Chiều cao thân cây cm qua các tháng nghiên cứu của vẹt hainesii và vẹt dù...43Hình 3.3 Tăng trưởng chiều cao cây cm/tháng của vẹt hainesii và vẹt dù có trụ mầm thu thập ở Nam Định và Quả
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
TRẦN THỊ MAI
NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG, MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM
GIẢI PHẪU, SINH LÍ CỦA LOÀI VẸT HAIESII (Bruguiera hainesii Rog.)
VÀ VẸT DÙ (Bruguiera gymnorrhiza (Lour.) Poir.) TRỒNG THÍ NGHIỆM
TẠI XÃ GIAO LẠC, HUYỆN GIAO THUỶ, TỈNH NAM ĐỊNH
Chuyên ngành: Sinh thái học
Mã số: 60 42 01 20
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC SINH HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS ĐÀO VĂN TẤN
HÀ NỘI – 2015
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Sinh thái học “Nghiên cứu khả năng sinh
trưởng, một số đặc điểm giải phẫu, sinh lí của loài vẹt hanesii (Bruguiera hainesii Rog.) và vẹt dù (Bruguiera gymnorrhiza (Lour.) Poir.) trồng thí nghiệm
tại xã Giao Lạc, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định” Đã hoàn thành vào tháng
10 năm 2015 Trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luậnvăn, tác giả đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ của thầy cô, bạn bè và giađình
Trước hết tác giả luận văn xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới thầy giáo TS.
Đào Văn Tấn đã trực tiếp hướng dẫn và giúp đỡ trong quá trình nghiên cứu
và hoàn thành luận văn này
Tác giả cũng chân thành cảm ơn tới các thầy cô giáo bộ môn Thực vậthọc, Khoa Sinh học, phòng Sau đại học trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã
hỗ trợ rất nhiều để luận văn được hoàn thành
Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới gia đình, bạn bè đã luôn ủng
hộ động viên trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn
Trong khuôn khổ một luận văn, do sự giới hạn về thời gian và kinhnghiệm nên không tránh khỏi những thiếu sót Vì vậy tác giả rất mong nhậnđược những ý kiến đóng góp quý báu của các thầy cô và các bạn
Xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, tháng 10 năm 2015
Tác giả
Trần Thị Mai
Trang 3MỤC MỤC
MỞ ĐẦU… 1
1 Đặt vấn đề 1
2 Mục tiêu nghiên cứu và nội dung của đề tài 3
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 5
1.1 Nghiên cứu tác động của độ mặn và các yếu tố sinh thái lên sự sinh trưởng của thực vật ngập mặn 5
1.2 Nghiên cứu khả năng di chuyển cây ngập mặn từ vùng này sang vùng khác 10
1.3 Nghiên cứu về chi Vẹt (Bruguiera) 12
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG, THỜI GIAN, PHƯƠNG PHÁP VÀ ĐIỆU KIỆN TỰ NHIÊN KHU VỰC NGHIÊN CỨU 15
2.1 Đối tượng nghiên cứu 15
2.2 Thời gian nghiên cứu 18
2.3 Phương pháp nghiên cứu 19
2.3.1 Cách bố trí thí nghiệm 19
2.3.2 Phương pháp phân tích mẫu đất, mẫu nước và đo độ mặn 19
2.3.3 Phương pháp theo dõi tỷ lệ nảy mầm của trụ mầm và tỷ lệ sống của cây thí nghiệm 20
2.3.4 Phương pháp theo dõi khả năng sinh trưởng 20
2.3.5 Phương pháp xác định trọng lượng khô các bộ phận trên mặt đất 21
2.3.6 Phương pháp xác định hàm lượng diệp lục trong lá 21
2.3.7 Phương pháp xác định số lá đã sinh ra, số lá đã rụng và số lá trên cây 21
2.3.8 Phương pháp xác định hàm lượng một số ion trong lá 22
2.3.9 Phương pháp nghiên cứu cấu tạo giải phẫu lá 22
2.3.10 Phương pháp xử lý số liệu 23
Trang 42.3.11 Vị trí địa lí 23
2.3.12 Khí hậu 23
2.3.13 Thuỷ văn 26
2.3.14 Đặc điểm trồng rừng 27
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BIỆN LUẬN 28
3.1 Đặc điểm thành phần thổ nhưỡng, độ cao thể nền và độ mặn của nước khu vực nghiên cứu 28
3.1.1 Thành phần thổ nhưỡng 28
3.1.2 Độ mặn của nước 30
3.1.3 Độ cao thể nền 31
3.2 Đặc điểm kích thước, khối lượng của trụ mầm vẹt dù (B gymnorrhiza) và vẹt hainesii (B hainesii) 31
3.2.1 Đặc điểm kích thước, khối lượng của trụ mầm vẹt dù (B gymnorrhiza) và vẹt hainesii (B hainesii) 31
3.2.2 Tương quan giữa kích thước, khối lượng của trụ mầm vẹt dù (B gymnorrhiza) và vẹt hainesii (B hainesii) 35
3.3 Tỉ lệ nảy mầm và tỉ lệ sống sót của vẹt dù (B gymnorrhiza) và vẹt hainesii (B hainesii) 38
3.3.1 Tỉ lệ nảy mầm của vẹt dù (B gymnorrhiza) và vẹt hainesii (B hainesii) 38
3.3.2.Tỉ lệ sống sót của cây con vẹt dù (B gymnorrhiza) và vẹt hainesii (B hainesii) 39
3.4 Sinh trưởng của vẹt hainesii (B hainesii) và vẹt dù (B gymnorrhiza) 41
3.4.1 Tăng trưởng về chiều cao 41
3.4.2 Tăng trưởng về đường kính 46
3.4.3 Khả năng ra lá và sự duy trì số lá trên cây 51
3.4.4 Sinh khối 58
Trang 53.4.5 Phân tích tương quan giữa khối lượng trụ mầm và sinh trưởng ban đầu của cây non 61 3.5 Đặc điểm giải phẫu của lá vẹt dù (B gymnorrhiza) và vẹt hainesii (B hainesii) 64 3.6 Hàm lượng diệp lục và các ion trong lá vẹt dù (B gymnorrhiza) và vẹt hainesii (B hainesii) 69 3.6.1 Hàm lượng diệp lục trong lá vẹt dù (B gymnorrhiza) và vẹt hainesii (B hainesii) 69 3.6.2 Hàm lượng các ion trong lá vẹt dù (B gymnorrhiza) và vẹt hainesii (B hainesii) 70
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 72 TÀI LIỆU THAM KHẢO 84
PHỤ LỤC
Trang 6DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Các phương pháp phân tích một số tính chất của đất 20
Bảng 2 2 Sự biến động nhiệt độ, độ ẩm, tổng lượng mưa trung bình, số
giờ nắng qua các tháng nghiên cứu 24
Bảng 3.1 Kết quả phân tích đất tại địa điểm nghiên cứu ở độ sâu 0 – 30
cm (tháng 10/ 2014 và tháng 3/2015) 28
Bảng 3.2 Độ mặn qua các tháng khu vực nghiên cứu 30
Bảng 3.3 Độ cao thể nền khu vực nghiên cứu 31
Bảng 3.4 Khối lượng, kích thước trụ mầm của vẹt hainesii, vẹt dù lấy
từ Nam Định và Quảng Ninh 32
Bảng 3.5 Hệ số biến động và tỉ số giá trị lớn nhất và nhỏ nhất của các
thông số về kích thước và khối lượng trụ mầm vẹt hainesii vàvẹt dù thu thập từ Nam Định và Quảng Ninh 34
Bảng 3.6 Phương trình và hệ số tương quan giữa đường kính và chiều
dài với khối lượng trụ mầm của vẹt hainesii, vẹt dù 35
Bảng 3.7 Tỷ lệ nảy mầm (%) của trụ mầm vẹt hainesii, vẹt dù Nam
Định và vẹt dù Quảng Ninh 38
Bảng 3.8 Tỷ lệ sống sót (%) của cây con sau giai đoạn vườn ươm ở vẹt
hainesii và vẹt dù 40
Bảng 3.9 Chiều cao thân cây (cm) qua các tháng nghiên cứu của vẹt
hainesii vẹt dù Nam Định và vẹt dù Quảng Ninh 42
Bảng 3.10 Tốc độ tăng trưởng chiều cao thân cây (cm/tháng) qua các
tháng nghiên cứu của vẹt hainesii, vẹt dù Nam Định và vẹt
dù Quảng Ninh 44
Bảng 3.11 Đường kính thân trung bình (mm) qua các tháng của vẹt
hainesii, vẹt dù lấy từ Nam Định và Quảng Ninh 46
Bảng 3.12 Tăng trưởng về đường kính thân (mm/tháng) của vẹt
hainesii, vẹt dù Nam Định và vẹt dù Quảng Ninh trong thờigian nghiên cứu 48
Trang 7Bảng 3.13 Biến động số lượng lá trên cây của vẹt hainesii, vẹt dù Nam
Định, vẹt dù Quảng Ninh 57
Bảng 3.14 Phương trình và hệ số tương quan giữa trọng lượng khô và
giá trị D2H, DH trụ mầm 59
Bảng 3.15 Phương trình và hệ số tương quan giữa trọng lượng tươi của
trụ mầm với đường kính, chiều cao của thân cây tháng 12 62
Bảng 3.16 Phương trình, hệ số tương quan giữa trọng lượng tươi trụ
mầm và giá trị D2H, DH của thân cây 63
Bảng 3.17 Kích thước các tế bào trong lá vẹt hainesii, vẹt dù Nam Định
và vẹt dù Quảng Ninh 66
Bảng 3.18 Kích thước mô xốp của lá vẹt hainesii, vẹt dù Nam Định và
vẹt dù Quảng Ninh 67
Bảng 3.19 Hàm lượng diệp lục trong lá vẹt hainesii và vẹt dù bản địa 70
Bảng 3.20 Hàm lượng các ion trong lá của vẹt hainesii và vẹt dù 70
Trang 8DANH MỤC HÌNH
Hình 2.1 Nhiệt độ trung bình các tháng trong thời gian nghiên cứu
(4/2014 – 4/2015) 25Hình 2.2 Lượng mưa trung bình các tháng trong thời gian nghiên cứu
(4/2014 – 4/2015) 26Hình 3.1 Đặc điểm khối lượng, kích thước trụ mầm của vẹt hainesii,
vẹt dù lấy từ Nam Định và Quảng Ninh 32Hình 3.2 Chiều cao thân cây (cm) qua các tháng nghiên cứu của vẹt
hainesii và vẹt dù 43Hình 3.3 Tăng trưởng chiều cao cây (cm/tháng) của vẹt hainesii và vẹt
dù có trụ mầm thu thập ở Nam Định và Quảng Ninh 43Hình 3.4 Tốc độ tăng trưởng chiều cao thân cây (cm/ tháng) qua các
tháng nghiên cứu của vẹt hainesii, vẹt dù Nam Định và vẹt
dù Quảng Ninh 44Hình 3.5 Đường kính thân trung bình (mm) qua các tháng của vẹt
hainesii và vẹt dù trong thời gian nghiên cứu 47Hình 3.6 So sánh tăng trưởng đường kính giữa vẹt hainesii, vẹt dù có
trụ mầm lấy ở Nam Định và vẹt dù lấy ở Quảng Ninh 48Hình 3.7 Tăng trưởng về đường kính thân (mm/tháng) của vẹt
hainesii, vẹt dù Nam Định và vẹt dù Quảng Ninh trong thờigian nghiên cứu 49Hình 3.8 Số lá sinh ra của vẹt hainesii, vẹt dù Nam Định, vẹt dù Quảng
Ninh qua các tháng nghiên cứu 52Hình 3.9 Số lá rụng qua các tháng của vẹt hainesii, vẹt dù lấy từ Nam
Định và Quảng Ninh trong thời gian nghiên cứu 54Hình 3.10 Số chiếc lá trên cây của vẹt hainesii, vẹt dù thu nhận từ Nam
Định và Quảng Ninh 55Hình 3.11 Biến động số lá trên cây, số lá sinh ra, số lá rụng của vẹt
hainesii và vẹt dù 57Hình 3.12 Trọng lượng khô (g/cây) của vẹt dù Nam Định và Quảng
Ninh 60Hình 3.13 Độ dày lá 65Hình 3.14 Kích thước tế bào mô xốp 68
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Đặt vấn đề
Rừng ngập mặn (RNM) là một hệ sinh thái rừng đặc trưng, quan trọngphát triển trên vùng đất ngập nước dọc theo các bờ biển ở những khu vựcnhiệt đới và cận nhiệt đới, nơi có thủy triều ra vào hàng ngày Đó là vùngchuyển tiếp giữa môi trường biển và đất liền nên chịu tác động trực tiếp củathủy triều và có những tính chất thích nghi hết sức đa dạng và độc đáo vớimôi trường đất lầy mặn Hệ sinh thái RNM có tầm quan trọng vô cùng cả vềmặt sinh thái và kinh tế - xã hội [12]
Rừng ngập mặn nước ta có vai trò quan trọng trong việc bảo vệ bờbiển, ngăn chặn gió bão, hạn chế xói lở, mở rộng diện tích đất liền và điềuhòa khí hậu, là nguồn tài nguyên quý của vùng ven biển nhiệt đới và cận nhiệtđới Rừng ngập mặn là lá phổi xanh giúp điều hòa khí hậu trong vùng, làmkhí hậu dịu mát hơn, giảm nhiệt độ tối đa và biên độ nhiệt, giúp hạn chế sựbốc hơi nước vùng đất RNM, giữ ổn định độ mặn lớp đất mặt, hạn chế sự xâmnhập mặn vào đất liền RNM hấp thụ CO2, thải ra O2 làm không khí tronglành, giảm hiệu ứng nhà kính Rừng ngập mặn 1 năm tuổi có thể hấp thụ 8 tấn
CO2/héc ta/năm và khả năng hấp thụ của khí CO2 tăng theo độ tuổi của cây[6] Ngoài ra, sự phát triển của RNM và mở rộng diện tích đất bồi là hai quátrình luôn đi kèm nhau Ở những vùng đất mới bồi có độ mặn cao có các thựcvật tiên phong là loài mắm trắng, bần đắng; vùng cửa sông với độ mặn thấphơn có bần chua, mắm trắng RNM còn có tác dụng hạn chế xói lở và các quátrình xâm thực bờ biển [31]
Tuy nhiên, hiện nay trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêngthảm thực vật rừng ngập mặn đang bị suy giảm nghiêm trọng cả về diện tích,cấu trúc và chất lượng Sự gia tăng dân số đã dẫn đến việc phải chuyển đổidiện tích rừng ngập mặn thành vùng phát triển nông nghiệp và đô thị hóa; sự
Trang 10tăng nhiệt độ do biến đổi khí hậu có thể khiến rừng ngập mặn suy thoái vàkhông có khả năng phục hồi [11].
Với vị trí địa lý nằm trong vành đai khí hậu nhiệt đới gió mùa, ViệtNam có hệ sinh thái RNM phát triển phong phú và đa dạng Song do sự tànphá của chiến tranh, do việc phá hủy RNM phục vụ cho nhu cầu trước mắtcủa cuộc sống như khai thác rừng lấy gỗ, than, củi, phá rừng làm đầm nuôitôm quảng canh đã làm diện tích và sự đa dạng rừng ngập mặn nước ta bịthu hẹp nhanh chóng Trước đây, RNM nước ta có khoảng 408 500 ha(Maurand, 1943 – trích Phan Nguyên Hồng, 2000) [49], đến năm 2002 chỉcòn khoảng 15 290 ha (Viện Quy hoạch nông nghiệp, 2002) [37] và chủ yếu
là rừng thứ sinh Ngoài ra, theo số liệu thống kê của Bộ Nông nghiệp và Pháttriển nông thôn cho biết, năm 1943 Việt Nam có trên 400 000 ha diện tíchrừng ngập mặn, đến năm 2006 giảm còn 279 000 ha; hiện cả nước chỉ cònkhoảng trên 155 290 ha - giảm hơn 100 000 ha so với trước năm 1990
Việc khai thác quá mức rừng ngập mặn dẫn đến nhiều hậu quả xấu, làmmất đi những nguồn gen quý giá, môi trường sống bị huỷ hoại nghiêm trọng
và nguy cơ hiểm họa của thiên tai (gió bão, sóng biển, triều cường ) sẽ ảnhhưởng trực tiếp đến đời sống của người dân ven biển Vì vậy việc trồng, khôiphục và tăng độ đa dạng rừng ngập mặn là việc làm cần thiết, cấp bách [6]
Xuất phát từ thực tế đó, với mục đích làm tăng độ đa dạng sinh học vềthực vật cho rừng ngập mặn ở miền Bắc, nâng cao năng suất rừng ngập mặn,hiện nay hướng nhập nội một số loài cây ngập mặn đang được các nhà khoa học
và các chuyên gia về RNM quan tâm Theo hướng nâng cao tính đa dạng thựcvật rừng ngập mặn Việt Nam thông qua việc nhập nội các loài cây ngập mặn,
vào tháng 4 năm 2014, trụ mầm của loài vẹt hainesii (Bruguiera hainesii) đã
được nhập từ Myanmar vào Việt Nam Đây là loài được đưa vào danh sách cónguy cơ tuyệt chủng cao Duke (2010) & cs [44] Để đánh giá khả năng thínhứng của loài cây ngập mặn này trong điều kiện khí hậu và thổ nhưỡng vùng ven
Trang 11biển sông Hồng và so sánh khả thích ứng của chúng với loài bản địa cùng chi
Bruguiera, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu khả năng sinh trưởng, một số đặc điểm giải phẫu, sinh lí của loài vẹt hanesii (Bruguiera
hainesii Rog.) và vẹt dù (Bruguiera gymnorrhiza (Lour.) Poir.) trồng thí
nghiệm tại xã Giao Lạc, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định”.
Ý nghĩa khoa học
- Góp phần cung cấp cơ sở dữ liệu về di thực cây ngập mặn ở Việt Nam
- Góp phần cung cấp dữ liệu về đặc điểm sinh trưởng, cấu tạo giải phẫu
lá, tương quan giữa kích thước và hình thái trụ mầm trong chi Vẹt
(Bruguiera) từ đó cung cấp cơ sở khoa học cho việc phát triển và khôi phục
rừng ngập mặn thông qua việc chọn lựa loài cây thích hợp trong việc trồng vàkhôi phục rừng ngập mặn
- Bổ sung thêm dẫn liệu cho việc giảng dạy các chuyên đề liên quan vềgiải phẫu và thích nghi của cây ngập mặn
Ý nghĩa thực tiễn
- Bước đầu khẳng định được khả năng di thực loài vẹt hainesii vào
khu vực rừng ngập mặn miền Bắc Việt Nam, nơi chịu tác động của sự dao động lớn về nhiệt độ giữa các mùa trong năm.
- Góp phần nâng cao đa dạng loài thực vật ngập mặn tại trạm Nghiêncứu Rừng ngập (MERS), cũng như sự đa dạng thực vật ngập mặn tại VườnQuốc gia Xuân Thuỷ, tạo điều kiện thuận lợi cho các nghiên cứu tiếp theo vềrừng ngập mặn
2 Mục tiêu nghiên cứu và nội dung của đề tài
2.1 Mục tiêu nghiên cứu
- Phân tích được mối liên quan giữa kích thước và khối lượng của trụ mầm
của hai loài vẹt dù (Bruguiera gymnorrhiza) và vẹt hainesii (Bruguiera
hainesii).
- Đánh giá được mức độ liên quan giữa khối lượng trụ mầm và sinh
Trang 12trưởng ban đầu của hai loài vẹt dù (B gymnorrhiza) và vẹt hainesii (B.
hainesii).
- So sánh tỉ lệ sống sót và khả năng sinh trưởng của loài vẹt dù (B.
gymnorrhiza) di thực từ Quảng Ninh và loài vẹt hainessi (B hainesii) di thực
từ Myanmar với vẹt dù (B gymnorrhiza) bản địa trồng tại bản địa xã Giao
Lạc - huyện Giao Thuỷ
- So sánh một số đặc điểm cấu trúc giải phẫu lá của loài vẹt dù (B.
gymnorhiza) di thực từ Quảng Ninh và loài vẹt hainessi (B hainesii) di thực
từ Myanmar với vẹt dù (B gymnorrhiza) trồng tại bản địa xã Giao Lạc
-huyện Giao Thuỷ
- So sánh một số đặc điểm sinh lí của loài vẹt dù (B gymnorrhiza) di
thực từ Quảng Ninh và loài vẹt hainessi (B hainesii) di thực từ Myanmar với
vẹt dù (B gymnorrhiza) trồng tại bản địa xã Giao Lạc - huyện Giao Thuỷ.
2.2 Nội dung của đề tài
Đề tài gồm các nội dung sau
- Xác định thành phần dinh dưỡng, độ mặn, đo độ ngập triều của đấtkhu vực nghiên cứu
- Đo khối lượng và kích thước trụ mầm vẹt dù và vẹt hainesii và xác
định mối tương quan giữa kích thước và khối lượng của trụ mầm
- Theo dõi sinh trưởng của vẹt dù di thực Quảng Ninh, lấy từ tại trạmMERS, xã Giao Lạc, và vẹt hainessi di thực từ Myanmar trồng tại vườn thựcnghiệm MERS qua các tháng trong năm
- Xây dựng hàm tương quan giữa chỉ số đường kính, chiều cao cây vẹt
dù và sinh khối trên trụ mầm của chúng
- Xác định mức độ liên quan của khối lượng trụ mầm vẹt dù và vẹthainessi tới sinh trưởng ban đầu của chúng thông qua phân tích hàm hồi quy
- Giải phẫu cấu trúc lá của vẹt dù di thực Quảng Ninh, lấy từ tại trạmMERS và vẹt hainesii di thực từ Myanmar trồng tại vườn thực nghiệm MERS
- Xác định hàm lượng một số ion, diệp lục trong lá của vẹt dù di thực
Trang 13Quảng Ninh, lấy từ tại trạm MERS và vẹt hainesii di thực từ Myanmar trồngtại vườn thực nghiệm MERS.
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Nghiên cứu tác động của độ mặn và các yếu tố sinh thái lên sự sinh trưởng của thực vật ngập mặn
Hệ sinh thái rừng ngập mặn đã cuốn hút sự chú ý của nhiều nhà khoahọc trên thế giới và Việt Nam Hầu hết các nghiên cứu ở giai đoạn đầu (vàonhững năm 1960) đều tập trung nghiên cứu ảnh hưởng của các thành phầndinh dưỡng trong đất, kiểu đất, mức độ ngập mặn và độ mặn khác nhau củamôi trường tới quá trình tăng trưởng đường kính, chiều cao và trọng lượngkhô của cây
Từ những năm 1970 đến nay có rất nhiều nghiên cứu về hệ sinh tháirừng ngập mặn ở khu vực châu Á và Thái Bình Dương trong các lĩnh vựckhác nhau
ở các bãi lầy ven biển Các loại muối này có thể tồn tại ngay trên bề mặthoặc lắng xuống, hòa tan trong các mạch nước ngầm gây mặn cho đất
Có nhiều loại đất mặn khác nhau Dựa vào hàm lượng muối tổng sốtrong đất, một số tác giả chia đất mặn thành 3 loại:
- Đất mặn yếu: hàm lượng muối trong đất từ 0,25% - 0,5%
- Đất mặn trung bình: hàm lượng muối trong đất từ 0,5% - 0,7%
Trang 14- Đất mặn mạnh: hàm lượng muối trong đất từ 0,7% - 1%
(Theo Labova và Rozanov – Trích Võ Minh Thứ [27] )
Theo Lê Xuân Khoa và cs [15], đất ngập mặn gồm hai nhóm:
- Đất mặn có chứa muối ở toàn bộ phẫu diện đất, kể cả lớp trên cùng
- Đất mặn có chứa muối ở lớp đất sâu hơn
- Dựa vào thành phần và tỷ lệ các ion trong đất, các tác giả lại chia đấtthành các loại: mặn Na, mặn Ca, mặn Mg, mặn Ca – Na (dựa vào thànhphần cation), đất mặn chlo, mặn sulfate, mặn chlo – sulfate (dựa vào thànhphần, tỷ lệ các anion)
Đất mặn là đất có độ dẫn điện lớn (EC) hơn 4 hos/cm (Marscher, 1986
- Trích Võ Minh Thứ, 1998 [27] )
Theo Phan Nguyên Hồng (1976) [8], đất RNM là một loại đất bùn dophù sa các sông mang ra ở các vùng cửa sông, ven biển, bị ngập triều hằngngày Do vậy đất RNM là một loại đất mặn Đất ngập mặn đặc biệt có nhiềuloại muối như: NaCl, Na2SO4, CaCl2, MgCl2, MgSO4, MgCO3, Mg(HCO3)2,CaCO3, Ca(HCO3)2 Trừ các loại muối sunfat, nhìn chung các loại muối trênđều gây độc đối với thực vật nói chung và đối với cây ngập mặn nói riêng
Nhiều tác giả cho rằng độ mặn tác động đến thực vật và nhất là thực vậtngập mặn theo 2 hướng (Flowers, 1977) [47]
- Độ mặn tạo ra áp suất thẩm thấu trong đất cao, phá vỡ sự cân bằngtrao đổi nước của cây
- Muối với nồng độ cao có tác dụng gây độc đối với tế bào thực vật.Strogonov (1964) [68] cho rằng khi áp suất thẩm thấu của dung dịchđất từ 10 – 12 atm thì cản trở sự hút nước của rễ, ở áp suất 40 atm thì câykhông thể hút được nước Có thể nói độ mặn cao ở môi trường là điều kiệnbất lợi cho nước và các chất tan xâm nhập vào tế bào thực vật, gây ra hiệntượng “hạn sinh lí” của đất
Trang 15Có nhiều tác giả trên thế giới nghiên cứu về mối quan hệ giữa độ mặn
và sự phát triển của cây ngập mặn Các loài ngập mặn khác nhau có cơ chếthích ứng với độ mặn khác nhau, Scholander (1968) [55] nghiên cứu khả năngcản muối của thực vật ngập mặn, theo tác giả thực vật cản muối bằng một cơchế rất hiệu quả đó là hệ thống vi lọc ở rễ qua đó nước thì được hút vào màmột phần muối bị cản lại
Đất mặn làm ngăn cản sự xâm nhập của nước vào cây, ảnh hưởng tớikhả năng cảm ứng giống như những thực vật sống trên đất liền trải qua hạnhán (Clough, 1982) [42]
Nghiên cứu của Blasco (1984) [40] cho thấy độ mặn là một trongnhững nhân tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến sự sinh trưởng, tỷ lệ sống củacác loài và phân bố rừng ngập mặn Rừng ngập mặn phát triển tốt nơi có nồng
độ muối trong nước khoảng từ 10 – 25% Kích thước cây và số loài giảm đikhi độ mặn cao (40; 80% độ mặn nước biển)
Werner và cs (1990) [62] đã nghiên cứu sự sinh trưởng của Rhizophora
mangle trong trường hợp có và không có NaCl và nhận thấy rằng quang hợp
bị ức chế khi môi trường không có NaCl
Mai Sỹ Tuấn (1995) [33] đã nghiên cứu mối quan hệ giữa độ mặn và sự
cân bằng nước ở loài mắm biển (A marina) cho rằng muốn hút được nước,
cây ngập mặn phải giữ được cân bằng nước dương, nghĩa là phải có cơ chếđiều chỉnh bên trong tế bào để đảm bảo cho thế năng nước trong các mô cógiá trị thấp hơn thế năng áp suất thẩm thấu của môi trường ngoài Tác giả đãcông bố kết quả nghiên cứu tác động của 7 loại độ mặn khác nhau (0, 25, 50,
75, 100, 125, 150% độ mặn nước biển) lên quá trình nảy mầm, tăng trưởng và
quang hợp của cây con mắm biển (A marina) trong điều kiện thí nghiệm Kết
quả cho thấy ở độ mặn thấp, tỷ lệ nảy mầm cao, tốc độ nảy mầm nhanh, khảnăng nảy mầm và sinh trưởng tốt nhất ở 25% độ mặn nước biển Nghiên cứu
Trang 16này cho thấy độ mặn càng cao làm tăng sự rụng lá cây.
Nghiên cứu tác động của các ion trong đất đối với cây, nhiều tác giảcho rằng, các ion từ đất đi vào có thể gây độc cho cây Các cation gây đông tụkeo sinh học của tế bào chất, làm giảm tính thấm của chất nguyên sinh đối vớimuối 7], [38]
Theo Phan Nguyên Hồng, 1976 [8], đất lầy ven biển giàu các loại muối
đã nêu ở trên, trừ các muối sulfate, còn lại các loại muối khác đều gây hại ítnhiều cho cây Chính vì vậy nhiều loài cây không sống được trên loại đất này.Mức độ ngập mặn và độ mặn khác nhau của môi trường có ảnh hưởng tới quátrình tăng trưởng đường kính, chiều cao và trọng lượng khô của cây Phươngpháp đo tăng trưởng của Lugo và Snedaker (1975) [51] đã được NguyễnHoàng Trí và Phan Nguyên Hồng sử dụng nghiên cứu tăng trưởng của câyngập mặn tại một số địa điểm ở Cà Mau
Theo Phan Nguyên Hồng (1991) [9] các nhân tố sinh thái, trong đó có
độ mặn có ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và phân bố của các loài cây ngậpmặn Việt Nam
Nước mặn là yêu cầu sinh thái cho cây ngập mặn và ngăn cản sự xâmnhập của những loài thực vật không chịu mặn (Snedaker, S C., 1979) (P N.Hồng dẫn, 1991) [9]
Theo Nguyễn Thị Tuyến (2000) [35] nghiên cứu về ảnh hưởng độ mặn
môi trường tới sự nảy mầm và sinh trưởng của cây bần chua (Sonmeratia caseolaris) Theo tác giả hạt bần chua có tỷ lệ nảy mầm cao ở các môi trường
từ 0 – 100% độ mặn nước biển Cây bần con sinh trưởng tốt ở độ mặn thấp(25% độ mặn nước biển)
Như vậy có nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng sự sinh trưởng, phát triển củacây ngập mặn chịu tác động mạnh bởi yếu tố độ mặn trong đất và nước biển
Vì vậy cần thiết phân tích độ mặn trong đất và nước khi tiến hành các nghiên
Trang 17cứu về đặc điểm sinh trưởng, phát triển, thích nghi của các loài cây ngập mặn.
Nhiệt độ
Nhiều nghiên cứu trong và ngoài nước chỉ ra rằng nhiệt độ tác động lêncác quá trình quang hợp, hô hấp, điều chỉnh phần lớn các quá trình trao đổichất và năng lượng nội tại trong cơ thể thực vật Ở những vùng có nhiệt độbình quân trong năm cao, biên độ nhiệt giữa ngày và đêm, giữa các mùa thấp(đồng thời có độ ẩm cao) thì rừng ngập mặn phát triển về kích thước và sốloài cao Số loài cây ngập mặn giảm hẳn khi nhiệt độ xuống quá thấp Ngượclại, khi nhiệt độ lên cao quá (trên 35ºC) cũng ảnh hưởng đến hoạt động sinh lýcủa cây vì đốt nóng lá, khiến cho cây thoát hơi nước nhiều, hô hấp tăng,quang hợp giảm và năng suất sơ cấp giảm (Phan Nguyên Hồng, 1991) [9]
Theo Chapman (1977) [41] rừng ngập mặn chỉ phát triển khi biên độnhiệt ở tháng lạnh nhất cao hơn 20ºC và biên độ dao động mùa không quá10ºC Sự phân bố của rừng ngập mặn trên thế giới ở giới hạn Bắc và Nam báncầu trùng với đường đẳng nhiệt không khí 16ºC vào tháng lạnh nhất Saenger(1987) cho thấy mối quan hệ khá rõ giữa tăng trưởng của lá cây ngập mặn vànhiệt độ không khí khi nghiên cứu sự tăng trưởng của lá cây ngập mặn rahàng tháng của 9 loài cây ngập mặn ở Glastone (vĩ độ 24º nam) (NguyễnHoàng Trí dẫn, 1999) [30]
Theo nghiên cứu của Phan Nguyên Hồng và cs tại huyện Tiên Yên,tỉnh Quảng Ninh, khi nhiệt độ xuống dưới 10°C thì lá cây vẹt dù (Bruguiera gymnorhiza) bị khô và chết [1].
Các thí nghiệm tại Cần Giờ, thành phố Hồ Chí Minh cho thấy các hoạt
động sinh lý như quang hợp và thoát hơi nước của cây đước đôi (R apiculata)
chỉ duy trì ở mức tối thiểu khi nhiệt độ lên cao tới 42°C vào ngày 18/ 4/ 1990(Hong, San, 1993) [50]
Trang 18Chuyển một loại thực vật đến một khu vực mới, cần thiết phải xem xéttác động của nhiệt độ của một năm lên chúng.
Độ ẩm
Mặc dù cây ngập mặn có mặt ở cả vùng khí hậu ẩm ướt cũng như vùngkhô hạn nhưng sinh trưởng và sự phân bố tối ưu của loài cây là ở những vùngxích đạo ẩm như: Trung Mỹ, Malaysia, các quần đảo Indonesia Ở Bắc báncầu cây ngập mặn phát triển tốt ở nơi có lượng mưa hàng năm từ 1800 – 3000
mm (Aksornkoae, 1993) [38]
Theo Phan Nguyên Hồng rừng ngập mặn phát triển ở nơi có lượng mưanhiều Ở Việt Nam, Thái Lan và Autralia rừng ngập mặn phát triển tại nhữngnơi có lượng mưa trong năm cao (1800 – 2500 mm/ 1 năm) Vùng có ít mưa
số lượng loài và kích thước của cây giảm (Phan Nguyên Hồng, 1991) [9]
Ven biển Nam bộ, trong điều kiện nhiệt độ bình quân năm ở Cà Mau vàVũng Tàu chênh lệch rất ít (chỉ 0,7°C) nhưng lượng mưa cả năm của Cà Mautrung bình (2000 – 2.200 mm/ 1 năm với 120 - 150 ngày mưa), lớn hơn so vớiVũng Tàu (1 357 mm/ năm) nên rừng ngập mặn ở Cà Mau phong phú hơn vàkích thước cây cũng lớn hơn (Nguyễn Hoàng Trí, 1999) [30]
Lượng mưa có ảnh hưởng tới nguồn nước ngọt cung cấp cho cây ngậpmặn đồng thời ảnh hưởng tới độ ẩm không khí Như vậy ta thấy cây ngập mặnphong phú và sinh trưởng tốt ở nơi có độ ẩm không khí tương đối cao
1.2. Nghiên cứu khả năng di chuyển cây ngập mặn từ vùng này sang vùng khác
Mỗi loài sinh vật nói chung đều có khả năng sinh trưởng và phát triểntốt trong những điều kiện sinh thái nhất định như nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng,nước, các chất dinh dưỡng Nếu các yếu tố vật lý, điều kiện sinh thái vượt rangoài giới hạn chống chịu của sinh vật thì sẽ ảnh hưởng đến sự tồn tại, sinhtrưởng và phát triển của chúng Phạm vi chống chịu đối với các nhân tố sinh
Trang 19thái của sinh vật xác định sự hiện hữu và độ nhiều của chúng ở một nơi nào
đó [20] Chính vì vậy, việc chuyển một loài cây từ vùng này tới vùng khácluôn phải tuân thủ theo quy luật sinh thái này Nghiên cứu về việc chuyển câyngập mặn từ vùng này đến vùng khác và việc nhập nội một số loài cây ngậpmặn đã được một số tác giả nghiên cứu G.S Maxwel (1975) đã nghiên cứu
việc chuyển cây trang (Kandelia candel) từ Brunei và Thái Lan về trồng ở
MaiPo, Hồng Kông Theo tác giả điều kiện khí hậu, đặc biệt là nhiệt độ thấpvào mùa đông ảnh hưởng khá rõ tới kích thước lá Nhiệt độ xuống thấp làmcho lá có kích thước nhỏ (dẫn theo Nguyễn Hoàng Trí, 1999) [30]
Trung tâm nghiên cứu rừng ngập mặn đã đưa giống đước từ miền Nam
ra trồng thử ở miền Bắc nhưng đều chết do giá lạnh của mùa đông [10].Nguyễn Thị Mỹ Hằng và Phan Nguyên Hồng (1995) [7] đã tiến hành thí
nghiệm trồng đâng (Rhizophoza stylosa) lấy ở Cẩm Phả, Quảng Ninh; cây đước (R.apiculata) lấy ở Cần Giờ, thành phố Hồ Chí Minh và Surat Thani,
Thái Lan đem trồng ở bãi triều Thạch Hà, Hà Tĩnh Một số trụ mầm trồngtrong chậu dọc hành lang nhà ở, một số trồng trong nhà che bằng máipolyetylene, có bóng đèn giữ nhiệt vào mùa đông Kết quả cho thấy cây cónguồn gốc ở miền Nam do có quá trình thích nghi lâu với môi trường nóng
ẩm nên khi mang ra miền Bắc trong điều kiện nhiệt độ cao của mùa hè vàmùa thu cây sinh trưởng bình thường và tăng trưởng cao hơn các loài cây ởmiền Bắc Cây thường chết vào mùa đông, rét kéo dài Muốn giữ cây đókhông bị chết cần giữ cây con trong nhà kính vào thời kỳ rét [7]
Hoàng Công Đãng đã trồng cây trang (Kandelia candel) có nguồn
gốc từ Hồng Kông trên bãi lầy ngập mặn xã Hoàng Tân, Yên Hưng, QuảngNinh [4] Kết quả cho thấy vào thời kì khí hậu ấm áp cây trang Hồng Kôngsinh trưởng nhanh hơn cây trang ở Quảng Ninh Vào mùa Đông giá lạnh, rétkéo dài trong nhiều ngày, nhiệt độ không khí hạ xuống thấp (14,2°C) cây con
Trang 20héo ngọn, rụng lá và chết dần [4].
Trung tâm nghiên cứu rừng ngập mặn đã đưa cây đước đôi (R apiculata) từ miền Nam ra trồng thử ở miền Bắc [7] Nguyễn Thị Mến
(2000) [19] nghiên cứu khả năng chuyển hai loài mắm trắng (Avicennia alba)
và vẹt khang (Bruguiera sexangula) từ miền Nam ra trồng trên trên bãi lầy
ngập mặn ven biển Thái Thụy, Thái Bình Phan Thị Bích Hà (2002) [17] đã
nghiên cứu khả năng chuyển cây dừa nước (Nypa fyruticans) từ miền Nam ra
trồng trên một số vùng rừng ngập mặn ở miền Bắc
Kết quả nghiên cứu của Lê Thị Thanh Tĩnh cho thấy cây bần không
cánh (Sonneratia apetala) mang từ Myanmar về trồng ở Việt Nam sau hơn 2
năm vẫn sinh trưởng tốt, tỷ lệ sống cao [25]
Việc chuyển cây ngập mặn từ vùng này tới vùng khác gặp những khókhăn nhất định, cho nên khả năng thành công chưa cao Mặc dù vậy, với mongmuốn tăng tính đa dạng hệ sinh thái rừng ngập mặn miền Bắc Việt Nam, chúng
tôi đã cố gắng di chuyển cây vẹt hainessi (B hainessi) mang từ Myanmar về
trồng ở ở khu vực miền Bắc Việt Nam và theo dõi sinh trưởng cũng như một sốđặc điểm sinh lí và giải phấu của chúng trong thời gian 1 năm
1.3. Nghiên cứu về chi Vẹt (Bruguiera)
Vẹt (Bruguiera) là chi lớn nhất trong họ Rhizophoraceae (Hou, (1958);
Tomlinson, (1986); Hogarth, (1999); Saenger, (2002); Sheue, (2003)) (dẫntheo Duke, Ge (2011) [45] và tất cả 6 loài vẹt phân bố chủ yếu ở rừng ngậpmặn Ấn Độ - Malaysia, Đông Phi, Australia và Tây Thái Bình Dương Loài
vẹt exaritata (Bruguiera exaritata) được tìm thấy ở miền Bắc Australia và
Nam New Guinea (Hou, 1958), năm loài vẹt còn lại có thể tìm thấy được ởMalaysia
Dựa vào kích thước hoa và các tác nhân thụ phấn nhiều tác giả đã chia chivẹt thành hai nhóm: nhóm có kích thước lớn, hoa cong và tác nhân thụ phấn là
Trang 21chim (B gymnorhiza, B sexangula, B exaritata, B hainesii); nhóm còn lại nhỏ, hoa thẳng đứng, thụ phấn nhờ côn trùng (B cylindrica, B parviflora) [62].
Các nghiên cứu về phân loại, phân bố, cấu tạo giải phẫu và sinh thái
của chi vẹt (Bruguiera) đã được nhiều tác giả quan tâm và nghiên cứu, như
Sheue, Yong và Yang (2005) đã mô tả hình thái, môi trường sống, phân bốcác loài vẹt có ở Singapore và lập khóa phân loại năm loài vẹt này [42] WanJuliana và cs (2014) [61] cũng nghiên cứu về sự phân bố và độ hiếm gặp củacác loài họ đước (trong đó có các loài thuộc chi Vẹt) phân bố tại bán đảoMalaysia
Sự đa dạng và phân bố của các loài của chi Vẹt trong Quần đảoTambelan, biển Natuna, Indonesia cũng được Setyawan và cs (2012) [56]nghiên cứu. B gymnorrhiza mọc trên năm hòn đảo, trong khi B sexangula chỉ
thấy mọc trên một đảo B gymnorrhiza có khả năng sinh trưởng và phát triển được trong điều kiện nghiên cứu là sự kết hợp việc tái tạo, cạnh tranh và sự thích ứng của B gymnorrhiza Cả hai hai loài đều phân bố trên vùng triều
ngập từ trung đến cao; phát triển tốt trên cát trắng hoặc trầm tích bùn
Những năm gần đây nghiên cứu về di truyền giữa các loài trong chi vẹtcũng được nhiều nhà khoa học chú ý và nghiên cứu Ge (2001), Ge và cs(2004) [46] đã nghiên cứu sơ bộ về sự đa dạng di truyền ba quần thể vẹt
(Bruguiera) ở Trung Quốc, biến dị di truyền và mối quan hệ của các loài
trong chi vẹt, thử nghiệm về sự lai tạo giống giữ các loài vẹt Duke, Ge (2011)
[45] đã nghiên cứu di truyền, mô tả đầy đủ ba loài vẹt (B exaristata, B gymnorhiza, B sexangula) và loài vẹt lai (B gymnorhiza x B sexangula) và
đưa ra kết luận về mối quan hệ phát sinh loài trong chi vẹt
Sahoo và cs (2007) [53] phân tích, nghiên cứu DNA và RAPD đã đượcthực hiện nhằm tìm ra mối quan hệ phát sinh của bốn loài trong chi Vẹt tạirừng ngập mặn Bhitarkanika, Orissa, Ấn Độ Kết quả phân tích bộ nhiễm sắc
Trang 22thể lần lượt ở các loài là 2n = 34 (B cylindrica) và 2n = 36 (B gymnorrhiza)
và 2n = 34 (B parviflora và B sexangula) Ở Việt Nam, Võ Thị Xuân Dung
đã bước đầu tiến hành nghiên cứu các đặc điểm hình thái giải phẫu các loài
của chi Vẹt (Bruguiera) sống trong rừng ngập mặn [3].
Trên thế giới chưa có nhiều nghiên cứu về loài vẹt hainesii (B hainesii), chỉ có một số tác giả quan tâm và nghiên cứu đến sự phân bố, mô tả
đặc điểm cấu tạo của loài này Duke, Ngoc Nam và cs (2010) [44] đã nghiêncứu sự phân bố, quá trình sinh sản và nguy cơ tuyệt chủng của vẹt hainesii,nhóm tác giả thấy rằng đây là một loài sinh trưởng chậm, phân bố phân tán vànguy cơ tuyệt chủng rất cao, hiện nay chỉ tìm thấy khoảng trên 200 cá thểtrưởng thành
Bên cạnh đó, vẹt dù (B gymnorrhiza) rất được các tác giả và các nhà
nghiên cứu quan tâm Khi nghiên cứu ảnh hưởng của thời gian ngập úng trên
tăng trưởng và phản ứng sinh lý của hai loài cây ngập mặn Bruguiera gymnorrhiza và Kandelia candel đã được thực hiện bởi Ye và cs (2002) [65] Tốc độ tăng trưởng tương đối của B gymnorrhiza giảm đáng kể trong thời
gian ngập nước, tốc độ tăng trưởng cao nhất đạt được trong điều kiện ráonước và thấp nhất trong điều kiện ngập úng 12 tuần Năm 2003 nhóm tác giả
Ye và cs (2003) [64] cũng tiếp tục nghiên cứu phản ứng sự tăng trưởng và
sinh lý của hai loài cây ngập mặn Bruguiera gymnorrhiza và Kandelia candel
với nước thải chăn nuôi
Sudirman và cs (2014) [54] đã thực hiện nghiên cứu nhằm xác định cácsản phẩm, hợp chất có hoạt tính sinh học và chất chống oxy hóa từ trụ mầm
vẹt dù (B gymnorrhiza) được tách chiết bằng methanol Kết quả thu được
hàm lượng carbohydrate cao là 29,28%, 66,39% nước, 2,11% protein, 1,07%chất béo và 1,15% chất khô Năng suất trụ mầm già lớn hơn trụ mầm non vớigiá trị 9,94% và 6,83%, tương ứng trụ mầm già có một chất chống oxy hóa
Trang 23hoạt động hiệu quả hơn (13,47 ppm) so với trụ mầm non (81,60 ppm) và đượcxem như là một chất chống oxy hóa rất mạnh (IC50 <50 ppm).
Trang 24Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, THỜI GIAN, PHƯƠNG PHÁP
VÀ ĐIỆU KIỆN TỰ NHIÊN KHU VỰC NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Trụ mầm vẹt hainesii (Bruguiera hainesii G.G Rogers) được nhập từ
Myanmar vào Việt Nam và gieo trồng tháng 4/2014 Sau khi mọc, cây conđược chuyển từ bầu ra trồng ngoài thực địa, các ô thí nghiệm được đặt tạitrạm Nghiên cứu Rừng ngập mặn (MERS) thuộc xã Giao Lạc Chúng tôi tiếnhành các nghiên cứu trên đối tượng cây con: từ khi nảy mầm đến 1 năm tuổi
Khoá phân loại một số loài thuộc chi Vẹt (Bruguiera) theo tác giả
Tomlison (1999) [62]
1 Hoa đơn độc, hoa cong, dài 2-3 cm, đài có khoảng 13 thuỳ, lõm giữacác thuỳ cánh hoa trống hoặc có lông tiết không mở rộng đến thuỳ cánh hoa.Quả mập có đường kính 0,5- 2 cm Loài có hoa lớn thụ phấn nhờ chim
……… ………2
2 Cụm hoa có từ 2 đến 6 hoa, hoa nghiêng hoặc thẳng đứng, dài 1-1,5
cm đài có khoảng 8 thuỳ, lõm giữa các thuỳ luôn luôn có dãy lông tiết mởrộng đến thuỳ Quả thon với đường kính 0,4-0,8 cm Loài có hoa nhỏ, thụphấn nhờ sâu bọ ……… ………….4
Loài hoa lớn:
2A Lá hình ovale kích thước 5-9 × 3-4 cm Hoa dài 2-2,5 cm, xanh lụcnhạt Cánh hoa dài 9-11 cm không có lông cứng ở lõm giữa các thuỳ cánh hoa
……… ……… B exaristata Ding Hou
2B Lá hình thuôn-ellip, kích thước 10 - 20 × 5 - 7 cm; thường dài hơn 10cm; hoa dài 3 - 4 cm, màu đỏ Cánh hoa dài 12 - 15 cm với một lông cứng ởtrong lõm giữa các thuỳ……… 3
3A Chóp cánh hoa tù, không có phần phụ dạng sợi
………B sexangula (Lour.) Poir
Trang 253B Chóp cánh hoa nhọn, kéo dài thành phần phụ 3 dạng sợi ………
B gymnorrhiza (L.) Lamk Loài hoa nhỏ:
4A Thuỳ đài mảnh, ngắn hớn 3 mm bằng ¼ đến 1/5 chiều dài của đài,mảnh hoặc hơi hướng xa phía quả Cánh hoa dài 1,5 đến 2 cm ………
B parviflora Wight & Arn.
4B Thuỳ đài mập, dài hơn 3 mm, bằng nửa chiều dài của đài, nganghoặc ôm quả 5
5A Hoa dài 10-112 mm, cánh hoa dài 3-4 mm, đường kính miệng ốngđài 2 mm, có 8 thuỳ và hoàn toàn cong lên về phía quả…………
1 Hoa đơn độc, cánh hoa dài hơn 12 mm, đài có 10-14 thuỳ
1A Ống đài hầu như đỏ đến hồng; các đỉnh của thuỳ có 3 lông cứngdài 2-3 mm, trụ mầm dài 15-25 cm, lông tiết trong lá kèm 12-14 dãy
……… B gymnorrhiza
1B Ống đài màu vàng, chóp của mỗi thuỳ cánh hoa không có hoặc có1-2 lông cứng ngắn hơn 1,2 mm; trụ mầm dài 6-8 cm; có 3-5 dãy lông tiếtphía bên trong của lá kèm ……… ………
B sexangula
2 Cụm hoa có từ 2-8 hoa, cánh hoa ngắn hớn 8 mm, 7-10 thuỳ đài.2A Thuỳ đài ngắn hơn 2,5 mm, cánh hoa ngắn hơn 2 mm, lá thuôn -elipp, tỉ lệ dài/rộng bằng 2,5 đến ………
B parviflora
Trang 262B Thuỳ đài dài hơn 5 mm, cánh hoa dài hơn 3 mm; lá từ ovale đếnthuôn dài với tỉ lệ dài/rộng bằng 2-2,5 3
3A Ống đài xanh lục nhạt, trơn, có 8 thuỳ, cong lên về phía quả, gân lá
8, khô có màu xanh ……….…
B cylindrica
3B Ống đài có màu từ đỏ hồng đến xanh lục, hơi gợn sóng đến gầnthuỳ, thuỳ đài thường 10, nằm vuông góc với quả; lá có 9 -11 gân, khi khô có
màu nâu B hainesii
Vẹt hainesii (Bruguiera hainesii) là loài rất hiếm có phân bố hẹp và
thưa thớt Hiện nay có khoảng hơn 200 cá thể trưởng thành còn lại (3 cây ởSingapore, 80 cây ở Malaysia, 120 cây ở Papua New Guinea) Đây là loàiđược liệt kê vào danh sách có nguy cơ tuyệt chủng cao và cần có các nghiêncứu xác định số lượng cá thể loài này tại Thái Lan, Indonesia, Myanmar,Philippines, Việt Nam [44]
Đây là loài thường phân bố ở khu vực cửa sông, khu vực bãi triều cao
Nó là loài sinh trưởng chậm, tỷ lệ nảy mầm của trụ mầm thấp Phải mất 18tháng để hoàn thành quá trình sinh trưởng từ trụ mầm thành cây trưởng thành,cây trưởng thành có thể cao tới 30 m [44] Cây trưởng thành có rễ bạnh ởphần giáp gốc thân cây, các rễ này còn mọc ở sâu và lan rộng trong lòng đấtgiúp cây đứng vững trên nền đất không ổn định, ngoài ra còn có các rễ khísinh tỏa ra trên mặt đất giúp cây thở Cũng giống như các loài khác trong chi
Rhizophoraceaae, B hainesii dựa vào gốc rễ để loại bỏ lượng muối lớn đã
xâm nhập vào cây thông qua quá trình siêu lọc Đây là loài phán tán nhờnước, trụ mầm trôi theo dòng nước trong một vài tuần theo chiều ngang, sau
đó phần dưới trụ mầm (gốc cây) ngấm nước và nặng hơn phần trên Khi nướctriều rút xuống, các trụ mầm sẽ trôi theo chiều dọc và chìm xuống bùn hoặcchất nền thích hợp và sinh trưởng thành cây con [44]
Trang 27Vẹt dù (Bruguiera gymnorrhia) thường được tìm thấy ở các vùng bãi
triều như các bãi bồi ở cửa sông, rừng ngập mặn ngoài ra ở phương Đông loàinày cũng được tìm thấy chúng mọc trên đất đen bên ngoài của khu vực bãitriều nhưng luôn luôn gắn liền với bờ biển [45]
Cây gỗ nhỡ và nhỏ có thể cao tới 30 m Vỏ nâu đen, nứt dọc Quanhgốc nhiều rễ chống hình nơm có khi cao trên 2 m Lá đơn mọc đối hình tráixoan, ngọn giáo, đầu và đuôi nhọn dần, mặt trên nhẵn, gân giữa màu đỏ nhạt,gân bên 9 – 10 đôi nổi rõ ở mặt dưới Cuống lá thô, dài 2 – 3 cm Lá kèm nhỏ,hình dải, sớm rụng Hoa mọc lẻ ở nách lá, thường thõng xuống Đài màu đỏhình chuông, có 10 – 14 thùy sống dai hơn quả Tràng hoa mỏng, màu trắng 4– 5 cánh, cánh tràng xẻ sâu thành 2 thùy, nách thùy có một lông dài, đỉnh mỗithùy có 3 – 4 lông cứng Nhị gấp đôi số cánh hoa, bao phấn hình giải, mở lỗ.Bầu 3 ô Quả có ống đài bao bọc Thân mầm hình trụ, dài 15 – 25 cm [46]
Về đặc tính sinh học và sinh thái học: Cây mọc chậm, ra hoa tháng 5 –
11, cây non rụng lá tháng 12 – 1, ưa sáng, mọc trên bãi bồi có bần, mắm vàđước cố định, khả năng tái sinh chồi kém [46]
2.2 Thời gian nghiên cứu
Theo dõi sự sinh trưởng của cây vẹt hainesii và cây vẹt dù con trồngngoài thực địa ở các ô thí nghiệm từ ngày 23/4/2014 đến ngày 23/4/2015
Nghiên cứu về hàm lượng diệp lục, khả năng quang hợp, hàm lượngcác ion, sinh khối trên mặt đất của lá tiến hành vào tháng 5/2015
Nghiên cứu về sinh trưởng chiều cao, đường kính thân và số lượng láđược tiến hành 12 tháng từ tháng 4/2013 đến tháng 4/2015 trong thời giannghiên cứu này chúng tôi đã tiến hành phân tích các chỉ tiêu, đo và ghi lại sốliệu 1 – 2 lần/tháng
Trang 282.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Cách bố trí thí nghiệm
Để nghiên cứu khả năng sinh trưởng và một số đăc điểm giải phẫu, sinh
lí của vẹt hainesii nhập nội và vẹt dù nội địa, chúng tôi đã bố trí trồng thínghiệm ở tại vườn thực vật của Trạm nghiên cứu Rừng ngập mặn (MERS)thuộc xã Giao Lạc với 3 ô thí nghiệm:
- Ô thí nghiệm 1: trồng 27 cây vẹt hainesii trụ mầm nhập từ Myanmar,khoảng cách giữa các cây là 40 × 40 cm
- Ô thí nghiệm 2: trồng 63 cây vẹt dù trụ mầm lấy từ Nam Định,khoảng cách giữa các cây là 40 × 40 cm
- Ô thí nghiệm 3: trồng 45 cây vẹt dù trụ mầm lấy từ Quảng Ninh,khoảng cách giữa các cây là 40 × 40 cm
Các ô thí nghiệm được trồng ở cùng vị trí, các thí nghiệm trên các ôtiến hành ở các điệu kiện như nhau và cùng thời điểm
2.3.2 Phương pháp phân tích mẫu đất, mẫu nước và đo độ mặn
+ Lấy mẫu và phân tích các chỉ số lý, hoá của đất
Tiến hành lấy mẫu đất 2 lần tại khu vực nghiên cứu vào tháng 10/2014
và tháng 3/2015 Mẫu đất được lấy ở độ sâu 0 - 30 cm so với bề mặt đất.Phương pháp lấy mẫu dựa theo hướng dẫn trong tài liệu của Lê Văn Khoa và
cs (1996) [15]
Phân tích các chỉ tiêu trong đất như: pH, Nitơ tổng số và dễ tiêu, P2O5
tổng số và dễ tiêu, K2O tổng số và dễ tiêu, Ca2+, Mg2+, Na+,C1+, SO42+, tổngmuối tan, thành phần cơ giới
Mẫu đất được phân tích tại Viện Quy hoạch và Thiết kế nông nghiệp
Trang 29Bảng 2.1 Các phương pháp phân tích một số tính chất của đất
2.3.3 Phương pháp theo dõi tỷ lệ nảy mầm của trụ mầm và tỷ lệ sống của cây thí nghiệm
Trụ mầm sau khi trồng trong bầu, được theo dõi thường xuyên Khi đôi
lá thứ nhất mở ra hoàn toàn, trụ mầm được cho là đã nảy mầm và phát triểnthành cây hoàn chỉnh Tỷ lệ nảy mầm được tính theo tỷ lệ phần trăm
Số trụ mầm đã nảy mầm
Tổng số trụ mầm
2.3.4 Phương pháp theo dõi khả năng sinh trưởng
Sau khi trụ mầm phát triển thành cây con hoàn chỉnh, thường xuyêntheo dõi và kiểm tra khả năng sống của cây con Khi lá cây con có hiện tượnghéo và rủ xuống hoặc thân cây khô được coi là chết
Trang 302.3.6 Phương pháp xác định hàm lượng diệp lục trong lá
Hàm lượng sắc tố được xác định theo phương pháp của Hall and Rao(1999) [48]
Dùng khoan mẫu lá có đường kính 10 mm để lấy mẫu lá, sử dụng 3mảnh lá cắt lấy từ các vị trí khác nhau trên lá Ba mảnh lá ở vị trí tương tựtrên cùng lá được sử dụng để cân khối lượng khô Các mẫu lá đều được lấy ởcặp lá thứ 3 tính từ ngọn Các mẫu lá được bảo quản trong dung dịch axeton80% ở điệu kiện lạnh Mỗi ô thí nghiệm phân tích 5 mẫu lá
Nghiền mẫu lá tươi với dung dịch axeton 80%, tạo thành hỗn hợp đồngthể Sau đó dùng máy ly tâm lạnh để ly tâm ở tốc độ 5000 vòng/phút trongthời gian 15 phút Loại bỏ cặn thu dịch Sau đó dịch chiết diệp lục được đem
đo mật độ quang học ở hai bước sóng 647 nm và 664 nm
Hàm lượng diệp lục có trong 1 gam lá tươi được tính theo công thức:
Ca (mg/ l) = 12,7.A664 – 2,69.A647
Cb (mg/ l) = 22,9.A664 – 4,68.A647
Ca +b (mg/ l) = 8,02.A664 + 20,1.A647
Ca : là nồng độ diệp lục a có trong dịch chiết (mg/l)
Cb : là nồng độ diệp lục b có trong dịch chiết (mg/l)
Trang 31Ca+b : là nồng độ diệp lục a+b có trong dịch chiết (mg/l)
lá hiện có trên cây
2.3.8 Phương pháp xác định hàm lượng một số ion trong lá
Mẫu lá được phân tích tại Viện Hoá và Viện Quy hoạch - Thiết kế nôngnghiệp, cách tiến hành như sau:
- Lá phơi khô, sấy ở 105ºC, sau đó nghiền nhỏ, đem cân và tro hoá.Tiến hành phân tích hàm lượng tổng số của từng ion Na+, K+, Cr, SO42+ trong
lá già và lá non
- Hàm lượng ion Na+/K+ tổng số được xác định bằng phương pháp đohấp thụ nguyên tử
2.3.9 Phương pháp nghiên cứu cấu tạo giải phẫu lá
Để nghiên cứu cấu tạo giải phẫu của lá của cây vẹt hainesii và vẹt dùchúng tôi đã sử dụng các phương pháp cắt, nhuộm tế bào thực vật và đo dướikính hiển vi dựa trên các tài liệu hướng dẫn của tác giả Nguyễn Bá (1962) [2].Các bước tiến hành như sau:
- Làm tiêu bản hiển vi:
+ Lấy mẫu lá và rễ sau đó cố định mẫu bằng dung dịch cồn 50%
+ Tiến hành cắt và nhuộm các lát cắt theo phương pháp nhuộm kép
- Quan sát mẫu vật dưới kính kiển vi để xác định kích thước các thànhphần cấu tạo của lá cây
- Ghi lại hình ảnh quan sát được bằng máy ảnh kỹ thuật số kết nối với
Trang 32Xã Giao Lạc có diện tích 840,7 ha, nằm ở toạ độ địa lí 20º 13’ – 20º15’
vĩ độ Bắc, 106º 15’ – 106º 33’ kinh độ Đông, phía bắc giáp xã Giao Xuân,phía đông giáp biển
Diện tích rừng ngập mặn của xã Giao An chiếm gần 400 ha Do nằmgiữa vùng cửa sông Hồng và cửa sông Ninh Cơ, hệ thống rừng ngập mặn ởđây hàng năm tiếp nhận được một lượng lớn phù sa do hai con sông mang tới(114 triệu tấn/năm), nên địa hình ở đây tương đối bằng phẳng, ít cồn cát, lớptrầm tích phù sa dày
Trang 3329,4ºC, tháng có nhiệt độ trung bình thấp nhất là tháng 1 (16,5ºC) Lượng mưatổng số hàng năm là 1759,9 mm, độ ẩm trung bình hàng năm là 85% [36]
Vùng này chịu ảnh hưởng của 2 loại gió là gió mùa và gió biển Do vịtrí địa lí nằm ở cửa sông ven biển nên vùng Giao Thuỷ thường chịu ảnhhưởng của bão và áp thấp nhiệt đới
Theo số liệu của Trạm khí tượng thuỷ văn Nam Định năm 2014, 2015,nhiệt độ trung bình hàng năm từ 23 – 24ºC Những tháng vào mùa hạ nhiệt độtrung bình từ 27 – 28ºC Mùa đông, nhiệt độ trung bình từ 16 – 18ºC Tổnglượng mưa hàng năm từ 1700 – 2000 mm Độ ẩm trung bình hàng năm là
85% Sự biến động nhiệt độ, độ ẩm, tổng lượng mưa trung bình, số giờ nắng
qua các tháng nghiên cứu như sau:
Bảng 2 2 Sự biến động nhiệt độ, độ ẩm, tổng lượng mưa trung bình,
số giờ nắng qua các tháng nghiên cứu Tháng Nhiệt độ
TB (ºC)
Lượng mưa (mm)
Giờ nắng (giờ)
Độ ẩm (%)
(Nguồn:Trung tâm khí tượng thuỷ văn 2014; 2015) [28], [29]
Qua số liệu bảng 2.2, chúng tôi thấy trong thời gian nghiên cứu, sự biếnđộng của các yếu tố khí hậu có một số điểm nổi bật nhiệt độ, lượng mưa, độ
ẩm thay đổi theo mùa và mang những nét đặc trưng của vùng đồng bằng venbiển Bắc bộ nước ta
Trang 34Nhiệt độ là yếu tố thể hiện và thay đổi rõ rệt nhất theo mùa, nhiệt độcao ở các tháng 6, 7, 8 là thời gian mùa hè trong năm, đạt cao nhất ở tháng8/2014 (29,2ºC) Nhiệt độ trung bình giảm mạnh vào các tháng 12/2014 vàtháng 1, 2/2015 là các tháng mùa đông ở nước ta và giảm thấp nhất trong nămvào các tháng 12/2014 và tháng 1, 2/2015 (16 – 17,8ºC).
Hình 2.1 Nhiệt độ trung bình các tháng trong thời gian nghiên cứu
(4/2014 – 4/2015)
Do nằm sát bờ biển nên độ ẩm không khí cao, độ ẩm trung bình nămđạt 85% Độ ẩm phân bố không đồng đều trong các tháng, phụ thuộc vào từngmùa và chế độ mưa Tháng có độ ẩm cao nhất là tháng 4/2015 (90%), thấpnhất vào tháng 11/2014 (80,5%).Tổng lượng mưa trung bình năm là 1843
mm Mưa tập trung chủ yếu vào các tháng 6, 7, 8, 9 và tháng 9/2014 đạt giátrị cao nhất (320 mm) và thấp nhất vào tháng 1/2015 (20 mm) Vào mùa mưa
số giờ nắng cao hơn so với mùa khô, nắng nóng kèm theo mưa nhiều sẽ tạođiều kiện thuận lợi cho cây trồng sinh trưởng và phát triển
Trang 35Hình 2.2 Lượng mưa trung bình các tháng trong thời gian nghiên cứu (4/2014 – 4/2015)
Sự biến động các yếu tố khí hậu trong thời gian nghiên cứu có sự bấtthường so với hàng năm Năm 2014, mùa mưa bắt đầu sớm hơn một tháng sovới hàng năm, kéo dài tới 4 tháng (tháng 6, 7, 8, 9) và tổng lượng mưa đạt caonhất vào tháng 9, trong khoảng thời gian này cũng là nhưng tháng có nhiệt độcao nhất trong năm đây là khoảng thời gian thuận lợi để cây phát triển và cótốc độ tăng trưởng nhanh
2.3.13 Thuỷ văn
Thông qua các nhân tố như mức độ ngập và thời gian ngập, thuỷ triều
có tác động trực tiếp lên thực vật Ngoài ra, thuỷ triều còn ảnh hưởng đến kếtcấu, dinh dưỡng và độ mặn của đất qua đó ảnh hưởng đến sự sinh trưởng vàphát triển của cây ngập mặn Theo Nguyễn Hoàng Trí (1999) [30], đất vùngrừng ngập mặn do bị ngập nước triều, thường có hàm lượng nước cao, oxythấp, độ mặn cao, thể nền lầy nhão
Mức độ ngập triều và thời gian ngập triều bị chi phối bởi các yếu tốnhư chế độ thuỷ triều, địa hình, tốc độ dòng chảy, hướng gió, kết cấu của đất,
sự thoát nước của đất Theo Phan Nguyên Hồng và cộng sự (1999) [12],
Trang 36những loài cây tiên phong có khả năng thích nghi với độ ngập triều sâu, thờigian kéo dài, độ mặn cao và đất bùn lỏng nhờ cấu trúc đặc biệt của bộ rễ hôhấp, rễ trong đất thu nhận và dự trữ được nhiều oxy chịu ngập trong thời giandài, tuyến tiết muối ở lá (mắm, ôrô) hoặc tập trung muối vào lá già (bần, vẹt).
Giao Thuỷ là vùng tiếp giáp với biển, nằm kẹp giữa hai cửa biển Ba Lạt
và Hà Lạn nên hệ thống dòng chảy thuỷ chế của các sông rất phức tạp Sựphân bố lưu lượng nước không đều theo mùa, 75 – 80% tổng lượng nước đem
ra biển vảo mùa mưa Hàng năm có khoảng 1721.106 tấn phù sa (chiếm33,95% tổng lượng) qua cửa Ba Lạt Biển Giao Thuỷ có chế độ nhật triềuđều Mực nước biển và độ mặn ven bờ thay đổi tuỳ theo chế độ thuỷ triều vàtheo mùa trong năm
2.3.14 Đặc điểm trồng rừng
Hầu hết rừng ngập mặn tự nhiên tại xã Giao Lạc đã bị chặt phá từ trướcnhững năm 1990 – 1991 Hiện nay, rừng ngập mặn ở đây chủ yếu là rừng trangđược trồng tại các thời kì khác nhau từ năm 1997 – 2000, trừ một số diện tíchnhỏ được các chủ đầm nuôi tôm trồng từ 1994 Theo số liệu của Hội Chữ thập
đỏ xã Giao Lạc, năm 1997 trồng được 165 ha, năm 1998 trồng được 100 ha,năm 1999 và năm 2000 trồng diện tích rừng ngập mặn lần lượt là 61 ha và 21
ha Như vậy, cây ngập mặn chính được trồng tại đây là cây trang (Kandelia obavata Sheue, Liu & Yong), ngoài ra còn trồng xen lẫn bần chua (Sonneratia caseolaris) và đước vòi (Rhizophora stylosa) nhưng với số lượng ít hơn.
Trang 37Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BIỆN LUẬN
3.1. Đặc điểm thành phần thổ nhưỡng, độ cao thể nền và độ mặn của nước khu vực nghiên cứu
3.1.1 Thành phần thổ nhưỡng
Thành phần một số chất và cấp hạt đất là các chỉ tiêu ảnh hưởng đếnkhả năng sinh trưởng của thực vật Các tính chất này của đất cũng chịu ảnhhưởng của độ mặn nước tại khu vực đó Kết quả nghiên cứu về tính chất lý,hóa của đất tại khu vực nghiên cứu được thể hiện ở bảng 3.1
Bảng 3.1 Kết quả phân tích đất tại địa điểm nghiên cứu
Trang 38Độ pH có ảnh hưởng đến cường độ, chiều hướng các phản ứng hóa lý,sinh hóa trong đất Nhìn chung tại khu vực nghiên cứu cả về mùa mưa lẫnmùa khô có pH hơi axit (pH = 6,43 – 6,78), so sánh kết quả nghiên cứu củaĐào Văn Tấn (2003) cùng khu vực thì độ pH (pH = 7,5 – 7,8) năm 2003 thì
pH của đất hiện nay đã giảm đáng kể [23]
Theo phân loại thành phần cơ giới đất được cải biên của Trần KôngTấu (2000) [24] thì đất tại khu vực nghiên cứu thuộc loại đất nặng (có hàmlượng sét vật lý cấp hạt nhỏ hơn 0,02 chiếm trên 80%)
Hàm lượng mùn trong đất là chỉ tiêu quan trọng để đánh giá độ phìnhiêu của đất Theo Lê Văn Khoa và cs [15] thì hàm lượng, thành phần mùntrong đất quyết định hình thái và các tính chất lý hóa, độ phì của đất Ngoài rahàm lượng mùn và tỷ lệ thành phần sét trong đất có liên quan đến khả năngchống chịu của thực vật Nói chung, đất khu vực nghiên cứu thuộc loại nghèomùn vào mùa mưa (1,266%) và mùa khô hàm lượng mùn có giảm nên đấtthuộc loại rất nghèo mùn (0,914%) So sánh nhận xét này với kết quả của ĐàoVăn Tấn (2003) cùng vị trí nghiên cứu hàm lượng mùn thời điểm đó là (1,68– 3,25%) thì thổ nhưỡng tại vị trí nghiên cứu có hiện tượng cát hóa Vì vậyđất bãi bồi ven sông Hồng thuộc khu vực thường có hàm lượng mùn thấp
Bên cạnh mùn, dinh dưỡng khoáng và thành phần nitơ đóng vai trò đặcbiệt quan trọng trong đời sống thực vật Theo Vũ Văn Thụ và cs (1997) (ĐàoVăn Tấn dẫn) [23] thì điều kiện dinh dưỡng khoáng và nitơ là một trongnhững nhân tố chi phối hiệu quả nhất quá trình sinh trưởng và phát triển củathực vật Trong đất tại khu vực nghiên cứu hàm lượng nitơ tổng số thuộc loạitrung bình (1,101% và 1,124% > 1%) và nitơ dễ tiêu loại nghèo (0,84 mg/100g và 1 mg/ 100g < 4 mg/ 100g) Ngược lại, hàm lượng P2O5 tổng số (P2O5
tổng số 0,142% và 0,161% > 0,08%) tại khu vực nghiên cứu thuộc mức giàu.Vào mùa mưa, mặc dù hàm lượng khoáng có giảm hơn so với mùa khô nhưnghàm lượng khoáng khu vực này vẫn thuộc mức cao
Trang 39Độ mặn của đất được thể hiện thông qua hàm lượng của ion Na+ cótrong đất, trong đất tại khu vực nghiên cứu hàm lượng Na+ (5,677 - 5,71 meq/
100g) giảm mạnh chỉ còn khoảng 55% so với nghiên cứu trước đây tại vị trí
nghiên cứu [23] (10,3 – 10, 36)
Kết quả nghiên cứu này của chúng tôi cũng phù hợp với nghiên cứu củacác tác giả khác do vị trí địa lí, lại chịu ảnh hưởng của chế độ thuỷ triều vàlưu lượng nước sông Hồng nên thổ nhưỡng ở vùng Giao Lạc nói riêng vàGiao Thuỷ nói chung có những đặc điểm riêng: đây là vùng đất mới hìnhthành do phù sa bồi đắp, đất chưa phân hoá rõ rệt, còn giữ nguyên tính chấtcủa lớp đất mới bồi tụ: có nhiều lớp đất xen kẽ nhau, càng xuống sâu thànhphần cơ giới càng nhẹ, pH, nồng độ các khí hoà tan và muối dinh dưỡng trongđất luôn biến đổi Nền đáy bao gồm bùn lẫn sét và cát mịn Phía trong rừng,nền đáy còn được phủ một lớp xác thực vật tạo nên lớp bùn hữu cơ [14], [23]
3.1.2 Độ mặn của nước
Độ mặn của nước là một nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến sinh trưởng
và phát triển của thực vật Độ mặn của nước cũng ảnh hưởng đến thành phần
và tính chất của đất Ở khu vực biển và vườn nghiên cứu độ mặn thay đổi theomùa cho kết quả ở Bảng 3.2
Bảng 3.2 Độ mặn qua các tháng khu vực nghiên cứu
(Chú thích: A độ mặn nước biển, B độ mặn nước khu vực nghiên cứu)
Số liệu trong bảng 3.2 cho thấy ở khu vực nghiên cứu độ mặn thay đổitheo mùa và thay đổi theo thời điểm của thủy triều Vào mùa khô (từ tháng11/2014 đến tháng 4/2015) thường độ mặn rất cao và ngược lại vào mùa mưa(từ tháng 5 đến tháng 9) độ mặn giảm đi rất nhanh Nguyên nhân dẫn đến sựsai khác độ mặn giữa mùa mưa và mùa khô chủ yếu là do lượng mưa Về mùa
Trang 40mưa tổng lượng mưa trong một tháng từ 280 mm đến 320 mm (bảng 2.2),ngược lại về mùa khô giá trị này chỉ đạt từ 20 mm – 45 mm Sự sai khác về
độ mặn này cũng ảnh hưởng tới tốc độ sinh trưởng và phát triển của cây
3.1.3 Độ cao thể nền
Độ cao nền đáy cũng ảnh hưởng đáng kể đến khả năng sinh trưởng củathực vật đặc biệt các loài cây ngập mặn Chúng tôi tiến hành xác định độ cao thểnền thông qua đo mực nước triều tại khu vực nghiên cứu lúc triều cường Sau đódùng phép nội suy dựa vào lịch thuỷ triều để tính độ cao thể nền Độ cao thể nềnđược xác định bằng hiệu mực thuỷ triều và khoảng cách từ thể nền đến mặt nướctriều Chúng tôi tiến hành đo 4 lần khác nhau, tại các thời điểm khác nhau và xác
định đáy khu vực nghiên cứu có độ cao là 271,8 ± 10,98 cm (Bảng 3.3) So với
thể nền năm 2003 [23] cũng tại khu vực nghiên cứu kết quả này, thể nền đã caothêm 43,8 cm Sự nâng cao thể nền này là do khu vực này gần đê và những bãiđất rộng gần đó Ngoài ra quá trình xây dựng đầm nuôi tôm tạo ra một lượngđáng kể trầm tích làm tăng quá trình nâng cao thể nền, đồng thời trong khoảngthời gian 10 năm trở lại đây diện tích đất này đã được trồng cây phủ kín, xácthực vật rơi rụng cũng làm cho thể nền cao lên
Bảng 3.3 Độ cao thể nền khu vực nghiên cứu
3.2 Đặc điểm kích thước, khối lượng của trụ mầm vẹt dù (B.
gymnorrhiza) và vẹt hainesii (B hainesii)
3.2.1 Đặc điểm kích thước, khối lượng của trụ mầm vẹt dù (B gymnorrhiza) và vẹt hainesii (B hainesii)
Khối lượng và kích thước trụ mầm là chỉ tiêu thường dùng để chọn