1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

XU HƯỚNG tự DO hóa NGÔN NGỮ TRONG THƠ HIỆN đại VIỆT NAM (QUA NHỮNG bài THƠ TRONG SGK TRUNG học PHỔ THÔNG)

103 474 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 103
Dung lượng 555 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhờ đó, thơ tự do dần dần trở thành mảnhđất hứa cho các tài năng thỏa sức tung hoành.Vì ngôn ngữ được coi là “vật liệu” chủ đạo cấu thành nên thơ nên sự tự do hóa của thơ cũng gắn liền v

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN

Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Trần Trí Dõi

Trang 2

SƠN LA - 2015 LỜI CAM ĐOAN

Tên tôi là: Nguyễn Thị Hợp, học viên cao học Trường Đại học TâyBắc, chuyên ngành ngôn ngữ, xin cam đoan:

1 Đây là luận văn do bản thân tôi trực tiếp thực hiện dưới sự hướngdẫn của Giáo sư, Tiến sĩ Trần Trí Dõi

2 Các số liệu và thông tin trong nghiên cứu là hoàn toàn chính xác,trung thực và khách quan

3 Đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi và chưa từng được công

bố trong bất cứ một công trình nào

Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật về những cam kết này

Lai Châu, ngày 24 tháng 10 năm 2015.

Người viết cam đoan

Nguyễn Thị Hợp

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2.Lịch sử của vấn đề 3

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài 4

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4

5 Phương pháp nghiên cứu 5

6 Điểm mới và đóng góp của đề tài 6

7 Bố cục của đề tài 6

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN PHỤC VỤ CHO VIỆC THỰC HIỆN ĐỀ TÀI 7

1.1.Vài nét khái quát về thơ trong tiến trình vận động văn học hiện đại Việt Nam 7

1.2 Những phương diện cơ bản của sự tự do hóa ngôn ngữ thơ 9

1.2.1 Ngôn ngữ và ngôn ngữ trong thơ 9

1.2.2 Bối cảnh chung của tiến trình vận động thơ hiện đại Việt Nam 11

1.2.3 Đặc điểm và biểu hiện sơ lược của sự tự do hóa ngôn ngữ thơ .17

1.3 Mối quan hệ giữa xu hướng tự do hóa ngôn ngữ thơ với quá trình hiện đại hóa văn học 23

1.3.1 Qúa trình hiện đại hóa văn học 23

1.3.2 Mối quan hệ giữa quá trình hiện đại hóa văn học và xu hướng tự do hóa ngôn ngữ 27

Tiểu kết chương 1 29

Chương 2: TỰ DO HÓA NGÔN NGỮ THƠ Ở CẤP ĐỘ BÀI THƠ VÀ KHỔ THƠ TRONG SGK NGỮ VĂN THPT 31

Trang 4

2.1 Giới hạn của hình thức thể hiện xu hướng tự do hóa ngôn ngữ

trong thơ hiện đại Việt Nam 31

2.2 Sự tự do hóa ngôn ngữ thơ ở cấp độ bài thơ 33

2.2.1 Xét trên tiêu chí hình thức thể loại thơ 33

2.2.2 Biểu hiện hình thức thể loại xét theo thời điểm sáng tác 38

2.3 Sự tự do hóa ngôn ngữ thơ ở cấp độ khổ thơ 40

2.3.1.Đặc điểm của khổ thơ 40

2.3.2 Xu hướng tự do hóa ngôn ngữ thể hiện trong khuôn khổ khổ thơ .41

2.4 Nâng cao giá trị nội dung khi tự do hóa thể loại bài thơ và khổ thơ 47

2.4.1 Giá trị tác phẩm được nhìn nhận từ góc độ tự thân 47

2.4.2 Nội dung là mục tiêu chính của tác phẩm văn học 49

Tiểu kết chương 2 55

Chương 3: TỰ DO HÓA NGÔN NGỮ THƠ Ở CẤP ĐỘ CÂU THƠ TRONG SGK NGỮ VĂN THPT 57

3.1 Sự tự do hóa ngôn ngữ thơ ở cấp độ câu thơ 57

3.1.1 Sự thay đổi cấu trúc câu thơ 57

3.1.2 Biểu hiện của sự thay đổi cấu trúc câu thơ trong văn bản 59

3.2 Những phương tiện tự do hóa ngôn ngữ ở câu thơ 66

3.2.1 Tự do hóa nhịp điệu 66

3.2.2 Phối hợp thanh điệu 75

3.2.3.Vần trong câu thơ 79

Tiểu kết chương 3 90

KẾT LUẬN 91

TÀI LIỆU THAM KHẢO 93

Trang 5

DANH MỤC NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN

Dạng viết tắt Nội dung đầy đủ

Trang 6

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1: Kết quả khảo sát theo thể loại 33 Bảng 2.2.: Kết quả thống kê theo thời điểm sáng tác

38

Bảng 3.1: Số bài thơ có số lượng câu thơ đều đặn/không đều đặn 57

Bảng 3.2 Kiểu câu thơ theo tiêu chí số tiếng trong một dòng thơ 58

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Trong các thể loại tác phẩm văn học, thơ là sản phẩm của sự sáng tạonghệ thuật được coi là xuất hiện gần như sớm nhất trong đời sống xã hội.Cũng như tất cả các thể loại thuộc về nghệ thuật ngôn từ khác, thơ đến vớingười thưởng thức qua những bài thơ cụ thể Tuy đã có rất nhiều những địnhnghĩa về thơ nhưng người ta cho rằng chưa có một định nghĩa nào có thể diễnđạt được một cách toàn diện và sâu sắc về thể loại tác phẩm văn học này Mặc

dù vậy, trên thực tế, người ta đều có thể thừa nhận rằng thơ là thể loại tiêubiểu cho sự tinh tuý của nghệ thuật ngôn từ

Là một trong những thành tựu của lịch sử, thơ ca mang trong mình sựvận động nội tại gắn liền với sự phát triển của lịch sử dân tộc Theo đó, ở mộtmột chặng đường, với sự tác động khác nhau từ các nhân tố lịch sử, xã hội,quá trình phát triển tự thân của thơ ca, thơ ca theo đó sẽ có những chuyển biến

về mặt tư tưởng đề tài, những cách tân mới mẻ, độc đáo Nếu như trong giaiđoạn trước thế kỷ XX, nước ta bị phong kiến phương Bắc đô hộ hàng nghìnnăm, và khi giành độc lập về cơ bản lại xây dựng nền nghệ thuật theo chế độphong kiến, cho nên thơ ca thời kì này (không kể văn học dân gian thơ ViệtNam) thường chịu ảnh hưởng nhiều của luật thơ truyền thống, thơ Đường(Trung Quốc) sáng tác theo các quy tắc hết sức chặt chẽ Đến giai đoạn đầuthế kỷ XX, đất nước ta bị thực dân Pháp đô hộ Vào thời gian này, yếu tố lịch

sử và sự thay đổi về tư tưởng theo hướng phương Tây hóa đã chi phối rấtnhiều đến nghệ thuật, trong đó có nghệ thuật thơ ca Đặc thù chung của thơ cathời kì này đó là có xu hướng tìm cách phá vỡ những khế ước của văn họctrung đại Bên cạnh những sáng tác thơ theo lối truyền thống, thơ tiến hànhquá trình làm mới và cách tân như một quy luật tất yếu để từng bước thoátkhỏi sự cũ kỹ sáo mòn trong sáng tác Trong xu thế đó, thể loại thơ tự do theo

Trang 8

cách của phương Tây trở thành phương tiện hữu hiệu trong việc chuyển tảikhông khí khẩn trương, gấp gáp của nhịp sống xã hội đã hình thành và ngàycàng được mở ra trên diện rộng Nhờ đó, thơ tự do dần dần trở thành mảnhđất hứa cho các tài năng thỏa sức tung hoành.

Vì ngôn ngữ được coi là “vật liệu” chủ đạo cấu thành nên thơ nên sự tự

do hóa của thơ cũng gắn liền với sự hiện đại hóa cách thức các tác giả sửdụng ngôn ngữ trong thơ Nhờ đó, việc nghiên cứu ngôn ngữ thơ sẽ có nghĩaquan trọng trong việc chỉ ra những đặc thù chính, quá trình vận động pháttriển của thơ Trong sách Ngữ văn bậc trung học phổ thông, các tác phẩmthuộc loại hình thơ ca chiếm tỉ lệ lớn Trên thực tế, ngôn ngữ thơ của nhữngtác phẩm này ít nhiều vẫn còn những khoảng trống cần được tìm hiểu kỹ phục

vụ cho việc giảng dạy Chính vì thế chúng tôi lựa chọn đề tài “Xu hướng tự

do hóa ngôn ngữ trong thơ hiện đại Việt Nam (Qua những bài thơ trong SGK Ngữ văn trung học phổ thông)” để làm đề tài luận văn của mình.

Với đề tài đó, chúng tôi sẽ tập trung tìm hiểu về sự tự do hóa ngôn ngữthơ tiếng Việt đối với các tác phẩm được đưa vào chương trình sách giáo khoa

ở bậc học THPT Trước hết, chúng tôi tập trung tìm hiểu, khai thác những kếtquả nghiên cứu đã có về sự tư do hóa ngôn ngữ thơ Việt thế kỷ XX đồng thờilấy đó làm cơ sở giúp cho công việc giảng dạy ngôn ngữ văn học trong nhàtrường Theo đó, hiểu biết về tự do hóa ngôn ngữ thơ Việt thế kỷ XX giúp chochúng tôi thấy được tổng thế quá trình vận động nội tại và phát triển của thơ

ca hiện đại Việt Nam, xu hướng phát triển và những cách tân độc đáo củangôn ngữ thơ theo xu hướng tự do hóa đồng thời thấy được mối quan hệ, sựchi phối mật thiết giữa hai yếu tố hình thức và nội dung Đây có thể coi là mộthướng tiếp cận giúp cho chúng tôi khai thác được triệt để ý nghĩa, sự đa dạngcủa ngôn ngữ đối với quá trình phát triển của văn học dân tộc nói chung, thơ

ca nói riêng Đó là lý do bản thân tôi lựa chọn đề tài tài “Xu hướng tự do hóa

Trang 9

ngôn ngữ trong thơ hiện đại Việt Nam (Qua những bài thơ trong SGK Ngữ văn trung học phổ thông)” để thực hiện luân văn tốt nghiệp của mình.

hướng, các mức độ khác nhau như: Ngôn ngữ thơ (Nguyễn Phan Cảnh), Ngôn ngữ thơ Việt Nam (Nguyễn Hữu Đạt), Vần thơ Việt Nam dưới ánh sáng ngôn ngữ học (Mai Ngọc Chừ), Ngôn ngữ quy ước hay tân kỳ (Trần Văn Nam), Cuộc nổi loạn của ngôn từ trong thơ đương đại (Trần Ngọc Hiếu), Quan niệm nghệ thuật về ngôn từ thơ Việt đương đại (Trần Ngọc Hiếu) Những tác

phẩm hay bài viết nói trên đã đề cập đến "Ngôn từ" và "ngôn ngữ" khi bànluận cũng như tìm hiểu về thơ Đồng thời những bài viết, những công trìnhnghiên cứu trên đã khẳng định và cho thấy được vai trò quan trọng của ngônngữ học trong việc nghiên cứu thơ hiện đại Việt Nam

Tuy nhiên các bài viết về sự tự do hóa ngôn ngữ thơ và hiện đại hóa thơViệt thì còn lẻ tẻ, rải rác, hoặc có cũng chỉ tập trung vào một số tác giả tiêubiểu theo phong cách nghiên cứu chuyên sâu Trong khi đó, các bài viết về sự

tự do hóa ngôn ngữ thơ dùng các tác phẩm được đưa vào sách giáo khoa đểgiảng dạy trong chương trình THPT thì rất hiếm gặp, thậm chí là hầu nhưkhông thấy có Còn sách chuyên ngành về ngôn ngữ thơ thì phần nhiều lại tậptrung vào nghiên cứu theo hướng thi pháp Nói một cách khác đi, gần như

Trang 10

chưa có nhiều công trình nghiên cứu về sự tự do hóa ngôn ngữ thơ mà đốitượng phân tích là những tác phẩm thơ hiện đại được đưa vào chương trìnhsách giáo khoa bậc học THPT phục vụ cho giáo viên ngữ văn giảng dạynhững tác phẩm này.

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

Đề tài chọn hướng nghiên cứu sự tự do hóa ngôn ngữ trong thơ hiện đạiViệt Nam đối với các tác phẩm được đưa vào chương trình SGK Ngữ văn bậcTHPT với mục đích góp phần làm rõ mối tương quan biện chứng giữa hìnhthức và nội dung của những tác phẩm thơ đã đưa vào SGK Nhờ đó, người ta

sẽ thấy chính sự cách tân về hình thức là nhằm thể hiện, phản ánh sự cách tân

về nội dung Hướng nghiên cứu này giúp cho chúng ta có cái nhìn sâu hơn vềcác tác phẩm thơ hiện đại trong chương trình SGK Ngữ văn bậc THPT dướigóc độ ngôn ngữ, từ đó giúp ích cho việc giảng dạy chương trình ngôn ngữvăn học của người giáo viên

Đề tài sẽ có nhiệm vụ nhận biết rõ khái niệm "tự do hóa ngôn ngữ" thơ

Việt Nam trong thế kỷ XX là như thế nào và nó được hiện thực hóa trong cáctác phẩm được đưa vào chương trình SGK Ngữ văn THPT như thế nào Nhưvậy, đề tài mô tả những biến đổi theo hướng tự do hóa trên cơ sở phân tích cứliệu các tác phẩm cụ thể có trong chương trình SGK; và trên cơ sở phân tíchchi tiết sự tự do hóa trong các thể thơ ở cấp độ bài thơ, khổ thơ, câu thơ đểtìm ra sự khu biệt giữa thơ cũ với thơ mới, từ đó thấy được sự biến đổi củangôn ngữ thơ Việt Nam qua các giai đoạn Sau khi có sự phân tích, luận vănthử đưa ra một vài bình luận (bao gồm nhận xét, đánh giá) về quá trình biếnđổi, những đặc điểm trong sự biến đổi cấu trúc thơ; tìm ra sự cách tân về ngônngữ trong những tác phẩm thơ có trong chương trình SGK

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Để làm sáng tỏ những nội dung chính của đề tài, chúng tôi chủ trương

Trang 11

giới hạn khảo sát những dấu vết của xu hướng tự do hóa ngôn ngữ thơ hiệnđại Việt Nam trong các công trình có liên quan đặc biệt là hệ thống những bàithơ hiện đại thuộc chương trình Ngữ Văn THPT (Bao gồm chương trình cơbản và nâng cao)

5 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài được nghiên cứu theo hướng mô tả và phân tích, trên cơ sở thu thậpthống kê, xử lý so sánh để tìm ra sự biến đổi, quá trình tự do hóa của ngôn ngữtrong thơ tiếng Việt hiện đại có trong chương trình SGK Ngữ văn THPT Từ đógóp thêm ý kiến thảo luận về vấn đã được giới nghiên cứu nêu ra

Như vậy, khi thực hiện luận văn, chúng tôi sẽ dựa trên cơ sở một sốphương pháp như sau:

- Phương pháp mô tả - phân tích: Mô tả kết hợp với phân tích mô hìnhcác bài thơ, mô tả về khổ thơ với phép đối thanh điệu bằng- trắc, âm vực cao -thấp, cách gieo vần, luật niêm, miêu tả các khả năng ngắt nhịp thơ; mô tả cấutrúc, mô tả định lượng để có những nghiên cứu về các quan hệ, phương thức

tổ chức và giá trị tạo lập ngôn ngữ thơ hiện đại tiếng Việt

Để giúp cho việc mô tả phân tích khi thực hiện luận văn, trong chừngmực có thể, chúng tôi cũng có thể sử dụng những thao tác của phương phápphân tích diễn ngôn và thao tác thống kê, so sánh Theo đó, việc nghiên cứuthơ có thể xem xét trong mối quan hệ đa chiều giữa thơ với người sáng tác,người tiếp nhận, với ngữ cảnh, môi trường giao tiếp, môi trường tồn tại củabài thơ, các mối liên hệ, tương tác qua lại giữa các yếu tố đó, tính hiển ngôn,hàm ẩn; nghiên cứu vấn đề liên kết và mạch lạc, phương thức liên kết trong

sự tự do hóa ngôn ngữ thơ Và để trợ giúp, trong luận văn chúng tôi sẽ thống

kê số lượng bài thơ; số lượng khổ thơ; thống kê số lượng phép đối thanhđiệu,hiện tượng niêm; thống kê hiện tượng gieo vần ở từng khổ trong các bàithơ; thống kê cách ngắt nhịp câu thơ Trong điều kiện có thể chúng tôi cũng

Trang 12

sẽ so sánh các tập thơ, so sánh các giai đoạn, các tác giả khác nhau để làm nổibật những nét mới, những yếu tố tự do hóa và hiện đại hóa trong thơ.

6 Điểm mới và đóng góp của đề tài

Đề tài là công trình đầu tiên tìm hiểu về sự tự do hóa ngôn ngữ thơ hiệnđại Việt Nam mà đối tượng chính là những bài thơ của chương trình SGKNgữ văn bậc THPT) Nhờ việc khảo sát và tìm kiếm ra những đặc điểmnhững vấn đề cụ thể, cơ bản của sự tự do hóa để hình thành thể loại thơ mới,người giáo viên phổ thông nhận biết sự đổi mới của ngôn ngữ thơ hiện đạiViệt Nam đối với những tác phẩm được đưa vào giảng dạy ở nhà trường bậchọc THPT để từ đó góp phần vào việc tìm kiếm và đổi mới cách dạy và họcmôn Ngữ văn ở bậc học THPT đạt hiệu quả cao nhất

7 Bố cục của đề tài

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, tài liệu tham khảo và mục lục, luậnvăn của chúng tôi bao gồm ba chương:

Chương 1: Cơ sở lí luận phục vụ cho việc thực hiện đề tài

Chương 2: Tự do hóa ngôn ngữ thơ ở cấp độ bài thơ và khổ thơ trong

SGK Ngữ Văn THPT

Chương 3: Tự do hóa ngôn ngữ thơ ở cấp độ câu thơ trong SGK Ngữ

Văn THPT

Trang 13

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN PHỤC VỤ CHO VIỆC THỰC HIỆN ĐỀ TÀI

1.1.Vài nét khái quát về thơ trong tiến trình vận động văn học hiện đại Việt Nam

Thơ ca được coi là loại hình văn học xuất hiện và hình thành sớm nhấttrong nền văn học nhân loại Loại hình văn học này ra đời cùng một lúc vớihàng loạt các hoạt động đời sống như nhạc, họa, múa, nhảy trong các cuộc tế

lễ thần linh, ma thuật thời nguyên thủy

Ở phương Đông, cụ thể là Trung Quốc, theo lí giải của nhiều nhà khoa

học thì chữ “thi” trong Kinh Thi nguyên là đồng âm với chữ “tự” (nghĩa là chùa) Điều này đồng nghĩa với cách hiểu khái niệm “nhà thơ” ban đầu là

“tự nhân”- người chuyên trông coi các việc tế lễ, cúng thờ và các bài “tụng”,

“nhã” chủ yếu được sáng tác bởi “tự nhân” Sau này, theo tiến trình vận động phát triển của văn học, xuất hiện thêm khái niệm “phong” được coi là

tổng hợp những sáng tác thơ ca của dân chúng

Ở phương Tây, cội nguồn của từ “thơ”- “poet” trong tiếng Hi Lạp được hiểu là sản xuất, sáng tạo, chuyển vào thơ có nghĩa là “sáng tạo trên lĩnh vực từ ngữ hay ngôn từ”.

Xét về mặt lịch sử, như vậy, thơ ca được coi là xuất hiện sớm nhấttrong các loại hình nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ Điều này phần nào được thểhiện thông qua các quan niệm của Hegel trong Mĩ học mà tác giả Nguyễn Vỹ

đã trích: “Lời của thơ nảy sinh từ thời xa xưa của mỗi dân tộc, lúc đó ngôn ngữ còn chưa hình thành, phải nhờ có thơ ca ngôn ngữ mới được phát triển”

(48,17) Do vậy, thơ ca được coi là sản phẩm của quá trình nhận thức, tưởngtượng và sáng tạo nhờ đó mà ngôn ngữ mới được phát triển Nhà mĩ học ChuQuang Tiềm cho rằng thơ ca cùng nguồn gốc với nhạc và vũ mà dấu tích còn

Trang 14

thấy rõ trong dân ca, ca dao Thơ ca gắn bó mật thiết với các trò chơi chữ, câu

đố, trò chơi con trẻ từ đó dẫn tới đặc thù chính của thơ ca với tính âm nhạc,

nhịp điệu, hội họa Bởi vậy người ta mới nói tới những quan niệm như “thi trung hữu họa” (trong thơ có họa), “Thi trung hữu nhạc” (trong thơ có nhạc).

Được coi là dạng thức ban đầu của văn học, thơ cũng như sử thi, kịch,thơ trữ tình, đều được coi là hệ thống ngôn từ có nhịp điệu

Thơ có nghĩa rộng, bao hàm toàn bộ nền văn học Theo cuốn “Thi pháp học” của Aristote, thơ bao gồm cả sử thi, bi kịch, hài kịch Nhưng từ

thời cận, hiện đại, thơ có nghĩa hẹp chỉ riêng loại hình sáng tác cụ thể như thơtrữ tình, thơ tự sự, trường ca

Thơ là đơn vị chỉnh thể lớn nhất của kết cấu văn bản ngôn từ thơ trữtình, là sản phẩm của sáng tạo hoàn chỉnh của sự sáng tạo nghệ thuật của nhàthơ tuân theo sự chi phối của một tứ chủ đạo, quán xuyến và chịu sự ràngbuộc của thiên pháp từng thời đại Không kể những trường hợp bình thường,một bài thơ dù chỉ gồm một hoặc hai câu cũng vẫn là một chỉnh thể toàn vẹn,

có quyền tồn tại cùng những bài thơ có dung lượng lớn hơn Thậm chí đối với

những bài thơ có dung lượng nhỏ như những bài thơ thuộc thể Hai cư (Nhật), Tuyệt cú (Trung Quốc), quy luật chỉnh thể lại càng phát huy hiệu lực mạnh

mẽ Trong nghiên cứu về thơ, dù khi nhắm tới đối tượng chính là tập thơ,người ta cũng không thoát khỏi việc đụng tới từng bài cụ thể Trong trườnghợp khác, dù chỉ nhắm tới việc khen chê một câu thơ hay liên thơ (đều thườngthấy trong các thi thoại Trung Hoa xưa) thì người ta cũng phải xuất phát từ cáinền cảm nhận chung về cả bài thơ hoàn chỉnh

Cách đây khoảng 1500 năm, trong “Văn tâm điêu long” ở thiên “Tình thái”, Lưu Hiệp đã đề xuất ba khái niệm quan trọng là “Hình văn”, “Thanh văn”, “Tình văn” có khả năng khái quát được ba phương diện cơ bản cấu

thành nên một bài thơ Đến đời Đường, Bạch Cư Dị, trong thư gửi Nguyên

Trang 15

Chẩn đã đề ra thuyết “cây thơ” nêu lên các yếu tố then chốt tạo nên điều kiện tồn tại của thơ: “Cái cảm hóa được lòng người chẳng gì trọng yếu bằng tình cảm, chẳng gì đi trước được ngôn ngữ, chẳng gì gần gũi bằng âm thanh, chẳng gì sâu sắc bằng ý nghĩa Với thơ gốc là tình cảm, mầm lá là ngôn ngữ, hoa là âm thanh, quả là ý nghĩa Trên là bậc thánh hiền, dưới là kẻ ngu si, nhỏ bé như lợn cá, thần bí như quỷ thần, chủng loại bất đồng nhưng tinh thần tương tự, hình trạng khác biệt nhưng tình cảm tương thông, không một thứ gì nghe được âm thanh mà không đáp ứng, không một thứ gì tiếp nhận được tình cảm mà không rung động.” (Trích "Thư gửi Nguyên Chẩn")

Hữu Đạt từng quan niệm: “Đó là văn bản bằng lời hay văn bản viết Loại văn bản này có thể thức và phong cách riêng Trước hết, nó là một tác phẩm của quá trình sáng tạo lời “mang tính chất hoàn chỉnh” mà ở đó có sự trau dồi có ý thức về cách biểu đạt ngôn ngữ.” (13,4) Mặc dù quan niệm

trên còn nhiều hạn chế bởi nó giới hạn thơ tồn tại dưới giác độ văn bản tuynhiên nó cũng chỉ ra được những đặc trưng quan trọng về mặt hình thức củathơ Trước hết, một văn bản thơ muốn tồn tại được độc lập thì nó phải là mộtthông báo mang ý nghĩa hoàn chỉnh, một thể thống nhất Đặc trưng này khiếncho một bài thơ thường có nhiệm vụ chính là gọi tên và phản ánh chủ đề màbài thơ hướng tới Bên cạnh đó, muốn tạo nên được sự thống nhất hoàn chỉnhtrong bài thơ thì các yếu tố xuất hiện trong bài thơ buộc phải có mối quan hệmật thiết và rõ ràng Chúng bị ràng buộc bởi mối liên kết vô hình bởi cách mànhà thơ sử dụng từ ngữ, xây dựng cấu tứ…

1.2 Những phương diện cơ bản của sự tự do hóa ngôn ngữ thơ

1.2.1 Ngôn ngữ và ngôn ngữ trong thơ

“Ngôn ngữ” là thuật ngữ chuyên dùng của ngành ngôn ngữ học Nó là

một hệ thống ký hiệu đặc biệt, giữ vai trò không thể thiếu trong cuộc sống bởihai chức năng chính Trước hết, đó là phương tiện cơ bản và quan trọng nhất

Trang 16

của giao tiếp và tư duy Đồng thời, nó là tài sản chung của nhân loại, nhưngmỗi cá nhân, mỗi ngành, mỗi lĩnh vực lại có cách vận dụng nó theo nhữngcách khác nhau để đạt được những mục đích khác nhau.

Trong cách lĩnh vực khoa học, văn học là một ngành khoa học đặc biệt.Bởi văn học là nghệ thuật ngôn từ - một loại hình nghệ thuật sử dụng ngônngữ làm chất liệu để tổ chức tác phẩm Cho nên, nghiên cứu văn học vừa lànghiên cứu khoa học, vừa là nghiên cứu nghệ thuật; nó đòi hỏi người nghiêncứu vừa biết sử dụng đúng các thao tác phân tích khoa học, vừa có khả năngcảm nhận nghệ thuật

Chính vì vậy, là một thể loại thuộc lĩnh vực văn học, ngôn ngữ thơtrước hết là ngôn ngữ văn học, xác lập trong nó ba đặc trưng cơ bản sau đây:

a Ngôn ngữ thơ giàu tính biểu tượng

Thơ là nghệ thuật của trí tưởng tượng và “thăng hoa” Người nghệ sĩsáng tác thơ là những người biết biểu hiện những tưởng tượng ấy của mìnhbằng một hệ thống ngôn ngữ thơ giàu tính biểu tượng Đây chính là yếu tố tạonên giá trị họa cho thơ Khác với các loại thể khác, biểu tượng trong thơthường gián đoạn, không liên tục, có nhiều khoảng trống, khoảng trắng; vìthế, người đọc thơ cũng phải có khả năng suy đoán cao Đặc tính này giúpcho thơ không kể lể, không chạy theo tính liên tục của bề ngoài mà tập trungvào nắm bắt thẳng những hình ảnh nổi bật nhất, cô đọng nhất, giàu ý nghĩanhất của đời sống Biểu tượng trong thơ thường ít hoặc không lộ rõ ra bênngoài Nó vừa giàu sức gợi lại vừa có vẻ như mơ hồ đa nghĩa, cho phép bạnđọc có thể tiếp cận theo nhiều hướng khác nhau, tiếp cận không chỉ bằng mắt,bằng tai mà còn bằng sự xúc động của tình cảm Người nghệ sĩ sáng tạo thơluôn luôn phải tìm tòi, lựa chọn những từ ngữ đắt nhất để diễn tả được thấu,được hết tâm tư, tình cảm của mình, biểu hiện ra câu chữ bằng những biểutượng nhưng phải đảm bảo không làm cho méo mó ngôn ngữ của cộng đồng

Trang 17

b Ngôn ngữ thơ là ngôn ngữ giàu nhạc tính

Thơ đi vào lòng người bởi sự rung động của tình cảm con tim, bởi nó làkhúc hát được cất lên từ sâu thẳm tâm hồn người nghệ sĩ khi họ thăng hoa

Người xưa thường nói: “Thi trung hữu nhạc” (Trong thơ có nhạc) Nhạc tính

của thơ được vang lên bởi sự tổ chức ngôn ngữ tạo ra các kiểu từ ngữ, hìnhảnh luyến láy, trùng điệp, bằng trắc, ngắt nghỉ giàu nhạc điệu mang giá trị gợicảm Thơ sẽ chẳng thể là thơ nếu nó không vang lên nơi người đọc một âmđiệu thiết tha trìu mến, một khúc lòng sầu bi ai oán, một điệp khúc rạo rực vuitươi hối hả làm rung động người nghe Nhạc tính khiến cho thơ không chỉtrở nên hấp dẫn mà còn dễ tạo sự đồng cảm nơi người đọc

c Tính lựa chọn, kết hợp độc đáo

Từ trước đến nay dường như không có một công thức nào cho việc tổchức ngôn ngữ trong sáng tạo thơ ca cả Mỗi người nghệ sĩ bằng tài năng,bằng cách cảm nhận, cách nghĩ khác nhau sẽ lựa chọn cho mình một cáchbiểu hiện bằng hệ thống ngôn ngữ khác nhau

Ngôn ngữ thơ thường không có tính liên tục và tính phân tích như trongvăn xuôi Ngược lại nó thường không tuân theo một nguyên tắc thống nhấtnào cả, nhiều khi nhảy vọt, gián đoạn tạo ra những khoảng lặng giàu ý nghĩa.Ngôn từ trong thơ, nhìn một cách thoáng qua, thường có vẻ phá vỡ kết hợplôgic thông thường của ngôn từ để tạo thành những kết hợp mới, bất ngờ theonguyên tắc lạ hóa Người đọc muốn cảm nhận được thấu ý tình của nhà thơcần phải dựa trên nhiều yếu tố khác nhau mà mà cắt nghĩa, lý giải ngôn từ mànhà thơ biểu hiện Đây là một đặc trưng vô cùng độc đáo của ngôn ngữ thơ.Trong thực tế, nhà thơ nào làm được điều này và sự cách tân đó được chấpnhận thì nhà thơ đó mới là người có được thành công

1.2.2 Bối cảnh chung của tiến trình vận động thơ hiện đại Việt Nam

Trang 18

Vào những năm cuối cùng của thế kỉ XIX, cuộc sống mới kéo theonhững hơi thở đứt quãng và lẫn lộn của Á- Âu khiến cho cuộc sống mớichứng kiến sự mất giá của hai hình tượng văn học cùng như sự bế tắc vàkhủng hoảng của nhà Nho và văn học Nhà Nho Bởi vốn là những người luôngiương cao chủ trương cao đẹp sống có đạo lý, sống có trách nhiệm với cuộcđời, học để hành đạo phục vụ cho đời.Tuy nhiên, chế độ phong kiến mụcruỗng đã đẩy các nhà Nho rơi vào tình thế tự mẫu thuẫn với chính mình Mộtmặt, họ thấy xấu hổ với các nhà Nho ẩn dật, lánh đời, một mặt khi lăn vào đểđối mặt với cuộc sống, họ coi đó là những hành động lầm lỡ và mất nhâncách Bởi vậy, chính bản thân họ là một khối tự mâu thuẫn lớn giữa một bên

là xuất xử ra làm quan hay ẩn dật Điều này có ảnh hưởng lớn tới tư tưởngchủ đạo của nền văn học bởi ở tại thời điểm này, nhà Nho là những lực lượngsáng tác chủ đạo chính trong xã hội Tuy nhiên, chế độ phong kiến suy tàn,Nho học mạt vận kéo theo hàng loạt những biến đổi trong đời sống xã hội

Trước bối cảnh đất nước rối ren và người dân cùng khổ, là những người

có ý thức sâu sắc về vận mệnh đất nước và dân tộc, những nhà Nho tiến bộnhận thấy văn chương bát cổ, thơ phú đều là những thứ không hữu dụng trong

đời sống thường ngày, thứ văn chương “nhai bã mía”, dùng chữ xưa chỉ nói ý xưa, “không đau mà rên” Nói tóm lại những thứ văn chương đang có như

kìm hãm con người phát triển trong ngục tù tâm hồn, trong tối tăm về nhậnthức Bởi vậy họ nhìn nhận ra được những tiềm năng to lớn của văn chươngchân chính đó là có khả năng giác ngộ đồng thời có thể truyền bá những tưtưởng mới vào trong lòng quần chúng nhân dân để chấn hưng đất nước Bằngnhững nỗ lực không ngừng nghỉ, họ đưa văn chương ra khỏi chức năng thôngthường nhằm phục vụ nhân dân và phục vụ đất nước được tốt hơn

Sự xuất hiện của phong trào Duy Tân - một cuộc vận động dân tộc vàdân chủ xuất hiện để lại nhiều những thành tựu trong đó động thái tích cực

Trang 19

nhất mà phong trào Duy Tân để lại đó là phong trào đã biến chữ Quốc ngữ trởthành hệ thống chữ phổ biến Tuy nhiên, phong trào Duy Tân xét về bản chấttrái hoàn toàn với bản chất của nhà Nho Bởi vậy, các nhà Nho ngay cả trongvăn chương cổ động Duy Tân vẫn ra sức gọt giũa, làm văn vẫn không thể đọc

ra được bản chất của văn học là gắn chặt với ngôn ngữ, nghệ thuật, hìnhtượng nghệ thuật

Rõ ràng, trong những năm đầu thế kỉ, sự vận động, phát triển con ngườitrí thức có bổn phận, có nghĩa vụ, có những hành đông tích cực mạnh làchính, hướng chính chi phối mạnh mẽ đời sống chính trị, xã hội Thế nhưngtrong sự thay đổi đất nước cuộc Âu hóa, lối sống cá nhân bắt đầu được hìnhthành (tập chung chủ yếu ở các đô thị) Bối cảnh thực tại đưa đất nước bướcvào con đường tư sản hóa, tầng lớp trí thức Tây học tăng đột biến, trở thànhlực lượng chính trong xã hội với những thầy thông, phán, kí… với nhữngnghề chủ yếu đó là dạy học, viết văn Sự thay đổi mạnh mẽ về mặt đời sống

xã hội, bối cảnh văn hóa là nguyên nhân chủ đạo dẫn tới sự thay đổi về mặtnhận thức, tư duy

Thế hệ những nhà Nho yêu nước như Phan Bội Châu, Phân Châu Trinhđược tiếp thu và ảnh hưởng của Tân thư thông qua chữ Hán Ý thức sâu sắc

và lĩnh hội trọn vẹn tư tưởng của Tân thư, thế hệ Phan Bội Châu, Phan ChâuTrinh- những con người luôn nỗ lực biến văn chương trở thành công cụ tuyêntruyền cho đường lối cứu nước lúc bấy giờ Đặc biệt với sự nghiệp sáng tác

đồ sộ của mình, những tác phẩm của Phan Bội Châu là sự chuẩn bị tiếp theocho những giai đoạn văn học sau này cho dòng văn học yêu nước và duy tân.Cũng giống như hàng loạt những nhà Nho khác tại thời điểm hiện tại, PhanBội Châu nghi ngờ đạo thánh hiền được khởi xướng từ quốc gia láng giềng.Điều này kéo theo sự thay đổi trong quan niệm: trong văn học, hai hình tượngngười trung nghĩa và người ẩn sĩ bị xuống giá, nổi bật lên là hình tượng nhân

Trang 20

vật hào kiệt tự nhiệm Mặc dù luôn khát khao và nỗ lực trong việc đổi mớinền văn học bằng hàng loạt các thay đổi như lên án văn chương cử tử, ra sứccách tân văn học, sáng tác những tác phẩm lay động tâm trí của của một thờiđại, tiếp tục sáng tác nhiều thể loại: thơ, tiểu thuyết, tuồng… nhằm thức tỉnh ýthức của nhân dân, phục vụ cách mạng Tuy nhiên cuối cùng Phan Bội Châucũng đã dừng lại trước ngưỡng xã hội xã hội chủ nghĩa Văn thơ của ông vìthế cũng dừng lại trước ngưỡng cửa của dạng thức văn học hiện đại bởi vì ôngkhông thể vượt qua được những quan niệm của văn học truyền thống mà ông

đã tắm mình trong đó

Rõ ràng văn học yêu nước trong những năm đầu thế kỉ XX gắn liền vớiphong trào chính trị mà nội dung chính của phong trào này đó chính là kếthợp yêu nước, dành độc lập dân tộc kết hợp với phong trào duy tân và tư sảnhóa xã hội Việt Nam Những nỗ lực cách tân, đổi mới nhằm thoát khỏi gôngcùm, kìm kẹp của tư tưởng Nho học đã ăn sâu vào tư tưởng các nhà thơ ViệtNam lúc bấy giờ Đây được coi là giai đoạn khá dài tuy không hoàn toàn đoạntuyệt với với những giá trị truyền thống được bồi đắp trước đó nhưng để pháttriển nhất định phải thay đổi về chất Và các nhà văn nhà thơ thuộc giai đoạnvăn học sau đã làm được điều đó

Có thể nói, Nguyễn Ái Quốc đã tìm ra được con đường cứu nước đúngđắn nhằm giải phóng đất nước và phát triển xã hội đồng thời mở lối cho vănhọc Việt Nam tham gia vào các nền văn học khác trên thế giới Với hàng loạtnhững sáng tác đầu tay của mình từ những năm 20 của thế kỷ XX, tác giaNguyễn Ái Quốc đã có những đóng góp không nhỏ trong việc góp phần làmbền vững hơn nền văn học cách mạng nói riêng và nền văn học Việt Nam nóichung Hệ thống những tác phẩm thơ hiện đại từ nội dung tới hình thức là dấuhiệu cơ bản cho thấy nền văn học Việt Nam nói chung, thơ ca Việt Nam nóiriêng đang bước vào chặng đường mới, chặng đường cho sự thay đổi tích cực

Trang 21

Vào những năm 30, xã hội Việt Nam tiếp tục phát triển trong hoàn cảnhđấu tranh dân tộc, đấu tranh giai cấp hết sức gay gắt, Sự thành công của cáchmạng tháng Tám đã xóa bỏ hoàn toàn sự tồn tại của chế độ thực dân phongkiến Đây là sự kiện quan trọng nhất của quá trình phát triển xã hội ở ViệtNam Sự thay đổi lớn lao đó cũng góp phần tạo nên những chuyển biến tíchcực dẫn đến những cuộc đấu tranh về mặt tư tưởng, ý thức hệ nhằm hìnhthành hệ thống những quan điểm, những tâm lý thẩm mĩ, những khuynhhướng trào lưu văn học khác nhau có ích cho sự phát triển đất nước.

Văn học cách mạng phát triển mạnh mẽ, trở thành đại diện chính chotiếng nói của giai cấp vô sản và cho toàn dân tộc Bởi vậy, lực lượng sáng tácchủ yếu đó là những người chiến sĩ - những con người trực tiếp lăn mình vàocuộc sống để tham gia chiến đấu, những con người có cơ hội chứng kiến vàthấu cảm cuộc đời của người lao động bình thường Bởi vậy, nhân vật trungtâm của nó trước hết là những con người lao động bình thường, những conngười luôn say mê lí tưởng, sẵn sàng chiến đấu để giải phóng đất nước và giảiphóng dân tộc Nhận ra được khả năng truyền thông mạnh mẽ của văn họccách mạng, nhưng trước năm 1945 văn học cách mạng không hề được côngkhai, ngược lại nó luôn phải chịu sự câu thúc, kìm hãm, cưỡng bức ráo riết từchính quyền thực dân Tuy nhiên, bằng sự phát triển nội tại của mình, văn họccách mạng vẫn có sự phát triển, trở thành di sản quý báu làm phong phú nềnvăn học Việt Nam hiện đại cả về kinh nghiệm sáng tác, lý luận lẫn thực tiễnsáng tác Chính nhờ thế, khi cách mạng thành công văn học cách mạng đã cónhững phát triển nhảy vọt

Phong trào thơ Mới 1932- 1945 ra đời giữa không khí bi quan, daođộng của thời kì phong trào cách mạng tạm lắng xuống và khủng hoảng kinh

tế năm 1932 Nó là đại diện cho tiếng nói đấu tranh của giai cấp tư sản dântộc và một bộ phận tiểu tư sản trí thức đã rút khỏi con đường đấu tranh chính

Trang 22

trị với đế quốc Xét về mặt nội dung, thơ Mới cũng góp phần quan trọng đấutranh đòi giải phóng cá nhân, đấu tranh cho tự do hôn nhân, cho hạnh phúclứa đôi, phê phán kịch liệt đại gia đình theo nề nếp phong kiến Đối với nhữngtác giả thuộc phong trào thơ Mới, con đường văn chương lúc bấy giờ được coi

là con dường thoát ly trong sạch, là nơi chốn mà tất cả những ai nặng lòng vớiđất nước đều có thể gửi vào đó tình yêu thầm kín Điều này có thể thể hiện

thông qua nhận định của Trường Chinh: “Các tầng lớp tư sản dân tộc và tiểu

tư sản trí thức Việt Nam tìm thấy trong chủ nghĩa lãng mạn một tiếng thở dài chống chế độ thuộc địa.” (12,2) Do đặc thù xuất hiện sau chủ nghĩa lãng

mạn Pháp hơn một thế kỉ bởi vậy nên những nhà thơ lãng mạn thời đầu nhưThế Lữ, Huy Cận, … đã chịu ảnh hưởng nhiều của trường phái lãng mạn và

trường phái thi sơn Từ 1936 về sau, thơ Mới ngày càng đi sâu vào cái “Tôi”

cá nhân, vào tôn giáo và vào các lĩnh vực siêu hình với lối diễn tả bằng cáccảm giác tinh tế bằng tiềm thức và bằng trực giác Theo nhận định của giớinghiên cứu văn học, các nhà thơ Mới chịu ảnh hưởng của trường phái tượngtrưng Pháp hơn là trường phái lãng mạn Tuy nhiên dù sao đi nữa, rõ ràngphong trào thơ Mới đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành nên diệnmạo cho tiến trình thơ Việt Nam từ những năm đầu thế kỷ XX

Cho nên nói về thơ Mới, chúng ta không thể phủ nhận những đóng góp

vô cùng quan trọng trong việc đưa nền văn học Việt Nam tiến thẳng vào thời

kỳ hiện đại bởi hàng loạt những ưu thế của nó Những ưu thế đó chính là: thơ

Mới có nhiều khả năng diễn đạt tình cảm hơn hẳn lối “thơ cũ” nhờ việc biểu

hiện thành các thể thơ linh hoạt (5 chữ, 7 chữ, 8 chữ hoặc nhiều hơn trongphạm vi một câu), cách hiệp vần đa dạng (vần liên tiếp, vần ôm nhau, vầngián cách, vần hỗn tạp), nhạc điệu dồi dào đặc biệt là trong hệ thống các bàithơ của Bích Khê, Hàn Mạc Tử, Nguyễn Xuân Sanh v.v Chính nhờ thế màngôn ngữ trong thơ giàu hình tượng, cảm xúc

Trang 23

Song song với sự phát triển của dòng thơ Mới lãng mạn, cùng trongkhoảng thời gian này, kéo dài từ những năm 30 đến năm 1945, văn học ViệtNam hình thành dòng văn học cách mạng với đặc thù nổi bật đó là dòng thơ

ca cách mạng Xuất phát từ bối cảnh xã hội Việt Nam lúc bấy giờ luôn bị dìmtrong các cuộc đấu tranh cách mạng, bởi vậy nguồn cảm hứng chính hay đềtài thúc đẩy các nhà thơ là tinh thần đấu tranh với ý thức giữ vững tinh thần,

là sự giác ngộ quần chúng trong nhà tù (như tù kinh tế) chống sự đầu hàng,chống lại tư tưởng cải lương, tư tưởng quốc gia hẹp hòi Ví dụ như:

“Đau khổ càng hăng lòng chiến đấuĐau thương thêm luyện chí căm thù”

(Phan Trọng Bình)Thơ ca cách mạng từ cuối năm 1939- 1945 phần lớn được làm theo thơMới; bởi tại thời điểm này, thơ Mới cùng những thành tựu của nó đã thắng thếhoàn toàn so với thơ cũ trước đây Xét về mặt nội dung, nếu như thơ ca cáchmạng thời kì trước nặng về việc thể hiện ý chí, kêu gọi chung chung thì thơ cacách mạng thời kì này đi sâu vào việc phản ánh đời sống, thế giới nội tâm củacon người Điểm khác biệt tích cực tiếp theo mà thơ ca cách mạng trước khônglàm được đó là thơ ca cách mạng thời kì này phản ánh cái Tôi cá nhân đặt trongcái Ta cộng đồng Điều này có tác dụng làm cho thơ ca cách mạng trở nên gầngũi với tầng lớp bình dân hơn, bớt đi tính chất khô khan và áp đặt hơn

1.2.3 Đặc điểm và biểu hiện sơ lược của sự tự do hóa ngôn ngữ thơ

1.2.3.1 Cơ sở hình thành sự tự do hóa thơ và ngôn ngữ thơ

a Điều kiện kinh tế- xã hội

Như chúng ta đều biết, cuối thế kỷ XIX, đặc biệt là từ mốc 1884, saukhi buộc triều đình nhà Nguyễn kí hiệp ước thừa nhận sự bảo hộ của Pháp,thực dân Pháp đã hoàn thành cơ bản quá trình xâm lược Việt Nam và bắt đầuthời kì khai thác thuộc địa ở Việt Nam và Đông Dương (từ 1897-1914 và từ

Trang 24

1918-1929) Dưới chính sách của thực dân Pháp, Việt Nam đã chuyển từ xãhội phong kiến sang xã hội thuộc địa nửa thực dân nửa phong kiến Chínhquyền thực dân Pháp xây dựng hàng loạt các cơ sở công nghiệp, tập trungphát triển cơ sở vật chất phục vụ cho chính sách khai thác thuộc địa Đâychính là những chính sách cơ bản mà thực dân Pháp áp dụng nhằm biến ViệtNam thành thuộc địa khai thác tài nguyên, thị trường tiêu thụ hàng hóa rộnglớn Hệ quả tất yếu của những chính sách trên đó là mạng lưới các đô thị được

mở rộng ở Việt Nam kéo theo sự gia tăng nhanh chóng về số lượng của giaicấp tiểu tư sản bản địa: tiểu thương, viên chức, thợ thủ công, học sinh, trí thứcmới… Điều này góp phần thay đổi đáng kể cơ cấu giai cấp, tầng lớp trong xãhội, nơi trước kia phần lớn là địa chủ cường hào và quan lại

Về chính trị, thực dân Pháp chia nước Việt Nam thành ba kì với nhữngchế độ cai quản về mặt chính trị khác nhau Điều này dẫn tới sự khác biệt rõrệt về sự phát triển của ba miền trong cùng một đất nước Bên cạnh nhữngmặt tiêu cực, những chính sách của Pháp góp phần mở mang giao thông, buônbán, phát triển kinh tế hàng hóa góp phần tạo nên một thị trường thống nhất từBắc chí Nam hình thành cơ sở để củng cố sự thống nhất của dân tộc hìnhthành chưa lâu nhưng thật vững chắc Nó góp phần phá chính sách bế quantỏa cảng của triều đình nhà Nguyễn trước đây làm cho Việt Nam tiếp xúc vớithế giới, trước hết là Đông Nam Á và rộng hơn nữa là châu Âu; nhờ đó nóđưa nước Việt Nam hòa vào cuộc sống chung hiện đại của thế giới Ngược lạikhuynh hướng tiến bộ đó đó, thực dân Pháp tiến hành mở hàng rào thuế quanlàm cho Việt Nam phụ thuộc hoàn toàn vào chính quyền Pháp Sự phát triểnbuôn bán và giao thông như thế làm mọc lên nhiều thành thị mang đặc trưng

tư bản chủ nghĩa

Tuy nhiên, với chính sách kìm hãm công nghiệp, duy trì nền kinh tếphong kiến chính quyền Pháp làm cho thành thị trở thành những trung tâm

Trang 25

thương nghiệp mang tính chất tiêu thụ, không có tác dụng tích cực đẩy mạnhkinh tế Việt Nam theo hướng tư sản hóa tiến bộ Ở Việt Nam lúc này chỉ có

sự xuất hiện những thị trường thống nhất, những thành thị đông dân cư đóngvai trò trung tâm của nền kinh tế Đây chính là sự giao lưu tiếp xúc vớiphương Tây là những nhân tố mới của sự phát triển xã hội Mặc dù bị cản trởbởi những chính sách kìm hãm của thực dân Pháp như thế, nhưng nhờ nhữngnhân tố mang tính khách quan ngoài ý muốn của thực dân, chính sách củachính quyền Pháp vẫn mang lại những tác động tích cực đến sự phát triển củađất nước Việt Nam Sự mở cửa của nền kinh tế vốn bị kìm hãm từ lâu đã tạođiều kiện cho xã hội Việt Nam phát triển theo hướng tích cực, trực tiếp giaolưu với thế giới

Nếu như trước khi Pháp xâm lược, xã hội Việt Nam nổi bật với nền sảnxuất mang đậm màu sắc phương Đông thì vào thời bấy giờ xã hội Việt Nam

đã thay đổi Nếu như trước đây trong xã hội, chính quyền chủ yếu thuộc vềmột dòng họ, mọi mối quan hệ đều được sắp đặt theo một thể thống nhất đượcthể hiện thông qua hệ thống chính quyền trung ương tập trung chuyên chế,dựa vào bộ máy quan liêu và quân sự nhằm duy trì sự thống trị thì bây giờ đãthay đổi Nếu như trước đây hàng loạt các mối quan hệ được phân phối theothứ bậc thân- sơ- trên- dưới thì xã hội thuộc địa nửa thực dân nửa phong kiến

đã không còn như thế nữa Những bản làng ẩn nấp sau lũy tre xanh có cổnglàng đóng kín được coi là hình thức đặc trưng cho làng quê Việt Nam - đạidiện cho cả một bộ phận tầng lớp những con người sở hữu lối tư duy khépkín, trì trệ thì nay đã là thành thị mang đặc trưng tư bản chủ nghĩa Sự dunhập của nền kinh tế hàng hóa góp phần làm cho hệ thống thành thị phát triển,làm cho xã hội xuất hiện nhiều nhu cầu mới

Những thay đổi trên phương diện đời sống xã hội như vừa nói ở trên,đến lượt mình lại có những tác động tới thơ ca, là nhân tố quan trọng làm

Trang 26

những hình thức nghệ thuật cũ rạn nứt và lột xác Nhìn chung các nhà nghệthuật nói chung, nhà thơ nói riêng trong thời kì phương Tây hóa này tỏ ra sắcsảo và nhạy cảm trong việc xây dựng được giá trị nghệ thuật mới, phá tan,làm rạn nứt đi những quan niệm truyền thống cũ.

b Bối cảnh văn học

Có thể nói một đặc điểm bao trùm của thơ ca thời kì đổi mới nói trên là

tính chất “Phi sử thi hóa” (theo cách dùng của GS Trần Đình Sử) Điều này

đồng nghĩa với việc nền văn học thời kì này của một số nước Đông Á vốnchịu ảnh hưởng sâu sắc của văn hóa Trung Quốc, không cùng loại với văn họccủa nhiều nước trên thế giới đã từng bước chịu ảnh hưởng của văn học châu

Âu Tác giả của công trình “Văn học Việt Nam 1900- 1945” viết rằng: “Theo quan niệm Nho gia, Văn là biểu hiện của Đạo được dùng để truyền đạt đạo lý thánh hiền, đem gương sáng đạo đức để giáo hóa Văn nhân tất pháo có tài

“nhả ngọc phun châu” tức là có tài sử dụng ngôn ngữ, văn tự nhưng trước hết họ phải có cái chứa bên trong là đạo đức để đưa ra giáo hóa Vì vậy văn nhân vẫn gần với loại thánh hiền hơn loại nghệ sĩ Văn không tách khỏi triết,

sử Viết văn tất không tránh khỏi việc nói đến thực tế Nhưng văn nhân không quan tâm nhiều đến quan sát, nhận thức, mô tả cái được quan tâm hàng đầu trong thực tế là Đạo lý tức là sự hài hòa của trật tự theo đạo đức cương thường Mô tả và trần thuật bị hạn chế theo giác độ cảm thụ của Tây Thể loại văn học phát triển nhất là thơ Thơ chủ yếu để gửi gắm, bộc bạch tâm sự Ngôn chí, cảm hoài là bộc bạch tâm sự và vịnh cảnh, vịnh vật và có giá trị chủ yếu bằng đạo lý cương thường cho nên bộc bạch tâm sự không nhắm tiếng nói của cái “tôi” riêng tư mà nói tiếng nói của cái “ta”- (phần đạo lý) trong cái tôi đó.” (24,8) Rõ ràng, thực tế cho thấy, khi sáng tác văn học theo quan niệm ấy, cái “tôi” trong văn học nghệ thuật nói chung, trong thơ trữ tình

nói riêng bị triệt tiêu tới mức cao nhất nhằm nhường chỗ cho cái ta phi ngã

Trang 27

Thời điểm có quan niệm đó các nhà in chưa hề xuất hiện rộng rãi Tác phẩmvăn chương chủ yếu được lưu hành nội bộ, chưa có nhà viết văn chuyênnghiệp và viết văn chưa hề trở thành nghề chính trong xã hội Trong khi đó,đại bộ phận các sáng tác nghệ thuật tại thời điểm nói trên đều mang tính quyphạm, niêm luật chặt chẽ Tính quy phạm này được thể hiện trên mọi phươngdiện từ đề tài, nhân vật, cốt truyện tới hình ảnh, ngôn ngữ… Ước lệ vô hìnhtrở thành một nếp tư duy quen thuộc của người sáng tác văn thơ Bởi vậy, hạnchế mang tính tất yếu của nó đó chính là nó kìm hãm khả năng sáng tạo, bộc

lộ cái tôi cá nhân độc đáo của người nghệ sĩ, thu hẹp cách nhìn nhận và đánhgiá về thế giới

1.2.3.2 Xu hướng tự do hóa ngôn ngữ thơ ca hiện đại

Ở thời điểm những năm đầu của thế kỷ XX, văn học Việt Nam bướcđầu thoát khỏi những ràng buộc, những quy phạm chung của văn học trungđại như quan niệm vừa trích ở trên và đi vào hướng tự do hóa Từ đó, nền vănhọc bước đầu xuất hiện những nét chấm phá bứt ra khỏi quy luật văn họcthông thường Trước hết, nó bước đầu xóa bỏ đi quan niệm xã hội luânthường, con người đạo đức và chức năng, văn học thể hiện một quan niệmmới về xã hội, cuộc sống, nhất là về con người Sự thay đổi này của văn họcnhững năm đầu của thế kỷ XX phụ thuộc chặt chẽ vào sự biến đổi trong thangbậc giá trị và đạo lý ứng xử khác với những gì đã có trước đây Nếu như trong

thời kì trước, do đặc thù văn hóa, tinh thần “lấy dân làm gốc” trở thành một ý

tưởng dân chủ, một hệ quy chiếu mọi thang bậc, quy cách ứng xử, khái niệm

“dân” trở thành hệ quy chiếu hội tụ và so sánh:

“Vua là tượng gỗ, dân là thân trâu”

(Á tế Á ca)

“Vua ngồi thăm thẳm cung sâu Một đời chỉ biết đè đầu dân đen”

Trang 28

(Tỉnh quốc hồn ca- Phan Châu Trinh)Thì vào những năm 30, văn học công khai phát triển với tốc độ nhanhchóng và đổi khác Một trong những đặc thù chính của gia đoạn này đó làxuất hiện và hình thành hàng loạt các khuynh hướng, trào lưu văn học khácnhau Thế hệ những người cầm bút mang trong mình sứ mệnh đổi mới, cáchtân, đưa văn học bước sang một thời kì mới.

Đồng thời, sự xuất hiện của hàng loạt những hiện tượng phá cách quyếtliệt trong thơ ca hiện đại được coi là một trong những hệ quả tất yếu của quátrình phi sử thi hóa của văn học thời kỳ phong kiến Qúa trình phi sử thi hóa

nào góp phần tạo nên sự “giải thiêng” đối với các quy phạm chuẩn mực

nhằm làm suy giảm phần lớn những kinh nghiệm văn học được hình thành từnền thơ ca mang nặng tính truyền thống Điều này góp phần giúp cho cái tôi

cá nhân của người cầm bút có cơ hội bộc lộ tối đa những bản ngã, cá tính- thứ

mà trước kia trong thơ ca truyền thống thường bị bó hẹp bởi hệ thống nhữngkhuân khổ, luật lệ vô hình

Một trong những nguyên nhân tiếp theo dẫn tới sự hình thành xu hướng

tự do hóa trong thơ ca hiện đại đó đến từ chính yêu cầu hội nhập của nền vănhọc Việt Nam với những nền văn học phương Tây Trong thời đại mở cửa, sựgiao lưu với các luồng văn hóa Tây phương buộc cho nền văn học khôngđược phép đứng im mà phải vận động để phát triển

Không chỉ trong giới hạn thơ ca hiện đại, nhìn sang các địa hạt khácnhư văn xuôi, tiểu thuyết…, chúng ta nhận thấy ít nhiều những đổi mới cáchtân cho dù chưa đạt được nhiều thành tựu như thơ ca Tuy nhiên chúng cũng ítnhiều đóng góp vào quá trình đổi mới nền văn học nói chung, mang lại chovăn học một diện mạo mới, sinh động, lôi cuốn, góp phần không nhỏ vào sựphát triển hình thức thơ ca Việt Nam đương thời

Rõ ràng, tới một thời điểm nhất định, các nhà thơ hiện đại đã nhìn nhận

Trang 29

được rõ ràng những giới hạn của thi pháp truyền thống Thi pháp truyền thốngđược hiểu là những quy định về giá trị thẩm mĩ, những phạm trù nghệ thuật

đã được định hình rõ ràng, hình thành bền vững trong quá khứ Thi pháp này

có sức sống và vị trí vững chắc trong văn học bởi nó đã được kiểm chứng bởi

sự ra đời của hàng loạt các tác phẩm đã trở thành kinh điển Bởi vậy, muốnphá vỡ và thay đổi hệ giá trị truyền thống này đòi hỏi nỗ lực cách tân mạnh

mẽ, dứt khoát nhằm thoát khỏi sự ảnh hưởng của hình thức thơ truyền thốngvới hình thức biểu hiện nay đã có xu hướng trở thành ước lệ, mòn sáo Và cácnhà thơ Việt Nam từ thế kỷ thứ XX đã làm được điều đó

1.3 Mối quan hệ giữa xu hướng tự do hóa ngôn ngữ thơ với quá trình hiện đại hóa văn học

1.3.1 Qúa trình hiện đại hóa văn học

Có nhiều quan niệm khác nhau về cách hiểu hiện đại hóa văn học

Trong số đó có quan niệm của Mã Giang Lân khi ông viết về “Tiến trình thơ hiện đại Việt Nam” như sau: “Hiện đại hóa văn học là một quá trình phát triển liên tục, có thể khi lên khi xuống khi đậm, khi nhạt nhưng bao giờ cũng

là khởi động cho đến khi hoàn tất Quá trình ấy diễn ra phức tạp, lâu dài và

rõ ràng là tạo ra một sự thay đổi cơ bản, sâu sắc về chất và diện mạo.”(45,28) Rõ ràng quan niệm trên đã chỉ ra được những đặc trưng cơ bản

của quá trình hiện đại hóa văn học đó là sự vận động không ngừng nghỉ nhằmxác lập tạo ra những dấu mốc cơ bản cho sự thay đổi

Tác giả “Văn học Việt Nam 1900-1945” quan niệm “Quá trình hiện đại hóa văn học là quá tình xóa bỏ quan niệm xã hội luân thường, với con người đạo đức và con người chức năng, hình thành quan niệm xã hội, quan niệm con người, quan niệm cuộc sống, chi phối việc thay đổi đề tài văn học.”(12, 8) Trên sơ sở nền kinh tế Việt Nam phát triển trong hình thức gia

nhập vào hệ thống tư bản chủ nghĩa trên thế giới, một nền văn học như vậy,

Trang 30

dựa vào chỉ một bộ phận công chúng là dân thành thị, một nhân tố trong điềukiện lúc ấy rất có ý nghĩa đối với sự phát triển của văn học nước ta Xã hộiphát triển trong tình thế mở cửa, được tiếp xúc với văn hóa Châu Âu đã làmtồn tại trong xã hội một tầng lớp trí thức biết tiếng Pháp, có khả năng thấuhiểu được văn học Pháp, một nền văn học rất phát triển Trình độ văn hóađược nâng cao như thế tạo điều kiện và là cơ hội cho tầng lớp trí thức - độingũ sáng tác chính trong xã hội nhanh chóng được tiếp xúc với các tác phẩmkinh điển trên thế giới đồng thời nhanh chóng hiểu được những vấn đề đươngthời của văn học Pháp sau hiện đại Đầu thế kỷ XX, tầng lớp trí thức ViệtNam mới có cơ hội tiếp xúc với hệ thống các tác phẩm viết từ thế kỷ XVI,XVII ở phương Tây Tuy nhiên, tại thời điểm đó, họ tiếp xúc luôn với nhữngtác phẩm mới ra đời của hàng loạt các tên tuổi như Cervantes, Molière,Corneille, Hugo, Rimbaud, Daudet, André Gide… Cơ hội được tiếp nhậncùng một lúc thành tựu văn học phương Tây trải qua mấy thế kỷ mà khôngphải chờ qua đấu tranh mới nhận ra cái hay, cái dở là cơ hội để họ học hỏiđược, rút ra kinh nghiệm văn học của 3,4 thế kỷ Chính điều đó giúp văn họcViệt Nam được hiện đại hóa một cách nhanh chóng, phát triển với nhịp độgấp rút, bắt kịp với tốc độ phát triển của văn học Pháp nói riêng và trên thếgiới nói chung.

Sự kiện đánh dấu mầm mống của văn xuôi hiện đại ra đời hay nói cáchkhác đó là xu hướng hiện đại hóa văn học được xuất hiện vào những năm cuốithế kỷ XIX trong tác phẩm được viết bằng văn xuôi quốc ngữ “Thầy LazaroPhiền” của Nguyễn Trọng Quản được in tại Sài Gòn vào năm 1887 Tác phẩmcủa Nguyễn Trọng Quản mang đậm tinh thần hiện đại, điều này được thể hiệnthông qua sự thay đổi nội dung và hình thức tác phẩm Sự hình thành này gắnliền với bộ phận văn xuôi tôn giáo, với những sáng tác của các nhà văn Nam

Bộ tiên phong như Trương Vĩnh Ký, Huỳnh Tịnh Của, Trương Minh Chí,

Trang 31

Trần Chánh Chiếu… Tác phẩm không hề được viết theo lối cổ tích, truyện

vui, chuyện răn đời như tác phẩm “Chuyện đời xưa” (1886) của Trương Vĩnh

Ký, “Chuyện giải buồn” (1880, 1886) của Huỳnh Tịnh Của Tác giả của cuốn tiểu thuyết đầu tiên viết bằng chữ quốc ngữ cho rằng: “Đã biết rằng xưa nay dân ta chẳng thiếu chi thơ, văn, phú, truyện nói về những đấng anh hùng, hào kiệt, những tài cao, chí cả… mà những đấng ấy thuộc đời xưa, chớ đời nay chẳng còn nữa Bởi đó tôi mới giám bày đặt một chuyện đời này là sự thường

có trước mắt ta luôn” Yếu tố làm nên nét đặc sắc của truyện đó chính là

miêu tả những sự việc của đời sống hàng ngày Truyện không sắp xếp theotrình tự thời gian mà theo quy luật tâm lý, khai thác những quy luật ám ảnh

của nhân vật trong “Chuyện tình tay ba”.

Từ những đặc thù cơ bản trên cái tôi của tác giả có cơ hội được xuất hiện,

và lần đầu tiên trong văn học Việt Nam cốt truyện tự sự được trình bày đượcxuất hiện dưới ngôi thứ nhất Về ngôn ngữ, tác giả cũng mở đầu cho một cách

viết mới, lời văn là ngôn ngữ, nhân dân “lấy tiếng của mọi người mà nói” để

viết truyện Câu văn không biền ngẫu sáng rõ mà trau chuốt, gọn gàng Thơ ca,đặt trong mối tương quan với quá trình phát triển của văn xuôi hiện đại cũng ítnhiều được ảnh hướng những thành tựu phát triển Tuy nhiên trong tiến trình vậnđộng chung của văn học thì, thơ ca với sức sống nội tại riêng vẫn tự mình xáclập nên quy trình vận động của riêng nó, thoát ly khỏi văn xuôi

Năm 1900 được coi là mốc cơ bản đánh dấu bước chuyển của văn họcViệt Nam bởi nó xác lập cho văn học Việt Nam chuyển động và vận động theomột hướng mới, một quá trình mới Tất nhiên quá trình này không thể tách rờiquá trình biến đổi của lịch sử dân tộc trong tình thế khách quan được đặt ra lúcbấy giờ: yêu cầu canh tân đất nước và cũng nằm trong xu thế hướng của nền vănhọc thế giới Sự khởi động của quá trình này đã dần dần mang lại cho nền vănhóa Việt Nam một tiến độ đặc biệt để nó có diện mạo như hiện nay

Chúng ta có thể thấy biểu hiện chung của xu hướng hiện đại hóa văn

Trang 32

học Việt Nam ở những điểm như sau:

Trước hết, hiện đại hóa văn học được thể hiện ở khía cạnh văn học ViệtNam vượt ra khỏi những ảnh hưởng và hạn chế của văn học những thế kỷtrước - là thời kỳ mang đậm tính chất trung đại Ngôn ngữ là biểu hiện của tưduy bởi vậy sự thay đổi về hệ thống chữ viết chuyển từ hệ thống chữ Nhosang chữ Quốc ngữ trong việc sáng tác được coi là một trong những chuyểnbiến căn bản đưa văn học Việt Nam phát triển thêm một bước mới Bởi đặcthù của chữ Quốc ngữ (tiếng Việt được viết bằng chữ cái La tinh) đó là tươngđối dễ viết, dễ đọc, dễ hiểu, phù hợp với công chúng bình dân rộng rãi Nềnvăn học vì thế mà cũng được rộng mở, có cơ hội tiếp xúc với đông đảo tầnglớp độc giả Mặc dù chỉ mới tiếp xúc với tầng lớp thị dân, trí thức tuy nhiên sovới giai đoạn trước thì đây cũng có thể được coi là một trong những bước tiếnđáng kể so với tầng lớp độc giả của giai đoạn trước - chủ yếu độc giả chỉ làtầng lớp Nho sĩ, trí thức Sự biểu hiện này, nhìn qua có vẻ đơn giản nhưng vềmặt xã hội thì tác động cực kỳ to lớn Bởi vì tầng lớp độc giả của văn họcViệt Nam từ đây đã có sự thay đổi cơ bản so với trước

Thứ hai là, môi trường xã hội, vốn được coi là những yếu tố cơ bản đầutiên tác động đến sự phát triển của văn học, đã thay đổi Ngay từ đầu thế kỉ

XX, các nhà tri thức Nho học yêu nước đã bắt đầu hô hào dùng chữ Quốc ngữbởi họ nhận ra được những ưu điểm không thể chối bỏ của chữ Quốc ngữtrong việc truyền bá những tư tưởng, hình thành nên những nét văn học mang

tính chất đặc thù: “Một đằng thì mất mấy năm trời để đi học một thứ chữ khác hẳn tiếng mình mà vẫn không có công hiệu: một đằng thì mất không tới

6 tháng là học ngay được văn tự của tiếng mình Vậy thì không thể không theo chữ nước ta.” (3, 59) Rõ ràng, chữ Quốc ngữ đã trở thành hệ thống

ngôn từ phổ biến, trở thành công cụ đắc lực không chỉ xuất hiện trong giaotiếp hàng ngày mà còn là thứ công cụ phổ biến trong các hoạt động sáng tác

Trang 33

văn thơ Trên thực tế, từ những năm 20 trở về sau, văn học hầu như chỉ còn sựxuất hiện và tồn tại của văn học quốc ngữ Tựu chung lại, chữ quốc ngữ đóngvai trò chủ đạo trong việc hiện đại hóa văn học đồng thời là yếu tố cơ bản banđầu dẫn tới sự hình thành xu hướng tự do hóa ngôn ngữ- vào thời điểm vănhọc đã đạt được những đỉnh cao rực rỡ Chữ quốc ngữ tuy được các cố đạođặt ra từ giữa thế kỷ thứ XVII tuy nhiên chỉ được sử dụng trong phạm vi nhàthờ Thiên Chúa giáo, từ khi thực dân Pháp chiếm được Nam Kì, thực dânPháp đã bỏ nhiều công sức, dùng nhiều biện pháp hành chính và kinh tế nhằmcưỡng bức việc dùng chữ Quốc Ngữ Tuy nhiên với sức sống nội tại riêng,chữ Quốc ngữ đã bứt ra khỏi được sự kìm hãm trở thành thứ chữ viết phổbiến.

Thứ ba là, nền văn học có xu hướng phản ánh tiếng nói của cái tôi cánhân, quan tâm nhiều hơn tới số phận cá nhân của con người Ở giai đoạnnày, cá nhân con người được đưa vào hình tượng văn học, cả trong thơ ca lẫntiểu thuyết Nói một cách khác đi, nội dung văn học đã thay đổi do nhân vậtđược phản ánh đã thay đổi

Như vậy, có thể thấy ba biểu hiện chung của xu hướng hiện đại hóa vănhọc Việt Nam ở đầu thế kỷ XX đã thấy rõ

1.3.2 Mối quan hệ giữa quá trình hiện đại hóa văn học và xu hướng tự do hóa ngôn ngữ

Hiện đại hóa văn học và xu hướng tự do hóa ngôn ngữ có mối quan hệmật thiết, tương tác lẫn nhau Quá trình hiện đại hóa văn học được coi là mộtcuộc cách mạng trong văn học đến từ sự thay đổi ý thức nghệ thuật, những quanniệm thẩm mĩ và quan niệm về văn chương Đặc điểm này kéo theo hàng loạt sựthay đổi về sau như sự biến đổi về thi pháp văn học, nhằm thoát khỏi toàn bộnhững ước lệ, quy phạm, tính chất uyên bác, sùng cổ… vốn được coi là đặctrưng cơ bản của thơ ca trung đại Ở đây, sự thay đổi về nội dung phản ánh đã

Trang 34

tạo điều kiện không thể tốt hơn cho sự phát triển hình thức Và ngược lại, sự thayđổi về hình thức sẽ góp phần thúc đẩy sự phát triển về nội dung.

Qúa trình hiện đại hóa văn học diễn ra trên tất cả các thể loại văn họctrong đó thơ là thể loại tiêu biểu chịu ảnh hưởng trực tiếp của quá trình hiệnđại hóa văn học Nếu như đối với văn xuôi, quá trình hiện đại hóa được thểhiện thông qua sự xuất hiện, ra đời và đa dạng về mặt thể loại: tiểu thuyết,truyện ngắn, phóng sự… thì đối với thơ, thể loại nhạy cảm với sự biến chuyểncủa đời sống thì quá trình hiện đại hóa được thể hiện rõ rệt thông qua sự cáchtân sâu sắc, đổi mới trên bình diện nội dung và nghệ thuật Trong đó, mộttrong những đổi mới đáng quan tâm hơn cả đó là sự thay đổi về hệ thống haycách thức sử dụng ngôn ngữ Mà sự thay đổi về hệ thống hay cách thức sửdụng ngôn ngữ chính là sự cách tân xu hướng “cổ điển” có tính khôn mẫutrước kia theo cách “tự do hóa” ngôn ngữ

Chính vì thế, xu hướng tự do hóa ngôn ngữ trong thơ hiện đại là thành tựucủa quá trình hiện đại hóa văn học Để quá trình này có thể diễn ra trọn vẹn, nềnvăn học đòi hỏi sự dốc lòng đổi mới của đội ngũ sáng tác nghệ thuật như chúng

ta có thể kể đến những tên tuổi độc đáo như Huy Cận, Chế Lan Viên, XuânDiệu… Những tác giả thuộc phong trào thơ Mới, thậm chí là những tên tuổithuộc giai đoạn đầu của quá trình hiện đại hóa văn học như Tản Đà…

Như vậy quan hệ giữa hai xu hướng văn học này là quan hệ giữanguyên nhân- kết quả, chi phối- bao hàm- phụ thuộc Chúng gắn bó mật thiết

và gây ra những ảnh hưởng tích cực với nhau Trong tình trạng như thế, việcphân tích xu hướng tự do hóa ngôn ngữ trong thơ hiện đại được đưa vào SGKbậc THPT sẽ góp phần giúp giáo viên và học sinh hiểu rõ hơn sự phát triểncủa văn học Việt Nam hiện đại

Trang 35

Tiểu kết chương 1

1 Thơ ca được coi là loại hình văn học xuất hiện và hình thành sớmnhất trong nền văn học nhân loại Bởi vậy nó được coi là một trong những sảnphẩm của lịch sử, của văn hóa xã hội Với mỗi góc nhìn, với mỗi quan niệm

sẽ có những cách thức lí giải, định nghĩa tương ứng về thơ ca Tuy nhiên, dùsoi chiếu dưới góc độ nào người ta cũng không thể phủ nhận tầm quan trọngcủa hệ thống ngôn ngữ - công cụ của sáng tác thơ ca và là dấu hiệu đặc trưng

cơ bản giúp khu biệt thơ với các thể loại khác trong văn học Do đó, trong tìmhiểu thơ ca nói chung thì tìm hiểu ngôn ngữ thơ ca nói riêng giữ một vị trí đặcbiệt quan trọng

2 Sự phát triển văn học cũng như sự phát triển thơ ca gắn liền với sựphát triển cách thức sử dụng ngôn ngữ Trong sự phát triển cách thức sử dụngngôn ngữ thơ ca, có khuynh hướng tự do hóa ngôn ngữ thơ Những phươngdiện cơ bản của xu hướng tự do hóa ngôn ngữ thơ được xác lập dựa trênnhững đặc trưng cơ bản sau của ngôn ngữ thơ: Ngôn ngữ thơ giàu tính biểutượng có khả năng tạo nên sức gợi, tạo tình; ngôn ngữ thơ giàu nhạc tính bởi

sự tổ chức ngôn ngữ tạo ra các kiểu từ ngữ, hình ảnh luyến láy, trùng điệp,bằng trắc, ngắt nghỉ giàu giá trị gợi cảm; ngôn ngữ thơ có tính lựa chọn, kếthợp độc đáo Đó chính là hình thức để từ đó chúng ta xem xét khuynh hướng

tự do hóa ngôn ngữ thơ Nói một cách khác đi, tình trạng tự do hóa ngôn ngữthơ được thể hiện qua những cách thức tự do hóa cách sử dụng chúng

3 Tiến trình vận động của thơ Việt Nam nổi bật ở đặc trưng cơ bản đó

là sự đa dạng, phức tạp với nhiều khuynh hướng trào lưu văn học khác nhaunhư văn học cách mạng, phong trào Thơ mới… Sự vận động nội tại của cáckhuynh hướng, trào lưu thơ ca thông qua 4 chặng đường (từ đầu thế kỷ đến

Trang 36

1920; những năm 20, từ những năm 30- Cách mạng tháng Tám 1945, từ1945- 1975) cho thấy được diện mạo toàn diện của nền thơ ca Việt Nam trong

sự phát triển và tiến bộ vượt bậc Với hấp lực tiềm tàng, thơ ca Việt Nam đi từchỗ vốn xuất thân từ văn học trung đại còn nhiều điều gần gũi với thơ catrung đại cả trong quan niệm thẩm mĩ, hệ thống thể loại và thi pháp (từ đầuthế kỷ- hết 1920), đã dần dần xuất hiện những cách tân độc đáo, đạt đượcnhiều thành tựu quan trọng Nhờ đó, nền văn học Việt Nam, trong đó có thơ

ca thực sự được hiện đại hóa, phát triển và đạt nhiều thành tựu rực rỡ

4 Như vậy, có thể nói xu hướng tự do hóa ngôn ngữ thơ và quá trìnhhiện đại hóa văn học là hai quá trình tồn tại trong mối quan hệ tương tác, chiphối lẫn nhau Trong đó, quá trình hiện đại hóa văn học là cơ sở nền tảng dẫntới xu hướng tự do hóa ngôn ngữ thơ Đồng thời, xu hướng tự do hóa ngônngữ thơ ca hiện đại là một trong những biểu hiện quan trọng giúp cho ngườiđọc nhìn nhận ra được tính chất cơ bản của nền thơ ca đang đi vào quá trìnhhiện đại hóa Hai xu hướng, quá trình này có mối quan hệ, tác động qua lạilẫn nhau, gây ra những ảnh hướng tích cực tới nhau góp phần tạo nên diệnmạo sôi nổi của thơ ca hiện đại Việt Nam

Trang 37

Chương 2

TỰ DO HÓA NGÔN NGỮ THƠ Ở CẤP ĐỘ BÀI THƠ VÀ KHỔ THƠ

TRONG SGK NGỮ VĂN THPT

Trong chương 2 này của luận văn, chúng tôi sẽ trình bày ba vấn đề liên

quan đến vấn đề tự do hóa ngôn ngữ thơ trong SGK Ngữ văn THPT Đó làvấn đề giới hạn những hình thức mà qua đó nó thể hiện xu hướng tự do hóangôn ngữ trong thơ hiện đại Việt Nam Tiếp theo là sự mô tả xu hướng tự do

hóa ngôn ngữ thơ qua phân tích hình thức bài thơ, khổ thơ trong SGK Khi

phân tích hình thức khác nhau vậy, trong chừng mực có thể, chúng tôi trìnhbày mối liên hệ giữa hình thức tự do hóa ngôn ngữ và giá trị biểu hiện nộidung của chúng mà chúng tôi có thể cảm nhận được

2.1 Giới hạn của hình thức thể hiện xu hướng tự do hóa ngôn ngữ trong thơ hiện đại Việt Nam

Hình thức thơ bao gồm thể thơ, câu thơ, từ ngữ, giọng điệu, nhịp, vần, hìnhảnh và các hình thức tổ chức chung Các yếu tố hình thức này vốn mang tínhtruyền thống, bền vững, khó biến đổi và có thể mô hình hóa được Trong thực tế

đã có một số nhà nghiên cứu có tên tuổi nghiên cứu về vấn đề này như tác giảNguyễn Phan Cảnh v.v Những nghiên cứu về hình thức thơ của những tác giả nóitrên đã góp phần quan trọng để chúng ta hiểu về thơ ca Việt Nam hiện đại

Hình thức thơ còn được coi là một cảm quan nghệ thuật mang tính hệthống, bộc lộ những điểm nhìn mang tính chất mĩ học về mối quan hệ giữathơ và đời sống, thể hiện cụ thể xu hướng tự do hóa ngôn ngữ thơ Sự tự dohóa là hình thức linh hoạt, năng động, dễ biến đổi nhưng cũng khó nắm bắt,khó có thể được mô hình hóa Cho nên, việc tìm hiểu xu hướng tự do hóangôn ngữ trong các tác phẩm thơ hiện đại thuộc chương trình SGK Ngữ văn

Trang 38

THPT thực chất là nhằm chỉ ra những biểu hiện cơ bản cũng như sự thay đổicủa thơ hiện đại Việt Nam trong một giai đoạn phát triển cụ thể.

Trong tác phẩm “Mỹ học Mác- Lê nin”, các tác giả đã từng chỉ ra rằng trong nghệ thuật nói chung “nội dung dần dần được hình thức hóa và dần sần được trầm lắng thành các cấu trúc thể loại”(290 , 22) Nhìn từ bình diện thể

loại, cùng có một sự thống nhất không thể tách rời một cách tuyệt đối giữa nộidung và hình thức Nội dung bằng thể loại vì thế chỉ có thể tồn tại qua thể loại

và bằng hình thức thể loại Những yếu tố hình thức thể loại bao giờ cũng phụthuộc lẫn nhau và và phụ thuộc vào nội dung thể loại Bởi xét cho cùng thì

“Thể loại là những quy tắc tổ chức hình thức tác phẩm ứng với những loại hình nội dung nghệ thuật của nó” (167, 22) Do vậy, ở chương này chúng tôi

tập trung khảo sát mô hình của những bài thơ tự do

Bàn về cấu trúc trong văn bản thơ trữ tình, Lã Nhâm Thìn quan niệm:

“Trong thơ trữ tình, mối quan hệ đầu kết đặc biệt quan trọng, mở đầu bao giờ cũng có tác dụng đưa người đọc vào một không khí, một trạng thái cảm xúc nhất định Dù tả cảnh gợi tình, hoặc khoan thai kể chuyện hoặc bâng khuâng gợi hứng, hoặc đột ngột bàng hoàng, mở đầu của thơ thường có tác dụng gây ấn tượng quan trọng Phần kết thường gắn liền với quan niệm về sự trọn vẹn và hoàn tất, vừa gợi lại phần thể hiện ở trên, vừa tạo dư âm trong lòng người đọc Người xưa thường cho rằng cái hay của một bài thơ thường

ở dạng cấu kết Hoặc thu lại, hoặc mở ra, tạo nên ý mênh mang Ở đây bố cụ của bài thơ phải xử lý mối quan hệ giữa lời thơ hữu hạn và ý thơ, tình thơ vô cùng.” (112-113, 54) Đặt trong mối tương quan với việc bộc lộ nội dung và ý

đồ nghệ thuật của tác giả thì bài thơ cùng kết cấu của nó đều có tác dụng bộc

lộ rõ ràng quan điểm nghệ thuật của tác giả Xét về mặt hình thức, cấu trúcbài thơ là sự tổng hợp của nhiều yếu tố khác nhau và khá đa dạng Tuy nhiên,

ở mức độ và quy mô của một luận văn Thạc sỹ, chúng tôi chỉ tập trung khảo

sát hình thức bài thơ dựa trên sự khảo sát các yếu tố làm thành bài thơ là khổ

Trang 39

thơ và câu thơ; còn những yếu tố khác chúng tôi sẽ tạm thời không đề cập

đến

Như vậy, hình thức biểu hiện xu hướng tự do hóa ngôn ngữ trong thơ

hiện đại Việt Nam được chúng tôi khảo sát ở bài thơ và khổ thơ, câu thơ trong mỗi bài thơ Trong đó, việc khảo sát đặc điểm “tự do hóa ngôn ngữ” của bài thơ và khổ thơ sẽ được thực hiện ở chương 2 Đồng thời ở chương này, luận

văn cũng dành một mục để phân tích mối liên hệ giữa hình thức biểu hiện xuhướng tự do hóa ngôn ngữ có tác dụng trong việc thể hiện nội dung như thếnào Còn nhiệm vụ khảo sát hình thức biểu hiện xu hướng tự do hóa ngôn ngữ

trong câu thơ, do tính phúc tạp của nó, sẽ được thực hiện ở chương 3 tiếp

theo Và ở chương này, do sự phân tích ở cấp độ nhỏ hơn một bài thơ, chúngtôi sẽ lồng giữa sự phân tích hình thức và nội dung vào với nhau mà không

tác ra như cách sẽ làm ở chương 2.

2.2 Sự tự do hóa ngôn ngữ thơ ở cấp độ bài thơ

Khi khảo sát xu hướng tự do hóa ngôn ngữ ở cấp độ bài thơ, chúng tôi

chỉ xin xem xét ở dạng thức thể loại thơ và thời gian sáng tác tác phẩm Đây

là hai chỉ số cụ thể có giá trị hình thức nhất, cho thấy ngôn ngữ thơ khi “được

tự do” sẽ khác với dạng thức thơ “cổ điển” hay “truyền thống” là như thế nào

2.2.1 Xét trên tiêu chí hình thức thể loại thơ.

Bảng dưới đây là kết quả thống kê các tác phẩm thơ hiện đại Việt Nam

có trong chương trình SGK Ngữ văn lớp 10,11,12 Bảng thống kê này dựa

trên tiêu chí thể loại của bài thơ.

Bảng 2.1: Kết quả khảo sát theo thể loại.

Trang 40

STT trình lớp Chương Tên tác phẩm Thể loại

14 11 Lai tân (Hồ Chí Minh) Thất ngôn tứtuyệt

15 11 Tảo giải (Hồ Chí Minh) Thất ngôn tứtuyệt

21 12 Tiếng hát con tàu (Chế Lan Viên) Tự do

25 12 Đàn ghitar của Lorca (Thanh Thảo) Tự do

Kết quả thống kê nói trên cho thấy, ở thời kỳ “văn học hiện đại” SGKbậc THPT có 25 bài, phân bố ở hai lớp cuối cấp Kết quả ấy có thể cho phépchúng ta đưa ra những nhận xét ban đầu như sau:

Thứ nhất, chúng ta dễ dàng nhận thấy tổng số bài thơ theo thể tự do

chiếm số lượng tương đối lớn: 8/25 bài, chiếm tỷ lệ 32% trong tổng số nhómbài thơ hiện đại thuộc chương trình SGK Ngữ Văn THPT Bên cạnh đó,chúng ta cũng nhận thấy, thể loại thơ tự do phần lớn là những bài xuất hiệntrong giai đoạn 1932 - 1945, là thời kỳ mà những nhà nghiên cứu lịch sử vănhọc Việt Nam cho rằng phong trào thơ Mới giữ vai trò chủ đạo Chính vì thế,

Ngày đăng: 25/02/2017, 17:54

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Phan Cảnh (2006), Ngôn ngữ thơ, NXB Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ thơ
Tác giả: Nguyễn Phan Cảnh
Nhà XB: NXB Văn học
Năm: 2006
2. Trường Chinh (1974), Chủ nghĩa Mác và văn hóa Việt Nam, NXB sự thật, in lần thứ hai Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chủ nghĩa Mác và văn hóa Việt Nam
Tác giả: Trường Chinh
Nhà XB: NXB sựthật
Năm: 1974
3. Trương Chính (2000), Dưới mắt tôi, in trong Tổng tập văn học Việt Nam tập 23, Trung tâm Khoa học xã hội và Nhân văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dưới mắt tôi", in trong "Tổng tập văn học ViệtNam tập 23
Tác giả: Trương Chính
Năm: 2000
4. Hữu Đạt (2000), Ngôn ngữ thơ Việt Nam, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội 5. Phan Cự Đệ (Chủ biên) (2004), Văn học Việt Nam thế kỉ XX, NXB Đạihọc và Giáo dục Chuyên nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ thơ Việt Nam," NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội5. Phan Cự Đệ (Chủ biên) (2004), "Văn học Việt Nam thế kỉ XX
Tác giả: Hữu Đạt (2000), Ngôn ngữ thơ Việt Nam, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội 5. Phan Cự Đệ (Chủ biên)
Nhà XB: NXB Khoa học Xã hội
Năm: 2004
6. Phan Cự Đệ viết chung với Hà Minh Đức (1974-1975, 1977-1978, 2000, 2001), Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại, Nhà xuất bản Đại học và Trung học chuyên nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học vàTrung học chuyên nghiệp
7. Phan Cự Đệ, Văn học lãng mạn Việt Nam (1930- 1945), NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học lãng mạn Việt Nam (1930- 1945)
Nhà XB: NXB Giáo dục
8. Phan Cự Đệ, Trần Đình Hượu, Nguyễn Trác, Nguyễn Hoành Khung, Lê Chí Dũng, Hà Văn Đức (2010), Văn học Việt Nam (1900-1945), NXB Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam (1900-1945)
Tác giả: Phan Cự Đệ, Trần Đình Hượu, Nguyễn Trác, Nguyễn Hoành Khung, Lê Chí Dũng, Hà Văn Đức
Nhà XB: NXB Giáo dục Việt Nam
Năm: 2010
9. Phạm Văn Diêu (1961), Việt Nam văn học giảng bình, NXB Tân Việt, Sài Gòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam văn học giảng bình
Tác giả: Phạm Văn Diêu
Nhà XB: NXB Tân Việt
Năm: 1961
10. Đỗ Đức Dục (1984), Chủ nghĩa hiện thực phê phán trong văn học Phương Tây, NXB KHXH, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chủ nghĩa hiện thực phê phán trong văn họcPhương Tây
Tác giả: Đỗ Đức Dục
Nhà XB: NXB KHXH
Năm: 1984
11. Phan Huy Dũng, Nhận diện nhịp điệu thơ trữ tình, Tạp chí ngôn ngữ, số 16,2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhận diện nhịp điệu thơ trữ tình
12. Phan Nhiên Hạo, “Về tân hình thức, thơ tự do hóa và tươi mát hồn nhiên”, Tạp chí Thơ số 2,2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Về tân hình thức, thơ tự do hóa và tươi mát hồnnhiên”", Tạp chí "Thơ
13. Dương Quảng Hàm (1942), Việt Văn giáo khoa thư, H. NXB Trẻ TPHCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Văn giáo khoa thư
Tác giả: Dương Quảng Hàm
Nhà XB: NXB TrẻTPHCM
Năm: 1942
14. Dương Quảng Hàm (1950), Việt Nam văn học sử yếu, Bộ quốc gia giáo Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam văn học sử yếu
Tác giả: Dương Quảng Hàm
Năm: 1950
15. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi chủ biên (1999), Từ điển thuật ngữ văn học, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điểnthuật ngữ văn học
Tác giả: Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi chủ biên
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1999
16. Lê Thị Đức Hạnh (1999), Mấy vấn đề trong văn học Việt Nam hiện đại, NXB KHXH, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mấy vấn đề trong văn học Việt Nam hiện đại
Tác giả: Lê Thị Đức Hạnh
Nhà XB: NXB KHXH
Năm: 1999
17. Hegel (1999), Mĩ học- Tập II, Phan Ngọc dịch Sách, tạp chí
Tiêu đề:
Tác giả: Hegel
Năm: 1999
18. Đỗ Đức Hiểu (2000), Thi pháp hiện đại, NXB Hội nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thi pháp hiện đại
Tác giả: Đỗ Đức Hiểu
Nhà XB: NXB Hội nhà văn
Năm: 2000
19. Đỗ Đức Hiểu, Nguyễn Huệ Chi, Phùng Văn Tửu, Trần Hữu Tá chủ biên (2004), Từ điển văn học bộ mới, NXB Thế giới Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển văn học bộ mới
Tác giả: Đỗ Đức Hiểu, Nguyễn Huệ Chi, Phùng Văn Tửu, Trần Hữu Tá chủ biên
Nhà XB: NXB Thế giới
Năm: 2004
20. Nguyễn Thái Hòa (1997), Dẫn luận phong cách học, NXB Giaó dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dẫn luận phong cách học
Tác giả: Nguyễn Thái Hòa
Nhà XB: NXB Giaó dục
Năm: 1997
21. Nguyễn Thái Hoà (1999), Từ điển tu từ- phong cách- thi pháp học, NXB Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển tu từ- phong cách- thi pháp học
Tác giả: Nguyễn Thái Hoà
Nhà XB: NXB Đà Nẵng
Năm: 1999

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w