Định nghĩa: Định mức lao động là việc xác định số lượng công việc hay số sản phẩm làm ra trong một đơn vị thời gian nhất định hoặc lượng thời gian hao phí để hoàn thànhmột đơn vị công vi
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Em xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về kết quả nghiên cứu trong luận văn tốtnghiệp của mình
Sinh viên
Vũ Ngọc Thạch
Trang 2DANH MỤC TỪ VIẾT TẮTĐMLĐ: định mức lao động
MLĐ: mức lao động
TLTSP: trả lương theo sản phẩm
Trang 3MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN……… 1
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT……… 2
MỤC LỤC……… 3
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ……… 5
LỜI MỞ ĐẦU………6
Chương I: Cơ sở lí luận chung……….7
1.1.Định mức lao động……… 7
1.1.1. Định nghĩa………7
1.1.2. Ý nghĩa……… 7
1.1.3. Nguyên tắc định mức lao động……… 7
1.2.Bản chất của định mức lao động……… 7
1.3.Vai trò của định mức lao động……… 7
1.3.1. Định mức lao động là cơ sở của tổ chức lao động khoa học……….7
1.3.2. Định mức lao động là co sở để phân phối theo lao động………8
1.3.3. Định mức lao động là cơ sở tăng năng suất lao động và hạ giá thành sản phẩm………9
1.3.4. Định mức lao động là cơ sở để lập kế hoạch sản xuất kinh doanh………9
1.4.Nội dung của công tác định mức lao động……… 10
1.4.1. Phân chia quá trình sản xuất thành các bộ phận hợp thành……… 10
1.4.2. Phân loại thời gian làm việc………11
1.5.Phân chia các định mức lao động……… 11
1.5.1. Phương pháp tổng hợp……….11
1.5.2. Phương pháp phân tích………12
1.6.Khái niệm trả lương theo sản phẩm……… 13
1.6.1. Tiền lương……….13
1.6.2. Trả lương theo sản phẩm……… 13
1.6.3. Ưu, nhược điểm của chế độ trả lương theo sản phẩm…13 1.7.Các hình thức trả lương theo sản phẩm……… 14
1.7.1. Trả lương theo sản phẩm trực tiếp cá nhân………14
1.7.2. Trả lương theo sản phẩm tập thể……….14
Chương II: Thực hiện và áp dụng định mức lao động ở công ty cổ phần bánh kẹo Hải Hà………15
2.1. Giới thiệu công ty………15
Trang 42.1.1. Lịch sử hình thành và phát triển công ty………15
2.1.2. Chức năng, nhiệm vụ sản xuất kinh doanh………17
2.1.3. Cơ cấu tổ chức, bộ phận quản lí……… 20
2.1.4. Đặc điểm về tổ chức lao động……… 22
2.1.5. Kết quả sản xuất, kinh doanh của công ty……… 25
2.2. Thực trạng công tác định mức lao động và trả lương theo sản phẩm ở công ty………27
2.2.1. Bộ phận đảm nhiệm công tác định mức lao động trong công ty……… 27
2.2.2. Các phương pháp định mức lao động đang được áp dụng……… 28
2.2.3. Phương pháp xây dựng định mức lao động trong công ty………29
2.3. Đánh giá công tác định mức lao động tại công ty………29
2.3.1. Phương pháp định mức……… 29
2.3.2. Công tác định mức lao động………29
2.3.3. Đánh giá về số lượng, chất lượng của mức lao động………30
2.4. Vận dụng mức vào trả lương theo sản phẩm cho công nhân………31
2.4.1. Hình thức trả lương theo sản phẩm đang được áp dụng tại công ty……… 31
2.4.2. Điều kiện hỗ trợ người lao động thực hiện mức………31
Chương III: Hoàn thiện việc thực hiện và áp dụng công tác định mức lao động ở công ty cổ phần bánh kẹo Hải Hà………34
3.1.Hoàn thiện phương pháp định mức……… 34
3.2.Hoàn thiện tổ chức công tác định mức……….34
3.3.Hoàn thiện điều kiện làm việc……… 34
3.3.1. Hoàn thiện phân công hợp tác lao động……….34
3.3.2. Hoàn thiện tổ chức phục vụ nơi làm việc………34
3.3.3. Cải tiến và thay đổi máy móc thiết bị……… 35
3.4.Nâng cao vai trò hoạt động công đoàn trong công ty……… 35
TÀI LIỆU THAM KHẢO………36
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ
Bảng 2.1: Cơ cấu lao động theo phòng ban……….23
Bảng 2.2: Tỉ lệ lao động trực tiếp và gián tiếp………23
Bảng 2.3: Cơ cấu lao động theo hợp đồng……… 24
Bảng 2.4: Trình độ học vấn của lao động………24
Bảng 2.5: Độ tuổi của người lao động……….25
Bảng 2.6: Cơ cấu nguồn vốn trong công ty……….26
Bảng 2.7: Kết quả hoạt động trong sản xuất kinh doanh của công ty….27 Bảng 2.8: Số lượng các mức lao động trong công ty……… 30
Bảng 2.9: Một số điều chỉnh mức trong công ty năm 2013………31
Bảng 2.10: Mẫu đo thử kiểm tra môi trường định kì năm 2012……… 33
Sơ đồ 2.1: Quy trình công nghệ sản xuất kẹo……… 19
Sơ đồ 2.2: Quy trình, công nghệ sản xuất bánh……… 20
Sơ đồ 2.3: Sơ đồ bộ máy quản lý của Công ty Cổ phần Bánh kẹo Hải Hà……….21
Trang 6LỜI MỞ ĐẦUTrong quá trình sản xuất kinh doanh, mọi doanh nghiệp đều phải phát huymọi nguồn lực sẵn có của mình để tăng năng suất lao động, hạ giá thành sản phẩm,cải thiện đời sống người lao động.
Một trong những công cụ để quản lí sản xuất, lao động trong các doanhnghiệp là mức lao động Phần lớn công nhân trong công ty cổ phần bánh kẹo Hải
Hà được trả lương theo sản phẩm Vì thế có một mức chính xác là cần thiết để trảlương phù hợp với hao phí lao động của công nhân Vì vậy đề tài em lựa chọn
là : ‘‘Thực hiện và áp dụng định mức lao động ở công ty cổ phần bánh kẹo Hải
Hà’’ Mục tiêu là nghiên cứu việc thực hiện và áp dụng định mức lao động ở công
ty cổ phần bánh kẹo Hải Hà để từ đó rút ra các ưu, nhược điểm và tìm phươnghướng nâng cao hiệu quả của công tác định mức lao động
Chuyên đề gồm ba chương :
Chương I: Cơ sở lí luận chung
Chương II: Thực hiện và áp dụng định mức lao động ở công ty cổ phần bánh kẹo Hải Hà
Chương III: Hoàn thiện việc thực hiện và áp dụng công tác định mức lao động ở công ty cổ phần bánh kẹo Hải Hà
Do trình độ còn hạn chế nên chuyên đề không tránh khỏi những thiếu sót
Em mong sẽ nhận được sự góp ý của thầy cô và các bạn để chuyên đề này thêmphong phú và có tính hiện thực
Em xin cảm ơn sự hướng dẫn nhiệt tình của PGS.TS Vũ Hoàng Ngân và sựchỉ bảo hướng dẫn của các cô chú, các anh chị trong văn phòng công ty đã giúp đỡ
em hoàn thành chuyên đề này
Trang 7Chương I: Cơ sở lí luận chung
1.1 Định mức lao động:
1.1.1 Định nghĩa:
Định mức lao động là việc xác định số lượng công việc hay số sản phẩm làm
ra trong một đơn vị thời gian nhất định hoặc lượng thời gian hao phí để hoàn thànhmột đơn vị công việc hay sản phẩm
1.1.2 Ý nghĩa:
- Là điều kiện để tăng năng suất lao động
- Là cơ sở để lập kế hoạch lao động và tổ chức lao động hàng ngày
- ĐMLĐ và định mức hao phí vật tư, tiền vốn là cơ sở để xây dựng kế hoạch sảnxuất, kĩ thuật, tài chính trong năm
- MLĐ cùng với xếp bậc công việc là căn cứ để trả công cho người lao động
1.1.3 Nguyên tắc định mức lao động:
- MLĐ phải là mức trung bình tiên tiến và lấy 8 giờ làm việc trong 1 ngày làm cơ sở
- MLĐ phải gồm cả số lượng và chất lượng công việc
- MLĐ phải phù hợp với điều kiện sản xuất hợp lí, cụ thể
1.2 Bản chất của định mức lao động:
- Trong sản xuất số lượng lao động cần thiết được xác định dưới dạng các mức laođộng thông qua ĐMLĐ MLĐ trở thành thước đo lao động và thực chất mức laođộng là quá trình xác định các MLĐ
- ĐMLĐ là việc xác định các hao phí lao động cần thiết để hoàn thành một công việchoặc sản xuất ra một đơn vị sản phẩm trong điều kiện tổ chức kĩ thuật nhất định đốivới người lao động có trình độ lành nghề và mức độ thành thạo công việc phù hợpvới yêu cầu của công việc, sản xuất
- ĐMLĐ có tác dụng thực sự đối với việc giải quyết các nhiệm vụ kinh tế xã hộitrong điều kiện các doanh nghiệp đã áp dụng các mức có căn cứ khoa học tức là cácmức đã tính đến những yếu tố sản xuất, xã hội, tâm sinh lí, kinh tế và tổ chức kĩthuật tối ưu Những mức như thế sẽ định hướng và thúc đẩy công nhân vươn tớinhững kết quả lao động cao nhất trong điều kiện sản xuất nhất định Việc xác địnhđầy đủ những căn cứ trên gọi là định mức kĩ thuật lao động
1.3 Vai trò của định mức lao động:
1.3.1 Định mức lao động là cơ sở của tổ chức lao động khoa học:
1.3.1.1.Định mức lao động với phân công hiệp tác lao động:
Trang 8Phân công lao động là sự chia nhỏ toàn bộ các công việc của quá trình sảnxuất trong xí nghiệp để giao cho từng cá nhân hoặc từng nhóm người thực hiện.
Hiệp tác lao động là sự phối hợp các dạng hoạt động lao động đã được chianhỏ do phân công lao động để sản xuất ra sản phẩm hay thực hiện các công việc
Muốn phân công lao động phải dựa trên quy trình công nghệ và trang bị kĩthuật, xác định được khối lượng công việc cần thiết phải hoàn thành, đồng thời xácđịnh được mức độ phức tạp của công việc, yêu cầu của công việc đó
Mức kĩ thuật lao động cho từng công việc, bước công việc cụ thể khôngnhững thể hiện được khối lượng công việc mà còn có những yêu cầu cụ thể về chấtlượng đòi hỏi người lao động phải có trình độ tay nghề ở bậc nào mới có thể hoànthành được Nói khác đi nhờ ĐMLĐ mà sẽ xác định đúng đắn hơn trách nhiệm giữacông nhân chính và công nhân phụ trong xí nghiệp
Làm tốt ĐMLĐ là cơ sở để phân công hiệp tác lao động tốt Nó cho phéphình thành các đội và cơ cấu của đội sản xuất một cách hợp lí Là căn cứ để tính nhucầu lao động của từng nghề, tạo điều kiện để phân phối tỉ lệ người làm việc ở từng
bộ phận sao cho hợp lí và tiết kiệm, thực hiện hợp tác chặt chẽ giữa những ngườitham gia bảo đảm sự phối hợp nhịp nhàng giữa các bộ phận trong sản xuất
1.3.1.2.Định mức lao động với tổ chức và phục vụ nơi làm việc:
ĐMLĐ nghiên cứu và phân tích tỉ mỉ khả năng sản xuất ở nơi làm việc Tổchức phục vụ nơi làm việc bao gồm ba nội dung chủ yếu là thiết kế nơi làm việc,trang trí và bố trí nơi làm việc, cung cấp những vật liệu cần thiết để tiến hành côngviệc, nói khác đi tổ chức phục vụ nơi làm việc là cung cấp các điều kiện vật chất vàtinh thần như nguyên vật liệu, phục vụ vận chuyển, vệ sinh… để đảm bảo cho quátrình sản xuất được diễn ra liên tục và tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình lao độngcủa người lao động Vì thế, tổ chức phục vụ nơi làm việc là điều kiện không thểthiếu được của bất cứ một quá trình sản xuất nào Nếu hoạt động này được tiếnhành chu đáo sẽ cho phép người công nhân sử dụng tốt thời gian lao động và côngsuất của máy móc thiết bị, góp phần cải tiến các phương pháp lao động, cũng cố kĩthuật lao động và đẩy mạnh thi đua trong sản xuất, hỗ trợ đắc lực cho việc thực hiệncác mức đã đề ra của người lao động Thông qua ĐMLĐ có thể thấy được nhữngbất hợp lí của tổ chức phục vụ nơi làm việc, thông qua đó để tìm ra biện pháp hoànthiện công tác này
1.3.1.3.Định mức lao động là cơ sở của khen thưởng và kỉ luật:
MLĐ là chỉ tiêu chủ yếu để đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ của ngườilao động, nó là tiêu chuẩn thực hiện công việc phải đạt được Để đạt được, ngườilao động phải có kỉ luật, kĩ thuật tuân theo các quy định, quy trình công nghệ, quytrình lao động
Mặt khác, thông qua quản lí mức có thể thấy được ai là người làm vượt mức,
có năng suất lao động cao, tiết kiệm được thời gian và nguyên vật liệu Đây chính là
cơ sở tạo ra hăng say, nhiệt tình công tác cho người lao động
1.3.2 Định mức lao động là cơ sở để phân phối theo lao động:
Trang 9ĐMLĐ là thước đo hao phí lao động để hoàn thành một khối lượng công việcnhất định, vì thế ĐMLĐ còn là cơ sở để phân phối theo lao động Khi trả lương,đơn giá tiền lương được xây dựng dựa vào các MLĐ Các mức này càng chính xácthì đơn giá tiền lương càng hợp lí, tiền lương càng gắn với giá trị lao động Khingười lao động cảm thấy tiền lương trả cho họ công bằng, tương xứng với lao động
mà họ bỏ ra thì tiền lương sẽ có vai trò tạo động lực mạnh mẽ
1.3.3 Định mức lao động là cơ sở tăng năng suất lao động và hạ giá thành sản
phẩm:
Để có thể nâng cao năng suất lao động thì có thể dựa vào việc ứng dụng khoahọc kĩ thuật hiện đại vào sản xuất, hoàn thiện tổ chức lao động, tổ chức sản xuấttrong các xí nghiệp
ĐMLĐ là một trong những bộ phận của tổ chức lao động Thông qua ĐMLĐchúng ta thấy được các yếu tố ảnh hưởng tới hao phí lao động, phát hiện, loại bỏnhững thao tác, động tác thừa, cải tiến phương pháp sản xuất… Do đó có thể tăngđược số lượng sản phẩm sản xuất trong cùng một đơn vị thời gian Nhờ ĐMLĐ pháthiện ra công nhân có trình độ cao, phát hiện các thao tác sản xuất tiên tiến để hướngdẫn, giúp đỡ cho công nhân khác có trình độ thấp hơn đạt mức cao hơn Nhữngcông việc này sẽ nâng cao năng suất lao động của người công nhân góp phần làmgiảm hao phí lao động trong một đơn vị sản phẩm Vì thế, làm giảm được chi phícho lao động, giảm chi phí cố định cho một đơn vị sản phẩm Đây chính là điềukiện hạ giá thành sản phẩm, tăng khả năng cạnh tranh và giúp đỡ cải thiện đời sốngcho người lao động
1.3.4 Định mức lao động là cơ sở để lập kế hoạch sản xuất kinh doanh:
Trong cơ chế thị trường, để hoạt động có hiệu quả, danh nghiệp phải nghiêncứu và tìm ra nhu cầu của thị trường để xác định số lượng sản phẩm và giá cả của
kế hoạch trong một năm, căn cứ vào MLĐ tính ra số lượng và chất lượng lao độngcần thiết ở năm kế hoạch
CNSP =
Trong đó:
CNSP: Số lao động làm theo sản phẩm
SLi: Số lượng sản phẩm loại i
Ti: Lượng lao động hao phí để làm ra một đơn vị sản phẩm loại i
Tn: Quỹ thời gian làm việc bình quân của một công nhân làm theo sản phẩm
kì kế hoạch
Km: Hệ số hoàn thành mức
Phải có ĐMLĐ có căn cứ khoa học mới có thể xác định đúng số lượng vàchất lượng lao động cần thiết, tức là kế hoạch số lượng người làm việc Trên cơ sở
đó doanh nghiệp mới xây dựng kế hoạch quỹ lương, kế hoạch giá,…
MLĐ là lượng hao phí lao động được quy định cho một người hay một nhómngười lao động để thực hiện một công việc nhất định trong những điều kiện sảnxuất xác định
Trang 10MLĐ có nhiều dạng và mỗi dạng thể hiện một nội dung, điều kiện tổ chức kĩthuật, sản xuất nhất định Tùy thuộc vào từng loại công việc sản xuất và điều kiệnsản xuất mà MLĐ có thể xây dựng dưới các dạng sau:
- Mức thời gian: là đại lượng qui định lượng thời gian cần thiết được quy định để mộtngười hay một nhóm người có trình độ thành thạo nhất định hoàn thành công việcnày hay công việc khác trong những điều kiện tổ chức nhất định
- Mức sản lượng: là đại lượng quy định số lượng sản phẩm được quy định để mộtngười hay một nhóm người có trình độ thành thạo nhất định hoàn thành trong mộtđơn vị thời gian với những điều kiện tổ chức kĩ thuật nhất định Mức sản lượngđược xác định trên cơ sở mức thời gian:
- Mức phục vụ: là đại lượng quy định số lượng đối tượng được quy định để mộtngười hoặc một nhóm người có trình độ thích hợp phải phục vụ trong điều kiện tổchức kĩ thuật nhất định Mức này thường được xây dựng để giao cho công nhânphục vụ sản xuất hoặc công nhân chính phục vụ nhiều máy Nó được xác định trên
cơ sở mức thời gian phục vụ
- Mức quản lí: là đại lượng quy định số lượng người hoặc bộ phận do một người hoặcmột nhóm người lãnh đạo phụ trách với trình độ thành thạo và trình độ phức tạptương ứng với điều kiện tổ chức, kĩ thuật hợp lí
1.4 Nội dung của công tác định mức lao động:
1.4.1 Phân chia quá trình sản xuất thành các bộ phận hợp thành:
Quá trình sản xuất là quá trình khai thác, chế biến một sản phẩm nào đó cầnthiết cho xã hội, một quá trình sản xuất bao gồm nhiều quá trình sản xuất bộ phậnnhư quá trình công nghệ, quá trình phục vụ sản xuất,…
Bước công việc là một bộ phận của quá trình sản xuất, được thực hiện trênmột đối tượng lao động nhất định tại nơi làm việc nhất định do một hoặc một nhómngười nhất định thực hiện
Bước công việc là cơ sở để phân phối hợp lí công việc giữa những ngườithực hiện để tổ chức và kế hoạch hóa lao động đúng đắn Trên mỗi bước công việcxác định được hao phí lao động do đó có thể tính được lao động hao phí của toàn bộquá trình sản xuất
Trang 11- Về mặt công nghệ, bước công việc được chia ra:
+ Giai đoạn chuyển tiếp
+ Bước chuyển tiếp
- Về mặt lao động, bước công việc được chia ra:
+ Thao tác
+ Động tác
+ Cử động
1.4.2 Phân loại thời gian làm việc:
Để ĐMLĐ có căn cứ khoa học cần phải nghiên cứu có hệ thống việc sử dụngthời gian tròn quá trình làm việc Qua nghiên cứu thời gian hao phí sẽ tìm thấynhững thời gian làm việc có ích cần thiết và thời gian lãng phí trong ca sản xuất, tìmnguyên nhân của những thời gian làm việc lãng phí, đề ra biện pháp nhằm xóa bỏhạn chế đến mức thấp nhất những lãng phí, nâng cao tỉ trọng thời gian làm việc cóích trong ngày
- Thời gian chuẩn kết : là thời gian mà người lao động hao phí để chuẩn bị và kếtthúc công việc Thời gian này chỉ hao phí một lần cho một loạt sản phẩm, khôngphụ thuộc và số lượng sản phẩm và độ dài thời gian làm việc
- Thời gian tác nghiệp : là thời gian người lao động trực tiếp hoàn thành bước côngviệc Nó được lặp đi lặp lại trong ca làm việc cho từng đơn vị sản phẩm Trong đó:
+ Thời gian chính: là thời gian hao phí để thực hiện những tác động trực tiếplàm đối tượng lao động thay đổi về mặt chất lượng
+ Thời gian phụ: là thời gian hao phí và các hoạt động cần thiết để tạo khảnăng làm thay đổi chất lượng, đối tượng lao động
- Thời gian phục vụ nơi làm việc : là thời gian hao phí để công nhân trong coi, đảmbảo cho nơi làm việc hoạt động liên tục trong suốt ca làm việc Trong đó:
+ Thời gian phục vụ tổ chức: là thời gian hao phí để làm các công việc cótính chất tổ chức
+ Thời gian phục vụ kĩ thuật: là thời gian hao phí để làm công việc có tínhchất kĩ thuật như điều chỉnh máy móc, sửa chữa các dụng cụ
- Thời gian lãng phí của công nhân : thời gian người công nhân đi muộn, về sớm, nóichuyện và làm việc riêng trong kho sản xuất
- Thời gian lãng phí do tổ chức : thời gian lãng phí của công nhân do tổ chức gây nênnhư chờ dụng cụ hư hỏng
- Thời gian lãng phí kĩ thuật: là thời gian bị lãng phí do bị tác động của các yếu tốkhác quan như mất điện…
Trang 121.5.1.2.Phương pháp kinh nghiệm:
Là phương pháp xây dựng mức dựa vào kinh nghiệm chủ quan đã tích lũyđược của cán bộ định mức, giám đốc phân xưởng, công nhân có thâm niên trongsản xuất
1.5.1.3.Phương pháp dân chủ bình nghị:
Là phương pháp cán bộ xác định định mức dự tính bằng thống kê và kinhnghiệm rồi đưa cho công nhân cũng thảo luận, quyết định
1.5.2 Phương pháp phân tích:
1.5.2.1.Phương pháp phân tích tính toán:
Là phương pháp xây dựng MLĐ dựa vào tài liệu tiêu chuẩn hoặc chứng từ kĩthuật, các công thức tính toán, các nhân tố ảnh hưởng tới thời gian hao phí
Nội dung của phương pháp này bao gồm:
- Phân tích và nghiên cứu kết cấu bước công việc, xác định các nhân tố ảnh hưởng tớithời gian hao phí để thực hiện bước công việc và các bộ phận của bước công việc
- Dự kiến điều kiện tổ chức kĩ thuật hợp lí, nội dung và trình tự hợp lí để thực hiệncác bộ phận của bước công việc
- Dựa vào tài liệu tiêu chuẩn để xác định thời gian hao phí cần thiết cho từng bộ phậncủa bước công việc và các loại thời gian trong ca làm việc như thời gian chuẩn kết,thời gian tác nghiệp, thời gian nghỉ ngơi và nhu cầu thiết yếu
1.5.2.2.Phương pháp phân tích khảo sát:
Là phương pháp xây dựng mức dựa vào các tài liệu nghiên cứu, khảo sát tạinơi làm việc bằng chụp ảnh, bấm giờ hoặc kết hợp cả chụp ảnh và bấm giờ Quakhảo sát bằng chụp ảnh hoặc bấm giờ thực tế ở nơi làm việc, ta thu được tài liệuphản ánh trên toàn bộ hoạt động của công nhân, thiết bị trong ca làm việc Nó chophép nghiên cứu từng công đoạn, từng thao tác, phát hiện các thời gian hao phí vànguyên nhân gây lãng phí trên cơ sở đó xác định kết cấu các loại thời gian, trình tựthực hiện các công việc, đồng thời xây dựng mức thời gian, mức sản lượng Thôngqua đó hoàn thiện tổ chức sản xuất, tổ chức lao động, phát hiện những sáng tạo, phổbiến kinh nghiệm sản xuất rộng rãi trong toàn bộ xí nghiệp Mức xây dựng theophương pháp này có độ chính xác cao, tuy nhiên nó đòi hỏi cán bộ định mức phải
có nghiệp vụ và tốn nhiều thời gian
- Xây dựng quy trình công nghệ hợp lí để gia công chi tiết điển hình
- Áp dụng một trong hai phương pháp trên để xây dựng mức cho chi tiết điển hình
Mức thời gian (sản lượng) của một chi tiết bất kì trong nhóm đều xác địnhbằng cách so sánh với mức thời gian (sản lượng) của chi tiết điển hình Căn cứ vàothời gian hao phí để hoàn thành từng bộ phận công việc trong quá trình gia côngmột chi tiết mà xác định hệ số điều chỉnh mức lao động của chi tiết ấy so với mức
Trang 13điển hình Việc xác định sai lệch được thực hiện thử và qua nhiều lần Sau đó, sosánh quy đổi mức và chi tiết điển hình ra mức của chi tiết trong nhóm Mức xâydựng theo phương pháp này nhanh, tốn ít công sức nhưng độ chính xác thườngkhông cao bằng hai phương pháp trên, áp dụng cho loại hình sản xuất những sảnphẩm tương tự nhau.
1.6 Khái niệm trả lương theo sản phẩm:
1.6.1 Tiền lương:
- Tiền lương là giá cả sức lao động, biểu hiện ra bên ngoài như là giá cả lao động
- Tiền lương của người lao động do hai bên thỏa thuận trong hợp đồng lao động vàđược trả theo năng suất lao động, chất lượng và hiệu quả công việc
Ngoài ra, các doanh nghiệp TLTSP còn phải áp dụng một số điều kiện khácnhư:
- Tổ chức phục vụ nơi làm việc vì đây là điều kiện ảnh hưởng đến thực hiện côngviệc của người lao động, kết quả lao động của họ Tổ chức phục vụ tốt nơi làm việchạn chế tối đa thời gian không làm theo lương sản phẩm, tạo điều kiện hoàn thànhmức
- Thực hiện tốt công tác thống kê, kiểm tra nghiệm thu sản phẩm sản xuất, chấmcông, theo dõi lao động
- Làm tốt công tác giáo dục chính trị, tư tưởng cho người lao động để họ nhận thứcđược trách nhiệm khi làm việc hưởng lương theo sản phẩm, tránh khuynh hướng chỉchú ý tới số lượng của sản phẩm, không chú ý đến sử dụng có hiệu quả nguyên vậtliệu và máy móc, nâng cao tinh thần tự giác cho mỗi người lao động
Trang 14Theo chế độ này, tiền lương được trả trực tiếp cho từng người căn cứ vàođơn giá và số lượng sản phẩm mà công nhân đó chế tạo được đảm bảo chất lượng.Tiền lương được tính như sau:
L : lương cấp bậc công việc theo thời gian
T : mức thời gian sản xuất một sản phẩm
L = Hệ số lương cấp bậc công việc x tiền lương tối thiểu / số ngày công chếđộ
1.7.2 Trả lương theo sản phẩm tập thể:
Theo chế độ này, tiền lương nhận được phụ thuộc vào số lượng sản phẩm màtập thể đó chế tạo đảm bảo chất lượng, đơn giá sản phẩm và phương pháp chialương
Chế độ trả lương này áp dụng cho những công việc mà các cá nhân phải có
sự liên kết, phối hợp với nhau cùng hoàn thành mà không thể xác định chính xáckhối lượng công việc của từng người
2.1 Giới thiệu công ty:
Công ty bánh kẹo Hải Hà là một doanh nghiệp thuộc Bộ Công thươngchuyên sản xuất các loại bánh kẹo và chế biến thực phẩm
Trang 15Trụ sở chính đặt tại: 25-27 Trương Định, Phường Trương Định, Quận Hai BàTrưng, Hà Nội.
Tên giao dịch: Hải Hà confectionery joint stock company (HAIHACO)
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển công ty:
Công ty có sự hình thành và phát triển khoảng 55 năm Trong 55 năm quavới những ưu thế về trang thiết bị mới cùng với sự cố gắng hết mình của ban lãnhđạo, cán bộ công nhân viên, công ty đã không ngừng phát triển để tạo ra những sảnphẩm có chất lượng cao đáp ững nhu cầu của người tiêu dùng
• Tháng 1/1959 Tổng Công ty nông thổ miền Bắc (Thuộc Bộ Nội Thương) cử 9CBCNV do Đ/c Võ Trị làm giám đốc với nhiệm vụ xây dựng nhà xưởng chuẩn bị
cơ sở cho việc thành lập Nhà máy Trên mảnh đất có diện tích mặt bằng là22.500m2, xung quanh là ao tù, nước đọng (thuộc khu vực Hoàng Mai, nay làPhường Trương Định, Quận Hai Bà Trưng, Hà Nội) Sau hơn 1 năm hăng say laođộng, khẩn trương, phải vượt qua nhiều gian khổ, vất vả, nhiệm vụ xây dựng cơ sở
hạ tầng ban đầu đã hoàn tất, Cùng thời gian này, cấp trên cũng trang bị thêm một sốmáy móc thiết bị, kỹ thuật phục vụ cho sản xuất miến Đó là những cơ sở đầu tiên
để chuẩn bị cho việc thành lập Nhà mày
• Ngày 25/12/1960, xưởng miến Hoàng Mai chính thức được thành lập, với trên 20CBCNV đánh dấu giai đoạn đầu tiên cho quá trình phát triển Nhà Máy sau này Sảnphẩm của Nhà máy trong thời gian này là Miến, Xì dầu, Tinh bột ngô Với tên gọiban đầu là Xưởng miến Hoàng mai Giai đoạn 1961-1963 XN tập trung nhân lực vàthiết bị để mở rộng sản xuất mặt hàng xì dầu góp phần giải quyết tình trạng khanhiếm nước chấm trên thị trường, đồng thời để đáp ứng kịp thời nhu cầu của khángchiến chống Mỹ cứu nước, XN đã thành lập bộ phận chế biến tinh bột ngô, cungcấp nhiên liệu làm pin cho nhà máy pin Văn điển
• Năm 1966, bị thua đau ở Miền Nam, Đế quốc Mỹ ngày càng mở rộng chiến tranhphá hoại ra Miền Bắc nhằm phá hại tiềm lực kinh tế của ta Để phù hợp với tìnhhình mới, thực hiện chủ trương của Bộ công nghiệp nhẹ từ năm 1966, Viện Thựcphẩm đã lấy nơi đây làm cơ sở vừa sản xuất vừa thực nghiệm các đề tài thực phẩm
để từ đó phổ biến cho các địa phương sản xuất nhằm giải quyết hậu cần tại chỗ(dođịch phong toả cảng Hải Phòng) Từ đây Nhà máy được đổi tên mới là: Nhà máythực nghiệm thực phẩm Hải Hà Thời gian này Nhà máy tiến hành làm một số mặthàng thí nghiệm: Viên đạm, Chao tương Nước chấm lên men, Nước chấm hoá giả,Dầu đậu tương, Bột dinh dưỡng trẻ em và bước đầu nghiên cứu sản xuất mạch nha
Trang 16• Tháng 6/1970, thực hiện chỉ thị của Bộ lương thực thực phẩm, nhà máy đã chínhthức tiếp nhận phân xưởng kẹo của Hải Châu bàn giao sang với công suất 900tấn/năm, với một máy dập hình kẹo cứng, 2 máy cắt, một máy cán Bắt đầu một thời
kỳ Nhà máy có phương hướng sản xuất rõ ràng Nhiệm vụ lúc này là SX thêm cácloại kẹo, đường nha và giấy bột Để phù hợp với nhiệm vụ mới, Nhà máy đổi tên
• Năm 1987, Nhà máy thực phẩm Hải Hà đổi tên thành Nhà Máy kẹo xuất khẩu Hải
Hà và trực thuộc Bộ Nông nghiệp và Công nghiệp thực phẩm Ngoài việc đổi mớithiết bị, nhiều mặt hàng mới, sản phẩm mới được nghiên cứu thành công và đưa vàosản xuất như Kẹo mềm cà phê xuất khẩu, mềm các loại, kẹo vừng thanh, mẻ xửng,dừa sữa, kẹo cứng xốp
• Ngày 10/7/1992, với QĐ 537/CNN – TCCB của Bộ công nghiệp nhẹ, Nhà máy kẹoxuất khẩu Hải Hà được đổi tên là: Công ty Bánh kẹo Hải Hà Sự chuyển đổi tên này
đã đánh dấu một bước ngoặt phát triển mới của Hải Hà không chỉ bó hẹp trong hoạtđộng SX mà còn chuyển sang lĩnh vực kinh doanh phù hợp với nền kinh tế thịtrường
• Năm 1993, Ban lãnh đạo Công ty quyết định tách 1 bộ phận để thành lập 1 Công tyliên doanh Hải Hà-Kotobuki với các sản phẩm là kẹo cứng, bánh snach, bánh tươi,kẹo cao su, bánh Cookies Ngoài ra Công ty còn thành lập Công ty liên doanh HảiHà- Miwon tại Việt trì -Phú thọ
• Từ năm 1994-1995, Nhà máy Mỳ chính Việt Trì và Nhà máy Bột dinh dưỡng trẻ
em Nam Định gặp nhiều khó khăn, theo quyết định của Bộ công nghiệp, 2 nhà máytrên được sáp nhập về Công ty Bánh kẹo Hải Hà Vì lợi ích chung, Công ty đã đầu
tư một số dây chuyền sản xuất cho hai nhà máy để tạo ra sản phẩm phù hợp với nhucầu của thị trường, và từ đó đến nay hai Nhà máy trên đã trở thành 2 xí nghiệpthành viên của Công ty
• Cũng trong thời gian từ 1993-1995 Công ty Bánh kẹo Hải Hà đã liên doanh với cácCông ty của Nhật, Hàn quốc thành lập:
- Công ty HaiHa – Kotobuki tại Hà Nội,
- Công ty liên doanh Miwon Việt Nam tại Việt Trì,
- Công ty liên doanh HaiHa –Kameda tại Nam Định (đã giải thể năm 1999)
• Năm 2003: để chuẩn bị cho qúa trình cổ phần hoá Công ty, theo chủ trương của BộCông nghiệp, Công ty tách trả lại Bộ phận quản lý Liên doanh Hải Hà Kotobuki choTổng Công ty thuốc lá Việt Nam và bán lại phần vốn của Công ty tại liên doanhMiwon Việt Nam cho đối tác nước ngoài
Trang 17• Tháng 1 năm 2004 Công ty Bánh kẹo Hải Hà đã chuyển đổi thành Công ty Cổ phầnbánh kẹo Hải Hà với 51% vốn nhà nước, 49% vốn của người lao động.
Như vậy, từ một cơ sở thực nghiệm nhỏ bé ban đầu chỉ vẻn vẹn trên 20người với tên gọi: Xưởng miến Hoàng Mai nay đã trở thành Công ty Cổ phần bánhkẹo Hải Hà, một trong các Công ty hàng đầu của nghàng Bánh kẹo Việt Nam, vớitrang thiết bị hiện đậi, công nghệ tiên tiến đã cho ra đời hàng trăm sản phầm bánhkẹo chất lượng cao, mẫu mã đa dạng được người tiêu dùng ưa chuộng Công ty hiệnnay có 6 phòng ban, 2 chi nhánh và 6 XN thành viên với hơn 1.500 lao động, có cơ
sở đặt tại Hà Nội, Việt Trì, Nam Định
Công ty Cổ phần bánh kẹo Hải Hà với bề dày lịch sử hình thành và phát triểnđang ngày càng khẳng định vị trí chủ lực của mình trong ngành bánh kẹo Việt Nam
Từ ngày thành lập đến nay, Công ty Cổ phần bánh kẹo Hải Hà đã vinh dựđón nhận nhiều phần thưởng cao quý của Đảng, Nhà nước:
- 4 Huân chương Lao động Hạng ba (1960-1970)
- 1 Huân chương Lao động Hạng Nhì (năm 1985)
- 1 Huân chương Lao động Hạng Nhất (năm 1990)
- 1 Huân chương Độc Lập Hạng ba (năm 1997)
- Cờ thi đua luân lưu của Chính phủ, cờ thi đua xuất sắc của Bộ Công nghiệp, nhiềuBằng khen của Bộ Công nghiệp
Năm 2005, Công ty đã xây dựng - áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theotiêu chuẩn ISO 9001:2000, các quy phạm về vệ sinh an toàn thực phẩm theo tiêuchuẩn HACCP CODE: 2003 và đã được đánh giá, cấp giấy chứng nhận vào tháng10/2005
2.1.2 Chức năng, nhiệm vụ sản xuất, kinh doanh:
2.1.2.1.Chức năng:
Công ty bánh kẹo Hải Hà được thành lập theo quyết định số 216/CNN/TCLĐngày 24/03/1993 của Bộ Công nghiệp căn cứ theo nghị định số 388 HĐBT (Chínhphủ) ngày 07/04/1993 do trọng tài kinh tế Hà Nội cấp Là một doanh nghiệp có tưcách pháp nhân, hạch toán đọc lập với chức năng là sản xuất các loại bánh kẹo phục
vụ nhu cầu tiêu dùng trong nước và ngoài nước đồng thời công ty còn sản xuất, kinhdoanh mì ăn liền, bột canh, đường gluco, giấy tinh bột
2.1.2.2.Nhiệm vụ:
Công ty phải đăng kí kinh doanh và thực hiện kinh doanh đúng ngành đãđăng kí Chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh, chịu tráchnhiệm về sản phẩm dịch vụ mà mình cung cấp với khách hàng, khi giao dịch theoquy định pháp luật Tuân thủ các quy định của Nhà nước, cơ quan quản lí Nhà nước
có thẩm quyền trong các hoạt động thanh tra của Nhà nước
- Có trách nhiệm bảo toàn và phát triển nguồn vốn
- Thực hiện đầy đủ nghĩa vụ đối với Nhà nước (Nộp thuế và các khoản nộp ngân sáchkhác), nghĩa vụ đối với người lao động (bảo đảm quyền lợi, lợi ích chính đáng củangười lao động) theo quy định của pháp luật
Trang 18ĐƯỜNG KÍNH + NƯỚC + MẬT TINH BỘT
- Củng cố phát triển các sản phẩm mới, cải tiến mẫu mã bao bì, nâng cao chất lượngsản phẩm và hiệu quả sản xuất kinh doanh
- Nghiên cứu củng cố và phát triển thị trường tiêu thụ trong và ngoài nước
Đây là những nhiệm vụ chủ yếu để thực hiện mục tiêu không ngừng pháttriển quy mô doanh nghiệp, giải quyết việc làm nâng cao đời sống của người laođộng
2.1.2.3.Đặc điểm về nhiệm vụ sản xuất, mặt hàng sản xuất:
Là một doanh nghiệp chuyên sản xuất các loại bánh kẹo để phục vụ nhu cầuthị trường và ngày càng được ưa chuộng Các loại sản phẩm chính mà công ty phục
vụ đó là bánh và kẹo, ngoài ra còn có mì chính và gluco… Các loại kẹo gồm có kẹocứng như: kẹo nhân socola, kẹo nhân hoa quả,… Kẹo mềm như: kẹo hoa quả, kẹoxốp cam, kẹo chew nhân nho,… Các loại bánh như: bánh biscuit, bánh kem xốp…
Cũng như nhiều nhà máy sản xuất bánh kẹo khác, các sản phẩm của công tyđược làm từ những nguyên liệu dễ hỏng như: sữa, bơ, mật, nên thời gian bảo quảnngắn gồm các loại kẹo mềm là 90 ngày, kẹo cứng là 180 ngày do vậy đòi hỏi sảnphẩm sản xuất ra phải thử nghiêm ngặt theo quy định vệ sinh an toàn thực phẩm.Sản phẩm sản xuất mang tính thời vụ
2.1.2.4.Đặc điểm về quy trình sản xuất sản phẩm:
Công ty hiện có gần 200 sản phẩm khác nhau nhưng nhìn chung quy trìnhsản xuất ra các loại bánh kẹo đều giống nhau Dưới đây là quy trình sản xuất cơbản:
Sơ đồ 2.1: Quy trình công nghệ sản xuất kẹo