Cấu trúc của kháo luận...2 NỘI DUNG...3 Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN KẾT HỢP PHÁT TRIỂN KINH TẾ XÃ HỘI VỚI TĂNG CƯỜNG CỦNG CỐ QUỐC PHÒNG - AN NINH Ở VÙNG BIỂN TỈNH NAM ĐỊNH TRONG
Trang 1Cầm quyển khóa luận tốt nghiệp trong tay, em biết đó không chỉ là công sức của riêng bản thân em mà còn là công sức rất to lớn của Ban chủ nhiệm khoa Giáo dục quốc phòng, của các thầy cô, gia đình và bạn bè.
Với tấm lòng biết ơn sâu sắc nhất em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới thầy giáo – Trung tá Nguyễn Văn Toàn, người đã tận tâm giúp đỡ, chỉ bảo, hướng dẫn em hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này Sự hướng dẫn của thầy
là nguồn động viên giúp đỡ em trong suốt quá trình làm khóa luận.
Tôi xin cảm ơn những tình cảm tốt đẹp nhất của gia đình, bạn bè, người thân đã tạo điều kiện giúp đỡ và động viên để tôi hoàn thành khóa luận của mình.
Do thời gian nghiên cứu có hạn, khóa luận không thể tránh khỏi những thiếu sót, em rất mong được sự giúp đỡ, chỉ dẫn và đóng góp của thầy cô và các bạn.
Em xin chân thành cảm ơn !
Hà Nội, tháng 4 năm 2016
Sinh viên thực hiện
Hoàng Thị Hồng Nhung
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 1
3 Nhiệm vụ nghiên cứu 2
4 Phạm vi nghiên cứu 2
5 Phương pháp nghiên cứu 2
6 Cấu trúc của kháo luận 2
NỘI DUNG 3
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN KẾT HỢP PHÁT TRIỂN KINH TẾ XÃ HỘI VỚI TĂNG CƯỜNG CỦNG CỐ QUỐC PHÒNG - AN NINH Ở VÙNG BIỂN TỈNH NAM ĐỊNH TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY 3
1.1 Khái niệm 3
1.1.1 Kinh tế, xã hội 3
1.1.2 Quốc phòng, an ninh 4
1.1.3 Kết hợp phát triển kinh tế - xã hội với tăng cường củng cố QP -AN 5
1.2 Cơ sở lí luận 6
1.2.1 Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin và Chủ tịch Hồ Chí Minh về kết hợp phát triển kinh tế - xã hội với tăng cường củng cố QP - AN 6
1.2.2 Quan điểm của Đảng ta về kết hợp phát triển kinh tế - xã hội với tăng cường củng cố QP - AN 10
1.2.3 Mối quan hệ giữa kinh tế - xã hội với QP - AN 13
1.3 Cơ sở thực tiễn 14
1.3.1 Kết hợp phát triển kinh tế - xã hội với tăng cường củng cố QP - AN của nước ta trong giai đoạn hiện nay 14
1.3.2 Thực trạng việc phát triển kinh tế- xã hội với tăng cường củng cố QP-AN ở vùng biển tỉnh Nam Định trong giai đoạn hiện nay 17
Trang 41.3.3 Nguyên nhân và những vấn đề đặt ra cho việc phát triển kinh tế - xã hội với tăng cường củng cố QP - AN ở vùng biển tỉnh Nam Định trong giai
đoạn hiện nay 20
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 26
Chương 2: KẾT HỢP PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI VỚI TĂNG CƯỜNG CỦNG CỐ QUỐC PHÒNG - AN NINH Ở VÙNG BIỂN TỈNH NAM ĐỊNH TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY 27
2.1 Nội dung phát triển kinh tế - xã hội với tăng cường củng cố QP - AN ở vùng biển tỉnh Nam Định 27
2.1.1 Sự kết hợp phát triển kinh tế - xã hội với tăng cường củng cố QP - AN trên một số lĩnh vực 27
2.1.2 Những kết quả đạt được 45
2.2 Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội ở tỉnh Nam Định năm 2016 48
2.2.1 Mục tiêu tổng quát 48
2.2.2 Một số nhiệm vụ trọng tâm và giải pháp chủ yếu 49
2.2.3 Ý nghĩa kết hợp phát triển kinh tế xã hội với tăng cường củng cố QP - AN 52
2.3 Một số biện pháp nhằm góp phần thực hiện tốt nội dung của việc kết hợp phát triển KT - XH với tăng cường củng cố QP - AN 56
2.3.1 Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng và hiệu lực quản lí của nhà nước của chính quyền các cấp trong thực hiện phát triển KT - XH với tăng cường củng cố QP - AN 56
2.3.2 Bồi dưỡng nâng cao kiến thức, kinh nghiệm phát triển KT - XH với tăng cường củng cố QP - AN cho đối tượng, đặc biệt là cán bộ quản lí 59
2.3.3 Xây dựng chiến lược cụ thể kết hợp phát triển KT - XH với tăng cường củng cố QP - AN trong thời kì mới 60
2.3.4 Quán triệt và thực hiện nghiêm chỉnh pháp luật, cơ chế chính sách của Đảng và nhà nước có liên quan đến thực hiện phát triển KT - XH với tăng cường củng cố QP - AN 62
Trang 52.3.5 Làm tốt công tác, phối hợp, hiệp đồng tác chiến giữa các bộ, ngành,
địa phương, các doanh nghiệp ( thuộc mọi thành phần kinh tế) 64
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 65
KẾT LUẬN CHUNG 67
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 69
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Đất nước đang trên đà phát triển theo hướng CNH, HĐH vấn đề kếthợp kinh tế-xã hội và củng cố Quốc phòng –An ninh là nhiệm vụ then chốt đểđảm bảo cho đất nước phát triển toàn diện Đây là hai nhiệm vụ quan trọngđồng hành với nhau trong mọi giai đoạn thời kỳ của lịch sử Trong đó, QP-
AN là một trong những nhiệm vụ chiến lược quan trọng trong quá trình đưađất nước đi lên CNXH Ngày nay nhân dân ta đang được sống trong hòa bìnhnhưng các thế lực bên ngoài luôn luôn tìm cách chống phá cách mạng Dovậy, trong quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc chúng ta phải kết hợp pháttriển kinh tế- xã hội để góp phần tạo nên sức mạnh tổng hợp đẩy lùi mọi âmmưu chống phá của các thế lực bên ngoài và cũng là nền tảng để xây dựng đấtnước vững mạnh
Tỉnh Nam Định nằm ở phía Nam đồng bằng Bắc Bộ là nơi có nhiềutiềm năng để phát triển kinh tế -xã hội và củng cố QP-AN là hướng phòng thủthứ yếu của Quân khu 3 Nam Định giáp với Thái Bình ở phía bắc, Ninh Bình
ở phía nam và Hà Nam ở phía tây bắc và phía đông giáp biển vịnh Bắc Bộ.Nam Định gồm 3 huyện giáp biển, có bờ biển dài 72 km, đất đai phì nhiêu, cónhiều tiềm năng phát triển kinh tế biển, có bờ biển dài thuận lợi cho chăn nuôiđánh bắt hải sản, phát triển du lịch biển, làm muối, ngành dịch vụ hànghải nhưng cũng tiềm ẩn không ít những vấn đề nhạy cảm về QP-AN Vìvậy để phát huy nội lực của vùng cần có những giải pháp cụ thể trong quátrình thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược phát triển kinh tế- xã hội với tăngcường củng cố QP-AN
Xuất phát từ lý do trên, tôi chọn đề tài “ Kết hợp phát triển kinh tế
-xã hội với tăng cường củng cố QP-AN ở vùng biển tỉnh Nam Định” với
mong muốn đưa ra được một số biện pháp phát huy được thế mạnh của vùng
2 Mục đích nghiên cứu
- Làm rõ cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn về phát triển kinh tế-xã hội với
Trang 7tăng cường củng cố QP- AN ở vùng biển tỉnh Nam Định trong giai đoạn hiện nay.
-Từ đó đưa ra một số biện pháp về kết hợp phát triển kinh tế-xã hội vớităng cường củng cố QP- AN ở vùng biển tỉnh Nam Định trong giai đoạn hiện nay
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiêm cứu cơ sở lí luận và thực tiễn về kết hợp phát triển kinh tế-xãhội với tăng cường củng cố QP- AN ở vùng biển tỉnh Nam Định trong giaiđoạn hiện nay
- Đề xuất một số biện pháp kết hợp phát triển kinh tế-xã hội với tăngcường củng cố QP- AN ở vùng biển tỉnh Nam Định
4 Phạm vi nghiên cứu
-Kết hợp phát triển kinh tế-xã hội với tăng cường củng cố QP-AN ởvùng biển tỉnh Nam Định trong giai đoạn hiện nay
5 Phương pháp nghiên cứu
- Dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác-Lê nin và tưtưởng Hồ Chí Minh Phương pháp nghiên cứu và tổng hợp tài liệu, phươngpháp trình bày logic - lịch sử, phương pháp hỏi ý kiến chuyên gia
6 Cấu trúc của khóa luận
- Gồm: phần mở đầu, 2 chương và kết luận
Trang 8NỘI DUNG Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN KẾT HỢP PHÁT TRIỂN KINH TẾ
XÃ HỘI VỚI TĂNG CƯỜNG CỦNG CỐ QUỐC PHÒNG - AN NINH Ở VÙNG BIỂN TỈNH NAM ĐỊNH TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY 1.1 Khái niệm
1.1.1 Kinh tế, xã hội
Theo Từ điển bách khoa Việt Nam, “kinh tế là tổng thể các hoạt động của một cộng đồng người, một nước, liên quan đến toàn bộ quá trình hay một phần của tổng quá trình sản xuất, trao đổi, phân phối và tiêu dùng các sản phẩm xã hội” [11; 584].
Trong một quá trình sản xuất một hình thái kinh tế - xã hội nhất địnhmột nền kinh tế quốc dân phải bao gồm các ngành, các cơ sở loại hình sảnxuất và bao gồm các khâu của nền sản xuất xã hội như: Sản xuất - phânphối - trao đổi - tiêu dùng trên toàn bộ lãnh thổ của đất nước Mỗi nền kinh
tế đều do quan hệ sản xuất cũng như tính chất và trình độ của lực lượng sảnxuất quy định
Ngoài ra, ta còn có thể hiểu kinh tế là hoạt động cơ bản, thường xuyên,gắn liền với sự tồn tại của xã hội loài người Đó là toàn bộ quá trình hoạtđộng sản xuất và tái sản xuất ra của cải cho xã hội, phục vụ nhu cầu cho đờisống của con người
Xã hội theo nghĩa hẹp là “chỉ một loại hệ thống xã hội cụ thể trong lịch
sử, một hình thức nhất định của những quan hệ xã hội, là một xã hội ở vào một trình độ phát triển của lịch sử nhất định, là một kiểu xã hội nhất định đã hình thành trong lịch sử như: xã hội nô lệ, xã hội phong kiến, xã hội tư bản ” Theo nghĩa rộng thì “xã hội là toàn bộ hình thức hoạt động chung của con người, đã hình thành trong lịch sử” [14; 964 - 965].
Từ đó, ta thấy rằng phát triển kinh tế - xã hội là làm giàu cho đất nước
và nhân dân cả về mặt vật chất và tinh thần, và cũng là nền tảng quan trọng
Trang 9trong mọi thời kì phát triển của đất nước Nhận thức rõ được điều này, Đảng
và Nhà nước ta có những chính sách, biện pháp cụ thể để nâng cao hiệu quảcủa nền kinh tế quốc dân Phát triển nền kinh tế bền vững, ổn định đời sốngnhân dân là chiến lược quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội.Đồng thời cũng là yếu tố đảm bảo vững chắc cho sự nghiệp xây dựng và củng
cố QP - AN
1.1.2 Quốc phòng, an ninh
“Quốc phòng là công cuộc giữ nước của một quốc gia, gồm tổng thể các hoạt động đối nội, đối ngoại của quốc gia nhằm bảo vệ độc lập dân tộc, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và nhân dân bằng toàn bộ sức mạnh quân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học kĩ thuật của chính mình” [13; 611].
Quốc phòng của đất nước ta mang tính chất toàn dân, toàn diện có kếthừa truyền thống dân tộc Mục đích nhằm bảo vệ vững chắc Tổ quốc ViệtNam XHCN và góp phần bảo vệ hòa bình trong khu vực và trên thế giới Xâydựng và củng cố quốc phòng là nhiệm vụ của toàn dân, toàn quân, của cả hệthống chính quyền dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam và gắn chặtvới nhiệm vụ giữ vững an ninh chính trị, trật tự và an toàn xã hội
“An ninh là sự yên ổn vững vàng về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội,
về chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của một quốc gia” [11; 44] Ta có thể hiểu
an ninh là trạng thái ổn định an toàn, không có dấu hiệu nguy hiểm đe dọa sựtồn tại và phát triển của cá nhân, tổ chức, xã hội Bảo vệ an ninh là nhiệm vụtrong yếu, thường xuyên của toàn dân và của cả hệ thống chính trị do lựclượng an ninh làm nòng cốt, bảo vệ an ninh luôn kết hợp chặt chẽ với củng cốquốc phòng
Kết hợp quốc phòng với an ninh nhằm đập tan mọi âm mưu và hànhđộng của các thế lực thù địch để bảo vệ chế độ XHCN, bảo vệ Đảng, chínhquyền và nhân dân Để bảo đảm cho sự phát triển ổn định của đất nước thì QP
- AN cũng cần kết hợp chặt chẽ với kinh tế tạo tiền đề thúc đẩy cho nhaucùng phát triển góp phần vào sự nghiệp chung xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Trang 101.1.3 Kết hợp phát triển kinh tế - xã hội với tăng cường củng cố QP -AN
Kết hợp phát triển kinh tế - xã hội với tăng cường củng cổ QP - AN ởnước ta là hoạt động tích cực, chủ động của Nhà nước và nhân dân trong việcgắn kết chặt chẽ hoạt động kinh tế - xã hội, QP - AN trong một chỉnh thểthống nhất trên phạm vi cả nước cũng như từng địa phương, thúc đẩy cùngnhau phát triển Từ đó, góp phần tăng cường sức mạnh tổng hợp của quốc gia,thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng CNXH và bảo vệ Tổquốc Việt Nam XHCN
Theo Bách khoa tri thức Quốc phòng toàn dân Việt Nam: “Kết hợp kinh tế với QP - AN là một phạm trù khách quan nảy sinh trong quan hệ kinh
tế - xã hội nhất định Nó phản ánh hoạt động chủ quan của Nhà nước trên cơ
sở nhận thức quy luật kinh tế - xã hội khách quan nhằm gắn kết quá trình xây dựng, phát triển kinh tế với củng cố QP - AN thành một thể thống nhất Thúc đẩy lẫn nhau cùng phát triển về hiệu quả kinh tế - xã hội cao Nó là quá trình
cơ bản của xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” [01; 1374].
Kết hợp kinh tế - xã hội với QP - AN là vấn đề có tính phổ biến trong
xã hội, nó là yêu cầu khách quan, yêu cầu tự bảo vệ nền kinh tế Sự kết hợpnày mang tính chiến lược chúng quy định, ảnh hưởng qua lại lẫn nhau Lấykinh tế làm nền tảng để phát triển quốc phòng, ví như: Việc chế tạo vũ khítrong thời bình sẵn sàng tiến hành chiến tranh khi xảy ra Mục tiêu kết hợpkinh tế - xã hội với QP - AN là điều cốt lõi nhất trong mọi giai đoạn của lịch
sử Biến những tiềm lực kinh tế thành tiềm lực QP - AN để bảo vệ Tổ quốcngăn chặn đẩy lùi chiến tranh, bất ổn định xã hội
Từ thực tiễn cho thấy, kết hợp phát triển kinh tế - xã hội với tăng cườngcủng cố QP - AN là nội dung quan trọng của đường lối xây dựng và bảo vệ
Tổ quốc Đây là một trong những quan điểm tư tưởng chỉ đạo đối với sựnghiệp CNH - HĐH của đất nước ta trong thời kì đổi mới và tăng cường củng
cố QP - AN của Đảng ta Kết hợp kinh tế - xã hội với QP - AN trong một thểthống nhất, làm cho hai lĩnh vực này bổ sung cho nhau, thúc đẩy nhau pháttriển nhằm phát huy nguồn lực tổng hợp của quốc gia
Trang 11Cương lĩnh xây dựng đất nước thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội ( bổsung, phát triển xã hội năm 2011) xác định: Xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo
vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa là một trong những mối quan hệ lớn mà Đảng tađặc biệt chú trọng nắm vững và giải quyết Về củng cố QP - AN gắn với sự
phát triển kinh tế - xã hội, Cương lĩnh nêu rõ: “Sự ổn định và phát triển bền vững mọi mặt kinh tế - xã hội là nền tảng vững chắc củng cố QP - AN Phát triển kinh tế - xã hội đi đôi với tăng cường củng cố QP - AN ”[03; 4].
Trong giai đoạn hiện nay, Đảng ta xác định, để thực hiện thắng lợi hainhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam, chúng ta phải kết hợp pháttriển kinh tế - xã hội với tăng cường củng cố QP - AN trong một chỉnh thểthống nhất Quan điểm này hoàn toàn đúng đắn, sáng tạo, có cơ sở lí luận vàthực tiễn
Việc kết hợp kinh tế - xã hội với QP - AN, QP - AN với kinh tế - xã hội
“được triển khai theo ngành, vùng, miền, lãnh thổ, trong tất cả các khâu từ xây dựng luận cứ, quy hoạch, kế hoạch, nghiên cứu, ứng dụng khoa học công nghệ, đào tạo, bố trí, sử dụng nhân lực, nhân tài, trang bị kỹ thuật đến cải tạo địa hình, xây dựng hạ tầng cơ sở, điều chỉnh dân cư ” [07; 3] Tất cả phải
gắn với việc xây dựng các vùng kinh tế - quốc phòng trọng điểm, xây dựngcác công trình quốc phòng, khu vực phòng thủ tỉnh thành vững chắc Có nhưvậy, khi cần thiết mới có thể huy động được nhanh nhất, nhiều nhất, tốt nhất
cả nhân tài - vật lực tại chỗ vào việc xử lý các tình huống bảo vệ Tổ quốc, cảtrong thời bình cũng như khi có chiến tranh xâm lược của kẻ thù từ bên ngoàivào dưới mọi quy mô, hình thức
Vì vậy, kết hợp xây dựng kinh tế với củng cố quốc phòng là yêu cầunội sinh của chính sự phát triển nền kinh tế, yêu cầu tự bảo vệ và được bảo vệcủa nền kinh tế
1.2 Cơ sở lí luận
1.2.1 Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin và Chủ tịch Hồ Chí Minh
về kết hợp phát triển kinh tế - xã hội với tăng cường củng cố QP - AN
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về mối quan hệ biện chứng
Trang 12giữa kinh tế với quốc phòng và chiến tranh thì bao giờ kinh tế cũng là nềntảng, có ảnh hưởng đến quyết định đối với quốc phòng và chiến tranh Kinh tế
là nhân tố có ảnh hưởng trực tiếp, quy định đến thành bại của quân đội, quy
mô, cơ cấu, tổ chức của các lực lượng vũ trang, đến hình thức và phương thứctiến hành chiến tranh, đến sự phát triển của nghệ thuật quân sự Tiềm lực kinh
tế là cơ sở của sức mạnh quân sự, sức mạnh phòng thủ đất nước Theo Lênin:
“Sự kết hợp giữa ba mặt: Kinh tế, quốc phòng và chiến tranh trong đó kinh tế đóng vai trò chủ đạo, quốc phòng và chiến tranh là điều kiện tác động thúc đẩy” [06; 170].
Xây dựng kinh tế là xây dựng vật chất quan trọng để xây dựng tiềm lựccác mặt cho sự nghiệp củng cố quốc phòng bảo vệ đất nước Tiềm lực kinh tếbao giờ cũng là tiềm lực và sức mạnh quốc phòng của đất nước, và cũng làđiều kiện để sản xuất ra sản phẩm quân sự cho nên việc xây dựng quốc phòngcũng phải bắt đầu từ kinh tế Kinh tế quyết định đến việc cung cấp cơ sở kĩ
thuật, nhân lực cho hoạt động QP - AN Ph Ăngghen chỉ ra rằng: “Không có
gì phụ thuộc vào kinh tế tiên quyết hơn là chính quân đội và hạm đội” ;
“Thắng lợi hay thất bại của chiến tranh đều phụ thuộc vào điều kiện kinh tế ”[18;55] Điều đó cho thấy rằng giữa kinh tế - xã hội có mối quan hệ chặt
chẽ với sức mạnh quân sự, quốc phòng Vì thế, xây dựng đất nước vững mạnh
về mọi mặt có vai trò quyết định đối với tăng cường tiềm lực chính trị - tinhthần, tiềm lực kinh tế, tiềm lực khoa học, tiềm lực quân sự của nền quốcphòng đất nước
Nói về khả năng quốc phòng và chuẩn bị cho đất nước chống xâm lược,
Lênin nhấn mạnh “Chúng ta đấu tranh không nhân nhượng chống lối nói cách mạng suông về chiến tranh cách mạng Cuộc chiến tranh cách mạng này cần phải được chuẩn bị lâu dài, nghiêm túc, bắt đầu từ phát triển kinh tế”[15; 171] Xây dựng nền quốc phòng vững mạnh sẽ tạo môi trường an toàn
cho xây dựng kinh tế, bảo vệ lợi ích kinh tế của đất nước Phải phát huy đượcvai trò cơ sở vật chất của quốc phòng, chuẩn bị mọi mặt cho cuộc chiến tranh
Trang 13bảo vệ Tổ quốc Người cũng khẳng định “không có quân đội và không chuẩn
bị hết sức đầy đủ về mặt kinh tế, thì việc tiến hành một cuộc chiến tranh hiện đại chống chủ nghĩa đế quốc tiên tiến là điều không thể làm được” [15; 368].
Trong XHCN, tăng cường QP - AN phải gắn liền với phát triển kinh tế
- xã hội V.I Lênin đặt công cuộc bảo vệ Tổ quốc XHCN trong mối quan hệchặt chẽ với công cuộc xây dựng chế độ XHCN, nghĩa là hai lĩnh vực hoạtđộng này phụ thuộc và tác động lẫn nhau Mối quan hệ giữa xây dựng và bảo
vệ Tổ quốc XHCN thể hiện ở mối quan hệ cụ thể giữa QP AN và kinh tế
-xã hội Theo Lênin, mọi hoạt động xây dựng đều nhằm tạo nên sức mạnh tổnghợp của đất nước bảo vệ độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốcXHCN, bảo vệ chế độ chính trị XHCN Mọi hoạt động đối nội, đối ngoại phảinhằm tạo nên sức mạnh toàn diện của đất nước, đặc biệt là sức mạnh quân sựđập tan mọi âm mưu và hành động lật đổ của thế lực thù địch, bảo vệ vữngchắc độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc và thành quả của cáchmạng XHCN
V.I Lênin không những chỉ ra mối quan hệ chặt chẽ giữa xây dựngXHCN với bảo vệ Tổ quốc XHCN, mà còn phân tích về mặt lý luận sự phụthuộc của quốc phòng, quân đội, tiến trình và kết cục của chiến tranh vàonhững điều kiện kinh tế và những điều kiện xã hội khác Theo Lênin, chỉ bêntham chiến nào mà nền kinh tế có khả năng giải quyết những nhiệm vụ phứctạp thì mới mong muốn giành được thắng lợi, nếu không động viên được toàn
bộ công nghiệp, vận tải, nông nghiệp và các ngành kinh tế quốc dân thì khôngthể nào giải quyết được những vấn đề của chiến tranh đặt ra, mà điều đó lạiphụ thuộc vào chế độ chính trị, kinh tế, xã hội
Trong sự nghiệp xây dựng CNXH, nhiệm vụ củng cố QP - AN phải gắnliền với nhiệm vụ xây dựng đất nước Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong quátrình xây dựng CNXH, nhiệm vụ QP - AN luôn gắn bó hữu cơ với nhiệm vụphát triển kinh tế - xã hội, ảnh hưởng qua lại lẫn nhau làm tiền đề cho nhauphát triển Xây dựng XHCN đi đôi với bảo vệ Tổ quốc XHCN đây là hai
Trang 14nhiệm vụ chiến lược trọng tâm trong mọi thời kì Chúng không được tách rờinhau mà phải có mối quan hệ khăng khít với nhau để cùng thực hiện nhiệm
vụ chung, làm cho đất nước được ổn định và phát triển bền vững về mọi mặt
Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Chúng ta phải hoàn thành kế hoạch của Nhà nước, khôi phục kinh tế và bắt đầu phát triển thành kế hoạch của Nhà nước, khôi phục kinh tế và bắt đầu phát triển văn hóa Đồng thời, chúng ta phải tiếp tục củng cố quốc phòng, trấn áp bọn phá hoại, giữ gìn an ninh, trật tự cho nhân dân” [15; 35].
Kết hợp phát triển kinh tế - xã hội với tăng cường củng cố QP - ANnhằm thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng đấtnước Sự nghiệp xây dựng đất nước trong thời kì lên CNXH đòi hỏi phải cónền QP - AN vững mạnh, phải quan tâm xây dựng, củng cố sức mạnh QP -
AN của đất nước Đồng thời, xây dựng CNXH là nền tảng để tạo điều kiệnthuận lợi cho yếu tố vật chất và tinh thần, những tiền đề chính trị, an ninh, bảo
vệ Tổ quốc XHCN được ổn định và phát triển Mối quan hệ thống nhất biệnchứng này cần phải được nhận thức đúng đắn và thực hiện tốt trong thực tiễncách mạng
Trong giai đoạn kháng chiến chống Mỹ, Chủ tịch Hồ chí Minh đã cùngvới Trung ương Đảng lãnh đạo nhân dân cả nước đưa miền Bắc tiến lênCNXH và đấu tranh giải phóng miền Nam tới thống nhất Tổ quốc Thực tiễnđấu tranh trong thời kì này đã thể hiện sâu sắc tư tưởng Hồ Chí Minh về
“dựng nước đi đôi với giữ nước”, gây dựng và bảo vệ miền Bắc XHCN với
giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước Khi đế quốc Mỹ mở rộng chiến
tranh, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ “Nước ta còn bị chia cắt, đế quốc và tay sai đang giày xéo miền Nam thân yêu của chúng ta” [15; 39] Tình hình
ấy đòi hỏi nhân dân ta ở miền Bắc phải vừa ra sức đẩy mạnh sản xuất, xâydựng cơ sở vật chất và kĩ thuật của CNXH, vừa phải luôn nâng cao cảnh giác,củng cố quốc phòng, sẵn sàng đối phó với mọi âm mưu của kẻ địch Mỗingười dân phải là một người lao động hăng hái đồng thời là một chiến sĩ dũng
Trang 15cảm, vừa xây dựng nước nhà, vừa bảo vệ Tổ quốc.
Mặc dù trong điều kiện chiến tranh nhưng Đảng và Chủ tịch Hồ ChíMinh vẫn lãnh đạo, động viên nhân dân miền Bắc vừa sản xuất vừa chiến đấu,tập trung vào phát triển nông nghiệp và công nghiệp, phát triển y tế, giáo dục,chuẩn bị nguồn nhân lực cho chiến tranh và cho đất nước khi kết thúc chiếntranh Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, khi cả nước tiến hành cuộc kháng chiếnchống Mỹ cứu nước thì nhiệm vụ quan trọng của Đảng và nhân dân ta là phảisản xuất, chiến đấu để đánh thắng giặc Mỹ xâm lược, sản xuất và chiến đấu làhai mặt trận khác nhau nhưng quan hệ mật thiết với nhau nhằm thực hiệnthắng lợi mục tiêu, nhiệm vụ của cách mạng
Vì vậy, trong quá trình xây dựng CNXH thì cũng phải xây dựng, củng
cố QP - AN đủ sức bảo vệ vững chắc Tổ quốc XHCN trước các thế lực phảnđộng cả bên trong và bên ngoài là một yêu cầu khách quan, một nhiệm vụchiến lược mang tính sống còn của CNXH Xây dựng và sử dụng những lựclượng vật chất, tinh thần cần thiết để tạo ra sức mạnh bảo vệ vững chắc thànhquả của cách mạng
1.2.2 Quan điểm của Đảng ta về kết hợp phát triển kinh tế - xã hội với tăng cường củng cố QP - AN
Lịch sử ngàn năm dựng nước với giữ nước của dân tộc Việt Nam đãkhẳng định một chân lí trường tồn: dựng nước phải đi đôi với giữ nước Chân
lý đó đã trở thành truyền thống quý báu của dân tộc, đồng thời cũng là quyluật nội tại của quá trình xây dựng và phát triển bền vững đất nước Vì vậy, từngàn xưa dân tộc ta luôn biết kết hợp chặt chẽ kinh tế với quốc phòng đểchống lại các thế lực thù địch xâm lược từ bên ngoài Vừa xây dựng kinh tếvừa củng cố quốc phòng để sẵn sàng đưa đất nước vào thời chiến khi chiếntranh xảy ra Đây là nhiệm vụ quan trọng trong mỗi giai đoạn phát triển củađất nước Trong mục tiêu chiến lược và quan điểm phát triển của Đại hội đại
biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng xác định: “Kết hợp chặt chẽ phát triển kinh tế - xã hội với QP - AN với xây dựng tiềm lực và thế trận toàn dân, thế
Trang 16trận an ninh nhân dân được thể hiện trong chiến lược, quy hoạch,kế hoạch phát triển kinh tế cả nước, của các ngành, các địa phương và trong các dự án đầu tư lớn” [16; 40].
Muốn xây dựng một tiềm lực quốc phòng mạnh phải có cơ sở nền kinh
tế phồn vinh ổn định Trong khi tình hình thế giới ngày có nhiều biến động,
kẻ thù không từ bỏ chiến lược diễn biến hòa bình và bạo loạn lật đổ ; sự pháttriển như vũ bão của khoa học công nghệ, sự hòa nhập trong nền kinh tế thịtrường thế giới là những thách thức to lớn, đòi hỏi Đảng và Nhà nước ta phải
có một chiến lược đúng đắn về kết hợp phát triển kinh tế - xã hội với tăngcường củng cố QP - AN trong quá trình CNH - HĐH đất nước Văn kiện Đại
hội X của Đảng khẳng định: “Chúng ta chủ trương kết hợp phát triển kinh tế
- xã hội với tăng cường sức mạnh QP - AN trên cơ sở phát huy mọi tiềm năng của đất nước, xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân kết hợp chặt chẽ với thế trận an ninh nhân dân, đẩy mạnh xây dựng các khu vực phòng thủ tỉnh, thành phố, tiếp tục phát triển các khu kinh tế quốc phòng ” [04; 56].
Hiện nay các thế lực thù địch tìm mọi cách chống phá cách mạng trêntất cả các lĩnh vực: Kinh tế, chính trị, tư tưởng, văn hóa, quốc phòng, an ninhnhằm xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng, lật đổ chế độ XHCN Việt Nam Vì vậy,
Đảng ta xác định: “Đảng lãnh đạo toàn bộ xã hội, trong đó, sự nghiệp lãnh đạo của Đảng đối với sự nghiệp QP - AN và xây dựng nền quốc phòng toàn dân là một trong những vấn đề hết sức quan trọng và cần thiết để bảo vệ thành quả của cách mạng, bảo vệ đất nước” [01; 1105] Ở đâu có hoạt động
kinh tế thì ở đó có sự kết hợp chặt chẽ với nhiệm vụ củng cố, tăng cường QP
-AN Sự kết hợp này phải trên toàn lãnh thổ, các cấp, các ngành, các lĩnh vựcnhằm tạo ra sức mạnh của cả nước, của từng địa phương trong xây dựng vàbảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN
Kết hợp phát triển kinh tế - xã hội với tăng cường củng cố QP - AN lànhiệm vụ rất quan trọng trong bối cảnh phát triển cạnh tranh, hội nhập kinh tếkhu vực và thế giới Việc kết hợp này phải được tiến hành xuyên suốt trong
Trang 17các hoạt động phát triển đất nước Để từ đó không những tăng cường đượccác tiềm lực bên trong mà còn tránh được những khó khăn, hiểm họa từ bênngoài Là bộ phận cấu thành quan trọng của quốc gia thống nhất, mỗi tỉnh,thành phố, quận, huyện, phải quán triệt sâu sắc chủ trương của Đảng và Nhànước về kết hợp phát triển kinh tế - xã hội với tăng cường củng cố QP - AN,xây dựng địa phương về mọi mặt, chính trị xã hội ổn định, kinh tế vữngmạnh, quốc phòng củng cố tạo thế trận toàn dân Để khi có chiến tranh xảy ra
có thể chủ động và chuyển sang thời chiến
Xét tổng thể thì chúng ta thấy hai chiến lược này có sự thống nhất vớinhau trong một mục tiêu làm cho đất nước hòa bình, ổn định, phát triển kinh
tế - xã hội thực hiện “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” Coi phát triển kinh tế là trọng tâm, tăng cường QP - AN là trọng yếu,
phát triển kinh tế - xã hội đi đôi với giữ vững QP - AN, giữ vững độc lập, chủquyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc
Sự kết hợp giữa phát triển kinh tế và xây dựng quốc phòng phải đượctiến hành đồng thời và gắn bó chặt chẽ với nhau, coi nhẹ vế nào sẽ tự làm yếu
cả hai vế Cho nên trong giai đoạn hiện nay kết hợp chặt chẽ kinh tế với quốcphòng, quốc phòng với kinh tế, an ninh và đối ngoại được Đảng và Nhà nước
ta xác định là một nội dung của đường lối kinh tế, là một nguồn lực của sứcmạnh tổng hợp bảo vệ đất nước Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kì
quá độ lên CNXH (bổ sung, phát triển 2011) đã xác định: “Kết hợp chặt chẽ kinh tế với QP - AN, QP - AN với kinh tế trong từng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách phát triển kinh tế - xã hội” [17; 82]
Trong mỗi giai đoạn của lịch sử, Đảng ta đã kịp thời nắm bắt và phântích khoa học tình hình thế giới và trong nước để đề ra chủ chương, nhiệm vụ
QP - AN phù hợp Có thể thấy sự hình thành, phát triển nhận thức, hệ thốngquan điểm của Đảng ta về QP - AN, bảo vệ trong thời kì quá độ lên CNXH đãphản ánh sự trung thành với học thuyết Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minhphù hợp với tình hình nhiệm vụ trong từng thời kì cách mạng, thể hiện việc
Trang 18xác định đường lối, chủ trương, lãnh đạo nhiệm vụ quốc phòng, bảo vệ Tổquốc XHCN Vì vậy, sự kết hợp giữa chiến lược kinh tế - xã hội với chiếnlược QP - AN phải được thực hiện cả trong thời bình và thời chiến, có trọngtâm, trọng điểm, thường xuyên là liên tục Phát huy nội lực, huy động ngoạilực để phát triển kinh tế và tiềm lực QP - AN Chiến lược phát triển kinh tế -
xã hội với chiến lược QP - AN cần thống nhất hướng ưu tiên trong phát triểncác ngành Để từ đó chúng ta đã phát huy được mọi tiềm năng cho xây dựng
và bảo vệ Tổ quốc
1.2.3 Mối quan hệ giữa kinh tế - xã hội với QP - AN
Quan hệ kinh tế và QP - AN là mối quan hệ cơ bản, được hình thành từquá trình dựng nước và giữ nước của dân tộc ta Ngày nay, chúng ta đangtrong quá trình CNH - HĐH thì mối quan hệ này lại có vị trí ngày càng quantrọng, nhất là trong bối cảnh nước ta xây dựng, phát triển nền kinh tế thịtrường định hướng XHCN và mở cửa Do vậy, giải quyết tốt mối quan hệgiữa kinh tế và QP - AN là đòi hỏi tất yếu khách quan trong suốt quá trìnhthực hiện hai nhiệm vụ chiến lược: Xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Kinh tế - xã hội và QP - AN là hai lĩnh vực riêng biệt, mỗi lĩnh vực cómục đích, có cách thức hoạt động và quy luật riêng, song chúng có mối quan
hệ, tác động qua lại lẫn nhau
Kinh tế quyết định việc cung cấp cơ sở vật chất kỹ thuật, nhân lực chohoạt động QP - AN Ph Ăng-ghen đã khẳng định: “thất bại hay thắng lợi củachiến tranh đều phụ thuộc vào điều kiện kinh tế” Vì vậy, để xây dựng QP -
AN vững mạnh là điều kiện để xây dựng, phát triển kinh tế Mặt khác, kinh tếcòn quyết định việc cung cấp số lượng, chất lượng nguồn nhân lực cho QP -
AN Qua đó, quyết định tổ chức biên chế của lực lượng quân đội nhân dân,quyết định đường lối chiến lược quốc phòng - an ninh
Tuy nhiên, QP - AN không chỉ phụ thuộc vào kinh tế mà còn tác độngngược trở lại với kinh tế - xã hội trên cả góc độ tích cực và tiêu cực
Thứ nhất, QP - AN vững mạnh, tạo ra môi trường hòa bình, ổn định lâu dài,
Trang 19tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội Hoạt động QP - AN sẽtiêu tốn đáng kể một phần nguồn nhân lực, vật lực, tài chính của xã hội.
Thứ hai, hoạt động QP - AN có thể dẫn đến hủy hoại nền kinh tế, môi trường
sinh thái, để lại hậu quả nặng nề cho kinh tế, nhất là khi có chiến tranh, khủng
bố, tham nhũng, tội phạm kinh tế, tội phạm môi trường, Để hạn chế nhữngtác động tiêu cực này đòi hỏi kết hợp tốt tăng cường củng cố QP - AN phạmvới phát triển kinh tế - xã hội vào một chỉnh thể thống nhất Kết hợp chặt chẽbảo vệ an ninh kinh tế với phát triển kinh tế, đẩy mạnh CNH - HĐH đất nước,bảo đảm cho nền kinh tế phát triển với tốc độ cao, ổn định, bền vững, đúngđịnh hướng XHCN là điều kiện tiên quyết để tăng cường tiềm lực an ninh,quốc phòng, giữ vững ổn định chính trị - xã hội được ổn định
Trong thời kỳ đổi mới, kinh tế - xã hội mà phát triển không chỉ tạo cơ
sở vật chất kỹ thuật, nguồn lực kinh tế cho tăng cường tiềm lực QP - AN , màcòn tạo cơ sở chính trị - xã hội thuận lợi cho việc nâng cao ý thức trách nhiệmcủa toàn dân đối với nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc Coi sự ổn định và phát triểnbền vững của đất nước là nền tảng của QP - AN Cho nên, sự ổn định và pháttriển bền vững đòi hỏi tăng trưởng kinh tế phải trên cơ sở ổn định về kinh tế
Vì thế, xét cho cùng sự ổn định và phát triển bền vững đời sống kinh tế - xãhội đã tạo điều kiện để giải quyết tốt vấn đề lợi ích của nhân dân, bảo đảm sựthống nhất lợi ích giữa cá nhân với cộng đồng và toàn xã hội, do đó nó chophép huy động được sức mạnh của toàn dân trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc
Từ đó chúng ta thấy rằng, mối quan hệ giữa kinh tế xã hội với QP
-AN không những có những mặt tích cực nhất định và còn có cả những mặttiêu cực Do vậy, sự kết hợp hài hòa giữa kinh tế - xã hội và QP - AN là điềuthiết yếu trong giai đoạn hiện nay Làm sao vừa có thể làm cho kinh tế tăngtrưởng vừa phải tăng cường củng cố QP - AN là yêu cầu và cũng là nhiệm vụcủa chúng ta lúc này
1.3 Cơ sở thực tiễn
1.3.1 Kết hợp phát triển kinh tế xã hội với tăng cường củng cố QP
Trang 20-AN của nước ta trong giai đoạn hiện nay
Kết hợp kinh tế với quốc phòng là hoạt động chủ quan của nhà nướctrên cơ sở nhận thức các quy luật khách quan mà gắn kết chặt chẽ hoạt độnggiữa các ngành, các lĩnh vực kinh tế với quốc phòng nhằm bổ sung, tạo điềukiện cho nhau và thúc đẩy lẫn nhau cùng phát triển nhịp nhàng Kinh tế cóphát triển thì quốc phòng mới được củng cố vững mạnh, góp phần tạo nên sứcmạnh tổng hợp của đất nước Từ đó mà làm cho độc lập, chủ quyền, toàn vẹnlãnh thổ, chế độ chính trị xã hội và lợi ích dân tộc luôn ở trạng thái tự vệ vàđược bảo vệ một cách vững chắc Do vậy, trong giai đoạn hiện nay Đảng tanhấn mạnh sự kết hợp phát triển kinh tế - xã hội với tăng cường, củng cố QP -
AN ở từng nội dung cụ thể trong chiến lược phát triển đất nước
Tư duy chiến lược gắn phát triển kinh tế - xã hội với nhiệm vụ bảo vệvững chắc Tổ quốc đã được Đảng ta khẳng định tại các kỳ Đại hội Đại hội X
của Đảng khẳng định: “Kết hợp kinh tế - xã hội với quốc phòng, an ninh theo phương châm phát triển kinh tế - xã hội là nền tảng để bảo vệ Tổ quốc, ổn định chính trị, củng cố quốc phòng, an ninh vững mạnh là điều kiện để phát triển kinh tế - xã hội… Sự kết hợp phát triển kinh tế - xã hội với củng cố quốc phòng, an ninh phải được thực hiện ngay trên từng địa bàn lãnh thổ… Xây dựng tỉnh, huyện thành khu vực phòng thủ vững chắc… Bố trí thế trận quốc phòng an ninh phù hợp với tình hình mới và kết hợp chặt chẽ với phát triển kinh tế - xã hội” [04; 227 - 228] Đại hội Đảng lần thứ XI nhấn mạnh: “Kết hợp chặt chẽ kinh tế với quốc phòng, an ninh; quốc phòng, an ninh với kinh
tế trong từng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội; chú trọng vùng sâu, vùng xa, biên giới, biển đảo…” [05; 234].
Trên tinh thần đó, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN,hình thành và không ngừng làm gia tăng nguồn của cải vật chất là điều kiệncần để thực hiện kết hợp giữa mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hộivới mục tiêu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN Gia tăng nguồn lựcnội sinh,đầu tư phát triển trên nền tảng gắn kết giữa mục tiêu phát triển kinh
Trang 21tế - xã hội và bảo vệ Tổ quốc Gia tăng nguồn vốn đầu tư phát triển hệ thốngkết cấu hạ tầng, kỹ thuật gắn kết phát triển kinh tế - xã hội với phục vụ nềnquốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân Gắn kết công trình phát triểnkinh tế với công trình phòng thủ Chủ động thực hiện quy hoạch, kế hoạchphát triển kinh tế - xã hội tổng thể quốc gia với nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc; gắnkết và lồng ghép quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội với an ninh,quốc phòng toàn dân, toàn diện.
Việc kết hợp kinh tế với quốc phòng không chỉ đẩy mạnh phát triểnkinh tế mà còn tạo dựng mối liên kết chặt chẽ và thống nhất giữa xây dựngnền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân với quy hoạch tổngthể của quốc gia, các tỉnh, thành phố; các vùng kinh tế, đặc biệt là vùng sâu,vùng xa; vùng đồng bào dân tộc thiểu số; biên giới, hải đảo… Tạo dựng thếchân kiềng vững chắc giữa phát triển kinh tế, bảo đảm, củng cố quốc phòng,
an ninh với phát triển xã hội ngay trong từng bước đi của quá trình phát triển.Gia tăng tiềm lực sức mạnh quân sự trong điều kiện thời bình; chủ động, tíchcực phòng thủ, đáp ứng yêu cầu sẵn sàng chiến đấu trong mọi tình huống; tíchcực, chủ động đẩy mạnh công tác giáo dục QP - AN Tổ chức xây dựng vàvận hành thiết chế giáo dục QP - AN một cách hiệu quả trên cơ sở phối kếthợp giáo dục có hệ thống trong các trường quân đội, các trường dân sự Đẩymạnh hoạt động nghiên cứu khoa học, nghệ thuật quân sự, an ninh Thực hiện
tổ chức, sắp xếp lại lực lượng quân đội làm kinh tế theo hướng bảo đảm hiệuquả kinh tế - xã hội và QP - AN Tiếp tục đầu tư phát triển đội ngũ lực lượng
vũ trang nhân dân ngày càng tinh nhuệ Đầu tư trang bị vũ khí, khí tài hiệnđại, gắn nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc với nhiệm vụ phát triển kinh tế
Trên cơ sở triển khai đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, đa dạng hóa,
đa phương hóa quan hệ quốc tế, Việt Nam có quan hệ ngoại giao với nhiềunước trên thế giới, triển khai nhiều hoạt động đối ngoại quan trọng, sôi độngtrên tất cả các lĩnh vực kinh tế - xã hội, QP - AN ; từ song phương đến đaphương… Là thành viên của nhiều tổ chức kinh tế khu vực và thế giới Việt
Trang 22Nam đã và đang thúc đẩy hợp tác phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội với QP
-AN; nâng cao vị thế và phát huy “sức mạnh mềm” của đất nước, qua đó, thắt
chặt hơn nữa quan hệ của Việt Nam với các đối tác, tăng cường sự hiểu biếtcủa thế giới về Việt Nam; gắn phát triển kinh tế với bảo vệ an ninh, chủquyền quốc gia, chủ quyền biển, đảo, tăng cường hợp tác quốc tế với cácnước ASEAN; tham gia lực lượng gìn giữ hòa bình, an ninh quốc tế
Như vậy, củng cố QP - AN phải đi đôi với phát triển kinh tế - xã hội,phát triển kinh tế - xã hội phải gắn với củng cố tăng cường QP - AN Đây làhai nhiệm vụ then chốt, quan trọng mà Đảng, Nhà nước và nhân dân ta luônnhận thức sâu sắc trong tiến trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt NamXHCN Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, đất nước ta đang bước vào thời kìđẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, chủ động, tích cực hội nhập quốc tếsâu rộng với bối cảnh thế giới đầy biến động, tiềm ẩn nhiều bất trắc, phức tạp,khó lường Các thế lực thù địch vẫn không ngừng tăng cường thực hiện âm
mưu, hoạt động “Diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ nhằm xóa bỏ vai trò
lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam Trong khi đó ở trong nước còn tồntại, phát sinh nhiều vấn đề tiêu cực, tình trạng tham nhũng, quan liêu, biểuhiện xa rời mục tiêu, lí tưởng độc lập dân tộc gắn liền với CNXH, đã và đangtác động ảnh hưởng đến vai trò, uy tín lãnh đạo của Đảng, Nhà nước ta Chính
vì vậy, kết hợp giữa phát triển kinh tế - xã hội với củng cố QP - AN là hainhiệm vụ quan trọng hàng đầu nhằm đảm bảo cho sự phát triển bền vững củađất nước
1.3.2 Thực trạng việc phát triển kinh tế- xã hội với tăng cường củng
cố QP- AN ở vùng biển tỉnh Nam Định trong giai đoạn hiện nay.
Theo đề án “ Tăng cường quản lý, bảo vệ chủ quyền vùng biển, giữ gìn
an ninh trật tự cho phát triển kinh tế - xã hội trên khu vực biên giới biển tỉnh Nam Định trong giai đoạn 2015- 2020” Nam Định là tỉnh ở phía Nam đồng
bằng châu thổ sông Hồng, phía Bắc giáp tỉnh Thái Bình và Hà Nam, phíaTây và Tây Nam giáp Ninh Bình, phía Đông và Nam giáp biển Đông thuộc
Trang 23vùng biển Vịnh Bắc Bộ Trung tâm kinh tế, chính trị văn hóa của tỉnh là thànhphố Nam Định, cách Hà Nội 90 km.
Tỉnh Nam Định có bờ biển dài 72 km, nối tiếp với hai cửa biển và haidòng sông lớn là sông Hồng và sông Đáy, vì vậy Nam Định có một tầm quantrọng về quân sự, kinh tế, chính trị, văn hóa và du lịch
Là hướng phòng thủ thứ yếu của Quân khu 3 Địa hình của tỉnh chủyếu là vùng đồng bằng chiêm trũng, vùng đồng bằng ven biển, bãi bồi cồn cátlượn sóng Ngoài ra, còn có vùng đồi núi và nửa đồi núi Tỉnh có 2 hệ thốngsông lớn là sông Hồng, sông Đáy và nhiều sông nhỏ khác giúp cho giao thôngđường thủy rất thuận lợi Hệ thống đường bộ, đường sắt tương đối phát triển.Đất đai có độ phì nhiêu cao thuận lợi cho việc phát triển nông nghiệp Dọc bờbiển có tới 5 cửa sông, có rất nhiều bãi cá lớn, có 2 cảng lớn là cảng sôngNam Định và cảng biển Hải Thịnh
Trên thềm lục địa bờ biển Nam Định còn có nhiều khả năng khai tháccác nguồn tài nguyên quý giá khác Nam Định là một tỉnh giàu tiềm năng về
du lịch Những di tích lịch sử của tỉnh đồng thời là danh lam thắng cảnh ĐếnNam Định, du khách sẽ có dịp đến thăm khu di tích đời Trần, chùa Tháp PhổMinh, chùa Cổ Lễ, Phủ Giày, Vùng biển của tỉnh có bãi tắm Thịnh Long,sân chim cồn Lu, cồn Ngạn, nơi quy tụ nhiều loại chim hiếm đã được các nhàsinh học nổi tiếng về đây nghiên cứu
Về hệ sinh thái của Nam Định thuộc hệ sinh thái nhiệt đới và á nhiệtđới với hệ thực vật chiếm khoảng 50%, hệ động vật chiếm 40% loài thực vật,động vật của cả nước Nam Định có khu bảo tồn thiên nhiên đất ngập nướcXuân Thủy (Vườn Quốc gia Xuân Thủy), vùng biển ven bờ có nhiều bãi cálớn với nhiều loài hải sản có giá trị kinh tế cao như tôm rảo, tôm vàng, cua
Bờ biển Nam Định dài 72 km, thuộc 3 huyện Giao Thuỷ, Hải Hậu, NghĩaHưng Có 3 cửa sông lớn là cửa Ba Lạt (sông Hồng), cửa Lạch Giang (sôngNinh Cơ), cửa Đáy (sông Đáy) Ngoài khơi các cửa sông của Nam Định hìnhthành nhiều bãi cá,bãi tôm lớn của vịnh Bắc Bộ (bãi cá ngoài khơi từ cửa Ba
Trang 24Lạt đến Hải Phòng; bãi cá từ cửa Ba Lạt đến ngang Lạch Trường- Thanh Hoá;bãi tôm từ cửa Ba Lạt đến ngoài khơi đảo Cát Bà- Hải Phòng).
Nước biển Nam Định có độ mặn cao, ven biển có nhiều cánh đồngmuối lớn, tiêu biểu là đồng muối Văn Lý, với sản lượng muối hàng năm vàoloại cao của cả nước.Sóng biển Nam Định không dữ dội, có nhiều bãi tắm lýtưởng, cát trắng mịn như bãi tắm Thịnh Long, Giao Lâm
Bờ biển Nam Định bị chia cắt khá mạnh mẽ bởi nhiều cửa sông lớn,vùng ven biển nông và bằng phẳng với độ sâu tăng dần từ từ Biển Nam Địnhmỗi năm lùi ra khoảng 100-200 m, do phù sa sông Hồng bồi đắp ở cửa BaLạt, Lạch Giang tạo thêm diện tích khoảng 300 ha/năm Nam Định là tỉnhtrọng điểm nông nghiệp của đồng bằng Bắc Bộ Người dân Nam Định cótruyền thống giỏi trồng lúa từ lâu đời, trong những năm gần đây đang dẫn đầu
cả nước về chuyển đổi cơ cấu giống lúa và mùa vụ Đặc biệt là giống lúa lai
đã được gieo cấy ở tất cả 312 hợp tác xã nông nghiệp trong toàn tỉnh Cáchuyện Xuân Trường, Trực Ninh, Ý Yên, Giao Thuỷ, lúa xuân muộn chiếm tới97% diện tích, lúa lai chiếm tới 50-70% diện tích Lúa lai đã góp phần quyếtđịnh làm cho năng suất lúa Nam Định dẫn đầu cả nước
Việc mở rộng đất trồng lúa của Nam Định rất hạn chế, do đất chưa sửdụng của tỉnh chủ yếu nằm ven biển, đất đai bị nhiễm mặn, thích hợp chotrồng rừng phòng hộ và nuôi trồng thuỷ sản
Ở vùng cồn bãi xa đất liền, ngư dân dùng lưới quây lại thành những
“vuông nuôi” nhuyễn thể, đặc biệt là vạng, vọp, mỗi năm thu hoạch khoảng5.000 tấn
Vùng nước ngọt nội đồng có diện tích 12.000 ha, bao gồm ao, hồ nhỏtrong dân, vùng hồ mặt nước lớn, vùng ruộng chiêm trũng và trên 6.000 hasông ngòi Sản lượng thuỷ sản nước ngọt khoảng 8.000 tấn/năm, với các loạitôm càng xanh, rô phi đơn tính, chép, trôi, trắm, trê lai
Diện tích thích nghi cho lâm nghiệp khoảng 12.000-14.000 ha, chủ yếu
là trồng rừng phòng hộ ven biển thuộc các huyện Giao Thuỷ, Hải Hậu và
Trang 25Nghĩa Hưng Với vị trí của tỉnh nằm gần khu vực kinh tế tăng trưởng Hà Hải Phòng- Quảng Ninh và nhiều trung tâm kinh tế, công nghiệp, du lịch lớnkhác nên có nhiều điều kiện tham gia vào sự phân công, hợp tác để hoà nhậpquá trình phát triển chung của vùng và cả nước
Nội-Nam Định là một trung tâm kinh tế của vùng, tập trung nhiều đầu mốigiao thông quan trọng về đường sắt, đường bộ và đường thuỷ, từ đây có thểtoả đi bất cứ nơi nào trong toàn quốc một cách thuận lợi
Nam Định là một trong những tỉnh có ngành công nghiệp phát triểnsớm so với các tỉnh trong cả nước, từ thời Pháp thuộc, hàng loạt các nhà máy
đã ra đời như nhà máy dệt, máy tơ, máy chai, máy rượu, máy giấy, máy in,máy nước, máy điện nhưng tiêu biểu nhất là nhà máy dệt Nam Định, đượcxây dựng từ năm 1889
Nghề thủ công của Nam Định khá phát triển, có khoảng trên 200 nghề,tiêu biểu chế biến nông sản, thực phẩm, nghề rèn, dệt, may, thêu ren, chạmkhắc, tiện gỗ, đan lát tre mây, chế tác vàng bạc, dệt chiếu, sơn mài, đục đẽo
đá, gốm sứ, trồng cây cảnh Hiện toàn tỉnh có khoảng 88 làng nghề, 29 làngnghề truyền thống
Tóm lại Nam Định có các điều kiện về địa lý, cơ sở hạ tầng, đất đai, lựclượng lao động cũng như nguồn nguyên liệu để phát triển một số ngành côngnghiệp chủ lực như công nghiệp chế biến, dệt may, da giày, cơ khí, điện, sảnxuất vật liệu xây dựng, đặc biệt là phát triển kinh tế biển góp phần thực hiệnthành công sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá của tỉnh từ nay đến năm
2020 và xa hơn
1.3.3 Nguyên nhân và những vấn đề đặt ra cho việc phát triển kinh
tế - xã hội với tăng cường củng cố QP - AN ở vùng biển tỉnh Nam Định trong giai đoạn hiện nay.
Nắm vững và vận dụng sáng tạo, linh hoạt đường lối, chính sách mớicủa Đảng và Nhà nước, chú trọng phát triển kinh tế - xã hội gắn với tăngcường, củng cố QP - AN, Đảng bộ và chính quyền ở tỉnh Nam Định đã lãnh
Trang 26đạo nhân dân trong tỉnh thực hiện nhiệm vụ chính trị, kinh tế - xã hội nhằmphát huy cao nhất lợi thế, tiềm năng của mình Nhìn vào sự phát triển kinh tếcủa tỉnh Nam Định trong những năm gần đây có thể thấy nét nổi bật của vùng
là nền kinh tế tăng trưởng nhanh, ổn định, cơ cấu kinh tế từng bước chuyểndịch theo hướng CNH - HĐH, tiềm năng kinh tế hộ được phát huy, các thànhphần kinh tế được đa dạng hóa và đang thích ứng dần với cơ chế thị trường,tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội
Năm 2016, tỉnh Nam Định thực hiện các nhiệm vụ kinh tế - xã hộitrong bối cảnh kinh tế thế giới đang dần phục hồi nhưng còn tiềm ẩn nhiều rủi
ro, tình hình kinh tế - xã hội trong nước thuận lợi hơn nhưng vẫn còn nhiềukhó khăn, thách thức: Khó khăn trong sản xuất kinh doanh chưa được giảiquyết triệt để, những yếu kém nội tại chậm được khắc phục, hiệu quả sản xuấtkinh doanh và sức mạnh của nền kinh tế còn thấp, rét đậm, rét hại ngay từ đầunăm, thời tiết âm u kéo dài Đời sống của người dân, nhất là đối tượng chínhsách, người nghèo, người lao động có thu nhập thấp vẫn còn khó khăn Ngay
từ đầu năm, với sự chỉ đạo sát sao và quyết tâm cao của Tỉnh ủy, HĐND tỉnh,
sự đổi mới mạnh mẽ trong lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành của UBND tỉnh,UBND các huyện, thị trấn, sự nỗ lực của các doanh nghiệp và nhân dân trongtỉnh, tình hình kinh tế - xã hội của huyện có sự chuyển biến tích cực, đúnghướng và tiếp tục tăng trưởng khá
Tỉnh Nam Định xác định nhiệm vụ quan trọng năm 2016 là “Tiếp tục đổi mới công tác lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành và công tác cán bộ, đề cao tinh thần trách nhiệm của cán bộ, công chức, viên chức, đẩy mạnh công tác cải cách hành chính; Tập trung dồn sức hoàn thành kế hoạch, đầu tư xây dựng
hạ tầng thiết yếu, nâng cao hiệu quả công tác quản lí đô thị - đất đai, quan tâm cải thiện chất lượng môi trường Hoàn thành vượt mức chỉ tiêu thu ngân sách; Điều hành tốt ngân sách năm 2016 Phát triển văn hóa giáo dục, nâng cao chất lượng dạy nghề, đảm bảo an sinh xã hội Đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả công tác phòng chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm chống lãng
Trang 27phí, làm tốt công tác giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo Đảm bảo tốt an ninh quốc phòng và trật tự an toàn xã hội” [02; 3].
Do xác định được nhiệm vụ trọng tâm của vùng nên đã đạt được nhiềuthành tựu về mặt kinh tế cũng như QP - AN:
Qua tình hình thực tiễn của năm 2015 tỉnh Nam Định đã đề ra kế hoạchcho năm 2016 và những năm tiếp theo là 8,5 - 9,5% Trong đó, công nghiệp –xây dựng tăng 7 - 8%, thương mại – dịch vụ tăng 3,5 - 3,5% Từ đó, đạt đượcnhững kết quả sau:
Về mặt kinh tế thì tốc độ tăng trưởng trong năm 2015 cao hơn so vớinăm 2014, cụ thể là: Cơ cấu kinh tế năm 2014 với công nghiệp là 68,02%,dịch vụ thương mại là 35,03%, nông nghiệp là 20,69% còn năm 2015: Côngnghiệp là 78,09%, dịch vụ thương mại là 47,56%, nông nghiệp là 20,89%.Tổng giá trị sản xuất trên địa bàn tăng 8,5%, đạt chỉ tiêu kế hoạch đề ra.Trong đó, công nghiệp tăng 8,55%, xây dựng cơ bản tăng 8,9%, dịch vụthương mại tăng 11,7%, nông lâm thủy sản tăng 3,51% so với năm 2014 Cơcấu kinh tế do huyện quản lý chuyển dịch tích cực, tỷ trọng ngành côngnghiệp giảm 2,61% Thu nhập bình quân đầu người đạt 29,4 triệu đồng/người/năm, tăng 14,28% so với năm 2014 Vì vậy, từ những kết quả đạt được năm
2015 là cơ sở tinh Nam Định vạch ra những chỉ tiêu mới về kinh tế năm 2016như là: Kinh tế, văn hóa – xã hội, xây dựng để từ đó đáp ứng được nhu cầu,tình hình của thực tiễn đề ra
Về QP - AN thì an ninh chính trị được giữ vững, trật tự an toàn xã hội
ổn định; nhiệm vụ quốc phòng, quân sự địa phương được duy trì Các lựclượng công an, quân đội đã phối hợp tốt, đảm bảo an ninh chính trị, an ninhnội bộ, an ninh nông thôn, không để xảy ra tình huống bất ngờ cảng hàng.Trật tự an toàn xã hội được đảm bảo, tội phạm các loại được kiềm chế, khôngphát sinh các điểm nóng, tụ điểm phức tạp về tệ nạn xã hội, tỷ lệ điều tra, phá
án hình sự được nâng cao Trật tự an toàn giao thông, trật tự công cộng được
đảm bảo, tai nạn giao thông nghiêm trọng giảm Phong trào “Toàn dân bảo
Trang 28vệ an ninh Tổ quốc” được triển khai rộng khắp.
Trước tình hình biển Đông có nhiều diễn biến phức tạp do Trung Quốcđặt dàn khoan Hải Dương 981 xâm phạm chủ quyền biển đảo của Việt Nam,huyện đã chủ động làm tốt công tác tuyên truyền, vận động các tầng lớp nhândân không tham gia tuần hành, biểu tình trái pháp luật làm ảnh hưởng xấu đến
an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội của huyện Chủ động triển khai cácgiải pháp đảm bảo an toàn tuyệt đối cho người và tài sản của các doanhnghiệp nước ngoài, không để xảy ra đình công, biểu tình, gây rối
Duy trì nghiêm chế độ trực sẵn sàng chiến đấu Thực hiện tốt công táchuấn luyện, hội thao lực lượng dân quân tự vệ, diễn tập tác chiến trị an, côngtác tuyển chọn và gọi quân nhập ngũ năm 2014 Hoàn thành chỉ tiêu bồidưỡng kiến thức QP - AN cho các đối tượng, lực lượng an ninh, quân sự từtỉnh đến cơ sở được tăng cường, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ năm 2014
Như vậy, việc kết hợp phát triển kinh tế - xã hội luôn luôn phải songhành với vấn đề QP - AN Việc kết hợp giữa kinh tế với quốc phòng là điềucần thiết trong quá trình phát triển kinh tế của vùng Chỉ có giữ vững ổn định
xã hội thì kinh tế mới có điều kiện phát huy được hết những yếu tố thuận lợicủa mình Do vậy, trong mỗi mục tiêu, chiến lược phát triển của vùng điều có
sự kết hợp hài hòa, cân đối giữa kinh tế - xã hội với QP - AN nhằm tăngcường sức mạnh quốc phòng của tỉnh Nam Định, đồng thời ngăn chặn đượcnhững rủi ro, tiêu cực đối với sự phát triển của vùng
Tốc độ tăng trưởng bình quân của tỉnh là 42,3%/năm, với sự vào cuộccủa cả hệ thống chính trị và sự tham gia tích cực của các tầng lớp nhân dân thìvùng đã đạt được một kết quả đáng phấn khởi Trong bối cảnh có nhiều khókhăn hơn dự báo, nhưng kinh tế của tỉnh vẫn duy trì ổn định, có mức tăngtrưởng khá, an sinh xã hội được bảo đảm, giáo dục, văn hóa, y tế có nhiều tiến
bộ, công tác quy hoạch, quản lý đất đai, quản lý đô thị giao thông, bảo vệ môitrường được tăng cường, nông nghiệp và hạ tầng nông thôn được chú trọngđầu tư, công tác phòng chống tham nhũng, lãng phí, cải cách hành chính được
Trang 29triển khai quyết liệt, an ninh chính trị được giữ vững, trật tự xã hội được đảmbảo Đây là cố gắng, nỗ lực rất lớn của cấp ủy Đảng, chính quyền, doanhnghiệp và nhân dân trong huyện.
Nhưng bên cạnh những kết quả đã đạt được thì còn những tồn tại, hạnchế mà tỉnh chưa làm được Đây là vấn đề đặt ra cho vùng cần phải giải quyết
và khắc phục để có thể thực hiện tốt trong quá trình phát triển kinh tế - xã hộicũng như củng cố QP - AN của vùng, đó là:
Kinh tế đã có bước phục hồi, tuy nhiên còn chậm, tốc độ tăng trưởngngành thương nghiệp, dịch vụ còn thấp 8 chỉ tiêu kinh tế - xã hội chưa đạt kếhoạch: Trường chuẩn quốc gia (do tập trung kinh phí cho việc chống quá tải vàxuống cấp của các trường học); giảm hộ nghèo, tỷ lệ thôn làng văn hóa, số giấychứng nhận quyền sử dụng đất; quyền sở hữu nhà ở, đất ở cấp cho hộ gia đình,
cá nhân mua nhà tại các dự án phát triển nhà ở, thu nhập bình quân đầu người,hình thành vùng sản xuất vốn cây trồng lúa, số người đưa đi cai nghiện
Việc rà soát, điều chỉnh quy hoạch nông thôn mới ở các xã chậm
Công tác quản lý về đất đai, trật tự xây dựng, môi trường ở các xã cònyếu, còn gây bức xúc cho người dân, chưa xử lý dứt điểm các vụ vi phạm, xử
lý những vụ vi phạm tồn đọng yếu kém, không dứt điểm
Công tác giảm nghèo thiếu bền vững, một số xã tỷ lệ tái nghèo, hộnghèo mới còn cao Việc duy trì các tiêu chí làng văn hóa ở một số thôn làngchưa được yêu cầu
Việc chấp hành kết luận của thanh tra, chỉ đạo của tỉnh trong giải quyếtđơn thư có chuyển biến song còn chậm
Ngoài những nguyên nhân khách quan là tình hình kinh tế thế giới,trong nước gặp nhiều khó khăn, khối lượng công việc lớn, biến động tronglãnh đạo chủ chốt của tỉnh, Nhà nước giao chỉ tiêu kinh tế - xã hội cho tỉnhchưa sát với thực tế
Công tác lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý, điều hành, tổ chức thực hiện vàtrách nhiệm của người đứng đầu ở một số lĩnh vực, một số phòng, ban, ngành,
Trang 30nhất là các xã còn thiếu tập trung, chưa thực sự quyết liệt, còn trì trệ, thiếuchủ động, sáng tạo, cách thức triển khai giải quyết các vấn đề nóng, nhạycảm, bức xúc ở các phòng ban, các xã chưa tốt, còn đùn đẩy, né tránh.
Kỷ cương hành chính, ý thức tổ chức kỷ luật, tinh thần trách nhiệm,hiệu quả công việc của một bộ phận công chức, viên chức còn yếu kém
Chính vì vậy, nhiệm vụ cần thiết của vùng lúc này là khắc phục nhữngyếu kém về kinh tế - xã hội nhằm phát huy được lợi thế của vùng hiện có vàlàm nền tảng phát triển trong các năm tới
Trang 31TIỂU KẾT CHƯƠNG 1
Từ quan điểm của Chủ nghĩa Mác Lê Nin, quan điểm của Đảng và Chủtịch Hồ Chí Minh cho thấy rằng phát triển kinh tế - xã hội với tăng cườngcủng cố QP - AN là một yếu tố khách quan của mọi thời kì Nhận thức đượcđiều nàytỉnh Nam Định đã phát huy được yếu tố tích cực của sự kết hợp giữaphát triển kinh tế - xã hội và QP - AN nhằm giúp khu vực ứng dụng nhữngquan điểm đó vào thực tiễn phát triển của vùng Trong mọi ngành, mọi lĩnhvực của tỉnh Nam Định đều phải giải quyết mối quan hệ giữa kinh tế - xã hộivới tăng cường củng cố QP - AN để đưa kinh tế của vùng phát triển được bềnvững cũng như an ninh của huyện được ổn định Đây là vấn đề then chốttrong phát triển kinh tế của vùng
Những cơ sở lí luận đó là luận cứ để vùng xây dựng một nền kinh tế và
QP - AN ngày càng vững mạnh Các quan điểm đó là kim chỉ nam địnhhướng cho sự phát triển của vùng Do vậy trong quá trình phát triển mà vùngchỉ chú trọng đến sự phát triển kinh tế mà không quan tâm đến QP - AN thìkhông thể tránh khỏi những rủi ro mà bên ngoài mang lại Trong khi đó cácthế lực thù địch bên ngoài luôn có các hành động nhằm phá hoại nền kinh tếcũng như sự ổn định của vùng Cho nên trong sự phát triển kinh tế của vùngluôn phải chú trọng đến phát triển QP - AN Một nền quốc phòng được ổnđịnh sẽ là nền tảng giúp kinh tế vùng phát triển được ổn định và lâu dài
Vì vậy, trong thực tiễn kết hợp phát triển kinh tế - xã hội với tăngcường củng cố QP - AN ở vùng biển tỉnh Nam Định đang dần khắc phụcđược những khó khăn nội tại của vùng Khi mà giải quyết đúng đắn hai nhiệm
vụ chiến lược này sẽ đáp ứng được tình hình thực tiễn đặt ra Nếu sự kết hợpnày mà hợp lí sẽ giúp kinh tế của vùng tạo ra của cải, vật chất ngày càng tăngkhông ngừng nâng cao tiềm lực, sức mạnh kinh tế của tỉnh Nam Định Chính
vì vậy, những định hướng của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh vạch ra đườnglối, chiến lược cho vùng phát triển
Trang 32Chương 2 KẾT HỢP PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI VỚI TĂNG CƯỜNG CỦNG CỐ QUỐC PHÒNG - AN NINH Ở VÙNG BIỂN TỈNH NAM ĐỊNH
TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
2.1 Nội dung phát triển kinh tế - xã hội với tăng cường củng cố QP
QP - AN của đất nước Nam Định có 3 khu công nghiệp lớn là khu côngnghiệp Hòa Xá, khu công nghiệp Bảo Minh và khu công nghiệp Mỹ Trung
đã đi vào hoạt động với tổng diện tích mặt bằng hơn 601 ha Đến nay, 3 khucông nghiệp đã thu hút 156 dự án đầu tư thứ cấp với tổng vốn đăng ký 7.210
tỷ đồng và 308,7 USD
Nhắc đến Nam Định trước tiên là nhắc đến ngành công nghiệp dệt may,đây là ngành công nghiệp mũi nhọn phát triển mạnh mẽ và đều ở các huyện,thành phố, chiếm tỉ trọng từ 39 đến 40% tổng giá trị toàn ngành công nghiệp,phát huy tối đa ưu thế, trên 230 doanh nghiệp dệt may toàn tỉnh đã khôngngừng nỗ lực đẩy mạnh sản xuất kinh doanh, giữ vững các thị trường xuấtkhẩu truyền thống và phát triển đa dạng các dòng sản phẩm phục vụ phânkhúc thị trường Trên địa bàn tỉnh Nam Định có nhiều công ty dệt may lớn
Trang 33như công ty may Sông Hồng, công ty trách nhiệm hữu hạn Youngone NamĐịnh, công ty may Duy Minh, nhà máy Dệt Nam Định Đứng thứ hai vàcũng khẳng định vị thế vững vàng đó là ngành cơ khí với các nhóm sản xuấtmáy móc thiết bị phục vụ công nghiệp, nông nghiệp, xây dựng, giadụng Năm 2015 ngành cơ khí đạt giá trị sản xuất công nghiệp đạt 11 nghìn
tỷ đồng, tăng 10,1% so với năm 2014 và ước tính con số này tăng lên cao hơntrong năm 2016 này và trong những năm tiếp theo Tiếp theo là phát triển củangành công nghiệp đóng tàu ở các huyện Giao Thủy, Hải Hậu, Xuân TrườngBên cạnh các hợp đồng đóng mới tàu cá vỏ thép được hỗ trợ tín dụng theoNghị quyết số 67 của Chính phủ, nhiều doanh nghiệp đóng tàu đã ký kết đượccác hợp đồng đóng mới tàu vận tải hàng hải, tàu vận tải khách khách Vận tảipha sông biển đang được kích cầu phát triển cũng mở ra cơ hội việc làm lớncho các doanh nghiệp đóng tàu vận tải phát triển các dịch vụ như: sửa chữa,thay thế
Ngoài hai mũi nhọn chủ lực là dệt may, cơ khi, các ngành công nghiệpsản xuất vật liệu xây dựng, sản xuất thuốc và hóa dược, chế biến lương thực –thực phẩm vẫn duy trì ổn định, góp phần giữ vững tốc độ tăng trưởng củatoàn ngành
Chính vì thế trong năm vừa qua giá trị sản xuất công nghiệp tăng bìnhquân 22,3% năm (trong đó: công nghiệp Trung ương tăng 9,1%, công nghiệpđịa phương tăng 23,7%, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 26,5%) Khuvực sản xuất công nghiệp- xây dựng đã thu hút thêm trên 22.400 lao động( trong đó có trên 10.000 lao động nông nghiệp chuyển sang) Nhiều doanhnghiệp đã vượt qua khó khăn do tác động của khủng hoảng kinh tế, tiếp tụcđầu tư đổi mới thiết bị, công nghệ và quản lý, mở rộng thị trường Số doanhnghiệp thành lập mới 2.555 doanh nghiệp Các ngành sản xuất chủ yếu đều cómức tăng trưởng khá
Toàn tỉnh hiện có 113 làng nghề, trong đó có 74 nghề và làng nghềtruyền thống được công nhận, với trên 52.000 hộ tham gia sản xuất; hàng năm
Trang 34thu hút trên 130.000 lao động nông thôn.
Với sự ổn định về chính trị và QP- AN cũng như có hệ thống cơ sở hạtầng phát triển tốt trong nhiều năm gần đây Nam Định đã thu hút được vốnđầu tư trong và ngoài nước, đặc biệt là thu hút được vốn đầu tư nước ngoàinhư vốn đầu tư của Nhật Bản, Đài Loan, Hàn Quốc đã xây dựng được nhiều
cơ sở sản xuất hàng hóa tại địa bàn tỉnh Nam Định Đây cũng là cơ hội choNam Định phát triển cũng như tạo ra công ăn việc làm cho lực lượng lao độngtrong tỉnh cũng như các tỉnh lân cận như Thái Bình, Ninh Bình, Hà Nam
Để có được kết quả trên, những năm qua và đặc biệt là trong nhiều nămtới UBND tỉnh phải thường xuyên chỉ đạo Sở Công thương lập quy hoạch,phối hợp với các cơ sở, ban ngành và các UBND các huyện, thành phố thammưu với các tỉnh để định hướng chỉ đạo, ban hành các cơ chế hỗ trợ, khuyếnkhích, tạo điều kiện về thủ tục, mặt bằng, vốn để các doanh nghiệp, cơ sởsản xuất, kinh doanh Để các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất, khu công nghiệp,cụm công nghiệp không ngừng nỗ lực đổi mới công nghệ, nâng cao chấtlượng sản phẩm, chú trọng xây dựng thương hiệu, tạo uy tín để chiếm lĩnhtrên thị trường
Đặc biệt là trong tình hình mới cần tập trung đầu tư phát triển ngànhcông nghiệp liên quan đến quốc phòng như cơ khí chế tạo, điện tử, côngnghiệp, điện tử kĩ thuật cao để trang bị cơ giới cho nền kinh tế cũng như sảnxuất sản phẩm kĩ thuật cao phục vụ quốc phòng, an ninh của tỉnh Nam Định.Ngoài ra, xây dựng kế hoạch động viên công nghiệp quốc phòng phục vụ thờichiến, thực hiện dự trữ chiến lược các nguyên, vật liệu cho sản xuất quân sự
(Theo số liệu báo cáo chính trị của ban cháp hành Đảng bộ tỉnh khóa XVIII trình đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XIX ).
Thứ hai, kết hợp phát triển kinh tế - xã hội gắn với đảm bảo QP - AN
trong nông, lâm, ngư nghiệp Đây là ngành kinh tế có vai trò quan trọng ởnước ta, nó đảm bảo cho cuộc sống con người phát triển lâu dài Hiện naynước ta vẫn còn 70% dân số ở nông thôn và làm nghề nông, lâm, ngư nghiệp
Trang 35Đảng và Nhà nước ta xác định nông, lâm, ngư nghiệp là ngành có vị trí đặcbiệt quan trọng, đồng thời khẳng định nông nghiệp là nền tảng của ổn định.
Vì vậy, đẩy mạnh phát triển nông, lâm, ngư nghiệp gắn với QP - AN của làvấn đề có ý nghĩa thực tiễn to lớn trong tình hình hiện nay Đây cũng là bước
cụ thể hóa góp phần quán triệt quan điểm kết hợp phát triển kinh tế - xã hộivới tăng cường QP - AN của Đảng, đáp ứng yêu cầu mới của sự nghiệp xâydựng và bảo vệ Tổ quốc của khu vực
Quan tâm đầu tư hạ tầng, hỗi trợ sản xuất, tăng cường ứng dụng tiến bộ
kỹ thuật, đưa cơ giới hóa vào sản xuất, tỷ lệ cơ giới hóa trong khâu làm đấtlúa đạt 90% Công tác thú y, bảo vệ thực vật được quan tâm, tăng cường,ngăn chặn, phòng chống có hiệu quả, không để dịch bệnh lây lan, bùng pháttrên diện rộng
Công tác thủy lợi, đê điều, phòng chống lụt bão được tập trung chỉ đạo,đảm bảo cung cấp đủ nguồn nước tưới cho sản xuất, không để xảy ra các sự
cố về đê điều trong mùa mưa bão
Trong quá trình phát triển nông, lâm, ngư nghiệp tỉnh Nam Định cũng
nhấn mạnh đến việc kết hợp với QP - AN trong lĩnh vực nàyCơ cấu nội bộngành nông nghiệp chuyển dịch tích cực: Trồng trọt giảm từ 59,7% năm
2010 giảm xuống còn 47,3% năm 2015; chăn nuôi và dịch vụ tăng từ40,3% lên 52,7% Cơ cấu cây trồng được chuyển dịch sang các loại cây cógiá trị kinh tế cao, hạn chế sâu bệnh Sản xuất vụ đông được duy trì vàphát triển ( năm 2015 đạt 17.000 ha, tăng 11,95% so với năm 2010) Bước
đầu hình thành các vùng chuyên canh theo mô hình “cánh đồng mẫu lớn”
cho hiệu quả kinh tế cao Đã hình thành một số mô hình mới trong liên kết
tổ chức sản xuất, tiêu thụ sản xuất hàng hóa theo chuỗi giá trị
Chăn nuôi phát triển theo hướng chăn nuôi trang trại, gia trại quy
mô vừa và nhỏ, đảm bảo an toàn dịch bệnh Số hộ chăn nuôi nhỏ lẻ giảm
từ 85% năm 2010 xuống còn 60% năm 2015 Toàn tỉnh có 3.998 trangtrại, gia trại; trong đó có 674 trang trại đạt tiêu chí mới Sản xuất thịt hơi
Trang 36xuất chuồng hàng năm tăng nhanh, năm 2016 ước ddajt161.100 tấn, tăng27,6% so với năm 2010.
Thủy sản tiếp tục phát triển; giá trị tăng bình quân7,3%/năm Nuôitrồng thủy sản chuyển dần từ quảng canh sang thâm canh, hình thành cácvùng nuôi tập trung Khai thác thủy sản được duy trì và từng bước nângcao năng lực khai thác xa bờ gắn với bảo vệ chủ quyền biển đảo
Sản xuất muối được duy trì ổn định hàng năm với diện tích khoảng
600 ha, sản lượng bình quân đạt 65 nghìn tấn/năm, đáp ứng cơ bản nhucầu muối sản xuất và tiêu dùng.Triển khai tích cực chương trình trồng,bảo vệ và phát triển rừng, nhất là rừng ngập mặn, góp phần quan trọngbảo vệ đa dạng sinh học và giảm thiểu tác động của biến đổi khí hậu
Kinh tế hợp tác tích cực được củng cố, từng bước khẳng định vai trò
tổ chức sản xuất ở nông thôn Nhiều hợp tác xã cân đối được thu chi vàkinh doanh có lãi Ban nông nghiệp xã đã làm tốt công tác tham mưu chochính quyền cấp xã, định hướng xây dựng kế hoạch, hướng dẫn kỹ thuậtsản xuất nông nghiệp.Nam Định được biết đến là tỉnh có nhiều mặt lợi vềngành sản xuất nông nghiệp, là vùng đồng bằng mầu mỡ được bồi đặp bởi
hệ thống các con sông lớn như sông Hồng và sông Thái Bình Là nơi cónhiều sản vật nổi tiếng và có giá trị của ngành nông, lâm, ngư nghiệp như:gạo Hải Hậu, các loại thủy sản như tôm, cua, cá có giá trị cao và thươnghiệu trên thị trường trong và ngài nước
Đồng thời tỉnh Nam Định còn chú trọng tới công tác xây dựng nôngthôn mới, làm thay đổi diện mạo nông thôn, thúc đẩy sản xuất phát triển,góp phần nâng cao đời sống nhân dân Ban Chấp hành Đảng bội tỉnh đãtập trung chỉ đạo kiện toàn ban chỉ đạo các cấp; khảo sát đánh giá hiệntrjng nông thôn, xây dựng đề án phù hợp với điều kiện của địa phương;xác định rõ lộ trình, bước đi cụ thể; chọ và triển khai khâu đột phá là dồnđiền đổi thửa, xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng trực tiếp phục vụ sảnxuất nông nghiệp; ban hành nhiều chế độ hỗ trợ, sản xuất đầu tư Phát huy
Trang 37sức mạnh của cả hệ thống chính trị, đặc biệt là vai trò của chi Bộ Đảng,của thôn xóm, vai trò chủ thể của hộ gia đình trong xây dựng nông thôn
mới Với phương châm “ Nhân dân làm, nhà nước hỗ trợ”bước đầu xây
dựng chương trình nông thôn mới trên địa bàn toàn tỉnh đã dần hoànthiện, huy động được gần 10 nghìn tỉ đồng, nhân dân đã góp 2.920 ha đấtnông nghiệp và hiến gần 200 ha đất thổ cư làm giao thông cho nông thôn,giao thông, thủy lợi nội đồng Huyện Hải Hậu đã được Thủ tướng Chínhphủ công nhận đạt chuẩn huyện nông thôn mới năm 2015 là một trong 5địa phương dẫn đầu cả nước về xây dựng nông thôn mới
Kết hợp trong nông, lâm, ngư nghiệp phải gắn với việc giải quyết tốtcác vấn đề xã hội như xóa đói, giảm nghèo, nâng cao dân trí, chăm sóc sứckhỏe, đền ơn đáp nghĩa, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân,xây dựng nông thôn mới văn minh và hiện đại Bảo đảm an ninh lương thực
và an ninh nông thôn, góp phần thế trận phòng thủ, “thế trận lòng dân” vững
chắc Cho nên, việc kết hợp kinh tế với quốc phòng trong nông, lâm, ngưnghiệp là nội dung cần thiết trong chiến lược phát triển kinh tế vùng
Thứ ba, kết hợp trong giao thông vận tải, bưu điện, y tế, khoa học công nghệ, giáo dục và xây dựng cơ bản
Trong giao thông vận tải
Giao thông vận tải là ngành có ý nghĩa to lớn đối với đời sống văn hóa,kinh tế - xã hội cũng như chính trị, quốc phòng của tỉnh Nam Định Do vậy,tỉnh Nam Định ngày càng phát triển giao thông vận tải của vùng để đảm bảo
sự tăng cường giữa kinh tế và QP - AN
Giao thông vận tải làm cho sự giao thương giữa các vùng trong nướcđược mật thiết, dễ dàng hơn, sự quản lý của chính quyền các cấp được chặt chẽhơn Hoạt động của ngành giao thông vận tải góp phần tăng cường tính thốngnhất Giao thông vận tải phát triển và hoạt động tốt cho phép xây dựng tậptrung các công trình y tế, giáo dục, dịch vụ công cộng và khai thác có hiệu quảcông suất của các công trình này