Đặc biệt diện tích lúa thơm ở Sóc Trăng phát triển còn nhờ vào việc chọn tạo thành công các giống lúa thơm cao sản mới, các giống lúa ST, đáp ứng cả hai tiêu chuẩn năng suất và
Trang 1UBND TỈNH SÓC TRĂNG CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM SỞ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Số:………/SNN-ĐA Sóc Trăng, ngày tháng năm 2016
DỰ THẢO
ĐỀ ÁN PHÁT TRIỂN SẢN XUẤT LÚA ĐẶC SẢN TỈNH SÓC TRĂNG
GIAI ĐOẠN 2016-2020
PHẦN MỞ ĐẦU
1 Sự cần thiết phải xây dựng đề án:
Với nhu cầu gạo thơm, ngon ở thị trường trong nước và thế giới ngày càng tăng cao, khả năng thâm nhập của gạo thơm Việt Nam vào thị trường thế giới ngày càng nhiều, cùng với việc du nhập và chọn tạo thành công các giống lúa thơm cao sản, diện tích trồng lúa thơm ở các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long nói chung và ở Sóc Trăng nói riêng đã tăng khá nhanh trong những năm gần đây, góp phần tăng thu nhập cho người trồng lúa Đặc biệt diện tích lúa thơm ở Sóc Trăng phát triển còn nhờ vào việc chọn tạo thành công các giống lúa thơm cao sản mới, các giống lúa ST, đáp ứng cả hai tiêu chuẩn năng suất và chất lượng, đã được người tiêu dùng ưa chuộng và nông dân đánh giá cao đưa vào sản xuất, thực sự đem lại thu nhập cao hơn cho nông dân
Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Sóc Trăng lần thứ XIII nhiệm kỳ
2015-2020 đã đề ra chỉ tiêu phấn đấu đến năm 2015-2020 sản lượng lúa đặc sản đạt 800.000 tấn, chiếm 40% tổng sản lượng lúa toàn tỉnh
Vì vậy, việc thực hiện “Đề án phát triển sản xuất lúa đặc sản giai đoạn
và phát triển bền vững đến năm 2020
- Căn cứ Quyết định số 796/QĐHC-CTUBND, ngày 23/07/2008 của Chủ tịch UBND tỉnh Sóc Trăng về việc phê duyệt Chương trình phát triển lúa gạo tỉnh Sóc Trăng giai đoạn 2008-2015 và định hướng đến năm 2020;
Trang 2- Căn cứ Quyết định số 258/QĐHC-CTUBND, ngày 31/03/2010 của Chủ tịch UBND tỉnh Sóc Trăng về việc Phê duyệt Đề án phát triển ngành trồng trọt tỉnh Sóc Trăng đến năm 2020;
- Căn cứ Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Sóc Trăng lần thứ XIII, nhiệm kỳ 2015-2020 Mục tiêu, phương hướng phát triển 5 năm 2015-2020 Nghị quyết Đại hội đề ra: Phấn đấu thực hiện đạt chỉ tiêu ổn định sản lượng lúa ở mức trên 2 triệu tấn/năm, trong đó lúa đặc sản chiếm trên 40% đến năm 2020;
- Căn cứ Kế hoạch số 23/KH-UBND ngày 17/3/2015 của UBND tỉnh về việc Phát triển cánh đồng lớn trong sản xuất lúa giai đoạn 2014-2025;
- Căn cứ Quyết định số 706/QĐ-TTg ngày 21/5/2015 của Thủ tướng Chính phủ Quyết định Phê duyệt Đề án phát triển thương hiệu gạo Việt Nam đến năm
2020, tầm nhìn đến năm 2030;
- Căn cứ Công văn chỉ đạo số 201/UBND-KT ngày 24/02/2016 của UBND tỉnh về việc chấp thuận cho Sở Nông nghiệp và PTNT lập Đề án Phát triển sản xuất lúa đặc sản tỉnh Sóc Trăng giai đoạn 2016 - 2020,
3.2 Cơ sở thực tiễn
Với đặc thù về điều kiện tự nhiên nên các loại lúa thơm sản xuất ở Sóc Trăng có chất lượng khá tốt, do cây lúa thơm thích nghi và cho mùi thơm khi được trồng tại một số vùng đất ven biển, vùng có nguồn nước lợ, vì vậy có khả năng cạnh tranh trong tiêu thụ nội địa và xuất khẩu
Giá lúa đặc sản hơn lúa thường từ 18 % trở lên Trong thời gian gần đây lúa đặc sản có giá cao hơn lúa thường từ 500 - 1.300 đ/kg Nông dân trồng lúa đặc sản
có lợi nhuận được 17,9 triệu đồng/ ha, cao hơn 5 triệu đồng/ha so trồng lúa thường Riêng lúa ST giá dao động từ 6.000 – 6.300 đ/kg lợi nhuận 21,1 triệu đồng/ha, lúa RVT giá dao động từ 5.800 – 7.000 đ/kg lợi nhuận 22,2 triệu đồng/ha
3.3 Dự báo nhu cầu gạo đặc sản, gạo thơm trong thời gian tới:
a Nhu cầu trên thế giới:
Trong tháng 3 năm 2016, với dân làm gạo ở ĐBSCL, nóng nhất là chuyện giá gạo nếp tăng chóng mặt Chỉ trong vòng 1 tháng, giá gạo nếp đã tăng thêm tới 2.000 đ/kg và hiện đang ở mức từ 12.000 đ/kg trở lên
Giá gạo thơm cũng tăng, nhưng không mạnh như gạp nếp Dầu vậy, gạo thơm cũng đã tăng từ 700 - 1.000 đ/kg so với hồi đầu vụ và hiện đang có giá 9.100
- 9.200 đ/kg (giống OM 5451)
Theo ông Lê Thanh Danh, GĐ Chi nhánh Đầu tư và phát triển vùng nguyên liệu ĐBSCL (TCty Lương thực miền Bắc), giá gạo nếp và gạo thơm tăng mạnh do nhu cầu thu mua XK 2 loại gạo này đang rất cao ở ĐBSCL
Gạo thơm và gạo nếp đang được XK mạnh nhất sang thị trường Trung Quốc Thương nhân Trung Quốc đang mua gạo thơm và gạo nếp Việt Nam một cách thường xuyên Bên cạnh đó, nhu cầu XK gạo thơm sang một số thị trường ở
Trang 3Theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam, nhu cầu thu mua gạo thơm, gạo nếp
để giao hàng trong thời gian tới là khá lớn Đến hết tháng 3 năm 2016, dù đã XK gần 1,5 triệu tấn gạo, nhưng các DN XK gạo vẫn còn trong tay trên 1,4 triệu tấn gạo đã ký hợp đồng XK và sẽ giao hàng trong thời gian tới
XK gạo thơm tăng mạnh là do nhu cầu NK gia tăng từ châu Phí và Trung Quốc Trong đó, tháng 3 là tháng XK gạo thơm mạnh nhất với 152.000 tấn, chủ yếu đi Trung Quốc và Ghana Đây là mức XK kỷ lục của 1 tháng đối với gạo thơm trong 3 năm trở lại đây
b Thị trường trong nước:
Với mức sống ngày càng được nâng cao, nhu cầu ăn gạo thơm, ngon và an toàn đang tăng nhanh trong những năm gần đây, nhất là ở các đô thị, thành phố lớn Trên thị trường và các siêu thị bày bán rất nhiều loại gạo thơm với các tên gạo thơm Thái, gạo thơm Đài Loan, gạo thơm Mỹ, gạo thơm Campuchia, Hương Lài
“Gạo thơm Sóc Trăng” cũng đã xuất hiện trên thị trường Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh từ những năm qua Tuy nhiên do số lượng còn ít, sản xuất chưa tập trung nên phải tổ chức sản xuất rộng rãi hơn nữa để hạ giá thành và định hình thương hiệu
Ngoài gạo ST, gạo Tài nguyên mùa đang được thị trường trong nước ưa chuộng do cơm ngon và phù hợp với khẩu vị của người tiêu dùng
Trang 4PHẦN I HIỆN TRẠNG SẢN XUẤT LÚA ĐẶC SẢN TỈNH SÓC TRĂNG VÀ VÙNG
ĐỀ ÁN
1 Hiện trạng sản xuất và cơ cấu mùa vụ
Kết quả sản xuất lúa năm lương thực 2015 ở 7 huyện vùng đề án như sau: Diện tích gieo trồng cả năm đạt 319.475 ha, bằng 87,06% DTGT toàn tỉnh, năng suất bình quân 62,61 tạ/ha, cao hơn NSBQ của tỉnh (62,53 tạ/ha), sản lượng đạt 2.011.619 tấn, bằng 87,66% sản lượng toàn tỉnh
Diện tích lúa đặc sản năm lương thực 2015 ở 7 huyện đạt 116.968 ha, chiếm 36,6 diện tích gieo trồng của 7 huyện; bằng 95,34% diện tích lúa đặc sản toàn tỉnh, bao gồm lúa ST 24.562 ha, bằng 95,89% diện tích lúa ST toàn tỉnh, lúa Tài nguyên mùa 8.577 ha, và các giống lúa thơm nhẹ khác là 83.829 ha
Về cơ cấu mùa vụ: Đây là vùng chủ yếu sản xuất 2 vụ lúa/ năm là Hè thu và Đông xuân, riêng vùng tôm – lúa huyện Mỹ Xuyên chỉ sản xuất 1 vụ lúa Mùa lấp lại sau vụ nuôi tôm nước lợ Ở vùng mở rộng Mỹ Tú, Long Phú và Châu Thành một phần sản xuất 3 vụ trên các giống đặc sản ngắn ngày, đồng thời khuyến khích nông dân sử dụng giống ST canh tác 2 vụ chính là Hè Thu và Đông Xuân nhằm giảm áp lực sâu bệnh và ứng phó với tình hình hạn, xâm nhập mặn thiếu nước tưới như hiện nay
2 Hiện trạng về giống
2.1 Tiến độ nghiên cứu và phóng thích giống lúa thơm đặc sản ST:
Công tác tuyển chọn giống lúa thơm ST được tiến hành từ năm 1998 Về phương diện kỹ thuật đã có 20 giống được phóng thích và đưa ra thử nghiệm Trong thực tiễn sản xuất hiện có 06 giống phát triển, đó là các giống ST5, ST13, ST16, ST19, ST20 và ST Đỏ Trong các giống trên chỉ có ST5 được phổ biến trên diện rộng, được nông dân tự phát trồng trong các thời vụ Hè thu, Mùa, Đông xuân Các giống còn lại cho phẩm chất và giá trị cao hơn, nhưng chỉ phát huy hiệu quả ở Đông xuân chính vụ Đặc biệt ST20 được nông dân thị xã Ngã Năm trồng với diện tích lớn, được thị trường bao tiêu với giá tương đối cao
Trang 5Nguồn giống được sản xuất từ trại giống và mạng lưới sản xuất lúa giống được sự tín nhiệm của nông dân, việc lựa chọn các giống lúa đặc sản, lúa chất lượng cao để sản xuất ngày càng được người dân quan tâm vì vừa đáp ứng nhu cầu thị trường về chất lượng mà còn mang lại thu nhập cao hơn cho người sản xuất, do vậy diện tích canh tác các giống lúa ST, Tài Nguyên mùa, các giống lúa thơm nhẹ
đã phát triển qua từng năm trên địa bàn tỉnh
Để góp phần nâng cao năng lực cho nông dân trong việc nhân giống lúa, (cung cấp giống lúa chất lượng phục vụ cho sản xuất) đề án đã tổ chức 20 lớp tập huấn về kỹ thuật sản xuất giống lúa cấp nguyên chủng và xác nhận nhằm trang bị kiến thức về quy trình sản xuất giống cho 513 nông dân tham dự,
Mạng lưới nông dân sản xuất giống được tiếp tục cũng cố và phát triển, đề án đã hỗ trợ thực hiện 911,7 ha nhân giống xác nhận tại các xã trong vùng đề án
Đã bố trí 40 mô hình trình diễn các giống lúa thơm trên diện tích 60 ha tại các điểm trong vùng đề án để nông dân tham quan đánh giá lựa chọ các giống phù hợp nhất cho sản xuất ở địa phương
Đối với giống Tài nguyên mùa, năm 2005 Ngành Nông nghiệp Sóc Trăng có tiến hành phục tráng giống Tuy nhiên, việc sản xuất và lọc thuần giống không được thực hiện thường xuyên, (chủ yếu do nông dân tự để giống hàng năm) nên dần bị thoái hóa Từ năm 2009, Viện Lúa ĐBSCL tiếp tục hỗ trợ phục tráng giống Tài nguyên mùa và đến nay đã thu được một lượng giống siêu nguyên chủng và nguyên chủng Đề án sẽ hỗ trợ công tác duy trì giống gốc, sản xuất giống nguyên chủng, giống xác nhận, để có nguồn giống tốt cung ứng cho nông dân và tập huấn, hướng dẫn nông dân chọn giống
3 Hiện trạng về chuyển giao và ứng dụng khoa học kỹ thuật
Thông qua những chương trình, dự án từ các nguồn vốn chương trình chuyển dịch cơ cấu, ngành Nông nghiệp Sóc Trăng, dự án DANIDA, dự án Nâng cao Đời sống nông thôn của CIDA – Canada, chương trình Quản lý dịch hại tổng hợp (IPM) và Đề án Phát triển sản xuất lúa đặc sản tỉnh Sóc Trăng giai đoạn 2012 -
2015 đa phần nông dân được chuyển giao và ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật trong sản xuất Các địa phương có trồng lúa thơm ST đều báo cáo năng suất cao hơn năng suất trung bình Đó là áp dụng các biện pháp sạ thưa (có nơi chỉ 70 kg/ha), bón phân đúng cách, đúng liều, đúng lúc, biết áp dụng các biện pháp sinh học để phòng trừ dịch hại, v.v
Tuy nhiên với xu thế phát triển hiện nay, cánh tác nông nghiệp cần phải mang tính bền vững Những tiến bộ khoa học kỹ thuật mới hiện nay như "Công nghệ sinh thái", "SRI", Sinh học, sản xuất lúa theo hướng nông nghiệp hữu cơ bền vững cần được tập huấn chuyển giao cho nông dân
4 Hiện trạng về cơ giới hóa khâu thu hoạch
Trong những năm qua, cơ giới hóa trong khâu thu hoạch cơ bản hoàn thiện
Cả 02 vụ Hè Thu và Đông Xuân trên 98% diện tích lúa được thu hoạch bằng máy gặt đập liên hợp Riêng vụ Hè thu, thời vụ thu hoạch ngắn, công suất làm việc của
Trang 61 máy/ ngày thấp hơn, do thu hoạch vào mùa mưa, thời tiết bất lợi nên lượng máy gặp đập liên hợp được tập trung nhiều hơn Tuy nhiên Sóc Trăng có lợi thế mùa vụ lệch so với những vùng phù sa ngọt nên được lượng lớn máy gặt đập liên hợp từ các tỉnh khác đến
5 Hiện trạng thủy lợi:
Những năm gần đây hệ thống thủy lợi phục vụ sản xuất lúa được đầu tư hợp
lý Các trạm bơm được đầu tư tập trung tại vùng trũng thị xã Ngã Năm giúp nông dân điều tiết nước một cách hiệu quả Ngoài ra các kênh đào nội đồng được đầu tư, nạo vét phục vụ tưới tiêu kịp thời cho bà con nông dân Đặc biệt cuối năm 2015, đầu năm 2016 do ảnh hưởng của hạn, xâm nhập mặn, việc nạo vét các kênh nội đồng để dự trữ nước ngọt được nhà nước đầu tư hợp lý nhằm dự trữ nước ngọt phục vụ cho sản xuất
Tuy nhiên để đáp ứng nhu cầu tưới tiêu cho đồng ruộng, thủy lợi cần tiếp tục đầu tư, đặc biệt xây dựng các trạm bơm, đê bao khép kính phục vụ sản xuất cánh đồng mẫu lớn
6 Hiện trạng về thị trường tiêu thụ:
Thực hiện kế hoạch số 23/KH-UBND ngày 17/3/2015 về Phát triển cánh đồng lớn trong sản xuất lúa giai đoạn 2014 – 2025 Đến nay, trên địa bàn tỉnh 03 doanh nghiệp được UBND tỉnh phê duyệt Phương án cánh đồng lớn liên kết sản xuất và tiêu thụ nông sản giai đoạn 2015 – 2020 (Cty Lương thực Sóc Trăng, Cty TNHH TM và DV Thành Tín, Cty TNHH Trung An); có 02 doanh nghiệp đăng ký xây dựng vùng nguyên liệu (Cty CP Lương thực Vĩnh Lộc (Bạc Liêu), HTX Thành Lợi (Cần Thơ), 01 đơn vị đã được UBND tỉnh phê duyệt (HTX Thành Lợi – Vùng nguyên liệu chủ yếu là Tài nguyên mùa tại huyện Thạnh Trị)
Diện tích sản xuất lúa có liên kết với doanh nghiệp ngày càng tăng; cụ thể,
vụ Hè Thu 2014, diện tích thực hiện hợp đồng liên kết 4.237 ha/10.151 ha với 11 doanh nghiệp tham gia; vụ Đông Xuân 2014 - 2015, diện tích có hợp đồng liên kết 6.856 ha/20.927 ha, có 20 doanh nghiệp tham gia; vụ Hè Thu 2015, với diện tích 8.781 ha/22.685 ha và trên 30 doanh nghiệp tham gia liên kết tại các cánh đồng lớn, cánh đồng tập trung của tỉnh (đạt 38,71% diện tích cánh đồng lớn, cánh đồng tập trung) Đối tượng tham gia liên kết với doanh nghiệp là các HTX, THT Theo báo cáo của các địa phương, bình quân từng vụ sản xuất có 7 - 10 HTX và 100 -
150 THT tại khu vực cánh đồng lớn, cánh đồng mẫu tập trung có hợp đồng liên kết với các doanh nghiệp
Các giống lúa có hợp đồng liên kết sản xuất và tiêu thụ thường là những giống lúa đặc sản như nhóm lúa ST, RVT, OM4900, OM 7347….Hình thức liên kết: Rất đa dạng, tùy điều kiện cụ thể các doanh nghiệp thực hiện các hình thức liên kết khác nhau; cụ thể như cung cấp giống đến vụ mới thanh toán hoặc đầu tư trước vật tư đầu vào, tập huấn kỹ thuật và liên kết từ đầu vào đến bao tiêu sản phẩm đầu ra
Trang 7Giá bao tiêu sản phẩm khác nhau theo từng loại giống, thường đến gần cuối
vụ (khoảng 10 ngày trước khi thu hoạch lúa) nông dân và doanh nghiệp thỏa thuận định giá thu mua; một số doanh nghiệp định giá mua trước; ngoài ra, một số công
ty mua theo giá thị trường với hình thức thu mua chủ yếu là lúa tươi tại ruộng Nhìn chung, giá bán các loại lúa cao hơn bên ngoài từ 50 - 150 đồng/kg
Tóm lại, qua 4 năm triển khai thực hiện đề án, diện tích lúa đặc sản, lúa thơm các loại của tỉnh đã từng bước tăng dần từ 66.018 ha năm 2012 đến năm
2015 đạt 126.728 ha/KH 70.000 ha, vượt 81,04% so với kế hoạch đề án, chiếm 34,53% DTGT toàn tỉnh năm 2015 So với chỉ tiêu nghị quyết đề ra 20% đề án đã thực hiện vượt 14,53% Sản lượng lúa đặc sản, lúa thơm đạt 793.400 tấn
Riêng 04 huyện vùng Đề án diện tích đạt 102.163 ha chiếm 65,30% diện tích gieo trồng, trong đó diện tích lúa ST đạt 17.551 ha, lúa Tài nguyên mùa 8.450 ha
và các giống lúa thơm khác 76.162 ha Sản lượng đạt gần 640.000 tấn Với kinh phí triển khai trên 11,4 tỷ đồng
7 Thuận lợi, khó khăn:
-Triển vọng sắp tới rất tốt nhờ phát triển dần khâu tiếp thị, chuyển giao tiến
bộ khoa học kỹ thuật, tạo được thương hiệu gạo Sóc Trăng trong và ngoài nước
3 Những năm gần đây gạo thơm được tiêu thụ dễ dàng với giá hấp dẫn, nhưng chưa có sự đảm bảo về chất lượng, thị trường tiêu thụ; chưa xây dựng được mối liên kết vững chắc giữa doanh nghiệp và nông dân; chưa xây dựng được thương hiệu lúa đặc sản
Trang 84 Mạng lưới sản xuất giống mặc dù đã được cũng cố, tuy nhiên mối liên kết giữa cung và cầu trong sản xuất giống còn hạn chế
5 Quy mô sản xuất lúa đặc sản hiện nay chưa tập trung; việc hình thành và hoạt động của các Tổ hợp tác, Hợp tác xã chưa đáp ứng được yêu cầu tiêu chí thực hiện cánh đồng lớn
Trang 9PHẦN II PHÁT TRIỂN SẢN XUẤT LÚA ĐẶC SẢN TỈNH SÓC TRĂNG GIAI
- Tiếp tục thực hiện tốt chuỗi giá trị trong sản xuất lúa; xây dựng thương hiệu gạo thơm Sóc Trăng
- Phát triển kinh tế hợp tác và thực hiện liên kết sản xuất gắn với tiêu thụ lúa
đặc sản trong vùng đề án
2 Mục tiêu cụ thể
- Phấn đấu đến năm 2020 sản lượng lúa đặc sản, lúa thơm đạt 800.000 tấn
- Xây dựng các vùng sản xuất lúa đặc sản, phát triển ổn định và bền vững, ứng dụng đồng bộ tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất để tạo ra sản phẩm có chất lượng và giá trị cung ứng cho thị trường trong nước và thế giới
- Gắn kết giữa sản xuất và tiêu thụ sản phẩm thông qua các hợp đồng liên kết giữa nông dân và doanh nghiệp
- Nâng cao kiến thức, thu nhập của người trồng lúa đặc sản trong vùng đề án, môi trường canh tác được cải thiện tốt hơn
- Xây dựng thương hiệu “Gạo thơm Sóc Trăng” để nâng cao giá trị sản
phẩm gạo thơm của tỉnh, trên thị trường trong nước và thế giới
3 Phạm vi thực hiện đề án:( Phụ lục 1)
Đề án được triển khai thực hiện tại 7 huyện, thị xã với tổng số 55 xã, phường, thị trấn gồm:
- Huyện Thạnh Trị gồm: 10 xã, thị trấn (Hưng Lợi, Châu Hưng, Thạnh Trị, Tuân Tức, Vĩnh Thành, Phú Lộc, Thạnh Tân, Lâm Tân, Lâm Kiết, Vĩnh Lợi)
- Huyện Mỹ Xuyên: gồm 10 xã (Gia Hòa 1, Gia Hòa 2, Hòa Tú 1, Hòa Tú 2, Ngọc Đông, Ngọc Tố, Tham Đôn, Đại Tâm, Thạnh Phú, Thạnh Quới)
- Huyện Trần Đề gồm: 10 xã, thị trấn (Tài Văn, Viên An, Viên Bình, Thạnh Thới Thuận, Thạnh Thới An, Đại Ân 2, Trung Bình, Liêu Tú, Lịch Hội Thượng,
TT Lịch Hội Thượng
Huyện Mỹ Tú gồm: 5 xã, thị trấn (Mỹ Hương, Long Hưng, Huỳnh Hữu Nghĩa, Hưng Phú, Mỹ Phước)
Trang 10- Huyện Long Phú gồm: 7 xã, thị trấn (Long Đức, Tân Thạnh, Châu Khánh, Phú Hữu, TT Long Phú, Long phú, Tân Hưng)
- Huyện Châu Thành gồm: 5 xã (An Ninh, An Hiệp, Phú Tân, Phú Tâm, Thuận Hòa)
- Thị xã Ngã Năm gồm: 8 phường, xã (Phường 1, Phường 2, Phường 3, Long Bình, Vĩnh Quới, Tân Long, Mỹ Bình, Mỹ Quới)
- Huyện Thạnh Trị , Mỹ Xuyên, Trần Đề, Mỹ Tú, Long Phú, Châu Thành và
Thị xã Ngã Năm (phụ lục 1)
4 Thời gian và tiến độ thực hiện: Từ năm 2016 – 2020
+ Năm 2016: Diện tích lúa đặc sản các loại vùng đề án đạt 119.000 ha, trong
đó lúa Tài nguyên mùa 8.450 ha
+ Năm 2017: Diện tích lúa đặc sản các loại vùng đề án đạt 122.000 ha, trong
đó lúa Tài nguyên mùa 8.450 ha
+ Năm 2018: Diện tích lúa đặc sản các loại vùng đề án đạt 125.500 ha, trong
đó lúa Tài nguyên mùa 8.450 ha
+ Năm 2019: Diện tích lúa đặc sản các loại vùng đề án đạt 131.500 ha, trong
đó lúa Tài nguyên mùa 8.450 ha
+ Năm 2020: Diện tích lúa đặc sản các loại vùng đề án đạt 137.500 ha, trong
đó lúa Tài nguyên mùa 8.450 ha
5 Diện tích, sản lượng triển khai thực hiện
b Sản lượng (Phụ lục 3)
- Sản lượng toàn tỉnh: Tính đến năm 2020 sản lượng ước đạt 842.400 tấn
- Sản lượng vùng đề án: Tính đến năm 2020 sản lượng ước đạt 825.000 tấn
6 Giải pháp thực hiện
6.1 Thực hiện các biện pháp tuyên truyền, vận động, khuyến cáo, nâng cao nhận thức của nông dân và sự quan tâm của các ngành các cấp trong việc tham gia phát triển sản xuất lúa đặc sản
Tiếp tục phổ biến mục tiêu và hiệu quả của việc sản xuất lúa đặc sản qua các
Trang 11Tăng cường sự phối hợp các sở ngành và địa phương nhằm tổ chức triển khai thực hiện việc phát triển lúa đặc sản, tạo điều kiện để nông dân và các doanh nghiệp tham gia liên kết sản xuất lúa đặc sản
6.2 Khảo sát, đánh giá tiềm năng lợi thế về sản xuất lúa của từng địa phương, phân vùng sản xuất lúa đặc sản ổn định
Điều tra, khảo sát về hiện trạng sản xuất của các địa phương để đánh giá việc phát triển sản xuất lúa đặc ở những vùng đã triển khai đề án trong thời gian qua, và ở những vùng mở rộng thêm xem nhu cầu về sản xuất lúa đặc sản, từ đó xây dựng các cánh đồng sản xuất tập trung trên quy mô lớn để đầu tư hoàn chỉnh
cơ sở hạ tầng phục vụ cho sản xuất nhằm phát triển vùng nguyên liệu, xây dựng và chuyển giao quy trình sản xuất phù hợp cho từng vùng
6.3 Đẩy mạnh công tác xúc tiến liên kết sản xuất, tiêu thụ lúa gạo
Thực hiện Quyết định số 62/2013/QĐ-TTg ngày 25 tháng 10 năm 2013 của Thủ tướng Chính phủ về chính sách khuyến khích phát triển hợp tác, liên kết sản xuất gắn với tiêu thụ nông sản, xây dựng cánh đồng lớn; tạo thuận lợi cho các doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp tiêu thụ lúa trong việc ký hợp đồng với nông dân
Thực hiện liên kết sản xuất, tiêu thụ lúa gạo, xây dựng cánh đồng lớn, nhằm từng bước hướng nông dân vào sản xuất tập trung gắn với tiêu thụ, từ đó nâng cao hiệu quả sản xuất, hiệu quả kinh tế, góp phần tăng thu nhập và cải thiện mức sống cho nông dân sản xuất lúa, từng bước phát huy thế mạnh, vai trò của loại hình kinh tế hợp tác Trước tiên, đẩy mạnh liên kết sản xuất, tiêu thụ giữa doanh nghiệp trong sản xuất và tiêu thụ các giống lúa có thế mạnh của từng địa phương
Nhân rộng và phát triển các hình thức liên kết sản xuất - tiêu thụ lúa, gạo thông qua hợp đồng trong đó doanh nghiệp giữ vai trò cung ứng đầu vào sản xuất và thu mua lúa gạo cho nông dân
6.4 Đẩy mạnh thực hiện việc tổ chức lại sản xuất
Cũng cố, phát triển và nâng cao hiệu quả hoạt động, năng lực tổ chức và quản lý điều hành của hợp tác xã và tổ hợp tác vùng dự án Cụ thể:
- Phát triển các tổ chức kinh tế hợp tác mới trong vùng đề án dựa trên kế hoạch số 23/KH-UBND của UBND tỉnh về việc Phát triển cánh đồng lớn trong sản xuất lúa giai đoạn 2014-2025
- Tăng cường công tác đào tạo, tập huấn nâng cao năng lực quản lý cho ban điều hành các hợp tác xã, tổ hợp tác về quản lý, điều hành, đẩy mạnh liên kết với doanh nghiệp trong sản xuất và tiêu thụ theo theo Quyết định số 62/2013/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về chính sách khuyến khích phát triển hợp tác, liên kết sản xuất gắn với tiêu thụ nông sản, xây dựng cánh đồng lớn
- Xây dựng cơ chế hỗ trợ vốn đặc thù cho các hợp tác xã, tổ hợp tác vùng Đề án triển khai các dịch vụ hỗ trợ thành viên trong sản xuất và tiêu thụ nông sản