Khái niệm NHTM Theo điều 20 khoản 2 và 7 trong Luật các tổ chức tín dụng 12/12/1997 của Việt Nam quy định: “Ngân hàng thương mại là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt
Trang 1Mục lục Lời mở đầu
Mục lục 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HUY ĐỘNG VỐN 1
Ở NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC HUY ĐỘNG VỐN 10
TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN CÔNG THƯƠNG – CHI NHÁNH NAM THĂNG LONG 10
2.1.4 Kết quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng Viettinbank chi nhánh Nam Thăng Long từ năm 2014-2014 12
(Nguồn: Bảng kết quả hoảt động kinh doanh của ngân hàng Viettinbank chi nhánh Nam Thăng Long từ năm 2012-2014) 13
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HUY ĐỘNG VỐN 32
TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM – CN NAM THĂNG LONG 32
Kết luận
Trang 2CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HUY ĐỘNG VỐN
Ở NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 Khái niệm và vai trò của NHTM trong nền kinh tế thị trường
1.1.1 Khái niệm NHTM
Theo điều 20 khoản 2 và 7 trong Luật các tổ chức tín dụng (12/12/1997) của
Việt Nam quy định: “Ngân hàng thương mại là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động kinh doanh khác có liên quan Hoạt động ngân hàng
là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi, sử dụng số tiền này để cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán”.
1.1.2 Vai trò của NHTM
1.1.2.1 Là nơi cung cấp vốn cho nền kinh tế
Khi các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế cần có vốn để đầu tư mua sắm tư liệu sản xuất, phương tiện để sản xuất kinh doanh… mà nhu cầu về vốn của họ luôn luôn lớn hơn vốn tự có, do đó cần phải tìm đến những nguồn vốn từ bên ngoài Mặt khác lại có một lượng vốn nhàn rỗi do quá trình tiết kiệm, tích luỹ của cá nhân, tổ chức khác…
1.1.2.2 Là cầu nối doanh nghiệp và thị trường
Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, hoạt động của các doanh nghiệp chịu
sự tác động mạnh mẽ của các quy luật kinh tế như: quy luật giá trị, quy luật cung cầu, quy luật cạnh tranh… và sản xuất phải trên cơ sở thoả mãn nhu cầu thị trường
về mọi phương diện không chỉ: giá cả, khối lượng, chất lượng mà còn đòi hỏi thoả mãn trên phương diện thời gian, địa điểm… Vì vậy, doanh nghiệp không những cần phải nâng cao chất lượng lao động, củng cố và hoàn thiện cơ cấu kinh tế, chế
độ hạch toán kinh tế mà còn phải không ngừng cải tiến máy móc thiết bị, đưa công nghệ mới vào sản xuất, tìm tòi và sử dụng nguyên vật liệu mới, mở rộng quy mô sản xuất một cách thích hợp, những hoạt động này đòi hỏi phải có một lượng vốn đầu tư lớn để đáp ứng được điều đó thì chỉ có ngân hàng
1.1.2.3 Là công cụ để nhà nước điều tiết vĩ mô nền kinh tế
Hệ thống NHTM hoạt động có hiệu quả sẽ thực sự là công cụ hữu hiệu để nhà nước điều tiết vĩ mô nền kinh tế Thông qua hoạt động tín dụng và hoạt động thanh toán giữa các NHTM trong hệ thống, NHTM đã góp phần mở rộng hay thu
Trang 3hẹp lượng tiền trong lưu thông Hơn nữa, bằng việc cấp tín dụng cho nền kinh tế, NHTM đã thực hiện việc dẫn dắt các luồng tiền, tập hợp và phân phối vốn trên thị trường, điều khiển chúng một cách hiệu quả, đảm bảo cung cấp đầy đủ kịp thời nhu cầu cho quá trình tái sản xuất cũng như thực thi vai trò điều tiết gián tiếp vĩ mô nền kinh tế góp phần thực hiện các mục tiêu của chính sách tiền tệ quốc gia đúng theo
phương châm: “Nhà nước điều tiết ngân hàng, ngân hàng dẫn dắt thị trường”.
1.1.2.4 Là cầu nối nền tài chính quốc gia và nền tài chính quốc tế
Ngày nay, trong xu hướng toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới với việc hình thành hàng loạt các tổ chức kinh tế, các khu vực mậu dịch tự do, làm cho các mối quan hệ thương mại, lưu thông hàng hoá giữa các quốc gia trên thế giới ngày càng được mở rộng và trở nên cần thiết, cấp bách Việc phát triển kinh tế ở các quốc gia luôn gắn liền với sự phát triển của nền kinh tế thế giới và NHTM là một bộ phận cấu thành nên sự phát triển đó Vì vậy nền tài chính của mỗi quốc gia cũng phải hoà nhập với nền tài chính quốc tế và NHTM với các hoạt động của mình đã đóng góp vai trò vô cùng quan trọng trong sự hoà nhập ấy
1.2 Cơ cấu nguồn vốn kinh doanh của ngân hàng
Căn cứ vào tính chất kinh tế, nguồn vốn kinh doanh của NHTM được chia làm hai bộ phận cơ bản, bao gồm: nguồn vốn tự có của ngân hàng và nguồn vốn huy động hay còn gọi tài sản nợ
1.2.1 Nguồn vốn của ngân hàng
Căn cứ vào cơ chế tạo lập, nguồn vốn của ngân hàng được chia thành các bộ phận sau:
1.2.1.1 Vốn điều lệ
Đây là số vốn mà ngân hàng phải có để đi vào hoạt động và được ghi vào điều lệ Tuỳ theo loại hình ngân hàng mà nó được hình thành từ những nguồn khác nhau như: NHTM quốc doanh do ngân sách nhà nước cấp; NHTM cổ phần do cổ đông góp vốn; ngân hàng lien doanh do các đối tác góp vốn… Là lĩnh vực kinh doanh có ngành nghề, do vậy vốn điều lệ của ngân hàng phải lớn hơn hoặc bằng vốn pháp định do NHTW quy định
Trong quá trình kinh doanh, vốn điều lệ thường xuyên được bổ sung Quá trình này được thực hiện qua 2 phương thức cơ bản:
Trang 4- Phương thức tích tụ: Bắt nguồn từ các quỹ trong đó chủ yếu nhất là quỹ
bổ sung vốn điều lệ, quỹ phát triển kỹ thuật nghiệp vụ ngân hàng Quy mô và tiến
độ thực hiện quá trình này phụ thuộc vào kết quả hoạt động kinh doanh và tỷ lệ trích lập của các quỹ trong phương án phân phối lợi nhuận của NHTM trong kỳ
- Phương thức tập trung vốn: Trong những thời điểm cụ thể, cần thiết phải
tăng vốn điều lệ theo quy định của NHTW hoặc thực hiện chiến lược phát triển quy
mô kinh doanh trong tương lai mà nguồn vốn từ cụ thể thực hiện qua các hình thức:
bổ sung thêm từ ngân sách nhà nước; mở rộng liên doanh; phát hành cổ phiếu…
1.2.1.2 Các quỹ và lợi nhuận chưa phân phối
a Quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ
b Quỹ dự phòng tài chính
c Quỹ đầu tư phát triển nghiệp vụ
d Lợi nhuận không chia
Các quỹ này được trích từ lợi nhuận ròng hàng năm theo tỷ lệ quy định Ngoài
ra, ngân hàng còn trích lập các quỹ sự nghiệp khác nhằm thực hiện chính sách khuyến khích lợi ích vật chất đối với người lao động trong ngân hàng và các chính sách xã hội như: quỹ phúc lợi khen thưởng, quỹ trợ cấp thôi việc, quỹ hữu trí…
1.2.2 Nguồn vốn huy động
1.2.2.1 Nghiệp vụ huy động tiền gửi
Thông qua các nghiệp vụ nhận tiền gửi thường xuyên, ngân hàng đã huy động được một lượng vốn lớn từ khách Căn cứ vào thời gian gửi tiền và mục đích của khách hàng, có thể chia nguồn vốn này thành các bộ phận sau:
a Tiền gửi không kỳ hạn
Với loại này, người gửi có thể gửi tiền vào và rút ra bất cứ lúc nào khi có nhu cầu, như thế ngân hàng sẽ rất khó kế hoạch hoá việc sử dụng loại tiền này, nên loại tiền này luôn có số dư, lãi suất thấp vì thế khách hàng thường duy trì số dư trong tài khoản tiền gửi thanh toán không nhiều, chỉ vừa đủ để đáp ứng nhu cầu chi trả của mình Khách hàng có thể yêu cầu ngân hàng trích tiền trên tài khoản để chuyển trả cho người thụ hưởng, chuyển số tiền được hưởng vào tài khoản này Mục đích chính của người gửi tiền là nhằm đảm bảo an toàn về tài sản và thực hiện
các khoản thanh toán qua ngân hàng, do vậy, nó còn dược gọi là tiền gửi thanh toán.
b Tiền gửi có kỳ hạn
Trang 5Các khoản tiền gửi có kỳ hạn được đặc trưng bằng chứng chỉ tiền gửi ghi rõ thời gian đáo hạn và số lượng Khách hàng chỉ được rút ra sau một thời gian nhất định theo kỳ hạn đã được thoả thuận khi gửi tiền Tuy nhiên, ngân hàng có thể giải quyết cho khách hàng rút trước hạn khi có yêu cầu, nhưng phải bị phạt tiền bằng việc chuyển từ mức lãi suất tiền gửi có kỳ hạn sang áp dụng mức lãi suất không kỳ hạn thấp hơn Đối với các loại tiền gửi có kỳ hạn mục đích của người gửi tiền là lợi tức, không quan tâm đến việc tận dụng những tiện ích thanh toán do ngân hàng cung cấp Vì vậy, để tăng tỷ lệ vốn huy động có kỳ hạn ngân hàng có thể sử dụng công cụ lãi suất và các chính sách khuyến khích lợi ích vật chất khác như xổ số hoặc bốc thăm trúng thưởng… để tạo ra sự quan tâm thu hút khách hàng, đặc biệt
là nhóm khách hàng cá nhân
c Tiền gửi tiết kiệm
Ở Việt Nam, hình thức gửi tiền tiết kiệm phổ biến là:
- Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn: Là loại mà khách hàng có thể gửi nhiều lần và rút một phần hay toàn bộ theo yêu cầu do vậy loại tiền này thường có lãi suất thấp Tuy nhiên, khác với tiền gửi thanh toán, người gửi không được sử dụng các công cụ thanh toán để chi trả cho người khác
- Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn: Là loại tiền gửi được rút ra sau một thời gian nhất định Tuy nhiên, nếu khách hàng có nhu cầu rút trước hạn cũng có thể được đáp ứng nhưng phải chịu lãi suất thấp
- Tiền gửi tiết kiệm có mục đích: Thông thường, đây là hình thức tiết kiệm trung và dài hạn, người tham gia ngoài việc được ngân hàng trả lãi còn được ngân hàng cấp tín dụng nhằm mục đích bổ sung thêm vốn để mua sắm các phương tiện phục vụ nhu cầu tiêu dùng
1.2.2.2 Nguồn vốn đi vay
a Phát hành các chứng từ có giá
Giống như các doanh nghiệp, ngân hàng cũng huy động vốn bằng cách chủ động phát hành các giấy tờ có giá như kỳ phiếu, trái phiếu, tín phiếu ngân hàng để huy động vốn nhằm thực hiện những dự án đầu tư đã định
Các công cụ nợ của ngân hàng là các giấy nhận nợ mà ngân hàng bán cho công chúng như:
Tín phiếu ngân hàng: Đây là công cụ nợ ngân hàng dùng để huy động những
Trang 6khoản vốn ngắn hạn.
Kỳ phiếu, trái phiếu ngân hàng: Là những công cụ nợ mà ngân hàng dùng để huy động những khoản vốn trung – dài hạn Việc huy động vốn dưới hình thức phát hành kỳ phiếu ngân hàng được thực hiện theo hai phương thức: phát hành theo mệnh giá, phát hành bằng hình thức chiết khấu
b Vay của các ngân hàng và các trung gian tài chính khác
Qua thị trường tiền tệ liên ngân hàng, ngân hàng có thể khai thác các khoản vốn nhàn rỗi từ các ngân hàng, tổ chức tín dụng khác Hoạt động vay mượn này nhằm mục đích điều hoà nhu cầu vốn khả dụng và đảm bảo nguồn vốn lưu chuyển thông suốt liên tục trong hệ thống ngân hàng Chi phí của nguồn vốn này thường cao và thời gian sử dụng thường ngắn Các ngân hàng cho nhau vay dưới các hình thức: vay qua đêm, vay kỳ hạn, hợp đồng gia hạn
c Vay của ngân hàng trung ương
Bất kỳ NHTM nào khi được NHTW cấp phép hoạt động đều được vay vốn tại NHTW trong trường hợp cần bổ sung vốn khả dụng theo hạn mức tín dụng được cấp Nghiệp vụ vay vốn này được NHTW thực hiện dưới hình thức phổ biến là tái cấp vốn, bao gồm tái chiết khấu các loại giấy tờ có giá và cho vay cầm cố hay thế chấp Khoản vay này liên quan đến lượng tiền cung ứng của NHTW, đến việc thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia, đảm bảo an toàn hệ thống ngân hàng
1.2.3 Các yếu ảnh hưởng đến nguồn vốn huy động
1.2.3.1 Nhân tố khách quan
a Môi trường pháp lý – pháp luật
Hoạt động của ngân hàng chịu sự quản lý chặt chẽ bởi khuôn khổ pháp lý, các chính sách, các quy định của chính phủ, của NHTW… Trong sự ràng buộc về
Trang 7luật pháp này thì các yếu tố của nghiệp vụ huy động vốn chắc chắn sẽ bị thay đổi
và kết quả làm ảnh hưởng đến quy mô và hiệu quả của việc huy động vốn, bởi khi chính sách của nhà nước, của NHTW như: chính sách tiền tệ, tài chính, lãi suất, tín dụng thay đổi sẽ ảnh hưởng đến khả năng thu hút vốn cũng như chất lượng nguồn vốn của NHTM
b Môi trường kinh tế - chính trị - xã hội
Trong các hoạt động ngân hàng thì hoạt động huy động vốn và sử dụng vốn luôn bị các chỉ tiêu kinh tế như: tốc độ tăng trưởng, thu nhập, tình trạng thất nghiệp, lạm phát… tác động trực tiếp Khi nền kinh tế tăng trưởng, sản xuất phát triển tạo điều kiện tích luỹ nhiều hơn, do đó tạo môi trường thu hút vốn của ngân hàng thuận lợi Ngược lại, khi nền kinh tế suy thoái, lạm phát tăng làm cho môi trường đầu tư của ngân hàng bị thu hẹp khiến quá trình tạo vốn của ngân hàng gặp khó khăn
c Môi trường dân số
Môi trường dân số là yếu tố rất quan trọng bởi vì nó không chỉ tạo thành kết cấu nhu cầu của dân cư về sản phẩm dịch vụ ngân hàng mà còn là căn cứ để hình thành hệ thống phân phối của ngân hàng Cơ cấu dân số theo độ tuổi, giới tính, thu nhập, mức sống của người dân… là cơ sở để xây dựng và điều chỉnh hoạt động huy động vốn của ngân hàng Do đó ngân hàng phải nghiên cứu kỹ lưỡng môi trường dân số trước khi đưa ra chiến lược huy động vốn phù hợp
d Môi trường địa lý
Môi trường địa lý được xác định bởi quy định của quốc tế để hình thành quốc gia và quy định từng quốc gia trong việc hình thành các tỉnh, huyện xã, thành phố, nông thôn… tuỳ từng khu vực địa lý mà ngân hàng quyết định đặt nhiều hay ít điểm huy động vốn và quyết định chiến lược huy động ở mỗi khu vực vì mỗi khu vực có số dân và điều kiện khác nhau
e Môi trường công nghệ
Hoạt động ngân hàng là một trong những hoạt động chịu sự tác động mạnh
mẽ của công nghệ đặc biệc là công nghệ thông tin
Công nghệ mới cho phép ngân hàng đổi mới quy trình nghiệp vụ, cách thức phân phối sản phẩm, phát triển các sản phẩm mới… nhờ có công nghệ mà hoạt
Trang 8động huy động vốn được cải tiến, phát triển, rút ngắn thời gian giao dịch và thực hiện nghiệp vụ chính xác…
f Môi trường văn hóa
Môi trường văn hoá là yếu tố quyết định đến tập quán, thói quen, tâm lý… trong việc sử dụng tiền của dân cư Và những tập quán tiêu dùng này sẽ ảnh hưởng đến nghiệp vụ tạo vốn của ngân hàng Nếu ở những vùng mà người dân quen sử dụng tiền nhàn rỗi dưới hình thức cất trữ thì việc huy động vốn của ngân hàng sẽ gặp rất nhiều khó khăn Hơn nữa, mức độ chấp nhận rủi ro của xã hội, thói quen tích luỹ ảnh hưởng dến quyết định của những thành viên trong xã hội về phương thức tiêu dùng và tiết kiệm, giữ tiền ở nhà, đầu tư vào chứng khoán hoặc bất động sản…
1.2.3.2 Nhân tố chủ quan
a Chiến lược kinh doanh của ngân hàng
Chiến lược kinh doanh được xây dựng dựa trên việc ngân hàng xác định vị trí hiện tại của mình trong hệ thống, thấy được điểm mạn, điểm yếu, cơ hội, thách thức, đồng thời dự đoán được sự thay đổi của môi trường kinh doanh trong tương lai
b Chính sách lãi suất cạnh tranh
Chính sách lãi suất cạnh tranh bao gồm lãi suất cạnh tranh huy động và lãi suất cạnh tranh cho vay là một chính sách quan trọng của ngân hàng Các NHTM không chỉ cạnh tranh giành vốn với nhau mà còn cạnh tranh với các tổ chức kinh tế khác trên thị trường vốn
c Chính sách khách hàng
Trong công tác khách hàng, ngân hàng thường chia khách hàng ra làm nhiều nhóm để có cách phục vụ phù hợp Với những khách hàng lâu năm, giao dịch thường xuyên, có số dư tiền gửi lớn, gây được tín nhiệm với ngân hàng thì ngân hàng sẽ có chính sách phù hợp về thời hạn và lãi suất…
d Các hình thức huy động vốn của ngân hàng
Hình thức huy động vốn của ngân hàng càng đa dạng, phong phú, linh hoạt bao nhiêu thì khả năng thu hút vốn từ nền kinh tế càng lớn bấy nhiêu Điều này xuất phát từ sự khác nhau về nhu cầu và tâm lý của các tầng lớp dân cư Mức độ đa dạng của hình thức huy động càng cao thì càng dễ dàng đáp ứng một cách tốt nhất nhu cầu của dân cư và họ đều tìm thấy cho mình một hình thức gửi tiền phù hợp mà
Trang 9lại an toàn.
e Các dịch vụ do ngân hàng cung ứng
Một ngân hàng có dịch vụ tốt hiển nhiên thì sẽ có nhiều lợi thế hơn các ngân hàng khác Các ngân hàng luôn phấn đấu nâng cao chất lượng, đa dạng hoá các dịch vụ để đáp ứng nhu cầu của khách hàng và thu tăng thu nhập của ngân hàng Khác với cạnh tranh về lãi suất, cạnh tranh về dịch vụ ngân hàng không có giới hạn
do vậy đây chính là điểm mạnh để các ngân hàng vươn lên trong cạnh tranh
f Chính sách phục vụ, quảng cáo
Ngày nay khó có thể duy trì sự khác biệt về sản phẩm và giá cả nên chiến lược phục vụ và quảng cáo trở thành yếu tố vô cùng quan trọng để thu hút khác hàng Thái độ phục vụ thân thiện, chu đáo là điều kiện để thu hút khách hàng, chiến lược quảng cáo phù hợp sẽ giúp ngân hàng có nhiều khách hàng mới Do đó để có
uy tín trên thị trường, giữ vững mối quan hệ với khách hàng truyền thống và thu hút khách hàng mới, ngân hàng phải không ngừng nâng cao chất lượng phục vụ, có chiến lược quảng cáo hợp lý để nhiều người biết đến ngân hàng và sản phẩm dịch
vụ của mình
1.2.4 Một số chỉ tiêu đánh giá hiệu quả huy động vốn của ngân hàng
1.2.4.1 Chỉ tiêu Vốn huy động / Tổng nguồn vốn (%)
Tỷ lệ này thể hiện được năng lực huy động vốn của ngân hàng như thế nào, có khả năng huy động mạnh hay yếu, đồng thời nó chiếm bao nhiêu phần trăm
so với tổng nguồn vốn
1.2.4.2 Chỉ tiêu từng loại tiền gửi / Tổng tiền gửi (%)
Chỉ tiêu này xác định cơ cấu vốn huy động của ngân hàng, giúp ngân hàng hạn chế những rủi ro có thể gặp phải và tối thiểu hoá chi phí đầu vào cho ngân hàng
1.2.5 Một số chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn của ngân hàng
Trang 10được.
Trang 11CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC HUY ĐỘNG VỐN
TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN CÔNG THƯƠNG – CHI
NHÁNH NAM THĂNG LONG
2.1 Tổng quan về Ngân hàng Thương mại Cổ phần Công thương Việt Nam
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển
- Tên ngân hàng : Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần Công thương Việt Nam
- Trụ sở chính: 108 Trần Hưng Đạo, Hà Nội
- Wedside: viettinbank.vn
Ngân Hàng Thương Mại Cổ Phần Công Thương Việt Nam (VietinBank) tiền thân là Ngân hàng Công thương Việt Nam, được thành lập dưới tên gọi Ngân hàng chuyên doanh Công thương Việt Nam theo Nghị định số 53/NĐ-HĐBT ngày 26 tháng 3 năm 1988 của Hội đồng Bộ trưởng về tổ chức bộ máy Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và chính thức được đổi tên thành “ Ngân hàng Công thương Việt Nam” theo quyết định số 402/CT của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng ngày 14 tháng 11 năm 1990
Ngân hàng Thương mại Cổ phần Công thương Việt Nam được thành lập vào ngày 3 tháng 7 năm 2009 theo Giấy phép thành lập và Hoạt Động kinh doanh số 142/ GP- NHNN ngày 3 tháng 7 năm 2009 của Ngân hàng Nhà nước và Giấy Chứng nhận Đăng ký kinh Doanh số 0103038874 ngày 3 tháng 7 năm 2009 của Sở kế hoạch và đầu tư Hà nội Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam được thành lập trên cơ sở thực hiện cổ phần hóa Ngân hàng Công thương Việt Nam
Vốn điều lệ của Ngân hàng theo Giấy phép Thành lập và hoạt động số 142/ GP-NHNN ngày 3 tháng 7 năm 2009 là 11.252 tỷ đồng , trong đó phần vốn Nhà nước là 10.040.tỷ đồng và vốn của nhà đầu tư bên ngoài thong qua đợt phát hành
cố phiếu lần đầu là 1.212.118 triệu đồng
Ngân hàng thương mại cổ phần Công thương Việt Nam _ Chi nhánh Nam Thăng Long được hình thành trên cở sở chấp thuận của Thống đốc NHNN tại công văn số 158/NHNN- CNH ngày 23/02/2013, Chủ tịch HĐQT NHCTVN ra quyết định số 018/QĐ- HĐQT-NHCT ngày 27/2/2001 Thành lập chi nhánh NHCT Quận Cầu Giấy ( nay là NHTMCP Công thương Việt Nam- Chi nhánh Nam Thăng Long) ngày 20/03/2001 Với số vốn ban đầu là 128 tỷ đồng , sau 2 năm nỗ lực đến năm
Trang 122003 quy mô về nguồn vốn , dư nợ của chi nhánh đã đạt trên 1.200 tỷ dồng
2.1.2 Chức năng, nhiệm vụ của Ngân hàng
Chức năng trung gian tín dụng
VietinBank chi nhánh Nam Thăng Long đứng ra làm trung gian huyđộng vốn từ những chủ thể thừa vốn, sau đó cung cấp vốn đến những chủ thể có nhu cầu
Chức năng trung gian thanh toán
VietinBank cung cấp các dịch vụ: thanh toán, chuyển tiền, thu đổi ngoại tệ vàng, chuyển tiền nhanh Western Union VietinBank chi nhánh Nam Thăng Long tập trung chủ yếu vào nghiệp vụ L/C, bảo lãnh, thanh toán quốc tế
2.1.3 Cơ cấu tổ chức và chức năng, nhiệm vụ của các phòng ban
2.1.3.1 Bộ máy tổ chức của Chi nhánh
( Nguồn: Phòng Hành chính nhân sự Ngân hàng Thương mại Cổ phần Công
Thương Việt Nam – chi nhánh Nam Thăng Long )
Sơ đồ 2.1 Cơ cấu tổ chức ngân hàng Vietinbank
Trang 132.1.3.2 Chức năng, nhiệm vụ của các phòng ban
Phòng quan hệ khách hàng :
•Chịu trách nhiệm xử lý các giao dịch với khách hàng
•Thực hiện việc giả ngân vốn vay cho khách hàng trên cơ sở hồ sơ được duyệt
•Duy trì và kiểm soát các giao dịch đối với khách hàng
Chịu trách nhiệm các vấn đề về vốn, xây dựng kế hoạch kinh doanh, quản
lý thông tin các thông tin thuộc ngân hàng
Phòng quản lý rủi ro:
Chịu trách nhiệm về mọi rủi ro của các phòng ban,phòng ngừa rủi ro tín dụng
Phòng giao dịch:
Thực hiện các nhiệm vụ liên quan tới tài khoản khách hàng như: chi tiền mặt, chuyển khoản, thực hiện các yêu cầu thanh toán và chi trả đối với khách hàng không có tài khoản
2.1.4 Kết quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng Viettinbank chi nhánh Nam Thăng Long từ năm 2014-2014
Bảng 2.1: Kết quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng Viettinbank chi
Trang 14nhánh Nam Thăng Long từ năm 2012-2014
Đơn vị : Tỷ đồng
Năm
Chỉ tiêu
Năm 2012
Năm 2013
Năm 2014
Số tiền +/-
% +/-
Số tiền +/-
% +/-
Chênh lệch thu
chi 12,24 16,47 27,81 4,23 34,5 11,34 68,8
(Nguồn: Bảng kết quả hoảt động kinh doanh của ngân hàng Viettinbank chi nhánh
Nam Thăng Long từ năm 2012-2014)
Nhận xét: Qua bảng kết quả hoạt động kinh doanh, ta rút ra một số nhận xét: Thu nhập: Thu nhập khá ổn định và có sự tăng đều qua các năm Từ cuối
năm 2012 thu nhập của chi nhánh là 73,98 tỷ đồng đến cuối năm 2013 là 95,76 tỷ đồng và đến cuối năm 2014 là 129,69 tỷ đồng Có thể thấy sau 1 năm từ 2012 đến
2013 thu nhập đã tăng lên 29,4% tương đương với 21,78 tỷ đồng và từ cuối năm
2013 đến cuối năm 2014 thu nhập đã tăng khoảng 33,93 tỷ tương đương tăng 35,4% so với năm 2013
Chi phí: Thu nhập khá ổn định nên cũng phần nào tác động đến chi phí Chi
phí năm 2013 ở mức cao là 79,29 tỷ tăng 17,55 tỷ so với năm 2012 (năm 2012 là 81,74 tỷ đồng), và đến năm 2014 tăng thêm 22,59 tỷ tương ứng với 28,6% Chi phí
bỏ ra vào các hoạt động huy động vốn, nâng cao đời sống nhân viên trong ngân hàng đã tác động đáng kể đến tổng chi phí trong năm của ngân hàng
Chênh lệch thu chi: Mặc dù gặp phải khủng hoảng kinh tế cũng như những
khó khăn của ngành nhưng tăng trưởng về chênh lệch thu chi vẫn đạt mức cao, tiêu biểu là cuối năm 2012 chênh lệch thu chi đạt 12,24 tỷ đồng và cuối năm 2013 tăng lên 16,47 tỷ đồng Đến năm 2014 chênh lệch thu chi tăng lên đạt mức 27,81 tỷ đồng so với cùng kỳ năm trước Rõ ràng là chi phí tăng khá cao nhưng cùng với sự tăng lên ổn định của thu nhập, thu nhập vẫn đủ đề bù đắp chi phí Đây có thể nói là tín hiệu đáng mừng cho chi nhánh, và giúp chi nhánh đang dần khẳng định vị trí của mình trong toàn bộ hệ thống
Trang 15Giai đoạn 2012-2014 là giai đoạn đầy biến động và thách thức đối với toàn nền kinh tế nói chung và ngành ngân hàng nói riêng Tuy nhiên, qua phân tích ta thấy ngân hàng Viettinbank chi nhánh Nam Thăng Longđã kinh doanh hiệu quả có lợi nhuận trong 3 năm và đạt được chỉ tiêu, chứng tỏ ngân hàng Viettinbank chi nhánhNam Thăng Long vẫn hoạt động có hiệu quả ngay cả trong thời kỳ khó khăn
2.2 Thực trạng công tác huy động vốn và sử dụng vốn của Viettinbank chi nhánh Nam Thăng Long
2.2.1 Cơ cấu nguồn vốn
Nguồn vốn cho vay của ngân hàng chủ yếu từ ba nguồn, đó là vốn huy động, vốn tự có và nguồn vốn ủy thác Riêng đối với ngân hàng chi nhánh thì chỉ có nguồn vốn huy động và vốn điều chuyển từ ngân hàng cấp trên
Đối với nguồn vốn huy động: Ngân hàng được toàn quyền sử dụng sau khi
đã trích lại một phần theo tỷ lệ đảm bảo do NHNN quy định, đồng thời có trách nhiệm trả cả gốc lẫn lãi đúng hạn cho khách hàng
Đối với nguồn vốn điều chuyển từ ngân hàng cấp trên: Ngân hàng chỉ sử
dụng nguồn vốn này khi nguồn vốn huy động được phép sử dụng không đủ đáp ứng nhu cầu cho vay tại chi nhánh, khi đó chi nhánh sẽ yêu cầu được điều chuyển vốn đến và phải chịu lãi suất bằng với lãi suất huy động bình quân tại thời điểm nhận lệnh điều chuyển
Trang 16Ta có thể xem xét nguồn vốn của ngân hàng dựa vào số liệu qua 3 năm 2012, 2013 và 2014 trong bảng sau:
Bảng 2.2 Cơ cấu nguồn vốn của NH TMCP Công thương VN – CN Nam Thăng Long
Đvt: Triệu đồng
(Nguồn: Phòng Kế toán của NH Vietinbank – CN Nam Thăng Long)
Qua bảng số liệu trên ta thấy tổng nguồn vốn của NH Vietinbank - CN Nam Thăng Long qua 3 năm đều tăng nhằm đảm bảo tốt hoạt động kinh doanh của ngân hàng Tổng nguồn vốn trong năm 2012 đạt 510.000 triệu đồng Cuối năm 2013 tổng nguồn vốn là 586.000 triệu đồng, tăng 76.000 triệu đồng, tương ứng tăng 14,90% so với năm 2012 Năm 2014 tổng nguồn vốn đạt 669.000 triệu đồng, tăng 83.000 triệu đồng, tức tăng thêm 14,16% so với năm 2014 Sự gia tăng này đã giúp cho ngân hàng vừa đảm bảo hoạt động liên tục vừa đáp ứng kịp thời nhu cầu vốn của người dân nhằm đáp ứng được mục tiêu phát triển kinh tế của huyện Cụ thể:
Vốn huy động 160.000 31.37% 215.000 36.69% 269.000 40.21% 55.000 34,38% 54.000 25,12%Vốn điều chuyển 350.000 68.63% 371.000 63.31% 400.000 59.79% 21.000 6,00% 29.000 7,82%Tổng nguồn vốn 510.000 100% 586.000 100% 669.000 100% 76.000 14,90% 83.000 14,16%
Trang 172.2.1.1 Vốn huy động
Năm 2012, ngân hàng huy động được 160.000 triệu đồng, đến năm 2013 là 215.000 triệu đồng, tăng 55.000 triệu đồng so với năm 2012 tương ứng tăng 34,38% Đến năm 2014 đạt 269.000 triệu đồng, tăng 54.000 triệu đồng so với năm
2013 tương ứng tăng thêm 25,12% Nguyên nhân làm cho nguồn vốn huy động của ngân hàng năm 2014 có tốc độ tăng chỉ có 25,12% so với năm 2013 là do còn bị ảnh hưởng của nền kinh tế lạm phát ở năm 2013 với tỷ lệ cao làm cho giá cả hàng hóa và giá vàng cũng tăng đột biến
2.2.1.2 Vốn điều chuyển
Nếu chỉ dựa vào nguồn vốn huy động thì sẽ không đủ để đảm bảo hoạt động kinh doanh của ngân hàng Do đó, nguồn vốn điều chuyển từ ngân hàng cấp trên cũng là nguồn vốn chủ yếu của ngân hàng
Trong 3 năm qua nguồn vốn điều chuyển này điều tăng qua các năm Năm
2012 là 350.000 triệu đồng, năm 2013 là 371.000 triệu đồng tăng 21.000 triệu đồng
so với năm 2012 tương ứng tăng 6,00% Năm 2014 là 400.000 triệu đồng tăng 29.000 triệu đồng so với năm 2013 tương ứng tăng 7,82%
Sở dĩ nguồn vốn điều chuyển của năm 2014 có tốc độ tăng cao trong tổng cơ cấu nguồn vốn là do tình hình kinh tế trong huyện đang trên đà phát triển, các chính sách khuyến khích đầu tư, ưu tiên phát triển mở rộng sản xuất cho các doanh nghiệp của huyện đã thu hút các doanh nghiệp mạnh dạn đầu tư mở rộng sản xuất
và xuất hiện ngày càng nhiều các doanh nghiệp mới, đã làm cho nhu cầu vay vốn ngày càng tăng Thêm vào đó, nhu cầu tái tạo lại đàn gia cầm, vật nuôi sau đợt dịch bệnh năm trước, các dự án phát triển sản xuất như nuôi tôm càng xanh… làm cho nhu cầu vốn đầu tư sản xuất của người dân gia tăng rất mạnh Do đó, dù nguồn VHĐ có gia tăng nhưng vẫn không đáp ứng đủ nhu cầu vay vốn sản xuất trong huyện nên ngân hàng cần sự hỗ trợ vốn từ ngân hàng cấp trên nên VĐC có tốc độ tăng cao
Trang 182.2.2 Tình hình huy động vốn
2.2.2.1 Phân tích nguồn vốn huy động phân theo kỳ hạn
Bảng 2.3 Cơ cấu vốn huy động theo kỳ hạn
động 160.000 100% 215.000 100% 269.000 100% 55.000 34,38% 54.000 25,12%
(Nguồn: Phòng Kế toán NH Vietinbank - CN Nam Thăng Long)
Tiền gửi không kỳ hạn (TGKKH)
Cũng qua bảng trên có thể thấy rằng TGKKH không nhiều như TGCKH của ngân hàng nhưng nguồn vốn này có đóng góp khá lớn vào hiệu quả kinh doanh của ngân hàng vì đây là nguồn có chi phí trả lãi thấp nhất Mặc dù sự biến động của nguồn vốn này khá cao nhưng với lượng khách hàng tương đối ổn định thì sự biến động thường xuyên không gây quá nhiều lo ngại về khả năng thanh khoản
Trang 19Để có thể huy động được TGKKH, ngân hàng cần phải thoả mãn các nhu cầu thanh toán của khách hàng với những dịch vụ có nhiều tiện ích, an toàn, nhanh chóng và chính xác Cụ thể năm 2013, TGKKH tăng 27,18% so với năm 2012 với
số tiền 5.300 triệu đồng Năm 2014 tiếp tục tăng 13,31% so với 2013 với lượng tiền
là 3.300 triệu đồng Tốc độ tăng của năm 2014 không bằng 2013 là do trong thời kỳ này, nền kinh tế đang trong tình trạng bất ổn, lạm phát… hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp trong thời gian này rất khó khăn, nhu cầu trao đổi thanh toán không nhiều, do đó lượng TGKKH có tăng nhưng không nhiều
Nhìn chung, tỷ trọng của TGKKH so với tổng nguồn vốn huy động qua 3 năm vẫn còn thấp so với TGCKH Tuy nhiên, nó lại hứa hẹn một cơ hội lớn trong tương lai khi nền kinh tế ngày càng phát triển, công nghệ kỹ thuật hiện đại hơn thì người dân có xu hướng giao dịch an toàn và nhanh chóng do đó khả năng gửi tiền
để giao dịch, thanh toán sẽ ngày càng cao
Tiền gửi có kỳ hạn (TGCKH)
Nhìn vào bảng kết quả trên ta thấy trong cơ cấu nguồn vốn huy động thì TGCKH được người dân ưa chuộng hơn, qua bảng 2.4 cho thấy TGCKH qua các năm luôn chiếm tỷ trọng rất cao Năm 2012, TGCKH đạt 140.000 triệu đồng, chiếm 87,81% trong tổng VHĐ, đến năm 2013 đạt 190.200 triệu đồng chiếm 88,47% trong tổng VHĐ, tăng 49.700 triệu đồng, tương ứng 35,37% so với năm
2012 Năm 2014, tiền gửi tiền gửi này đạt 240.900 triệu đồng chiếm 89,55% trong tổng VHĐ, tăng 50.700 triệu đồng, tương ứng 26,66% so với năm 2013, nhưng tốc
độ tăng không cao so với năm 2013
TGCKH luôn chiếm tỷ trọng lớn điều đó cho thấy sự tin tưởng của người dân đối với ngân hàng và mục đích gửi tiền để hưởng lợi nhuận vì đây là loại tiền gửi có lãi suất cao hơn nhiều so với TGKKH Đây là nguồn vốn quan trọng, có tính
ổn định cao tạo điều kiện thuận lợi cho ngân hàng trong quá trình sử dụng vốn Vì thế, ngân hàng nên duy trì và phát triển của nguồn vốn này