góp vốn hoặc tham gia đầu tư; bảo lãnh tín dụng cho DNNVV trên địabàn TP Hà Nội

Phòng Nghiệp vụ 2: có nhiệm vụ thẩm định các hồ sơ đầu tư, cho vay;

trực tiếp và phối hợp với các phòng liên quan trong quá trình thẩm định, giải

Trang 35

quyết cho vay và quản lý khoản vay; Thu hồi vốn ngân sách đã đầu tư tại các

dự án cấp nước hoặc hạng mục cấp nước, hạng mục điện theo Quyết định số21/2012/QĐ-UBND ngày 14/8/2012 của UBND Thành phố

Phòng Nghiệp vụ 3: có nhiệm vụ thẩm định các hồ sơ đầu tư, cho vay;

trực tiếp và phối hợp với các phòng liên quan trong quá trình thẩm định, giảiquyết cho vay và quản lý khoản vay

Phòng Nghiệp vụ 4: có nhiệm vụ kiểm tra, thẩm định các hồ sơ đầu tư,

cho vay; xây dựng cơ cấu, chính sách, soạn thảo quy trình quản lý rủi ro, biệnpháp quản lý rủi ro; trực tiếp tham gia theo dõi việc thực hiện chính sách quản

lý rủi ro tại Quỹ; trực tiếp thẩm định đánh giá rủi ro đối với từng khoản vay,từng hoạt động của Quỹ

Phòng Nghiệp vụ 5: thực hiện nhiệm vụ đầu tư trực tiếp gồm xây dựng

kế hoạch đầu tư trực tiếp, thẩm định các dự án đầu tư trực tiếp, quản lý các banquản lý dự án

Phòng Nghiệp vụ 6: thực hiện nhiệm vụ huy động vốn trong và ngoài

nước

Ban quản lý dự án: lập, thực hiện và quản lý các dự án đầu tư trực tiếp.

2.1.4 Kết quả hoạt động kinh doanh:

2.1.4.1 Kết quả hoạt động chung:

Trong thời gian từ khi được thành lập đến nay, Quỹ đã đạt được nhữngkết quả nhất định, phát huy vai trò của Quỹ trong lĩnh vực đầu tư phát triển,góp phần vào công cuộc phát triển cơ sở hạ tầng đô thị Quỹ đã thực hiện tiếpcận doanh nghiệp, hướng dẫn doanh nghiệp lập hồ sơ vay vốn theo đúng quyđịnh, thực hiện phương thức giao dịch một cửa tránh gây phiền hà cho doanhnghiệp khi liên hệ vay vốn và giải ngân các nguồn vốn uỷ thác của Thànhphố, Đối với mọi dự án đầu tư, Quỹ đều thực hiện nghiêm túc việc lập hồ sơxét duyệt theo đúng quy định, trình tự thủ tục của Nhà nước

Trang 36

Tuy nhiên, vốn điều lệ của Quỹ chưa thực sự phát huy được vai trònguồn vốn “mồi” để huy động các nguồn vốn thuộc các thành phần kinh tếkhác trên địa bàn Một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng này là cơchế chính sách về huy động vốn còn bị bó buộc, chậm được pháp luật hoá.Đồng thời Quỹ phải thực hiện nhiệm vụ chính trị do UBND thành phố giao làhuy động vốn hoặc cho vay một số dự án phục vụ dân sinh xã hội không thuhút các thành phần kinh tế tham gia, nhất là các NHTM.

Đơn vị: Triệu đồng

T

T Chỉ tiêu

Năm 2011

Năm 2012

Năm 2013

Năm 2014

Năm 2015

Bảng 2.1: Kết quả hoạt động kinh doanh của Quỹ giai đoạn 2011-2015

(Nguồn: Quỹ ĐTPT Thành phố Hà Nội)

Sau khi sáp nhập với Quỹ ĐTPT tỉnh Hà Tây năm 2008, từ đó đến nay,Quỹ đã được nhờ kết quả hoạt động SXKD đã bổ sung vốn chủ sở hữu choQuỹ Đến nay, vốn chủ sở hữu của tại Quỹ đã đạt hơn 2.700 tỷ đồng (vượtvốn điều lệ như tại Quyết định thành lập Quỹ) Trong giai đoạn này, kết quảhoạt động hàng năm của Quỹ đều đạt so với chỉ tiêu đề ra, đóng góp đáng kểvào ngân sách thành phố

Trang 37

Trong giai đoạn từ 2011-2015, vốn chủ sở hữu của Quỹ liên tục tăng dođược bổ sung từ nguồn lợi nhuận sau thuế Tuy nhiên, doanh thu của Quỹ có

sự sụt giảm đáng kể trong giai đoạn từ 2011 đến 2015 từ năm 234,5 tỷ đồngxuống còn 149,8 tỷ đồng Điều này là do chính sách tiền tệ của ngân hàng nhànước trong việc áp dụng trần lãi suất tiền gửi và hạ lãi suất tín dụng đầu tưnhà nước Điều này kéo theo doanh thu của Quỹ giảm do doanh thu của Quỹđến chủ yếu từ hai hoạt động cho vay và lãi tiền gửi

Đơn vị: Triệu đồng

T

T Chi tiêu

Năm 2011

Năm 2012

Năm 2013

Năm 2014

Năm 2015

(Nguồn: Quỹ ĐTPT Thành phố Hà Nội)

Trang 38

Trong cơ cấu doanh thu của Quỹ có sự dịch chuyển đang kể từ năm

2011 doanh thu chủ yếu đến từ lãi tiền gửi đến năm 2015 thì doanh thu từhoạt động cho vay đạt 92,8 tỷ đồng lớn doanh thu từ hoạt động tiền gửi là55,76 tỷ đồng cho thấy hoạt động cho vay của Quỹ đang được mở rộng Tuynhiên, doanh thu sút giảm ngoài yếu tố khách quan do chính sách tiền tệ củangân hàng nhà nước Còn cho thấy, việc chỉ sử dụng chủ yếu vốn chủ sỡ hữu,chưa huy động được cách nguồn vốn bên ngoài đã làm cho doanh thu củaQuỹ phụ thuộc rất lớn vào biến động của lãi suất

Chi phí hoạt động giai đoạn 2011-2015 của Quỹ nhìn chung không có

sự biến động lớn do một phần đặc điểm hoạt động của Quỹ chi phí hoạt độngchủ yếu là chi phí quản lý trả lương cho cán bộ nhân viên nên ít có sự biếnđộng lớn

Trong giai đoạn 2011-2015, lợi nhuận của Quỹ đạt cao nhất vào năm

2011 với 164,241 tỷ đồng do năm này cũng là năm đạt doanh thu cao nhất.Khả năng sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE) cũng đạt tỷ lệ cao nhất là 8,4%.Khả năng sinh lời trên tổng tài sản (ROA) năm 2011 là 6,1% Các năm tiếptheo, do kết quả SXKD giảm dần nên khả năng sinh lời trên vốn chủ sở hữucũng giảm trung bình khoảng 14-15% mỗi năm Đến năm 2015, khả năngsinh lời trên vốn chủ sở hữu của Quỹ giảm còn 4,75% Đối với khả năng sinhlời trên tổng tài sản, do tổng tài sản năm 2012 của Quỹ giảm nên tỷ lệ này củanăm vẫn tăng, đạt 6,47% Từ năm 2013 đến 2012, lợi nhuận Quỹ tiếp tụcgiảm, tổng tài sản tăng nên khả năng sinh lời trên tổng tài sản giảm còn đạt4,26%

2.1.4.2 Kết quả hoạt động cụ thể:

a) Hoạt động huy động vốn:

Huy động vốn là một khâu rất quan trọng cho hoạt động đầu tư pháttriển của Quỹ, và vốn điều lệ của Quỹ chính là nguồn vốn đối ứng để huy

Trang 39

động các nguồn vốn khác tham gia vào hoạt động của Quỹ Tuy nhiên, số vốnhuy động này còn rất khiêm tốn, vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu vay vốnngày càng tăng của kinh tế thành phố.

Đối với các tổ chức tài chính và tín dụng trong nước, Quỹ đã làm việcvới Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam, Ngân hàng TMCP Đầu tư vàPhát triển Việt Nam (BIDV), Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam(Vietinbank), Ngân hàng TMCP Bảo Việt (BaoVietbank), Ngân hàng TMCPQuân đội (MB) để hợp tác và hỗ trợ Quỹ trong việc triển khai vay vốn một số

dự án thuộc lĩnh vực ĐTXD nhà tái định cư, ĐTXD cơ sở vật chất của các cơ

sở kinh doanh Tuy nhiên nguồn vốn huy động này còn hạn chế

Đơn vị: Triệu đồng

Nguồn huy động Năm

2011

Năm 2012

Năm 2013

Năm 2014

Năm 2015

Ngân hàng Vietcombank 1.950 1.286 744 0 0

Bảng 2.3 Kết quả hoạt động huy động vốn của Quỹ giai đoạn 2011-2015

(Nguồn: Quỹ ĐTPT Thành phố Hà Nội)

Ngoài ra, Quỹ cũng đã làm việc với các tổ chức tài chính nước ngoàinhư Ngân hàng Thế giới (WB), Ngân hàng hợp tác quốc tế Nhật Bản (JBIC)

để huy động vốn và đã được các tổ chức tài chính này ghi nhận tài trợ vốn đầu

tư các dự án cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội cho Thành phố

Đối với nguồn vốn WB, Quỹ tham gia dự án hỗ trợ kỹ thuật, nâng caonăng lực của các Quỹ ĐTPT địa phương Theo đó, Quỹ sẽ nhận nợ vay với

Bộ Tài chính để cho vay lại các dự án hoặc trực tiếp thực hiện đầu tư Quỹ đã

đề xuất Thành phố, Bộ Tài chính, WB sử dụng nguồn vốn này đầu tư 02 dự

án (dự án xây dựng trường tư thục quốc tế tại khu đô thị Văn Quán và dự ánkhu xử lý rác thải huyện Đông Anh) Tuy nhiên, các dự án này chưa hoàn

Trang 40

thành được thủ tục đáp ứng yêu cầu cho vay của WB nên đến nay vẫn chưa

ký được HĐTD

Đối với nguồn vốn JBIC, Quỹ đã ký hợp tác với Ngân hàng JBIC NhậtBản thống nhất phối hợp nghiên cứu thực hiện đầu tư vốn cho các dự án theohình thức PPP, cho vay ưu đãi có bảo lãnh của Chính phủ nhằm tới các dự ánkết cấu hạ tầng giao thông đô thị

b) Hoạt động đầu tư:

Từ năm 2010, Quỹ đã chủ động tìm kiếm và làm việc với các tổ chứctài chính và nhà đầu tư quốc tế để kêu gọi nguồn lực đầu tư về cho Thành phốthông qua các hình thức: đầu tư hợp tác công tác (PPP) và đầu tư trực tiếp.Đến nay, Thành phố đã giao Quỹ thực hiện các dự án:

5.000 tỷđồng

Quỹ đang phối hợp với Viện QHXD quy hoạchphân khu 1/2000 và kêugọi đầu tư từ Nhật Bản

Bảng 2.4 Danh mục dự án đầu tư Quỹ đang thực hiện

(Nguồn: Quỹ ĐTPT Thành phố Hà Nội) c) Hoạt động cho vay:

Giai đoạn trước năm 2011, các dự án vay vốn từ Quỹ chủ yếu đềuthuộc lĩnh vực ĐTXD cơ sở hạ tầng, nhà ở tái định cư và nhà ở xã hội Từ

Ngày đăng: 26/02/2017, 21:43

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
15. Quỹ Đầu tư phát triển Thành phố Hà Nội (2015), Báo cáo tài chính đã được kiểm toán tại Quỹ ĐTPT Thành phố Hà Nội năm 2011, 2012, 2013, 2014, 2015.Website cung cấp thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tài chínhđã được kiểm toán tại Quỹ ĐTPT Thành phố Hà Nội năm 2011, 2012, 2013,2014, 2015
Tác giả: Quỹ Đầu tư phát triển Thành phố Hà Nội
Năm: 2015
1. Cổng thông tin điện tử Chính phủ: http://www.chinhphu.vn/ Link
2. Cổng thông tin điện tử Bộ Tài chính: http://www.mof.gov.vn/ Link
3. Cổng thông tin điện tử Bộ Kế hoạch & Đầu tư:http://www.mpi.gov.vn/ Link
4. Cổng thông tin điện tử Ngân hàng nhà nước Việt Nam:http://www.sbv.gov.vn/ Link
5. Thư viện pháp luật: http://thuvienphapluat.vn/ Link
6. Kênh thông tin kinh tế - tài chính Việt Nam: http://cafef.vn/ Link
7. Báo điện tử Vietnamnet: http://vietnamnet.vn/ Link
8. Công cụ tìm kiếm thông tin: https://www.google.com.vn/ Link
1. Chính phủ (2001), Nghị định số 90/2001/NĐ-CP về trợ giúp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa Khác
2. Chính phủ (2019), Nghị định số 56/2009/NĐ-CP về trợ giúp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa Khác
3. Thủ tướng (2001), Quyết định số 193/2001/QĐ-TTg Quy chế thành lập, tổ chức và hoạt động của Quỹ Bảo lãnh tín dụng cho doanh nghiệp Khác
4. Thủ tướng (2004), Quyết định số 115/2004/QĐ-TTg về sửa đổi bổ sung Quyết định số 193/2001/QĐ-TTg Khác
5. Thủ tướng (2009), Quyết định số 14/2009/QĐ-TTg về ban hành Quy chế bảo lãnh cho doanh nghiệp vay vốn của ngân hàng thương mại Khác
6. Thủ tướng (2009), Quyết định số 60/2009/QĐ-TTg về sửa đổi bổ sung Quyết định số 14/2009/QĐ-TTg Khác
7. Thủ tướng (2011), Quyết định số 03/2011/QĐ-TTg về Quy chế bảo lãnh cho doanh nghiệp nhỏ và vừa Khác
8. Thủ tướng (2013), Quyết định số 58/2013/QĐ-TTg về ban hành Quy chế thành lập, tổ chức và hoạt động của Quỹ Bảo lãnh tín dụng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa Khác
9. Bộ Tài chính (2004), Thông tư số 93/2004/TT-BTC về hướng dẫn một số nội dung Quy chế thành lập, tổ chức và hoạt động của Quỹ bảo lãnh tín dụng cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa Khác
10. Ngân hàng nhà nước (2006), Thông tư số 01/2006/TT-NHNN về hướng dẫn một số nội dung về góp vốn thành lập Quỹ bảo lãnh tín dụng cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa Khác
11. Bộ Kế hoạch & Đầu tư (2013), Thống kê về tình hình doanh nghiệp Việt Nam 2001-2013 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.1 Trọng số của các nhóm chỉ tiêu tài chính - Hoạt động bảo lãnh tín dụng cho DNNVV tại quỹ ĐTPT thành phố hà nội   thực trạng và giải pháp
Bảng 3.1 Trọng số của các nhóm chỉ tiêu tài chính (Trang 74)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w