1. Trang chủ
  2. » Kinh Doanh - Tiếp Thị

Nhân tố con người trong lực lượng sản xuất với sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh hà nam hiện nay

69 186 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 69
Dung lượng 119,39 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

đến năm 2020 Hà Nam cơ bản trở thành nước công nghiệp thì một trong những yêu cầu cấp bách hiện nay là nâng cao chất lượng nguồn lực con người của tỉnh.Xuất phát từ yêu cầu đó, tác giả đ

Trang 1

LỜI CẢM ƠN

Để thực hiện được đề tài này, tôi đã nhận được sự giúp đỡ rất nhiều của các thầy, cô giáo trong khoa Lý luận Chính trị - Giáo dục Công dân trường Đại học Sư phạm Hà Nội Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các thầy, cô giáo trong khoa, đặc biệt là các thầy, cô giảng dạy bộ môn Triết học

Hơn hết, tôi tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo – PGS.TS Nguyễn Văn

Cư, giảng viên hướng dẫn việc thực hiện đề tài của tôi Trong quá trình thực hiện đề

tài này, thầy là người đã tận tâm chỉ bảo, hướng dẫn, cung cấp, giới thiệu những tài liệu cần thiết để tôi hoàn thiện đề tài này

Do những điều kiện khách quan và chủ quan khác nhau cùng những hạn chế của người viết nên đề tài chắc chắn còn nhiều sai sót, rất mong nhận được sự góp ý của quý thầy cô và các bạn !

Hà Nội, Ngày tháng năm

Người thực hiện

Trần Thị Nụ

Trang 2

MỤC LỤC

Trang 4

MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài

Lịch sử phát triển của xã hội loài người cho đến nay đã và đang trải qua những chế độ xã hội khác nhau, từ chế độ xã hội thấp lên xã hội có trình độ cao hơn, tiến bộ hơn Nguyên nhân sâu xa dẫn đến sự thay đổi đó là sự phát triển của kinh tế, trong đó sự phát triển của lực lượng sản xuất là yếu tố quyết định nhất

Lực lượng sản xuất biểu thị mối quan hệ giữa con người với tự nhiên Trong các yếu tố hợp thành lực lượng sản xuất thì yếu tố người lao động giữ vai trò quyết

định Lênin đã khẳng định: “Lực lượng sản xuất hàng đầu của toàn thể nhân loại là

công nhân, là người lao động” [9, tr430]

Nguồn lực con người có vai trò to lớn trong sự phát triển nhanh và bền vững của mỗi quốc gia Quốc gia nào quan tâm và phát huy tốt nhân tố con người quốc gia

đó sẽ thành công Việt Nam muốn thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa thì một trong những yêu cầu cấp bách là phát triển nhân tố con người Trong 30 năm đổi mới ở nước ta, nguồn lực con người đã tăng nhanh về số lượng, chất lượng đã được cải thiện, cơ cấu có sự biến đổi tích cực Song nhìn chung chất lượng nguồn nhân lực còn thấp, cơ cấu chưa hợp lý, chưa đáp ứng được yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Đại hội XI của Đảng chỉ rõ: “phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao” là một trong ba khâu đột phá chiến lược Đây là nguồn lực của mọi nguồn lực, là nội lực quan trọng nhất bảo đảm đưa nước ta trở thành một nước CNH,HĐH Vì vậy việc phát huy có hiệu quả nguồn lực con người của đất nước

là vấn đề có ý nghĩa lâu dài đối với Việt Nam

Thực hiện đường lối đổi mới của Đảng và các nghị quyết của Đại hội Đảng

bộ tỉnh Hà Nam, kinh tế - xã hội của tỉnh đã phát triển khá toàn diện, tốc độ tăng trưởng kinh tế khá cao, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực hiện đại Nguồn lực con người ở Hà Nam đã có sự phát triển cả về số lượng, chất lượng và

cơ cấu Tuy nhiên, nguồn lực của con người của Hà Nam nhìn chung vừa thừa lại vừa thiếu, chất lượng còn thấp, đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao còn ít, cơ cấu và phân bố chưa hợp lý Để đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội, phấn đấu

Trang 5

đến năm 2020 Hà Nam cơ bản trở thành nước công nghiệp thì một trong những yêu cầu cấp bách hiện nay là nâng cao chất lượng nguồn lực con người của tỉnh.

Xuất phát từ yêu cầu đó, tác giả đã chọn đề tài: “Nhân tố con người trong lực lượng sản xuất với sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh Hà Nam hiện nay” để làm khóa luận tốt nghiệp của mình.

2. Lịch sử nghiên cứu đề tài

Vấn đề yếu tố con người, về lực lượng sản xuất và phát triển nhân tố con người từ trước đến nay đã được nhiều học giả quan tâm nghiên cứu ở nhiều mặt, nhiều góc độ khác nhau, với nhiều hình thức khác nhau Có thể khái quát một số công trình nghiên cứu như sau:

- Các công trình, sách, báo, tạp chí nghiên cứu về mặt lý luận nguồn lực con người

như: “Nghiên cứu con người và nguồn nhân lực” Niên giám nghiên cứu số 3 do Phạm Minh Hạc chủ biên, Nxb Khoa học xã hội, năm 2004 “Nguồn lực con người

trong quá trình CNH,HĐH ở Việt Nam” của Đoàn Văn Khải, Nxb Lý luận chính trị,

2005

- Các công trình nghiên cứu về nhóm giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực

như: “Các giải pháp chủ yếu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phục vụ nhu cầu

CNH, HĐH đất nước” luận án tiến sỹ của Phan Thanh Tâm Kỷ yếu “Nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn nhân lực trong thời kì CNH,HĐH ở Việt Nam” của Nguyễn

Viết Vượng, Nguyễn Khắc Thanh, Nxb Lao động, 2006

- Có nhiều tác giả đi chuyên sâu vào vấn đề giáo dục – đào tạo, đào tạo nghề, việc

làm, chuyển dịch cơ cấu lao động của nguồn nhân lực như: “Đào tạo và sử dụng

nguồn nhân lực trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam” của Phan Văn Kha, Nxb

Giáo dục, 2007; “Giáo dục và phát triển nguồn nhân lực trong thế kỉ XXI” của Trần

Khánh Đức, Nxb Giáo dục, 2010

Nhìn chung , đã có nhiều học giả nghiên cứu về vấn đề nhân tố con người, mỗi tác giả chỉ bàn ở một khía cạnh cụ thể và mỗi công trình đều mang một ý nghĩa nhất định, nhưng cho đến nay, chưa có công trình nào đề cập đến nhân tố con người trong lực lượng sản xuất và các giải pháp nhằm phát huy vai trò nhân tố con người

trong lực lượng sản xuất (ở tỉnh Hà Nam) Vì thế, đề tài “ Nhân tố con người trong

lực lượng sản xuất với sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh Hà Nam hiện nay” sẽ góp phần bổ sung vào việc nghiên cứu vấn đề nguồn lực con người

trong lực lượng sản xuất cả về mặt lý luận và thực tiễn

Trang 6

3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

Mục đích của khóa luận là trên cơ sở hệ thống hóa các quan niệm về lực lượng sản xuất và phân tích thực trạng về nguồn lực con người trong lực lượng sản xuất ở tỉnh Hà Nam, khóa luận đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm phát huy nguồn lực con người trong lực lượng sản xuất ở tỉnh Hà Nam hiện nay

Để đạt được mục đích cơ bản đó, đề tài cần thực hiện nhiệm vụ sau đây:

Một là, phân tích một cách có hệ thống các quan niệm về lực lượng sản xuất Hai là, làm rõ thực trạng về nhân tố con người trong lực lượng sản xuất ở

tỉnh Hà Nam hiện nay

Ba là, đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm phát huy nhân tố con người trong

lực lượng sản xuất với sự nghiệp CNH, HĐH ở tỉnh Hà Nam hiện nay

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là tập trung nghiên cứu nhân tố con người trong lực lượng sản xuất ở tỉnh Hà Nam hiện nay

Phạm vi nghiên cứu của đề tài đi sâu nghiên cứu yếu tố con người, vai trò và các giải pháp phát huy nhân tố con người trong lực lượng sản xuất với sự nghiệp CNH, HĐH ở tỉnh Hà Nam nói riêng

5. Những đóng góp mới về mặt khoa học của khóa luận

Kết quả nghiên cứu của đề tài ( thực trạng nhân tố con người trong lực lượng sản xuất ở tỉnh Hà Nam và một số giải pháp để phát huy nhân tố con người trong lực lượng sản xuất ở tỉnh Hà Nam hiện nay) có thể giúp những người làm công tác quản lý kinh tế - xã hội ở tỉnh Hà Nam tham khảo, áp dụng ở địa phương mình

Đề tài góp phần làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu, giảng dạy và học tập triết học và các ngành khoa học xã hội và nhân văn

6. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

6.1 Cơ sở lý luận

Là công trình nghiên cứu triết học, đề tài dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm đường lối của Đảng về các vấn đề liên quan đến đề tài

Trang 7

Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở khảo sát thực trạng con người, lực lượng sản xuất ở Hà Nam, có thể kế thừa kết quả thu được của các công trình khoa học có liên quan, nhất là thực tế điều kiện kinh tế, chính trị - xã hội và nguồn lực ở tỉnh Hà Nam.

6.2 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình nghiên cứu tác giả sử dụng tổng hợp các phương pháp luận duy vật biện chứng, duy vật lịch sử: logic – lịch sử, phân tích – tổng hợp, thu thập, thống kê…

7. Kết cấu của đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo đề tài gồm 3 chương, 7 tiết

Trang 8

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VAI TRÒ CỦA NHÂN TỐ CON NGƯỜI

TRONG LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT

1.1 Nhận thức chung về lực lượng sản xuất

1.1.1 Một số quan niệm về lực lượng sản xuất

Thuật ngữ “Lực lượng sản xuất” được C.Mác đưa ra lần đầu tiên trong tác phẩm “Hệ tư tưởng Đức” Trong các tác phẩm đó, qua việc phân tích quy luật quan

hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất C.Mác chỉ ra bản chất của lực lượng sản xuất Nhưng khái niệm “Lực lượng sản xuất” chưa được C.Mác phát biểu một cách hoàn chỉnh dưới dạng một định nghĩa

C.Mác cho rằng: “lao động là một quá trình diễn ra giữa con người và giới tự nhiên Một quá trình trong đó bằng hoạt động của chính mình con người làm trung gian, điều tiết và kiểm tra sự trao đổi chất giữa họ và tự nhiên” [13, tr.260] C.Mác

đã vạch ra bản chất của lực lượng sản xuất là biểu hiện mối quan hệ giữa con người với tự nhiên Với lí do gì mà C.Mác lại khẳng định như vậy? Trong toàn bộ quá trình nghiên cứu lịch sử nhân loại cũng như nghiên cứu về sự phát triển của con người, C.Mác đã phát hiện ra một chân lý hết sức giản đơn rằng trước hết con người muốn sống, muốn tồn tại phải có thức ăn, thức uống, nhà ở, phương tiện đi lại và nhiều thứ khác Để có được những nhu cầu đó, con người phải tiến hành lao động sản xuất, phải tác động vào tự nhiên, làm biến đổi tự nhiên để tạo ra của cải vật chất phục vụ cho nhu cầu của chính bản thân con người Chính sự tác động qua lại giữa con người với tự nhiên là biểu hiện của lực lượng sản xuất

Hơn nữa, hoạt động sản xuất vật chất của con người ngày càng tiến bộ, ngày càng khám phá những bí ẩn của thế giới khách quan, biểu hiện sâu sắc bản chất của các sự vật, hiện tượng đồng thời cải biến những công cụ, phương tiện tác động vào

tự nhiên Nhờ đó con người không ngừng cải tạo lực lượng sản xuất ngày càng lớn mạnh Cho nên, lực lượng sản xuất không phải là yếu tố bất biến mà nó luôn kế thừa, đổi mới và phát triển không ngừng Nói như vậy, lực lượng sản xuất là một khái niệm hết sức trừu tượng Để cho dễ hiểu, C.Mác đã chỉ ra cấu trúc của lực lượng sản xuất bao gồm: “Một bên là con người, là lao động của con người, bên kia

Trang 9

là tự nhiên và vật liệu của tự nhiên” [11, tr.271] Điều đó có nghĩa là, nói đến lực lượng sản xuất là đề cập đến hai yếu tố, đó là yếu tố con người và yếu tố vật.

Chính vì khái niệm “lực lượng sản xuất” chưa được C.Mác phát biểu thành một cách hoàn chỉnh dưới dạng một định nghĩa Vì thế trong lịch sử triết học, nhiều học giả đã đưa ra những định nghĩa khác nhau, thậm chí đối lập nhau xoay quanh lực lượng sản xuất

Học giả Trung Quốc – Tôn Dã Phương cho rằng: “lực lượng sản xuất với nghĩa là trình độ sản xuất hoặc năng suất lao động là kết quả của quá trình lao động” [16, tr.2] Với quan niệm này của tác giả Tôn Dã Phương không chính xác, bởi vì trình độ sản xuất chỉ là một những yếu tố cấu thành lực lượng sản xuất, còn năng suất lao động là thước đo trình độ của lực lượng sản xuất ở những giai đoạn lịch sử nhất định Vì thế không thể đồng nhất khái niệm lực lượng sản xuất với trình

độ sản xuất

Từ điển triết học đã định nghĩa: “Lực lượng sản xuất là sự thống nhất hữu cơ giữa lao động đã được tích lũy và lao động sống, nghĩa là toàn bộ yếu tố người và vật của nền sản xuất, cần thiết để từ đối tượng của tự nhiên sản xuất ra những vật có khả năng thỏa mãn nhu cầu của con người” [20, tr.339]

Từ điển Kinh tế chính trị học thì quan niệm: “Lực lượng sản xuất, tư liệu sản xuất và những con người có kiến thức, có kinh nghiệm sản xuất, có kĩ năng lao động và đưa tư liệu sản xuất vào hoạt động” [19, tr.262] Cách định nghĩa này đã làm rõ nội dung quan trọng nhất của lực lượng sản xuất là con người, nhưng chưa

đề cập đến các bộ phận cấu thành tư liệu sản xuất

Giáo trình Triết học dùng trong các trường Đại học – Cao đẳng năm 1991 –

1992 định nghĩa: “Lực lượng sản xuất biểu hiện mối quan hệ giữa con người với tự nhiên Trình độ của lực lượng sản xuất thể hiện trình độ chinh phục tự nhiên của con người đó là kết quả của năng lực thực tiễn của con người trong quá trình tác động vào tự nhiên tạo ra của cải vật chất bảo đảm cho sự tồn tại và phát triển của loài người” [1, tr.29] Theo giáo trình này lực lượng sản xuất bao gồm:

Thứ nhất, tư liệu sản xuất do xã hội tạo ra, trước hết là công cụ lao động.

Thứ hai, người lao động với những kinh nghiệm sản xuất, thói quen lao động

sử dụng tư liệu sản xuất để tạo ra của cải vật chất Định nghĩa này phản ánh đầy đủ nội dung của lực lượng sản xuất nhưng lại đề cập đến nhân tố con người chỉ dừng

Trang 10

lại ở kinh nghiệm, thói quen sẽ không thấy được tính quyết định của yếu tố con người Để thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển cần có những người có tri thức khoa học – kĩ thuật, có trí tuệ, năng lực sáng tạo.

Giáo trình triết học năm 2002 – 2003 cũng khẳng định: “Lực lượng sản xuất bểu hiện mối quan hệ giữa con người với tự nhiên trong quá trình sản xuất Lực lượng sản xuất thể hiện năng lực thực tiễn của con người trong quá trình sản xuất ra của cải vật chất Lực lượng sản xuất bao gồm người lao động với kĩ năng lao động của họ và tư liệu sản xuất trước hết là công cụ lao động kết hợp với nhau tạo thành lực lượng sản xuât” [8, tr.351]

Thông qua tìm hiểu một số công trình nghiên cứu có thể thấy rất nhiều những quan điểm khác nhau về lực lượng sản xuất, tổng kết lại đều thống nhất rằng lực lượng sản xuất là biểu hiện mối quan hệ giữa con người với tự nhiên trong qáu trình sản xuất Lực lượng sản xuất gồm hai yếu tố cơ bản là con người và tư liệu sản xuất Họ chưa thấy được tầm quan trọng của khoa học – công nghệ nên chưa đưa yếu tố khoa học vào khái niệm lực lượng sản xuất

Trong đề tài này, theo tôi : Lực lượng sản xuất là lực lượng những người lao

động sử dụng các tư liệu sản xuất và những tri thức khoa học – công nghệ trong quá trình sản xuất.

Để tìm hiểu đầy đủ, chính xác, đúng đắn về lực lượng sản xuất cần phải làm sáng tỏ nội dung của lực lượng sản xuất, xem lực lượng sản xuất bao gồm những yếu tố nào ? Nội dung của mỗi yếu tố và sự tác động qua lại giữa chúng ra sao ?1.1.2. Nội dung của lực lượng sản xuất

Lực lượng sản xuất bao gồm người lao động với kĩ năng lao động của họ và

tư liệu sản xuất, trước hết là công cụ lao động Trong quá trình sản xuất, lao động của con người và tư liệu sản xuất, trước hết là công cụ lao động kết hợp với nhau tạo thành lực lượng sản xuất

Trong các yếu tố của lực lượng sản xuất thì con người – người lao động giữ vị trí hàng đầu và quyết định Người lao động với sức lao động (thể lực và trí lực) thông qua hoạt động lao động tạo nên sức mạnh vật chất tác động vào tự nhiên Cải biến tự nhiên nhằm phục vụ cho nhu cầu của bản thân và của toàn xã hội Đồng thời, cải biến chính bản thân con người và các quan hệ giữa con người với con người Qua đó, con người đã tự khẳng định và thể hiện vai trò của mình trong sự phát triển xã hội, từ đó

Trang 11

tạo nên bước chuyển quan trọng của mình là trở thành con người theo đúng nghĩa của

nó Chính vì vậy, V.I.LêNin đã khẳng định “Lực lượng sản xuất hàng đầu của toàn thế nhân loại là người côn nhân, người lao động” [9, tr.430]

Trong lao động con người không ngừng phát triển năng lực nhận thức và tư duy của mình, sức mạnh của kĩ năng lao động thần kinh – cơ bắp vì thế được nhân lên gấp nhiều lần Lao động của con người do đó ngày càng trở thành lao động có trí tuệ và lao động trí tuệ Hàm lượng trí tuệ trong lao động đặc biệt trong điều kiện khoa học – công nghệ phát triển vượt bậc, nền kinh tế tri thức đang hình thành và phát triển mạnh mẽ như hiện nay, đã làm cho con người trở thành nguồn lực đặc biệt của lực lượng sản xuất, là nguồn lực cơ bản, nguồn lực vô tận, giữ vai trò quyết định trong sự phát triển của nền sản xuất xã hội

Vì thế, sự phát triển của mỗi quốc gia, xét đến cùng, đều phụ thuộc vào sức mạnh của nguồn lực con người Nếu sức mạnh ấy được nuôi dưỡng, khơi dậy và phát huy tốt thì đó chính là nền tảng sức mạnh của mỗi quốc gia Do vậy, muốn thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước gắn với phát triển kinh tế tri thức thì một trong những đột phá mang tính chiến lược hiện nay là phát triển nhanh nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao

Trong cấu trúc của lực lượng sản xuất, con người không chỉ là một bộ phận cấu thành cơ bản mà hơn thế, còn đóng vai trò đặc biệt quan trọng – kết nối các yếu

tố cấu thành lực lượng sản xuất với nhau để chúng có thế phát huy tác dụng một cách hiệu quả nhất

Yếu tố đầu tiên có sự liên kết chặt chẽ với người lao động là tư liệu sản xuất – tổng thể những yếu tố vật chất của quá trình lao động Tư liệu sản xuất bao gồm

tư liệu lao động và đối tượng lao động

Tư liệu lao động là một vật hay toàn bộ những vật mà người lao động dung

để tác động vào đối tượng lao động nhằm sản xuất ra của cải vật chất Tư liệu lao động là một trong những yếu tố giản đơn, cần thiết của quá trình lao động Tư liệu lao động bao gồm: loại truyền dẫn hoạt động lao động của con người tới đối tượng lao động hay còn gọi là công cụ lao động; loại chứa đựng nguyên, nhiên, vật liệu, nửa thành phẩm, thành phẩm; những điều kiện vật chất tuy không tham gia trực tiếp

Trang 12

vào quá trình sản xuất nhưng cũng chiểm một vị trí quan trọng trong quá trình sản xuất (kho tang, bến bãi…)

Trong toàn bộ các thành tố cấu thành tư liệu lao động, công cụ lao động đóng vai trò quan trọng nhất và là một thành tố cơ bản của lực lượng sản xuất Mọi công

cụ sản xuất đều có ba bộ phận: động lực, truyền lực và công tác

Bộ phận công tác (còn gọi là bộ phận chấp hành hay tác động) trực tiếp tác động lên đối tượng lao động để làm ra sản phẩm Bộ phận truyền lực truyền năng lượng từ nguồn động lực đến bộ phận công tác Ở công cụ sản xuất thủ công, nguồn động lực là do sức cơ bắp của người lao động, còn bàn tay trực tiếp làm bộ phận công tác chuyển động Nếu bộ phận công tác giao cho máy thực hiện – gọi là máy công tác, thì ta có công cụ nửa cơ khí Khi nguồn động lực do máy cung cấp thì đó

là công cụ cơ khí Trong công cụ thủ công và cơ khí, cũng như các công cụ được sản xuất ra nhờ ứng dụng những thành tựu khoa học - công nghệ hiện đại, việc điều khiển công cụ sản xuất đều do người lao động đảm nhận

Công cụ lao động là “khí quan của bộ óc con người”, “là sức mạnh tri thức

đã được vật thể hóa”, có tác dụng “nối dài bàn tay” và nhân len sức mạnh trí tuệ của con người Nhờ có công cụ lao động mà người lao động có thể tác động trực tiếp đến đối tượng lao động, chế biến nó trong quá trình sản xuất Công cụ lao động có vai trò quyết định trong sản xuất Mức độ và trình độ phát triển của công cụ lao động là thước đo khả năng chi phối tự nhiên của con người Từ công cụ bằng đá thô

sơ đến những máy tự động phức tạp nhất hiện nay là con đường phát triển của công

cụ lao động mà con người đã thực hiện trong lịch sử sinh tồn của mình Chính sự chuyển đổi, cải tiến và hoàn thiện không ngừng của nó đã gây ra sự biến đổi sâu sắc trong toàn bộ tư liệu sản xuất Xét đến cùng, nó là nguyên nhân sâu xa của mọi cải biến xã hội

Bên cạnh đó công cụ lao động còn là dấu hiệu vạch rõ những quan hệ xã hội trong đó lao động được tiến hành Vì thế C.Mác đã khẳng định: Đối với việc nghiên cứu những hình thái kinh tế của xã hội đã qua, những di vật của những tư liệu lao động cũng có một tầm quan trọng như sự cấu tạo của những xương hóa thạch đối với việc tìm hiểu tổ chức của các chủng loại đã tiêu vong

Trang 13

Để tiến hành quá trình sản xuất vật chất, đối tượng lao động là một yếu tố không thể thiếu Đối tượng lao động là toàn bộ những vật mà trong quá trình lao động con người tác động vào bằng công cụ lao động để sản xuất ra của cải vật chất Đối tượng lao động có hai loại: Loại thứ nhất có sẵn trong tự nhiên như các khoáng sản, đất, đá, thủy sản; loại thứ hai đã qua chế biến nghĩa là đã có sự tác động của lao động trước đó, ví dụ như thép phôi, sợi dệt, bông…

Chính sự phong phú và đa dạng của đối tượng lao động là điều kiện vật chất quan trọng của quá trình sản xuất vật chất Tuy nhiên, còn nhiều lí do khác nhau, những nguồn tài nguyên thiên nhiên mà tạo hóa ban cho loài người đang ngày càng cạn kiệt Dù ai cũng biết, quốc gia nào cũng biết, vận mệnh của cả loài người, của từng quốc gia gắn liền với vận mệnh của những nguồn tài nguyên ấy

Một bộ phận nữa có vị trí quan trọng trong lực lượng sản xuất đó là khoa học công nghệ C.Mác khẳng định: khoa học trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp với điều kiện khoa học được con người vận dụng và thông qua hành động của con người đến mức độ nào đó hay khoa học phải tồn tại dưới dạng lao động vật hóa thành máy móc thì lúc đó nó mới trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp Điều này được C.Mác viết trong “Tư bản”: “Có một lực lượng sản xuất khác mà tư bản không mất một khoản phí nào, đó là sức mạnh khoa học…nhưng tư bản chỉ có thể chiếm được sức mạnh ấy của khoa học bằng cách sử dụng máy móc (phần nào cả trong quá trình hóa học) Sự gia tăng dân số là một lực lượng sản xuất mà tư bản có được không phải chi phí gì cả…Nhưng vì để có thể sử dụng được trong quá trình sản xuất trực tiếp, bản thân những lực lượng ấy cần đến một bản thể do lao động tạo

ra, nghĩa là tồn tại dưới dạng lao động vật hóa” Nói cách khác, khoa học phải được vật hóa trong đối tượng lao động, trong công cụ lao động mới có thể trở thành “lực lượng sản xuất trực tiếp”

Tuy nhiên, công cụ lao động dù hiện đại đến thế nào vẫn chỉ là những “vật chết” nếu không có con người sử dụng nó C.Mác viết: “Máy móc không dùng trong quá trình lao động thì trở thành vô ích Hơn nữa nó còn chịu tác dụng phá hoại sự trao đổi chất tự nhiên…Lao động sống cần nắm lấy những vật ấy, làm cho chúng từ chỗ chết thành sống, biến chúng từ chỗ chỉ là những giá trị sử dụng có tính chất khả năng thành những giá trị sử dụng thực tế”

Trang 14

Ngày nay, luận điểm này của C.Mác đã trở thành hiện thực Sự ra đời phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin và nền kinh tế tri thức là những minh chứng sống động nhất, toàn diện và đúng đắn nhất Nền kinh tế mới này đòi hỏi khoa học phải tham gia vào quá trình sản xuất vật chất một cách tích cực, chủ động, nhanh chóng vật hóa tri thức khoa học trở thành những công cụ sản xuất mới, và trực tiếp tham gia vào các quá trình sản xuất, giải quyết những vấn đề bức xúc do thực tiễn sản xuất và thực tiễn xã hội đặt ra Và như thế khoa học – công nghệ đã góp phần thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển và qua đó khoa học cũng phát triển theo.

Thực tiễn cho thấy, nền kinh tế của các nước công nghiệp phát triển trên thế giới chủ yếu dựa vào tri thức khoa học và các tiến bộ khoa học – công nghệ Trong điều kiện hiện nay, bất kì quốc gia nào muốn trở thành nước phát triển, nước hiện đại thì không thể không chú trọng hàng đầu vấn đề này Như vậy, muốn tiến hành thành công quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với kinh tế tri thức, thì phát triển mạnh khoa học và công nghệ là một tất yếu khách quan để phát triển nhanh bền vững nền kinh tế, nâng cao năng suất lao động

Các yếu tố của lực lượng sản xuất quan hệ hữu cơ với nhau trong đó con người

và công cụ lao động là yếu tố cơ bản nhất Trên cơ sở thống nhất biện chứng giữa các yếu tố cấu thành nên nó, được hình thành trong lao động và biến đổi cùng lao động Đồng thời lực lượng sản xuất biểu hiện năng lực thực tiễn của con người trong quá trình chi phối tự nhiên vì nhu cầu của con người là thước đo của sự tiến bộ xã hội

Điều đó cho thấy rằng, việc tiến hành công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam là yêu cầu phát triển khách quan của lực lượng sản xuất, để nâng cao trình độ của lực lượng sản xuất, nâng cao năng suất lao động, nâng cao được trình độ kinh tế - kĩ thuật, hiệu quả và sức mạnh cạnh tranh của nền sản xuất xã hội Muốn thực hiện thành công quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa phải chú trọng việc xây dựng, bồi dưỡng và phát huy nguồn lực con người – nhân tố quan trọng nhất của lực lượng sản xuất

1.2. Sự tác động của nhân tố con người trong lực lượng sản xuất

1.2.1 Một số quan niệm về con người

Xuyên suốt quá trình phát triển của lịch sử tư tưởng nhân loại, con người luôn là đối tượng nghiên cứu của nhiều nhà khoa học Mỗi ngành đi sâu nghiên cứu,

Trang 15

khám phá từng mặt, từng khía cạnh nào đó của con người Cụ thể như các nhà khoa học tự nhiên thường tập trung nghiên cứu bản thể sinh học, cấu trúc sinh học của con người Trong khi đó các nhà khoa học xã hội và nhân văn lại tập trung nghiên cứu lĩnh vực tinh thần của con người, họ đã đạt được những thành tựu đáng kể trong việc khám phá những điều bí ẩn, kì diệu ở con người.

Để nhận thức và cải tạo thế giới, nhân loại đã xây dựng nên nhiều bộ môn khoa học khác nhau Đứng trước những câu hỏi như: Con người từ đâu sinh ra? Bản chất của con người là gì? Con người có vai trò như thế nào đối với tự nhiên, xã hội cũng như đối với bản thân con người? Thì các nhà khoa học tự nhiên và khoa học

xã hội không đưa ra được những câu trả lời chính xác, có sức thuyết phục mà phải nhờ đến môn khoa học khác là Triết học Ngay từ khi ra đời, đã hình thành rất nhiều quan điểm, trường phái khác nhau khi lý giải những vấn đề về con người

Thứ nhất, quan niệm về con người trong triết học phương Đông trước Mác.

Triết học trước Mác, vấn đề bản chất con người vẫn chưa được lý giải một cách khoa học Không những chủ nghĩa duy tâm, tôn giáo mà cả chủ nghĩa duy vật siêu hình cũng không nhận đúng bản chất của con người

Từ thời cổ đại, con người bắt đầu tìm hiểu nguồn gốc của mình và có những

ý thức ban đầu về sức mạnh chính bản thân mình Các nước chịu ảnh hưởng của Phật giáo, Đạo giáo, Nho giáo triết học cũng giải thích con người từ một đấng thần linh tối cao hoặc từ một lực lượng siêu nhiên

Trong triết học Phật giáo, con người là sự kết hợp giữa “danh” và “sắc” Đời sống con người trên trần thế chỉ là hư ảo, ảo giác Do vậy, cuộc sống con người khi sống, chỉ là sống nhờ, sống gửi Cuộc sống vĩnh cửu khi đạt tới cõi Niết bàn, nơi linh hồn con người được siêu thoát để trở nên bất diệt

Do sự chi phối bởi thế giới quan duy tâm hoặc duy vật chất phác mà quan niệm về bản chất con người trong Nho giáo cũng hết sức phong phú Tiêu biểu là Khổng Tử, ông cho rằng “Thiên mệnh” là đấng tối cao chi phối quyết định bản chất con người Ở con người đức nhân là giá trị cao nhất Khổng Tử bàn về con người có nhiều tiến bộ, đó là con người thực tế và mối quan hệ nào cũng yêu cầu “Chính danh” Tuy nhiên, ông không thấy được con người trong mối quan hệ kinh tế

Trang 16

Phái Đạo gia với đại diện tiêu biểu là Lão Tử, quan niệm rằng con người sinh

ra từ “Đạo” Do vậy con người phải “Vô vi” trong cuộc sống Đó không phải là cái thụ động, bất động mà là hành động theo bản tính tự nhiên của Đạo Quan điểm này thể hiện tư tưởng duy tâm chủ quan của triết học Đạo gia

Như vậy, với nhiều hệ thống triết học khác nhau, triết học Phương Đông thể hiện sự đa dạng, phong phú khi bàn về bản chất con người Các quan niệm đó thiên

về vấn đề con người trong mối quan hệ chính trị, đạo đức Đó là quan niệm về con người với biểu hiện của sự pha trộn giữa yếu tố duy tâm với tính duy vật chất phác ngây thơ trong quan hệ với tự nhiên và xã hội

Thứ hai, quan niệm về con người trong triết học phương Tây trước Mác

Trước Mác, ở phương Tây cũng có rất nhiều quan điểm về con người Nói chung các tôn giáo đều cho rằng con người là do thượng đế, thần thánh sinh ra, cuộc sống của con người do đấng tối cao sắp đặt, an bài

Trong triết học Hy lạp cổ đại, con người được xem như khởi đầu của tư duy triết học Con người và thế giới xung quanh phản chiếu lẫn nhau Con người là một tiểu vũ trụ trong vũ trụ bao la Arixtốt cho rằng, chỉ có linh hồn, tư duy, trí nhớ, ý chí, năng khiếu nghệ thuật làm cho con người nổi bật lên, con người là bậc thang cao nhất của vũ trụ

Bước vào thời trung cổ, với sự thống trị của thần học đối với triết học mà xuất hiện quan niệm con người là sản phẩm của thượng đế sáng tạo nên Mọi mặt cuộc sống con người, niềm vui, nỗi buồn, sự may rủi của con người đều do thượng

đế sắp đặt Con người trở nên nhỏ bé trước cuộc sống, nhưng đành bằng lòng, cam phận với cuộc sống tạm bợ trên trần thế, vì hạnh phúc vĩnh cữu là ở thiên đường Đây là quan niệm duy tâm về bản chất con người

Thời phục hưng – cận đại, triết học đặc biệt đề cao vai trò trí tuệ, lý tính của con người, xem con người như một thực thể có trí tuệ Đó là yếu tố quan trọng nhằm giải thoát con người khỏi thế lực thần học thời Trung cổ áp đặt cho con người, tiến tới giải phóng con người khỏi sự thống trị của thần quyền và cường quyền Tuy nhiên chưa có một trường phái nào nhận thức đầy đủ cả về mặt sinh học và mặt xã hội, thống nhất trong con người Họ chỉ nhấn mạnh cá thể mà xem nhẹ mặt xã hội của con người

Trang 17

Trong triết học cổ điển Đức, Hêghen là đại biểu vĩ đại của chủ nghĩa duy tâm khách quan Ông cho rằng, chính sự vận động theo những quy luật khách quan của

“Ý niệm tuyệt đối” đến mức độ nhất định nó sẽ tha hóa thành giới tự nhiên và con người Vì vậy, con người chính là hiện thân của ý niệm tuyệt đối Ông cũng là người trình bày một cách có hệ thống về các quy luật của quá trình tư duy của con người, chỉ rõ cơ thể của đời sống tinh thần cá nhân trong mọi hoạt động của con người Dù nhìn nhận con người từ góc độ duy tâm khách quan, nhưng ông đã khẳng định vai trò chủ thể của con người đối với lịch sử, đồng thời là kết quả của sự phát triển lịch sử

Phoiơbắc là nhà triết học duy vật nhất trong triết học cổ điển Đức Ông đã phê phán mạnh mẽ quan điểm duy tâm và tìm cách giải thích nguồn gốc, bản chất con người theo quan điểm duy vật Ông đã đạt đến chủ nghĩa duy vật khi khẳng định rằng con người do sự vận động của thế giới vật chất tạo nên Con người là kết quả của sự phát triển lâu dài của thế giới tự nhiên Đặc biệt ông khẳng định bản thân

ý thức, tư duy của con người chỉ là sản phẩm của khí quan vật chất nhục thể - tức là

bộ óc; vật chất không phải là sản phẩm của tinh thần mà chính tinh thần là sản phẩm tối cao của vật chất Tuy nhiên, ông không còn giữ quan điểm duy vật của mình khi

đi vào phân tích bản chất con người Song con người trong quan niệm của ông là con người trừu tượng Ông không xem xét con người trong các mối quan hệ nhất định, trong điều kiện sinh hoạt nhất định của họ, những điều kiện làm cho họ trở thành những con người đúng như đang tồn tại Ông không thấy quan hệ giữa người với người nào khác ngoài tình yêu, tình bạn đã được lý tưởng hóa

Như vậy, triết học trước Mác, khi quan niệm về con người dù đứng trên nền tảng thế giới quan nào cũng không phản ánh đúng bản chất của con người Họ đều xem xét con người một cách trừu tượng, tuyệt đối hóa tinh thần hoặc thể xác con người, tuyệt đối hóa mặt tự nhiên sinh học mà không thấy được mặt xã hội trong đời sống con người

Thứ ba, quan niệm của triết học Mác – Lênin về con người.

Có thể khẳng định, triết học trước Mác vẫn chưa có được giải thích thật sự khoa học về bản chất của con người, họ có thể rơi vào duy tâm hoặc trực quan hay siêu hình khi nghiên cứu về con người Chỉ đến những năm 40 của thế kỉ XIX khi

Trang 18

triết học Mác ra đời mới đưa ra quan niệm đúng đắn, khoa học về con người và lần đầu tiên họ có được vị trí mà họ cần phải có.

Trước hết con người là một bộ phận của tự nhiên Để đảm bảo cho sự tồn tại

và phát triển thì con người cũng cần có đầy đủ những nhu cầu thiết yếu Đồng thời con người cũng phải tuân thủ những quy luật sinh học như quy luật đồng hóa - dị hóa, quy luật di truyền…C.Mác đã khẳng định rằng: “Bản thân cái sự kiện là con người từ động vật mà ra, cũng đã quyết định con người không bao giờ hoàn toàn thoát ly khỏi những đặc tính vốn có của vật” [14, tr.146] Nhưng mối quan hệ với tự nhiên của con người hoàn toàn khác với con vật, về điều này trong “Bản thảo kinh

tế năm 1844” C.Mác viết: “Con người là một sinh vật có tính loài hay giới tự nhiên

là thân thể vô cơ của con người” [12, tr.177] Tính loài người của con người không phải tính trừu tượng, nó cũng có nghĩa là tính xã hội, và loài người cũng chính là

“xã hội người”

Con người không những là một sinh vật mà còn là thực thể mang tính xã hội Tính xã hội của con người trước hết thể hiện ở bản thân hoạt động sản xuất là hoạt động mang tính xã hội Trong hoạt động sản xuất con người không thể tách khỏi xã hội Tính xã hội là đặc điểm cơ bản làm cho con người khác với con vật Hoạt động của con vật chỉ phục vụ nhu cầu trực tiếp của nó, còn hoạt động của con người gắn liền với xã hội và phục vụ cho cả xã hội Xã hội cùng với tự nhiên là điều kiện tồn tại của con người Tính xã hội của con người còn thể hiện ở hoạt động giao tiếp xã hội Hoạt động của con người không phải bằng bản năng như động vật mà là hoạt động có ý thức Tư duy con người phát triển và hoàn thiện trong mọi hoạt động đặc biệt trong hoạt động sản xuất và giao tiếp

Với ý nghĩa trên, có thể phân biệt con người với động vật ở tư duy mà ngôn ngữ là cái vỏ vật chất của tư duy Bởi cơ sở của tư duy là hoạt động thực tiễn xã hội Thông qua hoạt động thực tiễn, con người không chỉ làm biến đổi đời sống xã hội

mà còn làm biến đổi chính bản thân mình Đây là một phát hiện có giá trị to lớn của C.Mác về bản chất con người Trong ‘Luận cương về Phoiơbắc”, C.Mác viết: “Bản chất con người không phải là cái trừu tượng cố hữu của cá nhân riêng biệt Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hòa những mối quan hệ xã hội”

Trang 19

Với phương pháp duy vật biện chứng, C.Mác chỉ ra rằng quan hệ giữa mặt sinh học với mặt xã hội cũng như nhu cầu sinh học và nhu cầu xã hội trong mỗi con người là thống nhất Mặt sinh học là cơ sở tất yếu tự nhiên của con người, còn mặt

xã hội là đặc trưng bản chất để phân biệt con người với loài vật Nhu cầu sinh học phải được nhân hóa để mang giá trị văn minh của con người, và đến lượt nó, nhu cầu xã hội không thể thoát ly khỏi tiền đề của nhu cầu sinh học Hai mặt trên thống nhất với nhau, hòa quyện vào nhau để tạo thành con người

Những tư tưởng của C.Mác về con người có ý nghĩa phương pháp luận to lớn, nhất là trong thời đại ngày nay, con người đang trở thành vấn đề xã hội cấp bách, mang tính thời sự, tính nhân văn sâu sắc

Với phạm vi của đề tài này, đề tài không đi sâu nghiên cứu con người dưới góc độ cá nhân, giai cấp mà xem xét con người với tư cách là một bộ phận cấu thành lực lượng sản xuất – đó là người lao động, tìm hiểu xem người lao động có vai trò như thế nào trong lực lượng sản xuất

1.2.2. Vai trò và sự cần thiết khách quan của việc phát huy nhân tố con người trong

quá trình CNH,HĐH

a. Thực chất của CNH, HĐH

Thực chất của CNH, HĐH là quá trình ở Việt Nam đã được hội nghị lần thứ VII Ban chấp hành Trung ương Đảng (khóa VII) khẳng định:

CNH,HĐH là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động kinh tế -

xã hội từ sử dụng lao động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động cùng với công nghệ, phương tiện và phương pháp tiên tiến, hiện đại dựa trên sự phát triển công nghiệp và tiến bộ khoa học và công nghệ tạo ra năng suất lao động xã hội cao Đối với nước ta đó là một quá trình thực hiện chiến lược phát triển kinh tế - xã hội nhằm cải tiến một xã hội nông nghiệp lạc hậu thành một xã hội công nghiệp gắn liền với việc hình thành từng bước quan hệ sản xuất tiến bộ, ngày càng thể hiện đầy đủ hơn bản chất ưu việt của chế độ xã hội mới…

Như vậy quá trình CNH,HĐH bao gồm các nội dung sau:

Một là: là quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ cơ cấu đơn ngành sang đa

ngành, từ cơ cấu kinh tế nông nghiệp chiếm ưu thế sang công nghiệp và dịch vụ chiếm ưu thế Cùng với nó là quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động theo hướng tăng nhanh lao động làm công nghiệp và dịch vụ, giảm lao động làm nông nghiệp

Trang 20

Hai là: là quá trình trang bị công nghệ hiện đại cho tất cả các ngành kinh tế

quốc dân, trước hết là các ngành có vị trí quan trọng

Ba là: quá trình CNH,HĐH trong bất cứ giai đoạn nào cũng là quá trình kinh

tế - kĩ thuật, kinh tế - xã hội và phải đặt trong bối cảnh chung

Bốn là, quá trình CNH,HĐH đi liền với quá trình đô thị hóa khu vực kinh tế

nông thôn

Năm là: quá trình CNH,HĐH cũng đồng thời là quá trình mở rộng quan hệ

kinh tế quốc tế Ngày nay thị trường lao động mang tính quốc tế và quốc tế hóa đời sống lao động mang tính quốc tế và quốc tế hóa đời sống kinh tế đã trở thành xu thế của thời đại

Như vậy, công nghiệp hóa, hiện đại hóa nhằm mục đích phát triển toàn diện

ba hệ thống: kinh tế - xã hội – môi trường để phát triển toàn diện con người Phát triển toàn diện con người là đặc trưng bản chất của CNH,HĐH, con người là chủ thể, là nhân tố năng động nhất, sáng tạo nhất trong mối quan hệ của ba hệ thống đó Mục tiêu cơ bản của CNH, HĐH là “cải biến nước ta thành một nước công nghiệp

có cơ sở vật chất kĩ thuật hiện đại, có cơ cấu kinh tế hợp lí, quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp với trình độ phát triển của sức sản xuất, mức sống vật chất và tinh thần cao, quốc phòng an ninh vững chắc, dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ văn minh” Chúng ta đang tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện tồn tại những thuận lợi và khó khăn, thời cơ và nguy cơ đan xen nhau, tác động lẫn nhau Xét đến cùng để thực hiện thành công CNH,HĐH tùy thuộc vào tính quyết định của nhân tố con người Song về nguyên tắc, CNH – HĐH phải dựa vào nội lực

là chủ yếu nhưng ngoại lực có ý nghĩa vô cùng quan trọng, nhất là giai đoạn đầu khi nội lực còn chưa đủ mạnh Những trợ giúp về tài chính, kĩ thuật, công nghệ, kinh nghiệm quản lí, thị trường tiêu thụ từ bên ngoài là những điều kiện hết sức quan trọng trong quá trình CNH, HĐH

b. Vai trò của nhân tố con người với quá trình CNH,HĐH.

Về mặt lý luận vai trò quyêt định của nhân tố con người đã được chủ nghĩa Mác đặc biệt chú ý và luận giải một cách khoa học Theo các nhà kinh điển: con người không chỉ là sản phẩm của tự nhiên và xã hội mà là chủ thể tích cực cải biến

tự nhiên và xã hội V.I.Lênin cho rằng: “lực lượng sản xuất hàng đầu của toàn nhân loại là công nhân, là người lao động” Theo quan điểm Mác – xít, trong các yếu tố

để tạo nên bất kì một nền sản xuất nào thì yếu tố con người luôn chiếm giữ một vị

Trang 21

trí quan trọng, và có ý nghĩa quyết định Từ vai trò quyết định của con người trong lĩnh vực sản xuất, các nhà kinh điển luận chứng về vai trò sáng tạo ra lịch sử, quyết định các quá trình lịch sử thông qua cách mạng xã hội.

Như vậy, khi nói đến chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, là nói đến “chiến lược con người” Thực ra đây không phải là hai vấn đề, hai nội dung tách rời nhau

mà là sự nhấn mạnh và bước đầu thể hiện sự coi trọng yếu tố con người Bởi lẽ, nếu không thành công trong “chiến lược con người” thì sẽ thất bại trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội, nói cách khác sự thành công trong “chiến lược con người” đồng thời là sự thất bại trong chiến lược kinh tế - xã hội Điều này càng đúng hơn khi nước ta đang bước vào cuộc trường chinh mới đòi hỏi rất cao về trí tuệ và bản lĩnh của con người Việt Nam, đó là thời kì đẩy mạnh CNH,HĐH trong điều kiện cách mạng khoa học kĩ thuật phát triển như vũ bão và xu thế hội nhập quốc tế Vì vậy từ việc nhận thức được vị trí vai trò của nguồn lực con người từ đó đưa ra các chính sách, chiến lược phát triển con người phù hợp với yêu cầu phát triển xã hội

c. Mối quan hệ biện chứng giữa công nghiệp hóa, hiện đại hóa với con người.

Công nghiệp hóa, hiện đại hóa phải tạo ra những điều kiện cần thiết về vật chất, kinh tế, về con người và khoa học công nghệ, nhằm huy động và sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực, không ngừng phát triển năng suất lao động xã hội làm cho kinh tế tăng trưởng nhanh và bền vững Ngược lại phát huy nguồn nhân lực to lớn của con người là nhân tố xét đến cùng quyết định thắng lợi của công cuộc CNH, HĐH Bởi vì, nhân tố con người sẽ quyết định đúng đắn phương hướng, nội dung, bước đi CNH, HĐH, sẽ quyết định việc tổ chức và thực hiện CNH, HĐH

Với ý nghĩa đó việc phát triển nhân tố con người đủ về số lượng và có chất lượng cao, đồng bộ là vấn đề cấp bách và căn bản cho sự nghiệp CNH, HĐH Phát triển con người là đặc trưng bản chất của CNH,HĐH xã hội chủ nghĩa là mục tiêu

cơ bản quyết định quá trình CNH, HĐH Hiểu động lực ở đây không có nghĩa là sử dụng con người như một phương tiện, mà là quá trình hình thành nhân tố con người mới cũng chính là quá trình đẩy mạnh CNH, HĐH, xây dựng xã hội mới Chính việc đẩy mạnh CNH, HĐH là nhằm xây dựng phát triển con người hiện đại lấy con người là mục đích của mình Mối quan hệ biện chứng thể hiện ở các khía cạnh sau:

Trang 22

Một là, trong quan hệ với các nguồn lực khác, con người là chủ thể trực tiếp, quyết định toàn bộ quá trình CNH, HĐH Điều này được thể hiện từ khâu xác định mục tiêu, nội dung cách thức CNH, HĐH đến việc tổ chức khai thác các nguồn lực khác để thực hiện CNH, HĐH Khái niệm của một số nước và thực tiễn nước ta cho thấy sự thành công của CNH,HĐH phụ thuộc chủ yếu và việc hoạch định đường lối, chính sách cũng như tổ chức thực hiện nghĩa là phụ thuộc vào năng lực nhận thức

và thực tiễn của con người

Hai là, bản thân con người cũng là đối tượng được khai thác triệt để trong quá trình CNH, HĐH Đó là toàn bộ những năng lực phẩm chất sinh lý – tâm lý –

xã hội của con người được phản ánh qua hai yếu tố căn bản là thể lực và trí lực Hơn nữa trong điều kiện hiện nay khi cuộc cách mạng khoa học công nghệ phát triển mạnh mẽ thì cái cần tập trung khác ở con người và đặc trưng cơ bản nhất của trí tuệ là sự sáng tạo Vì vậy việc nuôi dưỡng, phát triển và khai thác có hiệu quả sức lao động, nhất là trí lực, chúng ta yêu cầu cấp bách hàng đầu trong toàn bộ quá trình CNH, HĐH

Ba là, con người là đối tượng duy nhất mà quá trình công nghiệp hóa hướng vào phục vụ Do đó quá trình công nghệp hóa, hiện đại hóa cùng với con người nhằm phục vụ con người Ngay trong qáu trình CNH,HĐH con người phải được hưởng thụ những thành quả mà CNH, HĐH mang lại để nâng cao chất lượng con người, phát triển nhân tố con người chứ không phải đợi khi hoàn thiện xong CNH, HĐH mới đáp ứng trở lại cho con người

Như vậy, để thực hiện thành công CNH,HĐH phải có hệ thống các nguồn lực, trong đó, con người có vai trò quyết định Trong thời đại ngày nay, vai trò quyết định của con người không phải ở sức mạnh cơ bắp mà là ở sức mạnh trí tuệ Nguồn nhân lực không phải là nguồn nội lực, cơ bản giữ vị trí trung tâm trong hệ thống các nguồn lực của sự phát triển xã hội, là chủ thể trực tiếp, hiện thực, quyết định toàn

bộ sự nghiệp CNH, HĐH là khích lệ cần được khai thác triệt để, đồng thời là chủ thể được hưởng thụ những thành quả của quá trình CNH,HĐH

Tuy nhiên cũng không tuyệt đối hóa, không tách con người ra khỏi các mối quan hệ hữu cơ với các nguồn nhân lực khác Khi khẳng định nguồn nhân lực giữ

Trang 23

vai trò quyết định thì điều đó có nghĩa là đã khẳng định nguồn nhân lực với tư cách

là tiền đề, là điều kiện, thâm nhập vào các nguồn lực khác trong thực tiễn

Do đó, phải xem xét một cách toàn diện thực trạng nguồn lực con người ở tỉnh Hà Nam, từ đó định hướng khai thác phát triển hợp lý, có hiệu quả nguồn nhân lực, bảo đảm sự thành công của công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa

1.2.3. Tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng Sản Việt Nam về phát huy

nhân tố con người trong CNH,HĐH

Thứ nhất, tư tưởng Hồ Chí Minh về con người

Kế thừa tinh hoa tư tưởng văn hóa dân tộc và nhân loại, tiếp thu, vận dụng, phát triển một cách sáng tạo học thuyết Mác-Lênin, Hồ Chí Minh đã nâng tư tưởng

về con người lên một tầm cao mới, hình thành nên chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh Tuy không có một tác phẩm riêng nào bàn về con người, nhưng tư tưởng về con người lại được hiểu thật đa dạng, phong phú, trở thành một tư tưởng xuyên suốt trong toàn bộ hệ tư tưởng Hồ Chí Minh Trong tư tưởng của Người, không có con người chung chung, trừu tượng, mà là những con người cụ thể, hiện thực, những con người nghèo khổ bị áp bức, bóc lột đã và đang tham gia vào sự nghiệp cách mạng để tự giải phóng mình Vấn đề con người luôn luôn được nhắc đến như một mục tiêu thiêng liêng, cao cả nhất của sự nghiệp cách mạng mà Người theo đuổi

Nó trở thành mục tiêu lý tưởng được tỏa sáng trong từng suy nghĩ, cử chỉ, hành động của Chủ tịch Hồ Chí Minh Từ hệ thống tư tưởng của Người, chúng ta thấy toát lên nội dung quan niệm về con người như sau:

Một là, con người là tổng hòa các quan hệ xã hội từ hẹp đến rộng Người

khẳng định: “Chữ Người, nghĩa hẹp là gia đình, anh em, họ hàng, bầu bạn Nghĩa rộng là đồng bào cả nước Rộng nữa là cả loài người”[15, tr644] Hồ Chí Minh không bao giờ xem xét con người một cách trừu tượng mà luôn xuất phát từ hoàn cảnh con người hiện thực cụ thể trong các quan hệ xã hội với nhiều bình diện, nhiều chiều khác nhau Đặc biệt ở Hồ Chí Minh, bên cạnh những khái niệm phổ quát như giai cấp công nhân, giai cấp vô sản, nhân dân lao động, chúng ta thấy xuất hiện thêm các khái niệm mới: “Người nô lệ mất nước”, “Người cùng khổ” Theo nhận xét của nhiều nhà nghiên cứu, đấy là những khái niệm xuất hiện đầy ấn tượng và là

Trang 24

một cách tiếp cận riêng của Hồ Chí Minh trong quan niệm về con người – đặt con người trong mối quan hệ với cộng đồng dân tộc.

Hai là, con người là một chỉnh thể thống nhất giữa yếu tố sinh học và yếu tố

xã hội Vì vậy, Hồ Chí Minh luôn quan niệm con người, trong cấu trúc nhân cách, là một hệ thống bao gồm tổng hòa nhiều yếu tố hợp thành như: thể xác và tâm hồn, thê lực và trí tuệ, cái sinh vật và cái xã hội…Con người ai cũng có chỗ hay chỗ dở,

ai cũng có tính tốt tính xấu, có thiện có ác Vấn đề là làm sao cho phần xấu mất dần

đi, phần tốt nảy nở như hoa mùa xuân, con người ta sinh ra, ai cũng lớn lên, già đi rồi chết; người ta ai cũng muốn sung sướng hạnh phúc…Đây là tư tưởng chủ đạo, bao trùm và xuyên suốt, vừa có ý nghĩa như tiền đề xuất phát đồng thời lại là mục đích trong hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh Con người là vốn quý nhất, là động lực

vĩ đại, nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam; dân là vốn quý nhất,

có dân là có tất cả, nên phải bắt đầu từ con người, vì con người, cho con người và trở về với con người

Ba là, bản chất con người mang tính xã hội – lịch sử, coi con người vừa là

sản phẩm, vừa là chủ thể của lịch sử, con người vừa là động lực vừa là mục tiêu của

sự phát triển xã hội

Vai trò con người chính là vai trò của quần chúng nhân dân, người sáng tạo chân chính ra lịch sử chứ không phải “vài ba cá nhân anh hùng nào”, thể hiện qua các hoạt động thực tiễn cơ bản nhất: Lao động sản xuất, đấu tranh chính trị - xã hội

và sáng tạo các giá trị văn hóa – tinh thần

Hồ Chí Minh nói: “Vì chúng ta quên một lẽ rất đơn giản dễ hiểu: tức là vô luận việc gì, đều do người làm ra, từ nhỏ đến to, từ gần đến xa, đều thế cả” “Tất cả của cải vật chất trong xã hội đều do công nhân và nông dân làm ra Nhờ sức lao động của công nhân và nông dân, xã hội mới sống còn phát triển” Hồ Chí Minh giải thích cơ sở khoa học cho vai trò đó xuất phát từ chỗ: “Lực lượng dân chúng nhiều vô cùng…dân chúng biết giải quyết nhiều vấn đề một cách đơn giản, mau chóng, đầy đủ, mà những người tài giỏi, những đoàn thể to lớn, nghĩ mãi không ra”[15, tr295]

Thứ hai, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về nhân tố con người.

Nghiên cứu tư duy lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam về chiến lược con người có thể khẳng định: từ rất sớm, Đảng ta nhận thức rõ vai trò quan trọng của

Trang 25

con người đối với cách mạng Việt Nam và tiến trình phát triển của lịch sử Đảng ta

đã nhiều lần khẳng định: con người là vốn quý nhất, chăm lo cho hạnh phúc của con người là mục tiêu phấn đấu cao nhất của chế độ ta Trên thực tế, Đảng ta đã luôn cố gắng thực hiện mục tiêu đó Sự nghiệp chăm lo hạnh phúc con người tuy chưa có nhiều thành công như mong muốn, song phần nào đã đáp ứng nguyện vọng của nhân dân Luôn theo sát sự biến động của thời cuộc, đánh giá đúng đắn vị trí, vai trò của con người, qua các thời kì đại hội Đảng, vấn đề con người luôn được đặt ở vị trí trọng tâm của quá trình phát triển kinh tế - xã hội

Đại hội VI (1986) là đại hội đánh dấu bước chuyển quan trọng về mặt nhận thức trên các lĩnh vực cơ bản của đất nước, trong đó có chiến lược phát triển con người Đại hội lần này khẳng định: vai trò quan trọng của “nhân tố con người” và nhân cách xã hội chủ nghĩa trong sự phát triển kinh tế - xã hội, đại hội VI chỉ rõ:

“phát huy yếu tố con người và lấy việc phục vụ con người làm mục đích cao nhất”

Tinh thần này tiếp tục được khẳng định tại Đại hội VII (1991) đặt con người vào vị trí trung tâm của chiến lược kinh tế - xã hội Nét mới của đại hội VII là chỉ

rõ phải coi trọng phát triển “nguồn nhân lực trí tuệ và người tài cho đất nước” Đặc biệt coi trọng đội ngũ công nhân lành nghề, những nhà kinh doanh có tài, những nhà quản lý giỏi, và những nhà khoa học, kĩ thuật có trình độ cao” [3, tr15 – 16], Cương lĩnh này con ghi rõ trong điều kiện nước ta hiện nay “nguồn lực lớn nhất, quý báu nhất của chúng ta là tiềm lực con người trong đó tiềm lực về trí tuệ của con người Việt Nam” Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương khóa VII của Đảng đã khẳng định “con người, chủ thể của mọi sáng tạo, mọi nguồn của cải vật chất văn hóa, mọi nền văn minh của các quốc gia”

Đại hội VIII (1996) thuật ngữ “nguồn lực con người” được sử dụng trong văn kiện Đảng, đồng thời Đảng ta phát triển một trong những định hướng lớn của Việt Nam “lấy việc phát huy nguồn lực con người là yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững” [4, tr85] Đặc biệt Đại hội VIII chủ trương đẩy mạnh CNH,HĐH đất nước, con người được xem là một nguồn động lực chủ yếu , có ý nghĩa quyết định phát triển kinh tế - xã hội

Đại hội IX còn nhấn mạnh “ Nâng cao năng lực và tạo cơ hội cho mọi người đều có thể phát huy hết tài năng, tham gia vào quá trình phát triển, và hưởng thụ

Trang 26

thành quả phát triển, đồng thời nâng cao trách nhiệm với mọi người góp sức thực hiện dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, văn minh, giữ gìn và phát triển nền văn hóa dân tộc, đẩy lùi các tệ nạn xã hội [5, tr163].

Đại hội X (2006) chủ trương của Đảng “đẩy mạnh CNH, HĐH gắn với kinh

tế tri thức có căn cứ khoa học và phù hợp với xu thế phát triển trung của thời đại Song điều này chỉ thành công khi hai nhiệm vụ được thực hiện đồng thời, lồng ghép, bổ sung hỗ trợ nhau bằng cách vừa tăng cường đầu tư phát triển nguồn nhân lực, đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao, sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực này, vừa đầu tư vào các ngành công nghệ kĩ thuật cao, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng nhanh các ngành kinh tế tri thức Thể hiện nhất quán tư tưởng đó Đại hội X khẳng định “tranh thủ cơ hội thuận lợi do bối cảnh quốc tế tạo ra và tiềm năng, lợi thế của nước ta để rút ngắn quá trình CNH, HĐH đất nước theo định hướng XHCN gắn với phát triển kinh tế tri thức, coi kinh tế tri thức là yếu tố quan trọng của nền kinh tế và CNH, HĐH” [6, tr87]

Nghị quyết Đại hội XI của Đảng chỉ rõ: “phát triển, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao là một trong những yếu tố quyết định sự phát triển nhanh và bền vững của đất nước” [7, tr41]; nâng cao dân trí, bồi dưỡng và phát huy nguồn lực to lớn của con người Việt Nam Con người là trung tâm của chiến lược phát triển, đồng thời là chủ thể phát triển Con người thực

sự là nguồn lực của mọi nguồn lực, tài nguyên của mọi tài nguyên, là nguồn lựu nội sinh quan trọng nhất quyết định thành công của sự nghiệp xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta Trong Báo cáo Chính trị tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI (1- 2011), Đảng ta đặt ra mục tiêu: Đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục, đào tạo, phát triển con người chất lượng cao, đặc biệt

là đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý giỏi; đội ngũ cán bộ khoa học, công nghệ, văn hóa đầu đàn, đội ngũ doanh nhân và lao động lành nghề

Để phát triển nhanh nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, Đại hội XI cũng nêu ra một số giải pháp căn bản:

Một là, xây dựng và hoàn thiện hệ thống giá trị của con người Việt Nam

trong thời đại mới, cần phải chăm lo xây dựng để có nguồn nhân lực chất lượng cao

“Xây dựng con người Việt Nam giàu lòng yêu nước, có ý thức làm chủ, trách nhiệm

Trang 27

công dân, có tri thức, sức khỏe, lao động giỏi, sống có văn hóa, nghĩa tình, có tinh thần quốc tế chân chính” [7, tr76-77].

Hai là, đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục quôc dân Đại hội khẳng

định phải đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục quốc dân theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế, trong đó, đổi mới cơ chế quản lý giáo dục, phát triển đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý là khâu then chốt Việc khẳng định đổi mới cơ chế quản lý là khâu then chốt xuất phát từ thực trạng giáo dục – đào tạo của Việt Nam và yêu cầu mới của thời đại đối với giáo dục – đào tạo

Ba là, nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe nhân dân, bảo đảm an sinh xã

hội Chất lượng của nguồn nhân lực phải được đánh giá một cách toàn diện về thể lực, trí lực, đạo đức, nhân cách, phẩm chất của con người Nhận thức rõ điều đó Đảng khẳng định, lĩnh vực y tế đóng vai trò quan trọng hàng đầu Tại kì Đại hội này, Đảng ta dã tập trung chỉ đạo sát sao và cụ thể hóa hơn những hoạt động cuả lĩnh vực này, nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả chăm sóc sức khỏe nhân dân, đáp ứng yêu cầu của quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với kinh

tế tri thức trong bối cảnh hội nhập, cạnh tranh gay gắt và cường độ lao động cao Đảng ta khẳng định: “tiếp tục sửa đổi, hoàn thiện hệ thống bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, trợ giúp và cứu trợ xã hội đa dạng, linh hoạt có khả năng bảo vệ, giúp đỡ mọi thành viên trong xã hội, nhất là các nhóm yếu thế, dễ bị tổn thương, vượt qua khó khăn hoặc các rủi ro trong đời sống [7, tr228] Trên vấn

đề này, tại Đại hội XI, Đảng ta đã đề cập một hệ thống các quan điểm vfa chính sách khá đồng bộ và toàn diện nhằm tạo ra hành lang pháp lý và điều kiện kinh tế,

xã hội cần thiết cho việc phát triển một hệ thống an sinh xã hội và phúc lợi xã hội hiệu quả và bền vững

Trang 28

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁT HUY NHÂN TỐ CON NGƯỜI TRONG LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT

Ở HÀ NAM HIỆN NAY

2.1 Thực trạng người lao động ở Hà Nam

2.1.1 Khái quát về lịch sử hình thành và đặc điểm tự nhiên, kinh tế, văn hóa, xã hội của tỉnh Hà Nam

Thứ nhất, lịch sử hình thành

Hà Nam là vùng đất cổ thuộc trấn Sơn Nam – một trong “tứ trấn” của kinh thành Thăng Long xưa Hà Nam được thành lập từ năm 1890 đến nay là 126 năm nhưng đã trải qua nhiều lần sáp nhập và tái lập tỉnh Sự sáp nhập và chia tách tỉnh là

có lí do để phù hợp yêu cầu nhiệm vụ cách mạng kháng chiến và kiến quốc trong từng thời kì của dân tộc cũng như của địa phương Ngày 01 tháng 01 năm 1997 được tái lập với tên Hà Nam hiện nay theo Nghị quyết của kì họp Quốc hội khóa IX

Hà Nam là mảnh đất địa linh nhân kiệt, có truyền thống hiếu học, kho bảng với những tên tuổi làm rạng danh nền văn hiến đất Việt như: Trương Hán siêu, Tam Nguyên Yên Đổ Nguyễn Khuyến, Nam Cao… Hà Nam là nơi phát tích của trống đồng Ngọc Lũ, nơi khởi nguồn của vật võ Liễu Đôi, điệu hát dậm Quyển Sơn cùng nhiều sản vật nổi tiếng với những danh lam thắng cảnh đẹp làm say đắm lòng người: Ngũ Động Thi Sơn, núi Ngọc, chùa Bà Đanh, Kẽm Trống…Nhân dân Hà Nam có truyền thống yêu nước, cần cù trong lao động Trải qua bao thăng trầm của lịch sử, con người nơi đây đã làm nên biết bao chiến công hiển hách và nổi danh với những tên tuổi lịch sử như: Âm vang tiếng tróng Bồ Đề trong kháng chiến chống thực dân và phong kiến, ngọn cờ Bắc Lý điểm sáng của nền giáo dục miền Bắc XHCN và cả nước trong thời kì đổi mới; phong trào thi đua “hai tốt” suốt 30 năm kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ (1945 – 1975) Trong đó phải kể đến các chiến sĩ ưu tú cách mạng như Lương Khánh Thiện, Nguyễn Hữu Tiến…đã làm rạng danh mảnh đất cách mạng anh hùng kiên cường

Qua gần 20 năm xây dựng và phát triển, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân

Hà Nam đã không ngừng vượt qua mọi khó khăn phấn đấu vươn lên xây dựng Hà

Trang 29

Nam phát triển ngày càng vững mạnh hơn, giàu mạnh hơn với mục tiêu phấn đấu đến năm 2020 Hà Nam trở thành một tỉnh công nghiệp.

Thứ hai, đặc điểm về điều kiện tự nhiên

Một là, vị trí địa lí và lãnh thổ

Hà Nam là một tỉnh thuộc khu vực đồng bằng sông Hồng, nằm ở phía Tây Nam của đồng bằng Bắc Bộ, nơi tiếp giáp giữa vùng núi và đồng bằng Phía Bắc giáp thành phố Hà Nội, phía Đông giáp tỉnh Hưng Yên, tỉnh Ninh Bình, phía Nam giáp tỉnh Nam Định và phía Tây giáp tỉnh Hòa Bình Tỉnh Hà Nam gồm sáu đơn vị hành chính cấp huyện và thành phố: TP Phủ Lý; huyện Kim Bảng, Lý Nhân, Thanh Liêm, Bình Lục, Duy Tiên với 103 xã; 7 thị trấn và 11 phường, diện tích tự nhiên là

862 nghìn km2

Hà Nam có vị trí địa lý kinh tế quan trọng đối với vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc và vùng đồng bằng sông Hồng, cửa ngõ phía Nam Thủ đô, nằm trên trục giao thông huyết mạch Bắc – Nam, có tuyến đường sắt Bắc – Nam, có tuyến đường

38 nối với vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc (Hà Nội – Hải Phòng – Quảng Ninh), tạo lợi thế so sánh cho Hà Nam trong mở rộng hợp tác, giao lưu kinh tế với các địa phương khác trong cả nước

Hai là, địa hình

Hà Nam nằm trong vùng trũng của Đồng bằng sông Hồng, nhưng địa hình có nhiều nét độc đáo của một tỉnh bán sơn địa Địa hình có đồng bằng (phần lớn diện tích), vừa có vùng núi (phía tây) lại vừa có vùng trũng Ngay trong từng khu vực cũng có chênh lệch về độ cao

Phía Đông là vùng đồng bằng chiếm khoảng 85 – 90 % diện tích của tỉnh, độ cao trung bình khoảng 3 – 4m so với mực nước biển, với diện tích khoảng 22 nghìn

ha Vùng trũng có độ cao 0,4 – 0,9m, diện tích khoảng 43 nghìn ha, thường xuyên

bị ngập úng nước (được ví như một phần cái “Rốn nước” của vùng đồng bằng sông Hồng) Với địa hình khá bằng phẳng, chủ yếu là đất phù sa màu mỡ, có nhiều vùng trũng thuận lợi cho thâm canh lúa nước, nuôi trồng thủy sản theo đó là sự phát triển công nghiệp chế biến nông sản Đây là ngành thu hút nhiều lao động của tỉnh

Phía Tây của tỉnh là vùng đồi núi bán sơn địa, chiếm khoảng 10 -15 % diện tích của tỉnh Độ cao trung bình của vùng núi này vào khoảng 200 – 300m so với

Trang 30

mực nước biển Đây là vùng có tiềm năng lớn để phát triển du lịch và khá nhiều hang động và cảnh quan đẹp như Ngũ Động Thi Sơn thuộc xã Thi Sơn huyện Kim Bảng; Kẽm Trống (Thanh Hải – Thanh Liêm); hồ Tam Chúc (huyện Kim Bảng) rộng tới 750 ha Nhìn chung, địa hình Hà Nam khá đa dạng, tạo nên sự phân hóa của các điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên Đó là cơ sở phát triển nền kinh

tế đa ngành với hướng kết hợp kinh tế của vùng đồng bằng với kinh tế của vùng miền núi Địa hình đa dạng cho phép phát triển nông lâm ngư nghiệp dễ dàng chuyển dịch cơ cấu trong nội bộ từng ngành

Ba là, khí hậu

Hà Nam có khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa, có nền nhiệt độ khá cao: trung bình khoảng từ 23 – 24 độ C Nhiệt độ phân bố không đều trong năm Tổng số giờ nắng trong năm vào khoảng 1.300 -1.500 giờ/năm Bức xạ mặt trời khá phong phú với khoảng 110 – 120 kcal/cm2/năm Lượng mưa trung bình nhiều năm 1.900mm, song lượng mưa phân bố không đều theo mùa, tập trung vào mùa mưa Độ ẩm không khí trung bình vào khoảng 85%, không khí có tháng nào độ ẩm trung bình dưới 77% Khí hậu Hà Nam rất thuận lợi cho phát triển nền nông nghiệp sinh thái

đa dạng với nhiều loại động vật nhiệt đới, ôn đới

Bốn là, thủy văn

Hà nam có hệ thống sông ngòi dày đặc với mật độ mạng lưới sông khoảng 0,7km/km2 Lưu lượng dòng chảy trung bình năm khá lớn khoảng 601/s/km2 Các con sông lớn chảy qua lãnh thổ Hà Nam là : sông Hồng, sông Đáy, sông Châu và các con sông đào như sông Nhuệ, sông Sắt… các con sông này hàng năm cung cấp một lượng lớn phù sa cho đồng bằng do các con sông đều có hàm lượng phù sa tương đối cao như sông Hồng đạt 2 – 3kg/km2, thuận lợi thâm canh lúa nước và trồng cây hoa màu, tiêu ứng chống hạn Các con sông này còn có giá trị về mặt giao thông, nguồn cung cấp nước cho các nhà máy, các ngành công nghiệp, hóa chất, sản xuất chế biến thực phẩm

Năm là, đất đai

Hà Nam có thổ nhưỡng khá đa dạng với tám nhóm đất chính do tác động tổng hợp của các nhân tố tự nhiên và hoạt động sản xuất của con người

Trang 31

Vùng đồng bằng có năm nhóm đất: nhóm đất phù sa, nhóm đất glây, nhóm đất biến đổi, nhóm đất cát, nhóm đất than bùn, trong đó nhóm đất phù sa chiếm diện tích lớn nhất (chiếm 50,2% tổng diện tích tự nhiên, 84,7% diện tích đất nông nghiệp) Vùng đồi núi gồm 3 nhóm đất: nhóm đất xám, nhóm đất đỏ và nhóm đất mỏng, trong đó nhóm đất xám có diện tích lớn nhất chiếm 2,4 % tổng diện tích tự nhiên và 4,1 % diện tích đất nông nghiệp Đất vùng đồi núi thích hợp cho việc phát triển của nhiều loại cây trồng thuộc vùng núi và trung du như các cây công nghiệp (chè, lạc, mía ), rừng (thông, mơ ), cây lương thực (lúa đồi, sắn, khoai ), các cây

ăn quả, làm thuốc

Nhìn chung, trên cơ sở các nhóm đất ứng với các loại địa hình, Hà Nam có thể phát triển nhiều loại cây trồng thuộc các nhóm cây lương thực, cây thực phẩm, cây công nghiệp, chăn nuôi

Đất nông nghiệp khó có khả năng mở rộng, lại đang có xu hướng mất dần đi

do nhu cầu mở rộng đất chuyên dùng và thổ cư Bình quân đất nông nghiệp theo đầu người vào khoảng 650m2/người, thấp hơn so với đồng bằng sông Hồng (khoảng 960m2/người) và trung bình cả nước (khoảng 1.100m2/người) Đây được coi là một khó khăn trong quá trình phát triển kinh tế Nhưng theo tính toán, nếu duy trì năng suất lúa 11 tấn/ha như hiện nay thì tỉnh Hà Nam hiện nay chỉ cần 31 nghìn ha là có thể đảm bảo an ninh lương thực Trong khi đó, hàng năm Hà Nam có

37 nghìn ha đất sản xuất cây lương thực và 42 nghìn ha đất canh tác Như vậy, nếu chuyển 3 nghìn ha đất nông nghiệp sang sản xuất công nghiệp thì chưa ảnh hưởng nhiều đến an ninh lương thực, có thể đáp ứng nhu cầu sản xuất nông nghiệp và chuyển đổi mục đích sử dụng đất, phục vụ mục đích công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Sáu là, sinh vật; khoáng sản

Sinh vật của Hà Nam mang đặc điểm của hệ sinh vật đồng bằng sông Hồng Tổng diện tích rừng của tỉnh là 7.550 ha chiếm khoảng 8,8 % diện tích đất tự nhiên Phần lớn diện tích rừng là rừng phòng hộ với 5.232 ha chiếm 69,3% diện tích rừng của cả tỉnh Nhìn chung tài nguyên rừng của tỉnh nhỏ và có giá trị không lớn

Khoáng sản của Hà Nam khá giàu về tài nguyên đá vôi, đất sét làm nguyên liệu cho sản xuất xi măng, vôi, sản xuất bột nhẹ, làm vật liệu xây dựng, các loại đá quý có vân màu phục vụ cho xây dựng, trang trí nội thất và làm đồ mĩ nghệ; các mỏ

Trang 32

sét làm gạch ngói, gốm sứ, xi măng và một số nhỏ than bùn Phần lớn các tài nguyên khoáng sản này phân bố ở các huyện phía Tây của tỉnh.

Đá vôi ở Hà Nam thuộc loại tốt nhất cả nước, có tổng trữ lượng vào khoảng trên 7,4 tỷ m3 với chất lượng khá tốt, trong đó đá vôi có chất lượng sản xuất xi măng với trữ lượng vào khoảng gần một tỷ tấn, cho phép xây dựng các nhà máy xi măng có công suất lớn

Đá quý ở Hà Nam gồm các loại đá có vân hồng, tím nhạt, thường có các vải dài 30 – 40m, cao 60m Phần lớn các mỏ đá quý có trữ lượng lớn, nằm ở vị trí thuận lợi cho việc khai thác chế biến và vận chuyển sản phẩm tới thị trường tiêu thụ

Đất sét ở Hà Nam có tổng trữ lượng lên gần tới 400 triệu tấn, trong đó đất sét làm nguyên liệu sản xuất xi măng có 331 triệu tấn với chất lượng khá tốt Đất xét làm gạch ngói khoảng 62 triệu tấn

Thứ ba, đặc điểm kinh tế - xã hội

Hà Nam trước đây là một tỉnh có điều kiện tự nhiên không thuận lợi cho phát triển sản xuất nông nghiệp, đây là vùng đất chiêm trũng chỉ trồng một vụ lúa và còn thường xuyên bị ngập úng, mất mùa vì đây được coi là vùng rốn nước của Đồng Bằng Bắc Bộ, hơn nữa nơi đây là nơi bị sự tàn phá nặng nề của hai cuộc chiến tranh cùng với mỗi khó khăn phát sinh qua mỗi lần thay đổi về địa giới hành chính Do vậy, đến thời điểm tái lập lại năm 1997, Hà Nam gặp rất nhiều khó khăn do cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội thấp kém, hệ thống đường giao thông, công trình tưới tiêu xuống cấp, hạ tầng đô thị lạc hậu, hầu như không được quan tâm đầu tư Nền kinh

tế thuần nông, nhỏ lẻ manh mún, đời sống của phần lớn tầng lớp dân cư khó khăn thậm chí một bộ phận dân cư thiếu thốn lương thực

Song với các chủ trương đúng và trúng đã nhanh chóng được thực hiện hóa đời sống xã hội, được các cấp các ngành và địa phương tập trung chỉ đạo thực hiện chặt chẽ, đạt hiệu quả đưa nền kinh tế - xã hội Hà Nam đạt được những thành tựu đáng kể, tạo tiền đề cơ bản, vững chắc đẩy nhanh tốc độ phát triển trong những năm tới Những năm qua, mặc dù Hà Nam chưa trở thành “cực” thu hút trong bức tranh kinh tế của vùng Đồng Bằng Sông Hồng nhưng với vị trí cầu nối, Hà Nam từ khi tái lập nền kinh tế của tỉnh có những bước tiến mới

Trang 33

2.1.2 Thực trạng phát huy nguồn lực ở Hà Nam

Thứ nhất, hiện trạng về số lượng nguồn nhân lực

Một là, quy mô dân số, cơ cấu, tốc độ tăng dân số

Hà Nam có quy mô dân số nhỏ và khá ổn định Theo kết quả tổng điều tra dân số và nhà ở giữa kì 01/04/ 2014 dân số toàn tỉnh là 799,4 nghìn người, chiếm 0,24% dấn số cả nước và chiếm 3,8% dân số của vùng ĐBSH Dân số sống ở thành thị là 123,5 nghìn người (chiếm 15,45%), dân số nông thôn là 675,8 nghìn người (chiếm 84,55%) Quy mô số khẩu bình quân hộ gia đình 3,37 khẩu/hộ, giảm 0,59 khẩu/hộ so với năm 2010 Như vậy, so với các tỉnh khác, Hà Nam là tỉnh có số dân không đông Điều này là phù hợp với nhu cầu về khả năng cung ứng nguồn nhân lực trên địa bàn tỉnh

Tỷ lệ gia tăng dân số tự nhiên giảm dần và đang ở mức thấp do thực hiện tốt các chính sách dân số Theo thống kê ngày 01/10/2015 tỷ lệ gia tăng tự nhiên giảm

từ 1,24% năm 2010 xuống còn 0,43% , thấp hơn gia tăng dân số trung bình của cả nước 0,65% và vùng ĐBSH 0,66% Các huyện có mức độ giảm tốc độ gia tăng dân

số nhanh là Thanh Liêm, Duy Tiên, Thành phố Phủ Lý Quy mô dân số và tốc độ gia tăng dân số này phù hợp với sự phát triển kinh tế của tỉnh, thuận lợi cho việc đào tạo, nâng cao trình độ chuyên môn kĩ thuật cho người lao động, là động lực góp phần thúc đẩy kinh tế Hà Nam ngày càng phát triển Dân số từ 70 tuổi trở lên 57.547 người, chiếm 7,3% dân số cao hơn 2010 là 3,7% Đó là nhờ sự phát triển kinh tế - xã hội, sự quan tâm chăm sóc của toàn xã hội và gia đình đối với người cao tuổi, số cụ thọ từ 100 tuổi trở lên còn sống đến thời điểm Tổng điều tra 06/2014 toàn tỉnh Hà Nam là 111 người nhiều hơn Tổng điều tra năm 2010 là 71 người

Phần lớn dân số sống ở nông thôn và phần lớn là làm nông nghiệp, do đó nó

sẽ ảnh hưởng tới sự phân bố nguồn nhân lực cũng như cơ cấu nguồn nhân lực của tỉnh Hà Nam Dân số sống ở nông thôn với xu hướng tăng nhẹ và dân số thành thị đang có xu hướng tăng nhanh Mật độ dân số của Hà Nam cũng khá cao so với cả nước với 927 người/km2 (2014) cao gấp 3,8 lần mật độ dân số cả nước nhưng vẫn thấp hơn mật độ dân số trung bình của vùng ĐBSH Dân số phân bố không đồng đều theo lãnh thổ, có sự chênh lệch về mật độ giữa các huyện, thành phố, giữa thành thị nông thôn, giứa các địa phương với nhau Thành phố Phủ Lý có mật độ dân số

Trang 34

cao nhất với 1.576 người/km2, tiếp đến là huyện Lý Nhân với 1.054 người/km2, huyện có mật độ dân số thấp nhất là huyện Kim Bảng với 675 người/ km2.

Hai là giới, dân tộc

Đại bộ phận dân số là tộc người kinh có trình độ thâm canh lúa nước chiếm 99% dân số, ngoài ra còn có tộc người Tày, người Thái, người Ngái…Theo kết quả tổng điều tra dân số và nhà ở giữa kì 01/04/ 2014 dân số toàn tỉnh là 799,4 nghìn người, chiếm 0,24% dấn số cả nước và chiếm 3,8% dân số của vùng ĐBSH Trong

đó nam giới là 394,2 nghìn người (chiếm 49,31%), nữ giới 405,2 nghìn người (chiếm 50,69%) Cơ cấu dân số Hà Nam có những biến đổi tích cực với tỷ trọng nam trong dân số có xu hướng tăng lên từ 48,8 % năm 2010 và 49,3% năm 2014, nhưng có xu hướng biến động còn chậm Theo thống kê ngày 01/10/2015 tỷ số giới tính của dân số là 97,3 nam/ 100 nữ Nhưng nhìn chung tỷ trọng nam và nữ tương đối cân bằng

Ba là, lực lượng lao động

Nguồn lao động của tỉnh tăng nhanh và quy mô ngày càng lớn do tỷ lệ gia tăng dân số cao trong những năm trước đây Tại thời điểm ngày 02/10/2015 tổng lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên toàn tỉnh là 472,4 nghìn người, chiếm 59,1 % dân

số, cao hơn năm 2010 là 4,3% Tỷ lệ lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc trong nền kinh tế đã qua đào tạo là 16,3% trong khi đó cả nước là 18,2 % thấp hơn 1,9%

so với cả nước Tốc độ tăng trưởng lực lượng lao động hàng năm là 1,5% Số lượng lao động trong độ tuổi lao động có khả năng lao động nhưng chưa có việc làm trên 11.500 người chiếm gần 3% lực lượng lao động trong độ tuổi có khả năng lao động Hàng năm dân số Hà Nam được bổ sung thêm một lượng lớn đó là nguồn lao động dồi dào bổ sung cho nền kinh tế quốc dân trong tỉnh

Lao động thành thị chiếm 15% năm 2014 và lao động nông thôn chiếm 85,0% Như vậy có thể thấy lao động ở nông thôn vẫn chiếm một tỷ trọng rất lớn Điều này đặt ra vấn đề phải tạo việc làm cho lao động ở nông thôn Như vậy thì vấn

đề đào tạo lao động trở nên vô cùng quan trọng Mặc dù tỷ lệ lực lượng lao động ở thành thị đang có xu hướng tăng lên từ 10,3% năm 2010 lên 15% năm 2014, dự kiến những năm tới tỷ lệ này vẫn tiếp tục tăng với nhịp độ phù hợp với sự phát triển của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong tỉnh Nếu so sánh chỉ tiêu này so với ĐBSH, rõ ràng Hà Nam đang có tỷ lệ lao động thành thị rất thấp, phản ánh tính chất thuần nông của nền kinh tế và mức độ đô thị hóa chậm Phân bố lao động nông

Ngày đăng: 26/02/2017, 21:30

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ giáo dục và đào tạo (2001), Giáo trình triết học Mác – Lênin, Nxb Giáo dục Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình triết học Mác – Lênin
Tác giả: Bộ giáo dục và đào tạo
Nhà XB: Nxb Giáo dục Hà Nội
Năm: 2001
2. Cục Thống Kê tỉnh Hà Nam, Niên giám thống kê 2014 tỉnh Hà Nam,Nxb Thống kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê 2014 tỉnh Hà Nam
Nhà XB: Nxb Thống kê
3. Đảng Cộng Sản Việt Nam (1991), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII
Tác giả: Đảng Cộng Sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội
Năm: 1991
4. Đảng Cộng Sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII
Tác giả: Đảng Cộng Sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội
Năm: 1996
5. Đảng Cộng Sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX
Tác giả: Đảng Cộng Sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội
Năm: 2001
6. Đảng Cộng Sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X
Tác giả: Đảng Cộng Sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội
Năm: 2006
7. Đảng Cộng Sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI
Tác giả: Đảng Cộng Sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội
Năm: 2011
8. Hội đồng Trung ương chỉ đạo biên soạn giáo trình quốc gia (2002), Giáo trình Triết học Mác – Lênin, Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Giáo trình Triết học Mác – Lênin
Tác giả: Hội đồng Trung ương chỉ đạo biên soạn giáo trình quốc gia
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội
Năm: 2002
9. V.I.Lênin (1977), Toàn tập, tập 38, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: V.I.Lênin
Nhà XB: Nxb Tiến bộ
Năm: 1977
10. V.I.Lênin (1977), Toàn tập, tập 41, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: V.I.Lênin
Nhà XB: Nxb Tiến bộ
Năm: 1977
11. C.Mác (1973), Tư Bản, quyển thứ nhất, tập 2, Nxb Sự thật Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư Bản
Tác giả: C.Mác
Nhà XB: Nxb Sự thật Hà Nội
Năm: 1973
12. C.Mác và Ăngghen (1980), Tuyển tập, tập 1, Nxb Sự thật Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập
Tác giả: C.Mác và Ăngghen
Nhà XB: Nxb Sự thật Hà Nội
Năm: 1980
13. C.Mác và Ăngghen (1982), Tuyển tập, tập 3, Nxb Sự thật Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập
Tác giả: C.Mác và Ăngghen
Nhà XB: Nxb Sự thật Hà Nội
Năm: 1982
14. C.Mác và Ăngghen (1994), Toàn tập, tập 20, NXb Chính trị quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: C.Mác và Ăngghen
Năm: 1994
15. Hồ Chí Minh (1995), Toàn tập, tập 6, Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội
Năm: 1995
16. Tôn Dã Phương (1949 – 1950), Thế nào là lực lượng sản xuất và mấy cuộc tranh luận về định nghĩa lực lượng sản xuất, Nxb kinh tế tài chính Trung Quốc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thế nào là lực lượng sản xuất và mấy cuộc tranh luận về định nghĩa lực lượng sản xuất
Nhà XB: Nxb kinh tế tài chính Trung Quốc

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w