Nếu cái Đậm hiện diện bằng những lộ - mau - chói – gắt - dữ – mạnh – nặng – nồng – đanh - sắc , thì cái Nhạt / Đạm lại hiện diện bằng những ẩn - thưa - thanh - nhẹ - êm - mềm - mượt - nh
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
NGUYỄN THỊ THANH
XU HƯỚNG “NHẠT HÓA”
TRONG TRUYỆN NGẮN LÊ MINH KHUÊ
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam hiện đại
Mã số: 60.22.01.21
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN
Người hướng dẫn khoa học: TS Chu Văn Sơn
Trang 2HÀ NỘI - 2015
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS Chu Văn Sơn – người thầy đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo khoa Ngữ Văn - trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã nhiệt tình giảng dạy và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong thời gian học tập và nghiên cứu tại trường.
Tôi xin cảm ơn phòng Sau Đại học, Thư viện trường Đại học Sư phạm
Hà Nội, Kho tư liệu khoa Ngữ Văn - trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã tạo điều kiện giúp đỡ và cung cấp cho tôi nguồn tài liệu quý giá.
Tôi xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã tạo điều kiện, động viên, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu.
Hà Nội, ngày 30 tháng 09 năm 2015
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Thanh
Trang 4MỤC LỤC
Nguyễn Thị Thanh 3
MỤC LỤC 4
MỞ ĐẦU 1
1.2.2.Cái nhạt trong nghệ thuật 11
Tiểu kết chương 1 21
Cái Nhạt là một phạm trù thẩm mỹ phổ biến Cùng với cái Đậm, sự hiện diện của cái Nhạt tạo nên tính cân bằng cho thực tại thẩm mỹ Nếu cái Đậm hiện diện bằng những lộ - mau - chói – gắt - dữ – mạnh – nặng – nồng – đanh - sắc , thì cái Nhạt / Đạm lại hiện diện bằng những ẩn - thưa - thanh - nhẹ - êm - mềm - mượt - nhã - dịu… Trong văn học, ở văn xuôi tự sự : cái Đậm hiện diện bằng những bức tranh đời sống trực diện, nóng bỏng, những vấn đề gai góc, những mâu thuẫn gay gắt thuộc về dòng chính và bề nổi, những xung đột dữ dội, tranh chấp căng thẳng, những cảnh ngộ đầy éo le; những tính cách quyết liệt, góc cạnh, ưa bày tỏ bằng hành động; những số phận đầy thăng trầm; những cốt truyện gay cấn; giọng điệu căng cứng, bốc lửa; ngôn ngữ rành rẽ, khẳng quyết… Còn cái Nhạt / Đạm lại thường hiện diện qua những bức tranh đời sống có vẻ phẳng lặng, êm đềm; những vấn đề có vẻ ít phức tạp; mâu thuẫn âm ỉ thuộc về dòng chìm ở bề sâu; những va chạm có vẻ không đâu; những con người âm thầm, nghiêng về đời sống bên trong với chiêm nghiệm, lắng kết, cảnh ngộ quen gặp trong đời thường ; cốt truyện đơn sơ ; giọng điệu bình thản, dịu êm, ngôn ngữ nhẹ nhàng mềm mại… Hai xu hướng này không chỉ tồn tại theo lối phân hóa biệt lập nhau, mà còn chuyển hóa lẫn nhau trong cảm hứng sáng tạo, trong phong cách sáng tạo, làm nên tính phong phú phức tạp của đời sống nghệ thuật Tuy nhiên, do sự lựa chọn của cá tính và sở trường thẩm mỹ riêng mà có những cây bút đã định hình lối viết nghiêng về Đậm hoặc nghiêng về Nhạt/Đạm Hiện tượng Lê Minh Khuê rất tiêu biểu cho xu hướng Nhạt hóa trong văn xuôi Việt Nam từ chặng cuối của chiến tranh sang cuộc sống thời bình sau chiến tranh 21
ơ 102
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Lê Minh Khuê là một trong những cây bút viết truyện ngắn tiêu biểu của nền văn học nước nhà Bắt đầu sự nghiệp văn chương từ những năm 60, từ đó cho đến nay đã hơn 40 năm cầm bút, nhà văn đã cống hiến những giá trị lớn lao cho thể loại truyện ngắn của nước nhà Chị cũng là một trong số rất hiếm các nhà văn được trao tặng nhiều giải thưởng: hai lần giành giải thưởng của hội nhà văn Việt Nam (năm
1987 với tập “Một chiều xa thành phố” in năm 1986) và năm 2000 với tập “Trong làn gió heo may” in năm 1999 Một lần đạt giải của tạp chí văn nghệ quân đội năm
1994 với tập “Bi kịch nhỏ” in năm 1993 Nhiều tác phẩm tiêu biểu của chị đã được
dịch và giới thiệu ở một số nước trên thế giới như Mĩ, Pháp, Nhật Bản, Hàn Quốc,
Malaysia… Đặc biệt tập “The Stars, the Earth, the River” (Những ngôi sao, trái
đất, dòng sông, do nhà xuất bản Cubsotone Press – Mĩ xuất bản đã trở thành bạn đường cho các sinh viên Mĩ khi họ muốn hiểu hơn về đất nước, con người Việt Nam Những thành tựu trên đây cho thấy, trong số các nhà văn cùng thời, Lê Minh Khuê thực sự là một cây bút truyện ngắn khá vững vàng, chị đã tạo cho mình một phong cách riêng, có cá tính Sáng tác của chị góp phần thúc đẩy sự phát triển của truyện ngắn Việt Nam những năm cuối thế kỉ XX đầu thế kỉ XXI
Cái Nhạt hay còn được gọi là cái “Vô Vị”, “cái Đạm” là những khái niệm mĩ học trừu tượng của triết học minh triết phương Đông mà điển hình ở đây là một quan điểm mĩ học của người Trung Hoa, về sự nhìn nhận các sự việc hiện tượng của đời sống không bắt nguồn từ biểu hiện bên ngoài mà đi sâu vào bên trong hình tượng để
cảm nhận giá trị của biểu tượng Trong cuốn “Bàn về cái nhạt” của Francois Jullien,
khi nghiên cứu, bàn luận về vấn đề cái Nhạt trong các loại hình nghệ thuật của Trung Hoa trong đó có cả văn học, người viết đã cố gắng cho độc giả hiểu được cái Nhạt trong quan niệm Phương Đông trong sự đối sánh với quan niệm của Phương Tây về khái niệm này Theo đó thì cái Nhạt hay cái “Vô Vị” chính là một ý niệm cơ bản của
mĩ học Trung Hoa Đó là một vị lý tưởng trong nghệ thuật, một phẩm giá mang dấu dương tuyệt đối, nó chống lại những quan niệm mĩ học của Phương Tây
Xuất phát từ cơ sở triết học trên, người viết mạnh bạo tìm kiếm và đối sánh để chỉ ra cái “Nhạt- Đạm” trong truyện ngắn của Lê Minh Khuê, góp phần đưa ra cách
Trang 6tiếp cận mới về nội dung cũng như nghệ thuật của truyện ngắn Lê Minh Khuê từ góc
độ triết học, mĩ học phương Đông Chính vì vậy chúng tôi lựa chọn đề tài : Xu hướng “Nhạt hóa” trong truyện ngắn Lê Minh Khuê làm đối tượng nghiên cứu
trong luận văn
2 Lịch sử vấn đề
Là một nữ nhà văn bền bỉ, chuyên tâm với thể loại truyện ngắn Sáng tác của
Lê Minh Khuê được đông đảo bạn đọc đón nhận Những bài viết, công trình nghiên cứu, những bình luận về phong cách Lê Minh Khuê hay những truyện ngắn của chị ngày càng nhiều và sâu sắc hơn Đã có nhiều công trình nghiên cứu khoa học, những bài báo nghiên cứu giá trị truyện ngắn Lê Minh Khuê trên cả hai phương diện nội dung và hình thức nghệ thuật Trong đó một số bài viết đã gián tiếp đề cập đến nội dung của cái “Nhạt- Đạm” trong sáng tác Lê Minh Khuê trên một số phương diện về nội dung và nghệ thuật Có thể điểm qua một số những bài viết sau:
Trước hết là những ý kiến nhận xét khái quát về sự đóng góp và vị trí của Lê Minh Khuê trong nền văn học đương đại
Là một nhà nghiên cứu dày dặn kinh nghiệm về văn xuôi từ những tác giả của văn học 1930- 1945, Lê Thị Đức Hạnh cũng dành sự quan tâm đặc biệt đối với Lê
Minh Khuê khi bà đánh giá: “Lê Minh Khuê là một cây bút nữ có nhiều đóng góp về
truyện ngắn Từ hồn nhiên trong trẻo đến sắc sảo, nghiêm nghị, chị luôn có một chất giọng riêng [17] Chính “chất giọng riêng” đó đã tạo nên sự hấp dẫn và mới lạ cho
truyện ngắn của Lê Minh Khuê
Cũng nhận xét về nét độc đáo trong sáng tác của Lê Minh Khuê, giáo sư Hà
Minh Đức trong bài “Những tác giả nữ trong nền văn xuôi chống Mĩ” cho rằng:
“Lê Minh Khuê là một cây bút trẻ xông xáo trong những năm chống Mĩ Chị đã có ý
thức chuyển nhanh sang thời kì mới và tỏ ra khá nhạy bén trong cách cảm nhận
nghệ thuật của mình”.[13].Trên tạp chí văn hóa doanh nhân, trong bài “Lê Minh
Khuê- một cốt cách văn chương”, tác giả Vũ Hà nhận xét: “Rất dễ hòa lẫn trong
đám đông nhưng gặp một lần ở ngoài đời, một lần đọc truyện của cây bút ấy là không thể quên Nó lưu giữ trong ta một tình cảm dịu dàng, một dấu ấn khó phai mờ trong tâm tưởng… Và một điều ghi nhận trong sáng tác, Lê Minh Khuê ngày càng đằm thắm, sâu sắc hơn” [16]
Trên đây chỉ là những nhận xét tiêu biểu về vị trí của Lê Minh Khuê trong nền
Trang 7nền văn học nước nhà với những đóng góp của mình về thể loại truyện ngắn.
Về các tập truyện ngắn của Lê Minh Khuê, cũng có nhiều bài nghiên cứu, những công trình khoa học về hành trình truyện ngắn Lê Minh Khuê Ở đây chúng tôi xin điểm qua những bài viết liên quan về những nhận định gián tiếp về yếu tố
“Nhạt- Đạm” trong sáng tác của Lê Minh Khuê qua các tập truyện
Tập “Cao điểm mùa hạ” là tập truyện đầu tay trong sáng tác của Lê Minh
Khuê, đánh dấu sự xuất hiện của một phong cách viết truyện ngắn đầy triển vọng đã nhận được nhiều sự quan tâm đánh giá từ các nhà nghiên cứu, phê bình văn chương Đầu tiên là ý kiến của Bùi Việt Thắng cho rằng những tác phẩm đầu tay của Lê Minh Khuê trải qua quá trình “chắt chiu” từ 1969 đến 1974 đã chiếm được cảm tình của người đọc với những nét riêng mà anh gọi là “chất lạ” Còn về thế giới nhân vật
trong tập truyện này, Bùi Việt Thắng đã chỉ ra “nhân vật của chị thuần phác, hồn
nhiên, cảnh ngộ không có gì thật éo le, gay cấn nhưng tiêu biểu” [57,tr.3] Cũng có
chung nhận xét về tập truyện này như Bùi Việt Thắng, Lê Thị Đức Hạnh trong bài
“Lê Minh Khuê cây bút truyện ngắn sung sức” đã nhận xét: “Lê Minh Khuê đã
hình thành một dáng vẻ riêng Dáng vẻ riêng ấy được thể hiện khía cạnh ghi lại khá chân thực, sống động dáng vẻ của một tầng lớp thanh niên, đặc biệt là nữ ở thời điểm trọng đại của đất nước”.[17]
Tập “Một chiều xa thành phố” là một tập truyện ngắn đánh dấu sự trưởng
thành, nỗ lực vượt lên mình, vươn lên của Lê Minh Khuê trong giai đoạn văn học đổi
mới Hồ Anh Thái đã nhận xét về tập truyện này: “Lê Minh Khuê đã thực sự thuyết
phục được người đọc bởi chị đã thoát ra khỏi cách nhìn nhận duy cảm, trở nên khách quan hơn, đa diện hơn nhưng chẳng vì thế mà kém phần nồng hậu” [55]
Bùi Việt Thắng cho rằng ở tập truyện này Lê Minh Khuê “đã cố gắng tìm cho
truyện của mình những nẻo lối khác nhau để tiếp cận đời sống và cả sự thể hiện hình thức của thể tài” [57, tr.3].
Sự ra đời của tập “Bi kịch nhỏ” là một tập truyện mang lại nhiều tai tiếng cho
Lê Minh Khuê Người khen, khen hết lời, kẻ chê chê không tiếc lời Áp đặt lập trường chính trị trong văn chương Trung Nguyên,Trần Thanh, Đậu Thị Vĩnh, Dương
Tùng coi “Bi kịch nhỏ” là “một đứa con tinh thần èo uột” và Lê Minh Khuê đã bôi
nhọ, quá sa đà vào hiện thực Vì vậy họ xếp “Bi kịch nhỏ là một trong bảy cuốn sách
tai tiếng nhất trong năm” [69].
Trang 8Bùi Việt Thắng lại cho rằng “Bi kịch nhỏ có thể là một sự thể nghiệm, một
phép thử của Lê Minh Khuê trong truyện ngắn Dường như chị muốn nhập cuộc hơn, muốn uyển chuyển và hiện đại hơn trong cách viết” [57,tr.3] Đồng tình với ý kiến
của Bùi Việt Thắng, Bùi Việt Sĩ đã nhận định: “Bi kịch nhỏ là một tập truyện gây
được ấn tượng mạnh mang một nỗi buồn nghẹn ngào của tác giả trước nỗi đau của thân phận con người”[53] Ngô Thị Kim Cúc lại cho rằng “Bi kịch nhỏ là một bi kịch không thể bị lãng quên” [8]
Với các đánh giá của Bùi Việt Thắng, Bùi Việt Sĩ và Ngô Thị Kim Cúc họ đã thừa nhận giá trị của Lê Minh Khuê trong sự tìm tòi và thể nghiệm hiện thực cuộc sống của nhà văn
Tập truyện “Trong làn gió heo may” xuất bản năm 1999 là tập truyện được
đánh giá cao Bùi Việt Thắng- một người luôn theo sát những bước đi trong hành
trình truyện ngắn Lê Minh Khuê đã nhận xét về tập truyện này như sau: “Lê Minh
Khuê trong tập truyện này không sắc nhọn về cốt truyện, không đặc sắc về tình tiết nhưng bù lại là tính chất tâm lý của câu chuyện, hành động và những đoạn kết có
sức ám ảnh bởi sự bất ngờ, sự trái khoáy và phi lý”.[59]
Thảo Hương trong bài viết về tập truyện ngắn “Những ngôi sao, trái đất,
dòng sông- thấm đẫm tình người” đã khẳng định: “Qua những truyện ngắn của Lê
Minh Khuê, độc giả sẽ hiểu thêm về những khốc liệt của cuộc chiến- không bằng những cảnh khốc liệt của chiến trường bom rơi, đạn réo, mà bằng những trăn trở, day dứt trong mỗi con người bước ra từ cuộc chiến Cảm giác, tác giả viết lại câu chuyện về những người bạn thân, bạn bè và có cả hình ảnh chính tác giả của những năm tháng chiến tranh và cuộc sống sau ngày đất nước giải phóng Những trang viết thấm đẫm tình người- một người bước ra từ cuộc chiến, được thể hiện bằng một văn phong đẹp, chua xót, sâu sắc và thật trang nghiêm”.[75]
Vào cuối năm 2012 Lê Minh Khuê cho ra mắt tập “Nhiệt đới gió mùa”- tập
truyện mới của chị đã gây một tiếng vang lớn trong giới các nhà nghiên cứu, phê
bình Mỗi người lại có những cảm nhận khác nhau.“Chưa thấy một tác phẩm nào
viết về chiến tranh lại khốc liệt đến vậy” là cảm nhận của nhà văn Tạ Duy Anh;
“Đọc xong ba bốn ngày mới trở lại bình thường” là trạng thái của PGS.TS Nguyễn
Thị Minh Thái; còn nhà phê bình Bùi Việt Thắng thì “đọc xong thấy rã rời khủng
khiếp” Điều đáng quý là tác giả đã dám viết mới về một đề tài mà tất cả các nhà văn
Trang 9Việt Nam đều mắc nợ: lịch sử và chiến tranh cách mạng.
Tuy khốc liệt, dữ dằn nhưng các nhà văn, nhà phê bình có mặt tại buổi tọa đàm
ra mắt tập truyện đều thừa nhận tính nhân văn của tác phẩm Về điều này, nhà văn Tạ
Duy Anh nói: “Các nhân vật đẩy nhau đến không còn khoảng cách nào để lùi nhưng Lê
Minh Khuê sáng tác ở tâm thế: viết để khép lại nỗi đau, chị vẫn gieo một mầm hi vọng
để nâng đỡ niềm tin của bạn đọc” Tạ Duy Anh còn cho rằng, có thể xếp Lê Minh Khuê
vào một trong những nhà văn viết hài hước vì tác phẩm của bà rất hóm, như giấu một nụ
cười tinh quái “Nó như cái phao cứu sinh để bấu víu vào cuộc đời, nhìn ra những
khoảnh khắc đáng sống, hi vọng vào những giá trị vĩnh cửu”, tác giả “Bước qua lời
nguyền” nói Nhà phê bình Phạm Xuân Nguyên cảm nhận “đọc tác phẩm Lê Minh
Khuê toàn sự bất an nhưng chị đã giữ không để các nhân vật bị hoen ố” Còn PGS.TS
Nguyễn Thị Minh Thái nói “Lê Minh Khuê đã viết bằng con mắt thấu thị và bằng cả
tấm lòng, vì thế cần tri ân tác giả bằng một cách đọc mới” Nhà phê bình Bùi Việt
Thắng, một người tiếp cận tác phẩm Lê Minh Khuê từ rất sớm và đã theo dõi bà mấy
chục năm nay nhận xét về cách viết của Lê Minh Khuê rằng “bỏ qua những sự vẽ vời,
đắp điếm” mà một số nhà văn khác thường làm, Lê Minh Khuê đã đi thẳng vào vấn đề”
Về tác phẩm “Nhiệt đới gió mùa”, nhà phê bình Bùi Việt Thắng cho rằng “Lê Minh
Khuê đã kể về chiến tranh và cuộc đời bằng những giọt nước mắt” [68]
Như vậy, trong hành trình truyện ngắn Lê Minh Khuê đã có nhiều bài viết đề cập đến nội dung biểu hiện của yếu tố “Nhạt” trong sáng tác của chị Song cho đến nay vẫn chưa có một công trình cụ thể nào nghiên cứu truyện ngắn của Lê Minh Khuê trong mối tương quan với những tư tưởng minh triết của Phương Đông Vì vậy trong luận văn này, chúng tôi mong muốn đem đến cho độc giả một cách nhìn nhận mới mẻ về truyện ngắn Lê Minh Khuê trong sự đối sánh với những tư tưởng triết học
và minh triết Phương Đông bàn về cái Nhạt Trên cơ sở những tiền đề đã có từ những công trình nghiên cứu trước đó, chúng tôi mạnh dạn thực hiện đề tài của mình, nỗ lực
bổ khuyết những khoảng trống chưa nghiên cứu về tác giả Lê Minh Khuê và truyện ngắn của chị
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
Để thực hiện đề tài này, chúng tôi đã khảo sát toàn bộ các tập truyện ngắn của nhà văn Lê Minh Khuê trong suốt chặng đường sáng tác, được tập hợp trong những
Trang 10tập truyện cơ bản sau:
- Cao điểm mùa hạ (1978)
- Đoạn kết (1981)
- Một chiều xa thành phố (1986)
- Bi kịch nhỏ (1993)
- Trong làn gió heo may (1999)
- Những dòng sông, buổi chiều, cơn mưa (2002)
- Màu xanh man trá (2005)
- Một mình qua đường (2006)
- Những ngôi sao, trái đất, dòng sông (2008)
- Nhiệt đới gió mùa (2012)
4 Mục đích nghiên cứu và đóng góp của luận văn
Chọn đề tài “Xu hướng “Nhạt hóa” trong truyện ngắn Lê Minh Khuê” ,
chúng tôi muốn góp thêm một hướng nghiên cứu, tiếp xúc tác phẩm văn học trên phương diện triết học, để hiểu thêm về gía trị truyện ngắn Lê Minh Khuê
5 Phương pháp nghiên cứu
5.3 Phương pháp so sánh, đối chiếu
Nhằm đặt sáng tác của nhà văn trong mối quan hệ với các tác phẩm của các tác giả cùng thời để làm nổi bật cách viết văn mang màu sắc nữ tính, nhẹ nhàng của
Lê Minh Khuê
Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG Tìm hiểu “Xu hướng nhạt hóa trong truyện ngắn Lê Minh Khuê” là việc ứng dụng những khía cạnh lý thuyết từ công trình triết học Bàn về cái Nhạt của
Francois Jullien (do Trương Thị An Na chuyển ngữ) vào tìm hiểu hành trình truyện ngắn Lê Minh Khuê Vì thế, trong luận văn này chúng tôi dành chương đầu để giới
thiệu về nhà triết học Francois Jullien và những nét cơ bản trong chuyên luận Bàn về
Trang 111.1 Vài nét về Francois Jullien
Francois Jullien (sinh năm 1951) là một trong những triết gia lớn người Pháp đương đại, là tác giả của hơn 20 công trình so sánh triết học Âu Châu được dịch ra nhiều thứ tiếng, là viện trưởng viện Marcel Granet (một học viện về Trung Quốc) và viện Tư tưởng đương đại (Instittut de la pensee con temporaine) Ông còn là giáo sư của Đại học Tổng hợp ParisVII, là người chuyên nghiên cứu về triết học khái quát (tư tưởng Trung Quốc cổ đại và tân Khổng giáo, những quan niệm văn học và mĩ học của Trung Quốc cổ điển
Francois Jullien là “một ngôi sao mới mọc trên bầu trời triết học Pháp” đã đem lại cho nền triết học phương Tây những “cơn gió lạ” làm thay đổi cả trường suy nghĩ
vốn có về phương Đông trong quan niệm của các triết gia phương Tây từ xưa tới nay
Qua những công trình nghiên F.Jullien người ta thấy được “Một tầm cỡ nghiên cứu
rộng lớn, một sự kiên trì chắt lọc những dữ kiện nhân chủng học, triết học, ngôn ngữ học và những công trình ấy có con đường đi khá sáng tạo”.(GS Lê Hữu Khóa)[14]
Đến Việt Nam khá muộn nhưng những công trình học thuật của ông được các dịch giả như Hoàng Ngọc Hiến, Trương Thị An Na, Nguyên Ngọc… dịch sang tiếng Việt và phổ biến trong đời sống học thuật người Việt đã sớm chinh phục được sự yêu mến của độc giả Việt Nam Hàng loạt những tác phẩm mang tính triết luận cao như:
“Bàn về chữ thời” ; “Bàn về triết sống” ; “Bàn về chữ thế” ; “Bàn về cái ác hay cái tiêu cực”; “Bàn về sự trần trụi” ; “Bàn về tính hiệu quả”; “Bàn về xác lập cơ
sở đạo đức”… đã mang đến cho độc giả Việt những cái nhìn mới mẻ về cuộc sống
cũng như trong nghệ thuật
Hiện tượng Francois Jullien giống như “mảnh thiên thạch rơi xuống vùng hồ
triết học Âu Tây” ( GS Hoàng Ngọc Hiến) [14] đã làm khuấy động “mặt hồ” tri thức
vốn tĩnh lặng của triết học Phương Tây luôn tự hào xem mình là ông tổ của mọi ngành khoa học Đối với Việt Nam thì sự có mặt của một triết gia tầm cỡ như
Francois Jullien “sẽ rất cần cho sự phát triển của ngành Việt học sắp tới”[14] (GS
Lê Hữu Khóa)
Là hiện tượng khoa học mới mang tính ưu việt, lại gần gũi với tư duy quan niệm của độc giả Việt, những chuyên luận của F Jullien đã giúp ích cho việc nghiên
Trang 12cứu phương Đông về tất cả các phương diện trong đó thì văn học nghệ thuật lại là lĩnh vực được tác giả phân tích và xem xét một cách cụ thể nhất.
1.2 Cuốn “Bàn về cái nhạt”
Tiểu luận “Eloge de la fadeur” (Bàn về cái nhạt) là một công trình nghiên
cứu F Jullien viết vào năm 1991 được dịch giả Trương Thị An Na dịch với nhan đề
“Bàn về cái nhạt” do NXB Đà Nẵng xuất bản vào năm 2003, được tái bản năm
2013 do NXB Lao Động phát hành “Bàn về cái nhạt” là một chuyên luận khiêm
tốn về dung lượng nhưng lại chứa đựng những tư tưởng cách tân mới mẻ về học thuật, phá vỡ những sai lầm, thiên lệch trước đây về phương Đông mà phương Tây
đã áp đặt đó là: quan niệm về cái Nhạt
Trong cuốn sách này, tác giả đã dựa vào tư tưởng và mĩ học Trung Hoa làm cơ
sở lí luận để xem xét mọi biểu hiện của “cái Nhạt” trong cuộc sống Sách gồm 3 phần trừ phần mở đầu (bao gồm lời giới thiệu, lời người dịch và bài nhận xét của GS Lê Hữu Khóa) và phần mục lục thì phần nội dung của cuốn sách gồm 15 mục nhỏ tương ứng với
sự tìm hiểu về khái niệm, đặc điểm và biểu hiện của cái nhạt trong đời sống cũng như tất
cả các loại hình nghệ thuật từ hội họa, âm thanh, thơ văn… Bằng những lý luận sắc bén
và tư duy triết học, F Jullien đã cho chúng ta thấy “cái Nhạt” không phải là một phẩm
chất mang dấu “trừ” (-) mà lại là một phẩm chất mang dấu “dương” (+) tuyệt đối “Cái
Nhạt của sự vật tạo nên sự dửng dưng trong lòng Nhưng nó lại là một phẩm chất đặc biệt quan trọng trong quan hệ của ta với người khác, bởi lẽ nó bảo đảm cho tính chân thực, nó cũng phải làm nền tảng cho nhân cách chúng ta”.[14, tr.14]
Lấy mĩ học Đông Á cổ làm cơ sở cho những nghiên cứu của mình, tác giả đã phân tích nội dung của cái Nhạt theo quan điểm của người Trung Quốc Theo đó thì các khái niệm “Vô vị”; cái “Đạm”; cái “Nhạt” được hiểu như là những từ cùng nghĩa (“Đạm” là từ Hán Việt dịch ra có nghĩa là “Nhạt”) Trong sách Lão Tử thì “Nhạt” và
“Vô vị” được sử dụng là hai tính từ hầu như đồng nhất “Đạo chi xuất khẩu, đạm hồ kì
vô vị” (Đạo mà nói ra thì nhạt thay vô vị) Trong quan hệ giữa “Vô vị” và “Vị”, tác giả
“Bàn về cái Nhạt” còn nêu lên một vấn đề đáng bàn: phía bên kia của vị Theo đó
“phía bên kia của vị được nối dài và gạn lọc hết mọi dư chấn cảm giác gói gọn trong cái đó để lan tỏa ra ngoài” [14, tr.115] Vượt sang phía bên kia của vị là vượt qua giới
Trang 13hạn tột cùng của cảm giác thô và cũng là sự tiêu tan của cảm giác thô này, là sự đạt cõi nhạt, cõi phi phân hóa của “Vô vị” Ở đây có sự nhảy vọt hay sự vượt siêu cũng được
Đó là một nét quan trọng của tư duy minh triết Đông Á được F.Jullien nhấn mạnh – cõi nhạt không hoàn toàn khác, không thuộc một quy ước khác so với cõi của vị hoặc
của nhiều vị cá biệt, cõi này là sự tiếp nối của cõi kia, nó là cõi kia được “gạn hết sự
mờ đục và do đó mới thực sự đáng thưởng ngoạn” [14, tr.19].
Nếu mĩ học và triết học phương Tây hoàn toàn ngoảnh lưng với ý niệm về
“cái Nhạt”, nó chỉ được nhắc tới trong lời nói hằng ngày với một phẩm chất xấu, mang dấu trừ(-) Trong cuốn sách này F.Jullien đã khiến người đọc nhận thấy cái Nhạt là một ý niệm mĩ học cơ bản, vị lý tưởng, thậm chí là một lý tưởng mĩ học, một phẩm giá mang dấu cộng(+) tuyệt vời Ý niệm mỹ học về cái Nhạt được tung ra giống như một thiên thạch rơi xuống vùng hồ mĩ học phương Tây Đối với công chúng yêu văn học nghệ thuật Việt Nam thì đây cũng là một ý niệm, một vấn đề đáng quan tâm
Trong văn hóa Trung Quốc, mô típ về cái Nhạt được các trường phái liên tục nuôi dưỡng (Nho, Lão, Phật), nó làm ta nghĩ đến lý tưởng chung cho những ngành nghệ thuật khác nhau như âm nhạc, hội họa và thơ “Cái Nhạt” không chỉ là một ý niệm mĩ học, nó còn được vận dụng trong nhiều lĩnh vực khác Người ta nói đến “cái Nhạt” trong tình cảm, cái “Nhạt” trong quan hệ xã hội, lý tưởng cuộc sống “Nhạt”; ý thức hệ của cái “Nhạt” Trong nền văn hóa Trung Hoa thì “cái Nhạt” được xem như
“một phẩm chất trung tâm, thuộc cơ bản” [14, tr.17].
Vậy “cái Nhạt” là gì? Đây là một ý niệm khó có thể định nghĩa một cách rõ
ràng, “nó chối bỏ mọi sự đặc trưng hóa Tác giả bình vài bức tranh, vài bài thơ và
hy vọng độc giả cảm nhận được thế nào là cái Nhạt, thế nào là một âm Nhạt, một ý nghĩ Nhạt, một bức tranh Nhạt” [14, tr.8] Như vậy trong tác phẩm của mình F
Jullien cũng không đưa ra một định nghĩa cụ thể nào về “cái Nhạt” mà chỉ đưa ra lời khuyên với mọi người khi xem xét những biểu hiện của “cái Nhạt” cần phải xem xét
một cách tổng thể “Như người Trung Hoa thường nói, cái Nhạt là cả một thế giới mà
ta cần xâm nhập Mùa của cái Nhạt là mùa thu muộn khi những cánh hoa cúc rơi lả
tả, trong những hạt tuyết trắng Lúc đó những màu sắc cuối cùng của năm tháng tàn
Trang 14phai và sự tàn phai tự nó tiến hành như một cuộc rút lui Con người biết suy nghĩ tự nhận thức được tính logic của sự quy hồi đó để ngăn không cho mình gắn cho sự vật những ý nghĩa quàng xiên hoặc những cảm xúc vô ích… Bình luận về “cái Nhạt” đúng nhất theo cung cách no comment (xin miễn bình luận) [14, tr.100].
Cũng theo tác giả thì “đối với một nhà phê bình theo truyền thống Trung Hoa,
chỉ cần chỉ ra cái Nhạt là đủ Bởi cái Nhạt chứa đựng cái vị đậm đà nhất, cái gì ta không để ý sẽ trở thành lôi cuốn hấp dẫn, khó quên nhất” [14, tr.127]
Cái Nhạt Trung Hoa có tính đa dạng vô tận dẫn đến sự hài hòa, và hài hòa chính là ý niệm cơ bản của văn hóa Trung Hoa
Như đã nói ở trên, trong tiểu luận này, F Jullien đã phân tích sự biểu hiện của cái Nhạt trên tất cả các phương diện từ đời sống, tính cách đến các loại hình nghệ thuật
1.2.1 Cái Nhạt trong quan hệ xã hội.
Trong quan hệ xã hội, cái Nhạt được xem như là phương chuẩn để đánh giá cách cư xử của người quân tử Cái Nhạt thể hiện trong sự chân thực có tín nghĩa với
kẻ khác Người quân tử không tìm cách lừa gạt ai, chỉ nói những điều mình làm được, những lễ phép thường ngày
Trong cuốn “Bàn về cái nhạt” F Jullien đã phân tích một cách cụ thể và đầy đủ
các khía cạnh biểu hiện của cái Nhạt – cái vô vị trong đời sống văn hóa, tinh thần của người phương Đông Theo đó, cái Nhạt trong cuộc sống chính là sự vô vi trước mọi vật (gần giống quan niệm của Lão giáo), không bị giàu sang, quyền quý cám dỗ, bỏ qua sân
si để hướng về cái giản đơn, trần trụi, sống dửng dưng hơn Ở đây cần phải hiểu cuộc sống Nhạt không có nghĩa là tự giam hãm mình trong sự cô đơn, khổ hạnh, cắt đứt mọi liên hệ với thế giới bên ngoài Sống Nhạt nghĩa là biết sống vô vi, thuận theo tự nhiên, rời bỏ gánh nặng vật chất nhưng không từ bỏ sự hiện diện của vật chất
Cái Nhạt và cái phẳng lặng cũng là nét chủ đạo trong tính cách con người Đó
là sự cân bằng hài hòa, phẳng lặng trong tính cách con người trước mọi biến cố của
cuộc đời Xem xét cái Nhạt như là một căn cứ để đánh giá con người: “Khi quan sát
một người và khi ta suy xét tính cách một người, ta phải thoạt tiên xét khả năng tỏ ra bình lặng hay nhạt rồi sau đó mới xét đến trí thông minh của anh ta [14, tr.52] Cái
Nhạt cũng là nhân tố quan trọng trong tất cả các loại hình nghệ thuật của người
Trang 15Trung Hoa.
1.2.2 Cái nhạt trong nghệ thuật
1.2.2.1 Cái Nhạt trong âm nhạc và hội họa
Trong tiểu luận của mình, tác giả F Jullien cũng bàn dành hai chương để bàn về
vị trí của cái Nhạt trong các loại hình nghệ thuật như âm nhạc và hội họa Vận dụng lý thuyết về cái Nhạt ,F Jullien đã chỉ cho người đọc thấy được phía bên kia của những âm thanh Nhạt; của những bức tranh với những gam màu nhợt, nét vẽ đơn sơ nhưng lại ẩn chứa những dụng ý nghệ thuật sắc sảo, tinh tế
Trước hết là cái nhạt trong âm nhạc được F Jullien khái quát:“Một âm thanh
“Nhạt” sẽ là một âm thanh được làm nhỏ lại, lặng dần nhưng còn lâu mới tắt hẳn Người ta nghe nó mãi nhưng gần như không nghe thấy gì: cứ dần dần khó nắm bắt được, nó sẽ làm ta cảm nhận được cái phía câm lặng bên kia, phía mà nó sẽ tiêu tan… Chính ở chỗ âm thanh tắt tức là nó trở về với cội nguồn vĩ đại tổng thể, nó sẽ làm ta nghe được gì Khi tiêu tan, âm thanh làm ta dần dần từ chỗ nghe được đến chỗ không nghe được, làm ta cảm nhận bước quá độ liên tục từ lĩnh vực này đến lĩnh vực kia Âm thanh đó được giải phóng dần dần khỏi vỏ vật chất của nó dẫn ta đến ngưỡng cửa của sự yên lặng, được cảm nhận như một sự tuyệt hảo tại cội nguồn của
sự hài hòa.” [14, tr.59]
Cái Nhạt của âm nhạc chính là cái “di âm” Đó như “một giai điệu không nghe
thấy được có bản tính siêu nhiên, nằm bên trên thứ nhạc mà ta nghe được theo hiện tượng vật lý” [14, tr.60] “Di âm” của âm nhạc được cảm nhận nằm ở chiều sâu của âm
thanh, khi bản nhạc đã tắt người ta vẫn nhận thấy âm thanh còn sót lại, cái âm của phía bên kia bản nhạc mà họ cảm nhận được Về phương diện vật lý thuần túy âm nhạc, chính sự giảm bớt âm lượng, mở rộng các nhịp góp phần tạo nên “cái Nhạt”
Để cảm nhận được cái Nhạt trong âm nhạc đòi hỏi một tinh thần Nhạt:
“ Tinh thần thanh thản- những âm thanh nhạt:
Không còn quá khứ và cả hiện tại nữa” [14, tr.76]
Cái Nhạt của âm thanh và sự dửng dưng của lương tri có một mối quan hệ biện chứng Di âm của âm thanh sẽ làm cho tâm hồn con người thoát ra khỏi sự náo loạn của thế gian, sự gắn bó với thế giới bên ngoài, còn thoát ra khỏi sự kìm kẹp của
Trang 16bản thân âm nhạc vì âm nhạc kéo theo xúc cảm và sự căng thẳng Cái Nhạt tạo ra khoảng cách, hạn chế khả năng cảm xúc, thanh lọc ấn tượng cho con người Cái Nhạt của âm thanh dùng làm ngưỡng cửa cho sự đi sâu vào lòng, giúp phát hiện ý nghĩa sâu xa đằng sau mỗi nốt nhạc.
Trong hội họa cái Nhạt được biểu hiện là sự dửng dưng bên trong của họa sĩ đối với mọi mô típ riêng biệt, dửng dưng với mọi nguyên cớ Những phong cảnh đơn điệu giản lược nhưng chứa trong nó mọi phong cảnh khác hòa lẫn vào nhau, hấp thụ vào nhau
Bởi chịu ảnh hưởng lớn từ Đạo giáo nên các họa sĩ cổ điển Trung Hoa rất chú trọng đến những khoảng trống vô hình trong tranh Chúng có ý nghĩa rất đặc biệt, mang ý nghĩa như kiểu yếu tố "vô" của vũ trụ, là nơi ẩn chứa một "đại tượng" mà mắt thường không thể thấy Nhìn những bức tranh phong cảnh của các họa sĩ Trung Hoa chúng ta thường bắt gặp những chỗ mây mù lẩn khuất bằng cách để trắng giấy hay những chỗ núi được kết thúc bằng một khoảng trống mơ màng phía sau Điều đó khác hẳn với những bức tranh phong cảnh của châu Âu vốn tuân theo luật phối cảnh rất chặt chẽ và dù cảnh ở gần hay xa thì chúng đều được vẽ bởi một màu nào đó (dẫu
là màu rất nhạt ở phía xa), chứ không thể có khoảng trống
Quách Hy, một bậc thầy vẽ phong cảnh thời Bắc Tống, nói: "Muốn vẽ núi cao
thì nên vẽ có mây phủ ở lưng chừng Núi mà vẽ rõ ra cả thì trông sẽ không cao Muốn vẽ sông dài thì nên vẽ nó lúc ẩn lúc hiện Sông mà vẽ rõ ra cả thì sẽ không dài Núi mà vẽ lộ hoàn toàn thì mất cái sắc khí tiêu biểu của núi mà chỉ giống như cái đầu chày mà thôi Sông mà nhìn thấy đầy đủ từ đầu đến cuối thì không thể vẽ nó uốn lượn nhiều, và sẽ giống như một con giun vậy" [14].Tức là, phong cảnh mà hiện lên
trọn vẹn thì không có chiều sâu, hình mà không bị ẩn thì trông sẽ thô lậu Mây phủ (tức khoảng trống) ở lưng chừng núi tuy làm cho hình của núi ít đi nhưng làm cho núi cao hơn Cái khoảng trống đó, hẳn nó chứa đựng một lực lượng tiềm ẩn, một sức mạnh vô hình làm cho cái giới hạn chật hẹp của khung tranh bị phá vỡ, để cho ngọn
núi trở thành "đại tượng" Ví dụ, trong bức tranh Buổi sớm mùa xuân của Quách Hy
chúng ta có thể thấy rõ những kinh nghiệm mà ông nói ở trên Khoảng trống ước lệ mây mù ở lưng chừng và phía sau ngọn núi làm cho cảnh trí hư hư thực thực, tiêu
Trang 17dao bay bổng như đang ở trốn bồng lai Lớp cảnh ở gần được thể hiện rõ ràng các yếu tố đất đá cây nước nên có cảm giác vững chãi, nhưng nhờ mây mù ở giữa bức tranh mà làm cho lớp cảnh phía xa như bay hẳn lên, chạm tới trời cao.
Những bức tranh với những đường nét nhợt nhạt, những gam màu trầm tối, những khoảng trống vô hình đã tạo nên chất “đạm” cho bức họa Đó không phải là
sự sáng tạo nghệ thuật đơn thuần mà còn là biểu hiện của trí tuệ, nhân cách và tâm hồn của người nghệ sĩ
1.2.2.2 Cái Nhạt trong văn học
Trong chuyên luận của mình, F.Jullien đã dành một mục để phân tích yếu tố
“Nhạt” ảnh hưởng như thế nào đến nội dung và nghệ thuật của các sáng tác văn chương Đó là những phát hiện mới mẻ và ý nghĩa giúp chúng tôi định hướng cho đề tài nghiên cứu của mình
Dựa theo mỹ học của người Trung Hoa – cái Nhạt trong văn chương mà theo
F.Jullien chính là chiều sâu liên hệ và hàm ẩn, sẽ “mở rộng thế giới hiện hữu, được
gạn hết mọi thứ tù mù, một thế giới trở lại thuần ảo, luôn sẵn sàng cho người ta thưởng ngoạn” [14, tr.19] Điều này phù hợp nhất đối với lĩnh vực thi ca - là thể loại
mà nhà thơ cố gắng dùng cái hữu hạn và tiết kiệm ngôn ngữ đến tối đa để thể hiện
“cái tính cách chung của sự vật và từ đó làm bộc lộ bản chất sâu xa của chúng” [14,tr.50] mà F.Jullien cho rằng, Barthes - dù “không có thú vui tìm kiếm tín hiệu
mới” vẫn liều dùng tạm nhóm từ là trường của cái Nhạt” [14, tr.8].
Thơ ca bất kì dân tộc nào, đặc biệt là thi ca Trung Quốc và Phương Đông đều trọng cái súc tích, hàm ẩn, lời ít ý nhiều, dùng cái khả giải để nói cái bất khả giải, là
“ý tại ngôn ngoại”, là dư âm, dư vang của câu chữ, là khoảng trống giữa các từ
Do vậy, cái Nhạt theo mỹ học Trung Hoa được F.Jullien nhận xét rất xác đáng: “ta
nói càng ít (cố giữ đừng nói nhiều) thì ta càng diễn dạt cái Nhạt tốt hơn Lời nói mà
lu mờ thì có khả năng gợi cảm” [14, tr.83] Chính điều này đã làm cho thơ Đường
Trung Hoa và Việt Nam giàu sức biểu hiện, biểu cảm và sức bật thâm thúy ở chiều sâu, ở dư âm, dư vị; có khi được cảm nhận như những điều vô nghĩa, nhưng là vô nghĩa hợp lý Một bài thơ, theo GS.Phan Ngọc - là một sự đánh đố chính vì lẽ ấy:
Một bài văn sâu sắc, đó là bài văn vừa nở rộ, vừa ẩn giấu.Có dư vị bao quanh bài
Trang 18đó về mọi phía (Yin xiu) [14, tr.80].
Nhờ có dư vị, dư vang này mà nghĩa của văn bản càng được lan tỏa, hấp dẫn kích thích sự đào sâu suy nghĩ, cảm nhận, tìm cách giải mã, lấp đầy chỗ “bất khả giải” tức thời của thi ca Và nó kéo dài ra đến vô hạn, tùy theo sự nội cảm, trạng thái nhận thức và trình độ của chủ thể tiếp nhận Như vậy, thơ còn có đặc điểm quan
trọng là “kích thích khả năng cảm nhận hơn là tìm ý nghĩa” [14,tr.94] Dĩ nhiên, ở
đây phải là bài thơ hay, có cấu trúc đặc biệt, độc đáo thông qua nghệ thuật sử dụng ngôn từ - với tư cách là tín hiệu hình thức Tín hiệu này chính là ở cách tổ chức ngôn
từ “một cách quái đản”, tạo ra sự lạ hóa, bất ngờ, sự “vô nghĩa hợp lý” (Chế Lan
Viên), tạo thành một chỉnh thể nghệ thuật F.Jullien rất am tường khi nhận ra điều
này và gọi đó là cái Nhạt của thi ca: “Cái Nhạt chỉ hiện ra để người ta cảm nhận
được khi nó hướng người ta đến cái hài hòa đã qua, cái đã được định đoạt trong im lặng”, “cái Nhạt thoát khỏi mọi sự tìm kiếm tỉ mỉ và người ta không thể “bắt tay” nó
để ngăn nó lại” [14, tr.97] Muốn vậy, cái Nhạt trong thơ phải được hình thành trong
quá trình sáng tạo một cách kì diệu, có khi là cái vô thức, tiềm thức, cái siêu hình, siêu ngã hiện ra trong trực giác lóe sáng, trong giấc mơ, trong cõi tâm linh mách gọi của nhà thơ (tôi muốn nói đến những nhà thơ tài năng, có vốn sống, vốn văn hóa và nghệ thuật cao diệu)
Đến đây, F.Jullien còn yêu cầu rằng cái Nhạt lại phải được dẫn dắt và giữ ở vị
trí đường biên của cái đẹp khả giải của nghệ thuật, tức phải hài hòa để “nó đặc trưng
cho một thế cân bằng, một vận động trung gian, một giai đoạn chuyển tiếp luôn luôn
bị đe dọa phá vỡ” [14, tr.99] Chỉ khi nào cái Nhạt đạt được sự hài hòa (không biểu
hiện quá rõ ràng và không quá mờ đục) thì khi ấy cái Nhạt mới được xem là tín hiệu Nếu không, thơ sẽ rơi vào hoặc dễ dãi, thiếu sáng tạo hoặc rơi vào tắc lị, phi thơ
Cái gì mà đậm thì sẽ phai đi và trở thành khô héo Ngược lại cái gì nhạt sẽ thấm đậm lên từ từ (Qili) [14].
Cái Nhạt trở thành một quy tắc mỹ học Người nghệ sĩ chưa “nếm cái vô vị” thì đừng có nói đến sáng tác và thưởng thức nghệ thuật Điều này ở nước ta , lâu nay
đã được nhiều nhà nghiên cứu thơ ca cảm nhận và lưu tâm, nhưng không đúc kết, không gọi tên là cái Nhạt trong văn chương như người Trung Hoa Qua F.Jullien, có
Trang 19thể giúp cho giới nghiên cứu Việt Nam suy ngẫm và tìm thấy cái lý và nội hàm mỹ học của khái niệm cái Nhạt một cách sáng tỏ, từ đó, tham chiếu vào nội hàm một số khái niệm tương quan mà mình đã sử dụng từ trước đến nay như: tính đa nghĩa, tính hàm súc, sự chuyển nghĩa, tạo sinh nghĩa trong ngôn ngữ thơ Việt Nam.
Điều cần lưu ý ở đây, cái Nhạt được hình thành và luôn luôn phát triển, dù không phải dễ, dù còn mơ hồ về mặt ý thức hệ, nhưng càng về sau, cái Nhạt cũng được quan niệm và thể hiện trong thơ một cách mới mẻ hơn, nghệ thuật hơn, làm cho người đọc và cả người sáng tạo nâng cao nhận thức và thị hiếu thẩm mỹ của mình
Để làm một bài thơ, ngày xưa cũng như bây giờ Chỉ có việc tạo ra cái phẳng lặng, cái tẻ nhạt là khó mà thôi (Mei Yaochen) [14].
Về vấn đề này, cho dù, mỗi nhà thơ tự “vượt qua chính mình” để có quan
niệm khác nhau về cái Nhạt trong thơ, thì cũng chỉ quy về hai khả năng: “hoặc sự
vượt qua chính mình phải được đặt vào khuôn khổ sự tiến lên, kéo dài theo thời gian, nhằm làm thất vọng mọi sở thích dễ dãi; hoặc nó có mối tương quan với sự trống rỗng của các hiện tượng để nói lên sự tự do hoàn toàn của lương tri và tính sẵn sàng hoạt động của nó” [14, tr.111] Vậy sự cảm nhận của cá nhân từng người là rất quan
trọng trong tiếp nhận thi ca Cái vị Nhạt sẽ lưu lại trong họ bền vững như những giá
trị riêng, không phải ai cũng có được như nhau Cho nên, “bình luận về cái nhạt
đúng nhất là theo cung cách no comment” [14, tr.100] Nhà thơ hiện đại Việt Nam
Chế Lan Viên cũng đã nói “Nhà thơ lớn ư? là để nhân loại yêu mình bằng mọi
cách”, để họ “Phát giác sự việc ở bề chưa thấy - Ở cái bề sâu, ở cái bề sau, ở cái bề xa” Ở một chỗ khác, Chế Lan Viên cũng có ý kiến rất tương ứng với cái Nhạt mà
người Trung Hoa quan niệm: “Cái kết tinh của một vần thơ là muối bể - Muối lắng ở
ô nề và thơ đọng ở bề sâu” để nhằm tiếp tục “Khai quật các tầng sâu - Ăn vào mùi hương trầm tích”, tức ông muốn nói: “Nghệ sỹ lớn là người nào biết gián cách họ với ta bằng tác phẩm - Đem tất cả cái Bên Trong tạo hình thức Bên Ngoài”.
Chính điều này, cái Nhạt mở ra khả năng vô hạn trong việc tìm hiểu ở bề sau,
bề sâu, bề xa của từ ngữ trong mỗi cá nhân người đọc mà Tô Đông Pha gọi là “cái vị
bên kia cái vị”, bởi vì “Cái Nhạt trong thơ sở dĩ có được là do nghĩa của thơ không xuất hiện (theo cách này hay cách khác), nó thể hiện qua hiện tượng và tình huống
Trang 20mà không bao giờ áp đặt cho ta” [14, tr.119] Do vậy, người đọc, nhiều khi cảm
nhận được, nội cảm được tinh thần nhưng không thể miêu tả nó bằng hình ảnh cụ thể, chính xác Phải chăng, thơ có tính để ngỏ, tiết kiệm mà theo R Jakobson - nhà
ngôn ngữ học nổi tiếng thuộc trường phái hình thức Nga gọi đó là thao tác lựa chọn,
chỉ có thơ ca mới cho phép tư duy và tổ chức tín hiệu ngôn ngữ như thế mà thôi
Trong khi đó, văn xuôi tự sự thì ngược lại, phải tuân thủ thao tác kết hợp, làm việc
theo trục kết hợp
Chúng tôi có thể minh chứng những điều trên bằng bài thơ của Trần Nhân
Tông có nhan đề là Thiên Trường vãn vọng, người viết bài này chỉ muốn nêu một ý,
đó là sở dĩ bài thơ đạt được đến vẻ đẹp lôi cuốn đến vậy chính là ở nét bút “Đạm” của Nhân Tông Bài thơ đúng ra không có màu xanh của đồng lúa, không có màu nắng rực rỡ, cũng không có màu lam của khói chiều, mà tất cả mọi màu sắc đều ở gam màu Nhạt – “Đạm”, có chăng chỉ có cánh cò trắng là hiển lộ, nhưng vì nó là màu trắng nên cũng là gam màu “Đạm” Bài thơ như một bức tranh mà nói như Gs
Nguyễn Khắc Phi “dựng lên được một không gian nghệ thuật mang tính lập thể”,
có xa – thôn làng trong đường viền mờ như khói (trước thôn – sau thôn) dưới ánh chiều tà – và gần – cánh đồng, đàn trẻ trâu đang giong trâu về thong thả trong tiếng sáo; có cao là từng không với những cánh cò trắng bay và thấp là cánh đồng từng đôi
cò đang hạ cánh
Tứ thiền, cảm quan thiền ở đây là quan niệm về “có – không”; cái “có – không” cảm nhận được từ thị giác, nhưng “có – không” cũng có được cảm nhận qua ánh nắng chiều, cái khoảng thời gian đang ở biên độ mong manh giữa sáng và tối Nhưng Thiên Trường là quê hương Trần Nhân Tông, ở đấy có hành cung Thiên Trường mang tên cung Trùng Hoa và một số cung điện khác Cho nên “Cảnh chiều ở Thiên Trường” là một cảnh quan có thật”, đến cả cái vẻ thiền nhất là màu đạm nhòa khói sương của thôn làng cũng rất thật Bởi lẽ thời điểm bấy giờ đã là chiều tà Khói chiều, tôi nghĩ đây chính là khói chứ không phải là sương, bay lên từ những mái tranh lan tỏa khiến nó trở nên một mảng nhạt mờ viền quanh thôn xóm cũng là cảnh thật; thế rồi trẻ trâu, tiếng sáo, cánh cò và cả nắng chiều mơ hồ cũng đều là cảnh có thật, rất thật Một làng quê
có khói chiều, có trẻ em chăn trâu, buổi chiều giong trâu về trong tiếng sáo, có cánh
Trang 21cò, những đôi cò trắng sóng đôi đậu xuống cánh đồng tìm ăn là hình tượng gợi lên sự
no ấm thanh bình, là khoảnh khắc và cũng là vĩnh cửu Bởi lẽ hình ảnh khói lam chiều, tiếng sáo trẻ trâu, cánh cò vẫn còn là những hình tượng đẹp trong thơ mới, trong tiểu thuyết Tự lực văn đoàn đầu thế kỷ XX Và tiếng sáo trẻ trâu buổi hoàng hôn cũng từng gợi trong Chủ Tịch Hồ Chí Minh một tứ thơ vui trong những ngày tù đầy gian khổ trên
đất Trung Hoa: Mục đồng xuy địch dẫn ngưu quy (Trẻ chăn trâu thổi sáo dắt trâu
về– Hoàng hôn, Nhật ký trong tù) Cảnh chiều ở Thiên Trường quả đúng là một
cảnh đồng quê thanh bình, an lạc lý tưởng không riêng chỉ của một thời xa xưa Nhưng mặt khác trong con mắt thơ và Thiền của Trần Nhân Tông cảnh thực đã được thăng hoa, mang ý nghĩa của quan niệm thiền “ở đời vui đạo” Và cũng bởi lẽ Thiên Trường, Lạng Châu đều là những nơi đã từng bị gót giầy xâm lược của quân Nguyên tràn qua, tàn phá; đứng vững và trở lại được cảnh thanh bình hiện hữu mà tác giả đã được thấy quả là “nhờ phúc tổ tông”, cho nên niềm vui được nhân lên, sự trân trọng cái hạnh phúc hiện hữu được nhân lên, nhưng không hẳn trong niềm vui, hạnh phúc không còn thấp thoáng những dấu vết khổ đau, âu lo, đem lại những cảm xúc, suy tư trái chiều…
Đúng như ý kiến của Gs, Nguyễn Khắc Phi: “Thiên Trường vãn vọng là một tuyệt tác,
một trong những bài thơ tứ tuyệt Đường luật cô đọng nhất, một trong những bài thơ trữ tình hay nhất của văn học trung đại Việt Nam”.
Bài thơ kiệm lời đến tối đa mà nghĩa thì tiềm ẩn, hàm súc, mở ra nhiều kiểu tiếp nhận, nhiều khoảng lặng bên sau con chữ, chứ không phải hiểu theo nghĩa trực tiếp trên bề mặt câu chữ Đó phải chăng là tín hiệu của “cái Nhạt” trong quan niệm của người Trung Hoa mà F Jullien đã tinh tế nhận ra
Vậy ta có thể hiểu rằng cái Nhạt, hiểu theo nghĩa ngôn ngữ học và ngôn ngữ thơ hiện đại, chính là cái không lời, cái dồn nén, cái không tỏ lộ, cái không nói hết, cái bỏ ngỏ của thơ Tiết kiệm ngôn từ tối đa đến chừng nào đủ chấp nhận được, khi ấy, nghĩa hàm ngôn, nghĩa khái niệm sẽ hiện lên một cách thâm thúy và đa dạng, tùy vốn văn hoá nghệ thuật, tùy trạng thái, thị hiếu của người tiếp nhận
F.Jullien đã nói: “Thơ tôn vinh tầm cỡ ý nghĩa, còn tầm cỡ ý nghĩa tôn vinh cái
gì xa chứ không gần, tôn vinh cái nhạt chứ không phải cái đậm (cái nổi): cái gì đậm
và gần thì dễ nhận ra trong khi cái gì nhạt và xa thì khó mà ý thức được”[14, tr.117]
Trang 22Trong bài thơ của Trần Nhân Tông, ý nghĩa bài thơ mà tác giả muốn truyền tải là cái không có trên câu chữ mà nằm ở ngoài lời, ở sự liên hệ nội tại bên sâu, bên xa của văn bản, tức là hiểu ở cái “Nhạt và Xa” Vậy, sự phong phú về tín hiệu của cái Nhạt, ở
đây, chính là sự phong phú về tín hiệu nghĩa giữa khoảng lặng của ngôn từ “nằm ở
chỗ nó có khả năng biến cái Nhạt thành ý thức và làm cho ý thức ngày càng sâu sắc: thay vì làm thoả mãn ngay lập tức thị hiếu hời hợt nhất của ta, hội hoạ nhạt chủ trương nhập nội không ngừng Cứ như vậy, ý thức và hội hoạ tiến hoá bên nhau”
[14,tr.148] Có thể theo hệ quy chiếu này để hiểu cái nhạt hay là sự hàm súc của ngôn
từ trong thi ca F Jullien cũng đã dẫn đến vấn đề liên quan đến năng lực đọc cái Nhạt (trong thơ) của minh triết phương Đông nói chung, qua lý thuyết về hai cấp của ý thức
do nhà Đông phương học người Nhật bản Toshiko Izutsu quan niệm Đó là, “ý thức
cấp một là ý thức thông thường thao tác bằng những cảm giác, tri giác, bằng tư duy duy lý, chủ yếu nhận thức sự vật trong thời gian (temporel) và ở bình diện hiện tượng luận Ý thức cấp hai là chiều sâu của ý thức, nó có năng lực đọc được sự vật trong
“sự thống nhất nguyên thuỷ ở trạng thái tuyệt đối chưa phân hoá của chúng” và “ở phía sau, phía bên kia những sự vật đã đa dạng hoá thành những hiện tượng”, nó đọc được “cơ sở văn bản phi hiện tượng, siêu hình và chưa đa dạng hóa của chúng” [18,
tr 49]
Đến đây, cần thiết phải nhắc lại phương thức làm việc của thơ ca một lần nữa
để thấy tính đặc thù của thể loại Nếu văn xuôi tự sự làm việc theo trục kết hợp để tạo ra tính logíc tuyến tính của văn bản, thì thơ ca lại ưu tiên làm việc theo trục lựa chọn (trục chất lượng), nó ưu tiên lặp lại một từ ngữ nào đó trong “hệ hình” và
“trường nghĩa” hoặc nó được tổ chức ngôn ngữ “một cách quái đản” một cách tiết kiệm tối đa đã làm cho khả năng giải mã tác phẩm trở nên vất vả nhưng không kém kỳ thú, hấp dẫn Điều này gắn với mỹ học về cái Nhạt của Trung Hoa mà F.Jullien đã dày công bình giải Bởi cái Nhạt phải được hiểu theo quan niệm bề sâu,
bề xa, ở dư vị, dư vang Muốn vậy, người đọc phải liên tưởng, vận dụng năng lực thẩm mỹ và vốn văn hoá – nghệ thuật riêng của mình để suy xét, tìm hiểu cái giá trị
ẩn chìm bên sau của ngôn từ mới có thể hiểu nội hàm thơ ca một cách tối ưu Khi ấy, người thưởng thức còn có vai trò thứ hai - vai trò người đồng sáng tạo Cái Nhạt của
Trang 23tác phẩm từ người sáng tạo đã được tỏ lộ một cách đa dạng và hấp dẫn qua tài năng
của người thưởng thức mà theo F Jullien, đó là trò khổ hạnh “phải ra sức “nhai”,
phải chảy nhiều nước bọt, phải bỏ qua hết những thị hiếu, những vẻ đẹp bề ngoài để
đi vào những giá trị chủ yếu” [14, tr.108] mà Đào Uyên Minh gọi là “từ tối đến ánh sáng ta chìm trong Ánh sáng Vô biên” [14, tr.109] Điều này được F Jullien giải
thích là có hàm ý Lão học hay thiên hướng Phật học Cho nên thơ Đào Uyên Minh
thường “vừa phẳng lặng, vừa nhạt, vừa sâu sắc lại vừa đẹp Thơ ông biểu đạt ở cấp
độ cao của sự thanh thản, chính trực và ông không ám chỉ ai mà phê phán Người ta qua đó thấy được rằng sở thích của ông thật bao la đến cõi vô biên, ông biểu hiện mối tương quan hài hoà của ông với thế giới quan bằng thơ ca” [14,tr.110]
Theo đó, đối với người đọc ,nhà phê bình F.Jullien nói: “Theo truyền thống Trung Hoa, chỉ cần chỉ ra cái Nhạt là đủ, việc đó mở đường cho người đọc không cần bình luận gì thêm nữa, ngoại trừ dẫn ra những thí dụ khác” Còn với nhà văn thì: Trong thơ ca, muốn tạo ra sự nội cảm hoá trong lòng độc giả bằng ý nghĩa, tư tưởng thẩm mỹ sâu sắc, phong phú, thì ngoài việc tổ chức từ ngữ thật độc đáo, quái đản, “ý tại ngôn ngoại” cần phải tạo ra nhiều biện pháp nghệ thuật, tăng cường tính triết lý, vận dụng thiền học, huyền thoại, cổ tích, những nội hàm của các triết thuyết, tôn giáo Khi ấy, cái Nhạt, cái khoảng lặng của câu chữ sẽ “phải cảm nhận được biểu tượng ngoài biểu tượng”, “cái tuyệt vời ở bên kia âm hưởng”, cái thi vị ở “phía bên kia từ ngữ” Cứ thế, thơ sẽ không ngừng tạo sinh nghĩa, làm cho khả năng tiếp nhận
nó được mở ra nhiều hướng, nhiều khả năng trong từng thời kỳ khác nhau của từng chủ thể tiếp nhận thẩm mỹ khác nhau
Bằng con mắt và tư duy của nhà triết học, nhà mỹ học,F.Jullien đã nhìn thấu đáo vấn đề cái Nhạt làm thay đổi tín hiệu trong văn học,tạo nên giá trị của tác phẩm thơ văn Và từ đó dễ dàng thấy được cái Nhạt chính là phẩm chất, cao hơn, là mỹ học rất cần thiết của thi ca, giúp thi ca trở thành những tín hiệu kỳ diệu, cao sang và minh triết cho con người và cho đời sống nghệ thuật Khoảng lặng của ngôn từ thơ hay tín hiệu của cái Nhạt trong thi ca chính là khả năng gặp gỡ, giao nhau đó
Như vậy với những lý thuyết triết học của F.Jullien về cái Nhạt trong văn chương nghệ thuật đã tạo tiền đề lí luận vững vàng cho chúng tôi trong việc
Trang 24nghiên cứu biểu hiện của cái Nhạt trong văn học Việt Nam nói chung và trong truyện ngắn Lê Minh Khuê nói riêng Đó sẽ là một nội dung nghiên cứu còn mới
lạ nhưng rất thú vị và chứa đựng những bất ngờ mà chúng tôi muốn mang đến trong sự kết hợp giữa những tư tưởng minh triết của Phương Đông với một tác giả văn học đương đại Việt Nam để thấy được sự giao thoa và ảnh hưởng của các nền văn hóa là không có bến bờ
Trang 25Tiểu kết chương 1 Cái Nhạt là một phạm trù thẩm mỹ phổ biến Cùng với cái Đậm, sự
hiện diện của cái Nhạt tạo nên tính cân bằng cho thực tại thẩm mỹ Nếu cái
Đậm hiện diện bằng những lộ - mau - chói – gắt - dữ – mạnh – nặng – nồng – đanh - sắc , thì cái Nhạt / Đạm lại hiện diện bằng những ẩn - thưa - thanh - nhẹ - êm - mềm - mượt - nhã - dịu… Trong văn học, ở văn xuôi tự sự : cái Đậm
hiện diện bằng những bức tranh đời sống trực diện, nóng bỏng, những vấn đề gai góc, những mâu thuẫn gay gắt thuộc về dòng chính và bề nổi, những xung đột dữ dội, tranh chấp căng thẳng, những cảnh ngộ đầy éo le; những tính cách quyết liệt, góc cạnh, ưa bày tỏ bằng hành động; những số phận đầy thăng trầm; những cốt truyện gay cấn; giọng điệu căng cứng, bốc lửa; ngôn ngữ rành rẽ,
khẳng quyết… Còn cái Nhạt / Đạm lại thường hiện diện qua những bức tranh
đời sống có vẻ phẳng lặng, êm đềm; những vấn đề có vẻ ít phức tạp; mâu thuẫn
âm ỉ thuộc về dòng chìm ở bề sâu; những va chạm có vẻ không đâu; những con người âm thầm, nghiêng về đời sống bên trong với chiêm nghiệm, lắng kết, cảnh ngộ quen gặp trong đời thường ; cốt truyện đơn sơ ; giọng điệu bình thản, dịu êm, ngôn ngữ nhẹ nhàng mềm mại… Hai xu hướng này không chỉ tồn tại theo lối phân hóa biệt lập nhau, mà còn chuyển hóa lẫn nhau trong cảm hứng sáng tạo, trong phong cách sáng tạo, làm nên tính phong phú phức tạp của đời sống nghệ thuật Tuy nhiên, do sự lựa chọn của cá tính và sở trường thẩm mỹ
riêng mà có những cây bút đã định hình lối viết nghiêng về Đậm hoặc nghiêng
về Nhạt/Đạm Hiện tượng Lê Minh Khuê rất tiêu biểu cho xu hướng Nhạt hóa
trong văn xuôi Việt Nam từ chặng cuối của chiến tranh sang cuộc sống thời bình sau chiến tranh.
Trang 26Chương 2
XU HƯỚNG NHẠT HÓA TRONG TRUYỆN NGẮN LÊ MINH KHUÊ,
NHÌN TỪ NỘI DUNG
Việc tìm hiểu và đánh giá gía trị nội dung của truyện ngắn Lê Minh Khuê dựa
theo lý thuyết về “Cái Nhạt” của F Jullen là một việc làm không hề đơn giản nhưng
cũng rất thú vị Bởi trong hành trình sáng tác văn nghiệp của mình, nhà văn Lê Minh Khuê không ngừng tìm tòi và sáng tạo, để đem tới “chất lạ” không lẫn với ai trong sáng tác của chị Với hiểu biết của mình về truyện ngắn Lê Minh Khuê, người viết
cũng đưa ra những khía cạnh biểu hiện “Cái Nhạt” về nội dung trong sáng tác của
nữ nhà văn qua một số phuơng diện sau:
bó ân tình cùng với họ trong suốt những năm tháng khói lửa
Có thể nó văn học sử sẽ không thể bỏ qua những sáng tác xuất sắc về đề tài
chiến tranh như: “Tây Tiến”, “Màu tím hoa sim”, “Núi đôi”, “Đất nước đứng lên”,
“Hòn Đất”, “Mẫn và tôi”, “Chiếc lược ngà”, “Cỏ lau”, “Chim én bay”, “Nỗi buồn chiến tranh”, “Bến không chồng”…vv Nhà văn Solzhenitsyn đoạt Giải Nobel nói
rằng: “Văn chương trở thành ký ức sống động của một quốc gia” Chúng tôi nghĩ
Trang 27Văn học Việt Nam giai đoạn trước 1975 là nền văn học Cách mạng, mang trong mình sứ mệnh lớn lao: là vũ khí cho việc tuyên truyền và cổ động cách mạng, văn học giai đoạn này đã góp phần tạo nên chiến thắng của cuộc cách mạng giải phóng dân tộc
Vì vậy, âm hưởng bàng bạc trong các sáng tác về đề tài cách mạng là âm hưởng sử thi, sảng khoái, cảm hứng ngợi ca cuộc chiến đấu hiện tại và tin tưởng mãnh liệt vào ngày mai là cảm hứng chủ đạo trong sáng tác Cảm hứng này chi phối việc xây dựng nhân vật, tổ chức cốt truyện, lựa chọn ngôn ngữ, giọng điệu trần thuật…
Một điều dễ thấy là văn học chiến tranh trước 1975 giống như thiên anh hùng
ca cách mạng mà trong đó nhân vật được xây dựng trên cơ sở xung đột địch – ta Địch luôn xấu xa, đê tiện, ác độc… còn ta luôn yêu nước nồng nàn, căm thù giặc sâu sắc, sẵn sàng hi sinh cho nền độc lập đó Mối quan hệ giữa ta và địch là mối quan hệ một mất một còn không thể dung hòa Vì vậy trong cách xây dựng chiến tranh, nhà văn luôn tìm mọi cách để chỉ cho người đọc thấy được những phẩm chất tốt đẹp, quý báu của nhân dân ta trong chiến tranh Do đó những tác phẩm viết về chiến tranh như những bản hợp ca vang lên giai điệu hùng tráng, lôi cuốn, giục giã mọi người lên đường cống hiến và hi sinh cho lý tưởng cao cả của dân tộc, đất nước
Là một người từng tham chiến, Lê Minh Khuê viết về chiến tranh, viết lại những năm tháng đau thương nhưng anh dũng vô cùng của chính bạn bè, đồng đội mình Vì vậy, chị đã viết những trang văn đầy mê say và ngưỡng vọng về dân tộc, về thế hệ trẻ Truyện ngắn Lê Minh Khuê viết về chiến tranh trước 1975 tập trung trong
tập “Cao điểm mùa hạ” do NXB Quân đội nhân dân in 1978 là tập truyện đầu tay của nhà văn Đề tài này cũng được triển khai trong truyện dài “Nhiệt đới gió mùa”
ra mắt bạn đọc vào cuối của năm 2012 Chất nữ tính, nhẹ nhàng, sôi nổi đã đem đến điều mới lạ trong sáng tác của nhà văn và do đó truyện ngắn của chị được đông đảo bạn đọc biết đến Cái Nhạt- Đạm của Lê Minh Khuê về mảng đề tài chiến tranh thể hiện ở chỗ: Những trang viết của chị về chiến tranh không làm cho người đọc thấy cảnh chết chóc man rợ mà chỉ thấy nỗi đau xót lặng lẽ, khát vọng tươi sáng bị cắt dang dở và vượt lên trên mọi chuyện tầm phào vô bổ là cái nhìn nhân ái về số phận
con người Cái bên kia của Vị chính là tảng băng chìm mà thông qua lớp ngôn từ
nghệ thuật độc giả tự cảm nhận và phát hiện
Trang 282.1.1.1 Hiện thực lòng người bên trong hiện thực cuộc chiến
Đã từng sống nơi chiến trường ác liệt, chịu cảnh “mưa rừng” “suối lũ”, Lê
Minh Khuê thường tạo dựng cho truyện của mình một không gian chiến trường rộng lớn: những cao điểm dữ dội, những ca bin xe sặc sụa mùi xăng đã trở nên thân thương gần gũi như phòng ngủ ở nhà, những đêm trong rừng Trường Sơn ác liệt
… tất cả đều quen thuộc thân thiết
Trong truyện Lê Minh Khuê, những hình ảnh khắc nghiệt, hiểm nguy của chiến trường cũng được miêu tả khá chi tiết Chẳng hạn, sau mỗi trận bom tọa độ của quân
xâm lược mặt đất bị đảo lên, cây cối cháy rần rật, “y như tự dưng có kẻ phát cuồng,
tưới xăng lên mà đốt cả rừng, cả núi” ( Cao điểm mùa hạ) Hình ảnh “Rừng hai bên
cháy rừng rực ngày đêm Những đoàn xe dùng vải bạt nhúng nước phủ kín xe, chạy
qua khu rừng lửa” (Tình yêu người lính) Trong “Con trai của những người chiến
sĩ” chiến trường diễn ra trên biển cả thật dữ dội: “Từ xa, tiếng bom và pháo ngoài khơi
dội vào, nghe như có một cơn giông khổng lồ từ đại dương chuyển vào đất liền Lại gần, cuộc chiến giữa các pháo thủ và hàng tốp máy bay của địch càng dữ dội quyết liệt hơn Lửa bén vào dầu Khói lửa quyện vào nhau thành những cột khổng lồ bốc lên cao Máy bay Mĩ vẫn lao xuống Con tàu các chiến sĩ hải quân đã mất cơ động do bị thủng nhiều khoang, nước tràn vào sắp chìm tàu, các pháo thủ bị thương và một số đã
hi sinh anh dũng nhưng các khẩu đội pháo còn lại vẫn hết sức kiên cường chống lại kẻ thù: “ giữa khói lửa và những cột nước bao kín con tàu, những đường đạn vẫn xé rách
khói lửa lao lên, lao lên mãi” (Con trai của những người chiến sĩ) Hiện thực chiến
trường được xây dựng chân thực và khốc liệt trong những trang văn của Lê Minh Khuê Bom đạn kẻ thù luôn đe dọa, rình rập nơi trọng điểm Các chiến sĩ nơi cao điểm
luôn phải đối mặt với những gian khổ hiểm nguy, không thể tránh được : “đường bị
đánh khốc liệt….trong một đêm, máy bay B52 rải hàng ngàn tấn bom….”(Tình yêu
người lính) Hay “hàng ngàn trận bom của Mĩ tưới trên rừng cây sự hoang tàn chết
chóc”… còn rất nhiều chi tiết miêu tả sự khốc liệt của chiến tranh trong truyện ngắn
của Lê Minh Khuê Chiến tranh như cỗ máy hủy diệt nhẫn tâm, không chút e dè, nể nang ai cả, vì vậy nó đã gây cho dân tộc ta biết bao đau khổ tang tóc, bao nỗi trái ngang Hẳn người đọc chúng ta không thể quên những chi tiết đầy ám ảnh trong truyện
Trang 29ngắn Chuyện nhỏ hồi chiến tranh, câu chuyện về gia đình anh bộ đội cùng bà con
hàng xóm trong thị trấn nhỏ bị li tán trong đợt B52 của Mĩ muốn san bằng Hà Nội những năm 1972 Câu chuyện đã tái hiện sự kiện đó bằng những chi tiết sống động như hiện ra trước mắt người đọc quang cảnh hoang tàn, đổ nát của đất nước trước bom đạn kẻ thù Chỉ trong một đêm, bom đạn giặc đã biến một thị trấn xinh xắn, sầm uất thành một nơi hoang tàn đổ nát với vành tang trắng phủ khắp mọi nơi, đau thương gõ cửa từng nhà, không chừa một ai
Viết về những năm tháng đau thương của dân tộc trong chiến tranh, trước Lê Minh Khuê đã có rất nhiều cây bút gặt hái được nhiều thành công ở mảng đề tài này nhưng mỗi nhà văn lại có cách nhìn nhận và phản ánh chiến tranh một cách khác nhau Nếu Nguyễn Trung Thành “huyền thoại hóa” chiến tranh để tô đậm sự hi sinh của những con người lý tưởng đại diện cho vẻ đẹp của toàn dân tộc, Nguyễn Thi lại cho rằng những mất mát đau thương do chiến tranh gây ra là sự thực hiển nhiên không thể chối cãi … Phan Tứ đã dành những trang trọng tâm nhất miêu tả cuộc đồng khởi của nhân dân với những trận chống càn, giành và giữ đất đầy cam go, ác liệt Còn Lê Minh Khuê bước vào nghề văn khi mà nền văn học kháng chiến đã có những thành công nhất định Tuy vậy, với tài năng của mình, cộng với những kinh nghiệm của người đã từng tham chiến, Lê Minh Khuê đã nói về chiến tranh một cách khá độc đáo so với những cây bút cùng thời Với Lê Minh Khuê, chiến trường không chỉ là hiện thực bất thường với những tổn thất đau thương mà nơi đó vẫn có niềm vui, vẫn có những giây phút bình yên Cái bề sâu trong các câu chuyện về chiến tranh của chị đó chính là thế giới tâm hồn phong phú của con người trong chiến tranh Đọc truyện của chị chúng ta càng hiểu hơn
về cuộc chiến của dân tộc, hóa ra chiến tranh không chỉ có những hiểm nguy, gian khổ bởi chiến trường bom đạn mà còn ẩn chứa trong đó rất nhiều những suy tư trăn trở của lòng người tình người Lê Minh Khuê đã đi sâu vào bản chất của chiến tranh để phản ánh thế giới của những người trong cuộc Đó là lúc mà đồng đội, bạn bè ngồi sát bên nhau kể cho nhau nghe những câu chuyện quá khứ, những ước mộng tương lai, chia sẻ cho nhau cả những câu chuyện riêng tư thầm kín, để rồi tất cả hòa chung vào câu
chuyện của một người mà quên đi thực tại trước mắt “B52 đang gầm rú trên bầu trời,
bom sẽ nổ bất kì khi nào…”.
Trang 30Truyện “Những ngôi sao xa xôi” là một trong những câu chuyện như vậy Đây
là truyện ngắn tiêu biểu cho búp pháp của Lê Minh Khuê trong giai đoạn đầu.Toàn bộ diễn biến câu chuyện được trình bày giản dị giống như lời tâm sự thủ thỉ nhưng đã tái hiện khá chân thưc những khắc nghiệt, dữ dội của chiến tranh, bom đạn, của máu và cả cái chết Nhưng nổi bật trên nền chiến tranh đó là hình ảnh ba cô gái trẻ trung, tinh khôi
và anh dũng can đảm tuyệt vời Họ là những chiến sĩ dũng cảm, coi thường khó khăn, coi cái chết nhẹ tựa lông hồng Họ sẵn sàng hi sinh tất cả vì Tổ quốc, quê hương
Bên cạnh lòng dũng cảm, ba cô chiến sĩ còn có một đời sống tâm hồn vô cùng phong phú và lãng mạn với những ước mơ về một cuộc sống hạnh phúc khi hòa bình lập lại Bằng cảm xúc suy nghĩ khát khao của chính mình và chính những người đồng đội của mình, Lê Minh Khuê đã viết về đời sống tâm hồn của các cô nữ thanh niên xung phong trên tuyến đường Trường Sơn thật phong phú và sâu sắc Trong những phút bình yên sau mỗi trận đánh, các cô gái thường hát cho nhau nghe, kể cho
nhau nghe những câu chuyện tình yêu và rồi ước mong : “sau này sẽ không lấy
chồng mà chỉ yêu thôi, vì khi yêu mới được chiều chuộng”… Họ còn nhớ về tuổi thơ
với những thú vui tinh nghịch nhưng mộng mơ của tuổi học trò và lấp lánh những
ước mơ, khát vọng của cả một đời người Nho sẽ “xin vào một nhà máy thủy điện
lớn, làm thợ hàn”, trở thành kĩ sư kiến trúc, lại muốn trở thành cầu thủ bóng chuyền
của nhà máy Còn Thao ước mong sau này sẽ trở thành y sĩ, lấy một anh chồng sĩ quan lại hay phải đi xa, thỉnh thoảng mới về thôi Và đó là cách để duy trì tình yêu giữa hai người Còn Phương Định vừa thích mình trở thành kĩ sư kiến trúc, lại vừa
muốn trở thành “thuyết minh trong rạp chiếu bóng của thiếu nhi, lái xe gấu ở cảng,
hay là hát trong đội đồng ca trên một công trường xây dựng”… Tất cả họ đều tin
tưởng vào tương lai với một niềm tin mãnh liệt
Trong Bạn bè tôi, Lê Minh Khuê đã tái hiện lại tình cảm thân thiết gắn bó
giữa những đồng đội, họ sẵn sàng san sẻ cho nhau những vui buồn của cuộc sống xa
nhà Họ hiểu cả những sở thích của bạn “Vân nói năng táo tợn nhưng cũng có khi
hiền lành đáo để Ngãi lại chải chuốt nhưng rất mực tài hoa”….tất cả những nét tính
cách khác nhau đó, từ khắp mọi nơi hội tụ lại nơi cabin chật hẹp mà họ coi như nhà mình để rồi đồng cảm với nhau Họ san sẻ cho nhau tất cả những câu chuyện cuộc sống, ngay cả những bí mật của cuộc đời…họ cũng không hề dấu diếm
Trang 31Truyện “Con sáo nhỏ của tôi” là câu chuyện đầy xúc động về tấm lòng và sự
hi sinh cao cả của thế hệ thanh niên trong cuộc chiến vĩ đại của dân tộc.Toàn bộ câu
chuyện có những mất mát, hi sinh được tác giả nói đến “…Nhưng ở đây bom đẻ thêm
ra Trước, ngày có ba chục trận bom trên một cung đường Giờ, gấp đôi, thậm chí gấp ba….” Những gian khổ, hiểm nguy nơi chiến trường lửa đạn không phải là vấn đề
chính được nữ nhà văn nói trong tác phẩm này Mà cái hay của truyện chính là tác giả
đã xây dựng cho người đọc về hình ảnh những con người trong chiến trường gian khó
ấy Họ không chỉ anh dũng, quả cảm mà hết sức yêu đời, nhí nhảnh, hồn nhiên, luôn khát khao một cuộc sống trong hòa bình, độc lập Sim trong truyện là một cô gái trẻ- mới tròn mười bảy tuổi nhưng đã tham gia chiến trường nhiều năm, coi “cao điểm” giống như nhà của mình Vì vậy, những lúc rỗi rãi, Sim thường tìm những bí mật trong rừng, hoặc cầm súng, lội ngược khe, bắn cá Cái thú vị ở Sim là dù có đi đâu, làm gì nhưng cô cũng đều mang theo con sáo nhỏ bên mình Điều thu hút người đọc trong câu chuyện này chính là cách kể của Lê Minh Khuê Câu chuyện lấy bối cảnh là cuộc chiến chống xâm lăng đang đi vào giai đoạn khủng khiếp nhất với những hiểm nguy
do kẻ thù gây ra luôn rình rập và cướp đi mạng sống của con người bất kì lúc nào Sức lôi cuốn của câu chuyện không nằm ở chỗ đó mà cái thú vị, hấp dẫn người đọc ở đây chính là sự hồn nhiên, vô tư trong sáng của những con người yêu nước đáng để người
ta ngưỡng mộ Dù sống trong bom đạn nhưng người lính của ta vẫn phơi phới tình cảm gia đình thân thuộc, tinh thần hồn nhiên, yêu đời, say mê trước cuộc sống Đó chính là “chất lạ” tạo nên sự độc đáo và mới lạ trong văn của Lê Minh Khuê
Chín truyện ngắn trong Cao điểm mùa hạ của Lê Minh Khuê đã góp phần
cùng văn học kháng chiến dạo khúc ngợi ca vẻ đẹp của con người Việt Nam ở thời đạn bom, khói lửa Tô đậm cái gian khổ, khó khăn nơi cao điểm để làm nền cho những cung bậc cảm xúc tinh tế, những ước mơ thầm kín của người chiến sĩ trong đạn bom Chính vì lẽ đó mà dù viết về một đề tài cũ đã có rất nhiều cây bút thành công song sáng tác về chiến tranh của Lê Minh Khuê vẫn được bạn đọc đón nhận
nhiệt thành bởi những giá trị mới lạ của nó Chẳng thế mà truyện ngắn “Những ngôi sao xa xôi” của chị đã được đưa vào giảng dạy ở trường phổ thông Phải chăng chính
sự bứt phá trong cách viết của mình đã đem lại những thành công vang dội của Lê Minh Khuê ở đề tài này
Trang 322.1.1.2 Những ác liệt nơi chiến trường nhường chỗ cho những suy tư trăn trở sâu sắc khi nhận thức lại về chiến tranh
Viết về chiến tranh là một nỗi trăn trở, đau đáu khôn nguôi trong lòng Lê Minh Khuê Vì vậy, sau hòa bình, dù đề tài chiến tranh trở nên khan hiếm trong văn học, người ta e dè với đề tài nhạy cảm này, lựa chọn cho mình những đề tài khác, dễ viết hơn, ít động chạm hơn Nhưng với một người đã từng trải qua những năm tháng đau thương của chiến tranh, Lê Minh Khuê luôn đau đáu suy nghĩ về nó và chiến tranh vẫn có sức hấp dẫn đối với chị Coi viết về chiến tranh được xem như một
“món nợ” mà chị phải trả và vẫn tiếp tục trả Viết về một đề tài đã cũ nhưng trong cách nhìn nhận mới có những điều ngày xưa, người viết chưa nhìn nhận ra, hoặc chưa “phát” ra được bởi có những hạn chế thì đến nay chúng ta lại có dịp nhìn nhận lại Khi chiến tranh đã lùi xa, ta được sống trong thế giới hòa bình thì ta đủ bình tĩnh để chiêm nghiệm lại những gì đã qua Phải khẳng định rằng, đề tài chiến tranh chưa bao giờ cũ cả Nên viết về nó không khó Chúng ta có thể nhắc đến nó ở nhiều góc độ Mỗi góc nhìn sẽ là một trải nghiệm, một tiếng nói, có khi là một thông điệp chẳng hạn Cái đó tùy thuộc vào tài năng của những người cầm bút
Viết về chiến tranh sau hòa bình, Lê Minh Khuê đã cho ra mắt truyện “Nhiệt đới gió mùa” Một tiểu thuyết được ép lại thành truyện vừa này đưa ra cách giải
thích về chiến tranh khiến người đọc “không thể ngủ yên” khi nhìn lại cuộc chiến
của dân tộc Toàn bộ lịch sử khoảng 50 năm của đất nước với những biến cố đau thương dữ dội nhất được nén lại trong chưa đầy trăm trang viết Trong tác phẩm này,
Lê Minh Khuê không nói về những ác liệt nơi cao điểm, những trận bom tọa độ suốt
đêm như trong “Cao điểm mùa hạ” mà đi sâu vào bản chất cuộc chiến để phản ánh
những khuất lấp bên trong, những câu chuyện thầm kín trong chiến tranh mà trước đây chưa dám nói, chưa nhận ra Lê Minh Khuê đã chuyển mình, cách viết của chị về
chiến tranh trong “Nhiệt đới gió mùa'' khiến người đọc “rớt nước mắt”.
“Nhiệt đới gió mùa'' xới dậy bi kịch trong gia đình một người đàn ông có tới
hai nguời vợ, mỗi người đều có một cậu con trai Mối ghen tuông, thù hận giữa hai người đàn bà dẫn tới một lần, sau trận cãi vã, người vợ lẽ chạy ra khỏi cửa và vấp phải đinh thợ mộc Chiếc đinh cắm vào một bên mắt khiến người vợ lẽ vĩnh viễn mất đi con
Trang 33mắt Sau tai nạn, cảm thấy bị ghẻ lạnh, hắt hủi, hai mẹ con người vợ lẽ bỏ đi biệt tích Một thời gian sau, người anh con vợ cả trở thành một chiến sĩ cộng sản Người em theo mẹ vào Nam giờ là một sĩ quan cao cấp trong hàng ngũ lính ngụy Họ gặp lại nhau khi ở hai chiến tuyến, trong tình cảnh người anh bị bắt và chiến tranh là cơ hội để người em đòi "món nợ" năm xưa cho mẹ bằng cách móc một con mắt người anh Lê
Minh Khuê viết: ''Mỗi bên chỉ còn một con mắt nhìn nhau qua sự hận thù'' Những câu
văn lạnh lùng, tàn nhẫn, trúc trắc khiến người đọc cảm nhận tận cùng sự tàn khốc giữa người với người trong cuộc chiến, khi chính lòng hận thù chứ không phải điều nào khác khiến con người sống tàn ác với nhau Chiến tranh, khi đó, chỉ là ngọn lửa bên ngoài, làm cho lửa hận thù bên trong mỗi con người bùng cháy
Nhà phê bình Nguyễn Thị Minh Thái nhận xét “Lê Minh Khuê có cách giải
quyết chiến tranh khiến người đọc rơi nước mắt” Viết về chiến tranh mà nhà văn
cho người đọc thấy ngay trong một gia đình, giữa những con người chung huyết thống, chiến tuyến rạch đôi tại đây và người ta nhìn nhau qua con mắt nhuốm màu
máu cũng ở đây Và như thế, theo Nguyễn Thị Minh Thái thì “Lê Minh Khuê đã thấu
thị bản chất của chiến tranh, đi xuyên thấu cuộc chiến mà bi kịch để lại trong mỗi gia đình, mỗi con người - điều mà trước đây rất ít nhà văn đề cập tới.”[68]
Nhà giáo Bùi Việt Thắng nói, đọc "Nhiệt đới gió mùa" khiến ông "rã rời" -
bởi thế hệ ông cũng bước ra từ chiến tranh, từ những đau thương, mất mát, tàn khốc,
dữ dội đó Và Lê Minh Khuê đã đi thẳng "tim đen" mọi chuyện, khuấy lên sự không yên ổn trong tâm hồn mỗi con người mà thường ngày họ dường như quen với việc quá yên ổn Và đó là điều cần thiết, để người ta nhìn nhận lại cuộc sống đúng bản
chất, để sống nhân văn hơn Theo Bùi Việt Thắng thì “có thể nhiều người sẽ nhận
xét văn của Lê Minh Khuê lạnh lùng, tàn nhẫn như Nguyễn Huy Thiệp, nhưng ông
đồ rằng, lúc viết "Nhiệt đới gió mùa", nữ nhà văn vừa viết vừa lén lau nước mắt.”[68]
Lê Minh Khuê không nói chuyện hận thù để xới lại hận thù hay khuyến khích con người ta sống với nó Kết thúc chiến tranh, người anh bị móc mắt trả thù lại em bằng cách đày người này lên một vùng sơn cước không người trong suốt 6 năm Tuy nhiên, người ta không thể tiếp tục trả thù nhau mãi Cuối tác phẩm, nhà văn đã tìm
Trang 34cách giải quyết câu chuyện theo hướng hòa giải Khi nhận ra rằng, cuộc đời còn nhiều bi kịch hơn thế, đau đớn hơn thế, tại sao họ không thể tha thứ cho nhau? Đằng sau những con chữ sắc lạnh của Lê Minh Khuê là một tâm hồn, một tấm lòng bao dung, đôn hậu - theo Nguyễn Thị Minh Thái.
Cái tên ''Nhiệt đới gió mùa'' dễ khiến người đọc liên tưởng đến những thứ
nhẹ nhàng, lãng mạn nhưng bên trong lòng tác phẩm lại là cả một câu chuyện âm ỉ,
sục sôi Ngay chính nhà văn Lê Minh Khuê đã cắt nghĩa nhan đề "Nhiệt đới gió
mùa" của mình rằng: ''Vùng nhiệt đới gió mùa mang theo hơi ẩm từ biển vào luôn
gây ra cho con người ta những cơn bức bối khó chịu không biết trút vào đâu người
ta hay trút vào nhau Dải đất hẹp trần trụi chạy dọc biển Đông nhiều khi nhìn trên bản đồ thấy mong manh như làn khói gió biển thổi mạnh là có thể cuốn phăng, con người lại không biết sự mong manh đó cứ cố sống cố chết chạy theo thù hận Thù hận làm đời ta ngắn lại''.[34] Qua đó tác giả lên tiếng, chị chỉ muốn sau tất cả là hòa
bình, là tha thứ, là con người yêu thương nhau hơn
Viết về chiến tranh trong cảm hứng nhận thức lại đã có nhiều nhà văn tìm cho mình những cách khai thác đề tài này một cách phong phú Ngay sau hòa bình, với yêu cầu mới, các nhà văn đã mở rộng phạm vi hiện thực, bổ sung vào hiện thực quen biết những mảng hiện thực trước đây chưa từng nói tới: những thời điểm khốc liệt, những trận đánh đẫm máu, những vụng về lúng túng và cả những tiêu cực trong nội
bộ ta Ở các tác phẩm này, hiện thực được trình bày không giản đơn xuôi chiều như
trước mà hiện thực được đề cập đến đa dạng, phong phú, đối thoại với những tác phẩm về chiến tranh trước đó Trong số rất nhiều cây bút nổi bật cho đề tài phải
kể đến Nguyễn Trọng Oánh với “Đất trắng”; Nguyễn Khải với “Gặp gỡ cuối năm; Cách mạng; Khoảnh khắc đang sống”; Thái Bá Lợi với “Hai người trở lại trung đoàn”; Nguyễn Minh Châu với “Mùa trái cóc ở Miền Nam; Cỏ lau”; Nguyễn Trí Huân với “Năm 75 họ đã sống như thế”; Bảo Ninh với “Nỗi buồn chiến tranh”… còn rất nhiều những cây bút khác viết về chiến tranh trong sự nhận thức
lại để qua đó thấy được hiện thực cuộc chiến không giản đơn xuôi chiều như đã được
đề cập tới trong văn học trước đây Hòa chung với không khí chung của văn chương đương đại, nữ nhà văn Lê Minh Khuê cũng đã chọn cho mình một cách thể hiện đề
Trang 35tài chiến tranh hoàn toàn mới lạ, nhìn nhận tận sâu bản chất của cuộc chiến để thấy được sự khốc liệt của chiến tranh Chính vì vậy khi nhận xét về văn chương Lê Minh Khuê, Nguyễn Thị Minh Thái không đồng tình với Hồ Anh Thái gọi Lê Minh Khuê
là người đàn bà viễn thị: “Tôi nói với anh Thái rằng Khuê không hề viễn thị, Khuê là
người đàn bà thấu thị luôn nhìn cuộc sống, nhìn chiến tranh bằng cặp mắt xuyên thấu, bên trong âm ỉ một tấm lòng nồng nhiệt” [68] Đó có thể xem là nhận xét hay
nhất và đúng nhất về văn chương Lê Minh Khuê
Như vậy là người bước ra từ chiến trường máu lửa, nhà văn- chiến sĩ Lê Minh Khuê hiểu hơn ai hết về sự hi sinh lớn lao và nghĩa tình của đồng bào, đồng chí Với
cô, viết về chiến tranh là một món nợ ân tình cần phải trả Đúng như Nguyễn Minh
Châu đã từng chia sẻ: “Viết về hai cuộc kháng chiến, viết về chiến tranh, nhiều đồng
chí cầm bút viết văn trong quân đội đã đứng tuổi nhiều lần nói tới công việc đó như một trách nhiệm, một món nợ chưa trả được Một món nợ chưa trả và không thể nào quên”.[6] Và nữ nhà văn này cũng đáp ứng được yêu cầu của bạn đọc hôm nay tha
thiết mong mỏi: “Người viết phải thỏa mãn cho được mĩ cảm nghệ thuật, bao hàm
nhận thức cái đẹp từ trong phẩm chất, đức hi sinh và tâm hồn nhân văn của con người hôm qua” [15] Ở đây, sự gặp gỡ giữa nhà văn và độc giả chính là thái độ tri
ân quá khứ Quả đúng không sai khi Nguyễn Minh Châu nhận định: “Bao giờ những
cây bút đã từng lăn lộn trong chiến tranh sẽ đem lên trang giấy những điều sở đắc nhất, những bài học đường đời chỉ riêng anh mới khám phá thấy trong hoàn cảnh chiến tranh và có thể làm bài học cho nhiều hoàn cảnh khác?”[6] Và Lê Minh Khuê
đã thể hiện “cá tính” của người viết trong những sáng tác của mình
2.1.2 Đề tài hậu chiến: Bi kịch xã hội nhường chỗ cho những bi kịch cá nhân
2.1.2.1 Tấn bi kịch lớn nhường chỗ cho những bi kịch nhỏ
Sau chiến tranh, mọi thứ trở lại bình thường, cuộc sống đời thường chứa đựng
những “sóng ngầm, gió xoáy bên trong” đã đòi hỏi nhà văn phải thay đổi ngòi bút
của mình sao cho phù hợp với tình hình mới Nếu trước đây nhà văn viết về chiến tranh và người lính với cảm hứng sử thi lãng mạn, thể hiện thái độ đắm say, ngưỡng
mộ với vẻ đẹp lý tưởng của những nhân vật anh hùng, những con người mang tầm vóc dân tộc và thời đại Thì sau khi hòa bình lập lại, nhà văn đã thay đổi quan niệm của mình, họ tìm đến những góc khuất của cuộc đời để phản ánh và nói về nó Cuộc
Trang 36sống với những nhiễu nhương được phản ánh sinh động trong văn học.
Là một nhà văn bước ra từ cuộc chiến, là người sống và chịu tác động của nền kinh tế thị trường, hơn ai hết Lê Minh Khuê hiểu rõ bản chất của cuộc đời Vì vậy trong các truyện ngắn của Lê Minh Khuê viết sau chiến tranh, người đọc nhìn thấy một bức tranh toàn cảnh về xã hội Việt Nam đương đại
•Tấn bi kịch do những khiếm khuyết trong cơ chế xã hội gây ra
Văn học sau 1975, đặc biệt là văn học sau đổi mới được tiếp sức bởi không khí dân chủ nên nhu cầu nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá lại nhiều vấn đề của quá khứ, cũng như của hiện tại được đặt ra gắt gao Như các nhà văn khác, Lê Minh Khuê hăng hái vạch tìm, truy nguyên, rượt đuổi những biến tướng của cái xấu, cái
ác, cái phi lý, sự bất công trong xã hội, những nhiễu nhương của cơ chế vốn trước
đây được xem như “đất cấm”.
Truyện ngắn của Lê Minh Khuê thẳng thắn vạch ra những bất ổn của cơ chế những sai lầm trong quan niệm xã hội, những biến tướng, suy đồi của một bộ phận cán bộ lãnh đạo nhà nước đương thời Chủ nghĩa lý lịch, chủ nghĩa thành phần, những nguyên tắc lỗi thời đã chi phối không nhỏ đến sự hình thành và phát triển nhân cách con người Chính cơ chế đó đã sản sinh ra những kẻ “tiểu nhân”, “cạn bã” cho xã hội
Những kẻ cơ hội dựa vào tấm lá chắn là thành phần bần cố nông trong sạch để
chuộc lợi bất chính cho bản thân Lão Tê (Những kẻ chờ sung); lão Thiến (Anh lính Tony D) là những ví dụ điển hình cho loại người này Với lão Tê thì cái nghèo chính
là “tấm vé vào tất cả các cửa” cộng thêm với chính sách “ưu tiên chiếu cố thành
phần” trong xã hội ta thời đó khiến cho lão dương dương tự đắc về lai lịch của mình
Đi tới đâu, lão cũng “đưa lí lịch ra để ngáo ộp dọa thiên hạ” Vì vậy, ba đứa con
“chậm về đường chữ nghĩa”, “đúp lên đúp xuống đến ba bốn năm” của hắn vẫn
được lên lớp và còn được bổ đi dạy học Thật nực cười! Lão Thiến trong “Anh lính
Tony D” cũng dựa vào lý lịch “ba đời trong sạch lại có công lao” để không ai dám
dây với lão Ngay cả các ông cán bộ cũng nể trước tấm bằng “có công với cách
mạng” mà để cho hắn cùng một lũ “chẳng học hành gì sất” có chân trong bộ máy
công chức nhà nước mà không thể làm gì khác hơn
Trang 37Sự cơ hội của lão Tê, lão Thiến tuy đáng ghét, đáng lên án, phê phán song vẫn
chưa đáng kể so với chủ nghĩa cơ hội của lão Tuyên trong “Bi kịch nhỏ” Sở dĩ ngay
từ khi ra đời tác phẩm này đã gặp phải một làn sóng phê bình mạnh mẽ trong giới
văn chương, có người khen, khen hết lời, có kẻ chê, chê không tiếc tay Vì vậy “Bi kịch nhỏ” đã gây ra một làn sóng trong giới văn đàn những năm đầu sau đổi mới
Viết về lão Tuyên - một vị lãnh đạo có uy tín, quyền cao chức trọng, Lê Minh Khuê
đã không ngại ngùng bóc mẽ những thủ đoạn tinh vi, những suy thoái trong đạo đức
và nhân cách của nhân vật này để rồi “gậy ông đập lưng ông”; “reo nhân nào gặt quả âý” Lê Minh Khuê đã cho nhân vật của mình rơi vào bi kịch do chính y tạo ra- một
bi kịch nhỏ nhưng ngầm chứa trong đó những sóng ngầm, bão lốc
Để tiến thân dễ dàng và nhanh chóng, lão Tuyên sẵn sàng chà đạp lên nghĩa
vợ tình chồng, tình phụ tử , tình cảm gia đình máu mủ ruột thịt để tiến thân Khi đang đứng trên đài cao của danh vọng và không thể quay đầu lại, lão đã dùng quyền lực để trả mối thù cá nhân hèn hạ Lão cho thanh niên đi lấp hố bom ban ngày để máy bay
Mĩ tha hồ “nướng thịt anh em”, gây ra cái chết oan khuất và thương tâm của biết bao thanh niên trai tráng Hắn lại còn “huy động hàng trăm thanh niên làm thủy lợi” ở vùng địa chất không ổn định khiến “một trăm tám mươi sáu người thiệt mạng vì đất
sụt” Rồi đang mùa mưa bão, lão chỉ thị cho cả ba huyện đào ao thả cá và kết quả là
“mưa nước dâng cao; ao chuôm ngập hết; cá cũng mất hết mà sức người cùng cạn
kiệt” Đó là sự trả thù tiểu nhân đê tiện của lão với thế gian, với những gì hắn đã phải
đánh đổi để có được ngày hôm nay Nhưng hắn đâu chịu hiểu chính lòng tham của hắn là nguyên nhân gây ra nỗi khổ cho chính hắn và sự trả thù của hắn thật tàn bạo
và ngu ngốc khi đối tượng chịu hậu quả của những trò tiểu nhân đó lại là dân đen,
con đỏ - những kẻ yếu ớt và bé nhỏ trong xã hội Không chỉ lợi dụng vị trí của mình
để trả thù cá nhân mà lão Tuyên còn dùng nó để tư lợi cá nhân, lo cho cuộc sống giàu sang đầy đủ của mình mà quên đi trách nhiệm với dân Trong khi Cay- con gái lão
sống như một bà hoàng ở bên kia nửa vòng trái đất với “… mùa hè có hoa sen từ nhà
gửi qua, còn tươi nguyên vì còn để trong khoang ướp lạnh trên máy bay Chị được
ăn sò huyết tươi từ chuyến phi cơ gần nhất Ăn rau muống xanh nõn, nước sấu dầm, gội đầu bằng lá xả, lá hương nhu”… thì lũ dân đen con đỏ dưới quyền trị vì của lão
Trang 38sống một cuộc sống tối tăm, nhếch nhác, thê thảm trong sự nghèo đói “cơm ăn
không cần bát Thức ăn đổ vào cùng cơm, mỗi chàng sinh viên cầm thìa cắm đầu vào múc” Chỗ ở thì bẩn thỉu, hôi thối do “ngập ngụa rác và nước tiểu” Trong khi
con gái lão Tuyên xinh tươi, vô tư lự vì không biết khổ là gì, cô tiểu thư sẵn sàng
hưởng những bổng lộc đó giống như “thở khí trời” thì những trí thức tương lai của tổ quốc lại bị cái đói làm cho “tóc tai bù xù, mặt mũi xanh xao” Rồi còn biết bao
những bất công khác nữa khi mà Cay - con gái lão Tuyên ra trường về nước đã được
cha của mình chuẩn bị cho một nơi hạ cánh an toàn Sau khi “lựa chọn trong số sáu
cơ quan tốt nhất” thì cuối cùng nàng công chúa của lão Tuyên lựa chọn làm việc
trong một viện nghiên cứu vốn chẳng liên quan gì đến chuyên ngành mà cô ta được đào tạo Sự thật về lão Tuyên với những nhiêu khê không những là câu chuyện của một người mà đó là câu chuyện của cả một hệ thống công chức trong xã hội ta thời bấy giờ, lợi dụng chức quyền để chuộc lợi cá nhân, làm giàu bất chính Sống sung sướng ngay trên mồ hôi, nước mắt của nhân dân
Viết về những hạn chế trong cơ chế xã hội đương thời, Lê Minh Khuê đã chọn cho mình một lối phản ánh hiện thực đậm chất nữ tính, nhà văn chỉ thông qua một vài cá nhân cụ thể, với những câu chuyện về chính họ để nói về hiện thực xã hội Những kẻ như lão Tê, lão Tuyên, lão Thiến là những con sâu đang đục rũa và làm hoen ố tư tưởng tốt đẹp của nhà nước, của Đảng gây ra những bi kịch cho người khác
Không chỉ có những nhân vật tiêu biểu, mà ở đề tài này, Lê Minh Khuê còn khéo léo vận dụng sự tinh tế, nữ tính của mình khi lên án một số những quan điểm cổ
hủ, nhiêu khê trong chính quyền bấy giờ đã ngăn cản và làm thui chột đi quyền tự do
cá nhân của con người, khiến họ rơi vào bi kịch
“Một buổi chiều thật muộn” là câu chuyện bi kịch tình yêu của Hằng- một
cô gái trẻ khát khao yêu đương nhưng đã bị những quan niệm thiển cận, định kiến hẹp hòi làm cho tan vỡ tâm hồn, khiến cô phải mang theo nỗi ám ảnh và cô đơn suốt cuộc đời Kể từ ngày gặp chàng trai người Pháp - người tình trong mộng của mình,
cô không ngờ mình bị gán tội “quan hệ bất chính với người nước ngoài” mà không
cần tìm hiểu cặn kẽ Họ bắt cô phải kí, phải hứa sẽ không được gặp gỡ và có bất kì dấu hiệu nào với chàng thanh niên kia, mặc dù họ biết anh ta vô hại Sự nhận thức ấu
Trang 39trĩ, máy móc trong cách làm việc, rập khuôn, duy ý chí của đội cờ đỏ đã đẩy Hằng
vào bi kịch “mất tuổi trẻ, mất lòng tin và mất cả sự vô tư nhẹ nhõm” Hằng luôn có
cảm giác bất an khi ra đường Cô luôn nhìn nhận mọi việc trong sự nghi hoặc, hờ hững Cô gái thông minh và nhạy cảm ấy đã bị đánh cắp cả hạnh phúc cá nhân và niềm tin cuộc sống chỉ vì sự nhiêu khê của bộ máy công quyền đương thời Cũng rơi
vào bi kịch tương tự, nữ bác sĩ trong truyện “Mong manh như tia nắng” suốt phần
đời còn lại sống trong “một bí mật, một nỗi buồn, một kỉ niệm”, bởi chị đã để vụt mất một người “đáng lẽ thuộc về mình, đáng lẽ hiểu mình, đáng lẽ có thể sống với
mình” do những ràng buộc mơ hồ về cái gọi là ta và địch, ta-chính nghĩa; địch-phi
nghĩa Giữa ta và kẻ thù chỉ có sự thù địch, sống chết-không đội trời chung chứ không thể tồn tại cái gọi là tình yêu nam nữ Do đó khi tình yêu đầu đời của chị vừa mới nảy nở đã rơi vào bi kịch không lối thoát Chị đã để lạc mất người yêu trong khi
người chị yêu đang hướng “ánh mắt buồn bã nhìn vào khoảng không”, “buồn bã
tuyệt vọng, khẩn cầu và cả hi vọng nhìn chị…” Nhưng chị quay gót ra đi vì chị biết
rằng mình không thể nào bỏ qua những nguyên tắc cố hữu kia để chạy theo tình cảm
cá nhân trong hoàn cảnh này được Và để sau này khi mọi ranh giới đã bị xóa bỏ, chị
đã hối hận và khao khát, mong muốn được gặp lại người xưa dù chỉ một lần đến thế nào Câu chuyện của Hằng hay câu chuyện của nữ bác sĩ kia chính là chuyện của rất nhiều người trong xã hội khi mà khát vọng nhân bản không đủ sức đối diện với vòng kiềm tỏa của quan niệm thời đại
Viết về những tồn tại, nhiêu khê trong xã hội, nhà văn Lê Minh Khuê đã chọn cho mình một hướng đi khá an toàn Những nhân vật với những bi kịch cá nhân nhỏ
bé của chính họ nhưng lại là nỗi đau, là những bi kịch lớn lao của rất nhiều người trong xã hội Lê Minh Khuê đã viết về những điều bình thường nhưng lại rất khác thường như vậy đó
•Bi kịch nhỏ của cá nhân trước hiện thực cuộc sống
Xem xét hành trình truyện ngắn Lê Minh Khuê dễ dàng nhận thấy nhà văn có bước chuyển lớn lao trong sáng tác của mình Cùng viết về đề tài hậu chiến nhưng càng ngày Lê Minh Khuê càng trở nên sâu sắc và mặn mà hơn trong cách tiếp cận đời sống Những tấn bi kịch xã hội được bàn luận trong những tập truyện trước đây nhường chỗ cho
Trang 40những bi kịch cá nhân nhỏ bé nhưng lại có sức ám ảnh lớn lao.
- Bi kịch con người đánh mất thiên lương trước sự cám dỗ của vật chất, tiền bạc
Cuộc sống hòa bình với cơ chế của nền kinh tế thị trường, con người mải mê chạy theo để tìm kiếm cho mình một cơ hội làm cho cuộc sống tốt đẹp hơn Sự phát triển không cân bằng thống nhất giữa mặt tự nhiên và xã hội trong bản tính đã làm cho con người rơi vào trạng thái tha hóa, biến chất trở nên xấu đi không còn giữ được bản chất thiện, không còn là mình Họ đã gây nên những bi kịch cho chính mình, cho người thân và thậm chí là cho cả xã hội Truyện ngắn Lê Minh Khuê đã đề cập đến sự đánh
mất “thiên lương” của con người trước sự cám dỗ của bả vật chất, vinh hoa.
Kim trong “Dòng sông” đã từng là một cô bé ngây thơ, trong sáng trong kí ức
người anh họ Sau bao nhiêu năm không gặp, đáp lại sự hồi hộp mong ngóng của người anh trong ngày đoàn tụ là sự hờ hững lãnh cảm của cô Sự xuất hiện của Kim trong bộ dạng: mặt bự phấn son; ăn mặc lạ; ngôn ngữ sặc mùi hàng hóa; chuyển hóa mọi giá trị cuộc sống thành tiền đã khiến cho mẹ cô, anh trai và chị dâu của cô vô cùng thất vọng Cô lao vào con đường làm ăn bất chính, hả hê vui sướng mỗi khi được chia chác lợi lộc Ngay cả trong tình yêu, Kim không hề trân trọng những tình cảm chân thành mà với cô tình yêu chỉ là sự mua bán Lời nói của Kim ở cuối câu chuyện, khi người chị dâu tìm những lời lẽ an ủi động viên em trước nỗi đau bị
người tình phụ bạc thì Kim đã ngẩng phắt lên và quả quyết: “Chị tưởng thế, yêu
đương gì Em với nó chả có yêu đương gì hết Sở dĩ em đau vì nó đang cầm của em tới ba ngàn mà bây giờ nó chối phắt… Còn lâu mới hoài hơi đi ghen với cái ngữ ấy” Câu trả lời của Kim khiến chúng ta sững người trước sự trượt đôc nhanh chóng
của thế hệ trẻ trong vòng xoáy kim tiền Thế mới thấy ranh giới giữa Thiện- Ác; Tốt- Xấu, đều rất mong manh Con người phải biết cân bằng, có lập trường vững chắc thì mới có thể không đánh mất mình trước sự cám dỗ của vật chất
Nếu Kim trong “Dòng sông” là một cô bé nhạ dạ, ngây thơ, bị tha hóa, rơi vào bi kịch đánh mất mình Thì nhân vật Bích trong “Những người đàn bà” lại
khác Bích đã từng có một thời gian sống có lý tưởng , đã từng đứng trước đoàn quân trong buổi sáng còn ướt sương để ca bài ca cổ vũ tinh thần chiến đấu của chiến sĩ và coi đó là niềm hạnh phúc Cô cũng từng ngồi trong hầm dã chiến của tiểu đoàn, dưới