1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tình Hình Phát Triển Vùng Dân Tộc Thiểu Số Tỉnh Nghệ An Giai Đoạn 2009-2014

28 280 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 28
Dung lượng 8,09 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

có bề dày truyền thống văn hóa đặc sắc riêng, tạo nên sự phong phú, đa dạng bảnsắc văn hóa các dân tộc Việt Nam nói chung, Nghệ An nói riêng.Trong những năm qua, vùng dân tộc thiểu số lu

Trang 1

Phần thứ nhất TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN VÙNG DÂN TỘC THIỂU SỐ TỈNH NGHỆ AN

và hai xã Quỳnh Thắng, Tân Thắng huyện Quỳnh Lưu; gồm 146 xã, 1.339 xóm,bản (trong đó có 101 xã khu vực III, 51 xã khu vực II, 55 xã khu vực I; 1.126 thôn,bản ĐBKK), với 27 xã biên giới, 419 km đường biên tiếp giáp với nước Cộng hòaDân chủ nhân dân Lào; có 01 cửa khẩu quốc tế Nậm Cắn (huyện Kỳ Sơn), 01 cửakhẩu quốc gia Thanh Thuỷ (huyện Thanh Chương) và 03 cửa khẩu phụ Tam Hợp(huyện Tương Dương); Thông Thụ (huyện Quế Phong), Cao Vều (huyện AnhSơn)

Đây là địa bàn có vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng về kinh tế, chính trị,Quốc phòng - An ninh và bảo vệ môi trường sinh thái; có nhiều tiềm năng lớn vềtài nguyên đất đai để trồng cây công nghiệp, lâm nghiệp, dược liệu, chăn nuôi đạigia súc, phát triển thuỷ điện, khai thác khoáng sản và phát triển thương mại, dulịch sinh thái gắn liền với bảo tồn, gìn giữ, phát huy bản sắc văn hóa các dân tộcthiểu số tỉnh Nghệ An

2 Diện tích, dân số.

Diện tích tự nhiên vùng dân tộc miền núi có 13.745 km2, chiếm 83% diệntích toàn tỉnh 16.487,53 km2; mật độ dân số bình quân 40 người/km2 (bình quânchung toàn tỉnh là 184 người/km2) Dân số vùng dân tộc miền núi có 1.197.628người (chiếm 41% dân số toàn tỉnh), trong đó đồng bào các dân tộc thiểu số có442.787 người, chiếm 15,2% dân số toàn tỉnh và chiếm 36% dân số trên địa bànmiền núi; gồm 5 dân tộc có dân số đông: Thái 299.490 người; Thổ 62.751 người;Khơ Mú 45.890 người; Mông 30.433 người; Ơ Đu 1.085 người; các dân tộc còn lại

Trang 2

có bề dày truyền thống văn hóa đặc sắc riêng, tạo nên sự phong phú, đa dạng bảnsắc văn hóa các dân tộc Việt Nam nói chung, Nghệ An nói riêng.

Trong những năm qua, vùng dân tộc thiểu số luôn được Đảng và Nhà nướcquan tâm trên tất cả các lĩnh vực đời sống, kinh tế - xã hội, được thể hiện bằng cácchủ trương, chính sách, chương trình, dự án cụ thể Kết quả thực hiện sau 5 năm(2009 -2014) đã góp phần làm thay đổi cơ bản bức tranh vùng DTTS trên các lĩnhvực kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh; đời sống vật chất, tinh thần của đồngbào các dân tộc không ngừng được nâng lên

II Một số kết quả đạt được giai đoạn 2009 -2014.

1 Về kinh tế: Trong những năm qua, cả nước nói chung, Nghệ An nói riêng

đang gặp rất nhiều khó khăn trên tất cả các lĩnh vực, nhất là về kinh tế; thiên tai,dịch bệnh liên tiếp xảy ra trên địa bàn vùng dân tộc Nhờ sự quan tâm đặc biệt củaĐảng, Nhà nước, sự vào cuộc tích cực của cả hệ thống chính trị và tinh thần đoànkết, phấn đấu vươn lên của đồng bào các dân tộc, vì vậy, cơ cấu kinh tế tiếp tụcchuyển dịch theo hướng tích cực, giá trị sản xuất nông lâm nghiệp chiếm 38,07%,giảm 3% so với năm 2010; công nghiệp xây dựng chiếm 29,8, tăng 0,7% so với2010; dịch vụ chiếm 32,22%, tăng 2,4% so với năm 2010; tốc độ tăng trưởng toànvùng năm 2013 ước đạt 7,2%, tăng 0,78% so với năm 2012 (năm 2010: 13,07%).Tổng giá tị tăng thêm (GTGT) theo giá hiện hành năm 2013 đạt 18.644 tỷ đồng,tăng 150% so với năm 2010 Thu nhập bình quân đầu người năm 2013 ước đạt 16triệu đồng, tăng 4,2 triệu so năm 2010 Tổng sản lượng lương thực toàn vùng nămsau tăng hơn năm trước; xuất hiện nhiều mô hình sản xuất mang lại hiệu kinh tếcao như: Mô hình chuyển lúa màu, hè thu sang trồng ngô đông trên đất 2 lúa, nuôilợn đen địa phương, cải tạo rừng nghèo kiệt (Quỳ Châu, Nghĩa Đàn); mô hìnhthâm canh lúa cho các xã đặc biệt khó khăn, trồng gừng dưới tán rừng (TươngDương, Kỳ Sơn); thâm canh rau an toàn (Quỳ Hợp, Quỳ Châu); thâm canh ngômật độ cao (Anh Sơn, Thanh Chương); trồng bí xanh (Kỳ Sơn); trồng chanh leo,

sử dụng phân dúi (Quế Phong); cam không hạt (Quỳ Hợp)

Vùng DTTS có bước chuyển biến tích cực, tiến hành đa dạng hoá ngànhnghề và kinh tế trang trại, tăng tỷ trọng của công nghiệp và dịch vụ, giảm sản xuấtthuần nông, một số làng nghề truyền thống được khôi phục Trang trại nông thônphát triển khá ở quy mô vừa và nhỏ Cơ sở hạ tầng nông thôn, nhất là giao thông,thuỷ lợi, cấp điện, cấp nước, trường học, trạm y tế, chợ, nhà văn hóa cộng đồng…được chú ý đầu tư Đến nay đã có 98,7% số xã có đường ô tô đến được trung tâmxã; hệ thống thuỷ lợi đã đảm bảo nước tưới cho 90% diện tích lúa 2 vụ, cây màu

Trang 3

và cây công nghiệp; 82% trường, lớp học được xây dựng kiên cố, bán kiên cố (kể

cả trường mầm non); 100% số xã có điện sử dụng bằng nhiều loại nguồn; 90% số

xã có điện lưới quốc gia đến trung tâm xã; 99% số xã có trạm y tế; 83% số xã cóbác sỹ về công tác; 82% số hộ dân được dùng nước sinh hoạt hợp vệ sinh; cơ bảnxoá nhà tạm cho hộ nghèo; 28% lao động được đào tạo; sắp xếp ổn định dân cưđược đẩy mạnh;

Công tác di dân, tái định cư thực hiện các dự án thủy điện lớn và di dân rakhỏi vùng có nguy cơ lũ quét, sạt lở đất; công tác định canh, định cư; ổn định dân

di cư tự do được quan tâm thực hiện, đạt được nhiều kết quả tích cực Đã cơ bảnhoàn thành công tác di dân tái định cư xây dựng các công trình thủy điện bản Vẽ,Hủa Na, bản Cốc, Sao Va, bản Cánh (thủy điện Bản Vẽ đã di dời 2.898 hộ, trongtổng số 3.017 hộ phải di dời, thủy điện Hủa Na đã hoàn thành di dời 1.364 hộ); các

dự án định canh định cư theo QĐ 33 đã di dời được 197 hộ đến 04 điểm dự án tậptrung, 402 hộ di dời đến các điểm xen ghép.Tổng kinh phí thực hiện di dời và hỗtrợ xây dựng các công trình theo QĐ 33 là 94.225 triệu đồng

Một số công trình trọng điểm đầu tư xây dựng trên địa bàn đến nay đã cơbản hoàn thành như: Đường nối QL7 - QL48, đường Tây Nghệ An; đường ChâuThôn - Tân Xuân; đường Mường Típ - Na Ngoi - Khe Kiền; đường Châu Kim -Nậm Giải; đường Kẻ Bọn - Châu Phong; đường Con Cuông - Bình Chuẩn; đường

Vẽ - Yên Tĩnh - Hữu Khuông; các dự án đường giao thông vào trung tâm các xãchưa có đường ô tô; các công trình y tế đang được triển khai thực hiện như: Bệnhviện Tây Bắc 250 giường, bệnh viện Tây Nam 150 giường; 9 bệnh viện đa khoa,trung tâm y tế có giường bệnh và một số phòng khám đa khoa khu vực với tổng sốgiường bệnh là 815 giường (Kỳ Sơn, Tương Dương, Anh Sơn, Quế Phong, QuỳChâu, Quỳ Hợp, Tân Kỳ, Thanh Chương, Nghĩa Đàn); 02 trung tâm y tế huyện(Kỳ Sơn, Tương Dương); Tỷ lệ phòng học được kiên cố và bán kiên cố đạt 82%;

có 100% xã trên địa bàn vùng DTTS đều có trường mầm non; có 02 trường THPTnội trú, 6 trường THCS nội trú

2 Về văn hóa - xã hội:

Công tác thông tin tuyên truyền được đẩy mạnh, góp phần tích cực vào việctuyên truyền đường lối chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước trong đờisống dân cư Đời sống văn hóa, tinh thần của đồng bào các dân tộc trên địa bàntừng bước được cải thiện và nâng cao Phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đờisống văn hóa cơ sở được triển khai mạnh mẽ Phong trào thể dục thể thao quầnchúng được đẩy mạnh và phát triển, thành tích thi đấu các môn thể thao dân tộc

Trang 4

ngày càng có sự tiến bộ và nâng cao, đóng góp tích cực vào thành tích thể thao củatỉnh trong những năm qua Cơ sở vật chất cho hoạt động văn hóa, thể thao ở cáchuyện miền núi từng bước được quan tâm đầu tư xây dựng Phát thanh, truyềnhình, báo chí ngày càng hoàn thiện và phát triển Đã thực hiện tốt vai trò chuyểntải các chủ trương chính sách pháp luật của Đảng và Nhà nước đến với nhân dân.Đến nay tỷ lệ số hộ được xem truyền hình đạt 94%; tỷ lệ số hộ dân được nghe đàiphát thanh đạt 97% Các công trình văn hóa, thể thao được quan tâm đầu tư xây

dựng, nhờ vậy, tỷ lệ xã, phường, thị trấn có thiết chế văn hóa - thông tin - thể thao

đạt chuẩn quốc gia tăng mạnh Công tác bảo tồn và phát huy các bản sắc văn hóacác DTTS được quan tâm, đã xuất hiện ngày càng nhiều các câu lạc bộ dân ca dântộc như: CLB dân ca Thái, Thổ,H’Mông ở các huyện Quế Phong, Quỳ Hợp,Tương Dương, Con Cuông Hàng năm, các lễ Hội được tổ chức long trọng và có

ý nghĩa thiết thực như: Lễ Hội Hang Bua, lễ Hội Pu Nhạ Thầu, lễ Hội Đền ChínGian Ngoài ra, cứ 5 năm 02 lần Tỉnh tổ chức Hội diện – giao lưu văn hóa cácDTTS; các dự án Trung tâm văn hoá-thông tin-thể thao các huyện, thị; dự án xâymới, cải tạo, nâng cấp nhà thi đấu và sân vận động các huyện; dự án bảo tồn, tôntạo di tích lịch sử trên địa bàn đã được phê duyệt, đã và đang huy động vốn để đầu

tư xây dựng

Công tác chăm sóc sức khoẻ nhân dân và công tác dân số, kế hoạch hoá giađình, bảo vệ và chăm sóc sức khoẻ bà mẹ, trẻ em có nhiều tiến bộ Hoạt độngphòng chống các bệnh dịch trên địa bàn luôn được đề cao; tích cực, chủ động, kịpthời khống chế dịch bệnh, không để dịch lớn xẩy ra Đội ngũ y tế tại các bệnh viện,các trạm y tế vùng DTTS được tăng cường cả về số lượng và chất lượng Số bác sỹtrên vạn dân đạt 3,9 bác sỹ, tăng 0,3 bác sỹ; số giường bệnh trên vạn dân đạt 12,2giường; tỷ lệ bác sỹ về công tác tại xã đạt 78,2% (170 xã); tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi

bị suy dinh dưỡng còn 19,5%; tỷ lệ xã đạt bộ tiêu chí quốc gia về y tế đạt 37% (80xã) Hệ thống cung cấp các dịch vụ y tế được mở rộng, công tác xã hội hoá về y tếđược đẩy mạnh, các cơ sở y tế tư nhân từng bước phát triển Công tác dân số kế

hoạch hoá gia đình có nhiều tiến bộ, tỷ lệ tăng dân số tự nhiên giảm nhanh

Công tác giáo dục - Đào tạo có nhiều chuyển biến tích cực, quy mô giáo dụctăng nhanh, cơ bản đáp ứng nhu cầu học tập của nhân dân Chất lượng chăm sóc,nuôi dưỡng trẻ em tại các cơ sở giáo dục mầm non được nâng lên một bước Côngtác phổ cập giáo dục tiểu học được duy trì và củng cố tại 217/217 xã, phường, thịtrấn; chương trình phổ cập giáo dục THCS hoàn thành đúng tiến độ, đưa tiếng Việtvào giảng dạy tại trường mầm non có hiệu quả Tỷ lệ trẻ em trong độ tuổi đến

Trang 5

trường đạt gần 100% Chất lượng và hiệu quả giáo dục phổ thông từng bước đượcnâng lên; tỷ lệ học sinh lưu ban, bỏ học giảm dần; tỷ lệ học sinh tốt nghiệp và sốhọc sinh khá giỏi tăng qua các năm Đội ngũ giáo viên được tăng cường cả về sốlượng và chất lượng, tỷ lệ giáo viên đạt chuẩn ở 3 cấp học đạt 98% Hệ thốngtrường phổ thông đạt chuẩn quốc gia là 40,75% Công tác xã hội hoá giáo dụcđược đẩy mạnh, đem lại hiệu quả thiết thực Thực hiện tốt việc lồng nghép cácchương trình, dự án để kiên cố hoá trường, lớp học, nhà công vụ giáo viên; thựchiện việc đầu tư xây dựng các trường lẻ có hiệu quả Tỷ lệ phòng học được kiên cố

và bán kiên cố tính đến năm nay đạt 82%; có 100% xã trên địa bàn vùng DTTSđều có trường mầm non; có 02 trường THPT nội trú tỉnh, 6 trường THCS nội trúhuyện

Các chính sách xã hội, đặc biệt là chính sách với người và gia đình có côngvới cách mạng được thực hiện tốt Công tác giải quyết việc làm đạt khá, tạo cơ hội

và điều kiện cho người nghèo tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản, nâng cao trình độdân trí, thu nhập, cải thiện đời sống nhân dân

Tỷ lệ hộ đói nghèo giảm khá nhanh từ 21,78% năm 2010, xuống còn24,06% năm 2013 (theo tiêu chí nghèo giai đoạn 2011-2015) Các huyện thực hiệnNghị quyết 30a/NQ-CP của Chính phủ (Kỳ Sơn, Tương Dương, Quế Phong) tốc

độ giảm nghèo bình quân đạt 6,5%/năm Chương trình hỗ trợ hộ nghèo về nhà ởtheo Quyết định số 167/2008/QĐ-TTg và Quyết định số 67/2010/QĐ-TTg của Thủtướng Chính phủ trên địa bàn vùng DTTS đã hoàn thành mục tiêu đề ra, 11 huyện,thị có 18.865 hộ nghèo được hỗ trợ xây dựng nhà ở với tổng kinh phí ngân sách đãcấp là 173.353 triệu đồng, đạt 100% kế hoạch; đến nay chỉ còn hơn 6300 hộ đangcòn nhà tạm bợ

Phong trào "Đền ơn đáp nghĩa" tiếp tục được xã hội hóa sau rộng Công tácphòng chống tệ nạn xã hội được quan tâm chỉ đạo Giáo dục dạy nghề, tạo việclàm cho người nghiện ma túy, mại dâm tại các Trung tâm Giáo dục Lao đông Xãhội có chuyển biến tích cực, góp phần ổn định trật tự an toàn xã hội trên địa bànVùng dân tộc thiểu số

Công tác dân tộc, tôn giáo thực hiện tốt, khối đại đoàn kết toàn dân trên địa

bàn tiếp tục được củng cố và tăng cường: Chú trọng giáo dục nâng cao nhận thức

về mọi mặt cho đồng bào các dân tộc thiểu số về áp dụng các tiến bộ khoa học kỹthuật; kiến thức về xây dựng, phát triển kinh tế - xã hội, xoá đói giảm nghèo; xâydựng nếp sống văn hoá mới, giữ gìn bản sắc dân tộc, xoá bỏ các tập tục lạc hậu.Công tác tạo nguồn, xây dựng quy hoạch cán bộ người dân tộc thiểu số trong quy

Trang 6

hoạch chiếm tỷ lệ khá cao, trong đó đã chú ý đến quy hoạch cán bộ trẻ, cán bộ nữ.Chất lượng cán bộ ở vùng dân tộc thiểu số được nâng cao Nhiều chương trình,chính sách, dự án lớn được thực hiện có hiệu quả (135, 134, định canh định cư;Nghị quyết 30a, bảo tồn và phát triển các hộ tộc người dân tộc thiểu số ít người )

đã và đang làm thay đổi căn bản đời sống kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc.Nhận thức các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về tôn giáo trong hệthống chính trị và nhân dân được nâng lên

3 Quốc phòng – an ninh: Tình hình quốc phòng - an ninh, trật tự trên địa

bàn vùng dân tộc thiểu số trong những năm qua, nhất là an ninh biên giới cơ bảnđược giữ vững các lực lượng vũ trang trên địa bàn đã thực hiện tốt công tác quản

lý, theo dõi, nắm tình hình an ninh trên tuyến biên giới và nội địa, đẩy mạnh cáchoạt động phòng chống tội phạm Chủ động nắm bắt thông tin, kịp thời tham mưucho cấp ủy, chính quyền địa phương có biện pháp chỉ đạo, giải quyết các vấn đềphát sinh tại cơ sở; hạn chế được tình trạng di dịch cư trái phép qua biên giới và di

cư vào Tây Nguyên của đồng bào Mông, xoá bỏ được tái trồng cây thuốc phiện,đấu tranh ngăn chặn có hiệu quả với hoạt động tuyên truyền, phát triển đạo Tinlành

Tiếp tục thực hiện tốt công tác tăng cường cán bộ lực lượng quân đội, biênphòng tham gia xây dựng chính quyền cơ sở nơi biên giới, góp phần củng cố hệthống chính trị cơ sở; tham gia thực hiện các đề án phát triển kinh tế - xã hội gắnvới an ninh, quốc phòng Tổ chức tốt giao ban định kỳ giữa 3 lực lượng công an,quân sự và bộ đội Biên phòng Thực hiện có hiệu quả các đề án: Hợp tác xây dựngtuyến biên giới Việt - Lào ổn định và phát triển toàn diện; tôn tạo, tăng dày mốcgiới tuyến biên giới quốc gia trên địa bàn Nghệ An với ba tỉnh Xiêng Khoảng,Bolykhămxay và Hủa Phăn của Lào

Quan hệ hợp tác với Nước CHDCND Lào tiếp tục được duy trì, mở rộng,đặc biệt là về phối hợp trao đổi thông tin, nắm tình hình về an ninh, trật tự, phòngchống tội phạm, đào tạo, tập huấn, bồi dưỡng cán bộ, hợp tác kinh tế, thương mại,bảo vệ biên giới, xây dựng tuyến biên giới Việt Nam - Lào ổn định và phát triểntoàn diện Các hoạt động xâm canh, xâm cư qua biên giới, tái trồng cây thuốcphiện, di dân tự do của đồng bào Mông được ta và bạn phối hợp đấu tranh ngănchặn có hiệu quả

4 Xây dựng hệ thống chính trị cơ sở.

Hệ thống chính trị ở nông thôn ngày càng được củng cố và có bước pháttriển quan trọng: các tổ chức cơ sở đảng ngày càng đáp ứng tốt hơn các yêu cầu,

Trang 7

nhiệm vụ của công tác xây dựng Đảng; việc xây dựng tổ chức đảng ở các xóm, bảnchưa có chi bộ, chưa có đảng viên đạt được kết quả tốt Từ 52 bản chưa có chi bộ,

8 bản chưa có đảng viên, đến năm 2012 100% xóm, bản đã có chi bộ, không cònbản trắng đảng viên; nề nếp sinh hoạt, chất lượng sinh hoạt của tổ chức cơ sở đảngđược huyện và và cơ sở quan tâm và có nhiều tiên bộ hơn so với những năm trướcđây

Công tác xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị, nhất là ở cơ sở đượcchăm lo tốt hơn Công tác chính trị, tư tưởng được tăng cường Chỉ thị 03-CT/TWcủa Bộ Chính trị về tiếp tục đây mạnh Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấmgương đạo đức Hồ Chí Minh” và Nghị quyết TW 4 (Khóa XI) về “Một số vấn đềcấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” được triển khai sâu rộng trong hệ thốngchính trị, các tầng lớp nhân dân và bước đầu thu được nhiều kết quả Tập trungnâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức đảng và chất lượng đội ngũcán bộ, đảng viên Hệ thống tổ chức đảng tiếp tục được củng cố và phát triển Tỉnh

uỷ đã ra Kết luận và tích cực chỉ đạo xây dựng hệ thống chính trị cơ sở, đặc biệt làvùng giáo và vùng có đồng bào dân tộc thiểu số Công tác phát triển Đảng đượcquan tâm, trong đó chú trọng phát triển đảng viên trẻ tuổi, nữ, trí thức, dân tộcthiểu số, giáo dân

Công tác chỉ đạo, điều hành của chính quyền các cấp cải tiến hơn, quyết liệthơn, tập trung hơn, cụ thể hơn; quan tâm xử lý những vấn đề nổi lên trong từngthời gian; tăng cường phân công, phân cấp, quyền chủ động cho các ngành, cáccấp; trình độ cán bộ tại chỗ được nâng lên Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhândân đã đổi mới nội dung, phương thức hoạt động vươn lên hoàn thành chức năng,nhiệm vụ của mình, vận động nhân dân tích cực tham gia xây dựng Đảng, chínhquyền và các phong trào thi đua yêu nước Chất lượng hoạt động của hệ thốngmạng lưới tổ chức cơ sở, tỷ lệ tập hợp đoàn viên, hội viên được nâng lên Đội ngũcán bộ làm công tác mặt trận, đoàn thể ngày càng được chuẩn hoá Đến năm 2013,100% thôn, bản trên địa bàn có ban công tác mặt trận và phụ nữ, 99,52% có chiđoàn thanh niên, 99,31% có chi hội nông dân, 95,55% có chi hội hội cựu chiếnbinh Tỷ lệ tập hợp đoàn viên, hội viên tăng khá, cựu chiến binh đạt 92,7%, nôngdân 87%, công đoàn 94% Công tác cải cách hành chính, nhất là cải cách thủ tụchành chính đang từng bước được cải tiến theo hướng đơn giản, nhanh gọn, thuậnlợi cho người dân và doanh nghiệp Thực hiện quy chế dân chủ cơ sở có hiệu quả

Đã tập trung làm tốt công tác kiểm tra, giám sát theo tinh thần Nghị quyết TW5

Trang 8

(khoá X) gắn với thực hiện Nghị quyết TW3 (khoá X) về tăng cường sự lãnh đạocủa Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí.

Công tác đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng đội ngũ cán bộ trong hệ thống chínhtrị, nhất là ở cơ sở ngày càng được quan tâm hơn Thực hiện tốt công tác quyhoạch, luân chuyển cán bộ Tỉnh uỷ, UBND tỉnh đã tiến hành luân chuyển cán bộ

sở, ban, ngành cấp tỉnh về công tác tại 11 huyện, thị xã Tiến hành đào tạo, bồidưỡng ngắn hạn cho cán bộ đảng, chính quyền, đoàn thể cấp xã, huyện Tiếp nhậnsinh viên tốt nghiệp cao đẳng và đại học về công tác tại xã; đưa trí thức trẻ về xãnghèo vùng miền núi dân tộc Tăng cường sĩ quan biên phòng về làm phó bí thưĐảng uỷ ở các xã biên giới

Tóm lại: Đến năm 2014, vùng dân tộc thiểu số tỉnh Nghệ An đã có nhiều

chuyển biến tích cực trên tất cả các lĩnh vực, có thể khái quát như sau:

Thứ nhất, Kinh tế chuyển dịch đúng hướng và có sự tăng trưởng khá; thu

nhập bình quân đầu người vùng dân tộc thiểu số được tăng từ 08 triệu đồng năm

2009 lên 18,1 triệu đồng 2013; tỷ lệ hộ nghèo giảm nhanh từ 48% năm 2006 giảmxuống còn 26,78%, năm 2012, năm 2013 giảm xuống còn 22,35% (theo tiêu chí2011-2015)

Đã xây dựng được nhiều mô hình sản xuất, mô hình kinh tế hộ gia đình, như

mô hình làng nghề: Dệt thổ cẩm xã Lục Dạ (Con Cuông), Chanh leo (Tri Lễ, QuếPhong); dệt thổ cẩm (xã Thạch Giám, Tương Dương), chè Tuyết san (Huồi Tụ, KỳSơn), mơ, mận ( Mường Lống, Kỳ Sơn), chế biến mây tre đan xuất khẩu Đồng Nại(Châu Quang - Quỳ Hợp), sản xuất hương trầm (thị trấn Quỳ Châu)

Thứ hai, Cơ sở hạ tầng phục vụ phát triển Kinh tế -Xã hội, phục vụ đảm bảo

quốc phòng-An ninh, được đầu tư xây dựng rất lớn, góp phần giải quyết khó khănvề: giao thông đi lại, sản xuất lưu thông hàng hóa, nước sinh hoạt, điện thắp sáng;nhu cầu học tập, chăm sóc sức khỏe cho đồng bào; tạo điều kiện cho đồng bàothâm canh lúa nước, trồng cây công nghiệp và chăn nuôi; góp phần bảo vệ rừng,bảo vệ môi trường sinh thái

Thứ ba, Chất lượng giáo dục- đào tạo vùng DTTS có nhiều chuyển biến tiến

bộ, kể cả chất lượng đại trà và mũi nhọn; số học sinh giỏi cấp tỉnh, cấp huyện ởmiền núi của các năm đều tăng; tỷ lệ thi đậu vào các trường đại học, cao đẳng tăngcao; công tác chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân có nhiều tiến bộ, không có dịchbệnh lớn xẩy ra; các hoạt động Văn hoá- TDTT đã thực sự trở thành nhu cầu củađồng bào các dân tộc Các giá trị và bản sắc văn hoá của các dân tộc được giữ gìn,phát huy

Thứ tư, Hệ thống chính trị cơ sở ngày càng được củng cố vững mạnh và hoạt

động có hiệu quả, quản lý và điều hành tốt các nhiệm vụ chính trị ở cơ sở; một số

Trang 9

xã đã đủ điều kiện làm chủ đầu tư các dự án, các công trình cấp xã, chất lượng cán

bộ cơ sở vùng DTTS tăng; hệ thống làm công tác dân tộc được củng cố và hoạtđộng có hiệu quả

Thứ năm, Quốc phòng được củng cố và giữ vững, an ninh chính trị ổn định,

trật tự an toàn xã hội được đảm bảo, tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triểnkinh tế - xã hội, ổn định cuộc sống cho đồng bào các dân tộc

Thứ sáu, Mối quan hệ hữu nghị giữa đồng bào các DTTS tỉnh Nghệ An với

các bộ tộc Lào anh em ngày càng bền vững

Thứ bảy, Các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đối với đồng

bào các dân tộc được tổ chức thực hiện tốt, có hiệu quả

Thứ tám, Vùng DTTS ngày càng đổi thay theo hướng phát triển toàn diện.

Đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào các DTTS ngày càng được cải thiện;lòng tin của đồng bào đối với Đảng và Nhà nước các cấp ngày càng sâu sắc.Những đề xuất, kiến nghị, những mong muốn chính đáng và hợp pháp của bà conđều được các tổ chức trong hệ thống chính trị ghi nhận, quan tâm xem xét và giảiquyết theo thẩm quyền

III Nguyên nhân đạt được những kết quả về KT-XH trong những năm qua.

1 Trong những năm qua, vùng dân tộc thiểu số luôn được Đảng và Nhànước quan tâm trên tất cả các lĩnh vực đời sống, kinh tế - xã hội, được thể hiệnbằng các chủ trương, chính sách, chương trình, dự án cụ thể và nhờ các chính sách

đó đã làm thay đổi tích cực bức tranh vùng DTTS tỉnh Nghệ An

2 Đồng bào các dân tộc thiểu số luôn giữ vững khối đại đoàn kết; tin tưởngvào sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước; không tin, không theo các hoạt động tôngiáo trái pháp luật, giảm di cư tự do; có ý chí phấn đấu nỗ lực vươn lên phấn đấuthoát nghèo và tiến tới làm giàu trên quê hương của mình

3 Được sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo điều hành của Tỉnh ủy, Ủy ban nhândân; sự phối hợp chặt chẽ của các sở, ban, ngành cấp tỉnh trong thực hiện chínhsách dân tộc và sự nỗ lực tích cực của cả hệ thống chính trị từ tỉnh đến cơ sở, trong

đó có sự đóng góp tích cực của hệ thống cơ quan làm công tác dân tộc

4 Được sự hỗ trợ của các tổ chức, đơn vị trong và ngoài tỉnh; sự ủng hộbằng nguồn vốn của các doanh nghiệp và sự ủng hộ của các tổ chức Quốc tế

IV Một số khó khăn, thách thức vùng dân tộc thiểu số.

Bên cạnh những kết quả đạt được, vùng dân tộc thiểu số vẫn còn những khókhăn, thách thức đó là:

Trang 10

1 Thời tiết rất khắc nghiệt, thường xuyên bị lũ ống, lũ quét, sạt lở, bão, lốc;hạn hán, khô cằn; dịch bệnh Địa hình, địa bàn phức tạp, đi lại rất khó khăn; diệntích đất bằng phục vụ sản xuất và dân sinh không nhiều; một bộ phận dân cưkhông tập trung, họ sống trải dài trên diện tích rộng lớn nên suất đầu tư cho cáccông trình phục vụ sản xuất và đời sống rất cao Một số tập quán sản xuất và sinhhoạt không còn phù hợp nhưng chậm xoá bỏ, đã ảnh hưởng không nhỏ đến quátrình tiếp thu và ứng dụng những tiến bộ của KHKT-CN vào sản xuất và cuộcsống Địa bàn vùng DTTS thường xa trung tâm Kinh tế-Xã hội của tỉnh, của cáchuyện nên sức thu hút đầu tư vào phát triển kinh tế không cao Việc đi lại để lãnhđạo, chỉ đạo của các ngành, các cấp không mấy thuận lợi Theo đó, các doanhnghiệp lớn vào làm ăn, phát triển kinh tế vùng cao, vùng xa, vùng ĐBKK chưanhiều Việc mua bán, trao đổi hàng hoá theo cơ chế thị trường gặp không ít khókhăn, nhất là chi phí vận chuyển quá cao.

2 Kinh tế phát triển chưa toàn diện, chưa mạnh và chưa vững chắc; hànghoá sản xuất chưa nhiều và sức cạnh tranh chưa mạnh; đã có các mô hình pháttriển kinh tế ở các qui mô khác nhau trên nhiều lĩnh vực khác nhau, nhưng việcnhân diện chưa mạnh; năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế trên đơn vị diệntích chưa cao; tập quán sản xuất giản đơn chậm xoá bỏ; vệ sinh môi trường thônbản chưa tốt; một số tập tục lạc hậu vẫn còn tồn tại

3 Hạ tầng cơ sở phục vụ phát triển kinh tế- xã hội, do nhu cầu quá lớn, ởđâu cũng thiếu thốn, cái gì cũng cần đầu tư và hỗ trợ; tuy đã được đầu tư rất lớnnhưng vẫn còn nhiều khó khăn, nhất là giao thông đi lại từ trung tâm huyện đếntrung tâm một số xã, từ trung tâm xã đến các bản và liên bản, chưa nói đến giaothông từ bản này đến bản khác Hiện nay, số xã, bản có điện ở cụm dân cư mới đạt70%; nhiều nơi còn thiếu nước sinh hoạt Thiết chế văn hoá - thể thao theo yêu cầuđồng bộ còn thiếu thốn nhiều

4 Trong thực hiện chính sách hỗ trợ cho đồng bào các DTTS, phương châm

"cho cái cần câu hơn cho xâu cá" vẫn còn giá trị thực tiễn Thời gian vừa qua,phương châm "cho xâu cá" chúng ta thực hiện khá tốt, nó hàm chứa chính sách ansinh xã hội, tinh thần nhân văn cao cả; còn phương châm "cho cái cần câu" thìchúng ta làm chưa thật tốt, vì việc đó không thuần tuý là việc thực hiện chính sách

hỗ trợ, mà nó liên quan nhiều đến tập quán sản xuất và một phần tập quán sinhhoạt ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất, việc cải tạo và xoá bỏ tập quán sản xuấtgiản đơn là một quá trình tuyên truyền, vận động lâu dài, đòi hỏi sự kiên trì và sựvào cuộc tích cực của cả hệ thống chính trị, nhất là ở cơ sở, đặc biệt là vai trò tiên

Trang 11

phong, gương mẫu làm trước, làm điểm của các đồng chí cán bộ, Đảng viên trongcộng đồng dân cư các DTTS.

5 Việc đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng cho sự phát triển kinh tế - xã hội là rấtquan trọng, việc có chính sách hỗ trợ cho sản xuất là rất cần thiết, hai yếu tố đó đãtạo thế và lực cho sự phát triển kinh tế- xã hội vùng ĐBKK này; song vẫn cònthiếu yếu tố đủ mạnh để tạo ra được "cú huých", tạo được "đòn bẩy" cho sự pháttriển nhanh và bền vững ở vùng này Phải chăng, còn thiếu một cơ chế chính sách

đủ sức thu hút các doanh nghiệp lớn vào hoạt động vào ĐBKK này; phải là mộtchính sách đặc thù, đặc thù vì doanh nghiệp hoạt động vùng ĐBKK, vùng có suấtđầu tư rất cao, chi phí cho sản xuất rất lớn, hiệu quả kinh tế không cao, sức thu hútđầu tư không mạnh

6 Công tác đào tạo, bồi dưỡng, bố trí và sử dụng cán bộ người DTTS, cán

bộ công tác vùng đồng bào DTTS có nhiều chuyển biến tích cực cả về số lượng vàchất lượng Tuy nhiên, cũng còn một số vấn đề lớn đặt ra, đó là việc tuyển dụng,

bố trí việc làm cho con em đồng bào các DTTS tốt nghiệp Đại học, Cao đẳng ratrường; hơn nữa trong những năm vừa qua, do tuổi tác và điều kiện sức khoẻ,nhiều đồng chí người DTTS là lãnh đạo Sở, ban, ngành cấp tỉnh đã nghỉ theo chế

độ, số các đồng chí đang công tác không nhiều, trong thời gian tới cần có được tạimỗi sở, ban, ngành cấp tỉnh 01 đồng chí lãnh đạo là người DTTS để trực tiếp thammưu, tham gia chỉ đạo, tổ chức thực hiện công tác dân tộc và chính sách dân tộcnói riêng, góp phần tham mưu, chỉ đạo và tổ chức thực hiện việc phát triển kinh tế

- xã hội, đảm bảo QP-AN vùng miền núi, vùng DTTS nói chung

7 Tỷ lệ hộ nghèo vùng đồng bào dân tộc thiểu số còn cao 27,78% năm2013; còn 3 huyện nghèo và nhiều huyện cận nghèo, còn 101 xã khu vực III và1.126 thôn bản ĐBKK; khả năng huy động nội lực thấp trong điều kiện nhu cầuđầu tư, hỗ trợ lại rất lớn

8 Tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội vùng dân tộc thiểu số,vùng biên giới vẫn chứa đựng nhiều tiềm ẩn phức tạp: Tiếp diễn việc di dịch cưtrái phép; tệ nạn xã hội, buôn bán, tràng trữ và sử dụng chất ma túy, truyền đạo tráipháp luật vào địa bàn vùng DTTS; trình trạng hồi cư từ do Lào trao trả, tái định cưcác công trình thủy điện trên địa bàn

Phần thứ hai MỤC TIÊU, NHIỆM VỤ, GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN ĐẾN NĂM 2020

I Mục tiêu.

Trang 12

di cư tự do; bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc, nâng cao đời sốngvật chất và tinh thần cho nhân dân, đặc biệt là nhân dân vùng dân tộc thiểu số,vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới; đẩy lùi các tệ nạn xã hội; gắn phát triển kinh tế

- xã hội với bảo vệ môi trường, bảo đảm quốc phòng, an ninh và ổn định chính trị

2 Mục tiêu cụ thể.

- Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân năm 2015 đạt từ 12 -13%; giai đoạn

2016 – 2020 đạt từ 11 - 12% Thu nhập bình quân đầu người đạt khoảng 25 - 26triệu đồng vào năm 2015 và khoảng 51 - 52 triệu đồng vào năm 2020

- Cơ cấu kinh tế: Tỷ trọng các ngành nông, lâm, thủy sản - công nghiệp, xâydựng - dịch vụ chiếm 32% - 33% - 35% vào năm 2015 và tỷ lệ này tương ứng vàonăm 2020 là 24% - 37% - 39%

- Thu ngân sách: phấn đấu đạt 1.720 tỷ đồng vào năm 2015 và 7.294 tỷ đồngvào năm 2020

- Đến năm 2015: Tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 45%; tỷ lệ trẻ em trong độtuổi tiểu học đến trường đạt 95%; trên 50% số trường đạt chuẩn quốc gia; 50% số

xã đạt Bộ tiêu chí quốc gia về y tế; đạt tỷ lệ 5 bác sỹ và 0,4 dược sỹ đại học, 14giường bệnh trên một vạn dân; tỷ lệ xã có bác sỹ công tác đạt 85%; giảm tỷ lệ trẻ

em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng xuống dưới 20%; 50% số xã, phường, thị trấn cóthiết chế văn hóa, thông tin, thể thao đạt chuẩn; tỷ lệ hộ gia đình đạt chuẩn văn hóa70% và 50% đối với làng, bản, khối, xóm

- Đến năm 2020: Tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 55%; tỷ lệ trẻ em trong độtuổi tiểu học đến trường đạt 99%; trên 60% số trường đạt chuẩn quốc gia; 70% số

xã đạt Bộ tiêu chí quốc gia về y tế; đạt tỷ lệ 6,5 bác sỹ và 0,5 dược sỹ đại học, 15giường bệnh trên một vạn dân; tỷ lệ xã có bác sỹ công tác đạt 100%; giảm tỷ lệ trẻ

em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng xuống dưới 16,5%; 60% số xã, phường, thị trấn

có thiết chế văn hóa, thông tin, thể thao đạt chuẩn; tỷ lệ hộ gia đình đạt chuẩn vănhóa 80% và 60% đối với làng, bản, khối, xóm

Trang 13

- Giảm tỷ lệ hộ nghèo bình quân 3 - 4%/năm cho cả giai đoạn 2015 - 2020;hoàn thành phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi trước năm 2015; phủ sóngtruyền hình mặt đất cho 100% cư dân vào năm 2015; đa dạng hóa các chương trìnhphát sóng, đảm bảo số giờ phát sóng do đài của tỉnh Nghệ An và các đài huyện, thị

xã trên địa bàn sản xuất

- Đảm bảo 100% số xã có đường ô tô vào được trung tâm xã cả 4 mùa và100% số xã có điện lưới quốc gia đến trung tâm xã vào năm 2015 Tỷ lệ đô thị hóađạt 17 - 18% vào năm 2015 và 19-20% vào năm 2020 Số xã đạt tiêu chí nông thônmới khoảng 15% vào năm 2015 và 30% vào năm 2020

- Bảo tồn và phát triển khu dự trữ sinh quyển thế giới Pù Mát, Pù Huống, PùHoạt, đặc biệt là bảo vệ tính đa dạng sinh học Nâng độ che phủ rừng lên 68% vàonăm 2015 và 75% vào năm 2020

- Tỷ lệ dân số được dùng nước sinh hoạt hợp vệ sinh đạt 87% vào năm 2015

và 95% vào năm, 2020; trên 70% cơ sở sản xuất kinh doanh đạt tiêu chuẩn môitrường vào năm 2015 và 80% vào năm 2020; đảm bảo 100% lượng chất thải rắn y

tế tại các cơ sở y tế được thu gom, phân loại và vận chuyển đến các cơ sở xử lývào năm 2015; đến năm 2015, các đô thị loại 4 trở lên và tất cả các khu côngnghiệp có hệ thống xử lý nước thải tập trung

II NHIỆM VỤ, GIẢI PHÁP.

1 Nhiệm vụ trọng tâm:

- Đảm bảo an ninh lương thực ở các huyện núi cao, hạn chế việc chuyển đổimục đích đất trồng lúa, tập trung đầu tư thâm canh tăng năng suất; tập trung đầu tưhình thành hệ thống các sản phẩm chủ lực trong những ngành và lĩnh vực có lợithế so sánh, như: kinh tế rừng; cây công nghiệp dài ngày; chăn nuôi đại gia súc

- Đẩy mạnh phát triển chăn nuôi gia súc, gia cầm theo hướng công nghiệp,tăng dần tỷ trọng ngành chăn nuôi trong nông nghiệp, đưa chăn nuôi trở thànhngành sản xuất chính Phát triển nuôi trồng thủy sản trên các hồ, đập lớn, khai tháctốt các lòng hồ thủy điện, thủy lợi sẵn có để nuôi trồng thủy sản theo phương pháptiên tiến, hiệu quả và bền vững

- Chăm sóc, bảo vệ tốt diện tích rừng hiện có, đẩy mạnh trồng rừng phòng

hộ đầu nguồn, rừng phòng hộ bảo vệ cho các hồ, đập thủy điện, vùng có nguy cơsạt lở; thực hiện tốt việc khoanh nuôi tái sinh và trồng rừng nguyên liệu cho côngnghiệp chế biến, trồng cây đặc sản, cây dược liệu dưới tán rừng, trồng rừng cảnhquan nhằm phủ xanh đất trống, đồi núi trọc; chấm dứt tình trạng phá rừng làm

Trang 14

nương rẫy; bảo vệ nghiêm ngặt Vườn quốc gia Pù Mát, Khu bảo tồn thiên nhiên

Pù Huống, Pù Hoạt và nguồn gen động thực vật quý hiếm

- Thực hiện có hiệu quả chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thônmới Từng bước giải quyết hoàn chỉnh và đồng bộ các công trình đường giaothông, thủy lợi, điện, trường học, cơ sở vật chất văn hóa, chợ nông thôn, bưu điện,nhà ở dân cư theo các tiêu chí xây dựng nông thôn mới Nâng cao chất lượng laođộng trong nông nghiệp, đặc biệt là đào tạo nghề để phát triển sản xuất, tăng thunhập cho người dân Khuyến khích phát triển làng nghề và làng có nghề gắn vớivùng nguyên liệu Đẩy mạnh bố trí ổn định dân cư, nhất là vùng tái định cư các dự

án thủy điện, thủy lợi, vùng có nguy cơ thiên tai, vùng bị ô nhiễm môi trường

- Tập trung phát triển ngành công nghiệp chế biến nông, lâm sản, thực phẩm

có thế mạnh của vùng như sản xuất đường và các sản phẩm sau đường; chế biếnchè; các sản phẩm từ mủ cao su, sữa, thịt và các sản phẩm gỗ, bột giấy Phát triểncông nghiệp chế biến khoáng sản, vật liệu xây dựng như chế biến đá, thiếc, ximăng, gạch không nung Đầu tư xây dựng hạ tầng và thu hút doanh nghiệp lấp đầycác cụm công nghiệp đã phê duyệt; nghiên cứu thành lập các khu công nghiệpSông Dinh, Tân Kỳ và Tri Lễ

- Phát triển làng nghề với quy mô, cơ cấu sản phẩm, trình độ công nghệ hợp

lý, nhất là các làng nghề mây tre đan, dệt thổ cẩm, đá mỹ nghệ; gắn hoạt động kinh

tế của làng nghề với hoạt động dịch vụ du lịch và bảo tồn, phát triển văn hóatruyền thống Đẩy mạnh công tác chuyển giao công nghệ, ứng dụng tiến bộ khoahọc kỹ thuật trong sản xuất ở các làng nghề

- Khai thác hợp lý tiềm năng thủy điện, phấn đấu các nhà máy thủy điện trênđịa bàn đạt công suất khoảng 700 MW vào năm 2015 và 1.300 MW vào năm2020

- Hoàn thiện mạng lưới bán buôn và bán lẻ hàng hóa, dịch vụ theo hướnghiện đại Tập trung xây dựng chợ trung tâm huyện, từng bước phát triển siêu thị,trung tâm thương mại, cửa hàng tiện lợi tại các thị trấn Phát triển chợ trung tâm

xã, cụm xã, ưu tiên phát triển chợ biên giới

- Phát triển đa dạng các loại hình du lịch, sản phẩm du lịch, với các địa bàntrọng điểm như Vườn quốc gia Pù Mát và vùng phụ cận; các huyện Quế Phong,Quỳ Châu, Tương Dương, thị xã Thái Hòa,

- Tiếp tục duy trì và nâng cao chất lượng phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ

5 tuổi; phổ cập giáo dục đúng độ tuổi ở bậc tiểu học và trung học cơ sở, huy động

tỷ lệ học sinh vào các cấp học đúng độ tuổi Xây dựng và nâng cao chất lượng hệ

Ngày đăng: 25/02/2017, 19:16

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w