1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng và sinh sản loài mực ống loligo (photololigo) chinensis gray, 1849 và loligo (photololigo) duvaucelii orbigny, 1848 tại vùng biển ven đảo cô tô, quảng ninh

95 1,2K 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 95
Dung lượng 2,13 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG ĐẶNG THỊ MINH THU NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM SINH TRƯỞNG VÀ SINH SẢN LOÀI MỰC ỐNG Loligo Photololigo chinensis Gray, 1849 và Loligo Photololi

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG

ĐẶNG THỊ MINH THU

NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM SINH TRƯỞNG VÀ SINH SẢN

LOÀI MỰC ỐNG Loligo (Photololigo) chinensis Gray, 1849 và

Loligo (Photololigo) duvaucelii Orbigny, 1848 TẠI VÙNG BIỂN

VEN ĐẢO CÔ TÔ, QUẢNG NINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ

Khánh Hòa, 2016

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG

ĐẶNG THỊ MINH THU

NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM SINH TRƯỞNG VÀ SINH SẢN

LOÀI MỰC ỐNG Loligo (Photololigo) chinensis Gray, 1849 và

Loligo (Photololigo) duvaucelii Orbigny, 1848 TẠI VÙNG BIỂN

VEN ĐẢO CÔ TÔ, QUẢNG NINH

Khoa sau đại học:

Khánh Hòa, 2016

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan mọi kết quả của luận văn: “Nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng

và sinh sản loài mực ống Loligo (Photololigo) chinensis Gray, 1849 và Loligo

(Photololigo) duvaucelii Orbigny, 1848 tại vùng biển ven đảo Cô Tô, Quảng Ninh”

là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình khoa học nào khác cho tới thời điểm này

Nha Trang, ngày 10 tháng 8 năm 2016

Tác giả luận văn

Đặng Thị Minh Thu

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trong thời gian thực hiện luận văn, tôi đã nhận được sự giúp đỡ của quý phòng, ban Trường Đại học Nha Trang, Phòng Nghiên cứu Bảo tồn biển, Viện nghiên cứu Hải sản, UBND huyện Cô Tô (Quảng Ninh) đã tạo điều kiện tốt nhất cho tôi được hoàn thành luận văn Đặc biệt, sự hướng dẫn tận tình của TS Nguyễn Khắc Bát đã giúp đỡ tôi hoàn thành tốt luận văn Qua đây, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến sự giúp đỡ này Xin trân trọng cảm ơn Ban chủ nhiệm nhiệm vụ Tạo lập, quản lý và phát triển nhãn hiệu chứng nhận Mực ống Cô Tô và Ban Lãnh đạo Viện nghiên cứu Hải sản đã cho phép tôi sử dụng mẫu vật, số liệu để thực hiện nghiên cứu này

Xin chân thành cảm ơn cán bộ nghiên cứu: ThS Nguyễn Văn Hiếu, ThS Trần Văn Hướng, CN Nguyễn Hữu Thiện đã giúp đỡ tôi thu thập số liệu và mẫu vật

Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến gia đình và tất cả bạn bè đã giúp đỡ, động viên tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Nha Trang, ngày 10 tháng 8 năm

2016

Tác giả luận văn

Đặng Thị Minh Thu

Trang 5

MỤC LỤC

Trang

LỜI CAM ĐOAN 1

LỜI CẢM ƠN iv

MỤC LỤC v

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT vii

DANH MỤC BẢNG viii

DANH MỤC HÌNH ix

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN x

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

1.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới mực ống Ấn Độ và mực ống Trung Hoa 3

1.1.1 Đặc điểm phân loại và phân bố 3

1.1.2 Đặc điểm hình thái 4

1.1.3 Đặc điểm sinh trưởng 6

1.1.4 Đặc điểm sinh sản 8

1.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam 9

1.3 Khái quát vị trí địa lý và đặc điểm môi trường khu vực nghiên cứu 11

1.3.1 Vị trí địa lý và đặc điểm khí hậu đảo Cô Tô 11

1.3.2 Điều kiện môi trường vùng biển ven đảo Cô Tô 12

1.3.3 Một số đặc điểm và kết quả nghiên cứu đa dạng sinh học và nguồn lợi sinh vật biển Cô Tô 12

CHƯƠNG 2: VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 14

2.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 14

2.2 Đối tượng nghiên cứu 16

2.3 Nguồn số liệu sử dụng 16

Trang 6

2.4 Phương pháp nghiên cứu 16

2.4.1 Phương pháp thu thập số liệu, mẫu vật 16

2.4.2 Phương pháp xử lý số liệu 17

Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 23

3.1 Kết quả nghiên cứu đặc điểm sinh học sinh trưởng 23

3.1.1 Kết quả xác định tuổi bằng đá tai 23

3.1.1.1 Tuổi tối đa mực ống Ấn Độ và mực ống Trung Hoa 23

3.1.1.2 Phân bố nhóm tuổi 24

3.1.2 Đặc điểm sinh trưởng 25

3.1.3 Tương quan chiều dài màng áo và khối lượng mực ống Ấn Độ và mực ống Trung Hoa 30

3.2 Đặc điểm sinh sản 32

3.2.1 Kích thước thành thục sinh sản 32

3.2.2 Sức sinh sản của mực ống Ấn Độ và mực ống Trung Hoa 40

3.2.3 Mùa vụ sinh sản 40

3.3 Đề xuất một số giải pháp bảo vệ nguồn lợi mực ống 41

3.3.1 Về mùa vụ khai thác 41

3.3.2.Về kích cỡ khai thác 42

3.3.3 Đề xuất các giải pháp về cơ chế chính sách 42

Chương 4 KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 43

4.1 Kết luận 43

4.2 Khuyến nghị 44

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 45

A Tài liệu tham khảo tiếng Việt 45

B Tài liệu tham khảo tiếng nước ngoài 45

Trang 7

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

Trang

Bảng 1 1: Tương quan tăng trưởng chiều dài và khối lượng mực ống Ấn Độ 7

Bảng 1 2: Tương quan tăng trưởng chiều dài và khối lượng mực ống Trung Hoa .8

Bảng 3 1: Phân bố giới tính của 2 loài mực ống 29

Bảng 3 2: Tỷ lệ giới tính mực ống Ấn Độ và mực ống Trung Hoa theo tháng 32

Bảng 3 3: Tỷ lệ giới tính mực ống Ấn Độ theo nhóm kích thước (%) 33

Bảng 3 4: Tỷ lệ giới tính mực ống Trung Hoa theo nhóm kích thước (%) 34

Bảng 3 5: Tỷ lệ các giai đoạn phát triển buồng trứng mực ống Ấn Độ (%) 35

Bảng 3 6: Tỷ lệ các giai đoạn phát triển buồng tinh mực ống Ấn Độ (%) 35

Bảng 3 7: Tỷ lệ các giai đoạn phát triển buồng trứng mực ống Trung Hoa (%) 36

Bảng 3 8: Tỷ lệ các giai đoạn phát triển buồng tinh mực ống Trung Hoa (%) 37

Trang 9

DANH MỤC HÌNH

Trang

Hình 1 1: Mực ống Ấn Độ (A) và Mực ống Trung Hoa (B) 5

Hình 2 1: Sơ đồ trạm vị thu mẫu mực ống tại Cô Tô, Quảng Ninh 14

Hình 2 2: Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu 15

Hình 2 3: Hình thái các cơ quan bên ngoài của hai loài mực thu tại Cô Tô 17

Hình 2 4: Các chỉ tiêu hình thái và cách đo mực ống 18

Hình 2 5: Sơ đồ vị trí của đá tai mực ống 18

Hình 2 6: Dụng cụ chuyên dụng bảo quản đá tai mực 19

Hình 2 7 Đá tai được gắn trên lam kính 20

Hình 2 8: Hình thái đá tai mực và hướng dẫn cách mài để tính tuổi mực 20

Hình 3 1: Vân/ vòng của đá tai mực ống Ấn Độ (a) và mực ống Trung Hoa (b) 23

Hình 3 2: Tương quan chiều dài màng áo và tuổi của hai loài mực ống 24

Hình 3 3: Phân bố nhóm tuổi ngày tuổi của hai loài mực ống 25

Hình 3 4: Phân bố tần suất chiều dài mực ống Ấn Độ và mực ống Trung Hoa 25

Hình 3 5: Sinh trưởng mực ống Ấn Độ (a) và mực ống Trung Hoa (b) theo các tháng trong năm 26

Hình 3 6: Phân bố tần suất chiều dài của mực ống Ấn Độ theo mùa 27

Hình 3.7: Phân bố tần suất chiều dài của mực ống Trung Hoa theo mùa 28

Hình 3 8: Tỷ lệ phần trăm theo nhóm kích thước của loài mực ống Ấn Độ 29

Hình 3 9: Tỷ lệ phần trăm theo nhóm kích thước của loài mực ống Trung Hoa 30

Hình 3 10: Tương quan chiều dài màng áo và khối lượng của mực ống Ấn Độ (a) và mực ống Trung Hoa (b) 30

Hình 3 11: Tương quan chiều dài màng áo và khối lượng mực ống Ấn Độ đực (a) và cái (b) 31

Hình 3 12: Tương quan chiều dài và khối lượng mực ống Trung Hoa đực (a) và cái (b) 31 Hình 3 13: Kích thước thành thục lần đầu 38

Hình 3 14: Hệ số thành thục 2 loài mực ống 39

Hình 3 15: Sức sinh sản tuyệt đối mực ống Ấn Độ và mực ống Trung Hoa 40

Trang 10

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN

Động vật chân đầu (ĐVCĐ) thuộc ngành động vật thân mềm, gồm 4 nhóm: mực ống, mực nang, bạch tuộc và ốc Anh vũ [22] Trong thành phần sản lượng khai thác hải sản hàng năm của thế giới, ĐVCĐ chiếm tỷ trọng cao, đứng thứ ba sau cá và tôm biển Theo FAO [19], sản lượng khai thác ĐVCĐ của Việt Nam liên tục tăng từ 23.000 tấn đến 130.000 tấn, đứng thứ 8 trong 10 nước có sản lượng khai thác ĐVCĐ cao nhất trên thế giới Năm 2006-2007, tổng sản lượng xuất khẩu sản phẩm ĐVCĐ khô và đông lạnh từ 75.000 tấn đến 810.000 tấn với giá trị ngoại tệ thu được từ 265 đến 301 triệu đô la Mỹ [1]

Luận văn “Nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng và sinh sản loài mực ống Loligo

(Photololigo) chinensis Gray, 1849 và Loligo (Photololigo) duvaucelii Orbigny, 1848

ở vùng biển ven đảo Cô Tô, Quảng Ninh” là một bộ phận thuộc Hợp đồng “Tạo lập,

quản lý và phát triển nhãn hiệu chứng nhận Mực ống Cô Tô” do TS Nguyễn Khắc Bát làm chủ nhiệm Mục tiêu của luận văn là xác định một số đặc điểm sinh trưởng và sinh

sản của mực ống Trung Hoa (PhotoPhotololigo chinensis) và mực ống Ấn Độ (Photoligo duvaucelii) phục vụ quản lý bền vững nguồn lợi và góp phần xây dựng

thương hiệu mực ống Cô Tô

Kết quả phân tích tuổi bằng đá tai mực đã xác định được tuổi tối đa của mực ống

Ấn Độ là 150 ngày tuổi, tương ứng với cá thể có kích thước màng áo là 190 mm Tuổi tối đa của mực ống Trung Hoa là 203 ngày tuổi, tương ứng với cá thể có kích thước màng áo là 265,5 mm Chiều dài nhóm cá thể có màng áo chiếm ưu thế của mực ống

Ấn Độ tập trung ở nhóm có kích thước từ 80 đến 120 mm (chiếm tỷ lệ 67,55%) Chiều dài nhóm cá thể có màng áo chiếm ưu thế của mực ống Trung Hoa tập trung ở nhóm

có kích thước từ 110 mm đến 200 mm (chiếm tỷ lệ 81,65%) Tỷ lệ phân bố giới tính theo tháng: giới tính cái/đực là 1:1 cao nhất đối với mực ống Ấn Độ vào tháng 4, 5, 10;

tỷ lệ này đối với mực ống Trung Hoa ở các tháng 1, 2, 7, 9 Kích thước thành thục lần đầu của mực ống Ấn Độ cái là 9,37 mm, mực đực là 8,02 mm; mực ống Trung Hoa cái

là 12,09 mm, mực đực 11,05 mm Mùa vụ sinh sản của hai loài mực ống này diễn ra quanh năm

Từ khóa: Mực ống, đá tai, tuổi, sinh trưởng, Cô Tô

Trang 11

MỞ ĐẦU

Động vật chân đầu (ĐVCĐ) thuộc ngành động vật thân mềm, bao gồm 4 nhóm: mực ống, mực nang, bạch tuộc và ốc Anh vũ [22] Trong thành phần sản lượng khai thác hải sản hàng năm của thế giới, ĐVCĐ chiếm tỷ trọng cao đứng thứ ba sau cá và tôm biển Theo FAO [19], sản lượng khai thác ĐVCĐ của Việt Nam liên tục tăng từ 23.000 tấn đến 130.000 tấn, đứng thứ 8 trong 10 nước có sản lượng khai thác ĐVCĐ cao nhất trên thế giới Mặt khác, thịt các loài ĐVCĐ thơm ngon, có giá trị dinh dưỡng cao là thực phẩm ưa thích của người dân trên toàn thế giới [4] Ở Việt Nam, ĐVCĐ đã trở thành đối tượng khai thác quan trọng trong nghề khai thác biển nhằm phục vụ nhu cầu tiêu thụ nội địa và xuất khẩu Năm 2006-2007, tổng sản lượng xuất khẩu sản phẩm ĐVCĐ khô và đông lạnh từ 75.000 tấn đến 810.000 tấn với giá trị ngoại tệ thu được từ

265 đến 301 triệu đô la Mỹ [1]

Mặc dù có vị trí và vai trò quan trọng song những nghiên cứu về đối tượng này ở nước ta còn rất hạn chế Các công trình nghiên cứu tiêu biểu về ĐVCĐ khu vực Vịnh Bắc Bộ có thể kế đến như nghiên cứu của Nguyễn Xuân Dục, Hylleberg và Kilburn [6] Nhìn chung, những nghiên cứu này mới chỉ tập trung vào việc xác định thành phần loài, mô tả hình thái, đánh giá trữ lượng mà chưa đi sâu nghiên cứu đặc điểm sinh học của từng loài Đặc biệt, năm 2006 tác giả Nguyễn Thị Xuân Thu và ctv đã nghiên cứu

về đặc điểm sinh học, kỹ thuật sản xuất giống và nuôi thương phẩm mực nang (Sepia

pharaonis) Tuy không thuộc nhóm mực ống nhưng cũng là tài liệu tham khảo quan

trọng Những năm gần đây, công trình nghiên cứu về đặc điểm sinh học, nguồn lợi ĐVCĐ của Nguyễn Khắc Bát [12, 13] đã bổ sung thêm cơ sở dữ liệu sinh học của họ mực ống (Loliginidae) ở Vịnh Bắc Bộ

Vịnh Bắc Bộ có nguồn lợi động vật chân đầu (Cephalopod) phong phú, trong số

đó: mực nang vân hổ (Sepia pharaonis), mực thẻ (Loligo edulis), mực đất hay mực ống Trung Hoa (PhotoPhotololigo chinensis), mực ống Ấn Độ (Photololigo

devaucilii), mực lá (Sepioteuthis lessoniana),… là những loài có giá trị thương mại

quan trọng và là đối tượng cho sản lượng khai thác cao của cộng đồng ngư dân ven biển Vùng biển ven đảo Cô Tô nằm ở phía Bắc Vịnh Bắc Bộ là vùng biển nổi tiếng với các loài mực ống có giá trị kinh tế Tuy nhiên, những nghiên cứu chuyên sâu về sinh học sinh sản, vòng đời, sinh học sinh trưởng của những đối tượng này còn nhiều hạn chế Để có những dẫn liệu đầy đủ về nguồn lợi mực ống nhằm quản lý, khai thác

Trang 12

hợp lý nguồn lợi mực ống cũng như cung cấp thông tin xây dựng chỉ dẫn địa lý cho thương hiệu mực ống Cô Tô, cần có những nghiên cứu toàn diện về sinh học nguồn

lợi Trên cơ sở đó, chúng tôi thực hiện đề tài “Nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng và

sinh sản loài mực ống Loligo (Photololigo) chinensis Gray, 1849 và Loligo (Photololigo) duvaucelii Orbigny, 1848 ở vùng biển ven đảo Cô Tô, Quảng Ninh”

với mục tiêu cụ thể sau:

Mục tiêu của luận văn

Xác định một số đặc điểm sinh trưởng và sinh sản của mực ống Trung Hoa

(Photololigo chinensis) và mực ống Ấn Độ (Photololigo duvaucelii) phục vụ quản lý

bền vững nguồn lợi và góp phần xây dựng thương hiệu mực ống Cô Tô

Nội dung nghiên cứu

- Nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng của mực ống Trung Hoa (Photololigo

chinensis) và mực ống Ấn Độ (Photololigo duvaucelii) khai thác ở vùng biển ven đảo

Cô Tô

+ Xác định tuổi bằng cấu trúc hiển vi đá tai;

+ Xác định tốc độ sinh trưởng của mực ống;

+ Tương quan chiều dài và khối lượng

- Nghiên cứu đặc điểm sinh sản của mực ống Trung Hoa (Photololigo chinensis)

và mực ống Ấn Độ (Photololigo duvaucelii) khai thác ở vùng biển ven đảo Cô Tô

+ Xác định tuổi và kích thước thành thục sinh sản;

+ Xác định sức sinh sản tuyệt đối, tương đối;

+ Xác định mùa vụ sinh sản chính

Ý nghĩa khoa học của luận văn

 Ý nghĩa khoa học:

- Cập nhật, bổ sung cơ sở khoa học về đặc điểm sinh học, sinh sản của hai loài

mực ống (Photololigo chinensis, Photololigo duvaucelii) ở vùng biển ven đảo Cô Tô

Trang 13

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới mực ống Ấn Độ và mực ống Trung Hoa

1.1.1 Đặc điểm phân loại và phân bố

1.1.1.1 Mực ống Ấn Độ

Mực ống Ấn Độ (Photololigo duvaucelii) là loài có sản lượng cao và quan trọng

đối với nghề cá của một số quốc gia Chúng phân bố chủ yếu ở vùng biển Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương Ở vùng biển Ấn Độ Dương, chúng phân bố từ quần đảo Andaman (Thái Lan) và Vịnh Bengal đến phía tây Ả Rập và Đông châu Phi (Somalia, Seychelles, Mozambique, Madagascar) và Đông Nam châu Phi Ở phía tây Thái Bình Dương, chúng phân bố từ biển Nam Trung Hoa và Singapore (vùng biển Indonesia) tới phía bắc đảo Formosa [21]

Lớp: Chân đầu

Bộ: Mười chân

Họ: Mực

Giống: Loligo Loài: Photololigo duvaucelii (Gray, 1849)

Tên thường dùng Uroteuthis (Photololigo) duvaucelii (d'Orbigny, 1835)

Tên đồng danh: Loligo indica Pfeffer 1884; Goodrich 1896; Massy 1916; Loligo

galatheae Hoyle; Loligo oshimai Sasaki 1929; Loligo sumatrensis Brock 1887

Tên tiếng Anh: Indian Squid

Tên tiếng Việt: mực ống Ấn Độ

Mực Ấn Độ tập trung ở độ sâu 30-170 m, cũng có thể bắt gặp ở độ sâu dưới 220

m Tại Indonesia và đông châu Phi, chúng phân bố ở độ sâu lên đến 170 m, trung bình

ở độ sâu 80 m [16]

Ở các vùng biển Ấn Độ, Vịnh Thái Lan và biển Andaman của Thái Lan, mực ống Ấn Độ là loài phong phú nhất trong họ mực [44] Dữ liệu về sản lượng loài mực ống Ấn Độ còn hạn chế ở biển Hoàng Hải và biển Đông [14]

1.1.1.2 Mực ống Trung Hoa

Mực ống Trung Hoa (Photololigo chinensis Gray, 1849) phân bố từ vùng trung

triều tới vùng có độ sâu 170 m tại vùng tây Thái Bình Dương, phía nam và tây Biển Đông đến vùng biển Nhật Bản, Vịnh Thái Lan và Bắc Australia, giới hạn phía Bắc đến Đài Loan [40] Ở Hồng Kông, mực ống Trung Hoa phổ biến ở độ sâu từ 30-120 m

Trang 14

Mực ống Trung Hoa (Photololigo chinensis) đã được Gray (1849) lần đầu tiên

mô tả, đặt tên và xác định vị trí trong hệ thống phân loại như sau:

Lớp: Chân đầu

Bộ: Mười chân

Họ: Mực

Giống: Loligo

Loài: Photololigo chinensis (Gray, 1849)

Tên thường dùng: Uroteuthis (Photololigo) chinensis (d'Orbigny, 1835)

Tên đồng vật: Loligo formosana Sasaki, 1929; Photololigo chinensis Gray, 1849

Tên tiếng Anh: Mitre Squid, Co mmon Chinese Squid

Tên tiếng Việt: mực ống Trung Hoa, mực ống Đài Loan, mực đất

1.1.2 Đặc điểm hình thái

1.1.2.1 Đặc điểm hình thái mực ống Ấn Độ

Mực ống Ấn Độ có lớp màng áo hình trụ thon dài, mảnh, nửa phía sau thon nhỏ hoặc hơi nhọn về phía cuối Chiều dài thân gấp 4 lần chiều rộng Chiều dài màng áo của mực đực dao động từ 61 đến 150 mm và mực cái từ 78 m đến 146 mm Các thùy phía trước mặt lưng tròn, mặt bụng và mép bụng dưới phễu có các thùy bên tù

Sắc tố nâu đậm phân bố ở màng áo, đầu, các xúc tay và vây Phần giữa màng áo, sắc tố tập trung thành các đốm tím sẫm

Vây dạng hình thoi, rộng và ngắn, mép trước hơi lồi, mảnh và ngắn hơn mép sau Chiều dài vây chiếm khoảng 1/2 chiều dài màng áo Đầu rộng với 2 mắt lớn, đỉnh khứu giác nằm ở phía sau mắt và một lỗ nhỏ ở gốc xúc tay thứ 3

Chiều dài các đôi xúc tay không chênh lệch lớn, công thức xúc tay thường là 3.4.2.1, đôi xúc tay 1 và 3 hơi dẹp, các đôi xúc tay còn lại hơi vuông

Giác hút được bao quanh với màng cơ bảo vệ, phát triển nhất ở xúc tay thứ 3 Kích thước giác hút thay đổi theo từng xúc tay, giác hút xúc tay 3 lớn nhất và xúc tay 4

là nhỏ nhất, giác hút xúc tay 2 và xúc tay 3 có khích thước tương đồng Đối với mực

Trang 15

giác hút ở xúc tay 2 và 3 có từ 5 - 7 răng rộng, cùn, hình chữ nhật, chiều cao và chiều rộng tương đồng Đối với mực đực, vòng sừng giác hút ở xúc tay 2 và 3 có từ 5 – 13 răng thấp, vuông hoặc tròn, cụt nằm ở 2/3 chi vi vòng, 1/3 chu vi vòng còn lại nhẵn Xúc tay xúc giác dài với 4 hàng đĩa hút 1/3 xúc tay sinh dục biến đổi thành 2 hàng gai thịt lớn, hàng ven bụng có dạng lược rộng hơn và hướng ra ngoài Vòng sừng

ở đĩa hút lớn có kích thước to nhỏ khác nhau sắp xếp không theo thứ tự Xung quanh vòng sừng đĩa hút ở xúc tay xúc giác có 14 – 17 răng nhọn và ngắn

1.1.2.2 Đặc điểm hình thái mực ống Trung Hoa

Mực ống Trung Hoa có cơ thể lớn, ống thân hình quả đạn, chiều ngang thân không đổi đến gốc vây sau đó thu nhỏ dần đến cuối thân, chiều dài thân gấp 4 - 6 lần chiều rộng Sắc tố nâu đỏ phân bố dày đặc tập trung ở mặt lưng màng áo, mặt bụng và vây phân bố ít hơn và nhạt hơn Màng áo thon dài, mảnh, nửa phía sau thon hình búp măng hoặc hơi nhọn về phía cuối Ở giữa mặt lưng có các thùy riêng biệt, phần mép bụng rộng hơn

Hình 1 1: Mực ống Ấn Độ (A) và Mực ống Trung Hoa (B) [13]

Trang 16

Vây dạng hình thoi, dài, mép trước thẳng, ngắn hơn mép sau với các thùy tròn, viền phía sau thẳng Chiều dài vây chiếm hơn một nửa chiều dài thân, dần trở nên cân xứng hơn khi trưởng thành và chiếm 2/3 chiều dài màng áo

Đầu rộng, tương đồng với chiều dài màng áo, mắt lồi lên, chiếm hầu hết phần bên của đầu Đỉnh khứu giác nằm ở hai bên ống phễu, hốc mắt nằm ở giữa mắt và gốc xúc tay 3

Xúc tay dài trung bình, công thức xúc tay là 3.4.2.1 hoặc 3.2.4.1 Xúc tay 1 có thể cuộn lại với màng rộng suốt toàn bộ chiều dài Mặt cắt của xúc tay 2 và 4 hình vuông với màng hẹp Xúc tay 3 có thể co rút với màng rộng

Xúc tay xúc giác dài, mảnh bằng 60% chiều dài thân với 4 hàng đĩa hút Kích thước giác hút thay đổi theo từng xúc tay xúc giác, giác hút lớn nhất ở xúc tay 3 và giảm dần ở xúc tay 2, xúc tay 1 đến xúc tay 4 Một phần ba phần ngọn của xúc tay sinh dục gồm 25 – 30 giác hút biển đổi thành các gai thịt (tay thứ 4 bên trái) Vòng sừng của xúc tay xúc giác lớn với 20 - 30 răng nhọn hình nón riêng biệt, xếp xen kẽ 6 - 12 chiếc lớn với 1 - 4 chiếc nhỏ hơn

1.1.3 Đặc điểm sinh trưởng

1.1.3.1 Đặc điểm sinh trưởng mực ống Ấn Độ

Theo tài liệu của FAO thì mực ống Ấn Độ có chiều dài màng áo tối đa là 500

mm với khối lượng 1.000 g ở mực đực và chiều dài màng áo tối đa là 310 mm ở mực cái, khối lượng 800 g [21] Theo Chotiyaputta nghiên cứu mực ống tại Vịnh Thái Lan cho thấy vòng đời của mực ống Ấn Độ là 12 tháng với kích thước tối đa đạt 320 mm [18]

Năm 1998, Supongpan nghiên cứu đặc điểm sinh học của mực ống Ấn Độ tại vùng biển phía tây của Vịnh Thái Lan cho thấy, mực ống Ấn Độ phân bố ở độ sâu 10 –

50 m nước, xuất hiện nhiều từ tháng 1 đến tháng 3 và từ tháng 7 đến tháng 9 trong năm Trong nghiên cứu này, tác giả đã sử dụng phương pháp phân tích nhĩ thạch để xác định tuổi và tốc độ sinh trưởng của mực Kết quả đã chỉ ra rằng, tốc độ tăng trưởng của mực Ấn Độ khác nhau giữa các cá thể và khác nhau giữa mực đực, mực cái Phương trình sinh trưởng tương ứng cho mực đực và mực cái như sau: MLT = 1.56e *

(1,64.t 0,180)

, MLT = 1.56 e * (1.35.t.0,209) [46]

Tác giả Madhu đã nghiên cứu đánh giá nguồn lợi và kích cỡ thương phẩm của

Trang 17

con cái có sự sai khác Chiều dài mực đực dao động từ 45 mm đến 238 mm (trung bình: 117,0± 36 mm); khối lượng từ 6,0 g đến 143,3 g (trung bình 39,8 ± 22,3 g) Mực cái có chiều dài dao động từ 43 mm đến 162 mm (trung bình 115 ± 22 mm), khối lượng dao động từ 5,5 đến 93,5 g; (trung bình 45,9 ± 18,1 g) Kết quả nghiên cứu của tác giả cũng cho thấy mực đực có tốc độ tăng trưởng lớn hơn mực cái Các cá thể đực chiếm ưu thế trong tất cả nhóm kích thước, trừ nhóm có kích thước từ 160 mm đến

1.1.3.2 Đặc điểm sinh trưởng mực ống Trung Hoa

Ở Đài Loan, mực ống Trung Hoa có kích cỡ chiều dài trung bình là 350 mm Woss và Williamson [53] đã ghi nhận mực đực và cái lớn nhất ở Hồng Kông có kích thước tương ứng là 490 mm (1,0 kg) và 310 mm (0,8 kg), trong khi kích thước tối đa ngoài khơi bờ biển phía đông của Malaysia được ghi nhận bởi Ashirin và Ibrahim là

410 mm [11]

Trang 18

Kết quả nghiên cứu của Li [27] khi nghiên cứu tăng trưởng của mực tại Đài Loan cho thấy: mực ống Trung Hoa từ 63 đến 151 ngày tuổi có kích thước chiều dài dao động từ 46 tới 441 mm

Bảng 1 2: Tương quan tăng trưởng chiều dài và khối lượng mực ống Trung Hoa

Đực 0,00152 2,18 0,94 Cái 0,000719 2,24 0,96 Yan Yunrong

và ctv [50]

Biển Nam Trung Hoa

Đực, cái 0,00117 2,23 0,95 Thammarat [49] Thái Lan Đực, cái 0,3395 2,0909 0,95

Đực 0,006 1,82 0,87 Petsut và Kulabtong

1.1.4 Đặc điểm sinh sản

1.1.4.1 Đặc điểm sinh sản mực ống Ấn Độ

Kích thước trưởng thành của mực ống Ấn Độ thay đổi giữa các vùng nước trong cùng vùng biển của Ấn Độ Mực đực trưởng thành khi đạt kích thước 70-124 mm [38] hoặc kích thước từ 50-150 mm ở vùng biển Waltair và kích thước từ 50-130 mm ở vùng biển Madras [43] Kích thước trưởng thành với mực cái là 90-130 mm [25] Kích thước mực trưởng thành nhỏ nhất được tìm thấy ở Vịnh Thái Lan là 80 mm đối với mực đực và 70 mm đối với mực cái; vùng biển ngoài khơi phía đông của Ấn

Độ kích thước mực trưởng thành là 50 mm cho cả mực đực và cái [15]

Dữ liệu nghiên cứu ở vùng biển phía tây nam của Ấn Độ chỉ ra rằng mực đực thành thục khi kích thước đạt 70-170 mm (50% trưởng thành ở độ dài màng áo 97 mm)

và mực cái thành thục kích thước đạt 70-130 mm (50% trưởng thành ở độ dài màng áo

84 mm) Mực đực và mực cái thành thục khi đạt kích thước tương ứng là 170 mm và

130 mm, các cá thể đực cái thường di chuyển tới vùng nước sâu để đẻ trứng [21]

Theo nghiên cứu của Thammarat [49], tỷ lệ giới tính của mực đực và cái là 1 : 0,71 (p <0,05) Kích thước khi trưởng thành của mực đực và cái tương ứng là 13,15

cm và 10,74 cm Còn theo Zhang, mực đực có tuổi trưởng thành từ 58-99 ngày tuổi, mực cái tuổi trưởng thành 56-94 ngày [52] Tỷ lệ giới tính không khác nhau ở hầu hết

Trang 19

Mực ống Ấn Độ sinh sản quanh năm, mùa vụ sinh sản tập trung tùy theo khu vực [47] Ở Ấn Độ, mùa vụ sinh sản dọc theo bờ biển phía tây sau các tháng mưa [34], còn

ở phía tây Nam và Đông Bắc, Vịnh Thái Lan mực không đẻ khi có gió mùa [48] Tác giả Mohamed cũng cho rằng mực ống Ấn Độ sinh sản quanh năm dọc theo hai bờ biển của Ấn Độ, tuy nhiên từ tháng 5 đến tháng 8 vẫn bắt gặp các cá thể có buồng trứng rỗng và đỉnh sinh sản sau các tháng mưa [33]

1.1.4.2 Đặc điểm sinh sản mực ống Trung Hoa

Mực Trung Hoa đẻ trứng trên đáy mềm (cát, bùn cát, cát bùn) trong Vịnh Thái Lan ở độ sâu 30-50 m Mực đực trưởng thành có kích thước nhỏ nhất từ 105 mm và mực cái trưởng thành có kích thước nhỏ nhất từ 100 mm [16]

Theo Thammarat, khi nghiên cứu đặc điểm sinh sản của mực tại Thái Lan, mực ống Trung Hoa sinh sản quanh năm, mùa vụ sinh sản chính từ tháng 5 đến tháng 12 Bãi đẻ chính là đảo Phayam, phía nam của hòn đảo Yaoyai, phía Đông của đảo Phiphi, phía Nam của hòn đảo Lantayai và đảo Tarutao [49]

Dựa trên mẫu vật mực ống Trung Hoa thu thập ở Vịnh Bắc Bộ, tác giả Yunrong chỉ ra rằng, tỷ lệ giới tính giữa mực đực và cái là 1:1,01 [50] Không ghi nhận có sự thay đổi tỷ lệ giới tính, không có giai đoạn VI của tuyến sinh dục trưởng thành và giai đoạn I chiếm ưu thế quanh năm

1.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam

Ở vùng biển Việt Nam, công tác điều tra nghiên cứu về ĐVCĐ nói chung và mực ống nói riêng được thực hiện chưa nhiều Năm 1928, Robson lần đầu tiên công bố danh mục về

4 loài mực ống họ Loliginidae và 1 loài mực nang họ mực nang ở vùng biển Việt Nam [39] Đến năm 1935, Serène công bố danh mục 3 loài mực ống và 3 loài mực nang [41]

Nguyễn Xuân Dục dựa trên kết quả thu mẫu trong các mẻ lưới kéo ở vịnh Bắc Bộ (1961-1962) đã xác định danh mục 5 loài mực ống và 8 loài mực nang ở vùng biển vịnh Bắc Bộ [6]

Nguyễn Xuân Dục và ctv (1983) dựa trên mẫu vật thu thập trong các mẻ lưới kéo tàu biển Đông điều tra nguồn lợi vùng biển Thuận Hải - Minh Hải (1978-1979) đã công bố danh mục 7 loài mực nang và 3 loài chưa được định tên [7] Trên cơ sở mẫu này, Tạ Minh Đường (1962) đã định loại và mô tả 9 loài mực ống và 1 loài chưa được

Trang 20

định tên [8] Nguyễn Chính đã xác định 3 loài mực có giá trị xuất khẩu lớn từ vùng

biển Phú Yên đến Bình Thuận là Sepia tigris Sasaki, S hecules Pibry và Loligo

formosama Sasaki [2]

Tác giả Bùi Đình Chung thực hiện các nghiên cứu đầu tiên về nguồn lợi động vật thân mềm nói chung và về mực ống Trung Hoa nói riêng ở vùng biển vịnh Bắc Bộ Mực ống chiếm sản lượng trung bình là 4,14 % tổng sản lượng khai thác và mực ống Trung Hoa đóng vai trò quan trọng trong thành phần sản lượng khai thác Chúng được khai thác hầu như quanh năm, ở độ sâu 30 m tại hầu hết các khu vực trong vịnh Bắc

Bộ Năng suất mực ống cao nhất từ tháng 8 đến tháng 10 trong năm [2]

Nghiên cứu của Nguyễn Xuân Dục ghi nhận ở vùng biển phía đông vịnh Thái

Lan có 10 loài có giá trị kinh tế cao bao gồm: Sepioteuthis lessoniana Lesson, 1830 (Mực lá), Photololigo chinensis Gray, 1849 (Mực ống Trung Hoa), Loligo duvauceli Dórbigny, 1839 (Mực ống Ấn Độ), Loligo singhalensis Ortmann, 1891 (Mực ống thân dài), Symplectoteuthis oualaniensis Lesson (Mực ống vây ngang), Loligo edulis Hoyle,

1885 (Mực thẻ), Sepia latimanus Quoy và Gaimard, 1832 (Mực lửa), Sepia pharaonis Ehrenbeg, 1931 (Mực nang hổ), Sepia aculeata Dórbigny, 1848 (Mực nang kim) và

Sepia lycidas Gray, 1849 (Mực nang mắt cáo) [4]

Năm 2009, Nguyễn Khắc Bát nghiên cứu một số đặc điểm sinh học nghề cá của mực ống họ mực đã nhận định, mực đực tăng trưởng chiều dài nhanh hơn mực cái và tốc độ tăng trưởng của mùa nước ấm nhanh hơn mùa nước lạnh [13]

Nhận xét chung:

Tổng hợp các kết quả nghiên cứu về mực ở vùng biển Việt Nam cho thấy, thời

kỳ những năm 1990 trở về trước, những công trình nghiên cứu tiêu biểu tập trung nghiên cứu về thành phần loài, mô tả hình thái, việc tìm hiểu đặc điểm sinh học cũng như đặc điểm nguồn lợi và khả năng sử dụng nguồn lợi còn nhiều hạn chế Từ năm

2000 trở lại đây, nghiên cứu về đặc điểm phân bố của các loài mực cũng chỉ dựa trên các chương trình điều tra tổng thể lớn trong đó có đánh giá về thành phần loài và phân

bố của đối tượng mực ống Mực ống là đối tượng có giá trị kinh tế cao nhưng nghiên

cứu chuyên sâu về chúng đặc biệt là hai loài (Photololigo chinensis và Photololigo

duvaucelii) ở vùng biển Cô Tô là rất ít Việc nghiên cứu chỉ mang tính sơ lược về đặc

điểm hình thái, phân bố, năng suất khai thác, sản lượng và giá trị sử dụng Những

Trang 21

chúng vẫn còn hạn chế Do vậy, nghiên cứu này góp phần mô tả chi tiết đặc điểm sinh

học, sinh sản hai loài mực ống (Photololigo chinensis và Photololigo duvaucelii) ở

vùng biển ven đảo Cô Tô, Quảng Ninh Đây là cơ sở quan trọng phục vụ quản lý bền

vững nguồn lợi và góp phần xây dựng thương hiệu mực ống Cô Tô

1.3 Khái quát vị trí địa lý và đặc điểm môi trường khu vực nghiên cứu

1.3.1 Vị trí địa lý và đặc điểm khí hậu đảo Cô Tô

Đảo Cô Tô cách thành phố Hạ Long 55 km về phía Đông Bắc, cách Vân Đồn 25

km về phía Đông, cách đảo Bạch Long Vĩ 90 km, là vị trí tiền tiêu, khống chế và kiểm soát một vùng rộng lớn của lãnh thổ Việt Nam

Đảo có diện tích là 9.344 ha mặt nước và 3.500 ha phần đảo nổi Địa hình có nguồn gốc lục địa và nguồn gốc biển Thềm tích tụ bậc 1 nằm ở độ cao 2 - 2,5 m do các hạt thuộc cấp hạt nhỏ và trung tạo thành Thềm bậc 2 thường cao hơn mực nước biển 10 – 15 m hoặc 5 – 7 m

Khu vực đảo Cô Tô nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa hải đảo, một năm có hai mùa khá rõ rệt Mùa mưa kéo dài từ tháng 5 đến tháng 8, có gió Nam thịnh hành, mưa nhiều, nhiệt độ cao nhất có thể đạt tới 37 – 38 0C Mùa khô từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau, trời rét và khô, lượng mưa không đáng kể, nhiệt độ thấp nhất có thể xuống tới 4 – 5

0

C và gió mùa Đông Bắc thịnh hành Tốc độ gió trung bình nhiều năm tại Cô Tô lớn nhất là tháng 11 (trung bình 5,0 m/s), thấp nhất vào tháng 2 và 3 (trung bình 2,7 m/s) Lượng mưa trung bình năm là 1.733 mm, mưa nhiều tập trung vào tháng 8 hoặc tháng 9 (khoảng 400 mm) và kèm theo nhiều giông bão, lượng mưa thấp nhất là tháng

1 (trung bình 23 mm)

Độ ẩm trung bình năm khoảng 84 %, mùa Đông - Xuân nhiều mưa phùn có thể trên 90 %, mùa khô độ ẩm xuống còn 75 – 76 % Lượng bốc hơi trung bình năm khoảng 1.138 mm

Sóng biển mùa Đông hướng sóng thịnh hành là Đông Bắc, độ cao trung bình 0,75

- 0,95 m Mùa hè sóng Đông Nam độ cao gần tương tự sóng Đông Bắc Độ cao sóng cao nhất là 4,1 m

Thủy triều mang tính nhật triều, bán nhật triều rất ít gặp, nếu có chỉ xuất hiện vào

kì nước kém Biên độ thủy triều ở khu vực này rất cao, thủy triều dao động từ 0,1 - 4,9

m, trung bình khoảng 2,08 m

Trang 22

Dòng chảy từ tháng 1 đến tháng 5 và tháng 9 đến tháng 12 theo hướng Tây Nam với tốc độ trung bình 25 - 40 cm/s, từ tháng 6 – 8 dòng chảy có hướng Đông Bắc với tốc độ trung bình 15 - 25 cm/s [9]

1.3.2 Điều kiện môi trường vùng biển ven đảo Cô Tô

Nhiệt độ (t0C) nước biển: Biên độ dao động nhiệt độ trong năm tại khu vực đảo

Cô Tô khá lớn, có thể lên tới 15 0C Nhiệt độ thấp nhất vào các tháng mùa khô kéo dài

từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau, trung bình: 15 0C Nhiệt độ nước biển cao nhất trong các tháng 6 đến tháng 9, trong thời gian này nhiệt độ nước biển thường ổn định trên 29 0C

và tháng 7 có nhiệt độ nước biển cao nhất, nhiệt độ trung bình nhiều năm đạt tới 30 0C

Độ mặn (S‰): Nước biển quanh đảo Cô Tô có độ mặn cao và tương đối ổn định, trung bình 30,9‰ Mùa mưa độ mặn dao động từ 28,6 – 31,8 ‰, trung bình 30,5 ‰ Mùa khô, độ mặn dao động từ 31 - 32 ‰, trung bình 31,3 ‰

DO: Hàm lượng ôxy hòa tan trong nước biển quanh đảo Cô Tô tương đối cao, tầng mặt dao động trong khoảng 5,99 - 6,80 mg/l, tầng đáy dao động trong khoảng 5,48 - 6,21mg/l

pH : Nước biển quanh đảo Cô Tô mang tính kiềm yếu, độ pH trung bình là 7,76 Biên độ biến động độ pH theo mùa không lớn, chênh lệch độ pH giữa tầng mặt và tầng đáy không đáng kể

Độ đục: Độ đục nước biển tại khu vực đảo Cô Tô khá thấp, biến động trong khoảng 3,33 - 7,33 mg/l Mùa mưa, độ đục cao hơn so với mùa khô, tuy nhiên giá trị

độ đục chênh lệch giữa hai mùa không lớn [9]

1.3.3 Một số đặc điểm và kết quả nghiên cứu đa dạng sinh học và nguồn lợi sinh vật biển Cô Tô

Công tác điều tra, nghiên cứu đa dạng sinh học và nguồn lợi sinh vật biển Cô Tô được tiến hành chủ yếu từ năm 1996 trở lại đây Đỗ Công Thung (2004) thực hiện:

’’Nghiên cứu đa dạng sinh học động vật đáy các đảo đông bắc Việt Nam’’, đề xuất

hướng sử dụng lâu bền Năm 2005, Viện Nghiên cứu Hải sản thực hiện đề tài “Nghiên cứu bổ sung cơ sở khoa học cho việc quy hoạch quản lý khu bảo tồn biển Cát Bà – Cô Tô’’ Kết quả nghiên cứu cho đa dạng sinh học (ĐDSH) khu vực biển Cô Tô khá cao

so với các đảo khác trong vịnh Bắc Bộ Có tổng số 15 loài thực vật ngập mặn thuộc 14

Trang 23

họ, có 66 loài rong biển, thuộc 4 ngành là Rong Lam, Rong Đỏ, Rong Nâu và Rong Lục Có 213 loài thực vật phù du thuộc 4 lớp tảo Chiếm ưu thế về số loài là lớp tảo Silic (Bacillariophyceae) có 133 loài chiếm 62,4 % thuộc 54 chi, tiếp theo là các lớp tảo Giáp (Dinophyceae) có 77 loài (36,2 %) thuộc 25 chi, lớp tảo Kim Dictyochophyceae có 2 loài (chiếm 0,9 %) thuộc 1 chi và ít nhất là lớp tảo Lam

(Cyanophyceae) có 1 loài thuộc 1 chi (0,5 %) Động vật phù du có 97 loài Động vật đáy có 208 loài thuộc 128 giống, 63 họ (bảng 28) Trong đó ngành Thân mềm

(Mollusca) có số loài phong phú nhất với 151 loài (chiếm 72,9 % tổng số loài), sau đến Giáp xác (Crustacea) có 36 loài (chiếm 17,4 %), Giun đốt (Annelida) 15 loài (chiếm 7,2 %), và thấp nhất là ngành Da gai (Echinodermata) chỉ có 5 loài (chiếm 2,4%) San

hô có 102 loài san hô cứng thuộc 13 họ và 37 giống Cá rạn san hô đã phát hiện 133 loài cá rạn san hô thuộc 41 họ, 76 giống [9]

Nhận xét chung: Các kết quả nghiên cứu tại đảo Cô Tô từ trước tới nay chủ yếu

tập trung nghiên cứu về đa dạng sinh học với những đối tượng cỡ lớn như cá rạn, giáp xác, da gai, ĐVPD, TVPD và những loài có giá trị kinh tế trực tiếp Ngoài kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Xuân Thu và ctv (2006), nghiên cứu về đặc điểm sinh học, kỹ thuật sản xuất giống và nuôi thương phẩm về mực nang thì chưa có một bất kỳ nghiên cứu riêng biệt về các loài mực ống cũng như giá trị của chúng đối với đời sống con người Vì vậy, thực hiện nghiên cứu về đặc điểm sinh học, đặc điểm sinh sản của

hai loài mực ống Trung Hoa (Photololigo chinensis) và mực ống Ấn Độ (Photololigo

duvaucelii) phục vụ quản lý bền vững nguồn lợi và góp phần xây dựng thương hiệu

mực ống Cô Tô Đây là vấn đề được đề cập và nghiên cứu của luận văn

Trang 24

CHƯƠNG 2: VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu

Thời gian nghiên cứu: Thu mẫu liên tục 12 tháng, định kỳ thu mẫu vật 1

lần/tháng (thu 30 cá thể/loài/lần thu mẫu, bao phủ các nhóm chiều dài khác nhau) Mẫu được phân tích tại phòng thí nghiệm Viện Nghiên cứu Hải sản từ tháng 4/2013

đến tháng 3/2014

Địa điểm nghiên cứu: Mẫu vật được thu thập trên các chuyến giám sát trên tàu

chụp mực của ngư dân khai thác ở vùng biển ven đảo Cô Tô theo sơ đồ trạm vị tại hình 2.1 Các trạm khảo sát được xác định tọa độ bằng định vị GPS Mỗi trạm nghiên cứu được tiến hành thu thập ghi nhận thành phần loài, kích thước chiều dài, khối lượng mỗi loài và được ướp đá lạnh đem về phòng thí nghiệm Ngoài ra, mẫu vật còn được thu từ các bến cá, đại lý thu mua tại đảo Cô Tô (Chi tiết tọa độ các điểm thu mẫu tham khảo phụ lục 2)

Hình 2 1: Sơ đồ trạm vị thu mẫu mực ống tại Cô Tô, Quảng Ninh

Trang 25

Hình 2 2: Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu

Nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng và sinh sản của hai loài mực ống

(Loligo chinensis, Loligo duvaucelii) ở vùng biển ven đảo Cô Tô, Quảng Ninh

Nghiên cứu đặc điểm sinh học sinh truởng Nghiên cứu xác định đặc điểm sinh sản

Xác định độ tuổi

bằng cấu trúc

hiển vi của đá tai

Xác định tốc độ sinh trưởng

Tương quan chiều dài và khối lượng

Xác định tuổi

và kích thước thành thục

Xác định sức sinh sản

Tốc độ sinh trưởng ở các mùa

vụ khác nhau

Sinh trưởng theo giới tính

Tương quan chiều dài

và khối lượng theo mùa

Tương quan chiều dài

và khối lượng theo giới tính

Xác định được một số đặc điểm sinh trưởng của quần thể mực ống Xác định được một số đặc điểm sinh sản quẩn thể

Kết Luận và Đề xuất

Trang 26

2.2 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: mực ống Trung Hoa Photololigo chinensis và mực ống

Ấn Độ Photololigo duvaucelii tại vùng biển Cô Tô – Quảng Ninh

2.3 Nguồn số liệu sử dụng

Số liệu sử dụng trong nghiên cứu này bao gồm nguồn số liệu sinh học được thu

thập trong các chuyến điều tra nguồn lợi thuộc dự án “Tạo lập, quản lý và phát triển

nhãn hiệu chứng nhận mực ống Cô Tô cho sản phẩm mực ống của huyện Cô Tô tỉnh Quảng Ninh”

Ngoài ra, số liệu được bổ sung bằng nguồn số liệu điều tra nguồn lợi của dự án

“Điều tra liên hợp Việt - Trung đánh giá nguồn lợi hải sản trong Vùng đánh cá chung

vịnh Bắc Bộ, giai đoạn 2”

2.4 Phương pháp nghiên cứu

2.4.1 Phương pháp thu thập số liệu, mẫu vật

* Thu thập số liệu sơ cấp

Thu thập qua các báo cáo khoa học, tài liệu lưu trữ ở thư viện, internet, đài, báo, các phương tiện thông tin đại chúng và kinh nghiệm của các chuyên gia

* Thu thập mẫu mực ống ngoài hiện trường

Mẫu sinh học mực ống được thu hàng tháng và thu ngẫu nhiên hàng tháng theo các kích thước khác nhau trên tàu khai thác (tàu chụp mực) tại các diểm thu mẫu như Hình 2.1, ngoài ra còn thu từ người làm nghề câu mực và tại bến cảng, chợ cá tại đảo

Cô Tô – Quảng Ninh Sau đó, mẫu mực ống được lưu giữ trong túi nilon, ghi nhãn thông tin chi tiết về ngày tháng, vị trí, độ sâu khai thác Mẫu được bảo quản lạnh để tiến hành phân tích trong phòng thí nghiệm

Tại phòng thí nghiệm, từng cá thể được định loại, đo chiều dài bằng thước panme điện tử với độ chính xác đến 0,1 mm bao gồm: chiều dài màng áo, chiều rộng màng

áo, chiều dài vây, chiều rộng vây, chiều rộng đầu, chiều dài đầu, chiều dài xúc tay xúc giác, chiều dài bông xúc giác Khối lượng mực nguyên con được cân bằng cân điện tử với độ chính xác 0,01 g

Trang 27

Sắc tố màu nâu đậm phân bố ở

màng áo, đầu, các xúc tay, và vây Các

đốm tím sẫm tập trung ở giữa màng áo

Màng áo thon chắc, ngắn, màng áo

phía sau hình nón, phía trước hình trụ

hẹp và dài (đặc biệt là con đực) Các

thùy phía trước mặt lưng tròn Mặt bụng

và mép bụng dưới phễu có các thùy bên

Màng áo thon dài, mảnh, nửa phía sau thon hình búp măng hoặc hơi nhọn về phía cuối Ở giữa mặt lưng có các thùy riêng biệt, phần mép bụng rộng Phía dưới mép bụng có các thùy nhọn ở bên

Vòng sừng ở xúc tay xúc giác có từ

20 đến 30 răng nhọn hình nón và riêng biệt cứ 6 - 12 chiếc lớn xen kẽ với từ 1 - 4 răng nhỏ hơn

Hình 2 3: Hình thái các cơ quan bên ngoài của hai loài mực thu tại Cô Tô

Trang 28

 MW (Mantle Width) – chiều rộng màng áo: đo phần rộng nhất của màng áo

 FL (Fin Length) – chiều dài vây: đo phần dài nhất của vây

 Xác định giới tính [20]

Quan sát phần đầu của xúc tay giao cấu (xúc tay thứ 4 bên trái), ở con đực có các gai thịt nhọn chiếm khoảng 1/3 chiều dài xúc tay, con cái có các giác hút như những xúc tay khác Đối với các cá thể mực ở giai đoạn con non, việc xác định giới tính bằng gai thịt trên xúc tay giao cấu là khó nhận biết, cần kiểm tra giải phẫu bên trong của cơ quan sinh dục mực để xác định giới tính

 Xác định tuổi của mục ống

Trang 29

 Cách lấy đá tai (nhĩ thạch)

Giữ phần đầu của con mực, dùng dao phẫu thuật cắt phần nối giữa đầu và thân mực Sau đó rạch một phần thịt của thân ra khỏi đầu, để phần sụn trên đầu xuất hiện Nếu mẫu mực sạch và tươi thì có thể nhìn thấy rõ nhĩ thạch màu trắng đục nằm trong túi nhĩ thạch

Cẩn thận cắt phần sụn theo chiều ngang nhưng không được đưa dao vào sâu quá hoặc hơi quá về phía trước Hai nhĩ thạch nằm trong 2 túi nhĩ thạch trái, phải của con mực Dùng nhíp nhỏ gắp chúng ra

Để bảo quản mẫu vật không bị vỡ, rơi mất vì nhĩ thạch rất nhỏ các công đoạn trên cần phải tiến hành một cách nhẹ nhàng và cẩn thận

 Bảo quản mẫu đá tai

Đá tai sau khi được lấy ra được đưa vào lọ thủy tinh chứa 1/2 nước cất, bịt kín nút, sau đó lắc đều để làm rời cơ thịt còn bám trên bề mặt Những mẫu chưa sạch sẽ được làm sạch dưới kính hiển vi Thao tác này khá quan trọng vì cơ và bụi bám trên bề mặt sẽ gây khó khăn cho việc quan sát vòng sinh trưởng

Sau đó nhĩ thạch được bảo quản bằng dung dịch ethanol 96% trong 1 lọ thủy tinh nhỏ hoặc ống lưu mẫu bằng nhựa, nút kín Trên lọ có gắn nhãn ghi thông tin về mẫu vật (số mẫu, ngày, địa điểm, giới tính, …)

Hình 2 6: Dụng cụ chuyên dụng bảo quản đá tai mực

 Phương pháp gắn đá tai

Đá tai được lấy ra khỏi lọ bảo quản bằng ống hút và đặt trên lam kính Lấy một lượng nhỏ nhựa Crystal Bond đặt vào giữa lam kính, đem hơ trên ngọn lửa đèn cồn, đợi cho nhựa tan ra (không được để quá nóng dẫn đến bọt khí) Dùng nhíp đưa đá tai vào giữa miếng nhựa nóng chảy Các thông số về mẫu vật được ghi trên lam kính

Trang 30

Hình 2 7 Đá tai được gắn trên lam kính

 Phương pháp mài đá tai

Được tiến hành theo phương pháp của Nastukari [36] Trước khi mài, đá tai được chụp ảnh dưới kính hiển vi điện tử OLYMPUS BX43 độ phóng đại từ 40 – 1000 lần Sau đó mài đá tai bằng tay với giấy mài kích thước hạt mịn 2µm Công việc này đòi hỏi phải hết sức nhẹ nhàng và thận trọng, cần theo dõi hình ảnh đá tai thường xuyên bằng kính hiển vi để có ảnh đẹp nhất Quá trình mài cần dừng lại trước khi nhân đá tai biến mất

Hình 2 8: Hình thái đá tai mực và hướng dẫn cách mài để tính tuổi mực

Ghi chú: Khi mài đá tai ta tiến hành mài phía trên hoặc phía dưới tùy theo cách

cố định đá tại và tiến hành mài sao cho chiều mài song song với đường kẻ của Hình 2.8A và đến khi quan sát trên kính thấy hiện vòng vân như Hình 2.8B

Trang 31

2.4.2.2 Phương pháp xử lý số liệu

 Phân bố tần suất chiều dài và chiều dài trung bình

Tần suất chiều dài của 2 loài mực ống được tổng hợp theo tháng điều tra và biểu

diễn trên cùng một biểu đồ theo chuỗi thời gian thu mẫu Nhóm chiều dài ưu thế là

nhóm có số cá thể chiếm tỷ lệ lớn và được xác định dựa trên phân bố tần suất chiều

dài Chiều dài trung bình được tính riêng cho từng tháng điều tra và chung cho cả năm

theo phương pháp của Sparre và Venema [44]:

j m

j

F n

1

(1) Trong đó: X là chiều dài trung bình (cm), Lj là chiều dài của nhóm thứ j (cm),

Fj là số cá thể của nhóm chiều dài thứ j, n là tổng số cá thể, m là số nhóm chiều dài

 Tương quan chiều dài và khối lượng: Tương quan chiều dài và khối lượng

của 2 loài mực ống được xác định bằng phương pháp hồi quy lặp của Jennings và ctv

[26] theo công thức: W = a * Lb (2)

Trong đó: W là khối lượng của cá thể (g); L là chiều dài của cá thể ( mm); a, b

là các hệ số

 Xác định chỉ số thành thục sinh dục

- Xác định tuyến sinh dục: dùng cân điện tử độ chính xác đến 0,01 g để cân

khối lượng tuyến sinh dục

- Xác định các giai đoạn phát triển tuyến sinh dục theo thang 6 bậc Lipinski và

Underhill [29]

 Xác định hệ số thành thục sinh dục

(3)

Trong đó: Q là hệ số thành thục sinh dục (%); Wtsd: Khối lượng tuyến sinh dục;

W: Khối lượng cơ thể

 Ước tính sức sinh sản tuyệt đối (S): là toàn bộ số lượng trứng đếm được trong

giai đoạn IV của cơ thể

Wtsd

x

Q 

Trang 32

 Xác định sức sinh sản tương đối (s) được tính theo công thức :

Wo

S

s

Trang 33

Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 3.1 Kết quả nghiên cứu đặc điểm sinh học sinh trưởng

3.1.1 Kết quả xác định tuổi bằng đá tai

Xác định độ tuổi mực bằng cấu trúc hiển vi của đá tai nhằm đánh giá tuổi tối đa, phân bố tần suất và tốc độ tăng trưởng theo giai đoạn phát triển của hai loài mực ống Tuổi của mực được xác định dựa vào các vòng ngày (rãnh sáng tối) trên lát cắt nhĩ thạch Hình dạng và sự hình thành vòng ngày tuổi của hai loài mực được thể hiện trên hình 3.1 Nhìn chung, các vòng sinh trưởng của chúng đều quan sát tương đối rõ trên kính hiển vi và hình thái đá tai loài mực ống Ấn Độ ngắn và nhỏ hơn so với đá tai của loài mực ống Trung Hoa

Hình 3 1: Vân/ vòng của đá tai mực ống Ấn Độ (a) và mực ống Trung Hoa (b)

3.1.1.1 Tuổi tối đa mực ống Ấn Độ và mực ống Trung Hoa

Kết quả phân tích 35 mẫu đá tai của loài mực ống Ấn Độ và 32 mẫu đá tai loài mực ống Trung Hoa ghi nhận kích thước màng áo mực ống Ấn Độ dao động từ 70 đến

190 mm và kích thước màng áo mực ống Trung Hoa dao động từ 123,5 đến 265,5 mm Tuổi tối đa của 2 loài mực ống được xác định dựa trên mối tương quan giữa chiều dài màng áo và tuổi chung cho cả hai giới tính, được xác định qua hình 3.2

Mực ống Ấn Độ có chiều dài màng áo và tuổi ước tính thấp hơn nhiều so với loài mực ống Trung Hoa Loài mực ống Ấn Độ có chiều dài màng áo thấp nhất là 70 mm tương đương với 59 ngày tuổi và chiều dài màng áo lớn nhất là 190 mm tương đương với 150 ngày tuổi Loài mực ống Trung Hoa có chiều dài màng áo thấp nhất là 123,5

mm tương đương với 107 ngày tuổi và chiều dài lớn nhất là 265,5 mm tương đương với 203 ngày tuổi

b

a

Trang 34

Hình 3 2: Tương quan chiều dài màng áo và tuổi của hai loài mực ống

Phương trình tương quan chiều dài màng áo của loài mực ống Ấn Độ là y = 39,857e0,011.t R2 = 0,942 (n=35) và phương trình tương quan của loài mực ống Trung Hoa là y = 64,728 e0,0071.t R2 = 0,954 (n=32) Như vậy, hai loài mực ống đều có tốc độ sinh trưởng nhanh, liên tục (theo hàm mũ) Mực ống Trung Hoa có hệ số tuổi cao hơn mực ống Ấn Độ nhưng hệ số chiều dài màng áo lại thấp hơn mực ống Ấn Độ So sánh với tương quan theo ngày tuổi, mực ống Trung Hoa tăng trưởng chiều dài nhanh hơn mực Ấn Độ, tương ứng với hệ số lần lượt là 39,857 và 64,728 Kết quả này cũng tương đối phù hợp với nghiên cứu phân bố nhóm tuổi của Nguyễn Khác Bát [12]

Mực ống Trung Hoa có số cá thể đồng đều, hệ số R cao và đường tăng trưởng phân bố đều hơn loài mực ống Ấn Độ Do đó, mối tương quan chiều dài màng áo và tuổi của mực ống Trung Hoa chặt chẽ hơn mực ống Ấn Độ

3.1.1.2 Phân bố nhóm tuổi

Phân tích 35 mẫu mực ống Ấn Độ cho thấy, độ tuổi dao động từ <60 ngày tuổi đến 150 ngày tuổi, tập chung chủ yếu ở nhóm từ 60-90 ngày tuổi (chiếm 62,86 %) và tuổi tối đa ghi nhận nhóm từ 120-150 ngày tuổi (chiếm 5,71 %) (n=35)

Đối với 32 mẫu loài mực ống Trung Hoa, phân tích cho thấy loài này tập trung ở nhóm tuổi cao hơn, dao động từ 120 ngày tuổi đến 203 ngày tuổi, không ghi nhận nhóm tuổi nhỏ hơn 90 ngày tuổi Nhóm từ 120-150 ngày tuổi có tỷ lệ cao nhất (chiếm 40,63 %) và tuổi tối đa ghi nhận là nhóm 180-203 ngày tuổi (chiếm 12,50 %) (n=32) (hình 3.3) Kết quả nghiên cứu của Li tại Đài Loan ghi nhận mực ống Trung Hoa độ tuổi từ 63 đến 151 ngày tuổi [27] Như vậy, mực ống Trung Hoa của tác giả nghiên

Trang 35

Hình 3 3: Phân bố nhóm tuổi ngày tuổi của hai loài mực ống

3.1.2 Đặc điểm sinh trưởng

3.1.2.1 Phân bố tần suất chiều dài

Kết quả phân tích sinh học 379 cá thể mực ống Ấn Độ và 387 cá thể mực ống Trung Hoa thu thập được trong 12 tháng tại vùng biển Cô Tô – Quảng Ninh cho thấy, mực ống Ấn Độ có kích thước màng áo dao động từ 42 đến 198 mm và mực ống Trung Hoa có kích thước màng áo dao động từ 78,5 đến 265,5 mm Phân bố tần suất chiều dài của 2 loài mực ống được trình bày ở hình 3.4

Hình 3 4: Phân bố tần suất chiều dài mực ống Ấn Độ và mực ống Trung Hoa

Chiều dài ưu thế của mực ống Ấn Độ tập trung ở nhóm có kích thước từ 80 đến

120 mm, chiếm tỷ lệ 67,55 % tổng số cá thế bắt gặp trong các tháng thu mẫu Trong

đó, nhóm cá thể có kích thước 110 mm bắt gặp nhiều nhất với tỷ lệ 18,73 % tổng số mẫu thu Nhóm có kích thước nhỏ hơn 80 mm và lớn hơn 160 mm bắt gặp với tần suất thấp hơn, lần lượt chiếm tỷ lệ 8,18% và 6,33% Nhóm cá thể có kích thước ≤50 mm xuất hiện với tần xuất thấp nhất, chỉ chiếm 0,26% tổng số mẫu thu

Trang 36

Theo Chotiyaputta, mực ống Ấn Độ có chiều dài màng áo tối đa là 500 mm ở mực đực và 310 mm ở mực cái [21] FAO cũng đã ghi nhận kích thước tối đa của mực ống Ấn Độ đạt 320 mm [18] Như vậy, kích thước tối đa mực ống Ấn Độ tại Cô

Tô trong nghiên cứu này thấp hơn nhiều so với kích thước tối đa đã ghi nhận của các

số liệu nghiên cứu trước đó (tại Cô Tô ghi nhận tối đa là 198 mm)

Phân tích tổng số 387 cá thể mực ống Trung Hoa cho thấy, kích thước cá thể dao động lớn và phân bố các nhóm kích thước rộng từ 78,5 mm đến 265,5 mm Nhóm có kích thước chiều dài màng áo nhỏ ≤ 80 mm (78,5 mm) chỉ ghi nhận có 3 cá thể (chiếm 0,78 %), nhóm có kích thước chiều dài màng áo từ 100 - 150 mm là 212 cá thể (chiếm 54,78 %), nhóm có chiều dài từ 160 - 200 mm là 129 cá thể (chiếm 33,33 %), nhóm có kích thước từ 210 – 265,5 mm là 34 cá thể (chiếm 8,79 %)

Kết quả nghiên cứu mực ống Trung Hoa tại Đài Loan của tác giả Li bắt gặp cá thể có kích thước nhỏ nhất là 46 mm và cá thể có kích thước lớn nhất là 441 mm [27] Như vậy, mực ống Trung Hoa là loài có kích thước màng áo dao động rất lớn và trong nghiên cứu này ghi nhận mực ống Trung Hoa phân bố ở vùng biển Cô Tô thuộc vào nhóm có kích thước trung bình (từ 78,5 mm đến 265,5 mm)

3.1.2.2 Sinh trưởng theo mùa

 Đường cong sinh trưởng của hai loài

Dựa theo các chỉ số về chiều dài và khối lượng thu được từ cá mẫu mực ống Ấn

Độ và mực ống Trung Hoa, chúng tôi xác định được các tham số sinh trưởng theo Von Bertalanffy và kết quả phân tích các tham số tăng trưởng từ phương pháp ELEFAN trong chương trình phần mềm Fisat II, kết quả được thể hiện ở hình 3.5

Trang 37

Dựa theo kết quả nghiên cứu từ hình 3.5, phương trình tăng trưởng của loài mực ống Ấn Độ có dạng Lt= 238,18.(1-e-0,85(t+0,77)) và loài mực ống Trung Hoa có dạng là

Lt= 301,79.(1-e-0,65(t+0,74) Mực ống Ấn Độ có sự tăng trưởng nhanh từ trong tháng 3 đến tháng 6 và từ tháng 10 đến tháng 12 Mực ống Trung Hoa thể hiện sự tăng trưởng đồng đều ở các tháng theo dõi Qua đó cho thấy, sự tăng trưởng của mực ống Ấn Độ thể hiện sự thiếu hụt các cá thể có kích thước lớn trong mẫu thu, đặc biệt là trong các tháng 7; 8; 9

 Sinh trưởng theo mùa của mực ống Ấn Độ và mực ống Trung Hoa

 Phân bố chiều dài mực ống Ấn Độ

Hình 3 6: Phân bố tần suất chiều dài của mực ống Ấn Độ theo mùa

Mực ống Ấn Độ có sự phân bố không đồng đều ở các nhóm kích thước theo mùa Mùa hè, nhóm cá thể có chiều dài màng áo lớn nhất bắt gặp là 150 mm trong khi vào các mùa còn lại có thể bắt gặp những cá thể có kích thước lớn hơn đạt tới 180 mm (mùa Thu, mùa Đông) và 190 mm (mùa Xuân) (Hình 3.6)

Trang 38

 Phân bố chiều dài mực ống Trung Hoa

Từ hình 3.7 cho thấy, kích thước mực ống Trung Hoa phân bố tương đối đồng đều và không có sự khác biệt lớn theo mùa trong năm Cá thể có kích thước từ 78,5 –

200 mm bắt gặp với tần suất cao và đồng đều cả 3 mùa: mùa Hạ, mùa Thu và mùa Đông Riêng mùa Xuân thì tần suất ghi nhận thấp hơn so với 3 mùa trên, ghi nhận nhóm có chiều dài màng áo là 110 mm chiếm tỷ lệ cao nhất (trến 16%) Nhóm cá thể

có kích thước lớn từ 200 – 270 mm bắt gặp rất ít và chỉ ghi nhận xuất hiện rải trong cả

4 mùa của năm (Hình 3.7)

Hình 3.7: Phân bố tần suất chiều dài của mực ống Trung Hoa theo mùa

Như vậy, mực ống Trung Hoa là loài mực có nhóm kích thước lớn từ 78,5 - 265,5 mm (làm tròn 270 mm), kích thước chiều dài màng áo khai thác chủ yếu thu được trong thời gian nghiên cứu từ 100 đến 200 mm Với loài mực ống Ấn Độ có kích thước màng áo dao động từ 50 - 190 mm, kích thước chiều dài màng áo khai thác chủ yếu thu được trong thời gian nghiên cứu từ 80-120 mm

3.1.2.3 Phân bố theo giới tính

Kết quả nghiên cứu cho thấy, trong quần thể 2 loài mực ống nghiên cứu đều ghi

Trang 39

ống Ấn Độ thu được gồm 197 cá thể cái, chiếm 50,90 %; 174 cá thể đực, chiếm 44,96

%, và 16 cá thể không xác định giới tính, chiếm 4,13% Tỷ lệ này ở loài mực ống Trung Hoa lần lượt là 51,19 %, 45,12 % và 3,60 % Nhìn chung, tỷ lệ cá thể cái của cả hai loài mực đều chiếm tỷ lệ cao hơn cá thể đực (Bảng 3.1)

Tỷ lệ mực đực: mực cái trong nghiên cứu này đều thấp hơn nhiều so với nghiên cứu của Thammarat (1:1,71) về mực ống Ấn Độ và Yunrong (1:1,01) về mực ống Trung Hoa [49,50]

Bảng 3 1: Phân bố giới tính của 2 loài mực ống

Ghi chú: KXĐ là từ viết tắt của Không xác định

Hình 3 8: Tỷ lệ phần trăm theo nhóm kích thước của loài mực ống Ấn Độ

Mực ống Ấn Độ phân bố thành 8 nhóm kích thước với chiều dài màng áo từ 41 -200 mm Trong đó, nhóm không xác định (KXĐ) được giới tính xuất hiện tại nhóm

có chiều dài màng áo 41 - 60 mm và nhóm 61 - 80 mm (chiếm 3,69 %) Nhóm cá thể

có chiều dài màng áo từ 81-100 mm có tỷ lệ cá thể cái nhiều hơn cá thể đực, các nhóm còn lại có tỷ lệ đực và cái xuất hiện là gần tương đương nhau (Hình 3.8)

Trang 40

Hình 3 9: Tỷ lệ phần trăm theo nhóm kích thước của loài mực ống Trung Hoa

Mực ống Trung Hoa phân bố thành 11 nhóm kích thước với chiều dài màng áo từ 60-280 mm Trong đó, nhóm không xác định được giới tính xuất hiện tại nhóm chiều dài 60-120 mm (chiếm 4,14 %) Không ghi nhận cá thể cái thuộc nhóm chiều dài từ 60

- 80 mm Nhóm chiều dài 141 - 160 mm và nhóm 181 - 200 mm có tỷ lệ cá thể đực nhiều hơn cá thể cái Đặc biệt, ghi nhận nhóm có kích thước chiều dài lớn nhất từ 241

- 265,5 mm có tỷ lệ cá thể cái lớn gấp 5 lần cá thể đực Các nhóm còn lại tỷ lệ đực và cái xuất hiện là tương đương nhau (Hình 3.9)

3.1.3 Tương quan chiều dài màng áo và khối lượng mực ống Ấn Độ và mực ống Trung Hoa

3.1.3.1 Tương quan chung chiều dài màng áo và khối lượng

Dựa trên số liệu đã thu thập, phương trình tương quan chiều dài màng áo và khối lượng của mực ống Ấn Độ và mực ống Trung Hoa được xây dựng và thể hiện tại Hình 3.10

Hình 3 10: Tương quan chiều dài màng áo và khối lượng của mực ống Ấn Độ

Ngày đăng: 26/02/2017, 15:45

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1. 1: Mực ống Ấn Độ (A) và Mực ống Trung Hoa (B) [13] - Nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng và sinh sản loài mực ống loligo (photololigo) chinensis gray, 1849 và loligo (photololigo) duvaucelii orbigny, 1848 tại vùng biển ven đảo cô tô, quảng ninh
Hình 1. 1: Mực ống Ấn Độ (A) và Mực ống Trung Hoa (B) [13] (Trang 15)
Hình 2. 3: Hình thái các cơ quan bên ngoài của hai loài mực thu tại Cô Tô - Nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng và sinh sản loài mực ống loligo (photololigo) chinensis gray, 1849 và loligo (photololigo) duvaucelii orbigny, 1848 tại vùng biển ven đảo cô tô, quảng ninh
Hình 2. 3: Hình thái các cơ quan bên ngoài của hai loài mực thu tại Cô Tô (Trang 27)
Hình 2. 4: Các chỉ tiêu hình thái và cách đo mực ống - Nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng và sinh sản loài mực ống loligo (photololigo) chinensis gray, 1849 và loligo (photololigo) duvaucelii orbigny, 1848 tại vùng biển ven đảo cô tô, quảng ninh
Hình 2. 4: Các chỉ tiêu hình thái và cách đo mực ống (Trang 28)
Hình 2. 8: Hình thái đá tai mực và hướng dẫn cách mài để tính tuổi mực - Nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng và sinh sản loài mực ống loligo (photololigo) chinensis gray, 1849 và loligo (photololigo) duvaucelii orbigny, 1848 tại vùng biển ven đảo cô tô, quảng ninh
Hình 2. 8: Hình thái đá tai mực và hướng dẫn cách mài để tính tuổi mực (Trang 30)
Hình 2. 7. Đá tai được gắn trên lam kính - Nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng và sinh sản loài mực ống loligo (photololigo) chinensis gray, 1849 và loligo (photololigo) duvaucelii orbigny, 1848 tại vùng biển ven đảo cô tô, quảng ninh
Hình 2. 7. Đá tai được gắn trên lam kính (Trang 30)
Hình 3. 1: Vân/ vòng của đá tai mực ống Ấn Độ (a) và mực ống Trung Hoa (b) - Nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng và sinh sản loài mực ống loligo (photololigo) chinensis gray, 1849 và loligo (photololigo) duvaucelii orbigny, 1848 tại vùng biển ven đảo cô tô, quảng ninh
Hình 3. 1: Vân/ vòng của đá tai mực ống Ấn Độ (a) và mực ống Trung Hoa (b) (Trang 33)
Hình 3. 2: Tương quan chiều dài màng áo và tuổi của hai loài mực ống - Nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng và sinh sản loài mực ống loligo (photololigo) chinensis gray, 1849 và loligo (photololigo) duvaucelii orbigny, 1848 tại vùng biển ven đảo cô tô, quảng ninh
Hình 3. 2: Tương quan chiều dài màng áo và tuổi của hai loài mực ống (Trang 34)
Hình 3. 3: Phân bố nhóm tuổi ngày tuổi của hai loài mực ống - Nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng và sinh sản loài mực ống loligo (photololigo) chinensis gray, 1849 và loligo (photololigo) duvaucelii orbigny, 1848 tại vùng biển ven đảo cô tô, quảng ninh
Hình 3. 3: Phân bố nhóm tuổi ngày tuổi của hai loài mực ống (Trang 35)
Hình 3. 6: Phân bố tần suất chiều dài của mực ống Ấn Độ theo mùa - Nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng và sinh sản loài mực ống loligo (photololigo) chinensis gray, 1849 và loligo (photololigo) duvaucelii orbigny, 1848 tại vùng biển ven đảo cô tô, quảng ninh
Hình 3. 6: Phân bố tần suất chiều dài của mực ống Ấn Độ theo mùa (Trang 37)
Hình 3.7: Phân bố tần suất chiều dài của mực ống Trung Hoa theo mùa - Nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng và sinh sản loài mực ống loligo (photololigo) chinensis gray, 1849 và loligo (photololigo) duvaucelii orbigny, 1848 tại vùng biển ven đảo cô tô, quảng ninh
Hình 3.7 Phân bố tần suất chiều dài của mực ống Trung Hoa theo mùa (Trang 38)
Hình 3. 9: Tỷ lệ phần trăm theo nhóm kích thước của loài mực ống Trung Hoa - Nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng và sinh sản loài mực ống loligo (photololigo) chinensis gray, 1849 và loligo (photololigo) duvaucelii orbigny, 1848 tại vùng biển ven đảo cô tô, quảng ninh
Hình 3. 9: Tỷ lệ phần trăm theo nhóm kích thước của loài mực ống Trung Hoa (Trang 40)
Hình 3. 11: Tương quan chiều dài màng áo và khối lượng mực ống Ấn Độ đực (a) - Nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng và sinh sản loài mực ống loligo (photololigo) chinensis gray, 1849 và loligo (photololigo) duvaucelii orbigny, 1848 tại vùng biển ven đảo cô tô, quảng ninh
Hình 3. 11: Tương quan chiều dài màng áo và khối lượng mực ống Ấn Độ đực (a) (Trang 41)
Hình 3. 13: Kích thước thành thục lần đầu   của mực ống Ấn Độ(A và C) và mực ống Trung Hoa (B và D) - Nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng và sinh sản loài mực ống loligo (photololigo) chinensis gray, 1849 và loligo (photololigo) duvaucelii orbigny, 1848 tại vùng biển ven đảo cô tô, quảng ninh
Hình 3. 13: Kích thước thành thục lần đầu của mực ống Ấn Độ(A và C) và mực ống Trung Hoa (B và D) (Trang 48)
Hình 3. 14: Hệ số thành thục 2 loài mực ống - Nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng và sinh sản loài mực ống loligo (photololigo) chinensis gray, 1849 và loligo (photololigo) duvaucelii orbigny, 1848 tại vùng biển ven đảo cô tô, quảng ninh
Hình 3. 14: Hệ số thành thục 2 loài mực ống (Trang 49)
Hình 3. 15: Sức sinh sản tuyệt đối mực ống Ấn Độ và mực ống Trung Hoa - Nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng và sinh sản loài mực ống loligo (photololigo) chinensis gray, 1849 và loligo (photololigo) duvaucelii orbigny, 1848 tại vùng biển ven đảo cô tô, quảng ninh
Hình 3. 15: Sức sinh sản tuyệt đối mực ống Ấn Độ và mực ống Trung Hoa (Trang 50)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w