Quan hệ giữa dân số với môi trường là một trong những yếu tố quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế xã hội. Do đó, đối với mỗi quốc gia cần phải quan tâm giải quyết tốt mối quan hệ giữa dân số với môi trường. Bản tuyên bố Amxtecdam năm 1989 đã khẳng định: “Dân số, môi trường và tài nguyên là một thể liên kết khăng khít” và nhấn mạnh sự cần thiết phải đảm bảo “Mối liên hệ bền vững giữa số lượng người, nguồn tài nguyên và sự phát triển”.
Trang 1BÀI GIẢNG
DÂN SỐ VỚI TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
1 Đặt vấn đề
Quan hệ giữa dân số với môi trường là một trong những yếu tố quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội Do đó, đối với mỗi quốc gia cần phải quan tâm giải quyết tốt mối quan hệ giữa dân số với môi trường Bản tuyên bố
Amxtecdam năm 1989 đã khẳng định: “Dân số, môi trường và tài nguyên là một thể liên kết khăng khít” và nhấn mạnh sự cần thiết phải đảm bảo “Mối liên
hệ bền vững giữa số lượng người, nguồn tài nguyên và sự phát triển”
Hiện nay chúng ta đang đứng trước tình trạng quá tải dân số, nguy cơ môi trường bị huỷ hoại, ô nhiễm và khan hiếm tài nguyên do tình trạng khai thác bừa bãi… Chất lượng cuộc sống và sức khoẻ của con người ngày càng bị
đe doạ Đứng trước tình hình đó đòi hỏi con người phải có sự thay đổi hành vi đối với vấn đề môi trường và kiểm soát tốc độ tăng dân số
Nhận thức đúng đắn mối quan hệ giữa dân số với tài nguyên môi trường trong sự phát triển bền vững, thực hiện tốt chính sách bảo vệ, tái tạo sử dụng có hiệu quả nguồn tài nguyên môi trường là đòi hỏi hết sức cấp bách đối với các cấp, các ngành, đối với mọi người và đặc biệt là đối với đội ngũ cán
bộ lãnh đạo, quản lý
2 Mục đích, yêu cầu
Trang bị cho người học một số vấn đề cơ bản về thực trạng tác động của dân số với tài nguyên môi trường trên thế giới và ở Việt Nam hiện nay Nhận thức về sự cân bằng dân số với tài nguyên môi trường đối với sự phát triển bền vững ở Việt Nam hiện nay
3 Nội dung
I THỰC TRẠNG DÂN SỐ VỚI TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG TRÊN THẾ GIỚI VÀ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
1 Một số khái niệm liên quan
2 Những biến đổi về dân số, tài nguyên và môi trường trên thế giới
3 Những thách thức đối với tài nguyên, môi trường và sự phát triển bền vững ở Việt Nam
Trang 2II SỰ CÂN BẰNG DÂN SỐ VỚI TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
- YÊU CẦU TẤT YẾU VÀ CẤP BÁCH CỦA SỰ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG Ở VIỆT NAM
1 Quy mô và tốc độ gia tăng dân số với tài nguyên và môi trường
2 Cơ cấu dân số, phân bố dân cư với tài nguyên, môi trường
3 Chất lượng dân số với tài nguyên và môi trường
4 Một số nhận thức và quan điểm về dân số với tài nguyên và môi trường
* Kết luận.
4 Phương pháp: Diễn giải, phân tích, gợi ý nghiên cứu, lấy ví dụ thực
tiễn chứng minh
5 Trọng tâm: Phần I.
6 Thời gian: (02 tiết)
7 Tài liệu tham khảo:
1 Giáo trình dân số và phát triển, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005
2 Giáo trình dân số và Kế hoạch hoá gia đình, Nxb QĐND, Hà Nội, 1996
3 Giáo trình cơ sở khoa học môi trường, Đại học quốc gia Hà Nội, 1997
-NỘI DUNG BÀI GIẢNG
I THỰC TRẠNG DÂN SỐ VỚI TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG TRÊN THẾ GIỚI VÀ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
1 Một số khái niệm liên quan
1.1 Môi trường
Luật bảo vệ môi trường của Việt Nam, Điều 1 định nghĩa: “Môi trường: gồm các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo có quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người có ảnh hưởng đến đời sống sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và thiên nhiên” 1
Khái niệm môi trường theo định nghĩa của Luật bảo vệ môi trường bao hàm môi trường tự nhiên và môi trường sinh thái
Môi trường tự nhiên: là các điều kiện tự nhiên bao quanh sinh vật có
ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp đến sự tồn tại và phát triển của sinh vật
1 Luật bảo vệ môi trường và Nghị định hướng dẫn thi hành, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1997, tr 5 - 6.
Trang 3(không khí, các nguồn tài nguyên thiên nhiên cung cấp sự sống cho mọi sinh vật,…)
Môi trường tự nhiên có các yếu tố cơ bản cấu thành như: khí hậu, địa hình, thuỷ văn, thổ nhưỡng, sinh vật (động vật và thực vật) Các yếu tố này luôn có mối liên hệ chặt chẽ với nhau, tác động quy định lẫn nhau, tạo nên một hệ thống cân bằng hoàn chỉnh
Môi trường sinh thái: Là môi trường tự nhiên khi có sự tác động của
con người
Nếu con người tác động đúng hướng sẽ tạo nên sự cân bằng sinh thái;
và ngược lại, nếu tác động sai sẽ làm mất cân bằng hệ sinh thái
Ví dụ, việc khai thác tài nguyên thiên nhiên phục vụ cuộc sống của con người, Việc khai phá các khu vực thiên nhiên xây dựng khu sinh thái song quá nặng về kinh doanh gây tổn hại đến môi trường,…
1.2 Tài nguyên
Tài nguyên theo nghĩa rộng là tất cả các dạng vật chất, tri thức được sử dụng để tạo ra của cải vật chất, hoặc tạo ra giá trị sử dụng mới của con người.
Có nhiều cách phân loại tài nguyên:
- Theo qua hệ với con người: Tài nguyên thiên nhiên, tài nguyên xã hội (cơ sở pháp luật, xã hội, làng xóm, nhà nước, phong tục, tập quán…)
- Theo phương thức và khả năng tái tạo: Tài nguyên tái tạo, tài nguyên không tái tạo
- Theo bản chất tự nhiên: Tài nguyên nước, đất, rừng, biển, không khí, khoáng sản, thông tin, kỳ quan thiên nhiên,…
Trong khoa học môi trường, tài nguyên thiên nhiên: bao gồm tất cả
các nguồn nhiên liệu, năng lượng, thông tin có trên trái đất và trong không gian vũ trụ có liên quan mà con người có thế sử dụng phục vụ cuộc sống và
sự phát triển của mình.
Tài nguyên thiên nhiên bao gồm hai loại:
- Tài nguyên tái tạo được: là những tài nguyên có thể tự duy trì, hoặc tự
bổ sung liên tục nếu được quản lý một cách khôn khéo (nước ngọt, đất, sinh vật…) là những tài nguyên tái tạo được Tuy nhiên, nếu sử dụng không hợp
lý, tài nguyên tái tạo có thể bị suy thoái không thể tái tạo được Ví dụ, tài nguyên nước có thể bị ô nhiễm, tài nguyên đất có thể bị mặn hoá, bạc màu, xói mòn…
Trang 4- Tài nguyên không tái tạo được: là những tài nguyên tồn tại một cách
hữu hạn, sẽ mất đi hoặc hoàn toàn bị biến đổi không còn giữ được tính chất ban đầu sau quá trình sử dụng Ví dụ, tài nguyên khoáng sản than, dầu có thể cạn kiệt sau khi khai thác, tài nguyên gien di truyền có thể mất đi cùng với sự tiêu diệt của các loài sinh vật quý hiếm
Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học, kỹ thuật đang làm thay đổi giá trị của nhiều loại tài nguyên Nhiều tài nguyên cạn kiệt trở nên quý hiếm; nhiều loại tài nguyên có giá trị cao trước đây nay trở thành phổ biến, giá rẻ do tìm được phương pháp chế biến hiệu quả hơn, hoặc được thay thế bằng loại khác Vai trò và giá trị của tài nguyên thông tin, văn hoá lịch sử đang gia tăng
1.3 Phát triển bền vững
Khái niệm: Phát triển bền vững là sự phát triển thoả mãn những nhu cầu trong hiện tại mà không xâm phạm đến khả năng làm thoả mãn nhu cầu của các thế hệ trong tương lai.
Thuật ngữ phát triển bền vững ra đời từ những năm 70 của thế kỷ XX,
nhận được chú ý của giới nghiên cứu về môi trường và phát triển nhờ sự ra đời của công trình “chiến lược bảo tồn thế giới”
Hội nghị thượng đỉnh về môi trường và phát triển bền vững tại Rio -Janiero (Brazil) tháng 6/1992 đã đưa ra ý kiến thống nhất của 170 quốc gia về
sự cần thiết phải xây dựng một xã hội phát triển bền vững trên trái đất Hội nghị đã đề ra 8 nguyên tắc xây dựng một xã hội phát triển bền vững
Nguyên tắc 1 Tôn trọng và quan tâm đến cuộc sống cộng đồng
Nguyên tắc 2 Cải thiện chất lượng cuộc sống con người
Nguyên tắc 3 Bảo vệ sức sống và sự đa dạng của trái đất
Nguyên tắc 4 Giữ vững trong khả năng chịu đựng được của trái đất Nguyên tắc 5 Thay đổi tập tục và thói quen cá nhân
Nguyên tắc 6 Để cho các cộng đồng tự quản lý môi trường của mình Nguyên tắc 7 Tạo ra một khuôn mẫu quốc gia thống nhất, thuận lợi cho việc phát triển và bảo vệ
Nguyên tắc 8 Xây dựng một khối liên minh toàn cầu
2 Những biến đổi về dân số, tài nguyên và môi trường trên thế giới
2.1 Phát triển dân số và đô thị hoá
- Tốc độ về quy mô phát triển dân số của thế giới thay đổi theo từng
thời gian và giai đoạn sau bao giờ cũng nhanh hơn giai đoạn trước Chẳng
Trang 5hạn, dân số thế giới năm 1950 mới có 2,5 tỉ người, thì năm 1990 đã là 5,2 tỉ người và hiện nay tính đến thời điểm 2009 là 6,777 tỉ người, đến năm 2025 dự đoán là 8,5 tỉ người
- Sự gia tăng các đô thị và tốc độ gia tăng dân số chóng mặt đã tạo nên
một số vấn đề thách thức về môi trường ở phạm vi quốc gia và địa phương
Hằng năm trên thế giới sự đô thị hoá chiếm 3%, riêng khu vực Châu Á
- Thái Bình Dương là 3% - 6,5%/ năm Năm 1995 có 45% dân số ở các đô thị,
dự đoán đến năm 2020 là 50% ở các nước đang phát triển và 75% ở các nước phát triển
Nếu như năm 1950 tổng dân số đô thị khoảng 750 triệu người, chiếm 30% tổng dân số thế giới thì đến năm 1990 con số đó tăng lên 2,28 tỉ người, chiếm 43% tổng dân số trên toàn thế giới
Đến năm 2020 dân số đô thị trên toàn thế giới dự tính sẽ lên tới 5,12 tỉ người, chiếm 61% tổng dân số thế giới Thực tế không dưới 94,7% tổng gia tăng dân số thế giới từ năm 1995 đến nay đang diễn ra ở đô thị
Trên thế giới hiện nay có 4 thành phố đông dân nhất thế giới: Tokyo là
35 triệu người, Mexico là 19,4 triệu người, NewYork là 18,7 triệu người, Bombay là 18,2 triệu người
Việc phát triển mạnh mẽ của các thành phố có liên quan chặt chẽ đến quá trình phát triển kinh tế Tốc độ tăng trưởng kinh tế và thu nhập bình quân đầu người ở các khu vực có mức độ đô thị hoá cao sẽ có xu thế cao hơn các khu vực khác, nhưng chính đây lại là nguyên nhân chủ yếu của suy thoái môi trường, khoét sâu thêm bất bình đẳng hiện có là điều dễ nhận thấy trong giai đoạn toàn cầu hoá
Trong chương trình hành động Hội nghị dân số và phát triển Cairo năm
1994 đã khẳng định: “việc đáp ứng những nhu cầu cơ bản của con người đối với việc dân số đang tăng trưởng phụ thuộc rất nhiều vào môi trường lành mạnh” và các yếu tố nhân khẩu học đã làm “trầm trọng thêm vấn đề suy thoái môi trường, cạn kiệt tài nguyên và vì thế hạn chế sự phát triển bền vững” 1
2.2 Những vấn đề môi trường toàn cầu
- Tài nguyên đất, rừng ngày càng cạn kiệt, suy giảm đa dạng sinh thái
1 Điểm 3.24; 3.25; 3.26 “Chương trình hành động Cairo” 1994.
Trang 6Đất là một dạng tài nguyên vật liệu của con người Đất có hai nghĩa: Đất đai (land) là nơi ở, xây dựng cơ sở hạ tầng của con người và thổ nhưỡng
(soil) là mặt bằng để sản xuất nông, lâm nghiệp Đất nghĩa thổ nhưỡng là là vật thể thiên nhiên có cấu tạo độc lập lâu đời, hình thành do kết quả của nhiều yếu tố: đá gốc, động vật, thực vật, khí hậu, địa hình và thời gian
Hiện nay quỹ đất cả thế giới là 14.777 triệu ha với mật độ trung bình 43 người/km2 Trong đó đất do con người sử dụng chiếm 37%
Diện tích đất bình quân đầu người ở các khu vực khác nhau: châu Á: 0,8
ha, châu Âu: 0,91 ha Mặc dù đất trồng trọt trong thập kỷ vừa qua tăng 1,8%/ năm, nhưng do tăng trưởng dân số quá cao nên diện tích bình quân trên đầu người ngày càng suy giảm Mặt khác đất trồng trọt thường do phá rừng mà có nên đã gây nên tác hại khôn lường về môi trường như rửa trôi, bạc màu, xói mòn, nhiễm mặn, nhiễm phèn, ô nhiễm, lũ lụt… Hiện nay trên 10% đất có tiềm
năng nông nghiệp bị xa mạc hoá, tốc độ xa mạc hoá ở xa mạc Sahara là 100m/ năm, hoặc 100.000ha/năm Diện tích đất bị thoái hoá của Trung Quốc là 280
triệu ha, chiếm 30% diện tích lãnh thổ, trong đó 36,67 triệu ha đất đồi bị xói
mòn nặng; 6,67 triệu ha bị chua măn; 4 triệu ha úng lầy Ấn Độ hàng năm bị
mất khoảng 3,7 triệu ha đất canh tác do các nguyên nhân trên
Đất là một hệ sinh thái hoàn chỉnh nên hệ sinh thái đất thường bị ô nhiễm bởi các hoạt động của con người Ô nhiễm đất có thể phân loại theo nguồn gốc phát sinh thành ô nhiễm do chất thải công nghiệp, chất thải sinh hoạt, chất thải của các hoạt động nông nghiệp, ô nhiễm nước và không khí từ các khu dân cư tập trung
Rừng là thảm thực vật của những cây thân gỗ trên bề mặt trái đất, giữ
vai trò to lớn đối với con người: cung cấp nguồn gỗ, củi; điều hoà khí hậu, tạo
ra ôxy; điều hoà nước; nơi cư trú của các loài động thực vật và tàng trữ nguồn gien quý hiếm
Toàn thế giới hiện có khoảng 3,4 tỉ ha rừng, trong đó có 1,76 tỉ ha rừng nhiệt đới Theo thống kê trong những năm 1980-1990 trung bình mỗi năm thế giới mất đi 15,4 triệu ha rừng nhiệt đới (0,8%) và toàn thế giới cứ 1 phút có
21 ha rừng bị chặt phá Mặc dù những năm qua, việc trồng rừng tăng khá nhanh (từ 1980 - 1990 tăng từ 18 triệu ha lên 40 triệu ha), nhưng trước sức ép tiêu dùng, diện tích rừng liên tục bị suy giảm Khu vực châu Á - Thái bình Dương có tốc độ mất rừng khá cao, hiện chỉ còn 0,2 ha/ người
Trang 7Đa dạng sinh học đang bị đe doạ nghiêm trọng Hoạt động của con người làm cạn kiệt nguồn tài nguyên thiên nhiên trái đất, môi trường sống bị giảm chất lượng, thậm chí bị phá huỷ hoàn toàn Hiện có tới 40% rừng nhiệt đới nguyên thuỷ bị phá huỷ Theo dự báo từ năm 1990 đến năm 2020 trên thế giới sẽ mất 5 - 10% các loài động, thực vật và đến năm 2050 tỉ lệ là 25%
Việc chặt phá rừng (mất nơi cư trú của các loài sinh vật), săn bắn, buôn bán động vật quý hiếm, chuyển đổi đất nông nghiệp với quy mô lớn, xây dựng các hồ đập với quy mô lớn là nguyên nhân cơ bản của sự mất đa dạng sinh học đang diễn ra từng ngày, từng giờ trên thế giới
- Tài nguyên nước nước suy giảm, chất lượng môi trường không khí tiếp tục suy thoái, môi trường ven biển và ven bờ bị đe doạ
Nước là tài nguyên vật liệu quan trọng nhất của loài người và sinh vật
trên trái đất Viện sĩ Xidorenco khẳng định: “Nước là khoáng sản quý hơn các loại khoáng sản”, ở Việt Nam nhà bác học Lê Quý Đôn cũng đã từng
khẳng định: “vạn vật không có nước không thể sống được, mọi việc không có nước không thành được” Con người mỗi ngày cần 250 lít nước cho sinh hoạt, 1.500 lít nước cho hoạt động công nghiệp và 2.000 lít cho hoạt động nông nghiệp Nước chiếm 99% trọng lượng sinh vật sống trong môi trường nước và 44% trọng lượng cơ thể con người Để sản xuất 1 tấn giấy cần 250 tấn nước, 1 tấn đạm cần 600 tấn nước và 1 tấn chất bột cần 1.000 tấn nước
Ngoài chức năng tham gia vào chu trình sống trên, nước còn là chất mang năng lượng (hải triều, thuỷ năng), chất mang vật liệu và tác nhân điều hoà khí hậu, thực hiện các chu trình tuần hoàn vật chất trong tự nhiên Có thể nói sự sống của con người và sinh vật trên trái đất đều phụ thuộc vào nước
Trên toàn thế giới 27% lượng nước là nước biển, trong số này có tới 69% ở dạng băng, tuyết Lượng nước để con người sử dụng từ các hồ, sông, suối chỉ chiếm 0,008% tổng lượng nước của toàn thế giới Nông nghiệp và công nghiệp đều cần một lượng nước rất lớn Chỉ trong một thế kỷ, lượng nước dùng cho nông nghiệp tăng từ 50 tỷ m3 lên 3.250 tỷ m3 (năm 2000), dùng cho công nghiệp cũng tương tự như trên, dùng cho sinh hoạt tăng từ 20
tỷ m3 lên 40 tỷ m3
Do sự phân bố không đều của tài nguyên nước, con người đã cho xây dựng các hồ chứa nhân tạo và làm thuỷ điện Năm 2000 lượng nước trong hơn 40.000 hồ chứa trên toàn thế giới là 7.500 tỷ m3
Trang 8Tuy nhiên, bên cạnh tác dụng điều tiết nước, thì các hồ này cũng còn gây ra nhiều tác động phức tạp về môi trường như sự biến động về lưu lượng dòng chảy ở mùa khô, cũng như lũ lụt ở mùa mưa, vấn đề ô nhiễm và biến đổi nguồn lợi thuỷ sản
Sự mất dần các khu rừng là nguyên nhân quan trọng gây nên việc hạn hán
do thiếu nước ở mùa khô và gây lũ lụt ở mùa mưa Những vấn đề ô nhiễm nước nguồn nước do bị nhiễm bẩn từ các chất thải công nghiệp, nông nghiệp, nước thải sinh hoạt với các hoá chất đã gây nên tác hại cho môi trường nguồn nước ảnh hưởng đến chính bản thân con người và các sinh vật sống dưới nước
Nước ngọt cũng đang ngày càng khan hiếm do quá trình phát triển dân
số, cũng như do tác động về môi trường kinh tế, xã hội
Hoạt động nông nghiệp cũng góp phần làm suy thoái chất lượng môi trường không khí do đốt nương làm rẫy gây ra khói bụi, các hoạt động khác như đốt gạch thủ công, tham gia giao thông, sử dụng nhiên liệu sinh hoạt… cũng là yếu tố gây ô nhiễm môi trường không khí không phải là nhỏ
Biển chiếm 65% diện tích bề mặt trái đất, vùng ven bờ chiếm 8% Biển
là nơi tập trung nhiều vùng sinh sống đa dạng, nơi cung cấp 80% sản lượng hải sản cho toàn thế giới
Hoạt động của con người làm cho hệ sinh thái và nguồn tài nguyên của biển và bờ biển bị suy thoái ở nhiều vùng, làm biến đổi những vùng biển trên quy mô lớn, thay đổi độ mặn tại vùng bờ biển - trầm tích do đắp đập ngăn sông Ô nhiễm biển ngày càng tăng, 3/4 chất ô nhiễm từ đất liền theo sông ra biển, hoặc trực tiếp xả xuống biển, hoặc từ khí quyển; 90% rác thải là hoá chất và các vật liệu lắng đọng tại bờ biển (tràn dầu…)
Tóm lại, có thể nói những vấn đề môi trường và tài nguyên toàn cầu
nêu trên đều có sự liên quan chặt chẽ đến những khía cạnh dân số, do đó, để phát triển bền vững bảo vệ môi trường cần phải giải quyết tốt vấn đề tác động của dân số với tài nguyên và môi trường
3 Những thách thức đối với tài nguyên, môi trường và sự phát triển bền vững ở Việt Nam
- Về tài nguyên đất: Việt Nam có diện tích đất tự nhiên là 33.168.000
ha; đứng thứ 55 trong số 200 nước trên thế giới Diện tích bình quân đầu người là 0,436 ha; đất canh tác thực tế chỉ chiếm 80% đất nông nghiệp; diện tích đất nông nghiệp trên đầu người chỉ có 0,09 ha
Trang 9- Về tài nguyên rừng: diện tích đất lâm nghiệp của nước ta chỉ còn 20
triệu ha (1993), trong đó có khoảng 9 triệu ha có rừng che phủ (46% đất lâm nghiệp, hoặc 27,8% tổng diện tích đất tự nhiên) Trong tổng diện tích rừng che phủ có 8,6 triệu ha là rừng tự nhiên (chiếm 94%) và hơn 550.000 ha là rừng trồng Tỷ lệ suy giảm rừng trong 1960 - 1975 là 1,4 - 2,4%/năm Hiện nay, tỉ lệ
đó vào khoảng 0,7 - 1,3%/năm và cao hơn tỉ lệ chung của toàn thế giới
Kết quả khảo sát diện tích mất rừng ở các vùng thời kỳ 1976 - 1995 như sau:
+ Vùng Tây Nguyên mất 552,8 nghìn ha (giảm 14,9%)
+ Vùng Đông Nam Bộ mất 308 nghìn ha (giảm 38,9%)
+ Vùng Bắc khu Bốn cũ mất 286,6 nghìn ha (giảm 23,11%)
- Về tài nguyên nước: Việt Nam có lượng mưa trung bình vào loại cao
1960 mm gấp 2,6 lượng mưa trung bình của lục địa Tổng lượng mưa trên toàn bộ lãnh thổ là 650 km3/năm, tạo ra dòng chảy nội địa 324 km3/năm Vùng có lưu lượng mưa cao là Bắc Quang 4.000 - 5.000mm, tiếp đó là vùng núi cao Hoàng Liên Sơn, Tiên Yên, Móng Cái, Hoành Sơn, Đèo Cả, Bảo Lộc, Phú Quốc 3.000 - 4.000mm Vùng mưa ít nhất là Ninh Thuận và Bình Thuận
600 - 700mm Ngoài dòng chảy nội địa, hàng năm lãnh thổ Việt Nam nhận thêm lưu lượng từ nam Trung Quốc và Lào khoảng 550 km3 Dòng chảy sông Việt Nam với lớp dòng chảy trung bình 980 mm gấp 3 lần mức trung bình thế giới Do vậy, tài nguyên nước mặt và nước ngầm Việt Nam rất phong phú, khoảng 150 km3 nước mặt/năm và 10 triệu m3 nước ngầm/ngày
Các vấn đề môi trường liên quan đến nguồn tài nguyên nước ở nước ta bao gồm:
+ Tình trạng thiếu nước mùa khô và lũ lụt mùa mưa đang xảy ra ở nhiều địa phương, với mức độ ngày càng nghiêm trọng Ví dụ như việc giảm trữ lượng nước ở các hồ thuỷ điện lớn (Thác Bà, Trị An, Hoà Bình…) hoặc lũ quét ở các tỉnh Sơn La, Tuyên Quang, miền Trung…), nguyên nhân chủ yếu
là nạn chặt phá rừng, tình trạng ô nhiễm nguồn nước ngầm đang xảy ra ở nhiều nơi địa phương Ví dụ như tại các xã Gia Phố, Phú Phong, Hương Long (huyện Hương Khê); Đức Đồng, Đức Lạng (huyện Đức Thọ), ước tính có trên 4.000 ha đất bị nhiễm xăng Trong đó, nặng nhất là xã Hương Long và Đức Lạng với gần hết diện tích đất và nước ngầm bị nhiễm xăng trầm trọng
Trang 10+ Ô nhiễm nước mặt (sông hồ, đất ngập nước) do các chất thải nông nghiệp và công nghiệp, nước sinh hoạt (ô nhiễm dầu, kim loại, thuốc trừ sâu…)
- Về chất lượng môi trường không khí
Ở Việt Nam, tiến trình công nghiệp hoá và đô thị hoá mới được đẩy mạnh trong hơn 10 năm trở lại đây, nhưng ở nhiều nơi, nhất là các khu đô thị
và công nghiệp không khí đã bị ô nhiễm nặng Ví dụ, ở TPHCM và Hà Nội
dọc theo tuyến giao thông quan trọng thì nồng độ SO 2 (Lưu huỳnh Dioxit)
vượt tiêu chuẩn cho phép 8-10 lần, CO 2 (Dioxit cacbon, khí cacbon) từ 2-3
lần, bụi lơ lửng từ 5-10 lần Theo các số liệu năm 1991 thì tổng lượng CO 2 do hoạt động công nghiệp phát thải là 20 triệu tấn/năm (0,3 tấn/người)
- Đa dạng sinh học
Trung bình mỗi năm Việt Nam khai thác 1,3 - 1,4 triệu m3 gỗ; nhiều lâm sản như song, mây, tre, nứa… cũng bị khai thác, nhiều loại thực vật (2.300 loài), động vật hoang dã đã được dùng làm dược liệu, thức ăn và nguyên liệu… Theo số liệu thống kê cho thấy 300 loài động vật, 350 loài thực vật bị đe doạ và có nguy cơ bị tuyệt chủng Nguyên nhân chủ yếu là do khai thác quá mức, du canh và xâm lấn đất canh tác nông nghiệp, ô nhiễm nước và xuống cấp vùng bờ biển
- Môi trường biển và ven bờ
Việt Nam với bờ biển dài trên 3.000 km, rất đa dạng về sinh học Song
do quá trình canh tác xây dựng ao hồ, đầm nuôi trồng thuỷ sản, khai hoang lấn biển làm muối hay canh tác nông nghiệp, khu dân cư… đã làm giảm diện tích vùng thuỷ triều, tăng độ chua phèn, thay đổi quá trình bùn lắng khiến cho nhiều đầm lầy bị phá huỷ hay xuống cấp Việc khai khoáng ở vùng ven biển Trung Bộ đã gây ra xói mòn ven biển, các sự cố vận tải biển làm cho dầu tràn ảnh hưởng đến môi trường biển bị ô nhiễm
Có thể nói, với vị trí địa lý thuận lợi nên Việt Nam có hệ tài nguyên phong phú Tuy nhiên với trình độ sản xuất thấp kém, thiên nhiên khắc nghiệt, bên cạnh đó cùng với ý thức bảo vệ tài nguyên của một bộ phận không nhỏ nhân dân còn thấp dẫn đến tình trạng khai thác bừa bãi, huỷ hoại tài nguyên thiên nhiên đã dẫn đến nguồn tài nguyên ngày càng bị cạn kiệt và suy thoái nghiêm trọng