1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Báo Cáo Tổng Hợp Quy Hoạch Tổng Thể Phát Triển Kinh Tế - Xã Hội Thị Xã Phúc Yên Đến Năm 2020 Và Tầm Nhìn Đến Năm 2030

122 830 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 122
Dung lượng 2,34 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong quá trình nghiên cứu quy hoạch cần phải sử dụng các tư liệu nhưVăn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng; Các báo cáo quy hoạchcủa các vùng liên quan; Quy hoạch tổng t

Trang 1

ỦY BAN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚC YÊN

BÁO CÁO TỔNG HỢP

QUY HOẠCH TỔNG THỂ PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI THỊ XÃ PHÚC YÊN ĐẾN NĂM 2020 VÀ TẦM NHÌN ĐẾN NĂM 2030

Phúc Yên, Năm 2010

Trang 2

Mục lục

Phần thứ nhất

Các yếu tố tác động đến quá trình phát triển KT-XH thị xã 6

I Tác động của các yếu tố bên ngoài đến quá trình phát triển

Phần thứ hai

Thực trạng phát triển KT-XH thị xã giai đoạn 2005-2010 23

I Tình hình chung phát triển KT-XH thị xã 23

II Thực trạng phát triển các ngành và lĩnh vực xã hội 26

Phần thứ ba

Định hướng phát triển KT-XH thị xã đến 2020 và tầm nhìn

3 Lựa chọn các lĩnh vực đầu tư trọng điểm 57

Trang 3

Mở Đầu

Quy hoạch tổng thể phát triển KT-XH thị xã Phúc Yên đến năm 2010 vàđịnh hướng đến năm 2020 đã được phê duyệt năm 2006 Từ đó tới nay tình hìnhkinh tế-xã hội thị xã đã có bước phát triển tích cực, đời sống nhân dân được cảithiện, song vẫn còn nhiều tồn tại và khó khăn Trong bối cảnh kinh tế thế giới vàtrong nước có nhiều biến động, cùng với quá trình hội nhập sâu của đất nước,nhiều yếu tố tác động, cả tích cực và tiêu cực, ảnh hưởng lớn đến phát triển KT-

XH của cả nước cũng như của thị xã Đánh giá lại vị thế, thực trạng phát triểnnhững năm qua một cách chính xác và đặt ra cho thị xã những nhiệm vụ phát triểntrong tình hình bối cảnh mới là những việc cần phải được triển khai nghiên cứu đểtrên cơ sở đó đề ra các giải pháp cụ thể cho phát triển kinh tế trong những thậpniên tiếp theo Làm thế nào để kinh tế thị xã phát triển mạnh hơn, khai thác tốthơn những tiềm năng, lợi thế, phục vụ phát triển nhanh nền kinh tế, nhưng vẫnbảo vệ được môi trường sinh thái, đảm bảo công bằng xã hội là bài toán khó, cần

có lời giải đáp sớm Đề án Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế-xã hội thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030 được

triển khai nhằm đáp ứng kịp thời các yêu cầu trên

Trong quá trình nghiên cứu quy hoạch cần phải sử dụng các tư liệu nhưVăn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng; Các báo cáo quy hoạchcủa các vùng liên quan; Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế-xã hội tỉnh và cácNghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh cũng như thị xã; Các Nghị quyết, hướngdẫn của Trung ương; các quy hoạch ngành, lĩnh vực; Niên giám thống kê thị xãPhúc Yên và tỉnh Vĩnh Phúc và các công trình nghiên cứu khác có liên quan

Những căn cứ pháp lý chủ yếu để xây dựng quy hoạch gồm có:

- Nghị quyết số 54-NQ/TW ngày 14/09/2005 của Bộ Chính trị về phát triểnkinh tế xã hội và đảm bảo an ninh quốc phòng vùng Đồng bằng sông Hồng đếnnăm 2010 và định hướng đến năm 2020

- Quyết định số 145/QĐ-TTg ngày 13/8/2004 của Thủ tướng Chính phủ vềPhương hướng chủ yếu phát triển KT-XH vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ đếnnăm 2010 và tầm nhìn đến 2020

- Nghị định số 39/2008/NĐ-CP ngày 4/4/2008 của Chính phủ về việc điềuchỉnh đại giới hành chính xã, phường, thành lập thị trấn, phường thuộc huyện MêLinh, huyện Lập Thạch, thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc

- Nghị định số 92/2006/NĐ-CP ngày 07/9/2006 về lập, phê duyệt và quản

lý quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế-xã hội; Nghị định số 04/2008/NĐ-CPngày 11/01/2008 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 92/2006/NĐ-CPngày 07 tháng 9 năm 2006 của Chính phủ về lập, phê duyệt và quản lý quy hoạchtổng thể phát triển kinh tế - xã hội; Thông tư số 03/TT-BKH ngày 01/07/2008 của

Bộ Kế hoạch và Đầu tư v/v hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định04/2008/NĐ-CP

- Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Tỉnh Vĩnh Phúc nhiệm kỳ 2005-2010 vànhiệm kỳ 2011-2015

Trang 4

- Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế-xã hội tỉnh Vĩnh Phúc đến năm

2020 đã được tỉnh ủy thông qua

- Quy hoạch chung xây dựng đô thị Vĩnh Phúc đến năm 2030 và tầm nhìn

đến năm 2050, Nikken Sekkei Civil Engineering LTD, 2010.

- Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Thị xã Phúc Yên nhiệm kỳ 2006-2010 vànhiệm kỳ 2010-2015

- Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội thị xã Phúc Yên đến năm

Báo cáo tổng hợp quy hoạch gồm những phần chính sau:

- Phần thứ nhất: Các yếu tố tự nhiên và xã hội tác động đến phát triển kinh

- Phần thứ ba: Định hướng phát triển kinh tế-xã hội thị xã đến năm 2020

và tầm nhìn đến năm 2030

Phần này sẽ đưa ra bức tranh chung về kinh tế thị xã đến năm 2030 vànhững định hướng chính về phát triển các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô, phát triển ngành,lĩnh vực và phát triển các tiểu vùng trên địa bàn thị xã đến năm 2020

- Phần thứ tư: Các giải pháp chủ yếu thực hiện quy hoạch.

Đề xuất các biện pháp chủ yếu, vận dụng các cơ chế chính sách phát triểnKT-XH trên địa bàn thị xã, để đạt được các mục tiêu đề ra Bao gồm các giải pháp

về huy động vốn đầu tư; đảm bảo chất lượng nguồn nhân lực; phát triển khoa họccông nghệ, môi trường và các giải pháp về điều hành và thực hiện quy hoạch

Trang 5

1 Tác động của vùng Đồng bằng Sông Hồng và vùng Kinh tế trọng điểm Bắc bộ đến phát triển KT-XH thị xã

Vùng Đồng bằng sông Hồng, nhất là vùng Kinh tế trọng điểm Bắc bộ ảnhhưởng rất lớn, cả mặt tích cực và tiêu cực, có tính chất quyết định, đến phát triểnkinh tế-xã hội thị xã Điều đó thể hiện ở những điểm sau:

Thứ nhất: Chủ trương phát triển nhanh các vùng KTTĐ, trong đó có vùng KTTĐ Bắc bộ, tạo cơ hội rất lớn về đầu tư cho thị xã phát triển nhanh và hiện đại

- Định hướng quy hoạch các vùng KTTĐ, đặc biệt vùng KTTĐ Bắc bộ,vùng Thủ đô Hà Nội và vùng ĐBSH là những căn cứ cho phát triển KT-XH thị

Trong phương hướng phát triển dài hạn vùng ĐBSH và vùng KTTĐ Bắc bộđều nhấn mạnh thị xã Phúc Yên, cũng như tỉnh Vĩnh Phúc, là một trong nhữngmắt xích quan trọng của chuỗi đô thị của vùng, được phát triển một cách đồng bộ

và làm xương sống cho phát triển XH vùng Trong quy hoạch phát triển

KT-XH vùng Thủ đô, thị xã Phúc Yên là một trong những đô thị của ngõ của tỉnhVĩnh Phúc với thủ đô Hà Nội Hà Nội với vị thế là một trong hai trung tâm kinh tếlớn nhất cả nước, trung tâm đầu não về tiềm lực khoa học và nguồn nhân lực chấtlượng cao sẽ tạo điệu kiện rất thuận lợi cho sự phát triển kinh tế và đào tạo nghềchất lượng cao

- Sự phát triển KT-XH nói chung và phát triển công nghiệp, khu côngnghiệp của vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ có ảnh hưởng lớn đến phát triển côngnghiệp và khu, cụm công nghiệp của thị xã Phúc Yên

Trong quy hoạch cũng nêu rõ phân bố và phát triển các khu công nghiệp làhướng ưu tiên trong phát triển vùng KTTĐ Sự phát triển kinh tế-xã hội nói chung

và phát triển công nghiệp, khu công nghiệp của vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ

có ảnh hưởng rất lớn đến phát triển công nghiệp và khu, cụm công nghiệp của thị

xã Vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ là nơi tập trung tới trên 25-30% sản lượng

Trang 6

công nghiệp của cả nước, đồng thời cũng là nơi tập trung tới 18-20% số khu côngnghiệp cả nước Cùng với sự phát triển của công nghiệp và các khu công nghiệptrên địa bàn Vùng KTTĐ Bắc bộ, kinh tế-xã hội vùng có bước phát triển vượt bậctrong những năm gần đây, tạo ra thị trường lớn cho sự phát triển của công nghiệpVĩnh Phúc nói chung và thị xã Phúc Yên nói riêng Phúc Yên có điều kiện tốt về

vị trí địa lý, mặt bằng xây dựng, đầu mối giao thông để phát triển công nghiệpthay cho công nghiệp của vùng Thủ đô khi mật độ ở đây đã quá dầy đặc và ảnhhưởng không tốt đến phát triển Thủ đô

- Cùng với chủ trương phát triển nhanh vùng KTTĐ làm hạt nhân cho pháttriển KT-XH cả nước, hệ thống hạ tầng như: giao thông, điện, nước, thông tin liênlạc, theo đó cũng được đầu tư phát triển một cách đầy đủ, hoàn thiện, đồng bộ

và hiện đại

Để đáp ứng những nhu cầu hội nhập, các hành lang kinh tế Việt-Trung quathị xã đã và đang được triển khai Hệ thống giao thông trên hành lang đã và đangđược nâng cấp và xây mới Hệ thống cảng biển khu vực cụm cảng số 1 (bao gồmQuảng Ninh và Hải Phòng) đã và đang được đầu tư trở thành cụm cảng lớn nhấtphía Bắc gắn với hệ thống đường bộ ngày càng được đầu tư hiện đại, mở ra cơ hộirất lớn cho sự phát triển các sản phẩm xuất khẩu, giao thương quốc tế của thị xãPhúc Yên

- Thị xã Phúc Yên cũng như tỉnh Vĩnh Phúc sẽ được hưởng sự ưu tiên trongkêu gọi đầu tư và đầu tư ưu tiên vào địa bàn Điều đó được thể hiện trong cácchương trình phát triển chung các vùng KTTĐ

Cùng với sự thay đổi về thể chế và trạng thái nền kinh tế, sự hình thành cơcấu kinh tế, cơ cấu đầu tư mới có ý nghĩa quan trọng trong phát triển KT-XH thị

xã Ưu tiên đầu tư và đầu tư ưu tiên vào thị xã đang và sẽ tiếp tục làm cho giá trịnền kinh tế chuyển sang một giai đoạn mới-giai đoạn công nghiệp hàm lượngcông nghệ cao và dịch vụ hiện đại, tạo thế cho định hướng CHH, HĐH sớm củathị xã

Thứ hai: Tuy có những điều kiện thuận lợi từ việc chủ trương phát triển chung song những khó khăn, áp lực lớn gặp phải khi tham gia hội nhập kinh tế cũng sẽ là tác nhân tác động không thuận lợi đến phát triển KT-XH thị xã ở nhiều khía cạnh:

- Tác động rất lớn và trực tiếp đến phát triển KT-XH thị xã là những đòi hỏikhắt khe khi hội nhập sâu kinh tế quốc tế, là cạnh tranh, mà trước hết là chấtlượng hàng hóa sản xuất và dịch vụ

Cạnh tranh và hội nhập thật sự là yếu tố sống còn của nền kinh tế, điều đóliên quan trực tiếp đến sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cơ cấu đầu tư Thời hạnchuẩn bị thực hiện đầy đủ các cam kết tự do hoá thương mại trong khuôn khổ cáchiệp định đã ký kết (AFTA, Hiệp định thương mại Việt - Mỹ) và các cam kết theoquy định của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) không còn nhiều, song nănglực cạnh tranh cả ở cấp quốc gia lẫn cấp doanh nghiệp đều chưa kịp đáp ứng

- Các chủ trương phát triển chung, nhất là chủ trương phát triển hạ tầnggiao thông, chia cắt địa bàn, đã phần nào hạn chế sự phát triển nội lực của thị xã

Trang 7

Hệ thống giao thông quốc gia đi qua thị xã khá nhiều, chia cắt và tiến độthực hiện quá chậm đã ảnh hưởng không nhỏ đến khả năng chủ động và tiến độcũng như mức độ hoàn thành các chỉ tiêu chiến lược của thị xã Thị xã đã và đangđược tỉnh cũng như Trung ương đầu tư xây dựng nhiều cơ sở sản xuất côngnghiệp khá lớn Điều này làm cho tăng trưởng kinh tế thị xã có khả năng đạt cao,nhất là cơ cấu ngành chuyển dịch theo hướng tích cực Đồng thời cũng tạo điềukiện cho dịch vụ của địa phương theo đó có cơ hội phát triển Tuy nhiên nếukhông tính tới nguồn thu này thì thực tế quy mô kinh tế của thị xã không lớn, cơcấu kinh tế chưa tạo ra bước đột phá cũng như hạn chế nội lực phát triển.

- Các điều kiện vật chất tạo cơ hội cho thu hút đầu tư hiện còn rất thiếu làmột đòi hỏi cấp bách không chỉ đối với thị xã mà cả tỉnh và vùng

Mục tiêu nhanh chóng thoát khỏi trạng thái nước nghèo, khắc phục nguy cơtụt hậu quá xa về kinh tế so với các nước trong khu vực đặt ra một cách cấp bách,đòi hỏi phải tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nhanh, trọng tâm là làmthay đổi khu vực nông nghiệp, nông thôn Trong khi đó hạ tầng kỹ thuật cũng như

hạ tầng xã hội đều kém và không đồng bộ Những yếu kém đó đã làm mất không

ít những cơ hội lớn trong việc kêu gọi các dự án đầu tư lớn cả trong và ngoài nướcvào thị xã

- Công nghệ và chất lượng nguồn nhân lực trong sản xuất còn yếu là mộtthách thức lớn cho phát triển kinh tế thị xã

Nhu cầu cải tiến công nghệ rất lớn, do hầu hết các cơ sơ sản xuất đang ởmức độ trung bình và lạc hậu Muốn có được những sản phẩm mang tính cạnhtranh cao, đạt chuẩn, ít nhất là ở khu vực, cần phải trang bị kỹ thuật tiên tiến, côngnghệ hiện đại Muốn như vậy cần phải có một lượng vốn đầu tư lớn, trong khi khảnăng huy động vốn của thị xã còn rất khó khăn, hạn chế Đây là vấn đề nan giảicho không chỉ thị xã mà đối với toàn bộ nền kinh tế và từng ngành trong cả nước.Lao động trong tỉnh nói chung và thị xã Phúc Yên nói riêng, phần lớn có trình độthấp là một áp lực không nhỏ đối với phát triển KT-XH thị xã trong thời gian dài

2 Tác động của phát triển KT-XH tỉnh Vĩnh Phúc đến phát triển kinh tế-xã hội thị xã

Mục tiêu phát triển của tỉnh Vĩnh Phúc đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm

2030 là: “…xây dựng tỉnh Vĩnh Phúc trở thành một thành phố công nghiệp, dịch

vụ, văn minh, hiện đại, môi trường sạch, mức sống dân cư cao, là một trong những trung tâm công nghiệp, dịch vụ, du lịch của khu vực và của cả nước; nâng cao rõ rệt mức sống nhân dân; bảo đảm vững chắc về quốc phòng, an ninh Xây dựng cơ sở vật chất, đặt nền móng hướng tới trở thành trung tâm kinh tế có tầm ảnh hưởng lớn tới khu vực Bắc-Tây bắc Bắc bộ với sự phát triển mạnh của khu vực dịch vụ trong một cơ cấu kinh tế dịch vụ-công nghiệp-nông nghiệp vào những năm cuối Thập kỷ 20, đầu thập kỷ 30” (Theo bỏo cỏo “Quy hoạch tổng thể phát

triển KT-XH tỉnh Vĩnh Phúc đến năm 2020 và tầm nhỡn đến năm 2030”)

Để đạt được mục tiêu này phải có những nỗ lực rất lớn của Trung ương vàtỉnh Kinh tế tỉnh Vĩnh Phúc tăng trưởng với tốc độ bình quân khoảng 15-16%giai đoạn đến 2011-2015 và 14-15% trong giai đoạn đến 2016-2020 Kinh tế VĩnhPhúc sẽ có bước chuyển biến lớn vượt trước trình độ phát triển chung của vùng

Trang 8

Kinh tế trọng điểm Bắc bộ Mục tiêu đó là những căn cứ cho định hướng pháttriển KT-XH thị xã.

Biểu 1: Một số chỉ tiêu kinh tế-xã hội Vĩnh Phúc đến năm 2020

là những điều kiện thuận lợi, vừa là những đòi hỏi lớn, nặng nề đối với sự pháttriển KT-XH thị xã trong giai đoạn quy hoạch

Ii các yếu tố tự nhiên bên trong cho phát triển kinh tế-Xã Hội thị xã

1 Điều kiện tự nhiên

1.1 Điều kiện địa lý kinh tế, chính trị của thị xã

Thị xã Phúc Yên thuộc tỉnh Vĩnh Phúc, nằm trong vùng đất có lịch sử dựngnước và giữ nước lâu đời của dân tộc Những ấn tích còn để lại đến ngày nay đãtạo cho vùng đất thị xã một vị trí địa lí kinh tế, chính trị với bề dầy lịch sử có giátrị Đây là tiền đề cho phát triển KT-XH thị xã trong giai đoạn quy hoạch

Thuộc vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ và vùng Đồng bằng sông Hồng, làmột trong hai vùng sôi động nhất cả nước, thị xã Phúc Yên là đầu mối giao lưukinh tế quan trọng trong vùng, có mối quan hệ chắt chẽ giữa vùng với cả nước vàquốc tế

Trang 9

Thị xã Phúc Yên là một trong những đô thị lớn, nằm sát với Thủ đô HàNội, là trung tâm du lịch nghỉ dưỡng, thể dục thể thao và đào tạo quốc gia, làtrung tâm kinh tế công nghiệp-dịch vụ quan trọng của tỉnh và là một đầu mối giaothông của vùng phía Bắc và cả nước.

Tỉnh Vĩnh Phúc là một trong 5 trung tâm du lịch lớn của cả nước, do đó thị

xã có nhiều tiềm năng và điều kiện thuận lợi để phát triển du lịch vui chơi nghỉdưỡng Hồ Đại Lải thuộc thị xã là nơi được tỉnh, cũng như quốc gia, chọn làmmột trong những điểm phát triển du lịch nghỉ dưỡng, sinh thái của cả vùng phíaBắc

Trên địa bàn thị xã còn có trên 6.000 đơn vị đang hoạt động gồm các cơquan, doanh nghiệp, các trường Đại học, Cao đẳng, Trung học chuyên nghiệp,Trường dạy nghề của Trung ương, của tỉnh, của Hà Nội Đây là điều kiện thuậnlợi để Phúc Yên khai thác các thế mạnh, phát triển kinh tế-xã hội và văn hoá, giáodục, đào tạo của thị xã

1.2 Về địa hình

Thị xã Phúc Yên được tái thành lập ngày 9/12/2003 theo Nghị định số

153/2003/NĐ-CP của Chính phủ về việc thành lập thị xã Phúc Yên và huyện Tam

Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc, sau khi tách ra từ huyện Mê Linh Theo đó địa giới hành

chính của thị xã: Phía Đông giáp thành phố Hà Nội; Phía Tây giáp huyện BìnhXuyên; Phía Nam giáp huyện Mê Linh (Hà Nội) và phía Bắc giáp tỉnh TháiNguyên

Theo Nghị định số 39/2008/NĐ-CP ngày 4/4/2008 của Chính phủ về việc

điều chỉnh địa giới hành chính xã, phường, thành lập thị trấn, phường thuộc huyện Mê Linh, huyện Lập Thạch, thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc, cho đến nay

(năm 2009) thị xã có 10 đơn vị hành chính, bao gồm 06 phường: Xuân Hoà, ĐồngXuân, Trưng Trắc, Trưng Nhị, Hùng Vương, Phúc Thắng và 04 xã: Cao Minh,Nam Viêm, Tiền Châu, Ngọc Thanh

Bảng 2: Diện tích, dân số thị xã năm 2010

Dân số (ước) Diện tích (1) Mật độ

Trang 10

Nam Viêm 6.951 568,78 1.222

Nguồn: Xử lý theo Niên giám thống kê thị xã Phúc Yên, năm 2010

Thị xã Phúc Yên thuộc vùng trung du tiếp giáp vùng núi cao của tỉnh VĩnhPhúc Địa hình của thị xã khá đa dạng, chia thành 2 vùng chính:

- Vùng đồi núi bán sơn địa gồm: các xã Ngọc Thanh, Cao Minh và các

phường Xuân Hoà, Đồng Xuân với diện tích khoảng trên 9.650 ha;

- Vùng đồng bằng gồm: các phường Phúc Thắng, Hùng Vương, Trưng

Trắc, Trưng Nhị và xã Nam Viêm, Tiền Châu, có diện tích tự nhiên khoảng 2.350

ha

Thị xã có đất đồng bằng, đất vùng núi, đất rừng và đặc biệt có hồ Đại Lải

và nhiều đầm, ao, hồ lớn, nhỏ khác, có thể phát triển các loại hình du lịch đa dạng

1.3 Khí hậu, thủy văn

Nhìn chung khí hậu của thị xã thuận lợi cho phát triển kinh tế

Thị xã Phúc Yên nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa Nhiệt độ trungbình hàng năm khoảng 23oC, nóng ẩm, mưa nhiều về mùa hạ; hanh khô và lạnhkéo dài về mùa đông Nhiệt độ chênh lệch khá lớn: nhiệt độ cực đại tuyệt đối41,6oC; trong khi nhiệt độ cực tiểu tuyệt đối chỉ khoảng 3,1oC Độ ẩm không khítrung bình hàng năm ở khoảng 83%, độ ẩm cực tiểu tuyệt đối là 16%

Hướng gió chủ đạo về mùa đông là Đông-Bắc, về mùa hạ là Đông-Nam,vận tốc gió trung bình là 2,4m/s Vận tốc gió cực đại có thể xảy ra theo chu kỳthời gian 5 năm là 25m/s; 10 năm là 32m/s và 20 năm là 32m/s

Lượng mưa trung bình hàng năm là 1.661 mm Tháng 8 có lượng mưa lớnnhất đạt tới 310 mm Tổng số giờ nắng trong năm là 1.646 giờ Tháng có giờ nắngcao nhất là tháng 7 với 195 giờ/tháng Về mùa hạ thường có nhiều mưa, giôngbão từ tháng 5 đến tháng 8, gây ảnh hưởng không tốt đến sản xuất, nhất là sảnxuất nông nghiệp và đời sống sinh hoạt của nhân dân

2 Tài nguyên thiên nhiên

2.1 Tài nguyên nước

Nhìn chung, tuy có một số nguồn có khả năng cung cấp nước sạch cho thị

xã, nhưng hầu như nguồn nước cung cấp cho sản xuất và sinh hoạt còn thiếunhiều Đây sẽ là một trong những vấn đề lớn đối với sự phát triển KT-XH thị xãkhông chỉ cho lâu dài mà ngay cả trong những năm sắp tới

a) Về nước mặt

Thị xã có hai sông lớn chảy qua:

- Sông Bá Hạ, bắt nguồn từ suối Nhảy Nhót giữa xã Trung Mỹ (huyện Bình

Xuyên) và xã Ngọc Thanh (thị xã Phúc Yên), chảy giữa xã Bá Hiến (huyện BìnhXuyên) và xã Cao Minh đến hết địa phận xã Bá Hiến đầu xã Sơn Lôi (huyện BìnhXuyên), chảy qua thị xã, sau đó nhập vào sông Cánh chảy về sông Cà Lồ

Trang 11

- Sông Cà Lồ, là một nhánh của sông Diệp Du, còn gọi là sông Nguyệt

Đức Là một nhánh sông Hồng tách ra từ xã Trung Hà (Yên Lạc), sông Cà Lồchảy từ xã Vạn Yên (huyện Mê Linh) theo hướng Tây Nam-Đông Bắc, giữa haihuyện Bình Xuyên, Mê Linh, vòng quanh thị xã Phúc Yên, qua hai huyện KimAnh, Đa Phúc cũ đổ vào sông Cầu ở thôn Lương Phúc xã Việt Long (nay thuộchuyện Sóc Sơn) Nguồn nước sông Cà Lồ ngày nay chủ yếu là nước của các sông,suối bắt nguồn từ núi Tam Đảo, núi Sóc Sơn, lưu lượng bình quân 30m3/giây Lưulượng cao nhất về mùa mưa 286m3/giây Tác dụng chính là tiêu úng mùa mưa

Trên địa bàn thị xã còn có một số hồ, đầm chứa nước phục vụ sản xuấtnông nghiệp, kết hợp với nuôi trồng thuỷ sản và phát triển du lịch Hồ Đại Lải là

hồ nhân tạo lớn nhất tỉnh Vĩnh Phúc, thuộc địa bàn xã Ngọc Thanh, cách thànhphố Vĩnh Yên 21km, cách thủ đô Hà Nội 45km (2) Bên cạnh lợi ích của một công

trình đại thuỷ nông đối với sản xuất nông nghiệp, hồ Đại Lải còn là một trọngđiểm của cụm du lịch Đại Lải và phụ cận, một khu du lịch nghỉ dưỡng cuối tuầnhấp dẫn Các đầm, hồ khác như đầm Láng, đầm Rượu, là những nguồn cungcấp nước mặt cho thị xã

b) Về nước ngầm

Qua khảo sát đánh giá của Liên đoàn Địa chất thủy văn-Địa chất công trìnhmiền Bắc (đã được Hội đồng trữ lượng Quốc gia thẩm định) trên địa bàn thị xã cómột số bãi giếng nước ngầm có trữ lượng khá lớn đã và đang được khai thác như:Bãi giếng nước ngầm từ Khả Do đến Đại Phùng trữ lượng 19.000m3/ngày; BãiTháp Miếu-Tiền Châu có trữ lượng 10.000m3/ngày Nguồn nước ngầm này sẽ bổsung thêm cho nguồn nước mặt, cung cấp nước cho sản xuất và sinh hoạt của thị

2.2 Tài nguyên đất

a) Về thổ nhưỡng:

Đất của thị xã hầu hết là đất đồi núi, hiện có các loại đất chủ yếu sau (3):

- Đất Feralitic màu nâu vàng phát triển trên nền phù sa cổ Đất thườngchua, cấu tượng viên tơi xốp, thành phần cơ giới từ nhẹ đến trung bình, thuận lợicho việc trồng hoa màu, cây công nghiệp ngắn ngày và cây lâm nghiệp

- Đất Feralitic màu vàng hoặc đỏ phát triển trên phiến thạch sét Đây là loạiđất rừng cho năng suất cao, ở những vùng đất dốc dưới 200 thích hợp cho pháttriển cây ăn quả, cây công nghiệp và các loại đặc sản

- Đất Feralitic vàng đỏ hoặc vàng xám phát triển đá Macma chua Đất chua,tầng đất mặt mỏng, thích hợp cho phát triển lâm nghiệp

2 () Ngành Thuỷ lợi đã tiến hành khảo sát và thiết kế xây dựng hồ chứa nước Đại Lải với nhiệm vụ “phục

vụ đại bộ phận ruộng nằm bên bờ sông Cà Lồ với tổng số diện tích 9000 ha” Theo đó diện tích mặt hồ rộng 525km 2 , chứa 26,4 triệu m 3 nước, bảo đảm tưới tiêu cho 2900 ha đất canh tác của hai huyện Mê Linh và Sóc Sơn (Hà Nội).

3 Theo báo cáo “Quy hoạch tổng thể phát triển KT-XH tỉnh Vĩnh Phúc đến năm 2020 và tầm nhỡn đến năm 2030”.

Trang 12

- Đất Feralitic vàng đỏ hoặc vàng xám phát triển trên đá sa thạch quăczitcuội kết, dăm kết Đất xấu, đất bị trơ sỏi đá, cần được tích cực cải tạo để pháttriển rừng.

- Đất Feralitic xúi mũn mạnh, trơ sỏi đá Phân bố dọc theo QL2 từ PhúcYên đi Vĩnh Yên, chủ yếu là các dải đất dốc thoải

b) Phân bố đất đai:

Theo số liệu thống kê, tổng diện tích đất tự nhiên của thị xã có 12.029,55

ha, trong đó phân ra:

- Đất nông nghiệp: có trên 8.356 ha, chiếm tới 69,6% tổng diện tích củatoàn thị xã Trong đó, đất để sản xuất nông nghiệp chiếm 29,7% diện tích (bằng6,1% diện tích đất nông nghiệp toàn tỉnh Vĩnh Phúc), đất lâm nghiệp có rừngchiếm 38,6% diện tích (bằng 14,1% toàn tỉnh), đất nuôi trồng thủy sản không lớn,chiếm 1,2% diện tích (bằng 5,8% toàn tỉnh)

- Đất phi nông nghiệp: có khoảng trên 3.470 ha, chiếm 28,9% tổng diệntích đất tự nhiên toàn thị xã Trong đó, đất để ở chiếm 6,8% (đất ở cho đô thịchiếm 3,2% và đất ở nông thôn chiếm 3,6%); đất chuyên dùng bao gồm đất trụ sở

cơ quan, đất công trình sự nghiệp, đất an ninh, đất quốc phòng, đất sản xuất, kinhdoanh phi nông nghiệp và đất công trình công cộng chiếm 16,2%; đất dành chotín ngưỡng, tôn giáo và nghĩa trang, nghĩa địa chiếm khoảng 0,5%; đất sông suối

và mặt nước chiếm khoảng 5,3%

- Đất chưa sử dụng: chiếm khoảng 1,5% tổng diện tích đất tự nhiên

Nhìn chung, khả năng khai thác đất đai của thị xã còn khá dồi dào, tuykhông thực giàu chất dinh dưỡng nhưng lại nằm gần kề thủ đô Hà Nội, nên đấtcủa thị xã đã trở thành tài nguyên có giá trị kinh tế cao

2.3 Tài nguyên rừng

Tổng diện tích đất rừng tự nhiên của toàn thị xã có khoảng trên 4.640 ha,chiếm 38,6% tổng diện tích đất tự nhiên Trong đó, rừng sản xuất có khoảng444,6 ha; rừng phòng hộ có khoảng 3.493,9 ha và rừng đặc dụng có khoảng 700

ha

Mục tiêu quan trọng đối với quỹ đất rừng của thị xã là từ nhiều nguồn vốn,bằng nhiều biện pháp bảo vệ môi trường, đảm bảo giữ vững môi trường sinh thái,chống sói mòn đất canh tác cho thị xã và các vùng lân cận; kết hợp bảo vệ, làmgiàu rừng với phát triển du lịch, để tạo ra giá trị lớn trên một đơn vị diện tích đấtrừng, mang lại lợi ích to lớn từ rừng cho dân cư thị xã

2.4 Tài nguyên khoáng sản

Phúc Yên nói riêng và tỉnh Vĩnh Phúc nói chung là vùng đất chuyển tiếpgiữa miền núi và đồng bằng, nên nhìn chung tài nguyên khoáng sản của thị xãkhông nhiều Khoáng sản quý hiếm hầu như không có gì ngoài đá granit ở XuânHoà Khoáng sản có giá trị thương mại có trữ lượng ít và điều kiện khai thác còn

Trang 13

nhiều khó khăn và hạn chế Hơn nữa, nếu tổ chức khai thác không tránh khỏi ảnhhưởng tới rừng, tới môi trường, ảnh hưởng tới cảnh quan du lịch của thị xã.

2.5 Tài nguyên du lịch

Thị xã có địa hình đa dạng: có vùng đồi-rừng, vùng bán sơn địa; có vùngđồng bằng; có núi, có hồ lớn như Đại Lải với diện tích 525 ha đã bước đầu địnhhình là một khu du lịch lớn; ngoài ra còn có các sông, đầm, hồ như Đầm Rượu,Đầm Láng, sông Cà Lồ, … Đây là điều kiện tốt để phát triển các loại hình du lịchvui chơi giải trí, du lịch thắng cảnh nghỉ dưỡng, du lịch sinh thái; đồng thời kếthợp với phát triển kinh tế như nuôi trồng thuỷ sản, khai thác nghề rừng và tạonhững hình thức du lịch mới, độc đáo

Trên toàn địa bàn thị xã còn có nhiều di tích lịch sử-văn hóa có giá trị Hiện

có 12 di tích được Nhà nước công nhận là di tích lịch sử văn hoá, trong đó có 5 ditích cấp Bộ, 7 di tích cấp tỉnh (4) Đặc biệt trên đất Phúc Thắng còn lưu giữ nhiều

di sản văn hoá vật thể và phi vật thể, điển hình là tấm bia thời Lý Cao Tông niênhiệu Trị Bình Long ứng thứ 5 (năm 1209) Những di tích đã, đang và sẽ góp phầntạo ra những sản phẩm du lịch lịch sử-văn hóa, du lịch tâm linh cho thị xã

3 Dân số, dân cư và nguồn nhân lực

3.1 Dân số và phân bố dân cư

Theo số liệu thống kê của thị xã, dân số trung bình toàn thị xã năm 2009 có91.714 người, năm 2010 ước có 92.815 người sống trên 10 phường, xã với mật độdân số là 772 người/km2 (mật độ dân số của tỉnh Vĩnh Phúc cùng thời điểm là 824người/km2) Trong đó, dân số nam có khoảng 44.857 người (chiếm 48,33% tổngdân số), dân số nữ có 47.959 người (chiếm 51,67% dân số thị xã) Dân số thànhthị của thị xã có 55.100 người (chiếm 59,37% dân số) và dân số nông thôn (tại các

xã ngoại thị) là 37.715 người (chiếm 40,63% dân số)

Tốc độ tăng dân số tự nhiên của thị xã trong giai đoạn 2005-2010 đạtkhoảng 1,2-1,3% Dân số của thị xã trong những năm qua có xu hướng tăngnhanh ở khu vực thành thị và tăng không nhiều ở nông thôn Tỷ lệ tăng dân số tựnhiên của khu vực thành thị giai đoạn 2005-2010 đạt 1,89%, khu vực nông thônchỉ tăng khoảng gần 1%/năm trong giai đoạn này

Dân cư phân bố không đều, tập trung nhiều tại các phường trung tâm Mật

độ giữa các phường, xã chênh lệch nhau khá lớn, đến trên 60 lần Trong khiphường Trưng Trắc có mật độ lớn nhất, khoảng 8.528 người/km2 thì xã NgọcThanh chỉ có 151 người/ km2

Biểu 3: Biến động dân số thị xã Phúc Yên giai đoạn 2005-2010

4() Di tích cấp bộ có: Đền Ngô Miễn (phường Phúc Thắng), Chùa Bảo Sơn (xã Nam Viêm), Đình Khả Do

(xã Nam Viêm), Đình Cao Quang (xã Cao Minh), Chiến khu cách mạng Ngọc Thanh (xã Ngọc Thanh) Di

tích cấp tỉnh có: Chùa Cấm (còn gọi là chùa Báo Ân) thuộc Phường Trưng Nhị, Đình chùa Nam ViêM (xã

Nam Viêm), Đình Thanh Lộc (xã Ngọc Thanh), Đình Xuân Hoà (xã Cao Minh), Khu lăng mộ Đỗ Nhân Tăng - Trần Công Tước (phường Phúc Thắng), Đền Đồng Chằm (xã Ngọc Thanh).

Trang 14

(ước) Tổng dân số (người) 86577 87429 87581 88443 91714 92815

Về số lượng: Trong những năm qua, lực lượng lao động trong độ tuổi của

thị xã tăng khá nhanh, tăng bình quân 1,65%/năm Trong giai đoạn 2005-2010nguồn lao động tham gia làm việc của thị xã tăng từ trên 55,9 nghìn người vàonăm 2005 lên gần 61,5 nghìn người năm 2010, chiếm một tỷ lệ khá cao, khoảng63,3% tổng dân số của thị xã Năm 2010, nguồn lao động của thị xã là 61.490người, trong đó lao động có khả năng lao động trong tuổi lao động chiếm khoảng90,5% và lao động ngoài độ tuổi lao động có khả năng tham gia lao động chiếmkhoảng 9,5%

Theo số liệu thống kê của thị xã thì lao động đang làm việc trong nền kinh

tế của thị xã tăng từ 48.252 người (năm 2005) lên 52.069 người (năm 2010) Laođộng đang làm việc trong nền kinh tế năm 2010 chiếm khoảng 84,74% nguồn laođộng của thị xã và bằng 56,1% dân số thị xã Trong đó:

- Lao động đang làm việc trong khối ngành công nghiệp-xây dựng cókhoảng 30,6 nghìn người (chiếm 61,9%) Mức tăng chủ yếu là lao động ngoàiquốc doanh

- Lao động đang làm việc trong khối ngành nông, lâm nghiệp, thủy sản có11,1 nghìn người (chiếm 22,5%)

- Lao động đang làm việc trong khối các ngành dịch vụ khá ổn định có 10,3nghìn người (chiếm 20,8%) Trong đó, lao động cá thể kinh doanh thương nghiệp,nhà hàng, du lịch tăng khá nhanh, trung bình tăng hàng năm trên 600 người

Biểu 4: Tình hình lao động xã hội của thị xã Phúc Yên

2005 2006 2007 2008 2009 (ước) 2010

II Nguồn lao động 55940 56769 57332 58406 60663 61490

Trang 15

3 Số người thất nghiệp 1638 1535 1251 1300 1139 1021

Nguồn: Xử lý theo Niên giám thống kê thị xã Phúc Yên năm 2010

Cơ cấu lao động đang làm việc có sự chuyển dịch theo hướng tích cực, phùhợp với xu thế phát triển kinh tế của thị xã cũng như của tỉnh Vĩnh Phúc Chuyểndịch mạnh nhất là lao động của khu vực công nghiệp-xây dựng, tăng từ 26,58%năm 2005 lên 61,96% vào năm 2010; lao động của khối ngành nông, lâm nghiệp

và thủy sản cũng có sự chuyển dịch giảm đáng kể, từ 53,72% xuống còn 22,53%;lao động làm việc trong khối ngành dịch vụ tăng chậm và khá ổn định, tăng từ15,46% lên 20,84%

Về chất lượng: Theo số liệu thống kê thì tỷ lệ lao động qua đào tạo của thị

xã năm 2010 ước đạt 50%, trong đó tỷ lệ lao động đã qua đào tạo trong ngànhnông, lâm nghiệp, thủy sản đạt 15,7%; Số lao động có trình độ chuyên môn kỹthuật chủ yếu tập trung trong khu vực kinh tế trung ương, trong khu vực có đầu tưnước ngoài Tỷ lệ thất nghiệp, tuy chưa thống kê đầy đủ, nhưng cũng chỉ duy trìtrong khoảng 2-3% Hàng năm, thị xã đã giải quyết việc làm mới cho hơn 2.500lao động

Trong những năm tới lực lượng lao động sẽ tăng đáng kể do dân số bướcvào tuổi lao động ngày càng nhiều Đây chính là nguồn lao động quan trọng chochiến lược phát triển kinh tế-xã hội của thị xã, nhưng đồng thời cũng là áp lực lớncho các cấp chính quyền trong việc đào tạo nghề, giải quyết việc làm cho lựclượng lao động này

Nhìn chung lực lượng lao động của thị xã khá dồi dào về số lượng Mặc dù

có nguồn lao động trẻ dồi dào nhưng lại thiếu nguồn nhân lực có chất lượng caocung ứng cho các khu công nghiệp, các ngành sản xuất, dịch vụ đang phát triểntrong thị xã, dẫn đến tình trạng thừa lao động nhưng vẫn phải nhận lao động nhập

cư từ bên ngoài vào

Trong điều kiện hiện nay chất lượng nguồn nhân lực của thị xã còn thấp,chưa đáp ứng nhu cầu phát triển công nghiệp của địa phương và vùng KTTĐ Bắc

bộ Tuy nhiên, thị xã có nhiều điều kiện thuận lợi trong việc đào tạo nói chung vàđào tạo nghề nói riêng Nếu tăng cường công tác đào tạo bằng các biện pháp hữuhiệu sẽ có thể đáp ứng nhu cầu phát triển công nghiệp và cung cấp cho các khucông nghiệp trong tương lai

3.3 Dự báo dân số và nguồn lao động

Dự báo tốc độ tăng trưởng dân số trung bình (cả tăng tự nhiên và cơ học)của thị xã cho cả thời kỳ 2011-2030 là 4,5-5%/năm (trong đó nhịp tăng tự nhiêntrên dưới 1%) Theo đó tổng dân số thị xã năm 2010 có khoảng 92.815 người,năm 2015 đạt 120.000 người (trong đó di cư đến gần 22.000 người), năm 2020 cókhoảng 155.000 người (di cư đến thị xã sẽ là 52.000 người) và năm 2030 sẽ có240.000 người (dân di cư đến thị xã ước khoảng 127.000 người) Tỷ lệ dân số đô

Trang 16

thị cho các năm: năm 2010 là 59,3%, năm 2015 là 70,4% năm 2020 là 80,1% vànăm 2030 là 98,8% (5).

Lực lượng lao động làm việc trong nền kinh tế của thị xã tăng nhanh, năm

2010 là 52,07 nghìn người, năm 2015 là 67,8 nghìn người, năm 2020 là 88,1nghìn người và năm 2030 là 138 nghìn người (6) Cơ cấu phân bố lao động được

dự kiến như sau:

- Năm 2010: Khu vực nông, lâm nghiệp, thủy sản chiếm 21,6% tổng laođộng Công nghiệp-xây dựng là 59,7% và các ngành dịch vụ là 18,8%

- Năm 2015: Khu vực nông, lâm nghiệp, thủy sản chiếm 16,03% tổng laođộng Công nghiệp-xây dựng là 58,9% và các ngành dịch vụ là 25,07%

- Năm 2020: Khu vực nông, lâm nghiệp, thủy sản chiếm 9,86% tổng laođộng Công nghiệp-xây dựng là 58,45% và các ngành dịch vụ là 31,69%

- Năm 2030: Khu vực nông, lâm nghiệp, thủy sản chiếm 2,95% tổng laođộng Công nghiệp-xây dựng là 49,68% và các ngành dịch vụ là 47,37%

Biểu 5: Dự báo dân số và nguồn lao động thị xã đến năm 2030

(Nguồn: Xử lý theo số liệu thống kê thị xã)

- Tốc độ tăng dân số (cả

2 LĐ đang làm việc Người 52070 67800 88100 138000

III tiềm năng lợi thế và những hạn chế trong phát triển kt-xh thị xã

1 Những lợi thế so sánh và cơ hội cho phát triển

Thứ nhất: Vị trí địa lý tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển KT-XH của thị

xã theo hướng hiện đại

- Nằm trong vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ, đặc biệt là liền kề thủ đô HàNội, thị xã có điều kiện thuận lợi trong cạnh tranh, thu hút đầu tư từ bên ngoàicũng như thuận lợi trong phát triển kết cấu hạ tầng

5 () Với mục tiêu toàn tỉnh Vĩnh Phúc trở thành thành phố vào năm 2030; khi đó thị xó sẽ là một hoặc hai Quận của thành phố Vĩnh Phỳc Hầu hết dõn thị xó đều là dân đô thị.

6 () Theo dự bỏo thỡ từ năm 2015 trở đi thị xó sẽ đón nhận nhiều cư dân từ bên ngoài di cư tới, mà lúc đầu chủ yếu là lao động Như vậy tỷ lệ lao động sẽ tăng lên tới 58-60% dân số trong giai đoạn quy hoạch.

Trang 17

Thủ đô Hà Nội đã được mở rộng, sẽ phát triển mạnh về phía Bắc (hìnhthành khu đô thị mới Bắc Thăng Long, khu công nghiệp Thăng Long, SócSơn….) Đây là cơ hội cho thị xã Phúc Yên và tỉnh Vĩnh Phúc tiếp nhận sự lan tỏa

về vốn, khoa học - công nghệ và phát triển các ngành sản xuất bổ trợ, các loạihình dịch vụ cho Thủ đô

- Thị xã Phúc Yên là một trong những trung tâm văn hoá, khoa học-kỹthuật, kinh tế của tỉnh; được tỉnh quan tâm đầu tư phát triển và có điều kiện thuậnlợi phát triển các dịch vụ chất lượng cao như: tài chính, ngân hàng, tín dụng, bảohiểm, bưu chính-viễn thông, y tế, đào tạo, Trên địa bàn thị xã đã và sẽ có một

bộ phận nguồn nhân lực chất lượng cao, bao gồm đội ngũ trí thức, cán bộ quản lýcủa tỉnh, thị xã, cán bộ làm việc trong các trường cao đẳng, bệnh viện tỉnh, một sốdoanh nghiệp Trung ương và địa phương, góp phần vào việc đón nhận tích cực và

có hiệu quả sự đầu tư phát triển mở rộng của vùng KTTĐ và vùng Thủ đô

- Là một trong những đầu mối giao thông quan trọng của vùng, thị xã nằmsát sân bay quốc tế Nội Bài (thủ đô Hà Nội), nằm trên hành lang kinh tế Việt-Trung, thị xã có điều kiện thuận tiện giao thương với các tỉnh đồng bằng sôngHồng và Duyên hải cả bằng đường bộ, đường sắt và đường hàng không Đồngthời từ các nguồn lực bên ngoài đã tạo ra cho Thị xã sự phát triển hệ thống giaothông đối ngoại như: tuyến hành lang xuyên á: Côn Minh-Lào Cai-Hà Nội-HảiPhòng; đường vành đai IV vành đai V, cảng hàng không quốc tế của Thủ đô HàNội…, đã, đang và sẽ được xây dựng Điều đó mang lại nhiều cơ hội cho thị xã,cũng như tỉnh Vĩnh Phúc mở rộng mối quan hệ kinh tế với trong nước và quốc tế

- Thị xã nằm gần kề với nhiều khu di tích lịch sử, văn hoá; có khu du lịchĐại Lải, cùng với các khu du lịch khác của tỉnh (Tam Đảo, Tây Thiên) đã đượcđầu tư như các công trình trọng điểm quốc gia, tạo điều kiện thuận lợi phát triển

du lịch và các dịch vụ phục vụ du lịch khác

Thứ hai: Quĩ đất đai, nguồn tài nguyên quý, hiện chưa được khai thác một cách hiệu quả còn khá nhiều Đây là nguồn lực quan trọng cho phát triển KT-XH thị xã trong giai đoạn tới

Đất là nguồn tài nguyên quý, khó tái sinh Là vùng tiếp giáp giữa trung dumiền núi và đồng bằng, tới nay quỹ đất có khả năng khai thác vào sản xuất kinhdoanh còn khá dồi dào Đất thị xã có nền công trình tốt, chi phí xây dung thấp,thuận lợi cho phát triển hạ tầng và xây dựng các công trình công nghiệp

Đất rừng còn nhiều, đây là tài nguyên quý cho phát triển nông nghiệp, đặctrưng là sản xuất lâm nghiệp, kết hợp với du lịch sinh thái và bảo vệ môi trườnggóp phần phát triển bền vững cho không chỉ thị xã mà còn trên quy mô cả vùng.Đây là tiềm năng lớn cho sự phát triển KT-XH thị xã trong giai đoạn tới

Thứ ba: Con người của thị xã và những chủ trương phát triển thông qua các cơ chế chính sách sẽ phát huy hiệu quả cao nhất những thế mạnh của thị xã vào phát triển KT-XH.

Nhân dân thị xã có truyền thống đoàn kết, cần cù, sáng tạo, năng độngtrong lao động sản xuất, có tinh thần khắc phục khó khăn Các giá trị văn hoá,kinh tế của thị xã có thể được người dân khai thác và trở thành lực lượng vật chấtquan trọng cho quá trình phát triển Thêm vào đó những cơ chế, chính sách mới

Trang 18

của tỉnh Vĩnh Phúc và thị xã, cùng với đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý vàchuyên gia năng động, sáng tạo, nhạy bén, đang tạo uy tín và sức hút đối với cácnhà đầu tư trong và ngoài nước đầu tư vào thị xã

Thị xã là địa bàn tập trung nhiều trường cao đẳng, trường dạy nghề từ rấtsớm Tại đây đã hiện hữu nhiều chuyên gia về giáo dục cũng như các nhà khoahọc làm việc Tại đây đã, đang và sẽ tiếp tục thu hút nhiều nhà khoa học, giảngviên về sống và làm việc tại thị xã khi có một cơ chế thỏa đáng Đây là nguồn lợilớn cho phát triển KT-XH của thị xã

Với điều kiện như vậy trong thời gian tới cần quan tâm nghiên cứu hiệu quả

sử dụng nguồn lực, nhất là tài nguyên đất Cần có biện pháp ngay từ bây giờ dànhđất cho những dự án lớn, có suất đầu tư cao, đạt hiệu quả cao Trước mắt cần cânđối đất giữa phát triển công nghiệp với các ngành khác

Thứ hai: Cơ sở hạ tầng yếu Xuất phát điểm nền kinh tế thị xã còn thấp

Kết cấu hạ tầng vẫn còn rất yếu và chưa đồng bộ Với những tiềm năng, lợithế cho phép phát triển các ngành kinh tế có quy mô lớn trên cùng một không gianphát triển tạo ra các “lựa chọn” trong phát triển giữa các ngành như: lựa chọntrong phát triển giữa các ngành mũi nhọn, công nghiệp, du lịch và các ngành dịch

vụ “Lựa chọn” trong việc sử dụng quỹ đất cho phát triển các dự án

Sức chứa về không gian, kinh tế, xã hội có giới hạn, trong khi yêu cầu pháttriển lại rất lớn dễ dẫn đến sự quá tải nếu không có các biện pháp phù hợp Cộngvào đó nền kinh tế còn thấp, sức mua hạn chế, điều đó khó có thể tạo khả năngthu hút thương mại cũng như đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng cho thị xã

Thứ ba: Trình độ nguồn nhân lực, đặc biệt là lao động nông thôn còn rất thấp, tổ chức sản xuất cũng như quản lí trong tình hình mới còn hạn chế Đồng thời các vấn đề xã hội ảnh hưởng không nhỏ tới phát triển kinh tế thị xã

Dân số trong độ tuổi lao động tăng nhanh, số lao động dôi dư, chưa có việclàm trở thành vấn đề bức xúc của thị xã Một bộ phận lớn dân cư mới chuyển từnông thôn, nông nghiệp, trở thành dân cư đô thị nên tác phong sinh hoạt, phongcách sinh hoạt cũng như làm việc chưa theo kịp yêu cầu phát triển đô thị Laođộng nông nghiệp chưa đủ trình độ, điều kiện để tổ chức sản xuất công nghiệp

Là đơn vị mới được tái thành lập, điều kiện cơ sở vật chất, điều kiện cán bộchưa tương xứng với yêu cầu phát triển Đội ngũ cán bộ, công chức còn bất cập sovới yêu cầu Thiếu công nhân kỹ thuật, lao động lành nghề để phát triển cácngành có hàm lượng kỹ thuật, công nghệ tiên tiến

Trang 19

Cùng với sự phát triển kinh tế-xã hội, các mặt trái của kinh tế thị trường đãnảy sinh và phát triển mạnh như: chênh lệch giữa thành thị và nông thôn, chênhlệch giữa người giàu và người nghèo ngày càng gia tăng Nguy cơ và hiểm họacủa ô nhiễm môi trường tác động rất lớn đến phát triển KT-XH bền vững khôngchỉ cho thị xã mà còn ảnh hưởng tới các vùng khác; không chỉ ảnh hưởng hiện tại

mà còn trong thời kỳ lâu dài

IV Vị trí, vai trò của thị xã

Thị xã Phúc Yên là một trong hai đô thị lớn của tỉnh Vĩnh Phúc Đây còn là

đô thị cửa ngõ của tỉnh Vĩnh Phúc với Thủ đô Hà Nội, đã, đang và sẽ là một trongnhững trung tâm du lịch nghỉ dưỡng, thể dục thể thao và đào tạo quốc gia; trungtâm kinh tế công nghiệp-dịch vụ quan trọng của tỉnh, của vùng KTTĐ Bắc bộ.Những điều đó tạo cho Phúc Yên có một vai trò lớn trong phát triển vùng cũngnhư phát triển KT-XH tỉnh Vĩnh Phúc

1 Vị trí, vai trò thị xã trong phát triển Vùng

Thứ nhất: Phúc Yên có điều kiện tham gia vào hệ thống đô thị trong các hành lang kinh tế của vùng và quốc tế

Hiện nay ở phía Bắc đang hình thành và phát triển các tuyến hành lang giaothông-kinh tế quốc tế và quốc gia liên quan đến tỉnh Vĩnh Phúc như: hành langkinh tế Côn Minh-Hà Nội-Hải Phòng-Hạ Long (Quảng Ninh); hành lang quốc lộ

số 2: Việt Trì-Hà Giang-Côn Minh (Trung Quốc); hành lang đường 18 (Nội Móng Cái) Các hành lang này đã đưa tỉnh Vĩnh Phúc nói chung và đặc biệt là thị

Bài-xã Phúc Yên nói riêng gắn kết với các trung tâm kinh tế, công nghiệp và nhữngthành phố lớn của khu vực Bắc bộ và cả nước Trong khung cảnh đó Phúc Yên sẽ

có điều kiện tham gia vào phân bố đô thị, giao thông, kinh tế trong nước và quốc

tế, cụ thể là:

- Tham gia chuỗi đô thị phía Bắc dọc theo hành lang Côn Minh (TrungQuốc)-Hạ Long (Việt Nam) bao gồm các thành phố: Lào Cai-Vĩnh Yên-PhúcYên-Hà Nội-Hải Phòng và kéo dài tới Côn Minh (Trung Quốc) và Hạ Long(Quảng Ninh-Việt Nam)

- Đồng thời thị xã còn tham gia vào chuỗi đô thị trung tâm, dọc theo đườngxuyên á, bao gồm các đô thị: Mê Linh-Phúc Yên-Vĩnh Yên-Việt Trì-TuyênQuang-Hà Giang

Thứ hai: Phúc Yên nằm trong vùng KTTĐ Bắc bộ, nằm sát và là đô thị cửa ngõ của Vĩnh Phúc với Thủ đô Hà Nội là điều kiện thuận lợi để kinh tế thị

xã phát triển nhanh và hiện đại.

Theo quy hoạch của tỉnh cũng như của thị xã thì đến năm 2030 nền kinh tếthị xã sẽ trở thành nền kinh tế tri thức mà nền tảng tạo thành được căn cứ vàonhững lợi thế và tiềm năng của một thành phố trong tương lai Các lợi thế và tiềmnăng cho đô thị đó là:

- Nằm liền kề với Thủ đô Hà Nội và nằm trong khu vực năng động củavùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ;

- Đất đai thị xã hiện còn nhiều, nhất là đất đồi núi, đất rừng, được bao bọcmột khu vực sinh thái tự nhiên rộng lớn, tạo nên một cảnh quan thiên nhiên có sức

Trang 20

thu hút mạnh mẽ các du khách trong và ngoài nước đến thăm quan và nghỉ ngơi lànguồn tài nguyên quý giá cho phát triển KT-XH thị xã.

- Là địa bàn lan toả của Thủ đô Hà Nội trong phát triển công nghiệp; cungcấp nông sản; trung tâm nghỉ dưỡng du lịch và bảo vệ sức khoẻ

Thứ ba: Thị xã còn là một trong những địa điểm được lực chọn cho việc phân bố hệ thống các khu, cụm công nghiệp của cả vùng phía Bắc

Sự tập trung quá mức sản xuất công nghiệp tại khu vực Thành phố Hà Nội

và lân cận dọc theo trục Quốc lộ số 5 đã và đang tạo ra sự quá tải về hệ thống kếtcấu hạ tầng khu vực Việc đầu tư mới, mở rộng và nâng cấp các trục đường caotốc Hà Nội (Nội Bài) đi Hạ Long, đường Quốc lộ số 18, đường Quốc lộ số 5(mới) đã và sẽ tiếp tục tạo cơ hội phát triển mới cho các tỉnh Bắc bộ nói chung,các tỉnh phía Bắc sông Hồng, các tỉnh Vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ trong đó

có thị xã Phúc Yên và tỉnh Vĩnh Phúc nói riêng, đặc biệt là trong phát triển côngnghiệp

Cho tới nay và nhiều năm sau Thủ đô Hà Nội sẽ không còn khả năng pháttriển công nghiệp Tỉnh Vĩnh Phúc nói chung và đặc biệt là thị xã Phúc Yên cóđiều kiện thuận lợi như vị trí địa lí, giao thông, địa chất công trình, để phát triểncông nghiệp Như vậy Thị xã Phúc Yên, cũng như các khu khác của tỉnh VĩnhPhúc như Bình Xuyên, Vĩnh Yên, đã, đang và sẽ trở thành một bộ phận cấuthành của vành đai phát triển công nghiệp của các tỉnh phía Bắc; chịu ảnh hưởngmạnh mẽ trước sự lan tỏa của các khu công nghiệp lớn thuộc Hà Nội

2 Vị trí, vai trò thị xã trong phát triển KT-XH tỉnh Vĩnh Phúc

Thứ nhất: Chủ trương phát triển kinh tế của tỉnh Vĩnh Phúc đặt ra cho Phúc Yên những nhiệm vụ và cơ hội lớn cho phát triển

Thị xã có vai trò quan trọng đối với tỉnh Vĩnh Phúc và Thủ đô Hà Nội Thị

xã Phúc Yên nằm trên quốc lộ số 2 và tuyến đường sắt Hà Nội-Lào Cai, là cầu nốigiữa các tỉnh trong vùng Trung du Miền núi với thủ đô Hà Nội; liền kề cảng hàngkhông quốc tế Nội Bài; nối với cảng Hải Phòng thông qua quốc lộ số 5; nối vớicảng nước sâu Cái Lân và khu kinh tế Vân Đồn (Quảng Ninh) qua trục đường 18.Kinh tế thị xã phát triển sẽ lôi kéo kinh tế của tỉnh Vĩnh Phúc phát triển với tốc độcao Kinh tế thị xã góp phần thúc đẩy tiến trình đô thị hóa, phát triển công nghiệp,giải quyết việc làm, giảm sức ép về đất đai, dân số, các nhu cầu về xã hội, du lịch,dịch vụ và đảm bảo vững chắc khu vực phòng thủ của Thủ đô Hà Nội

Với đặc điểm phát triển kinh tế-xã hội đến năm 2030, yêu cầu đặt ra cho thị

xã sẽ trở thành đô thị trong hệ thống đô thị-hạt nhân của tỉnh, với các chức năngchủ yếu sau:

- Là đô thị lớn và là đô thị cửa ngõ của tỉnh về phía Đông Nam với thủ đô

Hà Nội và các tỉnh khác Theo quy hoạch phát triển sẽ là một hoặc hai quận củathành phố Vĩnh Phúc

- Là trung tâm dịch vụ, du lịch, tài chính ngân hàng, trung tâm văn hoá, thểdục thể thao, giáo dục đào tạo, trung tâm khoa học kỹ thuật và công nghệ của tỉnhVĩnh Phúc

Trang 21

- Là một trong những địa bàn giữ vị trí chiến lược quan trọng về phát triểncông nghiệp và thương mại-du lịch.

Thứ hai: Phúc Yên là một trong những đầu mối quan trọng trong các chuỗi

đô thị và các khu, cụm công nghiệp lớn của tỉnh, đó là:

- Tham gia vào chuỗi đô thị trung tâm tỉnh: Phúc Yên-Bình Xuyên-VĩnhYên: Thị xã Phúc Yên cùng với thành phố Vĩnh Yên có vai trò là trung tâm kinh

tế, văn hóa, xã hội của tỉnh Vĩnh Phúc Với vai trò này, thị xã Phúc Yên khôngnhững là đô thị hạt nhân của tỉnh Vĩnh Phúc mà còn là đô thị cửa ngõ của tỉnh vớithủ đô Hà Nội và cả nước

- Là cực phát triển của tỉnh: với vai trò là một trong những đô thị hạt nhânchính của tỉnh Vĩnh Phúc, thị xã Phúc Yên là đầu tàu lôi kéo sự phát triển của cáchuyện, thị của tỉnh Vĩnh Phúc và các tỉnh lân cận Điều đó đã đóng góp quantrọng vào sự phát triển kinh tế-xã hội của tỉnh Vĩnh Phúc và tạo thành cực pháttriển kinh tế của tỉnh về phía Đông Nam

- Tham gia vào hệ thống các khu công nghiệp vùng: Khu công nghiệp PhúcYên và một số khu công nghiệp đang được xây dựng với định hướng phát triểnngành công nghiệp sản xuất, lắp ráp ô tô, xe máy đã có những đóng góp lớn đốivới quá trình phát triển công nghiệp của tỉnh Vĩnh Phúc và của vùng Kinh tế trọngđiểm Bắc bộ, cũng như sự phát triển các khu công nghiệp của Vùng

Thứ ba: Thị xã có điều kiện thuận lợi và đã được quy hoạch là vùng du lịch của tỉnh cũng như của vùng.

Thị xã có Hồ Đại Lải nằm trong khu đất rừng rộng lớn chưa được khai thácnhiều là xã Ngọc Thành Đây là địa điểm lí tưởng để phát triển các loại hình dulịch nghỉ dưỡng, du lịch sinh thái có giá trị Biểu hiện:

- Khu du lịch Đại Lải là khu du lịch lớn mà gần thủ đô Hà Nội nhất Đây sẽ

là điểm tới thường xuyên của du khách, trước hết là đáp ứng nhu cầu nghỉ ngơi,giải trí, thư giãn của thủ đô

- Cùng với các khu khác của tỉnh như Tam Đảo, Tây Thiên, Đại Lảiđược quy hoạch là vùng bảo tồn tự nhiên và phát triển du lịch của tỉnh Vị thế nàygóp phần làm cho thị xã sẽ trở thành một đô thị hiện đại với hai chức năng: khudịch vụ cao cấp và khu nghỉ dưỡng, du lịch sinh thái

Trang 22

PHẦN THỨ HAIThực trạng phát triển kinh tế- xã hội thị xã giai đoạn 2005-2010

I Tình hình chung phát triển kinh tế-xã hội thị xã

1 Tăng trưởng kinh tế

Từ khi tái thành lập đến nay, tốc độ tăng trưởng kinh tế của thị xã luôn duytrì ở mức cao: tốc độ tăng trưởng bình quân theo giá trị sản xuất (GTSX) thời kỳ2005-2010 đạt 23,05% 7 Trong đó, tăng trưởng của khối ngành công nghiệp-xâydựng đạt bình quân 21,78%/năm; tăng trưởng của khối ngành dịch vụ đạt caonhất, 25,57%/năm; khối ngành nông, lâm nghiệp, thủy sản chỉ đóng góp 0,4% vàotăng chung, với tốc độ tăng trưởng bình quân là 5,37%/năm Tốc độ tăng trưởngkhu vực sản xuất là 29,3%, đóng góp 96% vào tăng trưởng Tốc độ tăng trưởngcủa khu vực phi nông nghiệp 27,9%, đóng góp 99,6% vào tăng trưởng kinh tế thị

Năm 2010 ước tính tổng giá trị sản xuất của thị xã đạt khoảng 31.026 tỷđồng, trong đó: khối ngành công nghiệp-xây dựng đạt 29.180 tỷ đồng (gấpkhoảng trên 2,4 lần so với năm 2005); khối ngành dịch vụ đạt khoảng 1.739 tỷđồng (gấp 1,7 lần) và khối nông, lâm nghiệp, thủy sản đạt khoảng 107 tỷ đồng(gấp hơn 1,3 lần)

Tính theo giá trị tăng thêm thì thời kỳ 2005-2010 tốc độ tăng sẽ là khoảng20,87%/năm trong đó: khối ngành công nghiệp-xây dựng tăng 22,32%; khối cácngành dịch vụ tăng 25,51% và khối nông, lâm nghiệp, thủy sản tăng khoảng4,6%

Nhìn chung tốc độ tăng trưởng kinh tế theo giá trị gia tăng và theo giá trịsản xuất của thị xã luôn cao hơn so với mức tăng chung của tỉnh

Biểu 6: Tăng trưởng kinh tế của thị xã thời kỳ 2005-2010 (tỷ đồng, %)

2005 2008 2009 (ước) 2010 (2005-10) NT Tổng giá trị sản xuất 11533,8 27678 27933 31026 23,05

Tổng giá trị gia tăng 2561,4 5482,2 5895,1 6607,3 20,87

Nguồn: Xử lý theo Báo cáo KT-XH hàng năm của thị xã Phúc Yên

7 Số liệu chính thức theo Văn kiện Đại hội Đảng bộ thị xó khúa 2, nhiệm kỳ 2010-2015, 6-2010

Trang 23

Quá trình tăng trưởng kinh tế của thị xã trong những năm qua gắn liền với

sự gia tăng mạnh mẽ của khu vực công nghiệp, đặc biệt là khu vực có đầu tư nướcngoài Đồng thời có sự đột biến do một số công trình công nghiệp có quy mô khálớn của tỉnh đặt tại Phúc Yên đã đi vào hoạt động

2 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Giai đoạn 2005-2010 ngành công nghiệp có sự tăng trưởng cao và chiếm tỷtrọng lớn trong tổng giá trị sản xuất cũng như giá trị gia tăng của thị xã Cơ cấucác ngành kinh tế của thị xã năm 2010 tính theo GTSX (giá hiện hành) như sau:khối ngành công nghiệp, xây dựng chiếm 94,88% (nếu tính theo giá so sánhchiếm 94,05%); khối các ngành dịch vụ chiếm 4,77% (theo giá so sánh đạt 5,6%)

và khối ngành nông, lâm nghiệp, thủy sản chiếm 0,42% (nếu tính theo giá so sánhđạt 2,42%)

Trong thời gian qua, cơ cấu kinh tế của thị xã có sự chuyển dịch theohướng: tăng tỷ trọng các ngành công nghiệp và giảm dần tỷ trọng các ngành nông,lâm nghiệp, thủy sản Tỷ trọng của khối ngành công nghiệp, xây dựng tăng từ92,43% năm 2005 lên 94,82% vào năm 2010, trung bình mỗi năm tăng trên 0,6%/năm Tỷ trọng của khối ngành nông, lâm nghiệp, thủy sản giảm chậm, giảm từ0,78% năm 2005 xuống còn 0,45% vào năm 2009 và 0,41% vào năm 2010 Điềuđáng nói là tỷ trọng của khối ngành dịch vụ không tăng, lên xuống thất thường, ổnđịnh ở mức 4-6% cho cả giai đoạn vừa qua Nguyên nhân của tình trạng trên là dotỉnh có chủ trương phát triển công nghiệp trên địa bàn thị xã và vùng lân cận nên

đã tập trung nguồn lực để phát triển công nghiệp trên địa bàn thị xã nhiều hơn.Đồng thời, do nhiều lí do, số liệu chưa thống kê một cách đầy đủ

Biểu 7: Cơ cấu kinh tế của thị xã Phúc Yên thời kỳ 2005-2010

Cơ cấu giá trị sản xuất (%) 100,00 100,00 100,00 100,00 100,00 100,00

Nguồn: Xử lý theo Báo cáo KT-XH hàng năm của thị xã Phúc Yên

Tuy cơ cấu kinh tế của thị xã có sự chuyển dịch theo hướng tích cực nhưngcòn nhiều bất cập, khối ngành dịch vụ, thương mại còn quá nhỏ bé so với tiềmnăng và thế mạnh của thị xã Khu vực dịch vụ là khu vực có tiềm năng lớn songmặc dù đã có đầu tư nhưng chưa phát huy tác dụng nhiều nên còn chiếm tỷ trọngtương đối thấp, cần có sự phát triển nhanh hơn, mạnh hơn tạo điều kiện hìnhthành một cơ cấu kinh tế hợp lý hơn, song song với điều kiện công nghiệp và xâydựng đã và sẽ tiếp tục gia tăng nhanh chóng trong thời gian sắp tới

Trang 24

3 Thu chi ngân sách

- Thu ngân sách

Tổng thu ngân sách của thị xã tăng lên theo các năm trong giai đoạn

2005-2010 Nếu so với năm 2005 thì lượng thu ngân sách trên địa bàn năm 2010 tănglên gấp hơn 10 lần (xem thêm phần phụ lục)

Trong 5 năm vừa qua tổng thu ngân sách đạt 30.688 tỷ đồng, chiếm trên 2/3tổng thu ngân sách tỉnh Năm 2005 thu ngân sách trên địa bàn đạt 750 tỷ thì năm

2009 đã đạt 7.650 tỷ đồng, và năm 2010 ước đạt 9.082 tỷ, trong đó thu theo chỉtiêu pháp lệnh 186,27 tỷ; thu từ các doanh nghiệp trong nước và thuế xuất, nhậpkhẩu của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đạt 7.464 tỷ đồng

Tổng thu ngân sách trên địa bàn bao gồm:

+ Thu theo chỉ tiêu pháp lệnh, thu nội địa: Chủ yếu nguồn thu từ thuế, thu

từ chuyển quyền sử dụng đất và một số nguồn khác chiếm một tỷ trọng khônglớn, khoảng 4-5%

+ Thu của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài: Thu từ các doanh

nghiệp trong nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chiếm tỷ trọng rấtlớn trong tổng thu ngân sách, khoảng 95-97% mỗi năm

- Chi ngân sách

Tổng chi ngân sách của thị xã cũng tăng nhanh Năm 2005, tổng chi ngânsách chỉ đạt 46,4 tỷ đồng thì năm 2009 đạt 233,46 tỷ đồng (cao gấp gần 5 lần sovới năm 2005) Trong đó:

Chi cho đầu tư XDCB chiếm khoảng 40-45%, còn lại chi thường xuyên.Chi cho đầu tư phát triển sản xuất, chủ yếu là đầu tư xây dựng hạ tầngchiếm đến 70%, chi cho hành chính sự nghiệp và các dịch vụ công khác khoảng30%, chủ yếu là chi hành chính (22%)

Năm 2009 chi ngân sách cả năm khoảng 233,46 tỷ đồng, bằng trên 337%

so với cùng kỳ năm 2008 Trong đó chi cho đầu tư phát triển chiếm 45%; chithường xuyên 55% Công tác quản lý nhìn chung tốt theo đúng quy định của Nhànước

4 Đầu tư phát triển

Từ khi tái lập đến nay, tổng vốn đầu tư toàn xã hội của thị xã tăng nhanh.Trong giai đoạn 2005-2010 tổng số vốn đầu tư hàng năm đã tăng lên gấp hơn 2lần Cụ thể như sau:

- Tổng vốn đầu tư trên địa bàn trong 5 năm qua đạt 725 tỷ đồng, trong đóvốn do nhân dân và các tổ chức đóng góp khoảng 6,5 tỷ đồng Vốn đầu tư ở khuvực ngoài nhà nước có xu hướng tăng nhanh, năm 2010 địa phương quản lí đến90% Vốn đầu tư của khu vực có vốn dầu tư nước ngoài tăng khá cao và đi vàohoạt động có hiệu quả

- Tổng vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách nhà nước của thị xã khá

ổn định theo từng năm Đầu tư theo ngành có xu hướng: giảm dần đầu tư chocông nghiệp và tăng nhanh đầu tư cho khu vực dịch vụ

Trang 25

Vốn đầu tư đã và đang là điều kiện tiên quyết cho phát triển kinh tế và xãhội thị xã Mặc dù như vậy thời gian qua và cho đến những năm sắp tới, nhu cầuxây dựng rất lớn, nguồn vốn được đầu tư còn rất hạn hẹp, khả năng huy động từcác nguồn khác ngoài nhà nước chưa cao Cần có biện pháp tích cực để tạo mộtnguồn vốn lớn cho xây dựng.

Ii Thực trạng phát triển các nganhg sản xuất và lĩnh vực xã hội giai 2010

2005-1 Ngành Công nghiệp - TTCN, Xây dựng

1.1 Công nghiệp-TTCN

Công nghiệp-TTCN tỉnh Vĩnh Phúc tập trung chủ yếu ở vùng phía ĐôngNam tỉnh, bao gồm thành phố Vĩnh Yên, thị xã Phúc Yên và huyện Bình Xuyên.Công nghiệp thị xã Phúc Yên chiếm tỷ trọng lớn trong công nghiệp của tỉnh,chiếm tới trên 75-80% GTSX công nghiệp trên địa bàn tỉnh, tiếp theo là thành phốVĩnh Yên 11,2%, huyện Bình Xuyên 7,4%, các địa bàn khác chiếm tỷ trọngkhông đáng kể

Phúc Yên đã và đang là trung tâm công nghiệp của tỉnh Vĩnh Phúc vàtương lai, gắn kết với Bình Xuyên, thị xã sẽ nằm trong vùng động lực phát triểncông nghiệp của tỉnh Tỷ trọng công nghiệp của thị xã trong GTSX (giá so sánh1994) của tỉnh ngày càng tăng Năm 2005, tỷ trọng GTSX công nghiệp Phúc Yên

là 79,8% thì đến năm 2009 đã là 81,4% và năm 2010 ước chiếm 80,9% Trongnhững năm qua, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đóng góp nhiều vào giá trị sảnxuất công nghiệp của thị xã Phúc Yên cũng như tỉnh Vĩnh Phúc Trong năm 2010,khu vực này đã chiếm tới 95% tổng giá trị công nghiệp của thị xã

Biểu 8: Vị thế công nghiệp của thị xã trong tỉnh Vĩnh Phúc

Giá trị gia tăng công nghiệp

Trang 26

Nguồn: Báo cáo KT-XH thị xã Phúc Yên và tỉnh Vĩnh Phúc hàng năm.

- Tốc độ tăng trưởng theo gía trị sản xuất ngành công nghiệp, xây dựng thị

xã đạt 21,78%/năm cho giai đoạn 2005-2010 (tốc độ tăng trưởng công nghiệp củatỉnh cùng thời kỳ là 20,8%/năm) Năm 2010, giá trị sản xuất công nghiệp, xâydựng trên địa bàn (không tính công nghiệp ANQP, điện lực, chi nhánh danhnghiệp Nhà nước quản lý) ước thực hiện đạt 29.180 tỷ đồng (theo giá cố định năm1994), tăng gấp 2,4 lần so với năm 2005 Giá trị sản xuất công nghiệp theo giáhiện hành đạt 60.830 tỷ đồng cao gấp gần 2,2 lần so với năm 2005

- Tỷ trọng ngành công nghiệp của thị xã ngày càng tăng Năm 2005, tỷtrọng giá trị công nghiệp là 92,4%, năm 2010 đạt 94,8% Sự tăng trưởng côngnghiệp của thị xã có sự đóng góp lớn của khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tưnước ngoài Năm 2005, giá trị sản xuất công nghiệp của khu vực có vốn đầu tưnước ngoài đạt 1.990,9 tỷ đồng chiếm 91,8% giá trị công nghiệp toàn thị xã, đếnnăm 2009 giá trị công nghiệp đã đạt 4.680,9 tỷ đồng với tỷ trọng là 96,5% Tốc

độ tăng trưởng của khu vực này đạt 33,53%/năm Năm 2010 giá trị ngành côngnghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tiếp tục gia tăng, chiếm trên 96%

- Khu vực công nghiệp trong nước nhỏ bé, chiếm tỷ trọng trong giá trị sảnxuất công nghiệp thị xã ngày càng giảm Năm 2005 tỷ trọng của khu vực côngnghiệp trong nước là 8,2% thì đến năm 2010 chỉ còn là 3,4% Năm 2010, giá trịsản xuất công nghiệp nhà nước trung ương đóng trên địa bàn thị xã chỉ đóng góp1,7% vào giá trị công nghiệp toàn thị xã, khu vực công nghiệp nhà nước địaphương đóng góp 0,96%, khu vực công nghiệp ngoài nhà nước cũng chỉ đóng góp0,89%

Biểu 9: GTSX riêng công nghiệp phân theo thành phần kinh tế

Nguồn: Báo cáo KT-XH thị xã Phúc Yên và tỉnh Vĩnh Phúc hàng năm.

- Tuy vừa qua giá cả vật tư đầu vào có tăng lên đáng kể, làm cho giá thànhsản phẩm tăng, song ngành công nghiệp thị xã vẫn tiếp tục duy trì được sự pháttriển do một số sản phẩm chủ yếu có thị trường, lượng tiêu thụ hàng hóa vẫn vượtchỉ tiêu đề ra của các nhà máy, nhất là lượng tiêu thụ ô tô, xe máy của 2 công ty làHonda và Toyota Các sản phẩm của các doanh nghiệp như Công ty HONDA

Trang 27

Việt Nam, công ty TOYOTA Việt Nam vẫn tiếp tục tăng, do hàng hoá có sứccạnh tranh cao, song bên cạnh đó một số sản phẩm của các doanh nghiệp trongnước giảm nhẹ như: Công nghiệp sản xuất đồ gỗ, vật liệu xây dựng …

1.2 Xây dựng

Ngành xây dựng có vai trò đặc biệt quan trọng, là điều kiện để các ngànhkinh tế khác phát triển và góp phần đẩy nhanh tốc độ công nghiệp hoá, hiện đạihoá Những năm qua công tác xây dựng đã đạt được những thành tựu nhất định,góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội thị xã, cải thiện chất lượng sống củanhân dân toàn thị xã

Giai đoạn 2005-2010 toàn thị xã đã đầu tư trên 725 tỷ đồng từ các nguồnvào xây dựng các công trình Số vốn đó đã được triển khai thực hiện chuyển tiếp

và khởi công mới hàng chục công trình như: Dự án tuyến đường Nguyễn TấtThành, đường An Dương Vương, lát vỉa hè đường Sóc Sơn, tuyến điện chiếu sángcông cộng, nâng cấp cải tạo đường nội thị đoạn: qua trường Thủy Lợi, ĐườngHoàng Văn Thụ, đường từ cổng Thị ủy ra ga, các tuyến phố Sóc Sơn nối TrưngTrắc, dự án đèn tín hiệu giao thông; sân vườn ủy ban Tham gia triển khai cáccông trình: đường vành đai khu công nghiệp Xuân Hòa, dự án tái định cư BOT,

dự án cải tạo nâng cấp đê sông Cà Lồ Đảm bảo kế hoạch giải ngân theo quy định

và tháo gỡ những vướng mắc ở khâu giải phóng mặt bằng

2 Các ngành dịch vụ

Các ngành dịch vụ bao gồm các ngành dịch vụ sản xuất, dịch vụ tiêu dùng

và các dịch vụ khác Trên địa bàn thị xã các loại dịch vụ đều có cơ hội và điềukiện phát triển Trong quy hoạch chúng ta xét những dịch vụ cơ bản như thươngmại, du lịch, vận tải, tài chính, ngân hàng là những ngành có tác động lớn đến sựphát triển nền kinh tế thị xã

Tốc độ tăng trưởng theo gía trị sản xuất của toàn ngành dịch vụ đạt25,57%/năm trong giai đoạn 2005-2010 Đây là tốc độ tăng rất nhanh, đã phầnnào khai thác tốt lợi thế về vị trí cũng như điều kiện xã hội của thị xã

Biểu 10: Doanh thu các ngành dịch vụ thời kỳ 2005-2009

Trang 28

Tổng doanh thu từ bán lẻ hàng hoá và dịch vụ năm 2009 của thị xã đạt1.539 tỷ đồng, tăng 3,5% so với cùng kỳ và tăng 27,6%/năm cho giai đoạn 2005-

Trong năm 2009 đã cấp giấy đăng ký kinh doanh cho 420 hộ mới và đổi sổcho 156 hộ Đến nay trên địa bàn có trên 5.490 hộ kinh doanh thương mại, dịch

vụ với tổng vốn đăng ký lên 650 tỷ đồng Năm 2005 có 3.250 hộ kinh doanh, nhưvậy sau 4 năm số hộ kinh doanh đã tăng 2.240 hộ, tăng gần 79%/năm trong giaiđoạn 2006-2009

Chợ thị xã cũng như hệ thống chợ tại các điểm dân cư ở vùng nông thôn đãđược quy hoạch, tổ chức có quy củ hơn, tạo điều kiện để vừa tiết kiệm đất vừa dễdàng trong khâu kiểm soát môi trường Hầu hết các chợ đã được nâng cấp, hiệnđại hơn, tạo điều kiện để các hộ kinh doanh thuận lợi hơn

Biểu 11: Doanh nghiệp, lao động ngành dịch vụ, du lịch năm 2009

Cơ sở kinh doanh

Số lao động (người)

Trang 29

Trong năm 2010 có thu hút hàng trăm nghìn lượt người đến thị xã thamquan, nghỉ dưỡng, chủ yếu là khách trong nước và ở các vùng lân cận Doanh thuước đạt mức của năm 2008, đạt 90% kế hoạch đề ra Trong đó, Ban Quản lý dulịch Đại Lải thu được 300 triệu đồng Tổng giá trị ngành du lịch đạt 334,5 tỷđồng, chiếm đến 2,6% tổng giá trị trong các ngành dịch vụ.

2.3 Các ngành dịch vụ khác

a) Tín dụng, Ngân hàng

Hoạt động huy động và cho vay vốn của hệ thống ngân hàng ở mức tăngtrưởng cao, công tác tín dụng đã đáp ứng nhu cầu vốn cho các dự án Toàn thị xãtrong 5 năm qua đã phát triển thêm 5 chi nhánh ngân hàng, hiện nay trên địa bàn

có 8 Chi nhánh ngân hàng thương mại (3 chi nhánh cấp 1) và 1 ngân hàng chínhsách xã hội hoạt động cho vay và huy động vốn

Trong năm 2009 hoạt động của Ngân hàng theo chiều hướng tích cực Tổngmức huy động vốn của các ngân hàng thực hiện được khoảng 5.000 tỷ đồng, tăng50% so với cùng kỳ, cho vay đạt 4.000 tỷ đồng, dư nợ quá hạn khoảng 1-1,2%, tỷ

lệ nợ xấu nhỏ hơn 1% Kết quả đó là do có sự chỉ đạo quyết liệt bằng các chínhsách linh hoạt của Ngân hàng Nhà nước đảm bảo hoạt động lành mạnh của cácngân hàng thương mại trên địa bàn Đồng thời các ngân hàng đã tích cực chủđộng điều hành phù hợp với chính sách của Nhà nước Năm 2010 hoạt động củacác Ngân hàng vẫn được duy trì Hàng năm tổng nguồn vốn huy động từ các chinhành ngân hàng đạt trên 900 tỷ đồng, tăng trên 38%/năm

Nhìn chung các ngân hàng trên địa bàn thị xã đã đáp ứng được yêu cầu vayvốn sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp và nhân dân Đáp ứng được nhiệm

vụ phát triển kinh tế-xã hội trên địa bàn

b) Vận tải

Vận tải đã cơ bản đáp ứng được nhu cầu phát triển và phục vụ đời sốngnhân dân, về khối lượng hàng hoá vận chuyển cũng như vận chuyển và luânchuyển hành khách Doanh thu ngành vận tải tăng lên theo các năm trong giaiđoạn 2005-2009 Doanh thu toàn ngành đạt 184 tỷ đồng, tăng 20% so với cùng kỳnăm 2008

Khối lượng vận chuyển, luân chuyển và doanh thu vận chuyển hàng hoánăm 2005 là 39.709 triệu đồng, đạt 112,2% so với năm 2004 Khối lượng vậnchuyển hàng hoá đạt 646 ngàn tấn, đạt 107,2%, lượng hành khách vận chuyển là

698 ngàn hành khách, đạt 97,1% so với năm 2004

Năm 2009 khối lượng hàng hoá vận chuyển cũng như luân chuyển tăng lên

so với năm 2008 Khối lượng hàng hoá vận chuyển năm 2009 đạt 1.356 nghìn tấn,tăng 20,4% trong cả giai đoạn 2006-2009 Khối lượng hành khách vận chuyển đạt1.629 nghìn người, tăng 25,9%/năm trong giai đoạn 2006-2009

Trong năm 2009, tuyến xe buýt Vĩnh Yên-Quang Minh đã đi vào hoạt độngtạo bước chuyển biến mới về phục vụ vận chuyển hành khách công cộng và vănminh đô thị

Trang 30

Biểu 12: Luân chuyển hàng hoá, hành khách thời kỳ 2005-2009

Nguồn: Niên giám thống kê thị xã và Báo cáo hàng năm.

c) Bưu chính viễn thông, thông tin liên lạc

Các dịch vụ bưu chính viễn thông phát triển đa dạng với chất lượng ngàycàng tốt hơn, giá rẻ hơn do thay đổi công nghệ và chất lượng phục vụ Trên địabàn thị xã mạng thông tin tiếp tục phát triển đa dạng với công nghệ hiện đại

Đến năm 2009 đã có hơn 16.870 máy thuê bao cố định và di động hoạtđộng (trong đó khoảng 2.500 máy di động), tăng 20% so với năm 2008, đạt bìnhquân trên 18 máy/100 dân Doanh thu của ngành bưu điện đạt 45 tỷ đồng

Năm 2010 số máy điện thoại tăng nhanh nhất là điện thoại di động làm chodoanh thu tăng 16% so với năm 2009 Tổng số máy điện thoại đạt trên 28.000máy Bình quân đạt tới trên 35 máy các loại/100 dân

Hệ thống bưu chính viễn thông, thông tin liên lạc phát triển nhanh đã phầnnào cung cấp khá đầy đủ nhu cầu sản xuất và sinh hoạt của cộng đồng dân cư,song vẫn chưa hiện đại, dịch vụ còn nhiều hạn chế

Biểu 13: Tình hình hoạt động bưu chính viễn thông thời kỳ 2005-2010

Doanh thu (Tr đồng) 36571 40849 37303 39168 45043 53250

Trang 31

Nguồn: Xử lý theo Niên giám thống kê thị xã, 2010, Báo cáo năm 2010

Nhìn chung: Các ngành dịch vụ trên địa bàn thị xã đã có bước phát triển,

đáp ứng nhu cầu sản xuất và đời sống của nhân dân Chất lượng dịch vụ ngàycàng được cải thiện, loại hình dịch vụ ngày càng phong phú, đa dạng Tuy vậy,trong tương quan so sánh với phát triển công nghiệp nói chung thì lĩnh vực dịch

vụ còn nhiều bất cập

Phát triển các phân ngành chưa đồng bộ; chỉ có lĩnh vực tài chính - ngânhàng phát triển khá mạnh để phục vụ cho hoạt động các doanh nghiệp FDI, cáclĩnh vực khác phát triển còn chậm, quy mô nhỏ;

Lĩnh vực du lịch, khách sạn, nhà hàng phát triển chưa mạnh, cơ sở vật chất

kỹ thuật còn yếu, chưa đáp ứng yêu cầu và không tương xứng với một thị xã cóthế mạnh tiềm năng phát triển du lịch;

Chất lượng dịch vụ chưa cao và chưa có sản phẩm dịch vụ mang đặc trưngcho thị xã Giá trị xuất khẩu hàng hóa của thị xã không nhiều, chủ yếu là hàngxuất khẩu của các Công ty có vốn đầu tư nước ngoài đóng trên địa bàn thị xã

3 Nông, lâm nghiệp, thuỷ sản

Ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản của thị xã có mức tăng trưởng khácao, nhưng chưa ổn định Tốc độ tăng trung bình theo GTSX của toàn ngành đạt5-5,5%/năm trong giai đoạn 2005-2010 Trong đó, nông nghiệp tăng 6,7%/năm,thủy sản tăng 10,09% nhưng lâm nghiệp chỉ tăng 1,3%/năm

Năm 2010, theo số liệu thống kê chưa đầy đủ, nông nghiệp có chiều hướngchững lại Sản xuất nông nghiệp, nhất là trồng trọt gặp khá nhiều khó khăn nênảnh hưởng không nhỏ tới chăn nuôi và các ngành khác

Biểu 14: GTSX ngành nông, lâm và thủy sản thời kỳ 2005-2010

2005 2006 2007 2008 2009 (ước) 2010 Tổng giá trị (Tr.đ.giá 94) 83970 114000 93144 102056 105025 107000

Trang 32

Cơ cấu các phân ngành cũng thay đổi, song chủ yếu vẫn là tăng trồng trọt.Năm 2005 trồng trọt chiếm 69,7% thì đến năm 2009 tăng lên 72,4%, dự kiến năm

2010 chiếm 71,5%; theo đó chăn nuôi giảm từ 27,9% năm 2005 xuống còn 25,1%năm 2009 và năm 2010 sẽ tăng 26,4% Dịch vụ hầu như không đổi

Biểu 15: Cơ cấu nông nghiệp thời kỳ 2005-2010 (%)

2005 lên 72,4% năm 2009 và 71,5% vào năm 2010

Tổng diện tích gieo trồng hàng năm của thị xã có khoảng trên 6.000 ha,tăng từ 6.287 năm 2005 lên 6.463 năm 2008 và giữ khoảng 5.500 ha năm 2010.Thực hiện tốt việc chỉ đạo khắc phục hậu quả khó khăn, năm 2009-2010 đã thuđược những kết quả tốt Tuy có giảm đi nhưng đất gieo trồng vẫn còn khoảng gần5.400-5.800ha Cụ thể là: năm 2009 diện tích cây lương thực chiếm 81,9% trongtổng diện tích cây hàng năm, rau đậu 10,7%, cây công nghiệp không nhiều, chiếm6,3% Năng suất hầu hết các loại cây trồng đều tăng, đặc biệt là năng suất lúa đạt46,7 tạ/1ha Sản lượng cây lương thực quy thóc năm 2009 đạt 17.800 tấn, giảm sovới năm 2008 nhưng vẫn cao hơn năm 2005 Năm 2010 tổng sản lượng khoảng17.650 tấn Sản lượng lương thực bình quân đầu người đạt 190 kg/người/năm.Ngoài việc trồng lúa là chính (chiếm 70% diện tích) còn trồng các loại cây khácnhư: Ngô, khoai lang, đỗ tương, lạc, rau các loại Nhiều diện tích cây trồng được

áp dụng tiến bộ KHKT mới nên năng suất đều cao Thị xã đã triển khai thànhcông mô hình trồng ngô mật độ cao bằng giống ngô lai thế hệ mới BOT tại HTX

Trang 33

An Lập - Ngọc Thanh cho năng suất đạt 78 tạ/ha, tăng gấp đôi so với giống ngô

cũ, quy hoạch được vùng sản xuất rau an toàn Đại Lợi - Tiền Châu với diện tích

25 ha theo chương trình dự án tài trợ của ngân hàng thế giới ADB

Vừa qua, tuy một phần đất nông nghiệp được chuyển sang làm đất ở, đất đôthị, nhưng bước đầu triển khai có hiệu quả việc quy hoạch các vùng chuyên canhtrên địa bàn như: vùng sản xuất lúa tập trung ở xã Tiền Châu, Cao Minh, NgọcThanh; vùng rau an toàn của xã Nam Viêm và Tiền châu Cơ cấu chuyển đổi câytrồng đã có sự chuyển biến, diện tích các loại cây có giá trị cao tăng Ngoài ra còntrồng một số cây phù hợp với đất rừng và có hiệu quả cao như tre bát độ Hiệnnay diện tích mô hình trồng tre măng bát độ lên trên 10 ha trên toàn thị xã

Biểu 16: Diện tích gieo trồng nông nghiệp thời kỳ 2005-2009

số Tổng số

Lương thực

Rau đậu

Cây CN

Cây khác Lâu năm

Mặc dù giá thức ăn gia súc, gia cầm tăng cao, thời tiết có nhiều khó khănđối với gia súc, song do công tác phòng dịch thường xuyên được quan tâm vàthực hiện tốt nên không có dịch bệnh lớn xảy ra, ngành chăn nuôi vẫn có sự tăngtrưởng và giữ được tổng đàn

Biểu 17: Tình hình chăn nuôi thời kỳ 2005-2010

Nguồn: Niên giám thống kê thị xã, 2008, Báo cáo năm 2010

Đàn trâu: Đến cuối năm 2008 toàn thị xã có 2.339 con, tăng 9,6% so vớinăm 2007 Năm 2009 giảm đi còn 2.153 con, do đó giai đoạn 2005-2009 đàn trâugiảm đi 1,5%/năm Năm 2010 tăng lên 2.222 con

Trang 34

Đàn bò: tăng khá nhanh, 20,3%/năm cho giai đoạn 2005-2008 Năm 2008

có 5.209 con bò, tăng lên gần 3.000 con so với năm 2005 Năm 2009 cũng cóchiều hướng giảm, chỉ còn khoảng trên 4.500 con bò, giảm nhiều so với kế họachcũng như so với cùng kỳ Năm 2010 tăng lên 4.833 con, tăng 7%/năm

Đàn lợn: cũng được chú ý chăm sóc, cả lợn sữa lẫn lợn thịt, đã cung cấpcho thị trường trong và ngoài thị xã một lượng đáng kể Tuy đầu lợn không tăngnhưng đã chuyển sang mô hình nuôi tập trung và nghiên cứu các mô hình nuôiđặc sản, có giá trị kinh tế cao hơn Trạm khuyến nông thị xã đã và đang tích cựcxây dựng các mô hình nuôi lợn rừng và lợn sạch tại xã Ngọc Thanh và phườngXuân Hoà Năm 2009 đàn lợn duy trì khá tốt, đạt gần 22 nghìn con, tăng 3,6% sovới cùng kỳ Năm 2010 tăng lên trên 22 nghìn con

Đàn gia cầm: đặc biệt tăng nhanh, mặc dù vừa qua gặp khá nhiều khó khăn

về dịch bệnh cũng như giá cả thức ăn Giai đoạn 2005-2009 đàn gia cầm đã tăng

từ 118 nghìn con vào năm 2005 lên trên 207 nghìn con và năm 2009 Tốc độ tăngkhoảng 14,3%/năm Năm 2010 giảm còn 175 nghìn con

Sản lượng thịt xuất chuồng năm 2009 đạt trên 3.000 tấn, năm 2010 ước đạttrên 4.000 tấn, tăng 2,5%/năm trong giai đoạn 2005-2010 Trong đó chủ yếu làthịt lợn hơi, chiếm 85%

Diện tích nuôi thủy sản năm 2008 có 440 ha, chủ yếu là nuôi cá trôi, chép,

mè, rô phi sản lượng 477 tấn, đều tăng cả về diện tích và sản lượng Các hoạtđộng dịch vụ phục vụ sản xuất nông nghiệp cơ bản đáp ứng đầy đủ và kịp thờicho sản xuất Tiếp tục duy trì một số mô hình nuôi thuỷ sản ở xã Nam Viêm vàphường Trưng Nhị Năm 2009-2010 diện tích bị thu hẹp, còn 320 ha, nhưng sảnlượng lại tăng đáng kể, đạt 556 tấn, chỉ tăng 1,6%

3.2 Lâm nghiệp

Nhìn chung lâm nghiệp của thị xã chưa phát triển Theo số liệu thống kê thìGTSX ngành lâm nghiệp tăng chỉ 1,3%/năm, trong đó khai thác lâm sản có nhịptăng cao, khoảng 10%/năm cho giai đoạn 2005-2009 còn về trồng và chăm nuôichưa được nhiều Năm 2008 thị xã đã quy hoạch xong phát triển rừng sản xuấtcho giai đoạn 2008-2015, theo đó toàn thị xã có hơn 50 trang trại đồi rừng, chủyếu là trồng cây ăn quả kết hợp với nuôi trồng thủy sản Hiệu quả sản xuất kinhdoanh trang trại bước đầu cho thu nhập khá Công tác trồng rừng tập trung, chămsóc và bảo vệ diện tích rừng hiện có được quan tâm và duy trì

Năm 2009-2010 trên địa bàn đã trồng được trên 40.000 cây Triển khaikhoanh nuôi, trồng rừng bổ sung gần 95ha Thị xã đã tiếp tục triển khai kế hoạchtrồng rừng, phủ xanh đồi trọc ở khu vực xã Ngọc Thanh với chương trình dự án

661 Ngành lâm nghiệp đã đầu tư trang thiết bị, phối hợp với các ngành, các cấp

để quản lý, bảo vệ rừng; thành lập các tổ bảo vệ, tổ phòng cháy, chữa cháy rừng.Công tác thông tin tuyên truyền được củng cố; công tác kiểm tra, kiểm soát, ngănchặn chặt phá rừng, tàng trữ lâm sản trái phép, kinh doanh động vật hoang dã tiếptục được tăng cường

Trang 35

4 Hệ thống kết cấu hạ tầng

4.1 Mạng lưới giao thông

- Đường sắt: Đường sắt Hà Nội – Lào Cai đi qua phía Đông thị xã Đoạnqua thị xã có chiều dài 6,6 km, là tuyến đường sắt quốc gia phục vụ thiết thực chothị xã trong vận chuyển và phát triển công nghiệp Có ga Phúc Yên là ga hànhkhách và hàng hoá dài 400m, rộng 50m, diện tích 2,0 ha

- Đường bộ: Quốc lộ 2A đi qua thị xã theo hướng Đông Tây có chiều dài5,92 km, là đường cấp III đồng bằng, mặt đường nhựa rộng 27,0 m, diện tích 7,0

ha Quốc lộ 23 đi qua phía Tây Nam thị xã có chiều dài 2,3 km, là đường cấp IVđồng bằng, mặt đường nhựa thấm nhập rộng 5,5 m, diện tích 2,5 ha, nay đã trởthành đường nội thị

- Các tuyến đường giao thông quan trọng khác của thị xã cũng đã đượcquan tâm xây dựng như: Đường Lê Quang Đạo, đường Phạm Văn Đồng, đườngNguyễn Văn Linh ở phường Xuân Hòa, đường Đại Lải-Lập Đinh đi Sóc Sơn, điThái Nguyên, đường từ đập tràn UBND xã Ngọc Thanh đi Thanh Cao, đường đèoNhe đi đèo Khế và đường Lập Đinh đi An Thịnh ở xã Ngọc Thanh và gần 100kmđường giao thông nội thị và vùng nông thôn Hiện nay, thị xã đang thi côngđường Nguyễn Tất Thành, đường Quốc lộ 2 đi làng Mới và trải nhựa các tuyếnđường nội thị Công tác đền bù GPMB đường xuyên á đi qua thị xã và một sốtuyến đường khác trên địa bàn cũng đang được tiến hành

- Hiện nay thị xã có một bến ô tô nằm ở trung tâm, cạnh quốc lộ 2A, códiện tích khoảng 0,2 ha Quy mô của bến xe không lớn, nghiên cứu mở rộng đểđáp ứng nhu cầu ngày càng tăng về vận chuyển hàng hóa và đi lại sinh hoạt của

Toàn bộ khu vực hiện đang được cấp điện từ lưới điện Quốc gia 110 KVkhu vực miền Bắc, và được cấp điện trực tiếp từ các trạm 110 KV Vĩnh Yên-Đông Anh thông qua trạm 35/10 KV Phúc Yên Trong khu vực có các cơ sở côngnghiệp lớn như Toyota và Honda, được cấp điện trực tiếp từ trạm 110 KV VĩnhYên bằng tuyến đường dây 35KV Hiện trạng nguồn điện không đủ đáp ứng chonhu cầu tiêu thụ của các hộ phụ tải trong thời gian ngắn hạn và tương lai

b) Lưới điện:

Hiện trạng mạng lưới điện phần lớn xây dựng đã lâu, bán kính cấp điện lớn,gây tổn thất điện năng và làm giảm độ tin cậy cung cấp điện

Trang 36

Khu vực thị xã hiện đang sử dụng 3 loại điện phân phối là 35 KV và 10

KV, 0,6 KV đi nổi Toàn bộ khu vực thị xã Phúc Yên đã có lưới điện phục vụ dânsinh và chiếu sáng công cộng, mức tiêu thụ bình quân 350 KV/h/người/năm Tỷ lệcác đường phố được chiếu sáng đạt 27,5% Cột điện được dùng loại cột chữ H,cột li tâm Các trục đường chính của thị xã đã được chiếu sáng, tuy nhiên chưađảm bảo các chỉ tiêu về kỹ thuật và mỹ thuật đô thị Toàn bộ hệ thống trạm cấpđiện (TBA) đã xây dựng từ lâu do đó không đảm bảo về kỹ thuật nên cần được cảitạo và xây dựng mới

Trong năm 2009 đã hoàn tất dự án quy hoạch hệ thống đường lưới điệnnông thôn (REII) ở 3 xã: Cao Minh, Nam Viêm, Tiền Châu

4.3 Hệ thống cấp, thoát nước

a) Hiện trạng cấp nước

Hệ thống cung cấp nước thị xã Phúc Yên đã được xây dựng từ năm 2000với dự án mở rộng và cải tạo hệ thống cấp nước khu vực thị xã Phúc Yên đã đượcphê duyệt có công suất 40.000m3/ngày đêm giai đoạn I là 20.000 m3/ngày đêm,đang từng bước tiến hành đầu tư và xây dựng

Hiện tại hệ thống cấp nước của thị xã Phúc Yên do Công ty Cấp thoát nước

và Môi trường số II Vĩnh Phúc đảm nhiệm Công ty đã khai thác 22.000m3/ngày,trong đó khai thác bãi giếng Khả Do với công suất 19.000 m3/ngày và bãi giếngTiền Châu 3.000m3/ngày, phân phối cho các khu vực lớn như:

- Khu vực thị trấn Phúc Yên (cũ): Hiện có hệ thống cấp nước được đầu tư

từ lâu (từ năm 1972) với công suất thiết kế 3.600 m3/ngày đêm, nguồn nước đượckhai thác từ 3 giếng (G1-G2-G3) ở khu vực phía Bắc, Tây Bắc thị trấn trên thuộc

xã Tiền Châu

- Phường Xuân Hoà: Đã xây dựng hệ thống cấp nước lấy nguồn từ hồ ĐạiLải với công suất thiết kế 15.000 m3/ngày đêm Do hồ Đại Lải không đảm bảo trữlượng để cấp nước cho thị trấn nên hệ thống này đã bị rò rỉ Năm 1989 một hệthống cấp nước khác được xây dựng lấy nguồn nước là nước ngầm G1 (LK25a)G2 (LK 40) tại khu vực Cầu Khả Do với công suất thiết kế 3500m3/ngày đêm

- Khu du lịch Đại Lải: Năm 1998-1999 Công ty CNT&MT số II Vĩnh Phúc

đã lắp đặt một tuyến ống dẫn bằng gang  200 mm từ trạm bơm tăng áp Xuân

Hoà về đến khu 3C, khu các cụ lão thành Cách mạng để cung cấp nước cho khuvực này

Trong năm 2009 đã cố gắng giữ ổn định việc cung cấp nước cho nhân dân,tuy nhiên do nguồn điện không ổn định, một số tuyến đường thi công gây vỡ ống,nước bẩn thậm chí mất nước nhiều ngày, gây bức xúc trong nhân dân Năm 2009

đã sản xuất được 4.195 ngàn m3 nước sạch, đạt 106% kế hoạch năm và tăng 13%

so với cùng kỳ; tổng doanh thu đạt 11,9 tỷ đồng Cung cấp cho 60% dân cư đượcdùng nước sạch

Trang 37

b) Hiện trạng thoát nước

Hệ thống thoát nước của thị xã đang trong tình trạng chắp vá, nhỏ bé,không tập trung, các tuyến thoát nước phân tán, các loại nước thải hiện đang thoáttrực tiếp vào hệ thống ao, hồ, sông Nước mưa và nước thải sinh hoạt đang sửdụng chung một hệ thống, chưa được xử lý Nước thải của các nhà máy sản xuấtcông nghiệp được xử lý sơ bộ theo quy định sau đó xả ra hệ thống mương thoátnước ngoài nhà máy

Mấy năm gần đây thị xã đã đầu tư một số đoạn mương, cống như mương điXuân Hòa, mương cống ở một số tuyến phố Trưng Trắc, Trưng Nhị, Tháp Miếu,Thanh Tước, song chỉ mới giải quyết được úng ngập cục bộ, chưa có tính toánthủy lực tổng thể Công tác vận hành, tổ chức kiểm tra cũng chưa được quan tâm.Trước những yêu cầu phát triển kinh tế và đô thị hóa của thị xã, vừa qua Công tyCTN&Môi trường số II Vĩnh Phúc đã được giao triển khai dự án về xử lý nướcthải 15.000m3/ngày, đầu tư 300 tỷ đồng do Nhật Bản tài trợ Dự án sẽ góp phầngiải quyết vấn đề xử lý nước thải thị xã Trong tương lai cần có quy hoạch tổngthể hệ thống thoát nước hiện đại để đảm bảo phát triển kinh tế vào giữ vững môitrường sinh thái

5 Hiện trạng các lĩnh vực xã hội, môi trường và quóc phòng, an ninh

5.1 Giáo dục-đào tạo

Hệ thống giáo dục toàn thị xã được giữ ổn định ở tất cả các ngành học, cấphọc từ mầm non đến THPT, với tổng số 45 trường Trong đó: Mầm non 12trường; tiểu học 15 trường; THCS 12 trường; 01 trường THCS+THPT; THPT 05trường

Tiếp tục thực hiện đổi mới nội dung và phương pháp giáo dục theo chủtrương chung ở tất cả các cấp học Chất lượng giáo dục toàn diện được giữ vững,

đã triển khai nhiều biện pháp thực hiện cuộc vận động “hai không” với 4 nộidung Trong năm học 2009-2010, số học sinh xếp loại học lực khá, giỏi và hạnhkiểm khá, tốt đạt tỷ lệ cao ở các cấp học, cụ thể:

- Mầm non: 100% các trường thực hiện chương trình giáo dục mới, thườngxuyên tổ chức các chuyên đề như giáo dục vệ sinh dinh dưỡng, làm quen với vănhọc và chữ viết, số trẻ kênh A đạt tỷ lệ 92,2%, tỷ lệ bé ngoan, bé chuyên cần đạt96%

- Cấp tiểu học: 100% học sinh được đánh giá đạo đức tốt, số học sinh giỏi,học sinh tiên tiến chiếm 62,5%, học lực yếu chiếm tỷ lệ thấp, cao nhất cũng chỉcòn 1,8%

- Cấp THCS: Số học sinh được xếp loại hạnh kiểm khá, tốt là 93,4%, họcsinh xếp loại học lực khá, giỏi đạt tỷ lệ 57,2%, tỷ lệ học sinh học lực yếu, kémgiảm 4,2% so với năm học trước

- Cấp THPT: Tỷ lệ đỗ tốt nghiệp khối PTTH là 96,69% (toàn tỉnh là 85%)trong đó: Trường Hai Bà Trưng đạt 100%, Trường Xuân Hòa 98,5%, Trường Bến

Trang 38

Tre: 99,7%, trường Phúc Yên 93,66%, trường dân lập Châu Phong 88,82% Năm

2010 tỷ lệ học sinh tốt nghiệp đỗ các trưởng Đại học, cao đẳng 44,6%

Ngoài kết quả chung về chất lượng đại trà, ngành giáo dục thị xã luôn chútrọng công tác giáo dục mũi nhọn Trong các buổi giao lưu học sinh giỏi tỉnh, thị

xã đều đạt kết quả tốt, đạt thành tích cao, đoạt nhiều giải của tỉnh như: giải trạngnguyên nhỏ tuổi cấp tỉnh, giải thi học sinh giỏi các môn văn hóa cấp tỉnh và nhiềugiải tập thể và cá nhân ở các môn khác như đàn hát dân ca, thể dục thể thao

Bên cạnh những kết quả đạt được, ngành giáo dục, đào tạo của thị xã vẫncòn một số hạn chế, đó là:

- Cơ sở vật chất trường, lớp học và trang thiết bị dạy và học ở các cấp giáodục còn thiếu Tỷ lệ trường đạt chuẩn quốc gia còn ở mức thấp, chưa đạt chỉ tiêu

đề ra (hiện có 60% trường đạt chuẩn)

- Chất lượng của giáo viên còn ở mức trung bình, còn thiếu giáo viên cóchuyên môn su, đặc biệt là một số môn như ngoại ngữ, tin học

- Hệ thống dạy nghề chưa đáp ứng được yêu cầu của thị trường lao động vềtrình độ đào tạo và quy mô đào tạo Đào tạo nghề chưa thực sự gắn với thị trườnglao động

Biểu 18: Tình hình nhà trẻ mẫu giáo

ĐVT 2005-06 2006-07 2007-08 2008-09 2009-10 Nhà trẻ

Nguồn: Niên giám thống kê thị xã, 2010

Biểu 19: Tình hình giáo dục phổ thông

Trang 39

Nguồn: Niên giám thống kê thị xã, 2010

5.2 Y tế và chăm sóc sức khỏe nhân dân

Nhìn chung, mạng lưới y tế trên địa bàn đã đáp ứng cơ bản nhu cầu phòngbệnh và khám, chữa bệnh của nhân dân thị xã Nhiều năm qua không để xẩy racác dịch bệnh lớn trên địa bàn Chất lượng khám, chữa bệnh ngày càng được nângcao Đảm bảo cung cấp đủ và kịp thời thuốc phòng bệnh và chữa bệnh có chấtlượng Công tác xã hội hoá y tế bước đầu đã được triển khai, đặc biệt trong lĩnhvực khám, chữa bệnh - đa dạng các loại hình dịch vụ y tế

Sức khoẻ nhân dân luôn được quan tâm, đến nay toàn thị xã đã kiện toàn hệthống y tế đến phường, xã Tính đến năm 2010, trên địa bàn thị xã có 21 cơ sởkhám chữa bệnh, trong đó có 9 bệnh viện, phòng khám đa khoa trung tâm và khuvực 12 trạm y tế phường, xã, cơ quan, xí nghiệp Ngoài ra trên địa bàn thị xã còn

có 3 bệnh viện lớn (Bệnh viện K74 của Trung ương, Bệnh viện 8 của Bộ GTVT),một Trung tâm y tế và 35 phòng khám tư nhân Công tác y tế và chăm sóc sứckhỏe cho nhân dân đạt được một số kết quả đáng khích lệ:

- Tỷ lệ phát triển dân số tự nhiên 1,2% cho cả giai đoạn 2005-2010

- Tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng còn 16% năm 2009 và ước đạt14,5% vào năm 2010

- Đến nay 10/10 phường, xã đạt chuẩn quốc gia về y tế cơ sở Đạt tỷ lệ 36bác sỹ/1 vạn dân

- Trong 5 năm qua (2005-2010) các cơ sở y tế phường, xã, cơ quan, xínghiệp đã thực hiện khám chữa bệnh cho trên 580.250 lượt người; đạt tỷ lệ khám0,6 lần/năm; 98% trẻ em được tiêm chủng mở rộng (Năm 2009 đã thực hiện tiêm

đủ 6 loại vác xin cho 1.958 cháu, tăng 13%; có 2.34 trẻ được uống thuốc phòngchống bại liệt, đạt 90,2% kế hoạch năm, 1.958 trẻ được tiêm phòng sởi, tăng13%kế hoạch năm và 3.126 trẻ được vacxin viêm gan B, tăng 20% kế hoạchnăm) Toàn thị xã không có trường hợp nào bị tai biến do sử dụng vacxin phòngbệnh

- Công tác phòng chống dịch bệnh được triển khai có hiệu quả, khống chếkịp thời dịch bệnh trên địa bàn cả khi xẩy ra lũ lụt và nhiễm bệnh (8)

- Công tác vệ sinh an toàn thực phẩm đã được chú ý triển khai kiểm soát,đồng thời phối hợp cùng Trung tâm y tế tổ chức đào tạo kiến thức về vệ sinh antoàn thực phẩm cho các nhà hàng trên địa bàn; Tổ chức kiểm tra nhà thuốc vàphòng khám phát hiện nhiều sai phạm như không niêm yết giá thuốc, vừa khámbệnh vừa bán thuốc, khám chữa bệnh vượt quá phạm vi cho phép

8 () Tháng 3/2008 xảy ra dịch tiêu chảy cấp nguy hiểm có 11 ca bệnh trong đó dương tính với phẩy khẩn

tả 5 ca, sau 1 tháng tập trung xử lý dịch, khoanh vùng dịch triệt để đã khống chế được và tuyên bố hết dịch theo quy định Tháng 11/2008, để khắc phục hậu quả sau trận lụt lịch sử đã thực hiện cấp phát miễn phí 1.200 cơ sở thuốc trực tiếp cho nhân dân vùng ngập úng, tiến hành khử khuẩn môi trường trong phạm vi khoảng 80 ha…cho đến nay các vùng ngập úng không có dịch xảy ra.

Trang 40

- Đã triển khai chiến dịch truyền thông dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản– Kế hoạch hóa gia đình trên địa bàn thị xã, đảm bảo đúng thời gian, tiến độ vàchỉ tiêu kế hoạch đề ra.

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đã đạt được, mạng lưới y tế vẫn còn tồntại một số hạn chế đó là:

- Cơ sở vật chất, trang thiết bị y tế tuy đã được đầu tư và nâng cấp, song sovới quy định của Bộ Y tế vẫn còn nhiều hạn chế, bao gồm cả những trang thiết

bị kỹ thuật cao và trang thiết bị cơ bản

- Việc áp dụng các kỹ thuật cao trong phòng bệnh và chữa bệnh còn hạnchế do nhiều nguyên nhân trong đó nguyên nhân chính là đầu tư từ ngân sách cho

y tế hạn hẹp, các nguồn đầu tư khác (từ các nguồn vốn tư nhân hoặc nước ngoài)không đáng kể

- Đội ngũ cán bộ chuyên môn còn thiếu

- Công tác xã hội hoá y tế chưa thực sự đạt hiệu quả cao cả trong lĩnh vựcphòng bệnh và lĩnh vực khám, chữa bệnh

- Tình trạng ô nhiễm môi trường do rác thải công nghiệp, dân sinh và tệ nạn

xã hội ngày càng nặng nề, tạo điều kiện cho sự xuất hiện và phát triển ở mức báođộng một số bệnh

5.3 Văn hóa-thông tin-thể thao

a) Công tác văn hóa – thông tin

- Đã có sự phối hợp giữa các cơ quan ban ngành triển khai nhiều hoạt động

thông tin, tuyên truyền cổ động, phục vụ các nhiệm vụ chính trị của thị xã ĐàiTruyền thanh thị xã đã xây dựng được hàng trăm chương trình phát thanh Đã cónhiều tiến bộ cả về số lượng và chất lượng tin bài, nội dung chương trình đãphong phú hơn

- Công tác xây dựng thiết chế văn hóa đã có nhiều tiến bộ, Thị xã đã xâymới và tận dụng được các nhà văn hóa thôn, làng, tổ dân phố, đạt 80% đơn vị cónhà văn hoá Đã sử dụng tốt các nguồn hỗ trợ mua sắm trang, thiết bị nhà văn hóatheo cơ chế hiện hành

- Công tác quản lý Nhà nước về các hoạt động dịch vụ văn hóa được tăngcường Hoàn thành việc thẩm định các di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn Thị xã

để được công nhận và xếp hạng

- Thực hiện tốt phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”.Trên 82% gia đình đạt danh hiệu gia đình văn hóa 35% làng văn hóa, tổ dân phốvăn hóa Trên 55% đơn vị đạt đơn vị văn hóa Đã xây dựng 9/10 nhà văn hóa cấpxã; 97/123 nhà văn hóa cấp thôn

Tuy nhiên, còn một số khó khăn vướng mắc ảnh hưởng đến hoạt độngchung của ngành văn hóa rất cần sự chỉ đạo và giúp đỡ của chính quyền các cấpnhư:

Ngày đăng: 25/02/2017, 19:11

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2: Diện tích, dân số thị xã năm 2010 - Báo Cáo Tổng Hợp Quy Hoạch Tổng Thể Phát Triển Kinh Tế - Xã Hội Thị Xã Phúc Yên Đến Năm 2020 Và Tầm Nhìn Đến Năm 2030
Bảng 2 Diện tích, dân số thị xã năm 2010 (Trang 9)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w