TRÍCH YẾU LUẬN VĂN Luận văn nghiên cứu về “Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định chọn trường đại học của học sinh lớp 12 tại huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên” nhằm xác định các yếu tố và mức đ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
PHAN THỊ THÙY DUNG
CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUYẾT ĐỊNH CHỌN TRƯỜNG ĐẠI HỌC CỦA HỌC SINH LỚP 12 TẠI
HUYỆN TUY AN, TỈNH PHÚ YÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ
KHÁNH HÒA - 2016
Trang 2BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
PHAN THỊ THÙY DUNG
CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUYẾT ĐỊNH CHỌN TRƯỜNG ĐẠI HỌC CỦA HỌC SINH LỚP 12 TẠI
HUYỆN TUY AN, TỈNH PHÚ YÊN
Người hướng dẫn khoa học:
TS TÔ THỊ HIỀN VINH
Chủ tịch Hội đồng
TS.QUÁCH THỊ KHÁNH NGỌC
Khoa sau đại học
KHÁNH HÒA - 2016
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan mọi kết quả của đề tài: “Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định
chọn trường đại học của học sinh lớp 12 tại huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên” là công
trình nghiên cứu của cá nhân tôi và chưa từng được công bố trong bất cứ công trình khoa học nào khác cho tới thời điểm này
Nha Trang, ngày 10 tháng 12 năm 2016
Tác giả luận văn
Phan Thị Thùy Dung
Trang 4Xin trân trọng cảm ơn sâu sắc Tiến sĩ Tô Thị Hiền Vinh ,Trường Đại học Nha Trang là những người hướng dẫn khoa học, đã giúp em thực hiện đề tài này với sự nhiệt tâm và đầy trách nhiệm của một nhà giáo
Xin chân thành cảm ơn quý thầy cô Khoa Kinh Tế, Trường Đại học Nha Trang; quý lãnh đạo các cơ quan tổ chức đã cung cấp tài liệu, và đóng góp nhiều ý kiến quý báu trong quá trình nghiên cứu đề tài
Xin chân thành cảm ơn các em học sinh của các trường THPT tại địa bàn huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên Tôi cũng không quên cảm ơn những cộng tác viên, những người bạn đã giúp phỏng vấn, mã hóa, nhập dữ liệu và kiểm tra dữ liệu
Xin gửi lời cảm ơn chân thành đến gia đình, người thân đã giúp đỡ rất nhiều trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu khoa học
Cuối cùng, xin trân trọng cảm ơn quý thầy cô trong Hội đồng Bảo vệ Luận văn thạc sĩ đã có những góp ý quý báu để hoàn thiện luận văn
Xin trân trọng cảm ơn!
Nha Trang, ngày 10 tháng 12 năm 2016
Tác giả luận văn
Phan Thị Thùy Dung
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN iii
LỜI CẢM ƠN iv
MỤC LỤC v
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT viii
DANH MỤC BẢNG ix
DANH MỤC HÌNH x
TRÍCH YẾU LUẬN VĂN xi
PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 6
1.1 Lý thuyết về hành vi 6
1.1.1 Khái niệm hành vi 6
1.1.2 Phân loại hành vi 6
1.1.2.1 Hành vi bản năng .6
1.1.2.2 Hành vi kĩ xão 6
1.1.2.3 Hành vi đáp ứng 7
1.1.2.4 Hành vi trí tuệ 7
1.1.3 Thuyết hành vi dự định (Theory of Planned Behaviour – TPB) 7
1.1.4 Lý thuyết sự lựa chọn hợp lý 8
1.2 Định hướng nghề nghiệp của học sinh 9
1.2.1 Định hướng 9
1.2.2 Nghề nghiệp 10
1.2.3 Hướng nghiệp và tư vấn hướng nghiệp 12
1.2.3.1.Hướng nghiệp 12
1.2.3.2 Tư vấn hướng nghiệp 13
1.2.3.3 Định hướng nghề nghiệp 14
1.2.4 Lựa chọn nghề nghiệp 17
1.3 Tổng quan các nghiên cứu và đề xuất mô hình nghiên cứu 17
1.3.1 Các nghiên cứu nước ngoài 17
1.3.2 Các nghiên cứu ở Việt Nam 18
1.3.3 Đề xuất mô hình nghiên cứu 24
1.3.4 Giả thuyết nghiên cứu và định nghĩa các giả thuyết của luận văn 27
Trang 6CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 34
2.1 Giới thiệu 34
2.2 Quy trình nghiên cứu 35
2.3 Nghiên cứu định tính 37
2.3.1 Thiết kế nghiên cứu định tính 37
2.3.2 Kết quả nghiên cứu định tính 39
2.4 Nghiên cứu định lượng 43
2.4.1 Thiết kế mẫu nghiên cứu 43
2.4.2 Thiết kế bảng câu hỏi và quá trình thu thập dữ liệu 44
2.4.3 Phương pháp phân tích dữ liệu 45
2.4.3.1 Đánh giá sơ bộ thang đo bằng hệ số tin cậy Cronbach’s alpha 46
2.4.3.2 Kiểm định thang đo bằng phân tích nhân tố khám phá (EFA) 46
2.4.3.3.Phân tích hồi quy bội MLR (Multiple Linear Regression) 47
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 50
3.1 Tổng quan mẫu nghiên cứu 50
3.2 Kiểm định độ tin cậy của thang đo bằng kiểm định Cronbach’s alpha 51
3.3 Phân tích nhân tố khám phá 54
3.3.1 Phân tích nhân tố khám phá biến độc lập 54
3.3.2 Phân tích nhân tố khám phá biến phụ thuộc 57
3.4 Ước lượng các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định chọn trường Đại học của học sinh 12 tai huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên .57
3.4.1 Ma trận hệ số tương quan giữa các biến 57
3.4.2 Xây dựng mô hình hồi quy 59
3.4.3 Kiểm định độ phù hợp của mô hình hồi quy 60
3.4.4 Xác định tầm quan trọng của các biến trong mô hình 60
3.5 Kiểm định sự khác biệt về đặc điểm cá nhân và gia đình trong quyết định lựa chọn trường đại học của học sinh lớp 12 tại huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên .63
3.5.1 Kiểm định sự khác biệt theo giới tính 63
3.5.2 Kiểm định sự khác biệt về học lực của học sinh 64
3.5.3 Kiểm định sự khác biệt về nơi học phổ thông 65
3.5.4 Kiểm định sự khác biệt về điều kiện kinh tế gia đình học sinh 65
3.5.5 Kiểm định sự khác biệt về trình độ học vấn của cha 66
Trang 73.5.6 Kiểm định sự khác biệt về trình độ học vấn của mẹ 67
CHƯƠNG 4: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 69
4.1 Tóm tắt nội dung nghiên cứu 69
4.2 Kiến nghị 71
4.3 Hạn chế của nghiên cứu và hướng nghiên cứu tiếp theo 73
TÀI LIỆU THAM KHẢO 74 PHỤ LỤC
Trang 8DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
ANOVA (Analysis of Variance) : Phân tích phương sai
DW (Dubin- Watson) : Đại lượng thống kê Dubin- Watson
EFA (Exploration Factor Analysis) : Phân tích nhân tố khám phá
MLR ( Multiple Linear Regression) : Phân tích hồi quy bội
PCA ( Principal Component Analysis) : Phương pháp phân tích thành phần
chính
SPSS (Statistical Package for Social Sciences) : Phần mềm xử lý số liệu thống kê
dùng trong các ngành khoa học xã hội
VIF (Variance Inflation Factor) : Nhân tử phóng đại phương sai
Trang 9DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 Tổng hợp các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định chọn trường của học sinh 22
Bảng 1.2 Nguồn gốc các nhân tố trong mô hình nghiên cứu 26
Bảng 2.1 Các bước nghiên cứu: 35
Bảng 2.2 Thang đo các yếu tố thuộc mô hình nghiên cứu 40
Bảng 3.1 Bảng phân bố mẫu theo giới tính 50
Bảng 3.2 Bảng phân bố mẫu theo trình độ học vấn 50
Bảng 3.3 Nơi học 3 năm cuối cấp của học sinh 51
Bảng 3.4 Kết quả đánh giá các thang đo bằng Cronbach's Alpha 52
Bảng 3.5 Kiểm định KMO and Bartlett's Test 55
Bảng 3.6 Phân tích nhân tố khám phá 55
Bảng 3.7 Kiểm định KMO and Bartlett's Test 57
Bảng 3.8 Ma trận tương quan giữa các biến độc lập 58
Bảng 3.9 Tóm tắt mô hình hồi quy 59
Bảng 3.10 Kết quả phân tích ANOVAa 59
Bảng 3.11 Ước lượng hồi quy 59
Bảng 3.12 Kết quả kiểm định các giả thuyết nghiên cứu chính thức 60
Bảng 3.13 Kết quả kiểm định theo nhóm giới tính học sinh 63
Bảng 3.14 Kiểm định Levene phương sai đồng nhất 64
Bảng 3.15 Kết quả ANOVA 64
Bảng 3.16 Kiểm định Levene phương sai đồng nhất 65
Bảng 3.17 Kết quả ANOVA 65
Bảng 3.18 Kiểm định Levene phương sai đồng nhất 65
Bảng 3.19 Kết quả ANOVA 65
Bảng 3.20 Kiểm định Levene phương sai đồng nhất 66
Bảng 3.21 Kết quả ANOVA 66
Bảng 3.22 Kiểm định Levene phương sai đồng nhất 67
Bảng 3.23 Kết quả ANOVA 67
Trang 10DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1 Mô hình lý thuyết dự định TPB (Ajzen và Fishbein, 1980) 8Hình1.2 Mô hình các yếu tố ảnh hưởng chọn trường ĐH của học sinh (D.W
Chapman, 1981) 23 Hình 1.3 Mô hình các yếu tố ảnh hưởng chọn trường ĐH của học sinh (Trần Văn
Quý và Cao Hào Thi, 2009) 24Hình 1.4 Mô hình nghiên cứu đề xuất 25Hình 2.1 Quy trình nghiên cứu 36
Trang 11TRÍCH YẾU LUẬN VĂN
Luận văn nghiên cứu về “Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định chọn trường
đại học của học sinh lớp 12 tại huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên” nhằm xác định các yếu tố
và mức độ ảnh hưởng đến quyết định chọn trường của học sinh, từ đó giúp công tác tư vấn tuyển sinh và định hướng nghề nghiệp cho các em tốt hơn
Kết quả nghiên cứu cho thấy, có 7 yếu tố tác động đến quyết định chọn trường đại học của học sinh lớp 12 tại huyện Tuy An bao gồm đặc điểm cá nhân, chính sách của trường Đại học, cơ hội trúng tuyển, cơ hội việc làm trong tương lai, danh tiếng trường Đại học và sự đa dạng ngành học Mô hình nghiên cứu giải thích được 54,8% sự biến thiên của biến quyết định chọn trường đại học của học sinh 12 tại huyện Tuy An, còn lại 45,2% do tác động bởi các yếu tố khác chưa được nghiên cứu trong mô hình này
Cường độ tác động (tầm quan trọng) của các yếu tố lần lượt xếp theo thứ tự quan trọng giảm dần như sau: cơ hội trúng tuyển (β= 0,904); đặc điểm cá nhân (β=0,141); Sự
đa dạng ngành học (β=0,118); Chính sách của trường Đại học (β=0,108); Danh tiếng của trường đại học (β=0,080) và cuối cùng là cơ hội việc làm trong tương lai (β = 0,060)
Kết quả kiểm định sự khác biệt về quyết định chọn trường đại học của học sinh 12 tại huyện Tuy An theo các đặc điểm cá nhân của người tiêu dùng (giới tính, học lực, điều kiện kinh tế gia đình, nơi học phổ thông, trình độ học vấn của cha và mẹ) cho thấy không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về quyết định chọn trường học đại học của học sinh lớp 12 đối với đặc điểm giới tính, học lực với độ tin cậy 95% Tuy nhiên đặc điểm về điều kiện kinh tế gia đình và nơi học phổ thông lại có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê 90%, còn trình độ học vấn của cha và mẹ lại có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê 95% Điều đó cho thấy, sự tác động của bố mẹ, điều kiện kinh tế gia đình có ảnh hưởng mạnh mẽ đến quyết định chọn trường học đại học của học sinh lớp 12 tại huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên
Dựa trên kết quả nghiên cứu trên, luận văn đề xuất một số kiến nghị về công tác hướng nghiệp mặc dù đã trở thành hoạt động giáo dục trong chương trình chính khoá ở trường THPT, tuy nhiên để phát huy hiệu quả của công tác hướng nghiệp các trường phổ thông cần đầu tư hơn nữa về chiều sâu, cập nhật thông tin và đưa công tác hướng nghiệp này vào những năm đầu của cấp 3 Có như vậy, học sinh có đủ thời gian để lựa chọn cũng
Trang 12như chuẩn bị hành trang tốt nhất cho mình trong quyết định chọn trường học đại học sau này Việc hướng nghiệp nên được xây dựng tổ chức và tiến hành trong suốt quá trình học tập hơn là chỉ tổ chức vào cuối cấp THPT Như vậy bên cạnh trách nhiệm về xây dựng lực lượng giáo viên có trình độ về hướng nghiệp của Bộ Giáo dục và Đào tạo thì các trường THPT cũng nên chú trọng hoạt động giáo dục hướng nghiệp nhằm giúp đỡ các em có nhiều kiến thức hơn khi ra quyết định lựa chọn trường và ngành nghề dự thi
Từ khóa: Quyết định chọn trường Đại học, học sinh, tốt nghiệp THPT
Trang 13PHẦN MỞ ĐẦU
1 Sự cần thiết của đề tài
Học sinh lớp 12 là lứa tuổi bước vào ngưỡng cửa cuộc đời, là dừng quãng đời học sinh để có thể là một tân sinh viên đầy hoài bão hoặc lựa chọn học một nghề để ổn định tương lai Thời điểm đó có quá nhiều ngã rẽ để các em suy nghĩ trước khi quyết định kế hoạch đường đời cho mình Tuy nhiên việc chọn ngành nghề, lựa chọn con đường tương lai cho mình lại không hề dễ dàng với các em khi có ngành nghề trong xã hội rất phong phú và đặc tính, yêu cầu mỗi nghề lại khác nhau Vì vậy các em sẽ làm
gì sau khi tốt nghiệp THPT? Chính vì vậy sự quan tâm của gia đình, nhà trường, xã hội trong việc định hướng nghề nghiệp ngành học cho học sinh là rất quan trọng
Hằng năm, cứ đến mùa tuyển sinh ĐH- CĐ có khoảng 1,1 triệu học sinh lớp 12 trong cả nước bận rộn với vấn đề chọn trường thi, ngành thi (Trần Văn Quí & Cao Hào Thi, 2009) Hàng loạt các trường ĐH, CĐ, TCCN đến tư vấn tuyển sinh, hướng dẫn học sinh 12 làm hồ sơ đăng ký dự thi, giới thiệu ngành đào tạo, điểm chuẩn, tỷ lệ chọi… Theo số liệu của cục thống kê thì số lượng trường THPT trong cả nước tăng qua các năm, từ 2192 (năm 2008), tăng lên 2267 (năm 2009) và 2288 (năm 2010), 2350 (năm 2011) nhưng đồng thời lại chỉ có 376 trường ĐH và CĐ, trong đó có 150 trường ĐH và
226 trường CĐ đến năm 2009 Đến nay, 40/63 tỉnh, thành phố có trường ĐH và có 62/63 tỉnh, thành có ít nhất một trường CĐ hoặc ĐH chỉ trừ tỉnh Đăknông chưa có trường ĐH,
CĐ nào Có rất nhiều học sinh cho rằng: “Vào đại học như là một sự bảo hành cho
tương lai Trượt đại học coi như cuộc đời mất phương hướng Đó là nỗi buồn của bản
thân và của cả gia đình”(Quang Dương, 2010) Chính điều đó đã dẫn tới áp lực nặng nề
cho học sinh trong các kỳ thi tuyển sinh vào ĐH, CĐ Do vậy, việc chọn một trường thi phù hợp cho học sinh THPT là vấn đề cần được quan tâm hơn nữa
Như vậy bước vào ngưỡng cửa đại học luôn được coi là một trong nhiều yếu tố quan trọng quyết định đến tương lai mỗi con người Vì thế lựa chọn cho mình một trường thi phù hợp là vấn đề được nhiều học sinh quan tâm, đặc biệt là học sinh trung học phổ thông (THPT) Vậy họ lựa chọn thế nào? Trong quá trình lựa chọn trường đại học, đã xuất hiện những yếu tố cơ bản nào tác động, tầm ảnh hưởng đến đâu?
Trang 14Tuy nhiên, thực tế giáo dục Việt Nam hiện nay vẫn còn nhiều bất cập, công tác hướng nghiệp và tư vấn chọn trường chưa được xem trọng, chỉ đến khi kỳ thi tuyển sinh ĐH- CĐ sắp cận kề thì giáo viên và ngay cả các trường ĐH- CĐ mới thực hiện tư vấn hướng nghiệp, tuyển sinh Mặt khác, tình trạng không có việc làm của một bộ phận không nhỏ sinh viên tốt nghiệp các trường ĐH có “danh giá” là một minh chứng cho nhu cầu của thị trường lao động đang vốn rất cần một lượng đông các người thợ có tay nghề giỏi chứ không phải những người chỉ có bằng cấp cao (Nguyễn Văn Hộ & Nguyễn Thị Thanh Huyền, 2006) Theo một nghiên cứu thì yếu tố ảnh hưởng chính đến quyết định của học sinh trong việc chọn trường kỹ thuật dạy nghề đó là học xong và tìm được một công việc Ngoài ra, yếu tố theo học các trường kỹ thuật dạy nghề vì sự yêu thích là yếu tố không quan trọng, cho thấy học sinh 12 đang dần có sự thiên lệch không muốn học nghề nữa (Cao Thị Châu Thủy, 2010)
Mặt khác, các trường ĐH ở Việt Nam đang gặp nhiều khó khăn trong thu hút các
em học sinh lớp 12 đăng ký dự thi, nhiều trường, nhiều ngành có nguy cơ phải ngừng hoạt động giảng dạy do không đủ chỉ tiêu tuyển sinh Trong khi, nhiều ngành khác lại có số lượng đăng ký tăng quá mức, chất lượng dạy và học không tương xứng, gây khó khăn cho chính các em học sinh trong vấn đề xin việc sau này Vấn đề chọn ngành, chọn trường dự thi luôn là những thắc mắc, băn khoăn của học sinh lớp 12 trong các buổi
tư vấn tuyển sinh ĐH, CĐ Hiện tại, trong tỉnh Phú Yên cũng như huyện Tuy An chưa có một nghiên cứu nào thực hiện về vấn đề chọn trường, chọn ngành của học sinh lớp 12 Ngoài ra, các trường ĐH, CĐ trong tỉnh đang gặp khá nhiều khó khăn trong thu hút học sinh dự thi và học tập tại địa phương
Từ những vấn đề trên tôi quyết định tiến hành đề tài “Các yếu tố ảnh hưởng đến
quyết định chọn trường đại học của học sinh lớp 12 tại huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên”
2 Mục tiêu nghiên cứu
Trang 15hướng nghiệp cho học sinh lớp 12 THPT trong quyết định lựa chọn trường dự thi trong
3 Các câu hỏi nghiên cứu
Các câu hỏi nghiên cứu được đặt ra cho đề tài này là:
1 Những nhân tố nào ảnh hưởng đến quyết định chọn trường đại học của học sinh lớp 12 tại huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên?
2 Mức độ tác động của các nhân tố đó đến quyết định chọn trường đại học của học sinh lớp 12?
3 Thông qua việc đánh giá mức độ tác động của các nhân tố đó đến quyết định chọn trường đại học của học sinh lớp 12 có những kiến nghị, giải pháp nào nhằm nâng cao hiệu quả công tác tư vấn hướng nghiệp cho học sinh lớp 12
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Các yếu tố tác động đến việc chọn trường đại học và ngành nghề của học sinh lớp 12 ở huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên trong kì thi tuyển sinh
ĐH – CĐ năm 2016
Phạm vi nghiên cứu: nghiên cứu quyết định chọn trường đại học của học sinh
lớp 12 tại huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên , cụ thể 4 trường THPT :
Trang 165 Phương pháp nghiên cứu
Để đạt mục tiêu nghiên cứu như trên, tác giả sử dụng phương pháp nghiên cứu
định tính và định lượng
Nghiên cứu định tính: Nghiên cứu tài liệu, lý thuyết liên quan đến lựa chọn
nghề nghiệp, các công trình nghiên cứu và kết hợp hỏi ý kiến chuyên gia, thảo luận nhóm và phỏng vấn phi cấu trúc để nắm được các khái niệm quan trọng và định hướng nghiên cứu, tìm ra các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định chọn trường đại học; từ đó
tiến hành thiết kế thang đo, đưa ra mô hình nghiên cứu và giả thiết nghiên cứu
Nghiên cứu định lượng: Khảo sát học sinh THPT chuẩn bị bước vào đại học
thông qua bảng câu hỏi Thông tin thu thập sẽ được xử lý bằng phần mềm SPSS 20.0 Thang đo được đánh giá bằng hệ số Cronbach alpha và thông qua phân tích các nhân
tố khám phá EFA Phân tích hồi quy bội được thực hiện để kiểm định mô hình và các giả thuyết
từ đó đưa các em tìm được một nghề nghiệp thích hợp, giải quyết công tác hướng nghiệp cho các em Đồng thời kết quả nghiên cứu của đề tài có thể là nguồn tài liệu tham khảo cho các nghiên cứu có liên quan đến hoạt động giáo dục hướng nghiệp
Trang 177 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung luận văn gồm
4 chương:
Chương 1: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu
Chương 2: Phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Kết quả nghiên cứu
Chương 4: Kết luận và kiến nghị
Trang 18CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU
1.1.1 Khái niệm hành vi
Theo từ điển Tiếng Việt: Hành vi con người là toàn bộ những phản ứng, cách cư
xử, biểu hiện ra bên ngoài của một con người trong một hoàn cảnh thời gian nhất định
Theo từ điển Tâm lý học Mỹ: Hành vi là thuật ngữ khái quát chỉ những hoạt động, phản ứng, phản hồi, di chuyển và tiến trình đó có thể đo lường được của bất cứ
cá nhân nào
1.1.2 Phân loại hành vi
Có thể phân chia thành 4 loại hành vi cơ bản: Hành vi bản năng; Hành vi kỹ xảo; Hành vi đáp ứng; Hành vi trí tuệ
1.1.2.1 Hành vi bản năng ( bẩm sinh di truyền)
Thoả mãn nhu cầu sinh lý của cơ thể
Trang 191.1.2.3 Hành vi đáp ứng
Là hành vi mới tự tạo trên cơ sở luyện tập, có tính mềm dẻo và biến đổi Nếu được định hình trên vỏ não và củng cố thì sẽ bền vững không thay đổi Ví dụ: Tập viết, làm xiếc…
1.1.2.4 Hành vi trí tuệ
Là hành vi ứng phó để tồn tại, phát triển và là những hành vi ngược lại với
sự tự nguyện của bản thân và không có sự lựa chọn
1.1.3 Thuyết hành vi dự định (Theory of Planned Behaviour – TPB)
Thuyết hành vi dự định TPB được đề xuất bởi Ajzen (1991) là một phần mở rộng
của lý thuyết hành động hợp lý TRA (Theory of Reasoned Action) bởi những hạn chế của mô hình ban đầu Ngoài các khái niệm thái độ, chuẩn chủ quan, Ajzen (1991) đã
chỉnh sửa TRA bằng cách bổ sung thêm khái niệm nhận thức kiểm soát hành vi (Perceived Behavioural Control) vào TRA Nhận thức kiểm soát hành vi là để giải quyết sự hạn chế của TRA Theo thuyết hành vi dự định TPB, nhận thức kiểm soát hành vi cùng với ý định hành vi có thể được sử dụng một cách trực tiếp để dự báo cho
sự thực hiện hành vi Ý định hành vi được xác định bởi thái độ, chuẩn chủ quan và nhận thức kiểm soát hành vi
Các khái niệm trong mô hình TPB được trình bày sau đây:
Thái độ (Attitude toward behavior): là ý kiến nói chung của 1 người về việc tán thành hay không tán thành đối với hành vi cụ thể nào đó.(Ajzen và Fishbein, 1980)
Chuẩn chủ quan (Subjective norm) là “nhận thức của một người về việc hầu hết những người quan trọng đối với cá nhân này nghĩ là anh ấy/ cô ấy nên hay không nên thực hiện nào đó” (Ajzen và Fishbein, 1980)
Trang 20Hình 1.1 Mô hình lý thuyết dự định TPB (Ajzen và Fishbein, 1975)
Nguồn: Ajzen và Fishbein, 1980, tham khảo Bang và cộng sự ,2000
1.1.4 Lý thuyết sự lựa chọn hợp lý
Thuyết lựa chọn duy lý còn gọi là thuyết lựa chọn hợp lý trong xã hội học
có nguồn gốc từ triết học, kinh tế học và nhân học vào thế kỷ 18, 19 Một số nhà triết học đã cho rằng bản chất của con người là vị kỷ, luôn tìm đến sự hài lòng, sự thỏa mãn
và lảng tránh nỗi khổ đau Một số nhà kinh tế học cổ điển thì từng nhấn mạnh vai trò động lực cơ bản của các động cơ kinh tế, lợi nhuận khi con người phải đưa ra quyết định lựa chọn hành động Đặc trưng thứ nhất có tính chất xuất phát điểm của sự lựa chọn duy lý chính là các cá nhân lựa chọn hành động
Thuyết lựa chọn duy lý dựa trên tiền đề cho rằng con người luôn hành động một cách có chủ đích, có suy nghĩ để lựa chọn và sử dụng các nguồn lực hợp lý nhằm đạt được kết quả tối ưu nhất với chi phí tối thiểu Thuật ngữ “lựa chọn” được dùng để nhấn mạnh việc phải cân nhắc tính toán để quyết định sử dụng loại phương tiện hay cách thức tối ưu trong số những điều kiện hay cách thức hiện có để đạt được mục tiêu trong điều kiện khan hiếm nguồn nhân lực Mục đích ở đây không chỉ hiểu đơn thuần
là (lãi, lợi nhuận, thu nhập) mà còn bao hàm cả những lợi ích về tinh thần và xã hội
Thuyết sự lựa chọn duy lý gắn liền với tên tuổi của các nhà xã hội học tiêu biểu như George Homans, Peter Blau, James Coleman Theo Homans khi lựa chọn trong
Thái độ
Chuẩn chủ quan
Động cơ tuân thủ
Niềm tin mang tính chuẩn tắc
Niềm tin về tác động của
thực hiện hành vi
Đánh giá tác động
Trang 21số các hành động có thể có, cá nhân sẽ chọn cách nào mà họ cho là tích của xác suất thành công của hành động đó với giá trị mà phần thưởng của hành động đó là lớn nhất Như vậy Homans đã nhấn mạnh đến đặc trưng thứ hai của sự lựa chọn hợp lý là quá trình tối ưu hóa
Thuyết lựa chọn duy lý đòi hỏi phải phân tích hành động lựa chọn của cá nhân trong mối liên hệ với cả hệ thống xã hội của nó bao gồm các cá nhân khác với những nhu cầu và sự mong đợi của họ, các khả năng lựa chọn và các sản phẩm đầu ra của từng lựa chọn cùng các đặc điểm khác Thuyết lựa chọn duy lý không chỉ để giải thích hành động xã hội trên cấp độ vi mô-hành động cá nhân, mặc dù nó còn có tên gọi khác
là thuyết hành động lựa chọn duy lý Thuyết này được xây dựng, phát triển để xem xét hoạt động chức năng của các hệ thống và thiết chế kinh tế, xã hội tức là trên cấp độ vĩ
mô Nó được dùng làm phương pháp để tiếp cận hành động của cá nhân, của nhóm và của cả hệ thống
Vận dụng thuyết lựa chọn hợp lý vào đề tài nghiên cứu tác giả muốn tìm hiểu những điều kiện, nguồn lực mà học sinh có và việc các em sử dụng những nguồn lực
ấy vào quá trình định hướng nghề nghiệp của mình như thế nào Các em học sinh THPT đang ở lứa tuổi đẹp nhất của đời người, ở các em luôn có một sức sống hết sức mạnh mẽ, và một sức trẻ sôi động Các em luôn muốn được khẳng định mình, được chứng tỏ cái tôi của bản thân Quá trình định hướng nghề nghiệp của các em cũng là một yếu tố để chứng minh là các em đang trưởng thành, đang tự lập, đang cố gắng tìm kiếm thông tin để có được một quyết định đúng đắn
Thuyết lựa chọn duy lý sẽ giúp cho tác giả tìm hiểu nhiều khía cạnh trong quá trình định hướng nghề nghiệp của các em Đứng trước những thuận lợi, khó khăn, những điều kiện sẵn có các em sẽ phải suy nghĩ và tính toán sao cho sự lựa chọn của mình phải là tốt nhất, phù hợp nhất với năng lực và nguyện vọng của bản thân Đó là
Trang 22tượng Mục đích cuối cùng của định hướng là có được một hướng đi phù hợp với mọi điều kiện, hoàn cảnh khách quan và chủ quan của chủ thể (Cao Thị Châu Thủy, 2010)
Định hướng là việc đưa ra một hướng đi cho hoạt động nào đó trên cơ sở phân tích kỹ khả năng, tài trí của từng đối tượng Mục đích cuối cùng của sự định hướng là những quyết định và hành động đúng đắn, phù hợp với mọi hoàn cảnh, điều kiện khách quan và chủ quan của chủ thể Như vậy, trước khi và trong khi xảy ra hành động, ý chí của con người luôn ý thức được mục đích của hành động đó
Sử dụng khái niệm “định hướng” theo quan niệm của tâm lý học, nhằm tìm hiểu định hướng nghề nghiệp của học sinh lớp 12 với tư cách là hành động có ý thức Ở đây, định hướng việc làm, nghề nghiệp của học sinh đã được suy nghĩ cân nhắc và lựa chọn dưới sự tác động của tư duy lý tính Đây là một hành động có mục đích Cụ thể là học sinh đã trả lời những câu hỏi như: Sau khi ra học hết phổ thông sẽ làm gì? Chọn ngành, nghề, trường nào? Ở đâu? Và họ cần phải chuẩn bị những gì, khả năng đáp ứng của họ ra sao? tức là họ sẽ biết được, xác định được những đặc điểm của nghề, đòi hỏi yêu cầu của nghề đó đối với họ Như vậy, sự định hướng, lựa chọn nghề nghiệp, việc làm của học sinh THPT được xem như một hành động có ý chí chủ quan là một định hướng nhằm đạt được mục tiêu nhất định
1.2.2 Nghề nghiệp
Lựa chọn nghề nghiệp là một trong những việc quan trọng mà học sinh lớp 12 sẽ phải thực hiện trong việc xác lập kế hoạch tương lai và quyết định đó sẽ ảnh hưởng đến họ trong suốt cuộc đời Bản chất của việc lựa chọn này là xoay quanh những gì mà học sinh THPT muốn làm lâu dài ở tương lai Vậy nghề nghiệp là gì?
Nghề nghiệp theo chữ Latinh (profession) có nghĩa là công việc chuyên môn được hình thành một cách chính thống, là dạng lao động đòi hỏi một trình độ học vấn nào đó, là hoạt động cơ bản giúp con người tồn tại
Theo tác giả Nguyễn Hùng (2008) :“ Những chuyên môn có những đặc điểm chung, gần giống nhau được xếp thành một nhóm chuyên môn và được gọi là nghề Nghề là tập hợp của một nhóm chuyên môn cùng loại, gần giống nhau Chuyên môn là một dạng lao động đặc biệt, mà qua đó con người dùng sức mạnh vật chất và sức mạnh
Trang 23tinh thần của mình để tác động vào những đối tượng cụ thể nhằm biến đổi những đối tượng đó theo hướng phục vụ mục đích, yêu cầu và lợi ích của con người”
“Nghề nghiệp là một lĩnh vực sử dụng sức lao động vật chất và tinh thần của con người một cách có giới hạn, cần thiết cho xã hội (do sự phân công lao động xã hội
mà có) Nó tạo cho con người khả năng sử dụng lao động của mình để thu lấy những phương tiện cần thiết cho việc tồn tại và phát triển”.( E.A.Klimov trích theo Nguyễn Văn hộ, 2006)
Nghề nghiệp là một lĩnh vực hoạt động trong đó con người sử dụng sức lao động vật chất hay tinh thần tuỳ theo sự phân công lao động của xã hội Nó giúp cho con người sử dụng sức lao động của mình để tạo ra những cái cần thiết cho xã hội, nhờ đó con người có thể thoả mãn những nhu cầu cần thiết cho việc tồn tại và phát triển của mình
“Nghề nghiệp như một dạng lao động vừa mang tính xã hội (sự phân công xã hội), vừa mang tính cá nhân (nhu cầu bản thân) trong đó con người với tư cách là chủ thể hoạt động đòi hỏi để thỏa mãn những nhu cầu nhất định của xã hội và cá nhân”.(Nguyễn Văn Hộ , 2006)
Như vậy, nghề nghiệp dùng trong đề tài này là khái niệm chung dùng để chỉ
những công việc sẽ gắn bó với bản thân của mỗi người Nghề nghiệp là một dạng lao động đòi hỏi ở con người một quá trình đào tạo chuyên biệt, có những kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo, chuyên môn nhất định, có phẩm chất đạo đức phù hợp với yêu cầu của từng loại hình lao động tương ứng Nhờ quá trình hoạt động nghề nghiệp, con người
có thể tạo ra sản phẩm thỏa mãn những nhu cầu vật chất, tinh thần của cá nhân, cộng đồng và xã hội
Như chúng ta biết, nghề nghiệp được hình thành và phát triển cùng với sự hình thành, phát triển và tiến bộ của xã hội loài người, đặc biệt trong thời đại ngày nay, thời đại của nền kinh tế kỹ thuật, thời đại của công nghiệp hoá, hiện đại hoá đã tạo nên sự đa dạng và phong phú cho thế giới nghề nghiệp Do vậy cũng có nhiều cách phân loại nghề khác nhau Trong nghiên cứu này, tác giả phân loại nghề theo đối tượng lao động
Trang 241.2.3 Hướng nghiệp và tư vấn hướng nghiệp
- Cho ta hiểu khái quát chung về hướng nghiệp đối với toàn xã hội như phân luồng học sinh phổ thông, phân công lao động theo ngành nghề, vùng kinh tế;
- Giúp học sinh thanh niên chọn ngành nghề phù hợp
Theo tác giả Mạc Văn Trang (1993): Hướng nghiệp là quá trình tuyên truyền, hướng dẫn cho đối tượng hiểu biết về thế giới nghề nghiệp, thị trường lao động và đặc điểm của cá nhân; trên cơ sở đó họ có thể lựa chọn học nghề, tìm việc làm phù hợp với nguyện vọng, hoàn cảnh, năng lực của cá nhân
Theo từ điển Giáo dục học, hướng nghiệp là hệ thống các biện pháp giúp đỡ học sinh làm quen, tìm hiểu các nghề, cân nhắc, lựa chọn nghề nghiệp phù hợp với nguyện vọng, năng lực, sở trường của mỗi người với nhu cầu, điều kiện thực tế khách quan của xã hội (Từ điển giáo dục, Tr.209)
Theo Phạm Viết Vượng (2010), hướng nghiệp là hoạt động định hướng nghề
nghiệp của các nhà sư phạm cho học sinh nhằm giúp họ chọn một nghề phù hợp với hứng thú, năng lực của cá nhân và yêu cầu nhân lực của xã hội
Đã có nhà tâm lý học cho rằng: “Hướng nghiệp, đó là một hệ thống các biện pháp tâm lý – giáo dục, y học, nhà nước nhằm giúp cho con người đi vào cuộc sống thông qua việc lựa chọn cho mình một nghề nghiệp vừa đáp ứng nhu cầu xuất hiện, vừa phù hợp với hứng thú năng lực của bản thân”( K.K Platonov,1997)
Trang 25Hướng nghiệp là một hệ thống các biện pháp tác động đặc biệt vào quá trình định hướng nghề nghiệp của cá nhân bằng cách giúp họ nhận thức được bản thân, nghề nghiệp và nhu cầu thị trường lao động, qua đó cá nhân tự quyết định chọn lấy một nghề phù hợp đảm bảo cho họ thành đạt trong công việc và hạnh phúc trong lao động nghề nghiệp sau này
1.2.3.2 Tư vấn hướng nghiệp
Tư vấn hướng nghiệp là tư vấn về sự hỗ trợ khách quan và cả cách nỗ lực chủ quan trong quá trình hướng nghiệp Nó có lợi cho người đang cần tư vấn hướng nghiệp và cũng lợi cho cả người cần dẫn dắt người khác hướng nghiệp Như vậy, tư vấn hướng nghiệp là một quá trình hoạt động tích cực, tự giác của học sinh dưới sự hướng dẫn của nhà trường, của gia đình cùng sự hỗ trợ của các tổ chức xã hội để giúp học sinh tìm hiểu về thế giới nghề nghiệp và chọn được ngành nghề phù hợp trong tương lai
Tư vấn có hiệu quả thiết thực sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho học sinh cuối cấp chọn đúng ngành, nghề phù hợp với nguyện vọng, sở thích, năng lực học tập của bản thân và nhu cầu về nguồn nhân lực của xã hội Chọn đúng ngành, nghề phù hợp không gây lãng phí thời gian, tiết kiệm tiền của cho gia đình và xã hội Đó là điều hết sức cần thiết trong công tác tư vấn, định hướng nghề nghiệp cho học sinh hiện nay
Trong hoạt động giáo dục hướng nghiệp ở trường THPT, hoạt động tư vấn nghề
có liên quan tới hiệu trưởng, ban hướng nghiệp, giáo viên chủ nhiệm, giáo viên bộ môn, Học sinh (HS) là đối tượng của hoạt động tư vấn đồng thời là chủ thể của quá trình tiếp nhận thông tin nghề nghiệp do hoạt động tư vấn mang lại Do đó, học sinh không chỉ có nhiệm vụ tiếp thu thông tin do chủ thể tư vấn cung cấp mà cùng với nó là quá trình lựa chọn những thông tin hữu ích phù hợp với năng lực, sở trường, tình trạng sức khỏe và nhu cầu lựa chọn nghề nghiệp của bản thân
Vì vậy, công tác hướng nghiệp giúp cho học sinh hiểu được hệ thống nghề nghiệp trong xã hội, phương hướng phát triển nền kinh tế quốc dân nói chung và của địa phương nói riêng nhằm xác định cho bản thân trách nhiệm, nghĩa vụ sẵn sàng tham gia vào lao động sản xuất Trên cơ sở của sự hiểu biết nghề nghiệp và nền kinh tế quốc dân, của địa phương, những đòi hỏi khách quan của hoàn cảnh, biết đối chiếu với sự phát triển, năng
Trang 26lực, sở trường, tình trạng tâm sinh lý sức khỏe của bản thân để điều chỉnh động cơ lựa chọn nghề Tạo ra những điều kiện cần thiết về cơ sở vật chất, về các mối quan hệ xã hội
và ý thức cầu tiến bộ của học sinh để các em tích cực tham gia các hình thức lao động kỹ thuật do nhà trường tổ chức, nâng cao ý thức và thái độ lao động, có dịp thử sức mình trong hoàn cảnh thực tiễn, từ đó kết luận về sự phù hợp nghề nghiệp của bản thân Phải làm cho mỗi học sinh có được tính chủ động trong lựa chọn nghề, có khả năng tự quyết định được con đường nghề nghiệp tương lai của mình
Hoạt động nhận thức và lựa chọn nghề của học sinh chịu sự tác động một phần bởi hoạt động tư vấn hướng nghiệp của gia đình, nhà trường, các tổ chức tư vấn nghề nghiệp… Qua đó, tác giả tìm hiểu các cá nhân, tổ chức này đã thực hiện được nhiệm vụ của mình trong việc truyền đạt và định hướng nghề nghiệp cho các em HS lựa chọn hay chưa và các em HS đã lĩnh hội được những gì từ những hoạt động đó, các em đã có nhận thức như thế nào về bản thân, nhu cầu xã hội và nghề nghiệp mà các em lựa chọn
1.2.3.3 Định hướng nghề nghiệp
Định hướng nghề nghiệp là một khái niệm bao gồm hai yếu tố liên kết với nhau chặt chẽ: yếu tố thứ nhất chỉ trạng thái động của khái niệm - là quá trình xác định cho mình một hướng đi, hướng phấn đấu, rèn luyện, và yếu tố thứ hai - sự cần thiết phải thực hiện hoạt động của bản thân theo một hướng đã được xác định Tuy nhiên, với ý nghĩa thứ hai này, không thể không có một mục tiêu, một đích nào đó làm chuẩn để xác định hướng hành động
Định hướng nghề nghiệp được hiểu là một quá trình hoạt động được chủ thể tổ chức chặt chẽ theo một lô gíc hợp lý về không gian, thời gian, về nguồn lực tương ứng với những gì mà chủ thể có được nhằm đạt tới những yêu cầu đặt ra cho một lĩnh vực nghề nghiệp hoặc cụ thể hơn là của một nghề nào đó
Nguồn: Nguyễn Văn Hộ (2006), Hoạt động hướng nghiệp và giảng dạy kỹ thuật trong trường THPT, NXB Giáo Dục, tr.11
Định hướng nghề nghiệp là việc thông tin cho học sinh về đặc điểm hoạt động và yêu cầu phát triển của các nghề trong xã hội, đặc biệt là các nghề và các nơi đang cần
Nhu cầu của
chủ thể Hoạt động của chủ thể
Mục đích (nghề nghiệp)
Trang 27nguồn lao động trẻ tuổi có văn hóa, về những yêu cầu tâm sinh lý của mỗi nghề, về tình hình phân công và yêu cầu điều chỉnh lao động ở cộng đồng dân cư,về hệ thống trường lớp đào tạo nghề của nhà nước, của tập thể và tư nhân (D.V Khuđomixki, 1997)
Như vậy: định hướng nghề nghiệp là việc hình thành trong con người một hứng thú đối với hoạt động nghề nghiệp nhất định, việc lựa chọn cho con người một nghề nghiệp thích hợp nhất có chú ý tới đặc điểm tâm lý, lợi ích, khả năng của người đó và
cả nhu cầu của nền kinh tế về sức lao động thuộc những ngành nghề tương ứng Việc định hướng nghề nghiệp được thực hiện bằng cách giới thiệu cho mọi người về các lĩnh vực và các hoạt động, các nghề nghiệp cũng như các điều kiện và dạng công việc trong phạm vi đó
Gia đình, nhà trường, tổ chức xã hội, tổ chức hướng nghiệp sẽ định hướng cho
HS lớp 12 về mặt nhận thức và các ngành nghề để các em lựa chọn một nghề nghiệp thích hợp Và trên cơ sở đó, các em HS sẽ lựa chọn những ngành nghề mà các em có hứng thú, phù hợp với năng lực bản thân và nhu cầu xã hội Đồng thời, các em sẽ thực hiện các hoạt động trang bị kiến thức và chuẩn bị cho nghề nghiệp tương lai
Trong quá trình định hướng nghề nghiệp cho học sinh cần chú ý những định hướng sau:
- Định hướng nhận thức đối với nghề nghiệp
Nhận thức là sự phản ánh tồn tại (vật chất và tinh thần) vào bộ óc con người, sự phản ánh này không đi theo một chiều mà là quá trình biện chứng dựa trên những hoạt động tích cực của chủ thể trong mối quan hệ với tồn tại
Nhận thức nghề nghiệp là quá trình phản ánh các đặc trưng cơ bản của nghề nghiệp, những biểu hiện định giá của xã hội trong những điều kiện phát triển kinh tế -
xã hội cụ thể với giá trị của nghề nghiệp và những đặc điểm phát triển tâm lý, sinh lý của những con người làm việc trong nghề nghiệp đó
Nhận thức nghề nghiệp là một trong những thành phần của xu hướng nghề nghiệp (bao gồm: nhận thức nghề, tình cảm nghề và hành động chọn nghề) Nhận thức nghề nghiệp kết hợp với những thành phần còn lại của xu hướng nghề tạo nên kết quả chọn nghề của học sinh đối với một nghề xác định Xuất phát từ nhận thức nghề với hệ thống tri thức về nghề, về những đòi hỏi khách quan của nghề đối với những cá nhân
Trang 28hoạt động trong lĩnh vực nghề nghiệp đó để đối chiếu với những phẩm chất, năng lực của cá nhân để tìm ra sự phù hợp đối với ngành nghề được lựa chọn Có thể nói, nhận thức nghề nghiệp là cơ sở cốt lõi mang tính định hướng cho hành động lựa chọn nghề của học sinh Qua đó sẽ có tác dụng thúc đẩy học sinh có hành động chọn nghề phù hợp với nguyện vọng, khả năng của mình để từ đó biết trân trọng và tha thiết gắn bó với công việc của bản thân Điều này còn là động lực giúp học sinh dễ dàng đạt được những thành công trong nghề để có thể có những đóng góp nhiều hơn cho gia đình và
xã hội đồng thời mang lại cuộc sống tốt đẹp cho bản thân Vì vậy, để hoạt động định hướng nghề nghiệp cho các em học sinh mang lại hiệu quả cao thì yêu cầu đầu tiên phải giúp các em nhận thức rõ về nghề (đặc trưng nghề) mà các em đang cân nhắc lựa chọn, xem xét với nhu cầu mong muốn của bản thân, đặc điềm bản thân kết hợp với mong muốn của gia đình từ đó có thể đưa ra những quyết định đúng đắn (Trần Thị Phùng Hà, 2014)
- Định hướng thái độ đối với nghề nghiệp
Hành vi chọn nghề của tuổi trẻ có liên quan nhiều tới thái độ của họ Thái độ đối với nghề nghiệp là sự đánh giá chung, mang tính lâu dài của cá nhân về giá trị nghề nghiệp Thái độ đó có thể là khuynh hướng phản ánh tích cực hoặc tiêu cực của con người đối với nghề nghiệp Định hướng về thái độ của học sinh đối với nghề nghiệp bao gồm 3 yếu tố sau:
+Yếu tố tình cảm: Bao gồm các cảm xúc chấp nhận, quan tâm, say mê hoặc thờ ơ với nghề nghiệp
+Yếu tố nhận thức: Là quan niệm và hiểu biết của cá nhân về một nghề cụ thể nào đó mà họ có dự định lựa chọn
+Yếu tố hành vi: Là sự thể hiện quan niệm và tình cảm của bản thân cá nhân đối với một nghề cụ thể nào đó thành hành động Hành động này có thể là chú ý học tốt những môn có liên quan tới sự lựa chọn nghề, tìm đọc các tài liệu nói về nghề đó, tuyên truyền nghề đó cho bạn bè Trên cơ sở đó học sinh đưa ra được hành vi lựa chọn nghề đúng đắn cho bản thân mình (Trần Thị Phùng Hà, 2014)
Trang 291.2.4 Lựa chọn nghề nghiệp
Lựa chọn được coi là kết quả của sự định hướng Trên cơ sở mà ta định hướng trước ta có thể lựa chọn con đường cho chính mình Ta lựa chọn cho mình một mục tiêu riêng mà ta cho là phù hợp với khả năng và năng lực của bản thân
Hiện nay trong xã hội xuất hiện nhiều nghề mới để đáp ứng các nhu cầu của sự tiến bộ mọi mặt: kinh tế, kĩ thuật, văn hóa, khoa học Tuy nhiên, để lựa chọn một hướng đi thích hợp trong tương lai thì không phải là dễ, bởi hoạt động này chịu sự tác động của nhiều yếu tố Đặc biệt với các em HS lớp 12 khi chuẩn bị rời ghế nhà trường phổ thông, việc lựa chọn một nghề để các em theo đuổi chịu sự ảnh hưởng về nhiều mặt từ năng lực, nhận thức cá nhân đến các yếu tố thuộc về gia đình và xã hội, cũng như các đặc điểm và giá trị của nghề mà các em lựa chọn
1.3 Tổng quan các nghiên cứu và đề xuất mô hình nghiên cứu
Để cung cấp một cái nhìn tổng thể về vấn đề được nghiên cứu, tôi sẽ trình bày tóm tắt một số nghiên cứu, các bài viết, sách, tư liệu có liên quan đến quá trình chọn trường đại học của học sinh
1.3.1 Các nghiên cứu nước ngoài
Nghiên cứu của D.W Chapman (1981) đã cho rằng có 2 nhân tố chính ảnh hưởng đến quyết định chọn trường ĐH của học sinh đó là yếu tố về đặc điểm cá nhân của học sinh và yếu tố về các ảnh hưởng bên ngoài bao gồm các cá nhân có ảnh hưởng (bạn bè, gia đình, thầy cô ở trường cấp 3), đặc điểm cố định của trường ĐH (học phí, vị trí địa lý, các chương trình hỗ trợ) và nổ lực giao tiếp của trường ĐH với học sinh (tài liệu có sẵn, đến thăm trường ĐH, tuyển sinh)
Nghiên cứu của Hanson & Litten (1982) đã phát triển thêm mô hình nghiên cứu của D W Chapman 1981 và bổ sung các yếu tố về thuộc tính cá nhân; môi trường, chính sách cộng đồng, hoạt động của trường ĐH có ảnh hưởng không nhỏ đến quyết định chọn trường ĐH của học sinh
Nghiên cứu của Joseph Kee Ming Sia (2010) đã phát triển mô hình của D W Chapman (1981) và Nurlida (2009) và chứng minh rằng yếu tố về danh tiếng của trường ĐH, cơ sở vật chất và những hỗ trợ tài chính của trường ĐH có tác động mạnh
Trang 30đến quyết định chọn trường ĐH của học sinh phổ thông Ngoài ra, tác giả cũng đã chỉ
ra rằng biến trung gian là sự hài lòng về thông tin cũng ảnh hưởng đến quyết định chọn trường của học sinh Do đó, trường ĐH cần nỗ lực hơn nữa trong việc cung cấp thông tin đến cho học sinh, giúp họ có những lựa chọn tốt hơn trong việc chọn trường
Nghiên cứu của Christine Joy Tan (2009), đã cho rằng cơ hội nghề nghiệp trong tương lai, sự an toàn và chương trình học tập là ba nhân tố ảnh hưởng mạnh nhất đến quyết định chọn trường của học sinh Ngoài ra, tác giả cũng cho rằng sự tác động của cha mẹ có ảnh hưởng nhiều hơn bạn bè và nhân viên tư vấn trong quá trình quyết định chọn trường của học sinh
Nghiên cứu của Andriani Kusumawati (2010) đã cho rằng có 5 nhân tố quan trọng đó là chi phí, danh tiếng, trường gần nhà, cơ hội nghề nghiệp trong tương lai và cha mẹ ảnh hưởng đến quyết định chọn trường của học sinh Trong đó, yếu tố về cơ hội nghề nghiệp trong tương lai là một trong những yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng quyết định đến việc chọn trường ĐH của học sinh Tuy nhiên, nghiên cứu chỉ giới hạn ở những trường công lập và ở những vùng kinh tế phát triển ở Indonesia mà chưa
mở rộng sang những vùng ít phát triển hơn và những trường dân lập
Nghiên cứu của Đại học Texas At Austin (2011), qua điều tra 220 mẫu kết quả cho thấy có 6 nhân tố ảnh hưởng đến quyết định chọn trường của học sinh là hỗ trợ học tập và dịch vụ học sinh (academic support and student services), chi phí cho việc tham dự học tập tại UT Austin (the cost of attending UT Austin), khoa (faculty), khí hậu và sự an toàn của khuôn viên trường (campus climate and safety), danh tiếng trường ĐH (university reputation), và sự sẵn sàng nghề nghiệp (career readiness)
Ngoài ra, trong nghiên cứu của M.J Burns (2006) còn cho rằng “tỉ lệ chọi”, điểm tuyển sinh đầu vào là các yếu ảnh hưởng đến quyết định chọn trường của học sinh
1.3.2 Các nghiên cứu ở Việt Nam
Ở Việt Nam giáo dục hướng nghiệp tuy được xếp ngang tầm quan trọng với các mặt giáo dục khác như đức dục, trí dục, thể dục, mỹ dục nhưng bản thân nó lại rất non trẻ, mới mẻ cả về nhận thức, lý luận và thực tiễn, rất thiếu về lực lượng, không mang tính chuyên nghiệp Vì vậy, việc thực hiện không mang lại nhiều hiệu quả Vấn đề hướng nghiệp chỉ thực sự nóng lên và được xã hội quan tâm khi nền kinh tế đất nước
Trang 31bước sang cơ chế thị trường với sự đa dạng của các ngành nghề và nhu cầu rất lớn về chất lượng nguồn nhân lực
Đảng và Nhà nước ta cũng rất quan tâm công tác hướng nghiệp, điều này được thể hiện qua các chỉ thị, nghị quyết, văn kiện, các nguyên lý giáo dục của Đảng
và nhà nước Có thể lấy ví dụ như nghị định 126/CP ngày 19/03/1981 của Chính phủ
về công tác hướng nghiệp trong trường phổ thông và việc sử dụng hợp lý HS các cấp PTCS và THPT tốt nghiệp ra trường Trong văn kiện Đại hội Đảng lần thứ IX đã ghi
rõ “Coi trọng công tác hướng nghiệp và phân luồng HS trung học, chuẩn bị cho thanh niên, thiếu niên đi vào lao động nghề nghiệp phù hợp với sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong cả nước và từng địa phương” Luật Giáo dục năm 2005 đã khẳng định: “Giáo dục THPT nhằm giúp cho HS củng cố và phát triển những kết quả của THCS, hoàn thiện học vấn để tiếp tục học đại học, cao đẳng, trung học nghề nhiệp, học nghề, và đi vào cuộc sống lao động” Chiến lược phát triển giáo dục năm 2001 -
2010 đã xác định rõ: “Thực hiện chương trình phân ban hợp lý nhằm đảm bảo cho
HS có học vấn phổ thông, cơ bản theo một chuẩn thống nhất, đồng thời tạo điều kiện cho sự phát huy năng lực của mỗi HS, giúp HS có những hiểu biết về kỹ thuật, chú trọng hướng nghiệp để tạo điều kiện thuận lợi cho việc phân luồng sau THPT, để HS vào đời hoặc chọn ngành nghề học tiếp sau khi tốt nghiệp”
Về mặt nghiên cứu khoa học hướng nghiệp ở Việt Nam, theo các chuyên gia thì ngành hướng nghiệp Việt Nam đã có những bước phát triển mạnh mẽ vào những năm
1970, 1980
Phạm Tất Dong là người có những đóng góp rất lớn cho giáo dục hướng nghiệp Việt Nam, ông đã dày công nghiên cứu các vấn đề lí luận và thực tiễn cho giáo dục hướng nghiệp như xác định mục đích, ý nghĩa, vai trò của hướng nghiệp; hứng thú, nhu cầu và động cơ nghề nghiệp; hệ thống các quan điểm, nguyên tắc hướng nghiệp, các nội dung, phương pháp, biện pháp giáo dục hướng nghiệp Điều này được thể hiện ở rất nhiều các báo cáo, bài báo, sách, giáo trình của ông như bài:
“Hướng nghiệp cho thanh niên”, đăng trên tạp chí Thanh Niên số 8 năm 1982; Báo cáo: “Một con đường hình thành lý tưởng nghề nghiệp cho HS lớn”; các tác phẩm như: “Nghề nghiệp tương lai - giúp bạn chọn nghề” hay cuốn “Tư vấn hướng nghiệp -
sự lựa chọn cho tương lai” Trong một công trình nghiên cứu gần đây ông đã chỉ ra
Trang 32rằng: “Công tác hướng nghiệp góp phần điều chỉnh việc chọn nghề của thanh niên theo hướng chuyển đổi cơ cấu kinh tế” Bởi vì theo tác giả, đất nước đang trong giai đoạn đẩy mạnh sự nghiệp CNH - HĐH, trong quá trình CNH - HĐH, cơ cấu kinh tế
sẽ chuyển theo hướng giảm tỉ trọng nông nghiệp, tăng tỉ trọng công nghiệp, dịch vụ
Xu hướng chọn nghề của thanh niên phù hợp với xu hướng chuyển cơ cấu kinh tế là một yêu cầu của công nghiệp
Nguyễn Văn Hộ cũng là một trong những người rất tâm đắc và nghiên cứu chuyên sâu về giáo dục hướng nghiệp Trong luận án tiến sĩ của mình tác giả đã đề cập đến vấn đề: “Thiết lập và phát triển hệ thống hướng nghiệp cho HS Việt Nam” Tác giả đã xây dựng được luận chứng cho hệ thống giáo dục hướng nghiệp trong điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Gần đây (2006), ông cũng đã cho xuất bản cuốn sách: “Hoạt động giáo dục hướng nghiệp và giảng dạy kĩ thuật trong trường THPT”, cuốn sách đã trình bày một cách hệ thống về cơ sở lí luận của giáo dục hướng nghiệp, vấn đề tổ chức giáo dục hướng nghiệp trong trường THPT và giảng dạy kĩ thuật ở nhà trường THPT trong điều kiện kinh tế thị trường và sự nghiệp CNH - HĐH đất nước hiện nay
Trong thời gian gần đây nhằm hiện thực hoá những phương hướng, mục tiêu mà Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đã đề ra về giáo dục hướng nghiệp và phân luồng
HS phổ thông Đã có rất nhiều những nghiên cứu về hướng nghiệp ở nhiều cách tiếp cận khác nhau tạo nên một giai đoạn mới với sự đa dạng trong nghiên cứu khoa học hướng nghiệp ở Việt Nam
Kết quả nghiên cứu của Khoa Tâm lý – Đại học sư phạm Hà Nội đã rút ra kết luận: Các hình thức hướng nghiệp trong nhà trường phổ thông hiện tại chưa thực sự phong phú và được tổ chức thường xuyên Nhiều hình thức hấp dẫn, có sức thuyết phục tốt như tham quan thực tế các cơ sở sản xuất địa phương, nghe các nghệ nhân nói chuyện về nghề … ít được thực hiện Nhu cầu tìm hiểu nghề là nhu cầu chính đáng của học sinh, nhưng khi tìm hiểu về nghề thì các em gặp phải rất nhiều khó khăn như nhà trường ít tổ chức hướng nghiệp, các nội dung hướng nghiệp thực hiện không đồng bộ… Do tác động của nhà trường trong việc hướng nghiệp chưa cao nên các thông tin về nghề mà học sinh thu nhận được khi chọn nghề phần lớn từ các kênh
Trang 33ngoài nhà trường, ngoài giáo viên như từ cha mẹ người thân, từ những người đang làm trong nghề đó hay từ các sách báo hoặc phương tiện thông tin đại chúng khác
Kết quả nghiên cứu của các tác giả Trần Văn Quí, Cao Hào Thi (2009), qua kết quả phân tích 227 bảng trả lời của học sinh lớp 12 năm học 2008-2009 của 5 trường THPT tại Quảng Ngãi cho thấy 5 yếu tố: yếu tố cơ hội việc làm trong tương lai; yếu tố đặc điểm của trường đại học; yếu tố về bản thân cá nhân học sinh; yếu tố về các cá nhân (gia đình, bạn bè) có ảnh hưởng đến quyết định của học sinh và yếu tố thông tin
có sẵn ảnh hưởng đến quyết định chọn trường đại học
Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Đức Nghĩa (2010), đã đưa ra kết luận: Sinh viên thường chọn các ngành đang hoặc có thể phát triển trong xã hội, nhưng chưa quan tâm đến các ngành cần thiết cho sự phát triển của xã hội… Một xu thế khác trong chọn ngành nghề của thí sinh là chọn những trường có điểm chuẩn trúng tuyển thấp trong kỳ tuyển sinh trước (để tăng cơ may trúng tuyển)
Nghiên cứu của Nguyễn Phương Toàn (2011) Kết quả kiểm định mô hình lý thuyết cho thấy mô hình đạt được độ tương thích với dữ liệu, các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định chọn trường đại học của học sinh với 5 yếu tố ảnh hưởng từ mạnh đến yếu như sau: Yếu tố về mức độ đa dạng và hấp dẫn ngành đào tạo; yếu tố về đặc điểm của trường đại học; yếu tố về khả năng đáp ứng sự mong đợi sau khi ra trường; yếu tố về những nỗ lực giao tiếp của trường đại học và yếu tố về danh tiếng của trường đại học
Các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài đã đưa ra các yếu tố tác động đến việc chọn trường và nghề của học sinh lớp 12 nói chung nhưng vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu và đánh giá tác động các yếu tố chọn trường nghề học sinh lớp 12 tại huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên Đề tài này không trùng tên và nội dung các nghiên cứu khoa học đã công bố trước đó Từ các nghiên cứu liên quan tổng kết các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định chọn trường của học sinh
Trang 34Bảng 1.1 Tổng hợp các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định chọn trường của học sinh
2 Điểm tuyển sinh đầu vào
Trần Văn Quí & Cao
Hào Thi (2009)
1 Cơ hội việc làm trong tương lai
2 Thông tin có sẵn về trường ĐH
3 Bản thân cá nhân học sinh
4 Nhân tố về các cá nhân bên ngoài (gia đình, bạn bè)
5 Đặc điểm cố định của trường ĐH Christine Joy Tan
4 Khí hậu và khuôn viên trường
5 Danh tiếng trường
6 Sự sẵn sàng nghề nghiệp
Trang 35Nguyễn Phương
Toàn (2011)
1 Đặc điểm của trường ĐH
2 Mức độ đa dạng và hấp dẫn của ngành đào tạo
3 Khả năng đáp ứng sự mong đợi sau khi ra trường
4 Nổ lực giao tiếp của trường ĐH
5 Danh tiếng trường ĐH
CÁC ẢNH HƯỞNG BÊN NGOÀI
Ấn tượng trường
ĐH
chọn
trường
ĐH
Trang 36Hình 1.3 Mô hình các yếu tố ảnh hưởng chọn trường ĐH của học sinh
( Trần Văn Quí và Cao Hào Thi, 2009)
Căn cứ vào các nghiên cứu đã thực hiện trước đây, cùng với các đặc điểm đặc trưng của học sinh Việt Nam, nghiên cứu đề xuất mô hình các nhân tố chính ảnh hưởng đến quyết định chọn trường ĐH của học sinh 12 THPT như sau
1.3.3 Đề xuất mô hình nghiên cứu
Dựa trên các tài liệu nghiên cứu, luận văn vận dụng vào nghiên cứu cho trường hợp cụ thể của học sinh khối 12 trên địa bàn huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên với mô hình nghiên cứu có 8 nhóm yếu tố ảnh hưởng đến quyết định chọn trường đại học của học sinh lớp 12 trên địa bàn huyện Tuy An Cụ thể ở hình 1.3:
Quyết định dự thi vào đại học
Yếu tố cá nhân ảnh hưởng
đến quyết định của học sinh
Cơ hội việc làm trong
tương lai
Bản thân cá nhân
Đặc điểm cố định của trường đại học
Thông tin có sẵn về trường
đại học
Trang 37Hình 1.4 Mô hình nghiên cứu đề xuất
Mô hình nghiên cứu đề xuất được xây dựng dựa trên tổng hợp nhiều mô hình nghiên cứu liên quan đến đề tài nghiên cứu Để rõ hơn luận văn tiến hành tổng hợp nguồn gốc của các nhân tố trong mô hình nghiên cứu đề xuất như sau:
Quyết định chọn trường đại
Yếu tố phù hợp với đặc điểm cá nhân
Yếu tố đảm bảo việc làm ở
tương lai Yếu tố cơ hội trúng tuyển
Yếu tố về chính sách học bổng, học phí, cơ hội du học
Yếu tố hình ảnh danh tiếng trường đại học
Yếu tố sự đa dạng ngành
đào tạo
Yếu tố tác động của gia đình, bạn bè
Trang 38Bảng 1.2 Nguồn gốc các nhân tố trong mô hình nghiên cứu
Joseph Kee Ming Sia (2010)
Christine Joy Tan (2009),
Andriani Kusumawat
i (2010)
Đại học Texas At Austin (2011)
M.J
Burns (2006)
Trần Văn Quí &
Cao Hào Thi (2009)
Nguyễn Phương Toàn (2011)
Nhân tố theo
mô hình lý thuyết của tác giả
Phù hợp với đặc điểm cá nhân
Phù hợp với đặc điểm cá nhân
Cơ hội trúng tuyển
trúng tuyển
Cơ hội trúng tuyển
Đảm bảo việc làm ở tương lai
Đảm bảo việc làm ở tương lai
Đảm bảo việc làm ở tương lai
Đảm bảo việc làm ở tương lai
Đảm bảo việc làm ở tương lai
Đảm bảo việc làm ở tương lai
Chính sách học bổng, học phí, cơ hội du học
Chính sách học bổng, học phí, cơ hội du học
Chính sách học bổng, học phí, cơ hội du học
Chính sách học bổng, học phí,
cơ hội du học
Sự đa dạng ngành đào tạo
Sự đa dạng ngành đào tạo
Sự đa dạng ngành đào tạo
Danh tiếng trường đại học
Danh tiếng trường đại học
Danh tiếng trường đại học
Danh tiếng trường đại học
Danh tiếng trường đại học
Tác động của gia đình, bạn
bè
Tác động của gia đình,
Tác động của gia đình, bạn
bè
Tác động của gia đình, bạn bè
Trang 391.3.4 Giả thuyết nghiên cứu và định nghĩa các giả thuyết của luận văn
Từ mô hình nghiên cứu đề nghị, chúng tôi đưa ra các giả thuyết nghiên cứu của
đề tài như sau:
Yếu tố về chính sách của trường đại học
Các chính sách có thể được đề ra và thực hiện ở những tầng nấc khác nhau, từ các
tổ chức quốc tế đến từng quốc gia, từ nhà nước đến các đơn vị, tổ chức chính trị xã hội, doanh nghiệp, nhằm giải quyết những vấn đề đặt ra cho mỗi tổ chức đó và chúng chỉ có hiệu lực thi hành trong tổ chức đó
Từ điển bách khoa Việt Nam đã đưa ra khái niệm về chính sách như sau: “Chính sách là những chuẩn tắc cụ thể để thực hiện đường lối, nhiệm vụ Chính sách được thực hiện trong một thời gian nhất định, trên những lĩnh vực cụ thể nào đó Bản chất, nội dung
và phương hướng của chính sách tùy thuộc vào tính chất của đường lối, nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hóa…”
Theo James , R at al (1999): “Chính sách là một quá trình hành động có mục đích theo đuổi bởi một hoặc nhiều chủ thể trong việc giải quyết các vấn đề mà họ quan tâm”
Như vậy, có thể hiểu: Chính sách là chương trình hành động do các nhà lãnh đạo hay nhà quản lý đề ra để giải quyết một vấn đề nào đó thuộc phạm vi thẩm quyền của mình Và từ đây có thể xây dựng khái niệm chính sách trường đại học đối với học sinh viên viên là chương trình hành động do nhà trường đề ra nhằm tạo điều kiện tốt nhất cho người học
Hơn nữa khi nghiên cứu về hành vi chọn trường đại học của người học đã có nhiều nghiên cứu định tính và định lượng nhận định về vấn đề này Tiêu biểu nhất là trong nghiên cứu của D.W.Chapman (1981), ông cho rằng các yếu tố cố định của
trường đại học như học phí, vị trí địa lý, chính sách hỗ trợ về chi phí hay môi trường
ký túc xá sẽ có ảnh hưởng đến quyết định chọn trường của học sinh
Dựa vào nhóm yếu tố liên quan đến các điều kiện mà nhà trường trang bị cho sinh viên được gọi chung là nhóm yếu tố chính sách, giả thuyết H1 được phát biểu như sau:
Giả thuyết H1: Chính sách của trường đại học càng tốt, xu hướng chọn trường đó càng cao
Trang 40Yếu tố về sự đa dạng ngành đào tạo
Hiện nay vẫn chưa có khái niệm nào được đưa ra để nói về sự đa dạng ngành đào tạo Nhưng chúng ta có thể hiểu sự đa dạng ngành đào tạo là việc đem lại nhiều lựa chọn cho người học
Trong điều kiện sống mở, nó tồn tại nhiều tính cách, sở thích, nhiều sự tác động
từ các yếu tố bên ngoài cũng như nhiều điều kiện tài chính, năng lực và thời gian khác nhau nên việc đưa ra nhiều ngành đào tạo, nhiều loại hình đào tạo, nhiều hệ đào tạo thì
sẽ tạo điều kiện tốt nhất cho người học lựa chọn cho mình chương trình phù hợp nhất Kết quả của sự lựa chọn đúng nhu cầu về chương trình học sẽ làm cho người học hài lòng và thoải mái nhất Đây là điều kiện để tăng sự thu hút của nhà trường đến người học Vì vậy, để đánh giá hành vi lựa chọn trường đại học, cao đẳng nhiều nghiên cứu
đã được tiến hành trong thời gian qua Tuy nhiên, tiêu biểu nhất vẫn là nghiên cứu của
M.J.Burns và các cộng sự (được trích bởi Trần Văn Quí & Cao Hào Thi, 2009) đã bổ sung thêm mức độ đa dạng của ngành học sẽ là những yếu tố ảnh hưởng đến quyết định chọn trường của học sinh Hơn nữa, hiện nay, môi trường giáo dục Việt Nam có
sự cạnh tranh gay gắt, cộng với yêu cầu cao của các nhà tuyển dụng đòi hỏi các trường đại học phải liên tục cập nhật và thay đổi theo Vì vậy, việc đánh giá yếu tố đa dạng ngành đào tạo cũng là vấn đề đặc biệt quan tâm trong đánh giá hành vi lựa chọn trường đại học của học sinh lớp 12 tại huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên Vì lẽ đó mà giả thuyết này được đưa ra dựa trên cơ sở yếu tố đa dạng của ngành học giả thuyết H2 được phát biểu như sau:
Giả thuyết H2: Trường đại học có ngành học đa dạng học sinh sẽ chọn trường đó nhiều hơn
Yếu tố về cơ hội việc làm trong tương lai:
Hiện nay cũng chưa có nghiên cứu nào đưa ra khái niệm liên quan đến cơ hội Vì vậy, chúng ta có thể hiểu nôm na cơ hội là sự xuất hiện những khả năng cho phép người
ta làm một cái gì đó
Khái niệm việc làm theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia thì Việc làm (tiếng Anh là job, career) hay công việc là một hoạt động được thường xuyên thực hiện để đổi lấy việc thanh toán, thường là nghề nghiệp của một người Một người thường bắt đầu một