Những lợi thế của vùng để phát triển nông nghiệp ĐBSCL có một nền nhiệt cao và ổn định trong toàn vùng, là mộttrong những lợi thế để phát triển một nền nông nghiệp nhiệt đới vớinhiều chủ
Trang 1NÔNG NGHIỆP VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
THỰC TRẠNG, CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC
TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP
TS Nguyễn Thế Bình
Phân viện Quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp
1 Vị trí của vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long và vai trò của nông nghiệp
Trong hệ thống phân vùng kinh tế nông nghiệp hiện nay của ViệtNam, thì cả nước được chia ra 7 vùng: vùng Trung Du & Miền Núi; vùngĐồng Bằng Sông Hồng; vùng Bắc Duyên Hải Trung Bộ; vùng NamDuyên Hải Trung Bộ; vùng Tây Nguyên; vùng Đông Nam Bộ và vùngĐồng Bằng Sông Cửu Long
Đồng Bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL) là vùng cực Nam của tổ quốc, làphần hạ lưu châu thổ sông Mê Kông nằm trên lãnh thổ Việt Nam, phía Bắcgiáp Campuchia, phía Nam giáp biển Đông, phía Tây giáp vịnh Thái Lan
Về vị trí địa lý kinh tế, ĐBSCL nằm trong khu vực có đường giaothông hàng hải và hàng không quốc tế quan trọng, giữa Nam Á và Đông
Á cũng như với châu Úc và các quần đảo khác trong Thái Bình Dương,
vị trí này hết sức quan trọng trong giao lưu quốc tế
Trong phạm vi cả nước, ĐBSCL kết hợp với miền Đông Nam Bộ, cựcNam Trung Bộ và Nam Tây Nguyên, cùng với vòng cung các đảo vàquần đảo tiền tiêu như: Phú quốc, Thổ Chu, Côn Đảo và quần đảoTrường Sa đã tạo cho nó một vị trí chiến lược toàn diện cả về kinh tế vàquốc phòng Vị trí này đã cho thấy cả thế thuận lợi cũng như thế xungyếu của ĐBSCL, đồng thời trong sự phát triển của nó, không thể nàokhông gắn bó hữu cơ với miền Đông Nam Bộ, cực Nam Trung Bộ vàTây nguyên cũng như thềm lục địa tiếp cận với hệ thống các đảo và quầnđảo quần tụ hay rải rác ngoài khơi
Trang 2ĐBSCL có diện tích tự nhiên xấp xỉ 4 triệu ha, chiếm khoảng 12%tổng diện tích cả nước Trong đó đất nông nghiệp chiếm 27,4%, đất canhtác lúa chiếm 45,8%, đất cây ăn quả chiếm 36,4%, đất nuôi trồng thủysản chiếm 71,6% (trong đó đất nuôi tôm chiếm 91,8%) của cả nước Theo ranh giới hành chính hiện nay, vùng ĐBSCL có 13 tỉnh, thànhphố là: Long An, Tiền Giang, Bến Tre, Đồng Tháp, Vĩnh Long, Trà Vinh,Hậu Giang, Sóc Trăng, An Giang, Kiên Giang, Bạc Liêu, Cà Mau vàthành phố Cần Thơ, bao gồm 121 đơn vị hành chính cấp huyện, 1.571đơn vị hành chính cấp xã, với 17,8 triệu dân, chiếm 22% dân số cả nước.
Ở ĐBSCL mỗi tỉnh có khoảng 10 huyện, mỗi huyện quản lý khoảng35.000 ‑ 40.000 ha đất tự nhiên và 130.000 ‑ 150.000 dân, bình quân mỗihuyện có 11 xã, mỗi xã quản lý từ 3.000 ‑ 3.500 ha đất tự nhiên và 12.000
ĐBSCL là vùng trọng điểm sản xuất lương thực, thực phẩm của cảnước Giá trị sản xuất nông, lâm, thủy sản của vùng hàng năm chiếmkhoảng 40%, kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản chiếm trên 42%tổng ngành nông, lâm, thủy sản cả nước Sản lượng lúa của vùng ĐBSCLchiếm trên 50% tổng sản lượng lúa và hàng năm đóng góp trên 90% sảnlượng gạo xuất khẩu và trên 94% giá trị xuất khẩu gạo của cả nước.ĐBSCL cũng là vùng nuôi trồng thủy sản lớn nhất nước, diện tích nuôichiếm 71%, sản lượng nuôi chiếm 72% của cả nước và giá trị xuất khẩuthủy sản chiếm đến 75% của cả nước ĐBSCL còn là vùng có tiềm năngphát triển chăn nuôi để cung cấp thịt, trứng cho nội vùng, cho cả nước
và xuất khẩu Hàng năm có đến 50% sản lượng các sản phẩm vật nuôichính (thịt, trứng các loại) được đưa ra khỏi vùng để cung ứng cho thànhphố Hồ Chí Minh, các vùng khác và tham gia xuất khẩu
Với vai trò quan trọng như trên, cho nên từ trước đến nay, mọi thăngtrầm trong phát triển kinh tế nói chung và nông nghiệp nói riêng ởĐBSCL đều có ảnh hưởng đến kinh tế chung của cả nước, nhất là cán
Trang 3cân lương thực quốc gia Sự phát triển đa dạng và sự chuyển dịch theohướng tích cực về cơ cấu sản xuất nông nghiệp ở ĐBSCL sẽ góp phầnquan trọng đưa sản xuất nông nghiệp của cả nước phát triển có chấtlượng và hiệu quả hơn
2 Những lợi thế của vùng để phát triển nông nghiệp
ĐBSCL có một nền nhiệt cao và ổn định trong toàn vùng, là mộttrong những lợi thế để phát triển một nền nông nghiệp nhiệt đới vớinhiều chủng loại cây trồng, vật nuôi, tạo nên sự đa dạng trong sản xuất
và trong chuyển dịch cơ cấu sản xuất
Nguồn nước mặt ở ĐBSCL khá dồi dào với khoảng 2.500 km sông rạch
tự nhiên, khoảng 3.000 km kênh đào và khoảng 1 triệu ha bề mặt ngậpnước theo mùa, mang nguồn nước dàn trải hầu như rộng khắp đồng bằng,
mà lớn nhất, chủ yếu nhất là hệ thống sông Cửu Long, đã hình thành nhiều
hệ sinh thái đa dạng, là nơi sinh trưởng và cư trú của nhiều hệ động, thựcvật thích nghi với cả môi trường nước ngọt và mặn, trong đó nhiều đốitượng cho hiệu quả kinh tế cao có thể hướng tới sản xuất tốt
Thủy triều biển Đông theo sông Tiền, sông Hậu, sông Vàm Cỏ xâmnhập sâu vào đồng bằng và ảnh hương lên phần lớn diên tích củaĐBSCL, gồm toàn bộ vùng tả sông Tiền, vùng giữa sông Tiền và sôngHậu, phần lớn vùng Tứ Giác Long Xuyên và phần lớn vùng BĐCM Sựxâm nhập của thủy triều kéo theo sự xâm nhập của mặn cho khoảng 1,7triệu ha đất vùng ven biển, làm ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệpnói chung, nhưng lại mở ra một tiềm năng lớn phát triển nuôi trồng thủysản nước mặn và nước lợ để lấy sản phẩm cho tiêu dùng trong nước vàxuất khẩu
Do chế độ thủy văn có tính chu kỳ hàng năm, nên có gần 2 triệu ha,trải rộng trên lãnh thổ của 9 tỉnh (An Giang, Đồng Tháp, Kiên Giang,
Tp Cần Thơ, Hậu Giang, Vĩnh Long, Tiền Giang, Long An và Bến Tre)
bị ngập lũ kéo dài từ tháng VIII đến tháng XII với các cấp độ ngập khácnhau Lũ mang nguồn phù sa bồi đắp cho đồng ruộng, dòng chảy lũ cótác dụng tốt trong việc cải tạo môi trường nước và cải tạo đất, vệ sinhđồng ruộng; mặt khác, cung cấp nguồn nước ngọt quan trọng cho sảnxuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản, kinh tế dân sinh và tạo nên mộtvùng sinh thái nước ngọt rộng lớn cho đồng bằng
Trang 4Đất đai ở ĐBSCL có nhiều loại, phục vụ đa dạng cho phát triển kinh
tế và có nhiều thuận lợi cho phát triển sản xuất nông nghiệp: bao gồm:1,2 triệu ha đất phù sa tốt (chiếm 29,7%), 1,6 triệu ha đất phèn (chiếm40%), 744 ngàn ha đất mặn (chiếm tỷ lệ 16,7%), 134 ngàn ha đất xám(chiếm 3,4%) Nhóm đất phù sa bồi và không bồi là những loại đất tốt,không có hạn chế Nhóm đất phèn, đất mặn và đất xám, có những hạnchế nhất định cho sản xuất, nhưng nông dân đã có nhiều kinh nghiệmđối phó qua việc dùng nước như là một thứ vũ khí để chế ngự phèn,nên đã tạo ra được hệ cây trồng thích ứng
Lao động xã hội hiện có khoảng 9 triệu người (48% dân số), mức tăng
BQ hàng năm gần 3% tương đương với khoảng 200 ngàn người Laođộng ở ĐBSCL đã tiếp cận với nền sản xuất hàng hóa, nên có ý thức caotrong kinh doanh và chuyển đổi sản xuất nông nghiệp
3 Thực trạng và quá trình chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy sản của vùng
Giai đoạn từ sau đổi mới đến trước năm 2000, hầu như mọi nguồnlực của vùng đã được huy động và tập trung cho khai thác tiềm năng tựnhiên để mở rộng diện tích và gia tăng sản lượng nông sản, trước hết làsản lượng lúa nhằm bảo đảm vững chắc an ninh lương thực quốc gia
Vì thế, tốc độ tăng GTSX nông nghiệp đạt khá cao (6,9%/năm), trong khithủy sản chỉ đạt mức 8,8%/năm và lâm nghiệp, mặc dù có sự đầu tư lớn
từ hai Chương trình 327 và 773, nhưng tốc độ tăng cũng chỉ đạt7,5%/năm, dẫn tới cơ cấu GTSX nông, lâm nghiệp và thủy sản của vùngchuyển dịch chậm, trong đó nông nghiệp giảm từ 85% xuống 77,8%, lâmnghiệp giảm từ 3,0% xuống 2,2% và thủy sản tăng từ 12% lên 20%.Giai đoạn từ 2001 đến nay, cơ cấu sản xuất nông, lâm nghiệp và thủysản của vùng chuyển đổi theo hướng khai thác lợi thế của từng tiểuvùng, nhất là ở các tỉnh ven biển đã có sự chuyển mạnh từ sản xuất nôngnghiệp sang NTTS Kết quả là GTSX nông nghiệp đã giảm nhanh từ77,8% xuống còn 63,6% và thủy sản tăng từ 20% lên 34,8%, cao hơn 2,5lần mức bình quân 5 năm của các giai đoạn trước, tạo đà cho tăng trưởngtoàn ngành đạt 9%/năm, cao nhất từ trước tới nay và tăng đều ở cả balĩnh vực, nông nghiệp tăng 6,3%/năm, lâm nghiệp tăng 5,1%/năm vàthủy sản tăng 16,2%, trong đó NTTS tăng 18%/năm
Trang 5Đối với ngành nông nghiệp, nhằm phát triển cân đối giữa trồng trọt
và chăn nuôi, chăn nuôi của vùng luôn được chú trọng phát triển, nhưng
do hạn chế bởi phương thức chăn nuôi ở hộ gia đình quy mô nhỏ, nhất
là ở các khu vực ngập lũ, cộng với khả năng cạnh tranh của các sản phẩmchăn nuôi không cao và bị ảnh hưởng dịch bệnh nên chăn nuôi pháttriển chậm và kém ổn định Mặt khác, do giá cả một số sản phẩm trồngtrọt tăng, dẫn tới cơ cấu giữa trồng trọt, chăn nuôi và dịch vụ trước đâyvốn đã chuyển dịch chậm, đến giai đoạn trước 2007 chuyển dịch cònchậm hơn, trong đó trồng trọt tăng từ 78,3% lên 78,5% (cả nước là 76,5%),chăn nuôi tăng từ 14,4% lên 14,8% (cả nước là 21%) và dịch vụ giảm từ7,1% xuống 6,7% (cả nước là 2,1%)
Xu hướng chuyển dịch cơ cấu sản xuất ngành nông nghiệp của vùng
có những điểm nổi bật, một la, sản xuất lương thực có xu hướng giảm
về diện tích, nhưng năng suất và hiệu quả được nâng lên rõ rệt; hai là,
sản xuất cây ăn trái của vùng tăng mạnh cả về diện tích và năng suất,nhưng chất lượng chậm cải thiện và thị trường xuất khẩu hạn chế, dẫn
tới thu nhập bình quân trên một ha không cao; ba là, hệ số đa dạng hóa
đất sản xuất nông nghiệp tăng liên tục từ 23% năm 1995 lên 24% năm
2000 và 26% năm 2007, nhưng hệ số đa dạng hóa trên đất trồng cây hàng
năm lại tăng không đáng kể và đang ở mức thấp; bốn là, kim ngạch xuất
khẩu bình quân ha đất nông nghiệp tuy có tăng nhưng còn ở mức thấp,
chỉ xấp xỉ bằng 20% kim ngạch xuất khẩu bình quân ha NTTS; năm là,
chăn nuôi và dịch vụ nông nghiệp có biểu hiện giảm sút và chiếm tỉtrọng nhỏ
Đối với ngành lâm nghiệp, diện tích rừng trồng tăng nhờ thực hiệnChương trình 327, 773 và gần đây một số hộ có diện tích canh tác lúa ởvùng Đồng Tháp Mười và Tứ Giác Long Xuyên đã chuyển một phần sangtrồng tràm và bạch đàn Bên cạnh đó, các mô hình lâm nghiệp kết hợp vớinuôi tôm, cá và động vật rừng có chiều hướng gia tăng, dẫn tới GTSXtrồng, chăm sóc rừng và lâm sản khác tăng từ 6,9% và 5,9% năm 2001 lên8,6% và 7,5% năm 2007 Ngược lại, sản lượng khai thác rừng hàng nămkhông lớn và giảm từ 87,2% còn 84,2% GTSX bình quân một ha đất córừng và tỉ lệ đất có rừng trong đất nông, lâm nghiệp có xu thế tăng
Xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành thủy sản có những điểm
nổi bật, một là, NTTS tăng nhanh về quy mô diện tích gắn lợi thế của từng
Trang 6tiểu vùng, bước đầu hình thành các vùng sản xuất nguyên liệu khá lớn;
hai là, GTSX bình quân một ha NTTS tăng nhanh từ 39 triệu năm 1995lên 71 triệu năm 2000 và lên 87 triệu năm 2007, cao hơn 285% so với một
ha đất nông nghiệp; ba là, kim ngạch xuất khẩu bình quân một ha đất
NTTS tăng nhanh ở giai đoạn 1996 ‑ 2000, sau đó giảm dần nhưng vẫncao hơn 7 ‑ 8 lần so với một ha đất sản xuất nông nghiệp Thủy sản là lợithế lớn của vùng, đã được phát triển toàn diện cả về khai thác, nuôi trồng
và chế biến, nên đã trở thành ngành hàng mũi nhọn sau sản xuất lúa.Trong trồng trọt, diện tích canh tác lúa không tăng mà có xu hướnggiảm đi, nhưng sản lượng lúa vẫn có xu thế tăng do thâm canh tăngnăng suất lúa hiệu quả Do có điều kiện tự nhiên và xã hội đặc trưng,nên sản xuất lúa gạo vẫn là lợi thế số một của vùng, mặc dù những nămqua, diện tích canh tác lúa giảm trên 250 ngàn ha do chuyển sang cácmục đích khác, nhưng sản lượng vẫn tăng (năm 2007 đạt trên 18,7 triệutấn, chiếm 52% tổng sản lúa cả nước và cao hơn sản lượng năm 2000 trên
2 triệu tấn), nên vẫn đảm bảo mục tiêu an ninh lương thực quốc gia vàhàng năm xuất khẩu 4,5 ‑ 5,0 triệu tấn gạo
Cây ăn quả có thế mạnh thứ 2 sau lúa, xu thế hiện nay một mặtchuyển đổi theo hướng tăng diện tích, tăng sản lượng, mặt khác chuyểnđổi cơ cấu chủng loại theo hướng phát triển các cây ăn quả đặc sản, chấtlượng cao
Sản xuất rau, hoa, các cây công nghiệp ngắn ngày đều có bước tăngtrưởng khá Nhiều mô hình đã áp dụng TBKT mới để nâng cao năngsuất và chất lượng sản phẩm Hoa, cây cảnh đáp ứng tốt yêu cầu trongvùng, cho Tp HCM và bước đầu xuất khẩu thu ngọai tệ
Chăn nuôi phát triển, nhưng chưa vững chắc và bị chi phối bởi dịchbệnh và phương thức chăn nuôi nhỏ, phân tán theo hộ gia đình, Tuynhiên, cơ cấu và chất lượng gia súc, gia cầm đang chuyển đổi theo hướnggắn với thị trường Đã xuất hiện những mô hình tổng hợp trồng trọt vàchăn nuôi, chăn nuôi và thủy sản cho giá trị cao
Trên phạm vi của đồng bằng, bước đầu đã hình thành các vùng sảnxuất hàng hóa tập trung ứng dụng công nghệ sản xuất mới để tăng năngsuất, giảm giá thành, tăng chất lượng sản phẩm, tăng tính cạnh tranh vàtăng thu nhập cho người sản xuất
Trang 7Ở các tỉnh và các tiểu vùng sinh thái nông nghiệp, mặc dù mức độ
có khác nhau do điều kiện cụ thể của từng nơi, nhưng đều đã xuất hiệnnhiều mô hình chuyển dịch sản xuất luân canh trên nền đất lúa, các môhình chuyển đất lúa sang nuôi trồng thủy sản, trồng cây ăn trái… chohiệu quả kinh tế cao
4 Những tồn tại, hạn chế của vùng trong phát triển nông nghiệp
Phát triển sản xuất các ngành hàng trong nông nghiệp còn thiếuvững chắc, có những mặt mang tính tự phát, chưa gắn tốt với nhu cầucủa thị trường và công nghiệp chế biến, một số sản phẩm sản xuất rakhó tiêu thụ và giá bán không cao, thiếu ổn định
Năng suất, chất lượng và hiệu quả sản xuất của hầu hết các nông sảnhàng hóa còn thấp so với các nước trong khu vực và thế giới, nhất là vềtiêu chuẩn an toàn thực phẩm, nên sức cạnh tranh trên thị trường còn yếu.Nhiều mặt hàng có nhu cầu cao trong nước có thể sản xuất ở vùng(ngô, đậu nành, bông, thịt bò, sữa bò…), nhưng quy mô sản xuất còn rấtnhỏ và chất lượng chưa cao nên chậm thay thế được hàng nhập khẩu Khu vực II (công nghiệp và xây dựng) chậm phát triển nên khôngthúc đẩy được khu vực I (nông, lâm, thủy sản) Mặc dù sản xuất đãhướng ra xuất khẩu, nhưng hàng hóa từ khu vực I chủ yếu bán sảnphẩm thô, nên giá trị gia tăng chưa cao
Các thành phần kinh tế trong nông nghiệp chậm chuyển đổi, đếnnay cơ bản vẫn là kinh tế hộ sản xuất nhỏ, sản xuất cá thể manh múnchạy theo thị trường, HTX và hiệp hội các ngành hàng chậm phát triển,liên kết “4 nhà” yếu, mới được phát động và chưa triển khai đều khắpcho các loại ngành hàng và còn gặp nhiều khó khăn
Khoa học và công nghệ trong nông nghiệp phát triển còn chậm sovới yêu cầu chuyển đổi cơ cấu sản xuất, nhất là còn thiếu những giốngcây, con có năng suất, chất lượng cao đáp ứng nhu cầu ngày càng caocủa thị trường
Hạ tầng phục vụ sản xuất kém phát triển, nhất là khu vực nông thôn,nơi là địa bàn sản xuất chính của nông nghiệp Cho nên chưa đưa đượcngười đầu tư đến nhanh và chuyển tải hàng hóa bán ra ngoài nhanh
Trang 8Đầu tư cho nông nghiệp và nông thôn từ ngân sách nhà nước cònthấp so với yêu cầu phát triển và thiếu cân đối giữa các lĩnh vực, chủyếu mới tập trung cho lĩnh vực thủy lợi, giống và kỹ thuật canh tác,trong khi hỗ trợ đầu tư từ các tổ chức tín dụng và doanh nghiệp cònhạn chế.
5 Những cơ hội cho phát triển nông nghiệp của vùng
Vùng ĐBSCL là địa bàn tiếp giáp với một thị trường lớn là vùngĐNB, đang và sẽ có nhu cầu cao về lương thực, thực phẩm và nông, thủysản cho công nghiệp chế biến, đồng thời là địa bàn thu hút nhiều laođộng và có khả năng cung cấp các dịch vụ như xuất nhập khẩu, y tế,đào tạo, chuyển giao công nghệ
Ở vùng ĐBSCL sẽ hình thành những trung tâm kinh tế, giao thươnglớn gắn liền với phát triển mạnh công nghiệp và dịch vụ để tạo bộ khungtăng trưởng, các trung tâm lan tỏa cả vùng Xây dựng nhanh và toàndiện Cần Thơ, thành phố trực thuộc trung ương và phát triển tứ giácCần Thơ ‑ An Giang ‑ Kiên Giang ‑ Cà Mau, là vùng kinh tế trọng điểmcủa cả nước Ngoài ra, trên vùng sẽ hình thành các trung tâm kinh tếgiao thương lớn như Phú Quốc (Kiên Giang), khu kinh tế Định An (TràVinh), khu kinh tế Năm Căn (Cà Mau)
Tổ chức lãnh thổ của vùng ĐBSCL sẽ phát triển theo hướng kinh tế
mở hướng ra biển, xâm nhập vào các nước Asean Phát triển hướng rabiển đông là hướng chuyển dịch căn bản cơ cấu kinh tế của vùng đểvượt ra khỏi nền nông nghiệp truyền thống
Nhà nước đang và sẽ tăng cường đầu tư kết cấu hạ tầng, nhất là hạtầng giao thông phục vụ phát triển kinh tế ‑ xã hội, bảo vệ môi trườngphòng tránh thiên tai, thích ứng với biến đổi khí hậu, vì đây là nhữngvấn đề vừa cấp thiết vừa rất cơ bản
Chính phủ đã phê duyệt quy hoạch hệ thống cảng hàng không vùngĐBSCL bao gồm 4 cảng là Cần Thơ, Rạch Giá, Phú Quốc và Cà Mau,trong đó cảng Cần Thơ là cảng quốc tế khu vực tiếp nhận được máy bay
A 320, B 737 Ngoài ra cầu Cần Thơ, cầu Rạch Miễu, đường cao tốc TpHCM ‑ Trung Lương đã và đang hoàn thành sẽ là những công trình giaothông quan trọng tạo điều kiện cho ĐBSCL cất cánh
Trang 9Định hướng trong những năm tới và lâu dài, sản xuất lương thực ởnước ta vẫn là một khâu then chốt để đảm bảo an ninh lương thực quốcgia và là cơ sở để công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước ĐBSCL là vựathóc của cả nước, do đó sản xuất lúa vẫn được xác định là nhiệm vụtrọng tâm nhất để cung ứng gạo cho nhu cầu nội vùng, trong nước vàxuất khẩu
Nuôi trồng và khai thác thủy sản vẫn đang được chú trọng đầu tưphát triển theo đúng nghĩa là ngành mũi nhọn, gắn với công nghiệp chếbiến và xuất khẩu, để tạo ra gía trị thu nhập cao và góp phần giải quyếtviệc làm cho cư dân
Phát triển cây ăn qủa để tăng hiệu qủa sử dụng đất và tăng thu nhậpcho người sản xuất theo hướng tập trung giải quyết vấn đề giống, chútrọng thành tựu của công nghệ sinh học, công nghệ gen với việc nhậpnội và lai tạo các giống mới có giá trị kinh tế cao, gắn sản xuất với chếbiến, tiêu thụ, phục vụ cho xuất khẩu và cho thị trường nội địa, nhất là
ở các thành phố lớn, khu công nghiệp, khu du lịch
Phát triển các cây thực phẩm và các cây công nghiệp ngắn ngày, vừa
để đáp ứng nhu cầu hàng ngày của nội vùng, vừa cung ứng cho TpHCM và là nguồn nguyên liệu cho công nghiệp chế biến
Phát triển chăn nuôi tiếp tục được thúc đẩy với các loại vật nuôichính như: heo, gia cầm, bò thịt… trong đó lợn và gia cầm được xem là
có tính chuyên môn hóa cao Ngành nông nghiệp đang tích cực quyhoạch và hướng dẫn các tỉnh chuyển đổi phương thức chăn nuôi sangtập trung thâm canh, bán thâm canh, gắn với các cơ sở giết mổ tập trung
để đảm bảo an toàn dịch bệnh và vệ sinh thực phẩm
6 Những thách thức trong quá trình phát triển nông nghiệp của vùng
Thách thức về cơ cấu kinh tế, cho đến nay ĐBSCL vẫn cơ bản là mộtvùng nông nghiệp, có lượng nông sản hàng hóa lớn, mới phát triển côngnghiệp Kinh tế nông nghiệp vẫn là một nền kinh tế thuần nông và thiên
về cây lúa, biểu thị bản chất cơ cấu kinh tế lạc hậu
Thách thức về tài nguyên đất, theo số liệu kiểm kê năm 2005 chỉ còn52,1 ngàn ha đất chưa sử dụng, tức là chỉ khoảng 1% so với số đã khai
Trang 10thác sử dụng Vì thế việc khai thác theo chiều rộng, mở mang thêm diệntích là giới hạn Vấn đề đặt ra là sử dụng đất của ngành này tăng lên sẽchiếm đất của ngành khác, trong nông nghiệp muốn tăng sản lượngnông sản không còn con đường nào khác là phải tăng vụ và thâm canhtăng năng suất.
Thách thức về nguồn nước tưới, mùa khô khi lưu lượng nước trênsông giảm thấp, nhất là các lo ngại do các nước thượng lưu sông MêKông phát triển thủy điện sẽ gây ra tình trạng thiếu nước và các vấn đềmôi trường nghiêm trọng cho hạ lưu, ĐBSCL sẽ bị thiếu nước, nước mặnxâm nhập ở nhiều khu vực do khai thác nước ngọt vượt quá giới hạnkhách quan mà nguồn nước cho phép, điều này làm cho việc tăng vụ vàtăng năng suất cây trồng khó khăn, đồng thời ảnh hưởng tới việc cungcấp nước sinh hoạt và trong một số trường hợp còn gây biến động trongcác hệ sinh thái sẵn có của đồng bằng
Thách thức của việc chống lũ, chống lũ triệt để sẽ mâu thuẫn với việcquản lý tài nguyên nước như: lấy phù sa vào ruộng, nuôi cá trong đồng,chứa nước và lấy nước từ sông, rửa phèn và làm sạch đồng ruộng , mặtkhác chống lũ triệt để sẽ làm dâng mức nước lũ trên một vùng rộnglớn phía thượng nguồn, đó là điều không khả thi Những tính toán tối
ưu cho thấy nên “sống chung với lũ”, tức là chỉ nên chống lũ triệt để ởnhững khu vực ngập nông, còn những vùng bị ngập sâu nên chống lũbằng giải pháp không triệt để, tức là bằng những hệ thống đê thấp, đêlửng nhằm làm chậm lũ, tạo điều kiện để thu hoạch vụ sản xuất Hè Thu,sau đó cho lũ tràn vào để lấy phù sa và vệ sinh đồng ruộng
Thách thức của ảnh hưởng biến đổi khí hậu và nước biển dâng như
là tăng tần số, cường độ, tính biến động và tính cực đoan của các yếu tốthời tiết như: bão, lốc, nhiệt độ, lượng mưa, lũ lụt, hạn hán, xâm nhậpmặn, dịch bệnh… dẫn đến biến động thay đổi ranh giới các vùng sinhthái ngọt, mặn cũng như cơ sở hạ tầng và điều kiện sống của cư dân… Thách thức của những vấn đề có liên quan đến yếu tố kinh tế ‑ xãhội mà trong điều kiện hiện nay chưa thể giải quyết ngay và triệt đểđược Đó là những vấn đề như: xây dựng kết cấu hạ tầng, cải thiện điềukiện thị trường, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, các chính sách liênquan đến đất đai, thương mại, vốn Nếu không tăng tốc giải quyết tốtnhững vấn đề này, thì ĐBSCL vẫn rất chậm để thoát ra khỏi vùng nông
Trang 11nghiệp có nền sản xuất hướng nội, tính đa dạng hóa thấp, thiên về trồngtrọt, yếu về chăn nuôi; thiên về sản phẩm thô, yếu về chế biến
7 Những vấn đề đặt ra tiếp tục nghiên cứu để tạo điều kiện cho phát triển nông nghiệp của vùng
Điều kiện tự nhiên và kinh tế ‑ xã hội ở vùng ĐBSCL cho phát triểnnông nghiệp có nhiều thuận lợi nhưng cũng không ít khó khăn Tuynhiên, chiến lược phát triển nông nghiệp của vùng ĐBSCL được xem là
đã khá rõ: là vùng có tiềm năng đa dạng phát triển lúa gạo, thủy sản,cây ăn trái, các cây công nghiệp lấy nguyên liệu cho công nghiệp chếbiến và chăn nuôi gia súc, gia cầm Sản phẩm lúa gạo và thủy sản củavùng đang có tính cạnh tranh cao trong tiêu thụ trên thị trường, nhưngchăn nuôi chưa đáp ứng được thị hiếu người tiêu dùng, tính cạnh tranhthấp, còn các loại sản phẩm khác như cây ăn trái và các cây hàng nămkhác đang có xu thế vươn lên để cạnh tranh chiếm lĩnh thị trường Nguồn tài nguyên ở ĐBSCL rất đa dạng nhưng là có hạn, cho nênmọi ý tưởng và hành động có liên quan đến đảm bảo an ninh sản xuấtlương thực, đa dạng hóa sản xuất nông nghiệp ở ĐBSCL theo hướngnâng cao thu nhập cho người sản xuất, trên cơ sở khai thác hợp lý cácnguồn tài nguyên và bảo vệ môi trường hiện nay đều là cần thiết và cấpbách Tuy nhiên, việc khai thác phải đảm bảo sự hài hoà giữa các tiểuvùng, các lĩnh vực, để hỗ trợ nhau, không triệt tiêu lợi ích của nhau vàchủ động bảo vệ rừng, nguồn nước, môi trường cho sản xuất, nhất làmôi trường vùng ven biển và vùng ngập lũ, là những nơi khá nhạy cảm,
có tác động ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống kinh tế, dân sinh của hàngtriệu cư dân
Ở ĐBSCL cây lúa vẫn là cây lương thực quan trọng nhất, mang tính
ổn định nhất và được xem là cơ sở để phát triển các đối tượng khác.Tuy nhiên nền nông nghiệp của ĐBSCL cần từng bước phát triển theohướng đa dạng hóa nhằm: tận dụng một cách tối đa lợi thế của vùngsinh thái; phát huy tốt nhất lực lượng lao động tại chỗ đang trong tìnhtrạng thiếu việc làm ngày càng tăng; thoả mãn tốt hơn những yêu cầu
về lương thực ‑ thực phẩm khác ngoài lúa, về thủy sản và sản phẩm vậtnuôi; tạo nguồn nguyên liệu cho công nghiệp chế biến nhằm nâng caogiá trị hàng nông sản
Trang 12Trong bối cảnh hiện nay, thị trường là yếu tố quyết định cho sản xuất,tuy nhiên, giá nông sản thế giới không ổn định và xu hướng chung làgiảm, trong khi nông sản của ta gía thành còn cao, chất lượng còn hạnchế và lại chưa có thương hiệu riêng Vì thế, vấn đề đặt ra không chỉ làcoi trọng sản xuất, để giảm chi phí trung gian, giảm gía thành và nângcao chất lượng sản phẩm, mà còn là vấn đề tiêu thụ, tức là phải giảiquyết đồng bộ các nội dung có liên quan đến vận chuyển, bảo quản, chếbiến, bán buôn, bán lẻ, dịch vụ tư vấn, tiếp thị quảng cáo, xây dựngthương hiệu
Sự gia tăng nhanh chóng về dân số, về sản xuất nông nghiệp, nhất làcho sản xuất lúa và các cây khác đã kéo theo sự gia tăng nhu cầu sử dụngnước ngọt ở ĐBSCL, nhất là trong mùa khô Tuy nhiên không có sựkhẳng định chắc chắn nào về lưu lượng dòng chảy đảm bảo cho vùngĐBSCL từ các nước chung dòng sông Mê Kông ở phía thượng nguồn.Trong thực tế bất kỳ một chiến lược sử dụng và quản lý nước nào choĐBSCL cũng đều cần phải xem xét đến các phương án phát triển củavùng thượng lưu, nhất là các dự án tưới và dự án thủy điện
Tình trạng biến đổi khí hậu trên toàn cầu và khu vực có xu thế ngàycàng bất lợi như nước biển dâng, nhiệt độ tăng cao tác động xấu đếnsản xuất nông nghiệp‑nông thôn và làm cho tình trạng sản xuất vàcung cấp lương thực trên toàn cầu trở nên bấp bênh hơn, Vì thế, cầnthiết nghiên cứu, đánh giá một cách bài bản khoa học những tác độngcủa biến đổi khí hậu đến nông nghiệp‑nông thôn để có giải pháp thíchứng phát triển sản xuất, nhất là sản xuất lương thực và bảo vệ đời sốngdân cư
Nghiên cứu phát triển nông thôn tổng hợp vùng ĐBSCL cần baogồm nhiều lĩnh vực như: hiện đại hóa nông nghiệp; quản lý nguồnnước; hỗ trợ tầm nhìn tam nông; phát triển công nghiệp và hoạt độngphi nông nghiệp; phát triển mạng lưới giao thông đường thủy, đường
bộ và đường hàng không; mở rộng đô thị; phát triển nguồn nhân lực;cải thiện giáo dục và y tế; quản lý thiên tai và biến đổi khí hậu; bảo vệmôi trường
Một số giải pháp chủ yếu cần tiếp tục nghiên cứu, triển khai thựchiện để phát triển sản xuất nông nghiệp và đẩy nhanh chuyển dịch cơcấu kinh tế nông nghiệp vùng ĐBSCL trong thời gian tới là:
Trang 13(1) Phát triển các ngành hàng sản xuất chính trong nông, lâm nghiệp,thủy sản theo hướng tập trung, thâm canh, tăng năng suất và tăng tínhcanh tranh.
(2) Khai thác lợi thế của từng tiểu vùng sinh thái để sản xuất các mặthàng có giá trị kinh tế cao, hình thành các vùng sản xuất chuyên canhquy mô lớn gắn với công nghiệp chế biến, góp phần nâng cao hiệu quảsản xuất, tạo sự phát triển đồng bộ và hợp lý giữa các tiểu vùng
(3) Đa dạng hóa chủ sở hữu trong nông nghiệp vận hành theo cơ chếthị trường định hướng XHCN, khắc phục tình trạng sản xuất tự phát,manh mún và kém hiệu quả, hình thành quan hệ sản xuất lớn trongnông nghiệp, nông thôn
(4) Thúc đẩy xúc tiến thương mại, mở rộng thị trường tiêu thụ nhằm
ổn định đầu ra cho nông dân và nâng cao giá bán nông sản hàng hóa (5) Tăng cường nghiên cứu, chuyển giao và ứng dụng có hiệu quảtiến bộ khoa học và công nghệ vào sản xuất, tăng sức cạnh tranh củanông sản hàng hóa trên thị trường trong nước và xuất khẩu
(6) Phát triển kết cấu hạ tầng nông nghiệp, nông thôn theo hướngngày càng hiện đại đáp ứng yêu cầu chuyển đổi cơ cấu sản xuất và đờisống nông dân, nhất là vùng sâu vùng xa, vùng đồng bào dân tộc vàbiên giới
(7) Phát triển mạnh công nghiệp chế biến và ngành nghề nôngthôn phục vụ nông nghiệp, nhất là công nghiệp chế biến lương thực,thực phẩm
(8) Đào tạo phát triển nguồn nhân lực phục vụ chuyển đổi cơ cấukinh tế nông nghiệp gắn với nâng cao dân trí và đời sống xã hội khu vựcnông thôn
(9) Tiếp tục đổi mới cơ chế chính sách phù hợp với yêu cầu chuyểndịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa và hộinhập kinh tế khu vực và thế giới