1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Ý NIỆM SỐNG – CHẾT TRONG CA từ của TRỊNH CÔNG sơn

105 476 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 105
Dung lượng 229,55 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bằng con mắt biếc xanh, yêu tha thiết cõi nhân gian, ông luôn mở hồn mình ra để lắng nghe tiếng đời, quan sát những nhịp di chuyển hối hả của sự sống đang vọng dội quanh mình để chiêm ng

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

TRẦN THỊ VÂN ANH

Ý NIỆM SỐNG – CHẾT TRONG CA TỪ CỦA TRỊNH CÔNG SƠN

Chuyên ngành: Văn học Việt Nam hiện đại

Mã số: 60 22 01 21

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN

Người hướng dẫn khoa học: TS Chu Văn Sơn

HÀ NỘI - 2015

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Em xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc đến TS Chu Văn Sơn - Người thầy đã tận tâm, nhiệt tình chỉ bảo, hướng dẫn em trong suốt quá trình thực hiện luận văn.

Đồng thời, em gửi lời cảm ơn đến Hội đồng khoa học và các thầy cô giáo trong Tổ bộ môn Văn học Việt Nam hiện đại, Ban chủ nhiệm Khoa Ngữ văn, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã tạo điều kiện thuận lợi giúp đỡ em trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài.

Cảm ơn gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã luôn động viên, khích lệ, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian qua để tôi có thể hoàn thành tốt luận văn

Hà Nội, tháng 10 năm 2015

Tác giả

Trần Thị Vân Anh

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu 3

3 Mục đích nghiên cứu và đóng góp của luận văn 8

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 9

5 Phương pháp nghiên cứu 9

6 Cấu trúc luận văn Gồm ba phần 10

NỘI DUNG 11

Chương 1: CA TỪ, Ý NIỆM SỐNG - CHẾT VÀ NHỮNG YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN Ý NIỆM SỐNG - CHẾT CỦA TRỊNH CÔNG SƠN 11

1.1 Giới thuyết về “ca từ” và “thơ ca” 11

1.1.1 Khái niệm “ca từ” 11

1.1.2 Khái niệm “thơ” 13

1.1.3 Mối quan hệ giữa “ca từ”, “âm nhạc” và “thơ” 15

1.2 Giới thuyết về Ý niệm Sống - Chết 18

1.2.1 Giới thuyết về Ý niệm 18

1.2.2 Quan niệm của Phật giáo về Sống - Chết 20

1.2.3 Quan niệm của chủ nghĩa hiện sinh về Sống - Chết 23

1.3 Những nhân tố ảnh hưởng đến ý niệm Sống - Chết của Trịnh Công Sơn 27

1.3.1 Thời đại 27

1.3.2 Gia đình, quê hương 29

1.3.3 Đời sống cá nhân 30

Tiểu kết chương 1 32

Chương 2: Ý NIỆM SỐNG - CHẾT TRONG CA TỪ CỦA TRỊNH CÔNG SƠN, NHÌN TỪ HỆ THỐNG HÌNH TƯỢNG 33

2.1 Sống - Chết là nỗi ám ảnh phổ biến của nhân sinh 33

Trang 4

2.2 Thế giới hình tượng trong ca từ của Trịnh Công Sơn - hiện thân

sống động của sự Sống - cái Chết 42

2.2.1 Khắc khoải về cái Chết 42

2.2.2 Trăn trở về sự Sống 56

2.3 Thực tại Vô thường: Sống - Chết tương tranh miên viễn 70

2.4 Người tình chia sẻ mọi hệ lụy trần gian 74

Tiểu kết chương 2 78

Chương 3: Ý NIỆM SỐNG - CHẾT TRONG CA TỪ CỦA TRỊNH CÔNG SƠN, NHÌN TỪ PHƯƠNG THỨC NGHỆ THUẬT 79

3.1 Khuynh hướng thơ tượng trưng siêu thực 79

3.2 Hệ thống biểu tượng Sống - Chết 84

3.3 Ngôn ngữ giàu suy tưởng triết lí 89

Tiểu kết chương 3 92

KẾT LUẬN 93

TÀI LIỆU THAM KHẢO 96

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

1.1 Trịnh Công Sơn thuộc mẫu nghệ sĩ đa tài mà giới nghiên cứu vẫn định

danh là “ba trong một”: nhạc sĩ - thi sĩ - họa sĩ Nhắc đến ông là người ta nghĩ ngay đến người nghệ sĩ có “tài năng đặc biệt” với những triết lí nhân sinh mang nặng suy

tư của kiếp người Ca từ trong ca khúc của ông vẫn được xem là một dạng thơ đặcbiệt: Thơ trong nhạc Ngôn ngữ nhạc Trịnh có mãnh lực kỳ diệu cuốn hút người

thưởng ngoạn nghệ thuật Nhạc sĩ Văn Cao có viết: “Tôi gọi Trịnh Công Sơn là

người thơ ca (Chantre) bởi ở Sơn, nhạc và thơ quyện vào nhau đến độ khó phân định cái nào là chính, cái nào là phụ.”[1;17] Còn nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo nhận xét:

“anh (Trịnh Công Sơn) chính là một Nhà Thơ đích thực”[15;287] Bởi ca từ của Trịnh Công Sơn: “là những bài thơ hoàn chỉnh kể cả về ý, tứ, cấu trúc, ngôn từ và cảm xúc.

Trịnh Công Sơn không phải là nhà thơ bình thường mà anh là Nhà Thơ vô vùng độc đáo ôm chứa những tư tưởng nhân sinh và thời cuộc với một thư pháp khá riêng biệt trong thơ Việt.”[20;288]

Trong những năm tháng đất nước chìm trong khói lửa chiến tranh, Trịnh Công

Sơn đã ôm đàn đi khắp các nẻo đường để “hát cho dân tôi nghe” Những bản nhạc ấy

đã vượt qua bom đạn để xóa nhòa đi sự thật khủng khiếp của chiến tranh, đã chinhphục hàng triệu con tim thuộc mọi lứa tuổi, mọi ngành nghề và còn vang vọng mãicho tới sau này Nhạc Trịnh không chỉ có sức sống ở trong nước mà còn vượt quabiên giới đến với các quốc gia khác như: Mỹ, Pháp, Nhật, Canađa… Chính nhà văn

Nguyễn Quang Sáng đã nói: “Hơn mười năm qua, đi đâu, bất cứ nơi nào, trong nước

hay ngoài nước, nơi nào có người Việt nam, là nơi đó tôi được nghe bài hát của Sơn.” Không chỉ thế, nhà văn này còn khẳng định: “Hóa ra người ghét Sơn, chống Sơn vẫn không thể không nghe nhạc của Sơn Từ đó có thể nói, nghệ thuật của Trịnh Công Sơn đã vượt qua khỏi sự hằn thù được không?”[9;252] Tiến sĩ triết học người

Đức Frank Gerke đã bày tỏ nỗi buồn vì “gia tài” của Trịnh Công Sơn để lại chưa

Trang 6

được đánh giá đúng mức ở ngay trên đất nước Việt Nam bởi: “Âm nhạc của anh sẽ

xóa nhòa những vết thương nhỏ nhoi và làm nổi lên niềm vui và tình yêu, sẽ làm đẹp cuộc đời” Tài năng của Trịnh Công Sơn còn được bạn bè thế giới khẳng định:

“Nhạc của Sơn đôi khi tôi không hiểu hết lời nhưng thấy quyến rũ, nhẹ nhõm Khi

nào giận trong người nghe nhạc Trịnh Công Sơn thấy mình hiền hòa trở lại.”[9;459]

(Kikumi Kakamura)

Sự nghiệp nghệ thuật của Trịnh Công Sơn không chỉ được xem là một gia sảncủa âm nhạc mà còn được xem là một gia tài của văn chương Vì thế, nó là một phầnquan trọng trong di sản to lớn của ông, góp phần làm nên vị trí vinh quang của tác giảnày trong nền văn hóa Việt

1.2 Ca từ của Trịnh Công Sơn từ lâu đã trở thành đối tượng nghiên cứu củagiới học thuật văn chương Khi nói về ca từ nhạc Trịnh Công Sơn nhà thơ Nguyễn

Duy cho rằng: “Ca từ của Trịnh Công Sơn quả là thơ thật, và hay thật, chữ nghĩa

lờ mờ, bảng lảng hồn vía và thi tứ Một thi sĩ tài ba.”[22;239] Nhạc sĩ Phạm Duy

đánh giá: “…ngôn ngữ trong nhạc Trịnh Công Sơn rất mới, quyến rũ như cơn mưa

hồng, thưở hồng hoang, dấu địa đàng, cánh vạc bay…”[4;55] Bởi vậy, đã có rất

nhiều công trình từ những bài báo cho đến các chuyên luận, từ những luận văn tốtnghiệp bậc cử nhân đến luận án thạc sĩ, tiến sĩ đã khảo về ca từ Trịnh Công Sơn.Rất nhiều vấn đề tư tưởng và nghệ thuật trong đó đã được đặt ra nghiên cứu Nhiềugiá trị đã được khám phá, minh định Tất nhiên, không phải mọi giá trị đã bị vắtkiệt

1.3 Ý niệm về Sống - Chết là một phần quan trọng trong tư tưởngTrịnh Công Sơn được thể hiện phổ biến trong ca từ của ông Nó quy địnhnhãn quan về nhân sinh cũng như khuynh hướng nghệ thuật của người nghệ

sĩ Có thể nói, đó là một ngọn nguồn sáng tạo lớn đã làm nên những đặc sắccủa nghệ thuật Trịnh Công Sơn Đến nay vẫn chưa có một công trình đặt ra đểnghiên cứu một cách trực diện và toàn diện vấn đề này Vì thế luận văn chọn

“Ý niệm sống - chết trong ca từ Trịnh Công Sơn” làm đối tượng nghiên cứu

Trang 7

của mình, với mong muốn góp một tiếng nói nhỏ vào việc tìm hiểu khám phá

sự nghiệp to lớn của tác giả này

2 Lịch sử nghiên cứu

2.1 Những công trình nghiên cứu về Trịnh Công Sơn

Trịnh Công Sơn - người “đã vắt cạn tình yêu cho đời” (Thanh Tùng) là

một trong những hiện tượng được đông đảo giới nghiên cứu quan tâm và tìmhiểu không chỉ ở lĩnh vực âm nhạc mà còn ở hội họa và thơ ca Đây cũng là một

nhạc sĩ để giới nghiên cứu, phê bình vẫn tiếp tục “cày xới” về ông Sau khi người nhạc sĩ này “ngừng suy nghĩ” thì đã có rất nhiều công trình nghiên cứu công phu

về ông như:

Cuốn sách ra đời đầu tiên viết về người nhạc sĩ vừa quá cố là Trịnh Công

Sơn - Một người thơ ca, một cõi đi về do Nguyễn Trọng Tạo, Nguyễn Thuỵ Kha,

Đoàn Tử Huyến sưu tầm và biên soạn (Nxb Âm nhạc, Trung tâm văn hoá ngôn

ngữ Đông Tây, 2001) Sau đó cuốn sách này được bổ sung, biên soạn và tái bản

với tựa đề Một cõi Trịnh Công Sơn (Nxb Thuận Hoá, 2004), có rất nhiều người

khẳng định tài năng văn học hay khả năng sử dụng ngôn ngữ trong ca từ của

Trịnh Công Sơn Nhạc sĩ Phó Đức Phương không ngần ngại cho rằng: “Trong

thế kỷ đầy biến động gian truân của lịch sử nước ta, ở một miền dông bão nào

đó xuất hiện một gương mặt và đã trở thành gương mặt của thế kỷ Đó là Trịnh Công Sơn.”[10;460] Tiếp theo, lần lượt được phát hành là các sách tập trung các

bài viết của nhiều tác giả: Trịnh Công Sơn - cát bụi lộng lẫy, (Nxb Văn hoá, tạp

chí Sông Hương, Huế, 2001), Trịnh Công Sơn - người hát rong qua nhiều thế hệ

(Nxb Trẻ, 2004), Trịnh Công Sơn - rơi lệ ru người (Nxb Phụ nữ, 2006), Trịnh

Công Sơn - cuộc đời, âm nhạc, thơ, hội hoạ và suy tưởng, (Nxb Văn hoá Sài

Gòn, 2005), Trịnh Công Sơn - một nhạc sĩ thiên tài của Bửu Ý (Nxb Trẻ, 2003);

Trịnh Công Sơn - có một thời như thế của Nguyễn Đắc Xuân (Nxb Văn học,

2003); Trịnh Công Sơn và cây đàn Lya của hoàng tử bé của Hoàng Phủ Ngọc Tường (Nxb Trẻ, 2005); Vườn xưa - hành trình âm nhạc Trịnh Công Sơn của

Trang 8

Nguyễn Hữu Thái Hoà (Nxb Trẻ, 2007); Trịnh Công Sơn Bob Dylan như trăng

và nguyệt? của Jonh C.Schafer (Cao Huy Thuần giới thiệu), NXB trẻ, 2012, Trịnh Công Sơn - ngôn ngữ và những ám ảnh nghệ thuật của Bùi Vĩnh Phúc

(Nxb Văn hoá Sài Gòn, 2008)

Cuốn Trịnh Công Sơn - Tôi là ai, là ai… của nhiều tác giả (Nxb trẻ, 2012,

gồm 581 trang) được “trình diện” nhân kỷ niệm 10 năm nhân ngày mất TrịnhCông Sơn Cuốn sách này do Nhà xuất bản trẻ hợp tác với gia đình Trịnh CôngSơn xuất bản Qua cuốn sách, người đọc dễ dàng nhận thấy tư tưởng quan điểm

của Trịnh Công Sơn về sáng tác nghệ thuật, về cuộc đời, về lẽ vô thường: “Cuộc

hành trình đi tìm thuốc trong văn học nghệ thuật không chỉ vì một độ hứng nhất thời mà là cả một quá trình suy nghiệm Phải đớn đau dang dở mình trong thành tựu này để hoàn tất mình trong một thành tựu khác, lớn hơn và không ít phần khổ ải hơn.”[26;73] Bích Hạnh đã ca ngợi tài năng, đức độ và lòng nhân ái của

Trịnh Công Sơn: “là một nhạc sĩ đặc biệt nhạy cảm trước những thay đổi tế vi

của thiên nhiên Bằng con mắt biếc xanh, yêu tha thiết cõi nhân gian, ông luôn

mở hồn mình ra để lắng nghe tiếng đời, quan sát những nhịp di chuyển hối hả của sự sống đang vọng dội quanh mình để chiêm ngẫm về con người, về cuộc đời và thể hiện những trải nghiệm, trăn trở nhân sinh.”[1;511] Ca sĩ Khánh Ly

chia sẻ: “Làm sao người ta có thể hiểu được vì đâu… con chim hót trên những

cành lau… nụ cười mong manh, một hồn yếu đuối… ấy, lại có thể nặng lòng với quê hương, gia đình và bằng hữu đến vậy.”[3;289]

Cuốn Trịnh Công Sơn - Thư tình gửi một người, NXB trẻ, 2013 tập hợp

hơn 300 trang với 118 bức thư tình của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn gửi Ngô Vũ DaoÁnh - người tình có ảnh hưởng mạnh mẽ và lâu bền trong cảm hứng sáng tạo âmnhạc của Trịnh Công Sơn Thông qua hàng trăm trang thư tình mà Dao Ánh đã cấtgiữ gần nửa thế kỷ, người đọc có cơ hội thưởng thức những trang thư tài hoa đồngthời cảm nhận thế giới nội tâm phong phú của Trịnh Công Sơn, từ đó hiểu sâu hơn

về ca từ cũng như con người ông Chẳng hạn, ca khúc “Ru em từng ngón xuân

Trang 9

nồng” viết cho Dao Ánh diễn tả trạng thái tâm lý thật lạ: “Thôi ngủ đi em, mưa ru

em ngủ, tay em kết nụ, nuôi trọn một đời, nuôi một đời người, mùa xuân vừa đến, xin mãi ăn năn mà thôi” Vì sao Trịnh Công Sơn lại phải “ăn năn”? Từ “ăn năn” ở đây có tính chất như một “mật ngữ” của tình ái được ông giải thích đầy thi

vị, lý thú: “Anh đã hiểu được Ánh và bây giờ càng cảm thấy không thể để mất

Ánh Cho anh tạ tội một lần và từ đây Ánh sẽ được xem như một loài chim hồng thần thoại bay trên vùng - ăn - năn - của - anh Tất cả đã đi qua như trong cơn mê sảng” (thư 5/2/1965)[6;146] Như thế, “ăn năn” ở đây là tạ ơn đời, tạ ơn người

tình đã nuôi trọn hồn ta vậy mà ta lại mắc lỗi, lại chưa vẹn để đền đáp Như

vậy, “ăn năn” để thêm yêu người, yêu đời gấp bội lần, yêu thêm phần thiếu hụt

để “tạ tội” với người tình Không chỉ giúp người đọc giải mã ca từ Trịnh Công Sơn, Thư tình gửi một người còn giúp hiểu rõ, sâu hơn về đời sống tâm hồn Trịnh

Công Sơn, thông qua phương thức tự biểu hiện, tự soi chiếu của nhạc sĩ từ những

lá thư gan ruột Sự thấu hiểu hơn về Trịnh Công Sơn giúp chúng ta phát hiện,khám phá thế giới nghệ thuật Trịnh Công Sơn chính xác và thấu đáo hơn

Gần đây nhất, ra đời cuốn Nhạc Trịnh trong tôi - Nhà xuất bản Văn hóa văn nghệ, 2015 Quyển sách này là thành quả từ ba cuộc thi viết Nhạc Trịnh

trong tôi, được gia đình nhạc sĩ Trịnh Công Sơn phối hợp với báo Tuổi trẻ tổ

chức trong năm 2013, và với báo Một thế giới online trong hai năm 2014, 2015 Nhà thơ Nguyễn Duy, thành viên ban giám khảo nhận xét: “Nhiều phát hiện độc

đáo, mới lạ và tinh tế mà ngay cả những cây viết chuyên nghiệp đôi khi không phát hiện ra Các nhà phê bình thường chú tâm đến những vấn đề lớn lao, còn người dự thi, ở góc nhìn của đời sống, đã phát hiện ra mối quan hệ của nhạc Trịnh với đời thường Có những người là sinh viên, trí thức, đồng thời có những người không có nhiều cơ hội học hành nhưng vẫn cảm nhận nhạc Trịnh sâu sắc đến độ chính ban giám khảo cũng phải ngạc nhiên”.

Ngoài ra còn có một số luận văn thạc sĩ nghiên cứu về ca từ của Trịnh

Công Sơn như: Luận văn cao học khoa đào tạo và nghiên cứu Ngôn ngữ và Văn

Trang 10

minh Đông Á của Yoshi Michiko với đề tài Những bài ca phản chiến của Trịnh Công Sơn, Đại học Pari 7, (1991) Luận văn thạc sĩ khoa học Ngữ văn của Nguyễn

Thị Thanh Thúy với đề tài Thân phận con người và tình yêu trong ca từ Trịnh

Công Sơn, Đại học Quy Nhơn, (2006) Sau được in thành sách với tên gọi Trịnh Công Sơn - vết chân dã tràng, NXB Lao động, Trung tâm văn hóa ngôn ngữ Đông

Tây, Hà Nội (2008) Luận văn thạc sĩ khoa học Ngữ văn chuyên ngành Văn học

Việt Nam của Lê Thị Thu Hiền, Đại học Sư phạm Hà Nội (2007) với đề tài Quan

niệm nhân sinh trong ca từ Trịnh Công Sơn Bằng nhiều cách tiếp cận khác nhau,

các luận văn đều nói nỗi đau của người dân Việt Nam trong chiến tranh Đó làtiếng kêu của người dân, là tiếng kêu gọi hòa bình và thống nhất đất nước trong ca

từ của Trịnh Công Sơn Và quan niệm mỹ học trong ca từ và văn xuôi của TrịnhCông Sơn như: quan niệm về cái đẹp, quan niệm về cái bi…

Bên cạnh đó, còn rất nhiều công trình nghiên cứu khác được đăng báohoặc các trang web trên Internet đăng tải các bài viết, các thông tin, các hình ảnh

về Trịnh Công Sơn như: Tạp chí Diễn đàn, Tạp chí Văn học nghệ thuật, Tạp chí Văn học ở Mỹ…, các trang web: www.suutap.com/trinhcongson; http/t.c.s.org hay wwwtcs-forum.org,… Các bài nghiên cứu đã tập trung khai

thác ca từ, âm nhạc, nội dung cũng như các hình thức nghệ thuật, tư tưởng sángtác, tư tưởng thẩm mỹ, nhân cách, đạo đức, lối sống, vị trí của Trịnh Công Sơntrên nhiều góc độ và tầm ảnh hưởng, những đóng góp của Trịnh Công Sơn chonền âm nhạc, cho hội họa, cho văn học, cho ngôn ngữ tiếng Việt Các nhà nghiêncứu về Trịnh Công Sơn đều có chung quan điểm: Trịnh Công Sơn là một hiệntượng văn hóa lớn trong thế kỷ XX cho đến nay vẫn chưa có ai có thể vượt qua

Tóm lại, Trịnh Công Sơn đã được tiếp cận từ nhiều góc độ và mức độ: từ vị trítrong nền đời sống nghệ thuật cho đến tài năng, nhân cách, từ tư tưởng đến phong cách,

từ các chặng sáng tác lớn đến các chủ đề lớn… Ở tầm mức nào của sự nghiên cứu, ôngđều được nhìn nhận bằng tinh thần khẳng định và được đánh giá ở mức rất cao Tuy các

Trang 11

ý kiến này chưa trực tiếp đề cập đến vấn đề của luận văn, nhưng chúng vẫn là những gợi

mở, những điểm tựa quan trọng để người viết vững tâm đi vào đối tượng của mình

2.2 Những nghiên cứu về ý niệm Sống - Chết trong ca từ Trịnh Công Sơn Trong bài viết Hành tinh yêu thương của hoàng tử bé của Hoàng Phủ Ngọc

Tường, sau khi đề cập đến những vấn đề cốt lõi của hiện sinh Châu Âu, cũng như vấn đềsinh lão bệnh tử của Phật giáo về phận người, tác giả bài viết khẳng định sự ảnh hưởng

của hoàn cảnh xã hội đến ca từ của Trịnh Công Sơn: “Trong bối cảnh của cuộc chiến

tranh quá dữ dằn và kéo dài, nỗi chết là một ám ảnh không rời trong tâm cảm quê hương của Trịnh Công Sơn (…) Chính điều này đã khiến Sơn trở thành thần tượng nghệ thuật của tuổi trẻ một thời lửa đạn, và tên tuổi của Trịnh Công Sơn được biết đến giữa những nghệ sĩ phản chiến của thế giới, đối diện với chính sách Mỹ ở Việt Nam.”[11;267]

Bài viết Chiều kích con người trong nhạc Trịnh Công Sơn của Nguyễn Hoàn có

đề cập đến quan niệm nghệ thuật về con người của Trịnh Công Sơn, con người được đobằng thước đo riêng, vì thế, con người được cảm nhận và khám phá ở những chiều kíchkhác nhau: nhỏ bé và lớn lao, bình thường và khác thường, hiện thực và siêu thực

Nguyễn Hoàn đã phát hiện: “… trái tim con người trong nhạc Trịnh Công Sơn đã bộc

lộ hình thù, vóc dáng và sức mạnh nội sinh rõ nét nhất qua những trạng huống thử thách ghê gớm của nhân sinh: vết thương niềm tuyệt vọng và cái chết” Khi bàn về cái

chết, đóng góp của Trịnh Công Sơn là: “… sự trầm tư, suy nghiệm về cái chết đã làm

bật lên cái giá cao quý của sự sống, sức mạnh của tình yêu cuộc sống, tình yêu con người, sự bừng nở chiều kích vô biên của trái tim từ tâm, từ bi.”[27;465]

Trong bài viết Trịnh Công Sơn - người lắng âm vọng nhân sinh của Hoài Nam

đã phát hiện Trịnh Công Sơn “đặc biệt nhạy cảm với những tiếng gọi của trăm năm - hư

vô - cái chết”[15;452] Nói theo phân tâm học, Trịnh Công Sơn có lẽ thuộc kiểu nghệ sĩ

mà bản năng chết (thanatos) mạnh hơn bản năng sống (eror)

Trang 12

Những bài viết trên đều có dung lượng nhỏ, chủ yếu là kể về những kỉ niệm, giaithoại, bày tỏ cảm xúc, ấn tượng và tình yêu đối với nhạc sĩ, cảm nhận đối với từng bàihát và những phát hiện về triết lí sống trong nhạc Trịnh… Chưa có nhiều những bài viếtmang tính chất nghiên cứu về ý niệm Sống - Chết trong ca từ Trịnh Công Sơn.

Chuyên luận đầu tiên nghiên cứu về quan niệm nhân sinh trong ca từ Trịnh CôngSơn là Lê Thị Thu Hiền Tác giả đã dành nhiều dung lượng để nói về quan niệm củaTrịnh Công Sơn về cõi sống, cõi chết và tình yêu Theo chị, Trịnh Công Sơn quan niệmcõi sống là cõi nhỏ hẹp, cõi đời là mỏi mệt là kiếp phù du, là cõi tạm nhưng đồng thời

cũng là cõi yêu, là cuộc kiếm tìm yêu thương: “… cõi sống vừa là một cõi đi về vừa là

cõi tạm có vẻ bi quan, nhưng đồng thời cõi sống lại là cõi yêu thật lạc quan”[18;56].

Còn cõi chết là về cõi thiên thu - cõi vô thường - cõi hư vô, là sự hóa thân, hóa sinh:

“Quan niệm về cái chết của Trịnh Công Sơn mang tính tích cực.”[12;84]

Như vậy, vấn đề về Sống - Chết trong ca từ của Trịnh Công Sơn đã được các nhànghiên cứu đề cập trong một số bài viết của mình Tuy nhiên, đó mới chỉ là những nhậnxét ban đầu mà chưa có một công trình nghiên cứu chuyên biệt và hệ thống Vì vậy, tiếpthu và phát triển ý kiến của những người đi trước, chúng tôi đi sâu nghiên cứu vấn đề:

“Ý niệm Sống - Chết trong ca từ Trịnh Công Sơn”.

3 Mục đích nghiên cứu và đóng góp của luận văn

3.1 Mục đích

Từ những tri thức chung về cảm niệm Sống - Chết của người nghệ sĩ và

cơ sở hình thành nghệ thuật ca từ của Trịnh Công Sơn, chúng tôi đưa ra nhữngnhiệm vụ cụ thể của luận văn như sau:

3.1.1 Chỉ ra được cụ thể diện mạo của ý niệm Sống - Chết trong ca từ của Trịnh Công Sơn.

3.1.2 Chỉ ra được các hình thức nghệ thuật biểu hiện ý niệm Sống - Chết trong ca từ của Trịnh Công Sơn.

3.2 Đóng góp

Trang 13

Làm nổi bật một vấn đề quan trọng xuyên suốt hành trình sáng tác củaTrịnh Công Sơn: Ý niệm Sống - Chết trong ca từ của ông từ thực chất tư tưởngđậm tính triết học đến các dạng biểu hiện trong hình thức nghệ thuật thi ca Gópphần xác lập vị trí đặc biệt của Trịnh Công Sơn trong đời sống thi ca nói riêng vàvăn học, văn hóa nói chung.

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng

Luận văn tập trung khảo sát “Ý niệm Sống - Chết trong ca từ Trịnh Công

Sơn” từ tư tưởng trực tiếp đến thế giới hình tượng và hình thức biểu hiện cụ thể.

4.2 Phạm vi

Luận văn tập trung khảo sát toàn bộ phần ca từ trong hơn 200 ca khúc

được Ban Mai tuyển chọn trong cuốn “Vết chân dã tràng” Để đối chiếu, soi

sáng thêm những bình diện của vấn đề, luận văn sẽ liên hệ khảo sát cả nhữngtiểu luận của Trịnh Công Sơn được công bố rải rác trong nhiều ấn phẩm đãxuất bản

5 Phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp tiếp cận hệ thống

Nhằm tiếp cận và tái hiện lại Ý niệm Sống - Chết trong ca từ của Trịnh Công Sơn trong tính hệ thống của nó.

5.2 Phương pháp phân tích, tổng hợp

Làm nổi bật ý nghĩa, giá trị thuộc về cả nội dung và nghệ thuật về Ý niệm

Sống - Chết trong ca từ của Trịnh Công Sơn.

5.3 Phương pháp thống kê, phân loại

Giúp tìm kiếm các dữ liệu phong phú cả về nội dung lẫn nghệ thuật làmcăn cứ cho các khái quát và nhận định trong nội dung của luận văn

5.4 Phương pháp so sánh, đối chiếu

Trang 14

Nhằm thấy rõ những nét tương đồng và khác biệt giữa Trịnh Công Sơnmột số tác giả khác.

5.5 Phương pháp liên ngành

Dựa vào những lí thuyết về âm nhạc để làm rõ hơn mối quan hệ giữa ca

từ, âm nhạc, thơ ca

6 Cấu trúc luận văn Gồm ba phần

Chương 1: Ca từ, ý niệm Sống - Chết và những yếu tố ảnh hưởng đến ý

niệm Sống - Chết của Trịnh Công Sơn

Chương 2: Ý niệm Sống - Chết trong ca từ của Trịnh Công Sơn, nhìn từ

hệ thống hình tượng

Chương 3: Ý niệm Sống - Chết trong ca từ của Trịnh Công Sơn, nhìn từ

phương thức nghệ thuật

Trang 15

NỘI DUNG

Chương 1

CA TỪ, Ý NIỆM SỐNG - CHẾT VÀ NHỮNG YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG

ĐẾN Ý NIỆM SỐNG - CHẾT CỦA TRỊNH CÔNG SƠN

1.1 Giới thuyết về “ca từ” và “thơ ca”

1.1.1 Khái niệm “ca từ”

Ngôn từ không chỉ là chất liệu độc quyền của nghệ thuật văn chương.Ngôn từ còn xâm nhập và trở thành chất liệu quan trọng của nhiều nghệ thuậtkhác: hội họa (đặc biệt là thư pháp), sân khấu (đặc biệt là kịch nói) và âm nhạc(đặc biệt là nhạc kịch và ca khúc) Ngôn từ được sử dụng trong âm nhạc được

gọi là ca từ Trong ca khúc, giai điệu và ca từ gắn bó và chuyển hóa lẫn nhau

làm nên sinh thể mỗi ca khúc Phi ca từ bất thành ca khúc

Nói đến ca từ là nói đến mặt lời của âm nhạc Ca từ là xuất phát từ cái gốcchung của nghệ thuật, biểu hiện bằng tiết tấu, rồi sau đó thơ tách khỏi ca và ca từ

ra đời thành hình thức ngôn ngữ của ca Theo từ điển Tiếng Việt, “ca từ là lời ca

hát”[48;112], giáo sư Phan Ngọc thì cho rằng: “nói đến ca từ, tức là nói đến mặt lời của âm nhạc… chủ yếu là lời thơ” Giáo sư Dương Viết Á định nghĩa ca từ

đầy đủ hơn, bao quát hơn: “Trong loại hình nghệ thuật âm nhạc, ngoài phần âm

thanh đóng vai trò chính, còn phải dùng đến ngôn ngữ, nói đúng hơn, đó là phần ngôn ngữ văn học trong âm nhạc (lời trong ca khúc, hợp xướng; kịch bản trong nhạc cảnh, nhạc kịch; tên gọi tác phẩm, tiêu đề của những bài hát, bản nhạc hoặc từng chương nhạc…) Tất cả phần ngôn ngữ văn học trong âm nhạc, ta gọi chung trong một khái niệm: Ca từ.”[1;13] Như vậy ca từ học là một bộ môn

khoa học trong ngành âm nhạc học, nhằm nghiên cứu ca từ trong âm nhạc Có

thể gọi ca từ là “bản lề” giữa âm nhạc và văn học.

Ca từ mở cửa cho hình tượng âm nhạc đi vào tâm hồn người thưởng

thức Vì ngôn ngữ (bằng lời) là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của con

Trang 16

người Có thể ví ca từ như đôi cánh để nâng hình tượng âm nhạc bay cao, xahơn Trên thực tế, có nhiều tác phẩm âm nhạc, phần âm thanh và phần ca từgắn bó với nhau để làm nên sức sống của tác phẩm Nhưng cũng có nhiều nhạcphẩm, khi bóc tách phần ca từ ra khỏi nền nhạc thì nó vẫn thấm đẫm chất thơ,

và đi vào lòng công chúng bởi chất trữ tình và tính nhân văn sâu sắc mà ngườinhạc sĩ gửi gắm trong tác phẩm của mình Thậm chí những triết lí trong ca từcòn được thưởng thức như những câu châm ngôn sống bất hủ hoặc như nhữngbài thơ Trong nền âm nhạc Việt Nam, Trịnh Công Sơn là một hiện tượng nhưvậy Chẳng hạn, bài “Ở trọ” của ông, chúng ta sẽ thấy: nếu bóc tách hoàn toàn

nhạc thì đây là một bài thơ lục bát hết sức tài hoa (Nhưng khi bỏ đi âm đệm “i

a í a” thì nó chỉ còn là những câu thơ lục bát):

“Con chim ở đậu cành tre

Con cá ở trọ trong khe nước nguồn

Từ việc ở trọ trong cuộc sống đời thường: con chim thì ở đậu cành tre, con cá ở trọ trong khe nước, Trịnh Công Sơn liên tưởng đến cõi tạm trong trần

gian theo triết triết lí của Phật giáo với giọng điệu vô tư, hồn nhiên nhưng khôngkém phần sâu sắc:

“Tôi nay ở trọ trần gian Trăm năm về chốn xa xôi cuối trời.”

Trong quá trình khảo sát, chúng tôi nhận thấy ca từ của Trịnh Công Sơnđậm chất thơ

Ngôn ngữ trong bài hát (ca từ) mang những đặc trưng của ngôn ngữ vănhọc, nhất là ngôn ngữ thơ Nhưng thơ chủ yếu là để đọc, trong khi đó lời ca chủyếu là để hát và nghe theo giai điệu, tiết tấu nhất định Thơ và lời ca có hai cáchtác động chủ yếu khác nhau: Một bên thường là thị giác, một bên thường là thínhgiác Do sự khác nhau đó, ngôn ngữ trong bài hát có những điểm khác so vớinhững ngôn ngữ trong thơ ca

Tóm lại, ngôn ngữ trong tác phẩm ca từ là ngôn ngữ nghệ thuật được chọnlọc, tinh luyện, giàu hình ảnh, nhạc điệu, được tổ chức một cách đặc thù nhằm

Trang 17

phản ánh cô đọng đời sống và biểu hiện tinh tế mọi cung bậc tâm trạng, cảm xúccủa con người Nếu coi âm nhạc là sản phẩm trí tuệ của nhân loại thì ca từ là một

bộ phận không thể thiếu của sản phẩm đó Khi soạn ca từ, ngoài những tình cảmxuất phát từ trái tim, người nhạc sĩ cần có sự đầu tư của trí tuệ để lựa chọn ngônngữ một cách tinh tế, làm nên những ca khúc có giá trị

1.1.2 Khái niệm “thơ”

Thơ là loại hình sáng tác văn học ra đời sớm nhất của nhân loại cùng với

nhạc, họa, múa nhảy trong các cuộc tế lễ thần linh thời nguyên thủy Thơ vốn là

loại hình nghệ thuật, được khởi phát từ tâm trạng, cảm xúc của con người Đóchính là cái đẹp được chưng cất, gọt giũa và biểu hiện bằng nghệ thuật ngôn từ

Ngay từ thời cổ đại, ở phương Tây, Aritstốt (384 - 322 T.C.N) đã định

nghĩa: “Thơ là sự mô phỏng động thái của con người được biểu hiện trong ngôn

ngữ với sự trợ giúp của hòa âm và nhịp điệu.” Như vậy, từ thời cổ đại, người ta

đã thấy thơ là sự tiếp nhận và sáng tạo cuộc sống của con người

Thời trung đại, văn học Việt Nam và văn học Trung Quốc quan niệm Thi

dĩ ngôn chí (Thơ là để nói chí) Trong Tựa Kinh Thi Chu Hy cho rằng: “Thơ là cái dư âm của lời nói, trong khi lòng người cảm xúc với sự vật mà hiện ra ngoài”, nghĩa là thơ không biểu hiện tình cảm một cách bộc trực, trần trụi mà nó

ẩn chứa đằng sau câu chữ, sau những cấu trúc lời nói của từng nhà thơ

Sang thời hiện đại, ở phương Tây, Boileau - nhà thơ, nhà phê bình văn

học Pháp thế kỷ XVIII, trong tác phẩm Nghệ thuật thơ ra đời năm 1674, cho rằng: “Nhà thơ trước hết phải thiên hướng thơ cần được lý trí hướng dẫn (…)

thơ phải sáng sủa, rõ ràng, nghiêm ngặt tuân theo các quy tắc nhịp, vần, quãng ngắt, nghỉ, bố cục”[3;17] Như vậy, thơ ca có quy tắc vần, nhịp, bố cục Còn

Jakobson trong Ngôn ngữ thi ca thì nhấn mạnh cơ chế hoạt động của ngôn ngữ thơ là cơ chế lựa chọn và kết hợp: “Chức năng của thi ca đem nguyên lí tương

đương của trục tuyển lựa chiếu lên trục kết hợp” Từ nguyên lí phổ quát này,

những người đồng quan điểm với ông khẳng định vai trò quan trọng của ngữ âm

Trang 18

trong thơ Từ đó, họ nhấn mạnh đến các yếu tố như âm vận, điệp âm, điệp vần,khổ thơ,… là những đơn vị thuộc bình diện hình thức.

Nhà phê bình Nga, Bêlinxki quan niệm: “Thơ trước hết là cuộc đời, sau

đó mới là nghệ thuật” Quan niệm này khẳng định mối quan hệ giữa thơ ca và

cuộc sống Thơ bắt nguồn từ đời sống, thơ là bông hồng vàng mang lại hạnh

phúc cho tất cả mọi người Bông hoa ấy được nhà thơ chắt chiu, gom nhặt từ

những hạt bụi vàng trân quý để làm nên.

Ông hoàng thơ tình - Xuân Diệu quan niệm: “Thơ là một sản phẩm của

tâm hồn, trí tuệ con người mà tâm hồn và trí tuệ đó có một tác động trở lại vào thực tại… Thơ phải xuất phát từ thực tại, từ đời sống, nhưng phải đi qua một tâm hồn, một trí tuệ và khi đã đi qua như vậy, tâm hồn, trí tuệ ấy phải in dấu vào

đó thật sâu sắc, càng cá thể, càng độc đáo, càng hay, thơ là tiếng gọi đàn, là sự đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu của những con người.”[7;33] Như

vậy, Xuân Diệu muốn nhấn mạnh cá tính sáng tạo, độc đáo và tiếng nói đồngvọng của thơ ca

Nhà thơ Nguyễn Đình Thi nhấn mạnh: “Thơ phải có tư tưởng, có ý thức

và bất cứ cảm xúc, tình tự nào của con người cũng dính liền với sự suy nghĩ Những tư tưởng trong thơ là tư tưởng dính liền với cuộc sống, ở trong cuộc sống Tư tưởng của nhà thơ nằm ngay trong cảm xúc, tình tự” Nhà thơ đã phát

hiện và khẳng định thơ phải có tư tưởng, có cảm xúc Còn Tố Hữu - nhà thơ trữ

tình chính trị thì khẳng định: “Thơ là tâm hồn đi tìm những tâm hồn đồng điệu,

thơ là tiếng nói tri âm, tiếng nói đồng ý, đồng tình, đồng chí.”

Giáo sư Phan Ngọc viết: “Thơ là một cách tổ chức ngôn ngữ hết sức quái

đản để bắt người nghe phải tiếp nhận phải nhớ, phải cảm xúc và phải suy nghĩ

do chính hình thức tổ chức ngôn ngữ này” Đây là cách định nghĩa khá mới, khá

độc đáo so với muôn vàn những định nghĩa khác về thơ, bởi đây là định nghĩatheo hướng cấu trúc ngôn ngữ

Từ điển thuật ngữ văn học (Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi

đồng chủ biên) định nghĩa: “Thơ là hình thức sáng tác văn học phản ánh cuộc

Trang 19

sống, thể hiện những tâm trạng, những cảm xúc mạnh mẽ bằng ngôn ngữ hàm súc, giàu hình ảnh và nhất là có nhịp điệu.”[10;262]

Qua các ý kiến bàn về thơ, chúng ta thấy đây là một loại hình văn học cực

kì phức tạp Khó có thể hiểu tường tận loại hình nghệ thuật này Thơ luôn gắn

liền với cảm xúc, với những rung động hết sức tinh vi mà không thể loại nào có

được Thơ, đó là ngôn từ được sử dụng một cách nghệ thuật, nó mang lại giá trị

của bản thân ngôn từ chứ không chỉ ý nghĩa Từ âm điệu, vần nhịp, xúc cảmkhông diễn giải được, các giá trị này nằm bàng bạc trong toàn thể bài thơ mà

không nằm ở bất cứ phần nào có thể chỉ ra được Thơ tác động đến người đọc

vừa bằng nhận thức vừa bằng khả năng gợi cảm sâu sắc, vừa trực tiếp với nhữngcảm xúc suy nghĩ cụ thể, vừa gián tiếp qua liên tưởng và những tưởng tượngphong phú, vừa theo những mạch cảm nghĩ, vừa bằng sự rung động của những

ngôn từ giàu nhạc điệu Thơ gắn với cuộc sống khách quan, chiều sâu và sự phong phú của đời sống xã hội Vì thế, thơ có khả năng chiếm lĩnh đời sống một

cách dễ dàng

1.1.3 Mối quan hệ giữa “ca từ”, “âm nhạc” và “thơ”

Âm nhạc là loại hình nghệ thuật phản ánh cuộc sống bằng ngôn ngữ âmthanh (giai điệu, tiết tấu, hòa thanh,…) Bằng ngôn ngữ văn học, ca từ sẽ gópphần cụ thể hóa hình tượng âm nhạc bằng hình tượng ngôn ngữ

Ngôn ngữ âm nhạc mang tính ước lệ cao Vì vậy, hình tượng âm nhạckhông mang tính cụ thể như một số loại hình nghệ thuật khác Ca từ sẽ bổ sungtính cụ thể cho hình tượng âm nhạc Bằng ngôn ngữ chung ca từ làm nhiệm vụhướng dẫn, mở đường, “phiên dịch”, thậm chí dẫn giải cho người thưởng thức.Như vậy, có thể thấy rõ vai trò, chức năng của ca từ trong âm nhạc Ca từ sẽ thâutóm trong nó những mặt mạnh của âm nhạc và mặt mạnh của văn học Nó sẽ mởcửa cho hình tượng âm nhạc đi thẳng vào đời sống tâm hồn của người thưởngthức Nhờ tính biểu biểu hiện, âm nhạc gợi lên trong lòng người thưởng thức sựrung cảm sâu xa

Trang 20

Hình tượng âm nhạc mang tính gợi mở, sắc thái cá nhân của người thưởngthức là một thực tế không thể nào phủ nhận Sự gợi mở đó sẽ được vạch đườnghướng là nhờ ca từ Để khắc họa nên những dấu hiệu điển hình về thời đại, xãhội, tính cách… thì vai trò của ca từ lại càng trở nên quan trọng hơn.

Như vậy, ca từ có thể là đôi cánh hoặc sợi dây xiềng, có thể là bạn đườngtrung thành, nhưng cũng có thể là “con nợ” của âm nhạc

Trong mối quan hệ hữu cơ với âm nhạc, muốn làm trong chức năng đôicánh người bạn trung thành, ca từ phải nâng mình lên để trở thành bộ phậnkhông thể tách rời của hình tượng âm nhạc.Vì thế, ca từ cũng phải được xâydựng được hình tượng bằng ngôn ngữ Và tất nhiên, đó không thể là ngôn ngữtoàn dân mà là ngôn ngữ nghệ thuật, ngôn ngữ của thơ ca Ca từ nói chung, lời

ca nói riêng trước hết là một bài thơ, có nghĩa là phải giàu tính biểu hiện và chấttrữ tình

Văn học vốn gắn bó chặt chẽ với âm nhạc, nhất là thơ Trong Kinh thi có nói: “Thơ là do cái chí mình phát ra… Tình động ở trong lòng mang hiện ra

thành lời, nói không đủ phải vịnh hát…” Còn cụ Lê Đình Diên cũng khẳng định:

“Thơ là sự biểu hiện của nhạc, thanh là sự hỗ trợ của thơ Tính rung động phát

ra thành thanh, người ta có thanh mà sau đó có thơ Thanh biểu hiện ra lời, nhạc có thơ mà sau đó có thanh.”[2;201] Bêlinxki cũng cho rằng: trong văn học

dân gian có những tác phẩm “trong đó ranh giới phân chia giữa thơ và nhạc hầu

như bị xóa bỏ”[6;201] Nhiều tác phẩm thơ văn từ những bài ca dao, dân ca đến

những khúc anh hùng ca đều nhờ âm nhạc mà lưu truyền khi chưa có chữ viết

Có lẽ vì thế mà các nhà văn, nhà thơ rất yêu thích và sành nhạc Nguyễn Du say

mê đi hát phường vải, Nguyễn Công Trứ đã từng là kép đàn của một gánh hát cô

đầu, Rômanh Rôlăng ngay từ bé đã tắm trong âm nhạc… Họ đã khai thác triệt

để khả năng âm nhạc của mình trong sáng tác thơ văn

Trong âm nhạc, để hát, để ca thì cần có lời Ngôn ngữ là chất liệu để xâydựng nên lời ca, lời đồng thời cũng là chất liệu xây dựng nên hình tượng văn

Trang 21

học Như vậy, ngôn ngữ văn học cũng là phương tiện diễn tả của loại hình âmnhạc Phương tiện diễn tả của âm nhạc là âm thanh với toàn bộ những quy ước

về giai điệu, tiết tấu, hòa thanh vì vậy các nhạc sĩ có thể viết liền một đoạn toàn

từ ngữ tượng thanh, nhờ đó mà âm nhạc có khả năng to lớn để tái hiện cuộc sốngqua thế giới âm thanh Còn các nhà thơ không thể viết một đoạn thơ dùng toàn từtượng thanh Vì vậy, từ ngữ tượng thanh có vai trò đặc biệt hơn trong lời ca sovới thơ ca

Trong thơ ca, các hư từ cũng thường được sử dụng, nhưng hạn chế Ngượclại, trong lời ca, hư từ, từ không có nghĩa nhiều khi đóng vai trò quan trọng trongviệc tác động vào thính giác của người nghe Như ca từ trong các điệu hò thì phải

là: dô hò, dô hụi, dô ta,… trong lời ru thì phải là: à ơi, ầu ơ, ru hời,…

Trong lời ca, có những đoạn nhạc, những câu nhạc bị hạn chế sự gợi mởtưởng tượng và cảm xúc của người nghe Âm nhạc gợi lên một bầu trời, trongkhi ngôn ngữ chỉ vẽ lên một hình ảnh, vì vậy giá trị của tác phẩm âm nhạc sẽ bịhạn chế Còn trong thơ ca thì ngược lại Nhờ sự lựa chọn tinh tế, cách sử dụng từngữ đặc sắc, thơ giúp cho người đọc tưởng tượng thỏa thích Vì thế, ngôn ngữthơ ca giàu tính hình tượng và tính đa nghĩa

Nhịp điệu, hình ảnh trong lời ca không có ý nghĩa độc lập, mà nó lệ thuộcvào âm nhạc Lời ca giống với thơ ca về phương thức phản ánh hiện thực, cònbiểu hiện lại có những quy luật riêng Xét về hình thức văn bản thì lời ca đượcghi dưới khuông nhạc, theo từng nốt nhạc Trong thơ ca, từ ngữ, ngôn ngữ phảiđược giữ ở thế cân bằng giữa ngữ nghĩa và ngữ điệu Còn lời ca, sự vận độngcủa ngôn ngữ, ngữ điệu có vai trò ưu thế và nổi bật hơn ngữ nghĩa Trong thơ ca,ngữ điệu phải nương nhờ ngữ nghĩa còn trong lời ca ngữ nghĩa phải nương nhờngữ điệu

Như vậy, “thơ không phải đã là ca, từ thơ đến ca còn một khoảng cách.

Khoảng cách đó do quy luật của âm nhạc quy định.”[27;34] Vì thế, khi đánh giá,

phân tích lời ca không thể coi đó như một bài thơ, mà cần phải xét bài thơ, lời ca

Trang 22

dưới dạng phương thức phản ánh cuộc sống Lời ca để hát và nghe, còn thơ đểđọc Còn khi phân tích, đánh giá một bài thơ thì phải dựa vào đặc điểm thơ ca, tuynhiên không nên áp đặt tiêu chí thơ, những quy định về vần, nhịp điệu để áp đặtcho lời ca.

1.2 Giới thuyết về Ý niệm Sống - Chết

1.2.1 Giới thuyết về Ý niệm

Ý niệm là đơn vị của tư duy, là yếu tố của ý thức Nó là kết quả của sự

tác động qua lại của một loạt những nhân tố như truyền thống dân tộc, sángtác dân gian, tôn giáo, hệ tư tưởng, kinh nghiệm sống, hình tượng nghệ thuật,

cảm xúc và hệ thống giá trị Ý niệm tạo ra một lớp văn hóa trung gian giữa

con người và thế giới

Stepanov (Ю.С Степанов 1997) cho rằng: “Ý niệm tựa như một khối kết

đông của nền văn hoá trong ý thức con người; dưới dạng của nó nền văn hoá đi vào thế giới ý thức (tư duy) của con người, và mặt khác, ý niệm là cái mà nhờ đó con người - người bình thường, không phải là “người sáng tạo ra những giá trị văn hoá” - chính con người đó đi vào văn hoá, và trong một số trường hợp nhất định có tác động đến văn hoá”.

Slyshkin (Г.Г Слышкин 2000) nghiên cứu những quan điểm khác nhau

đối với ý niệm và nhận định rằng: đặc điểm nổi bật có tính nguyên tắc của ý

niệm là ở chỗ nó được xem như cơ sở để nghiên cứu tổng hợp ngôn ngữ và văn

hoá, song bản thân nó không trực tiếp nằm trong phạm vi ngôn ngữ, cũng khôngnằm trong phạm vi văn hoá, và cũng không đồng thời nằm trong cả hai lĩnh vực

này “Ý niệm là đơn vị của tư duy, là yếu tố của ý thức”.

Chúng ta cần phân biệt giữa ý niệm và khái niệm “Khái niệm là một hình

thức của tư duy phản ánh những thuộc tính cơ bản, những mối liên hệ và quan hệ giữa các sự vật và hiện tượng trong sự mâu thuẫn và phát triển của chúng Khái niệm không chỉ trừu suất cái chung, mà còn phân suất sự vật, những thuộc tính và quan hệ của chúng làm cơ sở cho việc phân loại phù hợp với những nét khu biệt

Trang 23

của chúng Chẳng hạn, khái niệm “con người” phản ánh cả nét chung cơ bản (cái vốn có ở tất cả mọi người) và cả những nét khu biệt người này với tất cả những người khác Khái niệm phản ánh cái chung, cái đặc thù và cái đơn nhất của sự vật.” (Trần Văn Cơ).

Khái niệm được hình thành qua một quá trình biện chứng phức tạp nhờ

những phương pháp như so sánh, phân tích, tổng hợp, trừu tượng hóa, lí tưởnghóa, khái quát hóa, thí nghiệm vv… Nó là sự phản ánh hiện thực không mangtính hình ảnh và được biểu hiện trong từ Sự tồn tại hiện thực của nó được bộc lộthông qua các định nghĩa, trong các phán đoán, trong thành phần của lí thuyết

So với khái niệm, ý niệm có những đặc điểm riêng Ý niệm là kết quả của quá trình tri nhận là quá trình tạo ra các biểu tượng tinh thần Cấu trúc của biểu tượng tinh thần gồm ba thành tố: trí tuệ, cảm xúc và ý chí, cả ba thành tố này đều

được biểu hiện trong ngôn ngữ: trong ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp

Như vậy, ý niệm là đơn vị tinh thần hoặc tâm lí của ý thức chúng ta, là

đơn vị nội dung của bộ nhớ động, của từ vựng tinh thần và của ngôn ngữ bộ não,của toàn bộ bức tranh thế giới được phản ánh trong tâm lí con người Trong quá

trình tư duy, con người dựa vào các ý niệm phản ánh nội dung kết quả hoạt động nhận thức thế giới của con người dưới dạng những lượng tử của tri thức Các ý

niệm nảy sinh trong quá trình cấu trúc hoá thông tin về một sự tình khách quan

trong thế giới, cũng như những thế giới tưởng tượng và sự tình khả dĩ trong

những thế giới đó Các ý niệm quy cái đa dạng của những hiện tượng quan sát

được và tưởng tượng về một cái gì đó thống nhất, đưa chúng vào một hệ thống

và cho phép lưu giữ những kiến thức về thế giới …

Trong ca từ của Trịnh Công Sơn có một ý niệm luôn luôn ám ảnh suốtcuộc đời của ông Đó là sự trăn trở, day dứt khôn nguôi về lẽ Sống - Chết củađời người Nó là một phần tự nhiên của sự sống mà tất cả chúng ta chắc chắn sẽphải đương đầu không sớm thì muộn Đây là vấn đề cơ bản được đề cập trongnhiều tôn giáo tín ngưỡng Trong nhiều ngành khoa học như triết học và thần

Trang 24

học, những vấn đề này được đặt ra từ xưa đến nay và có nhiều quan niệm, cáchkiến giải khác nhau Tuy nhiên, trong bài viết này, chúng tôi chỉ đưa ra quanniệm của Phật giáo và của Chủ nghĩa hiện sinh về Sống - Chết Từ đó, chúng ta

có thể thấy được ý niệm Sống - Chết của riêng Trịnh Công Sơn

1.2.2 Quan niệm của Phật giáo về Sống - Chết

Phật giáo là một trong những tôn giáo lớn của thế giới, có ảnh hưởngsâu rộng đến đời sống xã hội của người phương Đông Phật giáo không đơnthuần là một tôn giáo thể hiện sự tín ngưỡng của con người mà nó còn thểhiện tư tưởng triết học qua tư tưởng, quan điểm và cách lý giải về vũ trụ, vềcon người, về xã hội…

Tất cả các sự vật hiện tượng đều tương liên với nhau và biến đổi, không

có một sự gián đoạn hay ngưng nghỉ nào, không có gì bớt đi cũng không có gìthêm vào, chỉ có nguyên nhân này sinh ra hậu quả kia, rồi hậu quả kia lại tạo ranguyên nhân khác Đó là cái nhìn của Phật giáo đối với tất cả các hiện tượng

trong vũ trụ cũng như đối với sự Sống và cái Chết của từng cá thể.

Theo tư tưởng của Phật giáo thì: “Thực tế đời sống của con người là ngắn

ngủi, giới hạn, phù du, đầy khổ đau và ưu phiền, nó như một hạt sương tan biến khi mặt trời mọc, như bọt nước, như đường rãnh xẻ trong nước, như dòng thác chảy cuốn đi tất cả không bao giờ dừng lại, như một con vật nuôi để làm thịt lúc nào cũng đối đầu với cái chết” Sự chết cũng thế, nó là sự chấm dứt khả năng

sống của một hình thái hiện hữu, là sự gián đoạn tạm thời của một hình thái Tuynhiên, nó không phải là sự tiêu diệt toàn bộ một cá nhân; chính xác hơn, nó làbiểu hiện của một sự chuyển đổi sang một sự hiện hữu khác Chỉ riêng các quannăng ngưng vận hành, chứ năng lực, sự khao khát được hiện hữu (hữu ái) nằmtrong nghiệp lực vẫn tiếp tục thể hiện dưới một hình thái khác của sự sống

Chết là một hiện tượng cũng bình thường như sinh ra Thông thường,

những người đang hấp hối, yếu ớt về thể chất không còn có thể kiểm soát và điềuđộng các ý tưởng của họ Do đó, những ấn tượng gây nên bởi những biến cố

Trang 25

quan trọng trong cuộc đời này hay cuộc đời trước hiện trở lại mạnh mẽ trong tâmthức, và họ không cách nào loại bỏ chúng.

Phật giáo chủ trương minh tâm kiến tính (làm rõ cái tâm để thấy được bản tính), kiến tính thành Phật (thấy được bản tính sẽ trở thành Phật) và cho rằng

cuộc đời là bể khổ, con người do “vô minh” mới chịu dập vùi trong bể khổ đó.Trên thực tế mọi người đều có “tính Phật” chính là bản tâm của mỗi chúng ta.Nếu tính Phật được bộc lộ, có thể hóa thân thành Phật, được siêu việt trong cõi

Sống - Chết Như vậy, triết lý Phật giáo không chú trọng đến Sống - Chết riêng

rẽ mà quan tâm đến sự vĩnh hằng của sinh mệnh Quan niệm đó không phải là

xem thường Sống Chết mà là cách thức giúp con người thoát khỏi sự Sống

-Chết Vì chết hoặc xem thường cái chết cũng chỉ là biểu hiện của sự thiếu hiểu

biết của chúng ta về cái chết Không dám nhìn thẳng vào cái chết thì sẽ khôngbao giờ hiểu được cuộc sống Chúng ta không nên quay lưng lại với cái chết màthậm chí phải đối mặt với nó để tìm hiểu tất cả những gì liên quan đến nó

Sự Sống là một cái gì hiển nhiên, nhưng sự Chết là một cái gì còn tồn tại Đại thi hào Nguyễn Du viết trong Truyện Kiều: “Chết là thể phách, còn là tinh

anh” Ở đây “thể phách” chính là thân xác - thân xác được cấu tạo bởi bốn chất lớn:

đất, nước, gió và lửa Chúng hòa quyện để tạo nên sự sống nhưng cũng không làmãi mãi, mà đến một khoảnh khắc nào đó sẽ phải tan rã Đất trả về cho đất Nướctrở lại với sông hồ, ao biển Gió trở lại với thiên nhiên Và lửa trở lại với hơi ấm

Nhưng còn có điều linh thiêng, thiêng liêng hơn nữa Đó là tinh anh, là

tâm thức hay linh hồn Cái này sẽ còn mãi - nghĩa là linh hồn bất tử, mà còn mãithì sẽ luân chuyển trong 6 nẻo luân hồi để đi đầu thai trong vòng lục đạo, ở cõicao hơn hoặc thấp hơn Như vậy, chết nhưng vẫn còn sống Vì chính người chết

ấy còn có bổn phận phải trở lại chăm sóc cho gia đình ở phần tâm linh kia

Các nhà nghiên cứu phê bình trong và ngoài nước khi viết về nhạc TrịnhCông Sơn ít nhiều có nói đến sự ảnh hưởng của Phật giáo trong nhạc Trịnh

Ông sinh ra trong gia đình Phật tử, sống tại Huế - một thành phố Phật giáo

lớn nhất Việt nam Ông cũng đã viết “Tôi là một Phật tử ở trong một gia đình có

Trang 26

tôn giáo chính là Phật giáo Từ những ngày còn trẻ, tôi đã đọc kinh và thuộc kinh phật Thưở bé tôi hay đến chùa vì thích sự yên tĩnh Có những năm tháng nằm bệnh, đêm nào mẹ tôi cũng nhờ một thầy đến tụng kinh và cầu an và tôi thường đi vào giấc ngủ êm đềm giữa những câu kinh đó”[21;143] Như vậy,

ngay từ khi còn trẻ, tiếng cầu kinh đã đi vào trong giấc ngủ của ông một cách vôthức Ảnh hưởng của Phật giáo trong tác phẩm của ông đầu tiên phải kể đến chân

lí: “Đời là bể khổ”, bởi vậy “Tin buồn từ ngày mẹ cho mang nặng kiếp người” (Gọi tên bốn mùa), sau đó là tính tạm bợ của cõi nhân gian: “Tôi nay ở trọ trần

gian/ Trăm năm về chốn xa xăm cuối trời” (Ở trọ) Những quan niệm Phật giáo

đã thâm nhập vào sáng tác của Trịnh Công Sơn, nhờ vậy tác giả đã tìm thấy sựyên tĩnh trong lòng mình, đồng thời luôn tự nhủ phải sống hết mình cho thực tại:

“Đời cho ta thế cứ hãy cất bước đi mọi nơi

Gặp nhau trong phố xin yêu không nguôi những thân người Đời cho ta thế hãy cứ sống tới như mọi ai

Mặc dòng sông kia sẽ cuốn đất cát ra biển khơi”.

nội dung tư tưởng của Trịnh Công Sơn: “Hạt bụi nào hóa kiếp thân tôi/ Để một

mai tôi về làm cát bụi/ Ôi cát bụi mệt nhoài/ Tiếng động nào gõ nhịp khôn nguôi” (Cát bụi), “Không có đâu em này/ Không có cái chết đầu tiên/ Và có đâu bao giờ/ Đâu có cái chết sau cùng” (Ngẫu nhiên).

Theo quan niệm của Phật giáo, muôn vật sẽ được tái sinh ở kiếp khác, tùytheo nghiệp của họ ở cõi này Quan niệm về kiếp luân hồi giúp chúng ta lí giải vì

Trang 27

sao khi Trịnh Công Sơn nhắc đến sự ra đi thì đồng thời cũng là sự trở về, ông

muốn xóa nhòa sự khác biệt giữa hai hành động này: “Nếu cái chết là kết tủa

của tái sinh, thì khi một người đã ra đi cũng là lúc người đó đang trở về” Theo

trí tuệ của Bát nhã thì không có Sống - Chết Bởi vậy, không có “cái chết đầu

tiên” và cũng không có “cái chết sau cùng” Như vậy, tư tưởng của Phật giáo

ảnh hưởng rất sâu đậm trong ca từ của Trịnh Công Sơn Tuy nhiên, Trịnh CôngSơn không phải là một phật tử đi truyền đạo, mà qua tư tưởng của Phật giáo ông

đã “nhả ra sợi tơ” của riêng mình một cách mới mẻ, lạ lùng nhưng không hề xa

lạ, điều này giải thích vì sao: “Nghe nhạc Trịnh Công Sơn đối với nhiều người

Việt cũng gần giống như nghe một câu kinh Nhạc Trịnh Công Sơn khó hiểu nhưng lời ca của ông có khả năng xoa dịu những tâm hồn bị dao động.” (John C.

Schafer - Triết học nhẹ nhàng của Trịnh Công Sơn, Tạp chí văn hóa phật giáo,

2014), nó an ủi, vỗ về, xoa dịu nỗi đau nhân thế của con người

1.2.3 Quan niệm của chủ nghĩa hiện sinh về Sống - Chết

Chủ nghĩa hiện sinh là triết học về tồn tại của con người, bản thể luận vềcon người, là tất cả những suy tư về thân phận con người, trước hết là con người

cá nhân, cụ thể trong thời đại khủng hoảng về giá trị, những nỗi đau, những lầmlạc và những khát vọng của con người

Ra đời và phát triển tại các nước phương Tây, nhất là tại Đức và Pháp, sauhai cuộc đại chiến thế giới (1914 - 1918; 1939 - 1945), triết học hiện sinh biểuthị thái độ của con người trước những diễn biến không đồng nhịp của xãhội Nguồn gốc tư tưởng hiện sinh đã được manh nha từ rất sớm trong triết họccủa Socrate với những nhân vật trong cựu ước và tân ước; trong Thánh Kinh,trong các nhà tư tưởng như Augustin và Pascal Nó được bổ sung phát triển bởicác triết gia cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX: S Kiekergaard, F.Neitzche, M.Heidegger và J P Sartre,… Họ là những người có ảnh hưởng sâu sắc đến đờisống triết học và văn học

Chủ nghĩa hiện sinh nhấn mạnh đến chủ thể hiện sinh, chủ thể của kinhnghiệm cảm xúc cá nhân Họ cho rằng bản chất của con người do chính con

Trang 28

người tạo nên, nó không bị ràng buộc bởi mọi quan hệ xã hội bên ngoài Quanniệm như vậy về bản chất, nghĩa là chủ nghĩa hiện sinh hết sức đề cao cánhân, coi cá nhân cụ thể là nguồn gốc và là đề tài trung tâm của tư tưởng hiệnsinh Từ đó, các nhà hiện sinh khẳng định cá nhân tuyệt đối không hòa tanvào cái chung Mỗi cá nhân là một thực thể cô đơn khép kín trong một thếgiới ngẫu nhiên, phi lý.

Các nhà hiện sinh phủ nhận những giá trị có sẵn của chủ nghĩa tư bản, họquay lưng lại với hệ thống duy lí, họ suy nghĩ về con người ở đời, về thân phậnnói chung Cuộc sống theo họ là vô thường, là vô lí và phi lí vô cùng Kieekơga

từng phát biểu: “Chúng ta biết một bất hạnh tệ hơn cái chết và trước hết là sống

điều bất hạnh của sự sống”[32;45] Các nhà hiện sinh đều đồng nhất là chỉ có

mặt giáp mặt với cái chết thì cuộc sống mới có được ý nghĩa sâu xa nhất, niềm

sợ hãi với cái chết trở thành chủ đạo và đặc điểm nổi bật trong cuộc sống tinhthần Cuộc sống trong quan niệm của các nhà hiện sinh chỉ là một khoảnh khắccủa cái chết, cuộc sống chỉ tìm thấy ý nghĩa của nó trong cái chết Cái chết trởthành mục đích thực tại của cuộc sống Các nhà hiện sinh đồng nhất hai khái

niệm Sống - Chết, khẳng định Sống tức là đang Chết, qua đó họ đề cao quyền lực

vô biên của cái chết

Theo M Heidegger, ý nghĩa mà cái chết đem đến cho cuộc sống là sự cảmnhận được tính hữu hạn về sự tồn tại của con người Tồn tại của con người làcuộc sống hiện thực từ ngày này qua ngày khác và tiến dần đến cái chết Cái chết

là điều không ai có thể tránh khỏi Cái chết chính là cơ cấu của tồn tại con người

Con người chính là một tồn tại hướng đến cái chết Như vậy, cái chết không ở

ngoài mà nó hiện diện, thường trực ở trong cuộc đời và đến với đời sống của conngười bất cứ lúc nào

Vậy đứng trước cái chết, con người cần ứng xử như thế nào? Theo M.Heidegger cùng một số tác giả hiện sinh khác: chúng ta phải chấp nhận cái chếtnhư một cơ cấu nội tại của hiện sinh Chấp nhận cái chết, con người sẽ tự thấy

Trang 29

mình là một tồn tại hữu hạn Nhận thức được điều này, con người sẽ sống vớilòng khoan dung, với tất cả sự tự do suy nghĩ, hành động của mình.

Triết học hiện sinh du nhập vào đô thị miền Nam Việt Nam khá sớm.Ngay từ những năm 1955, khi triết học hiện sinh ra đời trên quê hương nómới được vài thập kỷ thì ở đô thị miền Nam, trào lưu triết học mới mẻ này

đã bắt đầu được giới thiệu

Trịnh Công Sơn cũng bị ảnh hưởng bởi dòng chảy của chủ nghĩa hiện

sinh Ông cho rằng: “Hiện sinh chân chính đâu phải là xấu Mình cho rằng bậc

thượng thừa của hiện sinh chính là ông Phật.”[8;138] Chủ nghĩa hiện sinh đã

“mê hoặc” Trinh Công Sơn và các trí thức trẻ miền Nam Việt Nam những nămcuối thập niên 1950 đầu 1960, vì thế, nhiều sáng tác của ông mang những hìnhảnh siêu thực, ca từ lạ và không theo quy tắc Thái Kim Lan (bạn thân của TrịnhCông Sơn) trong buổi nói chuyện về chủ nghĩa hiện sinh, bà đã nói rằng Trịnh

Công Sơn nói rất ít về những điều này, nhưng ông đã sáng tác và hát triết học.

Theo John C Schafer thì Trịnh Công Sơn bị thu hút mạnh mẽ bởi nhưng tư

tưởng hiện sinh về sự kinh hãi và sự sống đích thực Trong phần giới thiệu một tập nhạc xuất bản năm 1972, Trịnh Công Sơn có nói: “Tôi đang yêu thương cuộc

đời bằng nỗi lòng của tên tuyệt vọng.” Tuyệt vọng ở đây đã được Trịnh Công

Sơn nói đến trong nhiều tác phẩm của mình cũng giống với sự kinh hãi hiện

sinh Đây là tâm trạng làm cho con người mất hết tinh thần khi phải đối diện vớiđiều không thể tránh khỏi là cái chết Với Trịnh Công Sơn, sự sợ hãi và trực giác

về cái chết của chính mình là nền tảng của cuộc sống thật sự Điều này mang lạigiá trị của cuộc sống Trong cuộc sống đời thường, có thể ta nói đến cái chết,thậm chí đưa ra khái niệm của cái chết, nhưng liệu ta có cảm nhận được chết làthế nào? Trừ khi ta đối diện với căn bệnh hiểm nghèo, khi ta nằm cận kề với cáichết thì ta mới cảm nhận được cái ghê sự của thần chết, nhưng cũng vì lẽ đó màcon người sống thiết tha, nồng nàn hơn

Tuy nhiên cũng cần khẳng định rằng: Trịnh Công Sơn có quan tâm đến chủnghĩa hiện sinh, nhưng nó chỉ ảnh hưởng đến sáng tác của ông một cách chung

Trang 30

chung Bởi ông trình bày những bài hát này bằng những ngôn từ đơn giản “như

người mẹ Huế kể chuyện cổ tích”, “như ca dao hoặc như lời ru của mẹ.” (Trịnh

Công Sơn)

Thiền sư Thích Nhất Hạnh, một nhà sư Phật giáo nổi tiếng thế giới nói

rằng: “Trong tiếng Việt, lòng mẹ là cung điện của trẻ thơ [tử cung] Thiên

đường nằm trong lòng người mẹ của chúng ta.” Còn Trịnh Công Sơn trong lần

trả lời phỏng vấn cũng nói: “Những lúc mình buồn không hiểu vì sao mình buồn,

có lẽ là nhớ quê nhà và quê nhà gần gũi nhất của mình là bào thai của mẹ.” Như

vậy, “triết học nhẹ nhàng” của Trịnh chính là triết học của quê nhà, điều này lígiải vì sao quê nhà - bào thai lại được nhắc đến nhiều lần trong các bài hát của

ông: “Đêm từng đêm bay về/ Quê hương là nỗi nhớ/ Đời nhẹ như lá thu/ Yêu

càng yêu quê nhà/ Yêu những đời bão tố/ Nhọc nhằn trong nắng mưa.” (Cánh

chim cô đơn), “Từng khi nắng mưa lán đêm nằm nhớ/ Màu đất trời quen quá

chốn quê nhà.” (Em ở nông trường em ra biên giới), “Đêm nghe gió thở dài/ Đêm nghe tiếng khóc cười của bào thai.” (Nghe tiếng muôn trùng)

Theo M Heidegger và những triết gia hiện sinh khác, làm con người mấthết tinh thần khi phải đối diện với cái chết của chính mình Với Heidegger vàTrịnh Công Sơn, sự sợ hãi về cái chết của chính mình mang lại ý nghĩa và sựtrân quý của đời sống Vì thế, trong nhiều bài hát của Trịnh Công Sơn cái chết

luôn thâm nhập vào đời sống: “Trong xuân thì thấy bóng trăm năm”, “Từng

ngày chiếc bóng trăm năm đã về/ Vây người giữa nến não nùng/ Từng tiếng khóc trăm năm đã về/ Vây người giữa chốn mông lung.” (Từng ngày qua) Trịnh

Công Sơn dường như đã chạm đến ranh giới của cái chết và cái vô cùng của hiệntại nên ông không còn sợ hãi cái chết mà đón nhận nó bằng sự điềm tĩnh và anbình

Sự ảnh hưởng của chủ nghĩa hiện sinh và tư tưởng Phật giáo khiến cho ca

từ của Trịnh Công Sơn vừa nhuốm màu Thiền, vừa mang màu sắc hiện sinh Điều

này cũng được bà Thái Kim Lan khẳng định: “Anh đã sáng tạo ra một triết lí hát

hòa hợp giữa đông và tây Tư tưởng tây phương ở các bài hát Trịnh Công Sơn

Trang 31

nằm ở hình thức bên ngoài, nhưng cốt tủy là đông phương Đó là điểm sáng tạo độc đáo của Trịnh Công Sơn, đã bắt được nhịp suy nghĩ của thời đại và của thế

hệ thanh niên Việt Nam.” Còn Văn Cầm Hải cho rằng: “Anh diễn ca về hư vô mà không bị hư vô hóa, anh niệm kinh bằng giai điệu tục lụy, anh nhuần ấm hiện sinh nhưng không bải hoải, anh triết lý nhưng lời nhạc cứ xanh tươi cây đời.”[5;75]

Như vậy, Trịnh Công Sơn không phải là phép cộng của chủ nghĩa hiệnsinh và Phật giáo, một phép trung bình cộng cũng không đúng, mà nó là nhữngnguồn ảnh hưởng, những lá dâu mà con tằm này ăn và bây giờ nó nhả ra “sợi tơóng ánh” của riêng mình Những tư tưởng ấy không hẳn là Phật giáo, không hẳn

là của hiện sinh mà nó là của riêng Trịnh Công Sơn

1.3 Những nhân tố ảnh hưởng đến ý niệm Sống - Chết của Trịnh Công Sơn

1.3.1 Thời đại

Xã hội đô thị miền Nam 1954 - 1975 vô cùng rối ren về chính trị Trongkhi miền Bắc xây dựng xã hội chủ nghĩa, miền Nam vẫn phải sống trong bomđạn chiến tranh, dưới sự cai trị của chính quyền Sài Gòn và chủ nghĩa thực dânkiểu mới của Mỹ Tình hình chính trị xã hội luôn luôn bất ổn Không khí căngthẳng bao trùm Mỹ - Diệm vừa mua chuộc vừa dùng bạo lực thủ tiêu các thế lựctrong các giáo phái, phe phái chống đối chúng Những mâu thuẫn trong nội bộchính quyền Sài Gòn ngấm ngầm phát triển Những phong trào đấu tranh vũtrang, đấu tranh chính trị nổ ra liên tiếp làm chế độ Ngô Đình Diệm ngày càngkhủng hoảng sâu sắc Chính quyền Sài Gòn lâm vào bị động, lúng túng Cáctướng lĩnh đầu sỏ đứng ra vận động chống Ngô Đình Diệm, bàn mưu kế lật đổanh em Diệm, Nhu Mỹ ủng hộ nhóm tướng lĩnh do Dương Văn Minh cầm đầuđảo chính lật đổ chế độ, giết chết anh em Ngô Đình Diệm (1/1963) Sau đó nhiềucuộc đảo chính khác liên tiếp xảy ra Sự bất ổn về chính trị kéo theo sự bất ổn vềnhiều mặt trong cuộc sống

Bên cạnh sự rối ren về chính trị, tình hình chiến tranh ngày càng khốc liệt

Trang 32

hơn Nhằm chia cắt lâu dài đất nước ta, thực hiện chủ nghĩa thực dân kiểu mới,

Mỹ ồ ạt cho đổ quân vào miền Nam Không khí đàn áp, khủng bố bao trùm Trongbối cảnh phức tạp ấy, tâm trạng chung của con người là căng thẳng, lo âu, luôncảm thấy bất an Nhiều cuộc đấu tranh đòi tự do, dân chủ, dân sinh, dân quyền,đấu tranh bảo vệ văn hóa dân tộc, chống sự xâm lăng của văn hóa nước ngoài, đòi

Mỹ rút quân khỏi miền Nam Việt Nam liên tiếp nổ ra Hàng ngày tiếng súng,

tiếng bom không dứt Hàng đêm trong ánh hỏa châu ghê rợn, những người dânnơm nớp lo sợ

Từ năm 1968 đến năm 1971 phong trào đấu tranh hòa bình Việt Nam ởcác đô thị bùng nỗ mãnh liệt Đặc biệt là phong trào thanh niên sinh viên họcsinh, lập trường của họ thật kiên định: Mỹ cút, ngụy nhào, hòa bình đến

Trong những năm 1972, cục diện chiến tranh trên toàn miền Nam vô cùng

ác liệt, một cuộc “Việt Nam hóa chiến tranh” dưới mắt người con mắt người Mỹ.Cảnh chết chóc, tang tóc do chiến tranh gây ra, khói lửa mịt mù, bom đạn chợpchờn ngày đêm đã đi vào ca từ của Trịnh Công Sơn một cách tự nhiên Trong cakhúc của ông, có rất nhiều những hình ảnh chiến tranh, những khổ hận của thời

chiến: “Hàng triệu tiếng than/ Nghe trên môi người/ Tuổi trẻ chết oan/ Trên tay

nhân loại/ Một đời Việt Nam/ Nào có lâu dài.” (Buồn từng phút giây)

Trịnh Công Sơn lên án những kẻ đã gây ra chiến tranh bất công này cho

cả dân tộc Việt Nam Ông gián tiếp tố cao chiến tranh qua những hình ảnh vànỗi đau khổ:

“Hãy nhìn lại người anh em trên chiến trường xa

Hãy nhìn lại tìm đâu ra những nét mặt thù Hãy nhìn lại được hay thua những tháng bại kia Hãy nhìn lại mặt quê hương tan nát từng giờ”.

(Hãy nhìn lại)Ông như đứng ở đâu đó và luôn ẩn hiện trong cuộc chiến ba mươi nămcủa dân tộc, để chiêm nghiệm, hoài niệm, để cho nguồn cảm xúc dâng tràn và

Trang 33

trào lên khuông nhạc một cách tự nhiên Ông đã chứng kiến xác người nằm trôi

sông, chứng kiến hình ảnh của “Một đứa bé ra đồng/ Đạp trái mìn nổ chậm”.

Ông đứng đâu để nghe tiếng “đại bác đêm đêm dội về thành phố” Từ vị trí ấy,

Trịnh Công Sơn đã viết về chiến tranh, viết về những mất mát, tan tác, đauthương, chia lìa, đổ vỡ viết về những nỗi đau đời, nỗi đau của người mẹ mấtcon, vợ mất chồng, con mất cha, cô gái mất người yêu bằng một bút pháp và ca

từ không thể lẫn lộn với bất cứ ai Có thể nói, chiến tranh là một trong những

nhân tố khiến Trịnh Công Sơn luôn ám ảnh, day dứt về sự Sống - Chết.

1.3.2 Gia đình, quê hương

Trịnh Công Sơn quê làng Minh Hương, tổng Vĩnh Tri, huyện Hương Trà,tỉnh Thừa Thiên Huế Cha ông là một doanh nhân yêu nước trước kia đã từnglàm việc trong ngành tư pháp và tham gia chống Pháp, ông mất khi Trịnh CôngSơn mới 15 tuổi Mẹ ông là người phụ nữ nhân hậu, đảm đang và có cảm nhậnnghệ thuật tinh tế Bà vừa là một nghệ sĩ vừa là nhà văn nghiệp dư Vì thế, TrịnhCông Sơn được thừa hưởng sự thẩm thấu nghệ thuật của người mẹ và sự day dứt

ám ảnh về cái chết của người cha

Huế từng là thủ đô Phật giáo của cả nước một thời Ngày nay Huế là mộttrong ba trung tâm Phật giáo lớn nhất của Việt Nam Đó là vùng Bến Ngự - mộtvùng đất xanh tươi bên dòng sông An Cựu, nơi có nhiều chùa chiền, lăng tẩm, làmảnh đất của văn hóa, của tâm linh Vẻ mộng mơ, trầm mặc, ưu tư của thànhphố cổ và lối sống trầm lặng của chốn cố đô đã tạo nên một phong cách - phongcách Huế Người Huế đa số theo đạo Phật, tiếng chuông chùa và lời kinh thấmsâu vào cách sống, lối sống và tâm hồn của họ Điều đó giúp chúng ta hiểu vì saodấu ấn Thiền, Phật và giàu chất Huế đã xuất hiện đậm đặc trong những tác phẩm

của Trịnh Công Sơn Dường như Huế đã trở thành “cốt tủy của âm thanh”, của

“giai điệu trầm” trong những ca khúc Trịnh Công Sơn Bởi vậy, Huế như một

người tình chung thủy, duy nhất không bao giờ tàn phai trong nhạc Trịnh

Trang 34

Trong lời giới thiệu bài “Mưa hồng”, Cao Huy Thuần có nhận xét: “Cảnh,

tình và người trong Trịnh Công Sơn là cảnh Huế, tình Huế, người Huế Sau này Sơn rời Huế vào Sài Gòn, chất thơ trong nhạc của Trịnh Công Sơn vẫn là chất Huế, nguồn thơ vẫn chảy từ Huế Vô số những bài hát của Sơn đều ướt và mưa.

Vì Huế là xứ của mưa dầm Mưa mùa đông, mưa mùa hè, mưa sợi nhỏ, mưa sợi

to, mưa tỉ tê, mưa day dứt, cảnh mưa trong Trịnh Công Sơn buồn nhưng rất đẹp.”[4;253] Những hình ảnh vườn cây, hoa lá, nắng, mưa, những chùa chiền,

lăng tẩm… đã ôm ru thời thơ ấu mỗi con người Huế, thức dậy trong tâm hồn họ

sự dịu dàng, nhạy cảm trước những âm thanh rất nhỏ của cuộc đời như khi nghetiếng lá đổ, nghe mưa rơi, những tiếng thì thào của ngọn gió,…

Chính Trịnh Công Sơn khi trả lời phỏng vấn các nhà báo cũng đã từng nói:

“Huế và đạo phật ảnh hưởng sâu đậm trên tình cảm thời thơ ấu của tôi Tất cả

những gì thuộc về cuộc sống đều có ảnh hưởng trên đời sống tinh thần và tình cảm của tôi.”

Trịnh Công Sơn cũng thường tâm sự: “Trong các bài hát của tôi không

tìm thấy một từ Huế nào, nhưng thật ra là rất Huế.”[3;313] Có thể nói, quê

hương, gia đình là cái mảnh đất màu mỡ mà trên đó đã “ươm nở những giai điệu

nồng nàn, những lời ca bất ngờ, thơm thảo của Trịnh Công Sơn Anh nhìn quê hương với đôi mắt nợ nần, và nghe quê hương trong tiếng tri âm.”[29;161]

1.3.3 Đời sống cá nhân

Hoàng tử bé sinh ngày 28/2/1939, tại thành phố Buôn Ma Thuật tỉnh ĐắcLắc Lúc nhỏ sống ở Huế, trưởng thành ở Đà Lạt, Quy Nhơn, Sài Gòn Ông làanh cả của 8 người em trai và gái, người thừa kế quan trọng trong một gia đìnhtrung lưu Ông là một trong những trí thức thấm nhuần văn hoá Pháp và chịu ảnhhưởng sâu sắc của nền triết học phương Tây hiện đại ngay từ khi còn rất trẻ

Trong cuộc đời của cố nhạc sĩ - thi sĩ Trịnh Công Sơn có nhiều yếu tố ảnhhưởng đến ý niệm sống chết của ông Nhưng theo tôi có hai biến cố cốt lõi nhất là:

Trang 35

Năm 1955, khi ông 15 tuổi, cha ông bị tai nạn giao thông qua đời Cáichết đột ngột, thảm khốc của người cha là cú sốc đầu đời, ám ảnh ông thường

trực Từ đó, ông luôn suy nghĩ về Sống - Chết Ông nhớ lại: “Trong giấc ngủ

hằng đêm tôi thường nhìn thấy cái chết của ba tôi Nỗi ám ảnh ấy chắc chắn không bắt nguồn từ lớp bụi tro dày của vô thức làm nên từ những cái chết của tổ tiên mà có lẽ từ những năm tù tội tra tấn chết đi sống lại của ba tôi trong kháng chiến chống Pháp Rõ ràng là cái chết ấy được báo động qua một tâm hồn quá nhạy cảm của tuổi thơ.”[2;142]

Thời niên thiếu, Trịnh Công Sơn là một chàng trai vui vẻ, khoẻ mạnh, từnggiành nhiều giải thưởng thi đấu thể thao (chạy, cử tạ, judo ) Năm 1957, TrịnhCông Sơn 18 tuổi, một tai nạn bất ngờ đã thay đổi cuộc đời ông Lúc ấy ông đanghọc trung học, vào một ngày khi đang tập judo với em trai, ông bị thương nặng ởngực và phải nằm liệt giường gần hai năm tại Huế Trong thời gian nằm dưỡngbệnh, ông có nhiều thời gian rảnh rỗi để suy nghĩ về kiếp người và cảm nhận vẻ

đẹp của thiên nhiên Trịnh Công Sơn thổ lộ: “Tôi đến với âm nhạc có lẽ cũng vì

tình yêu cuộc sống Một phần cũng do một khúc quanh nào đó của số phận.” Tai

nạn ấy, những tháng ngày nằm liệt ấy, Trịnh Công Sơn đã có những trải nghiệmsinh tử, cảm nhận được hơi lạnh của thần chết, đây là một trải nghiệm ghê sợkhiến cho cái chết trở thành nỗi ám ảnh, day dứt khuôn nguôi đối với người nghệ

sĩ tài hoa này: “Tai nạn trên là một cái rủi cho ông về thể xác nhưng là một cái

may cho nền âm nhạc Việt Nam Nếu như không có khúc quanh bất ngờ này, có lẽ ông đã tiếp tục chơi thể thao, đi học tiếp và không chừng đã trở thành một bác sĩ, hay kĩ sư , và lịch sử âm nhạc Việt Nam sẽ không bao giờ có được một nhạc sĩ tài hoa như thế.”[12;30]

Ông sáng tác với một triết lý giản dị: “Tôi chỉ là một tên hát rong đi qua

miền đất này để hát lên linh cảm của mình về những giấc mơ đời hư ảo…”.

Trong đời sống nhân sinh, ông quan niệm: “Sống trong đời sống cần có một tấm

lòng/ Để làm gì em biết không?/ Để gió cuốn đi/ Để gió cuốn đi.” Theo Trịnh

Công Sơn “… nghệ thuật, điều quan trọng nhất là làm thế nào để mở ra một con

Trang 36

đường ngắn nhất đi từ trái tim của mình đến trái tim của người mà không cần cắt nghĩa gì thêm.” Với ông sáng tác để: “Tôi viết khúc nhạc xoa dịu đớn đau/ Trên chiếc thân gầy đàn cầm ốm o” (Trả lại em)

Ông mong muốn: “qua ca khúc tôi muốn đánh lên những tiếng chuông

mai, chuông chiều, mượn ánh nắng của trời đất để soi tỏ cái số phận đó cho mỗi người có thể nhìn mình và nhìn người rõ hơn, chăm chú hơn cho đến một lúc nào đó thì mọi sự tốt lành, thì tình yêu sẽ cho chúng ta thấy rằng con đường duy nhất để đi đến với người khác trên mặt đất này không phải là sự ác độc mà chính là một lòng nhân ái vô biên.”[7;134]

Sự ra đi của nhạc sĩ tài hoa này đã để lại một khoảng trống không gì bù

đắp được: “Tất cả mọi người cảm thấy rất cô đơn và hụt hẫng Bạn bè mất đi

một chỗ dựa ấm áp về tình cảm và tinh thần, giới âm nhạc mất đi một nhạc sĩ tài hoa mẫu mực về nhân cách và đạo đức, công chúng âm nhạc mất đi một thần tượng tuyệt vời.”[7;314]

trường đời cùng cá tính và sở trường riêng của chủ thể Ý niệm Sống - Chết trong

ca từ Trịnh Công Sơn, tất nhiên, không nằm ngoài qui luật chung đó Tuy nhiên,

ở người nghệ sĩ này, cá tính và sự trải nghiệm có lẽ là yếu tố quan trong nhất,chúng đã giúp chủ thể hấp thụ nhuần nhuyễn các tác động từ khách quan để tạonên một ý niệm mang đậm sắc thái cá nhân Trịnh Công Sơn không phải là phátngôn viên của chủ nghĩa hiện sinh, cũng không phải một sứ đồ của đạo Phật.Ông là người nghệ sĩ đi ngang cuộc đời này bằng linh cảm của mình mà hát vềnhững giấc mơ đời hư ảo Nghĩa là một ý niệm chủ yếu được chưng cất từ thân

Trang 37

phận một con người lăn lóc trong những thăng trầm của thời đại mình Những ýniệm thuộc thương hiệu Trịnh Công Sơn.

Chương 2

Ý NIỆM SỐNG - CHẾT TRONG CA TỪ CỦA TRỊNH CÔNG SƠN,

NHÌN TỪ HỆ THỐNG HÌNH TƯỢNG

Sự Sống - cái Chết quá mong manh Sinh - lão - bệnh - tử là quy luật lẽ

thường của tự nhiên, cái chết không loại trừ bất cứ ai Trong mỗi con người luôntồn tại hai mặt: Sự sống và cái chết Khi con người sinh ra và lớn lên cũng đồngnghĩa với việc tiến dần đến cái chết Cái chết từ đó cũng trở thành điều đáng sợvới con người vì: chết là dấu chấm hết của cuộc đời Sự hoang mang lo sợ khiếnchúng ta không còn đủ tỉnh táo để sống những tháng ngày vui vẻ, hạnh phúc.Song, sớm hay muộn thì con người cũng phải đi đến cái ranh giới không mongđợi giữa sự sống và cái chết Vì vậy, nếu tất cả mọi người đều hiểu được sinh tử

là quy luật tự nhiên thì họ sẽ tích cực hơn và đóng góp cho đời nhiều hơn Khôngnằm ngoài quy luật đó, Trịnh Công Sơn cũng luôn băn khoăn khôn nguôi về

Sống - Chết Với ông thực tại vô thường: Sống - Chết tương tranh viên miễn, bởi

vậy ông trở thành người tình chia sẻ mọi hệ lụy trần gian

2.1 Sống - Chết là nỗi ám ảnh phổ biến của nhân sinh

Chết thông thường được xem là sự chấm dứt các hoạt động của một sinh

vật hay ngừng vĩnh viễn mọi hoạt động sống (không thể phục hồi) của một cơ

thể Trong ấn phẩm đầu tiên của cuốn Từ điển bách khoa toàn thư Anh Quốc, định nghĩa về cái chết có thể được tóm lược như là “sự chia rẽ giữa linh hồn và

thể xác” Chết nghĩa là tan biến.

Trước Trịnh Công Sơn có hai quan niệm đối lập nhau về cái chết: Quan

niệm thứ nhất có tính bi quan, họ nhìn nhận cái chết u ám, buồn thảm, vô

nghĩa… vì vậy họ ứng xử với cái chết bằng thái độ sợ hãi, đau buồn, chốn tránh

Trang 38

cái chết, họ ngại “động chạm”, thậm chí còn “kị” không nói đến từ này, vì họcho rằng nó là “đen đủi”, là “gở mồm”, là “xúi quẩy” Họ thường nói đến cuộcsống nhiều hơn, bởi cuộc sống mang lại cho họ có thể là niềm vui, có thể là nỗi

buồn hay một sự luyến tiếc,… Quan niệm này rất phổ biến của con người Quan

niệm thứ hai có tính lạc quan hơn: họ không trân quý sự sống cho nên họ xem

thường cái chết Các bậc trượng phu ngày xưa coi trọng ý nghĩa của cái chết.Những tấm gương xả thân vì nghĩa lớn theo quan niệm của Nho giáo được lưutruyền trong sử sách Chết vì đạo nghĩa đã trở thành những câu cách ngôn trong

sự nghiệp lập thân của các nhà nho, cũng như là lời cảnh tỉnh với người khác khiđối diện với cái chết Nho gia đánh giá nhân cách người quân tử có giá trị hơn

giá trị của sinh mệnh nhiều lần Với họ “Thác mà trả nước non rồi nợ, danh

thơm đồn sáu tỉnh chúng đều khen; thác mà ưng đình miếu để thờ, tiếng ngay trải muôn đời ai cũng mộ.” (Nguyễn Đình Chiểu - Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc).

Trong thời kì kháng chiến chống Pháp, Mĩ họ quan niệm chết là được đổi đời,được tái sinh Cái chết của cá thể hòa nhập và sống trong cái tổng thể như nhà

thơ Tố Hữu nói trong bài Việt Nam máu và hoa: “Ta sẵn sàng xé trái tim ta/ Cho

Tổ quốc, và cho Tất cả/ Lá cờ này là máu là da/ Của ta, của con người, vô giá”,

“Ôi Tổ quốc ta yêu như máu thịt,/ Như mẹ cha ta, như vợ như chồng/ Ôi Tổ quốc

nếu cần ta chết/ Cho mỗi ngôi nhà, ngọn núi, con sông” (Chế Lan Viên - Sao chiến thắng)

Đây chính là quan niệm phổ biến của chủ nghĩa lạc quan Điều này đã tạonên một động lực mạnh mẽ để quân và dân ta chiến thắng kẻ thù và giành độclập tự do cho Tổ quốc

Trong một số bài viết của mình, Trịnh Công Sơn cũng đã đưa ra một số ý

niệm về Sống - Chết: “Chết là sự tan biến của thể xác Nhưng sống không chỉ là

tồn tại của thân xác Nhiều người sống mà tưởng chừng như đã chết Nhiều người

đã chết mà vẫn còn sống trong trí nhớ mọi người.”[13;79] Cho nên, cái mất không

bao giờ mất hẳn, mà cái còn không hẳn đã mãi còn Với ông: “Cái chết chẳng qua

Trang 39

cũng chỉ là một sự đùa cợt sau cùng của sự sống Khi sự sống bất lực thì cái chết đến Và cái chết hình như cuối cùng cũng chỉ là một sự ngộ nhận bất đắc dĩ của

sự sống mà thôi.”[19;199] Trước bàn thờ Văn Cao, ông lại khẳng định: “Chết có nghĩa là không còn có mặt trong cuộc đời này nữa Tuy nhiên không có mặt nơi này biết đâu vẫn có thể có mặt ở một nơi nào đó.”[1;141] Như vậy, theo ông ra đi

hay ở lại cũng là khái niệm tương đối có khi là mơ hồ về sự hiện hữu Quan niệm

cuộc đời là cõi tạm, là nơi ở trọ thì bản thân Trịnh Công Sơn cũng đã sống hết

mình, đã yêu thương hết mình, đã vắt kiệt tâm hồn mình cho cuộc đời này dù có

những lần bị phụ rẫy, ruồng bỏ Suy cho cùng thì: “Cuối cùng không có gì khác

hơn là sống và chết Sống làm thế nào cho tròn đầy sự có mặt và chết cho ngập tràn cõi hư không Phải đi đến tận cùng của hai cõi sống chết để làm tan biến tất

cả những giấc mộng đời không thực.”[7;296] Trần gian cũng chỉ là cõi tạm, cho

nên đây cũng là cách ứng xử khéo léo, khôn ngoan

Với Trịnh Công Sơn - người đã phải chứng kiến cảnh mất mát, đauthương của đất nước, đồng thời có sự ảnh hưởng sâu sắc trong quan niệm củaPhật giáo và triết học hiện sinh thì ông đã ứng xử với Sống - Chết như thế nào?

Ý niệm Sống - Chết của Trịnh Công Sơn không bi quan, không lạc quan mà ôngbình thản trước cái chết, xem cái chết là tất yếu, không né tránh, vô thường Ýniệm này vừa thống nhất vừa mâu thuẫn Thống nhất vì nó đã trở thành phongcách Trịnh Công Sơn, chết một cách bỉnh thản, như mơ, tình cờ Mâu thuẫn ở haikhía cạnh:

Thứ nhất, mâu thuần giữa lí trí và tình cảm Lí trí thì vẫn nhận thức

được rằng: Sống - Chết là lẽ vô thường, là quy luật bất biến của tự nhiên, không

ai có thể tránh khỏi Cho nên bình thản đón nhận, không sợ hãi, không đau khổ:

“Không có đâu em này/ Không có cái chết đầu tiên/ Và có đâu bao giờ/ Đâu có

cái chết sau cùng/ Tự mình biết riêng mình/ Và ta biết riêng ta” (Ngẫu nhiên).

Tuy nhiên, đời người thì ngắn ngủi, cái chết như thể là kết cục không thểtránh khỏi mai hậu Trong thực tế, sống là hạnh phúc lớn lao kì diệu Cho nên

Trang 40

tình cảm vẫn buồn Buồn vì lưu luyến trần gian Như vậy, lí trí không chỉ đạođược tình cảm Đặc biệt với một tâm hồn nhạy cảm, với một trái tim đa sầu thì

khi “Em đi bỏ lại con đường” làm sao có thể vô thường? “Bỏ mặc vui buồn bỏ

mặc ai/ Bỏ mặc không chăn bỏ mặc người/ Bỏ tôi hoang vu và nhỏ bé/ Bỏ mặc tôi ngồi giữa đời tôi”

Mỗi phút giây qua đi là “Buồn từng phút giây”: “Sống từng ngày/ Chết

từng ngày/ Còn sống một ngày/ Là hẹn chết mai đây.”

Thứ hai, mâu thuẫn giữa nội dung ca từ và giai điệu Trong giai điệu

buồn có vui Theo khảo sát thì số lượng bài buồn nhiều hơn bài vui Tuy nhiên,trong những bài có giai điệu vui nhưng nội dung vẫn có nét buồn chẳng hạn bài

Hãy cứ vui như mọi ngày, nhan đề và lời thì kêu gọi niềm vui nhưng giai điệu

thoáng những nét buồn: “Hãy cứ vui chơi cuộc đời/ Hãy cứ vui như mọi ngày/

Bên trời còn nắng lá trời còn xanh/ Phố còn người đông rồi quên rồi quên.”

Hay có bài giai điệu thì tươi vui, rộn ràng, nhưng nội dung lại là sự tan

biến, hư không, gợi nỗi buồn bâng khuâng, day dứt: “Thằng bé xinh xinh ra

đồng giữa ngọ/ Ngờ đâu hội ngộ tan giữa hư không/ Tan trong trời hồng làm giọt mưa trong/ Tan trong cuộc đời làm giọt mưa trong/ Tan trong cuộc đời làm lời ru trong/ Tan trong nụ cười gọi mời yêu thương/ Tan trong cội nguồn.”

Sống - Chết trong ca từ Trịnh Công Sơn không chỉ là ý niệm mà còn được biểu hiện bằng hành động Trong lần trả lời phỏng vấn nhân dịp ca sĩ Trịnh

Vĩnh Trinh ra Album “Cho đời chút ơn”, Trịnh Công Sơn chia sẻ: Từ khi 10 tuổi

ông đã bị ám ảnh bởi cái chết, suy nghĩ nhiều về Sống - Chết và còn - mất trong

cuộc đời Ông nhận ra đời sống thì đẹp và rộng dài quá còn đời người thì hữu hạn

Bởi vậy ngay từ nhỏ ý niệm Sống - Chết đã trở thành nỗi ám ảnh lớn nhất của đời

ông Nó không chỉ ăn sâu, bám rễ trong tư tưởng mà nó còn được biểu hiện ra

hành động: “Đêm ta nằm bóng tối che ngang/ Đêm ta nằm nghe tiếng trăm năm/

Gọi thì thầm/ Gọi thì thầm” (Còn có bao ngày), “Rồi một lần kia khăn gói ra đi/ Tưởng rằng được quên thương nhớ nơi quê nhà” (Bên đời hiu quạnh).

Ngày đăng: 25/02/2017, 17:54

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w