ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN --- TRẦN ANH TUẤN NGHIÊN CỨU HÌNH THÁI, CẢM XÚC VÀ CHỈ SỐ VƯỢT KHÓ CỦA HỌC SINH HAI TRƯỜNG THCS, HUYỆN YÊN MÔ, TỈNH NINH BÌN
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
-
TRẦN ANH TUẤN
NGHIÊN CỨU HÌNH THÁI, CẢM XÚC VÀ CHỈ SỐ VƯỢT KHÓ CỦA
HỌC SINH HAI TRƯỜNG THCS, HUYỆN YÊN MÔ,
TỈNH NINH BÌNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
Hà Nội – 2014
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
-
TRẦN ANH TUẤN
NGHIÊN CỨU HÌNH THÁI, CẢM XÚC VÀ CHỈ SỐ VƯỢT KHÓ CỦA
HỌC SINH HAI TRƯỜNG THCS, HUYỆN YÊN MÔ,
TỈNH NINH BÌNH
Chuyên ngành: Động Vật Học
Mã số: 60 42 01 03
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS MAI VĂN HƯNG
PGS.TS NGUYỄN HỮU NHÂN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
Hà Nội – 2014
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Mai Văn Hưng,
PGS.TS Nguyễn Hữu Nhân đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo trong bộ môn Sinh lý học
và Sinh học người, bộ môn Động vật, khoa Sinh học và phòng Sau đại học trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Hà Nội đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi học tập, nghiên cứu hoàn thành luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu, các thầy cô giáo và các em học sinh các trường THCS xã Yên Lâm, trường THCS xã Yên Thái huyện Yên
Mô, tỉnh Ninh Bình cùng tất cả bạn bè, đồng nghiệp và những người thân trong gia đình đã giúp đỡ, động viên tôi hoàn thành luận văn này
Hà Nội, tháng 10 năm 2014
Tác giả
Trần Anh Tuấn
Trang 5MỤC LỤC
Lời cam kết
Lời cảm ơn
Danh mục từ viết tắt trong luận văn
Danh mục bảng trong luận văn
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ HÌNH THÁI CƠ THỂ NGƯỜI 3
1.1.1 Một số nghiên cứu về hình thái cơ thể người trên thế giới 3
1.1.2 Một số nghiên cứu về hình thái cơ thể người ở Việt Nam 4
1.1.3 Khái quát về hình thái cơ thể tuổi dậy thì 9 1.2 CÁC VẤN ĐỀ VỀ MỨC ĐỘ CẢM XÚC VÀ KHẢ NĂNG VƯỢT KHÓ
Error! Bookmark not defined 1.2.1 Khái quát những vấn đề về cảm xúc Error! Bookmark not defined 1.2.2 Khái quát những vấn đề về khả năng vượt khó Error! Bookmark not defined.
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
ERROR! BOOKMARK NOT DEFINED 2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU Error! Bookmark not defined 2.1.1 Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu Error! Bookmark not defined 2.1.2 Phân bố của đối tượng nghiên cứu Error! Bookmark not defined 2.2 ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU Error! Bookmark not defined 2.2.1 Điều kiện tự nhiên Error! Bookmark not defined 2.2.2 Điều kiện xã hội Error! Bookmark not defined 2.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Error! Bookmark not defined 2.3.1 Phương pháp nghiên cứu các chỉ số Error! Bookmark not defined 2.2.3 Phương pháp xử lý số liệu Error! Bookmark not defined.
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN ERROR!
BOOKMARK NOT DEFINED.
3.1 MỘT SỐ CHỈ SỐ HÌNH THÁI CỦA HỌC SINH THCS Error! Bookmark not defined.
3.1.1 Chiều cao đứng của học sinh Error! Bookmark not defined 3.1.2 Cân nặng của học sinh Error! Bookmark not defined 3.1.3 Chỉ số vòng ngực trung bình của học sinh Error! Bookmark not defined.
3.1.4 Chỉ số vòng eo của học sinh Error! Bookmark not defined.
Trang 63.1.5 Chỉ số vòng mông của học sinh Error! Bookmark not defined.
3.2 Mối liên quan giữa VNTB với vòng eo và với vòng mông của học sinh
Error! Bookmark not defined.
3.2.1 Mối liên quan giữa VNTB với vòng eo và vòng mông ở học sinh tuổi 12
Error! Bookmark not defined.
3.2.2 Mối liên quan giữa VNTB với vòng eo và vòng mông ở học sinh tuổi 13
Error! Bookmark not defined.
3.2.3 Mối liên quan giữa VNTB với vòng eo và vòng mông ở học sinh tuổi 14
Error! Bookmark not defined.
3.2.4 Mối liên quan giữa VNTB với vòng eo và vòng mông ở học sinh tuổi 15
Error! Bookmark not defined.
3.3 CÁC DẤU HIỆU HÌNH THÁI TUỔI DẬY THÌ CỦA HỌC SINH
Error! Bookmark not defined 3.3.1 Các dấu hiệu dậy thì chính thức Error! Bookmark not defined 3.3.2 Các dấu hiệu dậy thì phụ của học sinh Error! Bookmark not defined.
3.3 TRẠNG THÁI CẢM XÚC CỦA HỌC SINH THEO TUỔI VÀ GIỚI TÍNH
Error! Bookmark not defined 3.4.1 Cảm xúc chung của học sinh theo tuổi và giới tính Error! Bookmark not defined.
3.4.2 Cảm xúc về sức khỏe của học sinh theo tuổi và giới tính Error! Bookmark not defined.
3.4.3 Cảm xúc về tính tích cực của học sinh theo tuổi và giới tính Error! Bookmark not defined.
3.4.4 Cảm xúc về tâm trạng của học sinh theo tuổi và giới tính Error! Bookmark not defined.
3.5 CHỈ SỐ VƢỢT KHÓ CỦA HỌC SINH THEO TUỔI VÀ GIỚI TÍNH
Error! Bookmark not defined.
3.5.1 Chỉ số vƣợt khó (AQ) tổng quát của học sinh theo tuổi và giới tính
Error! Bookmark not defined 3.5.2 Chỉ số vƣợt khó thành phần của học sinh theo tuổi và giới tính Error! Bookmark not defined.
KẾT LUẬN ERROR! BOOKMARK NOT DEFINED.
TÀI LIỆU THAM KHẢO 11
Trang 7DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
AQ : Adversity Quotient (Chỉ số vượt khó )
C : Control (Kiểm soát, điều khiển)
E : Endurance (Khả năng chịu đựng, tính nhẫn nại)
WHO : World Health Organization (Tổ chức Y tế Thế giới) WTO : World Trade Organization (Tổ chức Thương mại
Thế giới)
Trang 8DANH MỤC BẢNG TRONG LUẬN VĂN
Bảng 2.1 Phân bố đối tƣợng nghiên cứu theo tuổi và giới tính Error! Bookmark
not defined
Bảng 2.2 Tiêu chuẩn về đánh giá cảm xúc Error! Bookmark not defined Bảng 3.1 Chiều cao đứng trung bình (cm) của học sinh theo tuổi và giới tính Error!
Bookmark not defined
Bảng 3.2 Cân nặng trung bình của học sinh (kg) theo lớp tuổi và giới tính Error!
Bookmark not defined
Bảng 3.3 VNTB (cm) của học sinh theo lớp tuổi và theo giới tính Error!
Bookmark not defined
Bảng 3.4 Vòng eo trung bình (cm) của học sinh theo lớp tuổi và giới tính Error!
Bookmark not defined
Bảng 3.5 Vòng mông trung bình (cm) của học sinh theo lớp tuổi và giới tính.
Error! Bookmark not defined Bảng 3.6 Mối liên quan giữa VNTB với vòng eo, vòng mông ở lớp tuổi 12 Error!
Bookmark not defined
Bảng 3.7 Mối liên quan giữa VNTB với vòng eo, vòng mông ở lớp tuổi 13 Error!
Bookmark not defined
Bảng 3.8 Mối liên quan giữa VNTB với vòng eo, vòng mông ở lớp tuổi 14 Error!
Bookmark not defined
Trang 9Bảng 3.9 Mối liên quan giữa VNTB với vòng eo, vòng mông ở lớp tuổi 15 Error!
Bookmark not defined
Bảng 3.10 Tỷ lệ (%) học sinh dậy thì chính thức theo tuổi và giới tính Error!
Bookmark not defined
Bảng 3.11 Tuổi dậy thì chính thức của học sinh theo giới tính Error! Bookmark
not defined
Bảng 3.12 Độ dài chu kỳ kinh nguyệt và số ngày chảy máu trong chu kỳ kinh nguyệt
Error! Bookmark not defined Bảng 3.13 Tỷ lệ (%) học sinh xuất hiện trứng cá trên mặt theo tuổi và giới tính.Error!
Bookmark not defined
Bảng 3.14 Thời điểm xuất hiện trứng cá trên mặt của học sinh theo giới tính Error!
Bookmark not defined
Bảng 3.15 Tỷ lệ (%) học sinh xuất hiện lông mu theo tuổi và giới tính Error!
Bookmark not defined
Bảng 3.16 Thời điểm xuất hiện lông mu của học sinh theo giới tính Error!
Bookmark not defined
Bảng 3.17 Tỷ lệ (%) học sinh xuất hiện lông nách theo tuổi và giới tính Error!
Bookmark not defined
Bảng 3.18 Thời điểm xuất hiện lông nách của học sinh theo giới tính Error!
Bookmark not defined
Bảng 3.19 Cảm xúc chung (điểm) của học sinh theo lớp tuổi và giới tính Error!
Bookmark not defined
Bảng 3.20 Cảm xúc về sức khỏe (điểm) của học sinh theo tuổi và giới tính Error!
Bookmark not defined
Bảng 3.21 Cảm xúc về tính tích cực (điểm) của học sinh theo tuổi và giới tính.
Error! Bookmark not defined Bảng 3.22 Cảm xúc về tâm trạng của học sinh theo lớp tuổi và giới tính Error!
Bookmark not defined
Bảng 3.23 Chỉ số AQ (điểm) của học sinh theo tuổi và giới tính Error!
Bookmark not defined
Bảng 3.24 Chỉ số C (điểm) của học sinh theo tuổi và giới tính 59
Trang 10Bảng 3.25 Chỉ số O (điểm) của học sinh theo tuổi và giới tính 60 Bảng 3.26 Chỉ số R (điểm) của học sinh theo tuổi và giới tính 61 Bảng 3.27 Chỉ số E (điểm) của học sinh theo tuổi và giới tính 62
Trang 11áp dụng đúng với từng đối tượng học sinh, phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý, năng lực nhận thức của học sinh ở từng lứa tuổi Thực tế cho thấy phải dựa vào những hiểu biết về thể trạng và năng lực trí tuệ của học sinh thì mới có phương pháp đúng đắn và hữu hiệu đối với sự nghiệp Giáo dục và Đào tạo Tuổi dậy thì rất nhạy cảm, hiểu biết về tuổi dậy thì rất cần thiết đối với cá nhân mỗi em và đặc biệt quan trọng đối với phụ huynh, các nhà hoạt động giáo dục
Đến nay, trên thế giới và ở Việt Nam đã có nhiều công trình nghiên cứu
về lứa tuổi dậy thì và các chỉ số sinh học trên các đối tượng là học sinh, điển hình là các công trình nghiên cứu trên các đối tượng học sinh từ 6 đến 17 tuổi [13, 16, 18, 23, 50] Các kết quả nghiên cứu của các công trình này cho thấy, các chỉ số về hình thể và hoạt động thần kinh đang tăng dần, tuổi dậy thì đang
có xu hướng đến sớm hơn đối với các đối tượng học sinh Các chỉ số sinh học của con người thay đổi theo lứa tuổi và điều kiện xã hội đặc biệt là học sinh cấp THCS Tuy nhiên các công trình nghiên cứu cụ thể ở địa phương Ninh
Trang 12Bình chưa nhiều, đặc biệt ở huyện Yên Mô Để góp phần cung cấp các số liệu
cụ thể và một số phân tích khách quan cho chương trình nâng cao chất lượng dân số huyện Yên Mô nói riêng, tỉnh Ninh Binh và cả nước nói chung Vì vậy
chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu một số đặc điểm hình thái, chỉ số cảm xúc và chỉ số vượt khó của học sinh trung học cơ sở ở 2 xã huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình” với các mục tiêu sau :
- Đánh giá được thực trạng của một số chỉ số về hình thái, cảm xúc và vượt khó ở tuổi 12 - 15 của học sinh trường THCS Yên Lâm và trường THCS Yên Thái, huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình
- Xác định mối liên quan giữa chỉ số vòng ngực trung bình với vòng eo
và với vòng mông
- Xác định tuổi dậy thì chính thức của học sinh trường THCS Yên Thái
và trường THCS Yên Lâm, huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình
Trang 13CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ HÌNH THÁI CƠ THỂ NGƯỜI
1.1.1 Một số nghiên cứu về hình thái cơ thể người trên thế giới
Một trong số các vấn đề được nhiều người quan tâm khi nghiên cứu con người là hình thái Thời phục hưng các nhà giải phẫu học kiêm họa sĩ như Leonard De Vinci, Mikenlangielo, Raphael… đã tìm hiểu rất kỹ về cấu trúc
và mối tương quan giữa các bộ phận trong cơ thể để đưa lên các tác phẩm hội họa của mình Mối quan hệ giữa hình thái với môi trường sống cũng được nghiên cứu tương đối sớm mà đại diện là các nhà nhân trắc học Ludman, Nold và Volanski [theo 35]
Từ việc đo đạc các kích thước cơ thể con người có thể rút ra các kết luận phục vụ thực tiễn hàng ngày như trong công tác điều tra y tế, các ngành kinh tế quốc dân như: xây dựng các tiêu chuẩn kích thước người để thiết kế các máy móc, các phương tiện sản xuất (nhà cửa, ô tô…), các phương tiện sinh hoạt (giường, tủ, giày, dép…) Về mặt lý luận chúng cho phép chúng ta phát hiện ra các quy luật về sự phát triển cơ thể con người, về phân loại các dạng người và các nhóm chủng tộc loài người cũng như tìm hiểu nguồn gốc loài người vào đầu thế kỷ XX những nghiên cứu về thể lực trở thành một môn khoa học thực sự với đầy đủ ý nghĩa và tính chính xác của nó Người đặt nền móng cho nhân trắc học hiện đại là Rudolf Martin qua hai tác phẩm nổi tiếng:
"Giáo trình về nhân trắc học" năm 1919 và "Kim chỉ nam đo đạc và xử lý thống kê" năm 1924 Trong các công trình này ông đã đề xuất một số phương pháp và dụng cụ đo đạc các kích thước của cơ thể cho đến nay vẫn được sử dụng Sau Rudolf Martin đã có nhiều công trình bổ sung và hoàn thiện thêm các đề xuất của ông cho phù hợp với thực tiễn của mỗi nước Vấn đề nhân
Trang 14trắc học còn được thể hiện qua các công trình nghiên cứu của P N Baskirov trong cuốn "Nhân trắc học" (1962) ông đã đưa ra quy luật phát triển cơ thể người dưới ảnh hưởng điều kiện sống, Evan Dervael trong cuốn "Nhân trắc học" (1964) đã đưa ra nhận xét toàn diện về các quy luật phát triển thể lực theo giới tính, lứa tuổi và nghề nghiệp [31, 62, 63]
Cũng trong khoảng thời gian này, đi sâu vào nghiên cứu sự tăng trưởng
về mặt hình thể người gắn liền với nghiên cứu các đại lượng có thể đo lường được bằng kỹ thuật nhân trắc Công trình đầu tiên là do Christian Fridrich Jumpert người Đức công bố năm 1754 Trong luận án Tiến sĩ của mình ông
đã nghiên cứu sự tăng trưởng một cách hoàn chỉnh ở các lớp tuổi từ 1 đến 25 Công trình này được nghiên cứu theo phương pháp cắt ngang (Cross - sectional study) là phương pháp được dùng phổ biến với ưu điểm là rẻ tiền, nhanh và thực hiện được nhiều đối tượng cùng một lúc Cũng trong khoảng thời gian này P Montbeilard thực hiện nghiên cứu dọc (Longitudinal study) đầu tiên trên con trai mình liên tục trong 18 năm từ khi sinh ra (năm 1759) đến năm 18 tuổi (năm 1777) Sau đó còn có nhiều công trình khác của Edwin Chadwick (Anh), Carlchule (Đức), H P Bowditch (Mỹ) Vào năm 1977, Hiệp hội các nhà tăng trưởng học đã thành lập đánh dấu bước ngoặt trong nghiên cứu về hình thái con người trên thế giới Năm 2007, WHO công bố chuẩn tăng trưởng của trẻ em học đường và người trưởng thành đánh dấu một mốc quan trọng cho các nghiên cứu ứng dụng của các chỉ số hình thái để đánh giá tình trạng dinh dưỡng và phát triển thể lực của con người [63, 72]
1.1.2 Một số nghiên cứu về hình thái cơ thể người ở Việt Nam
So với các nước trên thế giới, ở Việt Nam các nghiên cứu về hình thái diễn ra muộn hơn, điều này thể hiện ở công trình nghiên cứu đầu tiên về sự tăng trưởng chiều cao, cân nặng trẻ em là của Mondiere vào năm 1875, vào thế kỷ XX tại trường Đại học Y khoa Đông Dương (1936–1944) đã xuất
Trang 15hiện các công trình nghiên cứu của P Huard và A Bigot (1938) Những công trình này đã nêu được các đặc điểm nhân trắc của người Việt Nam đương thời [62, 63]
Từ năm 1954 đến nay, việc nghiên cứu hình thái học đã được đẩy mạnh, chuyên môn hoá và các hội nghị cấp quốc gia, địa phương về lĩnh vực này được tổ chức nhiều lần Năm 1975 cuốn “Hằng số sinh học của người Việt Nam” do GS Nguyễn Tấn Gi Trọng chủ biên được xuất bản Đây là công trình khá hoàn chỉnh về các chỉ số sinh học người Việt Nam ở mọi lứa tuổi, trong đó có lớp tuổi từ 12 đến 15 tuổi Đây là công trình nghiên cứu của tập thể các nhà khoa học y học, đại diện cho các chuyên khoa, chuyên ngành
Y học Việt Nam Tuy nhiên, đây mới chỉ là các chỉ số sinh học của người miền Bắc (do hoàn cảnh lịch sử) Song nó thực sự là chỗ dựa tin cậy cho các nghiên cứu về người Việt Nam sau này [64]
Sau năm 1975, khi đất nước hoàn toàn thống nhất, việc nghiên cứu hình thái của trẻ em được nhiều tác giả thực hiện Điển hình là Thẩm Thị Hoàng Điệp đã nghiên cứu dọc trên 101 học sinh Hà Nội từ 6 -17 tuổi Với
31 chỉ tiêu được nghiên cứu tác giả đã kết luận: chiều cao của học sinh phát triển mạnh nhất với nữ 11 - 12 tuổi và ở nam 13 - 15 tuổi, còn cân nặng phát triển mạnh nhất với nữ 13 tuổi và nam 15 tuổi Tác giả cũng nhận thấy rằng, quy luật phát triển theo giai đoạn chỉ phù hợp với quy luật chiều cao, còn quy luật phát triển kích thước các vòng gần giống quy luật phát triển cân nặng Năm 1989, Thẩm Thị Hoàng Điệp và cs nghiên cứu về sự phát triển chiều cao, vòng ngực, vòng đầu của trên 8000 người Việt Nam tuổi từ 1 - 55
ở ba miền (Bắc, Trung, Nam) Các tác giả đã nhận xét rằng, chiều cao trung bình của nam trưởng thành là 163 cm và nữ là 158 cm Chiều cao tăng nhanh đến tuổi 18 ở nam còn ở nữ đến tuổi 14 Vòng ngực trung bình của nam
Trang 16trưởng thành là 78 - 80 cm, vòng đầu là 55 - 56 cm, còn ở nữ tương ứng bằng 79 cm và 54 - 55 cm [22, 23]
Năm 1991, Đào Huy Khuê đã nghiên cứu 36 chỉ tiêu kích thước liên quan với sự tăng trưởng và phát triển cơ thể của 1478 học sinh từ (6 - 17) tuổi ở thị xã Hà Đông, tỉnh Hà Sơn Bình Tác giả nhận thấy, hầu hết các chỉ
số sinh học đều tăng dần theo tuổi nhưng nhịp độ tăng trưởng không đều Tốc độ tăng trưởng lớn nhất ở nam thường ở lứa tuổi (14 - 16) và của nữ ở lứa tuổi (11 - 15) [40]
Từ năm 1991 - 1995, nhóm tác giả Trần Văn Dần và cs đã nghiên cứu trên học sinh một số tỉnh thành là Hà Nội, Vĩnh Phúc, Thái Bình và nhận thấy, so với dẫn liệu trong cuốn "Hằng số sinh học người Việt Nam" thì sự phát triển chiều cao của trẻ em 6 - 16 tuổi tốt hơn, đặc biệt trẻ em thành phố, thị xã, còn ở khu vực nông thôn chưa thấy có sự thay đổi đáng kể [15]
Nhóm tác giả A Goran, Nguyễn Công Khanh và cs (1996) đã nghiên cứu trên học sinh Hà Nội về chiều cao, cân nặng, cho thấy, cả hai chỉ số này đều tăng theo tuổi [27] Điều này cũng thể hiện trong các nghiên cứu khác [2, 24, 39]
Những nghiên cứu ở các dân tộc khác nhau, cho thấy sự khác biệt về chủng tộc cũng là yếu tố tác động đến hình thái của học sinh Nguyễn Quang Mai và cs năm 1998 đã nghiên cứu trên nữ sinh các dân tộc ít người cho thấy, chiều cao và cân nặng trung bình của nữ sinh các dân tộc thiểu số tăng từ tuổi
12 đến 15 Thời điểm tăng nhảy vọt chiều cao đứng và cân nặng trung bình của nữ sinh dân tộc thiểu số đến sớm hơn so với dẫn liệu trong cuốn “Hằng số sinh học người Việt Nam”, nhưng muộn hơn so với học sinh Thái Bình và Hà Nội từ 1 đến 2 năm [53, 57]
Năm 2000, Đào Mai Luyến nghiên cứu thể lực của người Ê Đê và người Kinh định cư ở Đăk Lăk cho thấy, hình thái của người Ê Đê tốt hơn của
Trang 17người Kinh Tác giả cho đây là điểm khác biệt mang tính dân tộc và do môi trường sống ảnh hưởng nhất định tới khả năng tăng trưởng các chỉ số hình thái Đoàn Văn Huyền và cs cũng cho rằng, giữa cơ thể và môi trường có mối liên quan chặt chẽ với nhau Môi trường sống ảnh hưởng đến trao đổi chất và điều hoà thân nhiệt nên ảnh hưởng đến các chỉ số hình thái của cá thể Ngoài ra,
sự rèn luyện thể lực cũng tác động đến chiều cao, cân nặng và kích thước một số vòng của cơ thể Các yếu tố xã hội cũng ảnh hưởng đến sự phát triển của cơ thể, đặc biệt là ở tuổi dậy thì [51, 52, 56, 66]
Trần Thị Loan từ năm 1999-2002 nghiên cứu trên học sinh Hà Nội từ 6
- 17 tuổi đã nhận thấy, các chỉ số hình thái như chiều cao, cân nặng, vòng ngực của học sinh lớn hơn so với kết quả nghiên cứu của các tác giả khác từ thập kỷ 80 trở về trước và lớn hơn so với học sinh ở các tỉnh Thái Bình, Hà Tây, ngoại thành Hải Phòng Điều này chứng tỏ, điều kiện sống đã ảnh hưởng đến các chỉ số hình thái của học sinh [49, 50]
Trong dự án do trường Đại học Y Hà Nội và Bộ Y tế nghiên cứu
“Giá trị sinh học người Việt Nam bình thường thập kỷ 90 – thế kỷ XX” trên cả ba miền Bắc, Trung, Nam bao gồm cả thành thị, nông thôn, miền núi và đồng bằng đã đưa ra một số chỉ số nhân trắc của người Việt Nam Theo kết quả dự án này các chỉ số sinh học chịu ảnh hưởng của yếu tố môi trường và dân tộc [65]
Năm 2006, trung tâm Tâm lý học và sinh lý lứa tuổi thuộc Viện Chiến lược và Chương trình giáo dục đã tiến hành nghiên cứu các chỉ số cơ bản về sinh lý và tâm lý của học sinh phổ thông lứa tuổi từ 8 - 20 Kết quả nghiên cứu chiều cao đứng ở học sinh nam và nữ ở mọi lứa tuổi 11 - 15 và ở nữ mọi lứa tuổi (trừ 16 và 18) đã thoát khỏi trạng thái còi cọc Các số liệu về cân nặng cho thấy sự phân hoá sâu sắc ngay trong nhóm trẻ cùng độ tuổi, bên cạnh trẻ nhẹ cân đã xuất hiện những trẻ có dấu hiệu béo phì, đặc biệt là trẻ em
Trang 18ở các thành phố lớn Có sự tăng trưởng về các giá trị tuyệt đối trung bình của vòng ngực trong các lứa tuổi Như vậy là đã có sự chuyển biến tích cực về mặt hình thể của học sinh trong giai đoạn này [68]
Năm 2009, Đỗ Hồng Cường nghiên cứu các chỉ số chiều cao, cân nặng của các học sinh THCS ở tỉnh Hoà Bình thuộc các dân tộc Mường, Thái, Kinh, Tày và Dao Tác giả nhận thấy, các chỉ số này ở học sinh dân tộc Mường, Thái, Kinh cao hơn so với học sinh dân tộc Tày, Dao Tác giả cho rằng, điều này liên quan tới nơi cư trú của các em Học sinh các dân tộc Mường, Thái, Kinh sống ở vùng đồng bằng, thành phố và thị trấn, còn đa số học sinh các dân tộc Tày, Dao sống ở các vùng sâu, vùng xa thuộc huyện Đà Bắc, nơi có các điều kiện kinh tế - xã hội kém phát triển hơn so với thành phố
và đồng bằng [13]
Năm 2012, Nguyễn Thị Bích Ngọc nghiên cứu chiều cao, cân nặng, vòng ngực trung bình của học sinh từ 11-17 tuổi ở tỉnh Vĩnh Phúc, Phú Thọ thuộc các dân tộc Kinh, Mường và Sán Dìu Cho thấy, các chỉ số hình thái học sinh dân tộc Kinh lớn hơn so với học sinh dân tộc Mường và Sán Dìu Tác giả cho rằng, điều kiện kinh tế và tình trạng dinh dưỡng của người dân tộc Kinh cao hơn so với người dân tộc Mường và Sán Dìu nên ảnh hưởng đến
sự phát triển thể lực của học sinh mỗi dân tộc Thời điểm tăng vọt ba chỉ số hình thái (chiều cao, cân nặng, VNTB) của nữ đến sớm hơn so với nam khoảng 1 đến 2 năm [58]
Năm 2012, trong đề tài “Nghiên cứu một số chỉ số sinh học tuổi dậy thì của học sinh THCS Hà Nội và các định hướng giáo dục trong nhà trường” do Mai Văn Hưng và các cộng sự thực hiện cho thấy, các chỉ số hình thái cơ bản của học sinh THCS Hà Nội thay đổi mạnh trong giai đoạn dậy thì ở cả nam và nữ, đồng thời sự thay đổi này diễn ra sớm hơn
so với các nghiên cứu trước đó [35]
Trang 19Năm 2013, Trần Long Giang, Mai Văn Hưng khi nghiên cứu một số chỉ số hình thái của học sinh từ 6 đến 17 tuổi tại tỉnh Yên Bái nhận thấy, chiều cao đứng, cân nặng, vòng ngực trung bình, chỉ số BMI của học sinh dân tộc Kinh đều lớn hơn so với của học sinh dân tộc Dao, H’Mông và có giá trị lớn hơn so với các giá trị tương ứng nêu trong quyển “ Các GTSH người Việt Nam bình thường thập kỷ 90 – thế kỷ XX” và trong nghiên cứu của các tác giả trước đây [33]
Các công trình nghiên cứu về các chỉ số hình thái của học sinh Việt Nam khá phong phú Các kết quả nghiên cứu gần đây về thanh, thiếu niên Việt Nam đều cho thấy sự tăng lên đáng kể so với số liệu trong các nghiên cứu từ những năm trước Đặc biệt là từ sau năm 1975 đến nay khi tình hình kinh tế, văn hoá, xã hội của nước ta có nhiều thay đổi tốt hơn chắc chắn đã ảnh hưởng đến tầm vóc, sức khoẻ của con người Việt Nam Thanh niên thành phố thường có các chỉ số nhân trắc lớn hơn ở nông thôn Để giải thích sự khác biệt này có tác giả cho rằng, yếu tố cơ bản làm xuất hiện hiện tượng này là chất lượng cuộc sống Do điều kiện sống ở thành phố được cải thiện nên thanh niên thành phố thường có chiều cao, cân nặng lớn hơn thanh niên nông thôn cùng lứa tuổi [8 - 11, 16, 20, 24, 45]
1.1.3 Khái quát về hình thái cơ thể tuổi dậy thì
Trẻ em là một cơ thể đang lớn lên và đang phát triển Quá trình lớn lên
và phát triển cũng tuân theo quy luật chung của sự tiến hóa sinh vật Quá trình tiến hóa này không phải là một quá trình tuần tiến mà có những bước nhảy vọt Trong quá trình lớn lên phát triển cơ thể trẻ em, dậy thì là một giai đoạn đặc biệt, đó là giai đoạn biệt hóa giới tính lớn nhất, kèm theo sự thay đổi về thể chất, hình thái, tâm lý và nhận thức …[19]
Tuổi dậy thì là giai đoạn đặc biệt trong quá trình phát triển của một con
người Đây chính là giai đoạn chuyển tiếp từ trẻ con thành người lớn và được
Trang 20đặc trưng bởi sự thay đổi mạnh mẽ về cả thể chất, tinh thần, hành vi, tình cảm
và đặc biệt là hoạt động chức năng của hệ thống sinh sản
Tuổi dậy thì, tăng trưởng là một trong nhưng biểu hiện rất quan trọng Tăng trưởng ở thời kỳ dậy thì được chia làm 3 giai đoạn liên tiếp nhau:
+ Tăng trưởng trước dậy thì: tốc độ tăng trưởng về chiều cao trung bình khoảng 4 - 5 cm/năm Thời kỳ này được gọi là tăng trưởng chậm trước dậy thì [76, 80, 87]
+ Tăng trưởng mạnh ở tuổi dậy thì: giai đoạn phát triển mạnh này kéo dài khoảng 4 năm, trong đó có một thời kỳ phát triển đột biến tạo thành đỉnh tăng trưởng ở tuổi dậy thì Đỉnh tăng trưởng xuất hiện sau khi có dấu hiệu bắt đầu dậy thì khoảng 2 năm, lứa tuổi xuất hiện đỉnh tăng trưởng của trẻ em gái thường xuất hiện sớm hơn ở trẻ em trai Đỉnh tăng trưởng thường xuất hiện ở trẻ em gái khoảng 12,5 tuổi, ở học trẻ em trai khoảng 15 tuổi Trong năm có mức tăng tối đa, ở trẻ em trai trung bình có thể đạt được 8 – 12 cm/năm, ở trẻ
em gái trung bình có thể đạt được 6 – 11 cm/năm [76, 80, 82, 84, 88]
+ Tăng trưởng giảm dần sau dậy thì: tốc độ tăng trưởng giai đoạn này chậm dần sau đó sẽ ngừng tăng trưởng ở tuổi trưởng thành [76, 84, 88]
Theo Tanner và Davies và các tác giả khác khi nghiên cứu về phát triển cân nặng ở tuổi dây thì cũng cho nhận xét: tăng cân không đều qua các lứa tuổi, ở tuổi dậy thì tốc độ tăng cân cũng nhiều hơn Firsh và cs thấy trẻ em gái bắt đầu hành kinh lần đầu khi có cân nặng tới hạn là (37,8 0,5) kg Lớp mỡ dưới da cũng thay đổi ở tuổi dậy thì, ở tuổi dậy thì nhất là trẻ em gái thấy hiện tượng tích mỡ mạnh ở ngực và mông [76, 84, 88]
Trang 21TÀI LIỆU THAM KHẢO
Tiếng Việt
1 Nguyễn Kỳ Anh (1998), “Một số nhận xét về sự phát triển chiều cao, cân
nặng của học sinh phổ thông Việt Nam trong những năm qua”, Tuyển tập nghiên cứu khoa học Giáo dục thể chất, sức khỏe trong trường học các cấp, Nxb Thể dục thể thao, Hà Nội, tr.184 - 187
2 Bộ môn nhi khoa, Trường Đại học Y khoa Hà Nội (1995), Đặc điểm về phát triển và phát dục ở trẻ em, Nxb Y học, Hà Nội
3 Bộ môn sinh lý (2007), Sinh lý học, Trường Đại học Y Hà Nội, Hà Nội
4 Carrol E.Izard (1992), Những cảm xúc của người, Nxb Giáo dục, tr.59-77
5 Trần Hồng Cẩm và cs (2000), "Giải thích thuật ngữ Tâm lý - Giáo dục
học", Dự án Việt - Bỉ "hỗ trợ học từ xa", Hà Nội
6 Nguyễn Huy Cận và cs, “Tình hình kinh nguyệt của nữ công nhân hai công trường giao thông” Tạp trí Y học thực hành, nhà xuất bản Y học, tr.7-10
7 Vũ Quỳnh Châu (2001), “Mối quan hệ giữa những hiểu biết của cảm xúc với sự
mất cân đối chức năng hai bán cầu não”, Tạp chí tâm lý học, Số 2 (26), tr.49-51
8 Nguyễn Hữu Chỉnh (1998), “Một số chỉ số nhân trắc cư dân huyện An
Hải, thành phố Hải Phòng”, Kỷ yếu công trình nghiên cứu khoa học,
tập1, Nxb Y học, Hà Nội, tr.21-31
9 Nguyễn Hữu Choáng, Nguyễn Thái Bình, Nguyễn Hữu Chỉnh (1996),
"Một số nhận xét về thể lực của nam thanh niên Hồng Bàng, Hải Phòng",
Kết quả bước đầu nghiên cứu một số chỉ số sinh học người Việt Nam,
Nxb Y học, Hà Nội, tr.78-81
10 Lương Kim Chung (1998), “Suy nghĩ về phát triển thể chất đối với nguồn
lao động tương lai”, Tuyển tập nghiên cứu khoa học Giáo dục thể chất, sức
Trang 22khỏe trong trường học các cấp, Nxb Thể dục thể thao, Hà Nội, tr.14-20
11 Cục thống kê Thanh Hóa (2000), Niên giám thống kê 1996-2000
12 Đỗ Hồng Cường (2006), "Nghiên cứu về tuổi dậy thì hoàn toàn của học
sinh THCS các dân tộc tại tỉnh Hòa Bình", Tạp chí khoa học, Trường
Đại học Sư phạm Hà Nội, số 6, tr.112-115
13 Đỗ Hồng Cường (2009), Nghiên cứu một số chỉ số sinh học của học sinh THCS các dân tộc tỉnh Hoà Bình, Luận án Tiến sỹ Sinh học, Hà Nội 2009
14 Daniel Goleman (2007), Trí tuệ cảm xúc, Nxb Lao động và Xã hội
15 Trần Văn Dần và cs (1996), “Các chỉ tiêu hình thái ở trẻ em lứa tuổi học
sinh”, Những kết quả bước đầu nghiên cứu một số chỉ tiêu sinh học người Việt Nam, Nxb Y học, Hà Nội
16 Trần Văn Dần và cs (1997), “Một số nhận xét về phát triển thể lực của học sinh lớp tuổi 8 - 14 trên một số vùng dân cư miền Bắc Việt Nam trong thập
kỉ 90”, Bàn về đặc điểm tăng trưởng người Việt Nam, Đề tài KX-07-07,
Hà Nội, tr.480 - 490
17 Phan Văn Duyệt, Lê Nam Trà (1996), "Một số vấn đề chung về phương pháp
luận trong nghiên cứu các chỉ tiêu sinh học", Kết quả bước đầu nghiên cứu một số chỉ tiêu sinh học người Việt Nam, Nxb Y học, Hà Nội, tr.13 - 16
18 Trịnh Bỉnh Dy, Đỗ Đình Hồ, Phạm Khuê, Nguyễn Quang Quyền (1982), Về những thông số sinh học ở người Việt Nam, Nxb Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội, 16C
19 Nguyễn Phú Đạt , Nghiên cứu về tuổi dậy thì và một số yếu tố ảnh hưởng ở một
số tỉnh phía Bắc Việt Nam, Luận án tiễn sy Y học, Đại học Y Hà Nội, 2002
20 Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
IX, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2001
Trang 2321 Bùi Văn Đăng, Đỗ Đức Hồng, Hà Huy Sơn và cs (1996), “Nhận xét bước
đầu thể lực sinh viên Đại học Y Thái Bình”, Kết qủa ban đầu nghiên cứu một số chỉ tiêu sinh học người Việt Nam, Nxb Y học, Hà Nội, tr.84 - 86
22 Thẩm Thị Hoàng Điệp (1992), Đặc điểm hình thái và thể lực của học sinh một trường phổ thông cơ sở ở Hà Nội, Luận án Phó tiến sĩ khoa học
Y dược, Đại học Y khoa Hà Nội
23 Thẩm Thị Hoàng Điệp, Nguyễn Quang Quyền, Vũ Huy Khôi và cs (1996), “Một số nhận xét về phát triển chiều cao, vòng đầu, vòng ngực
của người Việt Nam từ 1 - 55 tuổi”, Kết quả bước đầu nghiên cứu một
số chỉ tiêu sinh học người Việt Nam, Nxb Y học, Hà Nội, tr.68 - 71
24 Đoàn Văn Điểu (2000), "Nghiên cứu một số quan hệ trí lực và năng lực
học toán của học sinh THCS", Kỷ yếu công trình nghiên cứu khoa học tâm lý giáo dục, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, tr.185 - 189
25 Phạm Thị Minh Đức, Lê Thị Liên, Phùng Thị Liên (1998), “Một số chỉ
số về kinh nguyệt của phụ nữ và nữ sinh Hà Nội”, Kỷ yếu công trình nghiên cứu khoa học, (1), Nxb Y học, Hà Nội, tr.114 - 152
26 Phạm Thị Minh Đức và cs (2009), Sinh lý học, Nxb Y học, Hà Nội
27 Goran A, Nguyễn Công Khanh và cs (1996), "Các chỉ tiêu hình thái trẻ em lứa
tuổi học sinh trường Thành Công A, Đống Đa, Hà Nội", Kết quả bước đầu nghiên cứu một số chỉ tiêu sinh học người Việt Nam, Nxb Y học, Hà Nội, tr.26
28 Phạm Minh Hạc (2006), Tuyển tập tâm lý học, Nxb Chính trị Quốc gia
29 Lê Văn Hảo (1998), “Chỉ số cảm xúc (EQ)”, Tạp chí tâm lý học, số 4, tr.51-53
30 Trịnh Hữu Hằng (1998), Sinh học cơ thể động vật, tập 2, Nxb Đại học Quốc
gia Hà Nội
Trang 2431 Nguyễn Đức Hồng (1996), “Đặc điểm nhân trắc hình thái người Việt trong
lớp tuổi lao động giai đoạn 1981-1985”, Kết quả bước đầu nghiên cứu một
số chỉ tiêu sinh học người Việt Nam, Nxb Y học, Hà Nội, tr.63-67
32 Nguyễn Mộng Hùng (1993), Bài giảng sinh học phát triển, Nxb Khoa
học và Kỹ thuật, Hà Nội
33 Trần Long Giang , Mai Văn Hưng (2013), “Nghiên cứu một số chỉ số
hình thái của học sinh từ 6 đến 17 tuổi trung học tại tỉnh Yên Bái”.Tạp chí Y- Dược số 448, 2013
34 Trần Long Giang, Mai Văn Hưng (2012), “Đặc điểm các dấu hiệu dậy
thì của học sinh theo vùng sinh thái” Tạp chí khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội, tập 28, số 1, 2012
35 Trần Long Giang, Mai Văn Hưng (2012), “Nghiên cứu một số chỉ số sinh
học THCS Hà Nội và những định hướng giáo dục trong nhà trường” Tạp chí giáo dục,số 108, 2012
36 Mai Văn Hưng (2003), Nghiên cứu một số chỉ số sinh học và năng lực trí tuệ của sinh viên một số trường Đại học phía Bắc Việt Nam, Luận án
Tiến sĩ Sinh học, Đại học Sư Phạm Hà Nội
37 Mai Văn Hưng (2012), Sinh lý học động vật và người, tập 3, Nxb Khoa
học và Kỹ thuật, Hà Nội
38 Nguyễn Công Khanh (2002), “Cơ sở phương pháp luận nghiên cứu trí
thông minh cảm xúc”, Tạp chí tâm lý học, số 11 (44), tr.3-11,14
39 Nguyễn Khải và cs (1978), "Tình hình thể lực của học sinh phổ thông
thành phố Huế ", Hình thái học, tập 9, (1), tr.1-28
40 Đào Huy Khuê (1991), Đặc điểm về kích thước hình thái, về sự tăng trưởng và phát triển cơ thể của học sinh phổ thông 6 - 17 tuổi (thị xã Hà Đông, tỉnh Hà Sơn Bình), Luận án Phó tiến sĩ Sinh học, Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội
Trang 2541 Đào Huy Khuê, Nguyễn Thị Tân, Nguyễn Đức Nghĩa (1993), "Đặc điểm chính sinh dục của học sinh phổ thông thị xã Hà Đông", Tập san Hình thái học, tập (1), tr.23-31
42 Phạm Văn Kiều (1999), Lý thuyết xác suất và thống kê toán học, Nxb Khoa học và
Kỹ thuật, Hà Nội
43 Đinh Kỷ, Cao Quốc Việt (1986), Bàn về tuổi dậy thì ở trẻ em nước ta những năm 1978 - 1980, Tóm tắt công trình Nghiên cứu khoa học CKH
của Viện BVBMTSS, 1980-1985, Nxb Y học, Hà Nội
44 Tạ Thúy Lan (2004), Sinh lý học thần kinh, tập 1, Nxb Đại học Sư phạm, Hà Nội
45 Tạ Thuý Lan (2007), Sinh lý hoạt động thần kinh cấp cao, tập 2, Nxb
Đại học Sư phạm, Hà Nội
46 Tạ Thúy Lan, Trần Thị Loan (1995), Sinh lí trẻ em, Nxb Đại học Sư
phạm, Hà Nội
47 Tạ Thúy Lan, Đàm Thị Sào (1998), “Sự phát triển thể lực của học sinh
một số trường tiểu học và THCS ở Hà Tây”, Thông báo khoa học,
Trường Đại học Sư phạm, Đại học Quốc Gia Hà Nội, (6), tr.91-96
48 Lê Thu Liên (1998), “Cơ sở sinh lý của hoạt động cảm xúc”, Chuyên đề sinh lý học, Tập 1, Nxb Y học, Hà Nội, tr.154-171
49 Trần Thị Loan (1999), "Nghiên cứu các chỉ số hình thái, thể lực của học
sinh tại một số trường phổ thông thuộc thành phố Hà Nội", Tạp chí sinh
lý học, tập 3 (số 12), tháng 12/1999, tr.23-30
50 Trần Thị Loan (2002), Nghiên cứu một số chỉ số thể lực và trí tuệ của học sinh từ 6 đến 17 tuổi tại quận Cầu Giấy - Hà Nội, Luận án Tiến sĩ
Sinh học, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
51 Trần Đình Long và cs (1998), “Nghiên cứu đặc điểm sự phát triển cơ thể
thanh thiếu niên”, Kỷ yếu công trình nghiên cứu khoa học, tập1, Nxb Y
học, Hà Nội, tr.32-38
Trang 2652 Đào Mai Luyến (2001), Nghiên cứu một số chỉ số sinh học của người Êđê và người kinh định cư ở Đắc Lắc, Luận án Tiến sĩ Y học, Học viện Quân Y Hà Nội
53 Nguyễn Quang Mai, Nguyễn Thị Lan (1998), “Nghiên cứu về một số chỉ tiêu về thể lực và sinh lí tuổi dậy thì ở các nữ sinh dân tộc ít người
thuộc tỉnh Vĩnh Phúc và Phú Thọ”, Thông báo khoa học, Trường Đại
học Sư phạm Hà Nội – Đại học Quốc gia Hà Nội, (6), tr.86-89
54 Nguyễn Kim Minh (1998), “Hình thái đồ theo dõi và phát triển thể
chất”, Tuyển tập nghiên cứu khoa học Giáo dục thể chất - Sức khỏe trong trường học các cấp, Nxb Thể dục thể thao, Hà Nội, tr.23-29
55 Trịnh Văn Minh, Trần Sinh Vương, Thẩm Thị Hoàng Điệp và cs (1992),
“Kết quả điều tra thí điểm một số chỉ tiêu nhân trắc của người Việt
Nam bình thường tại xã Liên Minh ngoại thành Hà Nội”, Kết quả bước đầu nghiên cứu một số chỉ tiêu sinh học người Việt Nam, Nxb Y học,
Hà Nội, tr.32-48
56 Nguyễn Văn Mùi, Tô Như Khuê (2001), “Nghiên cứu một số chỉ số hình
thái thể lực của vận động viên các đội tuyển bóng đá Hải Phòng”, Tạp chí sinh lí học, (5), N03 12/2001, tr.46-52
57 Lê Văn Nghị (2002), “Nghiên cứu một số chỉ tiêu về thể lực và sức khỏe
của thanh niên sau một khóa huấn luyện tân binh”, Tạp chí sinh lí học,
(6), N01 4/2002, tr.7-12
58 Nguyễn Thị Bích Ngọc (2012), Nghiên cứu một số chỉ số sinh học, trí tuệ
và vận dụng câu hỏi test để đánh giá học lực của học sinh miền núi từ 11 -
17 tuổi tỉnh Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Luận án Tiến sĩ Sinh học, Đại học Sư
phạm Hà Nội
59 Nguyễn Thu Nhạn, Cao Quốc Việt, Nguyễn Nguyệt Nga, Nguyễn Phú Đạt và
cs (1991), “tuổi dậy thì của trẻ em tuổi học đường”, Kỷ yếu công trình nghiên cứu khoa học 10 năm (1981-1990), Viện Bảo vệ bà mẹ và trẻ sơ sinh
Trang 2760 Roger Fisher & Dianiel Shapiro (2009), Sức mạnh trí tuệ cảm xúc, Nxb
Trẻ, tr.10-28, Thành phố Hồ Chí Minh
61 Phan Thị Sang (1996), Nghiên cứu một số chỉ số sinh lý sinh dục, sinh sản ở nữ sinh và phụ nữ trên địa bàn thành phố Huế, Luận án Tiến sĩ
Sinh học, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
62 Nguyễn Thạc, Lê Văn Hồng (1993), “Nghiên cứu chẩn đoán sự phát
triển trí tuệ của học sinh”, Nghiên cứu giáo dục, (11), tr.21-22
63 Lê Nam Trà, Trần Đình Long (1997), “Tăng trưởng trẻ em”, Bàn về đặc điểm tăng trưởng người Việt Nam, Đề tài KX-07-07, Hà Nội, tr.6-36
64 Nguyễn Tấn Gi Trọng, Vũ Triệu An, Trần Thị Ân và cs (1975), HSSH người Việt Nam, Nxb Y học, Hà Nội
65 Lê Ngọc Trọng và cs (2003), Các GTSH người Việt Nam bình thường thập kỷ 90 - thế kỷ XX, Nxb Y học, Hà Nội, tr.7-165
66 Cao Quốc Việt (1997), “Nội tiết và tăng trưởng”, Bàn về đặc điểm tăng trưởng người Việt Nam, Đề tài KX-07-07, Hà Nội, tr.92-125
67 Cao Quốc Việt, Nguyễn Phú Đạt (1997), Phát triển tuổi dậy thì bình thường ở trẻ em, Đề tài KX-07-07, Hà Nội, tr.92-125
68 Viện Nghiên Chiến lược và chương trình giáo dục (2006), Các chỉ số
cơ bản về sinh lí và tâm lý học sinh phổ thông hiện nay, Nxb Giáo
dục, Hà Nội
69 Nguyễn Như Ý (chủ biên) (1999), Đại từ điển tiếng Việt, Nxb Văn
Hóa thông tin, tr.246, 1649, 1705, 1555
Trang 2871 Jeremy S.D(1993), Hyperandrogenism in female adolescents, Opinion in
Pediatrics(5), pp.488-493
72 Lucky A.W, Biro F.M, Huster G.A,morrison J.A, Elder N(1991), Acne vulgaris in early adolescent boys Correlations with pubertal maturation and age, Arch Dermatol,127, pp.210-216
73 Lucky A.W, Biro F.M, Huster G.A, Leach A.D, Morrisow J.A, Rattemen
J (1994), Acne vulgaris in premenarchal girls, an early sign of puberty associated with rising levels of dehydroepiandrosterone, Dermatol USA,
78 Paul S , Eward O.R(1991), “Premature adrenarche: A normal variant of
puberty”, Journal of clinical Endocrinology and Metabolism, vol 74,(2),
pp.236-238
79 Robert R Kelch and Edward Reiter (1994), Adolescent sexual development, The dignosis and treatment of endocrine disorers in childhood and adolescence – Forth edition(USA), pp.193-235
80 Rolland Cachera M.F(1993), Body composition during adolescence,
Horm Res Paris France (3), pp.25-40
81 Rogol A.D(1998), “Growth at puberty”, Medicine & science in sport & exercise, pp.767 – 770
Trang 2982 Styne D.M (2001), “Puberty and its disorders”, Clinical pediatric Endocrinology, pp.140-191
83 Tanner J.M, Whitehouse R.H, Marrubini E, Resele L.F (1976), The adolescent growth spurt of boys and girls of the Harpenden growth study, Ann Hurm Biol(3), pp.109-126
84 Tanner J.M (1978), Foetus into man, Open books publishing Ltd West
comton house – London, pp.117-153
85 Tanner J.M(1994), Auxology, The diagnosis and treatmen of endocrine disorders in childhood and adolescence, Charles C Thomas Pulisher, pp.137-192
86 Zachman M, prader A and al (1974), Tesicular volume during adolescence cross-sectional and longistudinal studies, Helv Pedi Act, pp.61-72
87 WHO (1992), Health environment, an development, the meaning of health, Health and the environment, health and development, Our planet, our health, rport of the WHO commission on health and environment, WHO, Geneva, pp.1-19
Tiếng Pháp
88 Bost R, Colle M(1995), “Syndurome de Turner: Puberté, traitement
estro-progestatif , protocole est elle”, Le syndrome de Turmer, pp.21-25
89 Sempe M, Charles A.H, Pierre C.S (1996), Croissance et developpenment de l’enfant et de l’adolescent, Precis de pesdiatrie,
Editions Payot Lausanne Doin editeurs Paris, pp.47-78