Bài viết của tác giả Nguyễn Văn Toại trên tạp chí Văn học số 5/1983: “Đọc các sáng tác miền núi của Ma Văn Kháng, nghĩ về trách nhiệm của nhà văn trước một đề tài lớn” đã nhận xét: “Mảng
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
VŨ THỊ DUYẾN
T¦ DUY NGHÖ THUËT CñA MA V¡N KH¸NG TRONG TIÓU THUYÕT §åNG B¹C TR¾NG HOA XßE
Chuyên ngành : Văn học Việt Nam hiện đại
Mã số : 60220121
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN
Người hướng dẫn khoa học : GS.TS Trần Đăng Xuyền
Trang 2HÀ NỘI - 2015 LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới GS.TS Trần Đăng Xuyền –
người thầy đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo khoa Ngữ Văn – trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã nhiệt tình giảng dạy và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong thời gian học tập và nghiên cứu tại trường
Tôi xin cảm ơn phòng Sau Đại học, Thư viện trường Đại học Sư phạm
Hà Nội đã tạo điều kiện giúp đỡ và cung cấp nguồn tài liệu quý giá
Tôi xin gửi lời cảm ơn tới gia đình thân yêu đã tạo điều kiện, động viên, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu
Hà Nội, tháng 9 năm 2015
Tác giả luận văn
Vũ Thị Duyến
Trang 3MỤC LỤC
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1. Văn học Việt Nam vốn gắn bó chặt chẽ với đời sống và vận mệnh của dân tộc,
cũng như cuộc sống cá nhân con người Nền văn học trước 1975 có những vấn đề riêng của nó Đó là toàn bộ vấn đề hiện thực đời sống được phản ánh thông qua hệ thống phạm trù chính trị - xã hội và tư tưởng lập trường đối lập, loại trừ nhau: địch – ta, cũ – mới Văn học hôm nay lại hướng đến những vấn
đề nhân sinh trong nội bộ chúng ta, giữa chúng ta với nhau Văn học trước
1975 là tiếng nói phát ngôn cho ý thức cộng đồng và những chuẩn mực quy phạm đã được thực hiện hóa trong ý thức cá nhân Văn học sau 1975 lại là sự bùng nổ của ý thức cá nhân trước nhu cầu tự nhận thức, tự biểu hiện của dân tộc và thời đại Vậy là hai giai đoạn văn học khác nhau gắn với hai tâm thế sáng tạo khác nhau: một đằng là sáng tác theo tinh thần và ý thức cộng đồng; một đằng là sáng tác theo kinh nghiệm và ý thức cá nhân Ở cả hai giai đoạn
ấy đã có những người chiến sĩ văn hóa sung sức cho cuộc chiến của dân tộc
và cả những ngổn ngang cuộc sống thời bình Từ Nguyễn Đình Thi, Anh Đức, Phan Tứ, Nguyễn Quang Sáng cho đến Nguyễn Khải, Nguyễn Minh Châu,
Ma Văn Kháng, Nguyễn Mạnh Tuấn … các tác giả đã ý thức sâu sắc về trách nhiệm cầm bút của mình
1.2. Duyên phận với nghề từ những năm 60, với hành trình cầm bút nửa thế kỉ Ma
Văn Kháng là cái tên đã để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng bạn đọc ở cả hai mảng đề tài truyện ngắn và tiểu thuyết Ông là một trong những cây bút có đóng góp đáng ghi nhận về đề tài miền núi trước năm 1975; đồng thời mở đường cho sự nghiệp đổi mới văn học những năm 80 của thế kỉ XX Quả là không quá khi đánh giá Ma Văn Kháng là một cây bút sung sức của nền văn học Việt Nam ở cả hai giai đoạn Sự sung sức ấy là cả một hành trình biến chuyển của tư duy nghệ thuật Ở đề tài dân tộc miền núi, qua những trang viết
Trang 5của mình, nhà văn đã đưa người đọc tiếp cận với cuộc sống và con người miền biên ải, để thấu hiểu, để trân trọng và tạo sự bình đẳng trong mối quan
hệ miền xuôi, miền ngược Tìm đến với cảm hứng thế sự: nhà văn đã nhìn hiện thực cuộc đời với cái nhìn nhiều chiều để thấy cả mặt bề sâu với mối quan hệ ngổn ngang, chồng chéo và phức tạp của nó
1.3. Ngay từ truyện ngắn đầu tay Phố cụt đăng trên báo Văn nghệ năm 1961 đến
các tác phẩm trước năm 1975 ở cả truyện ngắn, tiểu thuyết viết về đề tài miền
núi: Xa phủ (1969), Bài ca trăng sáng (1972), Góc rừng xinh xắn(1972),
Người con trai họ Hạng (1972), Mùa mận hậu (1972), Cái móng ngựa
(1973) đã khẳng định tài năng, tâm huyết của nhà văn Những sáng tác giai
đoạn sau 1975 từ: Gió rừng (1976), Đồng bạc trắng hoa xòe (1979), Mưa
mùa hạ(1980), Mùa lá rụng trong vườn (1985),Vùng biên ải (1983), Đám cưới không có giấy giá thú (1989), Côi cút giữa cảnh đời (1989)… Ma Văn
Kháng đã một lần nữa khẳng định được sự chuyển biến trong ngòi bút của mình Ông được nhận giải thưởng Hồ Chí Minh năm 2012 Ông xem hoạt động viết văn là phương tiện để đối thoại với những vấn đề cuộc sống đặt ra, những trăn trở, suy tư của ông được soi chiếu từ tác phẩm và hiện thực đời sống, có sức ám ảnh mạnh mẽ, phản ánh con người dưới mọi tọa độ đời sống, trong từng giai đoạn khác nhau của lịch sử dân tộc
1.4. Văn chương là một nghề nghiệp đặc thù, điều này đặt ra vấn đề về lao động
viết văn và trách nhiệm của người cầm bút Ý thức về nghề, về hoạt động sáng tạo đích thực sẽ tạo cho mỗi nhà văn lựa chọn cho mình một cá tính sáng tạo riêng, góp phần hình thành lên tạng văn của mỗi người để khi nhắc đến văn phong, thể tài người ta liên tưởng ngay đến nhà văn đó Nhưng để xác lập được sự ổn định trong lối viết và hình thành nên phong cách của mỗi nhà văn điều này còn phụ thuộc vào cái nhìn của mỗi nhà văn về đời sống Ma Văn Kháng đã chọn cho mình một con đường đi riêng trong dòng chảy chung đó
Trang 6Soi chiếu sự nghiệp của ông dưới góc độ của một hành trình tiểu thuyết hẳn là chưa đủ Hành trình ấy còn phản ánh sự chuyển biến trong tư duy nghệ thuật của Ma Văn Kháng – đó là một vấn đề cần phải lưu tâm.
1.5. Vì vậy, lựa chọn đề tài Tư duy nghệ thuật của Ma Văn Kháng trong tiểu
thuyết Đồng bạc trắng hoa xòe và Mùa lá rụng trong vườn thông qua hai
tiểu thuyết tiêu biểu cho hai giai đoạn, người viết đi sâu tìm hiểu tư duy nghệ thuật của Ma Văn Kháng giai đoạn trước 1975 – giai đoạn sau 1975 và sự chuyển biến của tư duy nghệ thuật trong tiểu thuyết của ông qua hai giai đoạn sáng tác Để từ đó cho thấy cái “bề sâu, bề xa” trong đường đời tiểu thuyết của ông; cùng những đóng góp của Ma Văn Kháng với nền văn học nước nhà
2. Lịch sử vấn đề.
Với chặng đường năm mươi năm trong sự nghiệp văn chương, Ma Văn Kháng là nhà văn viết đều, viết khỏe và thành công ở cả hai thể loại truyện ngắn và tiểu thuyết Ông đã có một gia tài sáng tác đồ sộ Vì thế những tác phẩm của ông được giới nghiên cứu, nhà phê bình và bạn đọc quan tâm Đã có hàng loạt những công trình nghiên cứu, những bài viết về những tác phẩm của ông cả về truyện ngắn và tiểu thuyết Trong đó có những công trình nghiên cứu
về hai tiểu thuyết Đồng bạc trắng hoa xòe và Mùa lá rụng trong vườn:
Có thể kể đến bài viết “Đọc Đồng bạc trắng hoa xòe” của nhà văn
Hoàng Tiến Bài viết được in ở phần đầu tác phẩm với tư cách lời giới thiệu.Sau đó, bài viết còn được in trên Tạp chí Văn học số 1/1980.Đây là một bài viết công phu, thể hiện sự đánh giá khách quan, công bằng về những thành công và hạn chế của tác phẩm
Cũng trong thời gian này, Báo Văn nghệ số 49 (840) ra ngày 8/12/1979
có đăng bài viết: “Đọc Đồng bạc trắng hoa xòe” của tác giả Trần Đăng
Suyền Bài viết đánh giá đầy đủ thành công cả về mặt nội dung lẫn nghệ thuật
của tác phẩm: “Đồng bạc trắng hoa xòe đã tái hiện lịch sử Lào Cai từ 1954
đến 1947(…) Có những cảnh viết sinh động, có những nhân vật được xây
Trang 7dựng công phu”(41).
Báo Tiền Phong số 2678 ra ngày 17/09/1979 đăng bài viết của Nghiêm
Đa Văn: “Chiều sâu một vùng đất biên giới” Tác giả cho rằng: “Ma Văn Kháng đã dựng lại trong Đồng bạc trắng hoa xòe bức tranh toàn cảnh xã hội
và phong tục đặc biệt bằng những hình tượng sinh động cụ thể Điều này hiếm thấy trong các tác phẩm viết về vùng cao… Ma Văn Kháng đã huy động đến hàng trăm nhân vật thuộc các dân tộc khác nhau… Nhiều nhân vật được
khắc họa số phận đầy đặn, có diện mạo rõ ràng Đồng bạc trắng hoa xòe là
một cái mốc bên đường đánh dấu sự vươn lên của anh từ thể loại nhỏ đến tiểu thuyết quy mô tầm sử thi” (59)
Bài viết của tác giả Nguyễn Văn Toại trên tạp chí Văn học số 5/1983:
“Đọc các sáng tác miền núi của Ma Văn Kháng, nghĩ về trách nhiệm của nhà văn trước một đề tài lớn” đã nhận xét: “Mảng tiểu thuyết Ma Văn Kháng cũng bộc lộ rõ những mặt mạnh cơ bản của mình trong chủ đề điển hình hóa nhân vật, trong phương pháp biểu hiện song song nhiều chủ đề lớn, trong cách miêu tả và khái quát hiện thực” (57)
Mùa lá rụng trong vườn là tiểu thuyết thu hút được sự chú ý đông đảo
của dư luận Xoay quanh tác phẩm này có những bài viết, cuộc thảo luận rất sôi nổi, công bằng và dân chủ
Trần Đăng Suyền trong bài viết “Phải chăm lo cho từng người” (Văn nghệ 40-15/10/1985) nhận xét: “Nhân vật của Ma Văn Kháng có cá tính, có
sự phát triển tính cách Ngôn ngữ nghệ thuật – tiêu biểu là Lý – sặc sỡ màu
sắc, lung linh góc cạnh, rất gần với ngôn ngữ đời sống ( ) Viết Mùa lá rụng
trong vườn, Ma Văn Kháng đã rọi một luồng ánh sáng nhân đạo khi đánh giá
con người trong thời kì khó khăn, phức tạp hiện nay” (43)
Tác giả Trần Cương trong bài viết “Mùa lá rụng trong vườn một đóng
góp mới của Ma Văn Kháng” có nhận định như sau: “ Một phong cách trữ tình, trầm lắng và sâu lắng một đôi khi nồng nhiệt say sưa, đậm đà hương vị văn hóa dân tộc – truyền thống đã thấm nhuần trong cách cảm, điệu nghĩ và
Trang 8quyết định giọng điệu chính của từng tác phẩm Ma Văn Kháng có tài trong miêu tả, dựng người, dựng chuyện và nhân vật của anh nhiều khi hiện ra rõ ràng, sắc nét y như trong hội họa Càng ngày, sự kết hợp giữa miêu tả và biểu hiện ở Ma Văn Kháng càng thêm nhuần nhị Cùng với văn chương duyên dáng và trong sáng (có gọt rũa nhưng không cầu kỳ, kiểu cách theo lối “làm văn”) cùng với thủ pháp nghệ thuật đã được vận dụng một cách thuần thục như dùng ẩn dụ, so sánh, liên tưởng, lập thế liên tưởng, song hành, sử dụng đối thoại… tất cả những cái đó, không bộn bề rối rắm, mà được điều hành nhịp nhàng cân đối bởi một tư duy nghệ thuật cần mẫn sắc sảo, đã mang lại cho tác phẩm của Ma Văn Kháng một giá trị đích thực, một phẩm chất nghệ thuật không thể trộn lẫn” (6).
Tác giả Trần Bảo Hưng trong bài viết “Mùa lá rụng trong vườn và
những vấn đề của đời sống gia đình hôm nay” (Báo phụ nữ Việt Nam số
12-24/4/1986) nhận xét: “Về bút pháp, qua tác phẩm này, Ma Văn Kháng bộc lộ
thêm một sở trường mới: khả năng biện giải, triết lí, phân tích một cách khúc triết, thông minh” (12)
Nguyễn Văn Lưu trong bài “Bàn thêm về Mùa lá rụng trong vườn (Văn nghệ 25-21/6/1986) nhận xét: “Tiểu thuyết Mùa lá rụng trong vườn tìm câu
trả lời trong sự khám phá mối quan hệ gần gũi, thân thiết với tất cả mọi người, mối quan hệ cá nhân – gia đình – xã hội Nhà văn tái hiện lại đời sống trong mỗi gia đình Việt Nam hiện nay, đặt ra những vấn đề bức thiết, mỗi con người, mỗi gia đình phải sống như thế nào và xã hội phải quan tâm trở lại như thế nào” (29)
Về vấn đề tư duy nghệ thuật, trong bài viết “Tư duy mới về nghệ thuật trong sáng tác của Ma Văn Kháng những năm 80” đăng trên tạp chí văn học
số 2/1998, Nguyễn Thị Huệ đã nhận xét: “Sau nhiều năm gắn bó với miền núi
và đề tài miền núi, trở về với văn xuôi bước vào những năm 80”… Ma Văn Kháng đã “đổi mới khá mạnh dạn trong tư duy nghệ thuật về cuộc sống và
Trang 9con người” (10).
Cũng cần kể đến những luận văn, luận án nghiên cứu về tiểu thuyết Ma
Văn Kháng như : Hành trình tiểu thuyết của Ma Văn Kháng của Đỗ Thị Diễm; Chất trữ tình trong văn xuôi Ma Văn Kháng – Tạ Thị Long; Quan
niệm về văn chương nghệ thuật của Ma Văn Kháng – Đỗ Phương Thảo; Cảm hứng bi kịch nhân văn trong tiểu thuyết Ma Văn Kháng – Bùi Thị Hương; Đặc điểm tiểu thuyết viết về đề tài thành thị của Ma Văn Kháng – Lê Văn
Chính… Đây là những tài liệu vô cùng quý giá và hữu ích cho người viết luận văn Tuy nhiên những bài viết trên về hai tiểu thuyết, những bài viết về tư duy nghệ thuật Ma Văn Kháng không nhiều, thậm chí có phần ít ỏi
Các công trình, các bài viết dù lớn hay nhỏ, dù từ cái nhìn khái quát
đến riêng lẻ thì vấn đề tư duy nghệ thuật trong hai tiểu thuyết Đồng bạc trắng
hoa xòe và Mùa lá rụng trong vườn chưa được tìm hiểu, khai thác một cách
cụ thể, công phu và có tính hệ thống Các tác giả của các bài viết chỉ nhắc đến vấn đề tư duy nghệ thuật trong giai đoạn, hay các khía cạnh khác nhau của hai cuốn tiểu thuyết Chưa có một công trình, bài viết nào đi vào nghiên cứu vấn
đề tư duy nghệ thuật trong hai tiểu thuyết Vì vậy, người viết luận văn bằng sự mến mộ văn chương và tài năng nhà văn Ma Văn Kháng; cùng những hiểu
biết, tích lũy, tìm tòi kiến thức văn chương đã lựa chọn đề tài Tư duy nghệ
thuật của Ma Văn Kháng trong tiểu thuyết Đồng bạc trắng hoa xòe và
Mùa lá rụng trong vườn để triển khai.
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những vấn đề về tư duy nghệ
thuật của Ma Văn Kháng khảo sát qua hai tiểu thuyết tiêu biểu là Đồng bạc
trắng hoa xòe (1979)và Mùa lá rụng trong vườn (1985); những vấn đề về
cuộc đời và hành trình sáng tác của Ma Văn Kháng gắn bó chặt chẽ với vấn
đề tư duy nghệ thuật của ông Đồng thời trong một chừng mực nhất định luận
Trang 10văn đi sâu nghiên cứu tư duy nghệ thuật tiểu thuyết Ma Văn Kháng giai đoạn trước và sau 1975; sự chuyển biến trong tư duy từ hai giai đoạn: tư duy gắn với: kết cấu, nhân vật, không gian và thời gian trong tiểu thuyết.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Ma Văn Kháng sáng tác thành công ở cả hai thể loại truyện ngắn và tiểu thuyết, ở đây do điều kiện nghiên cứu người viết xin đi sâu vào thể loại tiểu thuyết của ông qua hai tác phẩm tiêu biểu
Trong tiểu thuyết có nhiều khía cạnh, nội dung: từ đề tài, hình thức đến cảm hứng sáng tác… đã làm nên đặc sắc tiểu thuyết Ma Văn Kháng, trong đó
có vấn đề về tư duy nghệ thuật Tư duy của nhà văn biểu hiện qua hàng loạt phương diện người viết xin khảo sát trên một số phương diện tiêu biểu: kết cấu, nhân vật và không gian – thời gian
Tư duy nghệ thuật của nhà văn bộc lộ trong toàn bộ sáng tác tiểu thuyết, người viết xin lựa chọn hai tiểu thuyết tiêu biểu cho hai giai đoạn là :
Đồng bạc trắng hoa xòe (1979) và Mùa lá rụng trong vườn(1985, tái bản
2011) để triển khai đề tài Tư duy nghệ thuật của Ma Văn Kháng trong tiểu
thuyết Đồng bạc trắng hoa xòe và Mùa lá rụng trong vườn.
4. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ ở những vấn đề lý thuyết tư duy nghệ thuật nói chung và tư duy nghệ thuật tiểu thuyết nói riêng, luận văn sẽ đi sâu làm rõ đặc điểm tư duy nghệ thuật của Ma Văn Kháng Qua hai tiểu thuyết người viết làm rõ hai chặng đường tư duy của nhà văn: chặng đầu viết tiểu thuyết và chặng sau khi
Ma Văn Kháng trở thành cây bút tiểu thuyết vững vàng; đồng thời chỉ ra sự chuyển biến trong tư duy nghệ thuật của ông
5. Phương pháp nghiên cứu
Để hoàn thành luận văn, trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu chủ yếu như: Phương pháp phân tích; Phương pháp khảo sát, thống kê; Phương pháp khái quát tổng hợp; Phương pháp so
Trang 11sánh đối chiếu; Phương pháp hệ thống.
Phương pháp phân tích: phân tích tiểu thuyết Ma Văn Kháng trên các
phương diện kết cấu, nhân vật, không gian và thời gian làm nổi vật vài trò của
tư duy kiến tạo nên các phương diện đó và ngược lại
Phương pháp khảo sát, thống kê: đi vào khảo sát hai tiểu thuyết, thống kê
các nhân vật, chi tiết nghệ thuật biểu hiện tư duy nghệ thuật của Ma Văn Kháng
Phương pháp khái quát tổng hợp: từ những phân tích, khảo sát đi
vào khái quát tổng hợp lại những biểu hiện của tư duy nghệ thuật trong hai tiểu thuyết
Phương pháp so sánh đối chiếu: So sánh tiểu thuyết Ma Văn Kháng
với các tác giả cùng thời; so sánh các chương phần; so sánh các tiểu thuyết với nhau
Phương pháp hệ thống: Xem tư duy nghệ thuật của Ma Văn Kháng
trong tiểu thuyết là một hệ thống để khảo sát Mặt khác, đặt tiểu thuyết Ma Văn Kháng vào cùng hệ thống các tác phẩm cùng thể tài để làm nổi bật sự khác biệt của Ma Văn Kháng trong tư duy nghệ thuật so với các tác giả khác
6. Đóng góp của luận văn
Lâu nay đã có rất nhiều công trình và bài viết nghiên cứu về cuộc đời,
sự nghiệp Ma Văn Kháng cũng như tiểu thuyết của nhà văn Đó là những công trình nghiên cứu về hành trình sáng tác tiểu thuyết; hay các công trình đánh giá về từng tác phẩm cụ thể; có cả những bài viết về một khía cạnh riêng của nội dung cảm hứng, nhân vật, đề tài, cốt truyện trong một truyện ngắn hay từng tiểu thuyết riêng lẻ song chưa thật đầy đủ về những nội hàm sâu sa trong
sáng tác của ông Với đề tài nghiên cứu Tư duy nghệ thuật của Ma Văn
Kháng trong tiểu thuyết Đồng bạc trắng hoa xòe và Mùa lá rụng trong
vườn luận văn mong muốn đóng góp thêm một cái nhìn khác – cái nhìn tổng
thể có chiều sâu trong tiểu thuyết của ông đó là mối quan hệ giữa: “vốn” viết văn – tư duy – thể nghiệm trong từng trang viết của Ma Văn Kháng Từ đó mong muốn làm nổi bật đặc điểm tư duy nghệ thuật của nhà văn; những thành
Trang 12tựu cùng những đóng góp trong thể loại tiểu thuyết của ông; đồng thời phác họa một chân dung toàn diện về sự lao động miệt mài của nhà văn trong suốt quá trình vận động và phát triển của lịch sử văn học dân tộc.
7. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn được triển khai thành 4 chương:
Chương I: Khái lược tư duy nghệ thuật và hành trình sáng tác của Ma
Văn Kháng
Chương II: Tư duy nghệ thuật qua kết cấu trong tiểu thuyết Đồng bạc
trắng hoa xòe và Mùa lá rụng trong vườn.
Chương III: Tư duy nghệ thuật qua nhân vật trong tiểu thuyết Đồng
bạc trắng hoa xòe và Mùa lá rụng trong vườn.
Chương IV: Tư duy nghệ thuật qua không gian và thời gian trong tiểu
thuyết Đồng bạc trắng hoa xòe và Mùa lá rụng trong vườn.
Trang 13NỘI DUNG CHƯƠNG I KHÁI LƯỢC TƯ DUY NGHỆ THUẬT VÀ HÀNH TRÌNH SÁNG TÁC CỦA MA VĂN KHÁNG
1.1.Một số vấn đề lý luận về tư duy nghệ thuật
1.1.1.Tư duy nghệ thuật
1.1.1.1 Khái niệm tư duy nghệ thuật
Khởi nguyên của sự phát triển xã hội là tư duy, nhờ có tuy duy mà con người tồn tại và phát triển Tư duy không chỉ là đối tượng nghiên cứu của khoa học tâm lý, triết học mà còn là đối tượng nghiên cứu của lĩnh vực nghệ
thuật.Vậy tư duy là gì?“Từ điển triết học” của M.Rodentan, P Iudin có định nghĩa về tư duy như sau: “Tư duy là hoạt động nhận thức lí tính của con
người Khí quan của tư duy chính là bộ óc người với một hệ thống tinh vi gần
16 tỷ tế bào thần kinh” Theo M.Rodentan, P Iudin rõ ràng: trước hết tư duy
đã trở thành dạng hoạt động trí tuệ của con người hướng tới sự sáng tạo và tiếp nhận một vấn đề nào đó Đó chính là giai đoạn cao của quá trình nhận thức, đi sâu vào bản chất và phát hiện ra tính quy luật của sự vật, hiện tượng Lịch sử của vấn đề tư duy nghệ thuật được đề cập đến từ rất lâu Trên thế giới,
tư duy nghệ thuật là một trong những vấn đề quan trọng của lý luận văn học Phủ nhận lý trí và đề cao bản năng trong tư duy sáng tạo một cách toàn diện
và sâu sắc nhất là S.Phrơt Ông cho rằng tư duy nghệ thuật là “sự giải tỏa trạng thái tinh thần của người nghệ sĩ”(48)
Hêghen (1770 – 1831) là người đề cao mối quan hệ biện chứng giữa nội dung và hình thức, giữa chủ quan và khách quan, giữa tình cảm và lý trí trong tư duy nghệ thuật
Phát triển tư tưởng biện chứng của Hêghen, thấm nhuần quan điểm duy vật của chủ nghĩa Mác –Lê nin, các nhà lý luận văn nghệ Xô Viết đã nghiên
Trang 14cứu tư duy nghệ thuật từ nhiều phương diện khác nhau:
L.I.Timôphêép (1903 – 1984) từ góc độ nghiên cứu điển hình hóa nghệ thuật để bàn về xây dựng hình tượng, chỉ ra quá trình “khái quát hóa và cá thể hóa trong tư duy hình tượng” (33)
Trong công trình Lao động nhà văn, A.Xâytlin đã nghiên cứu các công
đoạn khác nhau của toàn bộ quá trình sáng tác, từ ý đồ ban đầu đến sửa chữa tác phẩm Tư duy nghệ thuật ở đây được nghiên cứu từ góc độ lao động nghệ thuật Quá trình lao động đó gắn liền với trạng thái “cảm hứng”, với “bộ mặt
xã hội của nhà văn” với “diện mạo tâm lý của nhà văn ” (1)
M.B.Khrapchenko, trong tác phẩm Sáng tạo, hiện thực, con người đã
đặt vấn đề nghiên cứu tư duy nghệ thuật như là một vấn đề lý luận quan trọng Ông cho rằng: “cái chính ở đây là làm sao xác định được những kiểu
tư duy nghệ thuật những con đường và hình thức sáng tạo hình tượng” (37) Các công trình nghiên cứu này đã có ảnh hưởng đến lý luận về tư duy nghệ thuật ở nước ta:
Tác giả Trần Đình Sử trong phần viết “Đặc trưng của tư duy nghệ
thuật”(30) đã chỉ ra nét đặc trưng, bản chất của tư duy nghệ thuật; thể
nghiệm; trực giác, hư cấu trong tư duy nghệ thuật; cá thể hóa, khái quát hóa trong tư duy nghệ thuật
Tác giả Phương Lựu với bài viết: “Tìm hiểu trực giác và vô thức trong
tư duy nghệ thuật” (32) đã nêu rõ: Tư duy nghệ thuật không hề đối lập mà
còn dung hợp với những yếu tố trực giác, phi lý tính Ông cũng khẳng định trong tư duy nghệ thuật nói chung, trong văn thơ nói riêng không có hình ảnh, cảnh vật thuần túy khách quan mà là “ý cảnh”, “ý tượng” Nghĩa là có thể xuyên thấm cái chủ quan và do đó không thể trực quan được mà chỉ có thể trực giác được mà thôi Tác giả cho rằng trực giác là một động thái của tư duy, còn vô thức là một hình thái tiền tư duy, tiền ý thức Do vậy, nói nghệ thuật được tư duy bằng hình tượng là đúng nhưng chưa đủ, với tư cách là chỉnh thể, tư duy hình tượng còn hàm chứa những yếu tố khác trong đó có
Trang 15trực giác.
Nhóm tác giả trong giáo trình Lí luận văn học cũng bàn về tư duy nghệ
thuật Các tác giả nêu lên những đặc trưng của tư duy nghệ thuật ở các khía cạnh: Tư duy hình tượng là cơ sở của tư duy nghệ thuật; tình cảm và lý tưởng trong tư duy nghệ thuật; thể nhiệm; trực giác và hư cấu trong tư duy nghệ thuật; cá thể hóa và khái quát hóa trong tư duy nghệ thuật; điển hình hóa trong văn nghệ
Tư duy còn là một quá trình nhận thức nhằm phản ánh những thuộc tính bản chất, những liên hệ và có tính chất quy luật của sự vật và hiện tượng
trong hiện thực khách quan mà ta chưa hề biết Theo Từ điển tiếng Việt do
Hoàng Phê chủ biên cùng nhiều tác giả khác nhà xuất bản Đà Nẵng trung tâm
từ điển học Hà Nội Đà Nẵng 1995 thì tư duy được định nghĩa như sau: “Tư
duy là giai đoạn cao của quá trình nhận thức đi sâu vào bản chất và phát hiện ra tính quy luật của sự vật bằng những hình thức như hiện tượng, khái niệm, phán đoán và suy lý” “Đặc trưng của tư duy là phản ánh các mối quan
hệ của con người đối với thế giới khách quan, quan hệ của con người với con người và quan hệ giữa các sự vật hiện tượng; truy tìm các mối quan hệ, biểu diễn các mối quan hệ đó bằng các phương tiện ngôn ngữ, đó là toàn bộ chức năng nhận thức của tư duy Nhờ có tư duy tiến bộ mà con người dần có những tư tưởng tiến bộ” (40,18) “Tư tưởng và tư duy có mối quan hệ mật thiết Phương pháp tư duy đúng mà quan niệm sai thì ngày càng dẫn sâu vào sai lầm Ngược lại, xuất phát điểm tư tưởng tư duy đúng nhưng phương pháp
tư duy sai thì sẽ phát triển thành một tư tưởng khác, mâu thuẫn với lúc đầu Phù hợp với hiện thực đó là yêu cầu và tiêu chuẩn của nhận thức mà tư duy muốn đạt tới Không có ngôn ngữ thì tư duy chỉ là những dự báo mơ hồ, những phản ứng có tính bản năng trước hiện thực” (40,17).
Quá trình phát triển nghiên cứu người ta chia tư duy thành hai loại hình
là tư duy bằng hình tượng và tư duy ngôn ngữ Tư duy bằng hình tượng gồm
Trang 16tư duy hình ảnh, âm thanh hay gọi là tưởng tượng Tư duy bằng ngôn ngữ là
tư duy bằng hệ thống từ ngữ biểu hiện thành các phân đoạn Tư duy (Pense’e)
là toàn bộ những hoạt động tâm lí của con người, chỉ có con người mới có, đó
là đời sống trí tuệ của con người Tư duy được phân biệt với ý thức Ý thức là
tư duy ở trạng thái tĩnh còn tư duy ở trạng thái động, tư duy là hoạt động nhận thức của con người Nói đến ý thức là nói đến sự “phản ánh” hiện thực của hoạt động tâm lí Tư duy còn được phân biệt với trí tuệ, trí thông minh Ở một mức độ nào đó, có những con vật cũng có trí thông minh mặc dù chúng không
có tư duy Tư duy và lí trí không phải là một Nói đến lí trí là nói đến cái logic
có tính nguyên tắc của nhận thức Nói đến tư duy là nói đến sự vận động có tính tổng thể của các yếu tố tư tưởng và tình cảm, cảm xúc và lí trí nhằm mục đích nhận thứcbiểu đạt của tư tưởng bằng tư duy Chúng ta lại có tư duy nghệ thuật và tư duy lí luận Tư duy nghệ thuật là tư duy được thể hiện và được thực hiện trong quá trình sáng tạo, cảm thụ nghệ thuật Sáng tạo và cảm thụ là hình thái đặc trưng và hình thái cao nhất của hoạt động thẩm mỹ trong sáng
tạo và cảm thụ bao hàm cả đánh giá giá trị “Tư duy không chỉ là sản phẩm
của xã hội hay chỉ là sản phẩm tự nhiên, mà là sản phẩm có tính tổng hòa của nhân loại Tư duy là kết quả phát triển của vật chất tự tổng hợp qua hàng vạn, hàng triệu năm… Sự ra đời của tư duy chính là bằng chứng về sự xuất hiện của con người”(40,16).
Vậy tư duy nghệ thuật là gì? Sự khác biệt giữa tư duy nghệ thuật với tư
duy lí luận? Theo Từ điển thuật ngữ văn họcdo Lê Bá Hán chủ biên – NXB giáo dục 1992 trang 260 viết: “Tư duy nghệ thuật là dạng hoạt động trí tuệ
của con người hướng tới sáng tạo và tiếp nhận tác phẩm nghệ thuật phù hợp với chức năng phi đối xứng của bán cầu đại não và lý thuyết về hai típ nhân cách thì tư duy nghệ thuật dựa trên nền tảng tâm sinh lí khác hẳn với tư duy
lý luận Bản chất của nó do phương thức thực tiễn tinh thần của hoạt động
Trang 17chiếm lĩnh thế giới bằng hình tượng quy định Sự chuyên môn hóa lối tư duy này tạo thành đặc trưng nghệ thuật và tiềm năng nhận thức của nó” Tác
phẩm nghệ thuật chính là đứa con tinh thần của người nghệ sĩ, thể hiện cảm quan nghệ thuật, tư duy của người cầm bút Vì thế tư duy văn học là một loại hình của tư duy nghệ thuật, vì vậy giữa các loại hình nghệ thuật và văn học có chỗ liên đới, giao thoa và chuyển hóa cho nhau Nhưng trước hết có thể thấy, trong sự đối sánh với các loại hình nghệ thuật khác, văn học với tư cách là nghệ thuật ngôn từ đã có sức mạnh riêng của nó, trở thành phương tiện giao tiếp tư tưởng, tình cảm thẩm mĩ thông dụng nhất của con người
Tác giả Lại Nguyên Ân cho rằng: “Tư duy nghệ thuật là một dạng
hoạt động trí tuệ, nhằm sáng tạo và tiếp nhận tác phẩm văn học Đây là một dạng riêng của tư duy con người, khác biệt về tính chất diễn biến, về mục tiêu cuối cùng, về chức năng xã hội, về phương thức gắn nối với thực tiễn xã hội” (4,371).
Đó là dạng hoạt động trí tuệ của con người hướng tới sáng tạo và tiếp nhận tác phẩm nghệ thuật Tư duy nghệ thuật là một bộ phận của hoạt động nghệ thuật nhằm khái quát hiện thực và giải quyết nhiệm vụ thẩm mĩ Phương tiện của nó là các biểu tượng, biểu trưng có thể trực quan được Cơ sở của nó
là tình cảm Dấu hiệu bản chất của tư duy nghệ thuật là ngoài tính giả định, ước lệ, nó hướng tới việc nắm bắt những sự thật đời sống cụ thể, cảm tính mang nội dung khả nhiên (cái có thể), có thể cảm thấy theo xác suất, khả năng
và tất yếu Chính nhờ đặc điểm này mà nội dung khái quát của nghệ thuật thường mang tính chất phổ biến hơn, triết học hơn so với sự thật cá biệt Bằng trí tưởng tượng sáng tạo vốn là chất xúc tác của hoạt động tư duy nghệ thuật, nghệ sĩ xây dựng các giả thiết, làm sáng tỏ các bộ phận bị che khuất của thực tại, lấp đầy các “lỗ hổng chưa biết” Tính cấu trúc của tư duy nghệ thuật gắn với năng lực nhìn thấy thế giới một cách toàn vẹn, nắm bắt nó qua những dấu hiệu phát sinh một cách đồng thời, phát hiện các mối liên hệ mới chưa được
Trang 18nhận ra Nhờ các đặc điểm này mà tư duy nghệ thuật có thể khắc phục sự hạn hẹp của tư duy lí thuyết, nắm bắt được các khía cạnh bị tư duy ấy bỏ qua.
“Tư duy nghệ thuật đòi hỏi một ngôn ngữ nghệ thuật hiện thực trực
tiếp cho nó Ngôn ngữ đó là hệ thống các kí hiệu nghệ thuật, các hình tượng,
các phương tiện tạo hình và biểu hiện Nó có mã nghệ thuật, tức là hệ thống năng động gồm các quy tắc sử dụng, biển hiệu để gìn giữ, tổ chức và truyền đạt thông tin Điểm xuất phát của tư duy nghệ thuật vẫn là lí tính, là trí tuệ có kinh nghiệm, biết nghiền ngẫm và hệ thống hóa các kết quả nhận thức Đặc điểm của tư duy nghệ thuật là tính lựa chọn, tính liên tưởng, tính ẩn dụ Trên
cơ sở của tư duy nghệ thuật người ta tạo ra các tư tưởng và quan niệm nghệ thuật, lựa chọn các phương tiện, biện pháp nghệ thuật Dạng tư duy này chỉ phát huy hiệu quả khi gắn với tài năng biết cảm nhận một cách nhạy bén về viễn cảnh lịch sử, nắm bắt tinh thần thời đại, dự báo tương lai và tài năng sáng tạo nghệ thuật” (9)
Tư duy hình tượng không đồng nhất với tư duy nghệ thuật Nghệ thuật thì thường có tính hình tượng nhưng hình tượng không chỉ có trong nghệ thuật Mặt khác, tư duy nghệ thuật không phải bao giờ cũng có nội dung hình tượng như là một nét đặc thù duy nhất
Tư duy hình tượng (tư duy nghệ thuật) trình bày các sự vật hiện tượng của thế giới khách quan Tư duy khoa học trình bày sự vận động có tính tất yếu của mọi sự vật và hiện tượng Tư duy khoa học và cả tư duy nghệ thuật đều phản ánh quá trình nhận thức có tính kế thừa nhưng khác nhau ở chỗ, sản phẩm tư duy khoa học thì mang tính tất yếu trong quá trình tiếp nối các tri thức khoa học, còn sản phẩm của tư duy nghệ thuật thì tính tiếp nối đó không
hề bắt buộc, không có tính tất yếu
Như vậy có thể thấy tư duy nghệ thuật là một khái niệm rộng với nhiều nội hàm Tư duy nghệ thuật là suy nghĩ và cảm xúc của người nghệ sĩ trước đối tượng nhận thức và thể hiện nó trong các hình thức nghệ thuật ngôn từ
Trang 19hoặc chất liệu nghệ thuật khác Tư duy nghệ thuật là một bộ phận của nghệ thuật giúp người nghệ sĩ nhận biết và khái quát hóa cuộc sống Nó cũng thể hiện tài năng và màu sắc riêng của người nghệ sĩ trong khái quát và sáng tạo tác phẩm.
1.1.1.2 Đặc điểm của tư duy nghệ thuật
Có thể chia phương pháp tư duy thành hai loại chính là : Phương pháp
tư duy siêu hình và phương pháp tư duy biện chứng Theo con đường của hình thái ý thức xã hội có: Tư duy khoa học; Tư duy nghệ thuật; Tư duy tôn giáo Tư duy khoa học dựa vào toán học và logic hình thức để nhận thức thực tại Đối với ngành khoa học tự nhiên, tư duy toán học giữ vai trò nòng cốt Đối với các ngành khoa học xã hội, tư duy triết học là chỗ dựa chủ yếu Tư duy tôn giáo hướng đến cái vĩnh hằng, cái phi hiện thực Mỗi tôn giáo đều có riêng một kho biểu tượng hư ảo về các nhân vật siêu phàm Kho biểu tượng đó được hình thành và phát triển theo con đường huyền thoại hóa, một nhân vật lịch sử giàu lòng vị tha và đạo đức, phẩm hạnh tuyệt vời Tư duy khoa học là sự vận động trực tiếp phương pháp tư duy logic vào trong các ngành khoa học cụ thể Tư duy nghệ thuật là sự vận dụng trực tiếp phương pháp tư duy hình tượng vào trong các ngành nghệ thuật khác nhau Đối với tư duy nghệ thuật, chúng ta có tư duy âm nhạc, tư duy hội họa, tư duy thơ ca, tư duy tiểu thuyết
Trước hết cần tìm hiểu cơ sở của tư duy Nếu cơ sở của tư duy khoa học
là tư duy bằng khái niệm, logic thì cơ sở của tư duy nghệ thuật là tư duy bằng hình tượng Đặc điểm của loại tư duy này là sự tái hiện từ xa, tách khỏi khách thể Bởi nó sử dụng hư cấu và tưởng tượng để hình thành những hình tượng nghệ thuật có tầm khái quát lớn, có sự tác động mạnh mẽ đến độc giả Sự thể hiện tình cảm xã hội là một nét tiêu biểu trong tư duy nghệ thuật Tình cảm đóng vai trò quan trọng đối với thực tiễn và nhận thức của con người Tình
Trang 20cảm thể hiện qua những trạng thái cảm xúc, tâm trạng trên cơ sở yêu ghét, phản đối hoặc tán thành Tuy nhiên tình cảm trong nghệ thuật không đồng nhất với tình cảm trong đời sống hàng ngày Trong tình cảm hàng ngày thường lẫn lộn giữa tình cảm mang tính bản năng và kinh nghiệm xã hội, còn tình cảm trong nghệ thuật mang tính bền vững, lịch sử và có ý nghĩa đối với tất cả mọi người Từ sự rung động đó nghệ sĩ không chỉ nói lên tâm trạng của một người mà còn nói lên tâm trạng của nhiều người.
Chủ thể của tư duy nghệ thuật trước hết là các nghệ sĩ, những người sáng tạo ra các tác phẩm nghệ thuật Nhưng nghệ sĩ chỉ sáng tạo tác phẩm, công chúng độc giả mới là người làm cho tác phẩm tồn tại, có đời sống thực
sự Như vậy, chủ thể của tư duy nghệ thuật bao hàm cả công chúng nghệ thuật – những người cảm thụ, thưởng thức nghệ thuật
“Tư duy nghệ thuật là tư duy tìm kiếm mọi hình thức thể hiện nội dung các sự vật, sự việc, các vấn đề, nói chung là nội dung của các đối tượng tư duy và tìm những cách thể hiện rõ nhất, đặc trưng nhất, ấn tượng nhất của nội dung đó”(49,54) “Tư duy nghệ thuật là sự khôi phục và sáng tạo các biểu tượng trực quan, là sự hình tượng hóa hiện thực khách quan theo nhận thức chủ quan Tư duy nghệ thuật chịu sự chi phối mạnh mẽ của thế giới quan, nhân sinh quan của người sáng tạo” (49,55) Tư duy nghệ thuật khác
với tư duy khoa học ở chỗ, tư tưởng và tình cảm không chỉ là năng lượng của
tư duy mà còn là đối tượng nhận thức của tư duy Hình tượng nghệ thuật được coi là hình tượng của cảm xúc, nghĩa là “năng lượng” tình cảm còn đọng lại trong hình tượng như là một yếu tố nội dung, một bộ phận hợp thành Sự vận động của ngôn ngữ nghệ thuật là biểu hiện trực tiếp của quá trình tư duy
Một đặc điểm quan trọng của tư duy nghệ thuật là: dấu hiệu của tư duy nghệ thuật giúp người đọc nhận diện được bản sắc của sáng tạo Đó là ngoài tính giả định, ước lệ, nó còn hướng tới việc nắm bắt những sự thật của đời sống cụ thể Chính nhờ đặc điểm này mà nội dung khái quát nghệ thuật
Trang 21thường phổ quát hơn so với sự thật cá biệt Tư duy nghệ thuật mang tính cấu trúc Tính cấu trúc này gắn với năng lực nhìn thấy thế giới một cách toàn vẹn,
nó bắt qua những dấu hiệu phát sinh, đồng thời phát hiện qua những mối liên
hệ mới chưa được nhận ra Nhờ đặc điểm của tư duy nghệ thuật có thể khắc phục được những hạn hẹp của tư duy lí thuyết Tư duy nghệ thuật mang tính liên tưởng, tính lựa chọn, tính nghệ thuật xây dựng nên thế giới nghệ thuật của nhà văn Nó quy định của lựa chọn các phương tiện biện pháp, giới hạn chiều sâu của sự khám phá đời sống và chi phối đến phong cách của nhà văn
Như vậy, đây là đặc trưng cơ bản của tư duy nghệ thuật trong việc sáng tạo và tiếp nhận tác phẩm nghệ thuật nói chung và văn học nói riêng Tư duy nghệ thuật nhằm tạo dựng lên một thế giới mới, có khả năng khái quát hóa, điển hình hóa cho bản chất hiện thực và mở ra những ý tưởng cho người nghệ
sĩ Với tiểu thuyết, hình tượng nghệ thuật là sự thống nhất giữa cái hiện thực
và cái lí tưởng mơ ước Nhà văn xuất phát từ hiện thực Tư duy nghệ thuật tiểu thuyết đóng vai trò chủ đạo trong hình thành tác phẩm, một tác phẩm nghệ thuật hoàn thiện đòi hỏi phải có tư duy sáng tạo nhưng không thể thiếu yếu tố nghệ thuật trong đó Một nhà văn phải suy nghĩ rất nhiều để có được một tác phẩm nghệ thuât, đặc biệt với tiểu thuyết có dung lượng dài Tìm hiểu
tư duy nghệ thuật là cơ sở để người viết đi sâu vào tìm hiểu tư duy nghệ thuật trong tiểu thuyết nói riêng
Tiếp theo cần chỉ ra vai trò của tư duy Trong nghệ thuật có nhiều loại hình nghệ thuật khác nhau vì vậy mỗi loại hình lại đòi hỏi một năng lực tư duy khác nhau Tư duy trong hội họa khác với tư duy trong âm nhạc Một loại hình là nhận thức và phản ánh sự vật, hiện tượng qua màu sắc, đường nét, hình khối, còn một loại hình qua âm thanh Trong văn học có nhiều thể loại văn học khác nhau và mỗi loại cũng là sản phẩm của tư duy mang tính loại đặc biệt Do cấu trúc tư duy khác nhau xuất phát từ cấu trúc não mỗi người
Trang 22Vì vậy có người chỉ viết được thơ, người chỉ viết được truyện ngắn, người lại chuyên tiểu thuyết Tiểu thuyết nhìn cuộc sống từ góc độ đời tư Nó miêu tả cuộc sống như một thực tại cùng thời đang sinh thành Nó hấp thụ vào bản thân yếu tố bề bộn, ngổn ngang của cuộc sống, của cái hài, cái bi, cái lớn lẫn cái nhỏ Các nhân vật tiểu thuyết là kiểu con người nếm trải, chịu đau, luôn dằn vặt về cuộc đời Tiểu thuyết miêu tả nhân vật như con người đang biến đổi trong hoàn cảnh, đang trưởng thành do cuộc đời dạy bảo Từ tư duy nghệ thuật đến tư duy nghệ thuật tiểu thuyết là quá trình nhận thức phản ánh những thuộc tính có tính bản chất có tính quy luật của sự vật, hiện tượng với những đặc trưng của nghệ thuật Quá trình nhận thức và phản ánh bản chất, quy luật hiện thực đời sống của tiểu thuyết qua những sự việc, con người hàng ngày rất đời thường, rất rộng lớn và đa dạng phát triển một cách phức tạp và phong phú, đa dạng Tư duy nghệ thuật trong tiểu thuyết mang tính chất tổng hợp
Nó nhận thức và phản ánh sự vật hiện tượng như hiện có với mọi bề bộn, ngổn ngang theo tính chất văn xuôi, không thi vị hóa lãng mạn cũng không phải sao chép nguyên si hiện thực mà vẫn đảm bảo tính điển hình, tính chọn lọc tiêu biểu, tính hư cấu và tính thẩm mĩ của tư duy nghệ thuật Trong tiểu thuyết, tư duy nghệ thuật góp phần tạo nên sự hài hòa
Tiểu thuyết kiếm hiệp lại có tư duy lãng mạn dựa vào trí tưởng tượng những nhân vật hiệp sĩ và những chiến tích phi thường Tiểu thuyết hiện thực lại xây dựng nhân vật từ tư duy bám sát hiện thực từ đề tài đến cốt truyện xây dựng nhân vật Vì đó là tư duy hiện thực Tiểu thuyết lịch sử lại có tư duy lịch
sử dựa vào lịch sử để xoay chuyển, đắp điếm, sáng tạo thêm cho sinh động sâu sắc nhưng gắn với tính chân thực của lịch sử Tiểu thuyết đa thanh là tiểu thuyết phức điệu gắn liền với một kiểu tư duy nghệ thuật đối thoại Lời nhân vật cũng đầy đủ trọng lượng như lời tác giả có giá trị ngang hàng với tác giả này tạo nên cấu trúc mới của tiểu thuyết
Trang 23Tư duy nghệ thuật tiểu thuyết cũng là quá trình nhận thức nhằm phản ánh những thuộc tính bản chất có tính quy luật của sự vật hiện tượng với những đặc trưng của văn học đồng thời có cả những đặc điểm riêng của nghệ thuật tiểu thuyết Nó nhận thức và phản ánh sự vật hiện tượng như hiện có với mọi yếu tố bề bộn, ngổn ngang theo chất văn xuôi, không khí thi vị lãng mạn hoá nhưng cũng không phải là sao chép y nguyên hiện thực mà vẫn phải đảm bảo tính điển hình, tính chọn lọc tiêu biểu, tính hư cấu và tính thẩm mỹ của tư duy nghệ thuật.
Như vậy trong tiểu thuyết, tư duy nghệ thuật góp phần tạo nên sự hài hòa giữa con người với con người, giữa cá nhân với xã hội, con người với
tự nhiên
Tư duy nghệ thuật trong tiểu thuyết luôn hướng tới cái đẹp, tư duy về cái đẹp, cổ vũ cho cái đẹp, giúp con người từ đó hoàn thiện mình hơn Hình tượng nghệ thuật chính là sự phản ánh, sự kết tinh, sự thăng hoa và tôn vinh cái đẹp trong đời sống hiện thực Khi sáng tạo hình tượng nghệ thuật, người nghệ sĩ sẽ dựa trên cơ sở khẳng định cái đẹp và phê phán cái xấu Cái đẹp là trung tâm của quan hệ thẩm mĩ, quan hệ giữa con người với hiện thực Vì thế năng lực tư duy đóng vai trò vô cùng quan trọng trong lao động nghệ thuật Trong tiểu thuyết, tư duy nghệ thuật góp phần tạo nên sự hài hòa giữa con người với con người, giữa
cá nhân với xã hội, con người với tự nhiên Hiện thực cuộc sống với những mối quan hệ chằng chịt đan xen phức tạp Nhờ có tư duy nghệ thuật mà cuộc sống đi vào văn học hay cụ thể hơn; đi vào tiểu thuyết khá phong phú đa dạng; không giới hạn không gian và thời gian Tiểu thuyết có thể phản ánh số phận của nhiều cuộc đời, những bức tranh phong tục đạo đức xã hội, các điều kiện sinh hoạt giai cấp, tái hiện nhiều tính cách đa dạng
Sự thay đổi của tư duy nghệ thuật kéo theo sự biến đổi cụ thể của biểu hiện nghệ thuật Ma Văn Kháng là nhà văn luôn ý thức được sự đổi mới, ông
Trang 24được coi là một trong số những “người đi tiềm trạm” cho đổi mới văn học: trong đó có đổi mới tư duy nghệ thuật Nó là sự vận động phù hợp với quy luật phát triển của lịch sử văn học Việt Nam Nó mở ra những ngả đường vô tận để tiểu thuyết của Ma Văn Kháng soi rọi “ngõ ngách” cuộc sống.
1.1.2.Tư duy nghệ thuật trong tiểu thuyết
1.1.2.1 Tư duy nghệ thuật trong tiểu thuyết Việt Nam trước 1975
Xã hội nào thì văn học ấy, quả là vậy! Cách mạng tháng tám năm 1945
đã giải phóng thành công dân tộc ta khỏi ách nô lệ Nhưng khi vừa giành được chủ quyền thì cũng là lúc toàn dân tộc lại đương đầu với quân xâm lược mới: Đế quốc Mĩ Đối với dân tộc nó đã mở ra một giai đoạn mới, một trách nhiệm mới, một hướng nhìn mới, một hướng đi đúng đắn cho thế hệ các nhà văn Văn học giai đoạn này là văn học chiến tranh cách mạng Một thế hệ các nhà văn trưởng thành đến độ chín cả về tuổi đời cũng như tuổi nghề, hàng loạt những cây bút mới đã thể hiện năng lực của mình Họ là những nhà văn đi đầu cho một nền văn nghệ đậm chất cách mạng Trong mọi lĩnh vực từ hội họa âm nhạc đến văn học đều tập trung vào thể hiện sức mạnh khí thế thời đại trong đó có tiểu thuyết, truyện ngắn, thi ca
Các tiểu thuyết thời kì này đã tập trung chủ yếu ở chủ đề: sức mạnh và tinh thần yêu nước của nhân dân Đề tài được đề cập đến hết sức đa dạng và phong phú Coi trọng và bám sát hiện thực là điều mà các nhà văn hướng tới
vì hiện thực là nguồn cảm hứng, chất liệu xây dựng lên tác phẩm
Về nghệ thuật, tiểu thuyết giai đoạn này mang cảm hứng sử thi lãng mạn ngợi ca Một loạt những tác phẩm được đánh giá cao về nội dung cũng
như nghệ thuật ra đời đáp ứng được yêu cầu: Đất nước đứng lên (Nguyên Ngọc), Sống mãi với thủ đô (Nguyễn Huy Tưởng), Trước giờ súng nổ (Lê Khâm), Người mẹ cầm súng (Nguyễn Thi), Hòn đất (Anh Đức), Vùng mỏ (Vũ
Huy Tâm) Nhận xét về sự đa dạng tiểu thuyết giai đoạn này, Giáo Sư Phan
Cự Đệ viết: “Nguyễn Đình Thi chúng ta có vẻ đẹp nhẹ nhõm, thanh thoát,
Trang 25trong sáng, ở Nguyên Hồng là cái xù xì gân guốc, phong phú đến mức rập rạp Trong nhà văn Tô Hoài có cái hóm hỉnh, thông minh, tinh tế và thơ mộng Văn của Nguyễn Khải có cái tỉnh táo, sắc sảo đầy tính chất phát hiện Nguyễn Huy Tưởng có cái đôn hậu, ấm áp điểm vẻ huy hoàng, tráng lệ, cái dân gian mà hiện đại của Nguyễn Thi, hiện đại mà cổ kính của Nguyễn Tuân, hùng tráng thi vị của Nguyễn Trung Thành, trữ tình thiết tha đến độ say đắm của Anh Đức, cái trí tuệ đến hài hòa cân đối đến mức cổ điển của Phan Tứ”
Quả là bức tranh đa sắc, đa diện
Sau 1975, chiến tranh kết thúc thắng lợi và bước sang thời kì hậu chiến Nhiều tác giả tiếp tục hướng vào đề tài chiến tranh cách mạng nhưng với những cách nhìn mới và lí giải mới về cuộc chiến tranh dân tộc Cuộc chiến được nhìn nhận một cách toàn diện ở nhiều góc khuất của chiến tranh, đặc biệt nhấn mạnh tính chất ác liệt, thảm khốc của cuộc chiến đấu, sự hi sinh mất mát to lớn của con người đặc biệt bước ra từ cuộc chiến Nguyễn Minh Châu được coi là nhà văn đầu tiên, mở đường cho một giai đoạn mới Hàng loạt những tác phẩm của ông tiêu biểu viết về giai đoạn này
Tiểu thuyết Việt Nam giai đoạn 1945 – 1975 có đặc điểm quan trọng nhất là đậm đà chất sử thi Chất sử thi trong các sáng tác trong giai đoạn này biểu hiện ở các phương diện: đề tài, chủ đề, nhân vật trung tâm; định hướng khai thác đến miêu tả nhân vật, khoảng cách giữa người trần thuật đối với nhân vật trần thuật… Hình tượng nhân vật trung tâm của văn học 1945 – 1975 nói chung, tiểu thuyết nói riêng là con người của tập thể, cộng đồng Cảm hứng của nhà văn đối với các hình tượng nhân vật trung tâm thường là cảm hứng ngợi ca, tôn vinh Hoàn cảnh xã hội của các nhân vật thường là những hoàn cảnh có ý nghĩa đặc biệt, đó là những khoảnh khắc cam go, gay cấn, mang tính chất thử thách về lòng yêu nước, tự tôn dân tộc
Xét về phương diện trần thuật: lập trường của người trần thuật có giá trị duy nhất đối với mọi sự đánh giá và lý giải đời sống Quan hệ giữa tác giả và
Trang 26nhân vật chính diện là mối quan hệ đồng nhất Nhà văn là người phát ngôn chân
lý, người biết trước tất cả và luôn đúng Các nhân vật đều được phân định rạch ròi nhằm thể hiện lập trường nhất quán của nhà văn Người kể chuyện đứng cao hơn so với người đọc, không bao giờ kể với thái độ do dự, hoài nghi
Ngoài ra trên phương diện ngôn ngữ và giọng điệu là thứ ngôn ngữ nhất quán, tuân thủ nguyên tắc ngữ pháp chọn lựa ngôn từ để đạt mục đích biểu cảm Giọng điệu trần thuật cũng nhất quán: giọng khẳng định ngợi ca, giọng lạc quan lạnh lùng Nhìn chung tư duy nghệ thuật tiểu thuyết trước
1975 nhất quán và mang tinh thần tiêu biểu cho thời đại
1.1.2.2.Tư duy nghệ thuật trong tiểu thuyết Việt Nam sau 1975
Sau năm 1975 cuộc sống mới mẻ của thời bình với bao vấn đề mới bức xúc của thời hậu chiến đòi hỏi văn học phải khám phá Ở thời điểm này những vấn đề của đời sống chính trị, xã hội không còn là mối quan hệ duy nhất Mở rộng phạm vi phản ánh hiện thực đã trở thành một nhu cầu bức thiết của văn học trong đó không ngoại trừ tiểu thuyết Quan niệm nghệ thuật về hiện thực và con người mới đã phá vỡ cái nhìn đơn phiến, tĩnh tại để tạo ra một cái nhìn phức tạp hơn, đa chiều hơn về con người
Trong các sáng tác văn học từ sau 1975 đến nay, tinh thần dân chủ ngày càng thấm sâu vào tư tưởng mỹ học Chất tiểu thuyết thay thế dần cho chất sử thi trong các sáng tác sau 1975 Cảm hứng thế sự thay thế dần cho cảm hứng
sử thi: tìm đến hiện thực con người, quy chiếu con người vào những số phận quen thuộc “Trong văn học đổi mới, con người không được nhấn mạnh ở góc
độ chính trị ở quan điểm giai cấp mà được nhìn ở nhiều vị thế và trong tính đa chiều của mọi mối quan hệ: con người xã hội, con người lịch sử, con người của gia đình, gia tộc, con người với phong tục, với thiên nhiên với những người khác, với chính mình… được soi chiếu ở nhiều bình diện và nhiều tầng bậc: ý thức, vô thức, đời sống tư tưởng, tình cảm, đời sống tự nhiên bản năng,
Trang 27ở khát vọng cao cả, ở dục vọng tầm thường, con người cụ thể cá biệt và con người mang tính nhân loại phổ quát… Con người đa diện, đa trị, lưỡng phân, trong con người đan cài, chen lấn, giao tranh bóng tối và ánh sáng, rồng
phượng và rắn rết, thiên thần và quỷ sứ, cao cả và tầm thường” (27) Trong tư
duy nghệ thuật của nhà văn hôm nay: “con người với tất cả quan hệ xã hội của nó, thân phận và cuộc đời của nó chính là đối tượng và cũng là đặc trưng
cơ bản nhất của văn học” (58) Quan niệm con người có sự thay đổi từ con người sử thi chuyển dần sang con người thế sự đời tư
Trong tư duy tiểu thuyết, xuất hiện sự không trùng khít, không tương hợp giữa con người bên ngoài và con người bên trong, xuất hiện con người không trùng khít với tính cách Không gian tiểu thuyết tiêu biểu là không gian sinh hoạt đời thường, không gian mang tính cá nhân riêng tư Đó là không gian xác thực bắt buộc con người phải bộc lộ tận cùng bản chất của mình Về thời gian nghệ thuật của tiểu thuyết sau 1975 vẫn tồn tại thời gian cảm quan lịch sử, bên cạnh đó là sự xuất hiện của thời gian đời tư, thời gian của sinh hoạt thế sự Thời gian đó phụ thuộc vào trải nghiệm của cá nhân, bị chi phối bởi trạng thái tâm lý tình cảm cụ thể của cá nhân
Khuynh hướng trần thuật nhiều điểm nhìn được xem như một bước tiến
so với giai đoạn trước năm 1975
Mỗi điểm nhìn trần thuật gắn với một sự trải nghiệm Và như vậy, hiện thực được đánh giá theo nhiều cách Mỗi chi tiết đều là điểm rơi của tư tưởng, chi tiết nào cũng đầy sức gợi và có khả năng kích thích đối thoại rất mạnh Tiểu thuyết khẳng định thành công khát vọng dân chủ hóa nghệ thuật của thời đại bằng kiểu “người kể chuyện không đáng tin cậy” Trần thuật nhiều điểm nhìn sẽ làm cho tiểu thuyết đạt tới hiệu quả thẩm mĩ phong phú hơn, bất ngờ hơn nhờ tính đa tầng, phức điệu
Sự đổi mới trên phương diện ngôn ngữ tiểu thuyết sau 1975: ngôn ngữ
Trang 28đậm chất hiện thực – đời thường ùa vào văn học Công chúng chấp nhận và khuyến khích văn chương mở rộng vùng thẩm mĩ, chiếm lĩnh cả khu vực đời sống trước đây còn khuất lấp, từ cái cao cả đến cái thấp hèn, từ cái thiện đến cái tầm thường, cái hùng lẫn cái bi, cái hài Chưa bao giờ văn chương nói chung, tiểu thuyết nói riêng lại xuất hiện những câu chửi thề, chửi tục, lối nói trần trụi, bụi bặm, dân dã Như vậy, giọng điệu đa dạng trong tiểu thuyết: bên cạnh giọng tự tin, tự hào xuất hiện giọng hoài nghi, giọng chất vấn Hứng thú nghiên cứu đời sống và trải nghiệm cá nhân cùng thái độ tự tin về mình đem lại giọng từng trải, triết lý chiêm nghiệm Ở các nhà tiểu thuyết còn có sự xuất hiện giọng điệu giễu nhại, bỡn cợt.
Như vậy có thể thấy rõ bước phát triển của văn xuôi trên bình diện tư duy nghệ thuật Văn xuôi của ta sau 1975 đã chuyển dần từ tư duy sử thi sang
tư duy tiểu thuyết Sau 1975 như ta đã nói, hiện thực đời sống đã khác trước cần phải có cách tiếp cận phù hợp Điều đó đòi hỏi đổi mới tư duy nghệ thuật Quá trình diễn ra đầy khó khăn và thử thách Tư duy nghệ thuật đã dần chuyển biến sang tư duy tiểu thuyết là phù hợp với đối tượng phản ánh và là
quá trình tất yếu trong sự phát triển của văn học Đọc những Tâm tưởng của Bùi Hiển, Gió từ miền cát của Xuân Thiều… ở đây không chỉ ngợi ca khâm
phục mà còn có cả lí giải phân tích của hiện thực, không chỉ biết phát huy mà còn thay đổi nhiều Các phương diện khác của văn xuôi cũng được biến đổi cho phù hợp với giai đoạn sau 1975 Đề tài đạo đức thế sự phát triển mạnh
mẽ: Nguyễn Minh Châu với Bức tranh, Bến quê; Vũ Tú Nam với Sống với
thời gian hai chiều; Ma Văn Kháng với Mùa lá rụng trong vườn, Đám cưới không có giấy giá thú Vì thế văn chương là sự nếm trải suy tư, chiêm nghiệm
phanh phui, mổ xẻ sự vật hiện tượng để đi đến cùng cái bản chất của nó.Người đọc cũng được soi mình trong đó Ma Văn Kháng đã nằm trong quy luật chung đó với một màu sắc riêng
Trang 291.2. Hành trình sáng tác Ma Văn Kháng
1.2.1. Đôi nét về cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của Ma Văn Kháng
Cuộc đời
Trong đời sống văn học Việt Nam, Ma Văn Kháng là một cái tên khó
có thể thay thế Nửa thế kỷ cầm bút, ông đã xuất bản 25 tập truyện, 15 tiểu thuyết và 1 cuốn hồi ký Ông cũng dành hàng chục giải thưởng văn học trong
đó có những giải thưởng cao quý như Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam, Giải thưởng Văn học Đông Nam Á, Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật, Giải thưởng Hồ Chí Minh năm 2012… Nhắc đến ông, người ta nhớ đến
rất nhiều tác phẩm nổi tiếng như: Trăng soi sân nhỏ, Đồng bạc trắng hoa xòe,
Mùa lá rụng trong vườn, Đám cưới không có giấy giá thú, Gặp gỡ ở La Pan Tẩn, Một mình một ngựa, Bóng đêm… Một cuộc đời với nhiều biến cố, những
sự thay đổi đã tạo nên Ma Văn Kháng – là nhà văn của cái đẹp: cái đẹp trong đời thường, trong mất mát và trong khả năng tự hàn gắn những thương tích của cuộc đời, của con người
Ma Văn Kháng tên thật là Đinh Trọng Đoàn Ông sinh ngày 1 tháng 12 năm 1936 trong một gia đình tiểu tư sản nay thuộc phường Kim Liên, quận Đống Đa, Hà Nội Ông sinh ra và lớn từ cái làng ven thành Đồng Lầm Vùng đất chân lấm tay bùn, nghèo khổ
Ông từng là giáo viên dạy cấp 2, dạy môn Văn và từng làm hiệu trưởng trường cấp 3 Lào Cai Những năm 1954 – 1976, ông đã sống cả thời trai trẻ ở Lào Cai Thời trai trẻ của nhà văn là sự dấn thân say mê háo hức với tâm trạng phơi phới của tuổi trẻ vùng sơn cước khi là chiến sĩ quân đội, lúc là ông anh cán bộ, nhà giáo Và cũng chính sự sôi nổi nhiệt tình, say mê làm việc ấy
mà nhà văn đã tích lũy được nhiều tư liệu quý giá Hơn hai mươi năm công tác ở miền núi là quãng đời trẻ trung sôi nổi nhất của ông Như một người cán
bộ thực thụ, ông trực tiếp tham gia, trải qua những đợt tiễu phỉ, đi làm thuê, xây dựng hợp tác xã, dạy học, làm thư kí, làm báo, làm văn… Ông đã góp
Trang 30công sức không nhỏ cho đồng bào miền núi giai đoạn gian khổ nhất.
Ngay từ thuở thiếu niên, ông đã tham gia quân đội Năm 1950, ông được cử đi học ở khu học xá Nam Ninh, Quảng Tây, Trung Quốc Tháng 12 năm 1954, ông tốt nghiệp, về nước và tình nguyện cùng một số bạn bè đi Tây Bắc.Từ tháng 01/1955 đến tháng 3/1967 (không kể thời gian từ giữa tháng 9/1961 đến tháng 6/1963) ông đi học đại học tập trung tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội Ma Văn Kháng đã trải qua các cương vị trong ngành giáo dục: giáo viên dạy các môn khoa học xã hội ở cấp I, II; Hiệu trưởng trường cấp II, cấp III thị xã Lào Cai; rồi Trưởng phòng chuyên môn Ty Giáo dục Lào Cai Tháng 9 năm 1961, Ma Văn Kháng được cử về học tại trường Đại học Sư phạm Hà Nội Tháng 6 năm 1963, ông tốt nghiệp thủ khoa Ông từ chối lời mời ở trường làm cán bộ giảng dạy và tiếp tục về Lào Cai dạy học Ngay năm học đó, ông được bổ nhiệm làm hiệu trưởng trường cấp 3
Ngày 4/3 năm 1967 ông nhận được quyết định của ban thường vụ Tỉnh
ủy Lào Cai, điều ông lúc ấy đang là Trưởng phòng cấp II, III Ty Giáo dục Lào Cai về văn phong làm thư kí riêng cho Bí thư Trường Minh Từ 1972 – 1976 ông còn làm phóng viên, Phó Tổng biên tập báo của Đảng bộ tỉnh Lào Cai Sau khi đất nước thống nhất, từ năm 1976, Ma Văn Kháng về công tác tại Hà Nội Thời gian này ông đảm nhận nhiều chức vụ cao
Hiện nay ông và gia đình vẫn sống giản dị trong một căn hộ do nhà nước cấp trong một ngõ sát đại lộ Nguyễn Chí Thanh
Có thể nói một cuộc đời với nhiều sự kiện thăng trầm đã tạo nên một cây bút bền bỉ trong sáng tạo nghệ thuật
Sự nghiệp
Ma Văn Kháng sáng tác thành công ở cả thể loại truyện ngắn và hồi kí
Ở đâu và viết cái gì ông cũng trung thành với chủ đích ngợi ca cái đẹp, đề cao cái mới, cái nhân bản; nhất là kịch liệt phê phán, đả phá cái xấu, cái thấp hèn,
cơ hội cá nhân trong mỗi con ngươì Theo dõi toàn bộ sự nghiệp sáng tác của
Trang 31ông, thì hai vùng đề tài mà nhà văn thường viết là đề tài miền núi với con người các dân tộc thiểu số và đề tài về thành thị từ sau 1975 Điều này phù hợp với lịch sử và hành trình sống của ông Từ năm 1954 tới năm 1975, ông chủ yếu sống và làm việc ở miền núi Lào Cai Từ năm 1975 cho tới nay, ông sống và làm việc ở thủ đô Hà Nội.
Trong khối lượng đồ sộ tác phẩm văn xuôi của Ma Văn Kháng gần tròn nửa thế kỷ (gần 200 truyện ngắn, 13 tiểu thuyết cùng tác phẩm các loại khác),
không thể không nhắc tới tác phẩm truyện ngắn đầu tay Phố cụt được ông viết
trong căn nhà trọ của giáo viên ở một khu phố trung tâm thị xã Lào Cai ven
bờ sông Nậm Thi trong xanh, thơ mộng Thiên truyện báo hiệu sự xuất hiện của nhà giáo - nhà văn mới Sau một thời kì dài đúng như Ma Văn Kháng nhận xét, một mặt “người ta có ảo tưởng là có thể coi nhẹ các quan hệ gia đình Các quan hệ cha con, vợ chồng, anh em… hình như không có gì phải bàn bạc nữa”, nhưng thực ra mọi nỗi niềm gia đình riêng tư con người phải dồn nén lại cho chiến tranh khốc liệt, mặt khác, văn học hầu như chỉ được đề cập đến một vài mảng đời sống nên vấn đề gia đình không trở thành vấn đề lớn cả trong cuộc sống cũng như trong văn học Bây giờ do tổng hòa nhiều hơn mọi mặt, nhân tố riêng tư cá nhân bắt đầu “cựa quậy”, đòi “xé rào” đòi
giải phóng đáp ứng nhu cầu ngày càng phong phú của mình Phố cụt là truyện
ngắn mở đầu sự nghiệp của Ma Văn Kháng được trang trọng trên trang nhất tuần báo Văn nghệ số 136 ngày 03/03/1961 Tuy nhiên bạn đọc thật sự biết
đến tài năng của ông khi truyện ngắn Xa Phủ xuất hiện Ông liên tiếp cho ra đời năm tập truyện ngắn trong 4 năm 1969 – 1972 đó là: Mùa mận hậu (1972), Người con trai họ Hạng (1972), Góc rừng xinh xắn (1972).
Cùng ở mảng truyện ngắn, ông tiếp tục gặt hái thành công và nhận
được giải thưởng “Cây bút vàng” cho truyện ngắn Sang cha chải Cùng với
truyện ngắn Ma Văn Kháng đã nhận ra rằng: “Tiểu thuyết là cái đích nhắm
Trang 32tới Là giấc mộng huy hoàng của nhà văn” Từ đây ông cho ra đời hàng loạt tiểu thuyết sử thi có giá trị đời sống và hành trình đến với cách mạng của
đồng bào dân tộc miền núi: Gió rừng (1977), Đồng bạc trắng hoa xòe (1980),
Vùng biên ải (1983), sau này là Gặp gỡ ở La Pan Tẩn (2001), Một mình một ngựa (2009) Vì vậy ông xứng đáng được nhà nghiên cứu Nguyễn Ngọc
Thiện xếp vào “hàng ngũ hiếm hoi của các nhà văn dân tộc Kinh viết về dân tộc miền núi ở nước ta”
Sau khi thống nhất đất nước năm 1976, Ma Văn Kháng rời mảnh đất Lào Cai về Hà Nội hoạt động với tư cách là một nhà văn chuyên nghiệp Một giai đoạn sáng tác mới được mở ra cho nhà văn Sáng tác của ông được nở rộ
và bút lực sung sức, đề tài được mở rộng nhiều và chủ đề được khai thác sâu Đan xen với những tiểu thuyết viết về miền núi là những tác phẩm viết về đề tài thành thị Sau hai mươi năm xông xáo ở miền biên ải, Ma Văn Kháng trở
về Hà Nội đúng vào thời điểm nền kinh tế thị trường đang mở ra nhiều cơ hội
và thách thức, tác động đến mọi tầng lớp trong xã hội Đồng thời từng con người đều bộc lộ phẩm chất của mình với tất cả những mặt tốt xấu lẫn lộn, đa diện và phức tạp vô cùng Ma Văn Kháng đã hướng ngòi bút của mình vào tất
cả những vấn đề đời tư, thế sự và khía cạnh của con người đời sống hiện đại Ông trình làng một loạt tiểu thuyết viết về đời sống thành thị trong bước
chuyển đổi của đời sống mới: Mùa lá rụng trong vườn, Đám cưới không có
giấy giá thú, Mưa mùa hạ… Dấu ấn đầu tiên là tiểu thuyết Mưa mùa hạ
(1983) là cuốn tiểu thuyết của Ma Văn Kháng viết về thành thị Không ít người ngỡ ngàng về đổi mới của nhà văn trong cách tiếp cận và nhìn nhận hiện thực về con người Đây cũng là dấu mốc quan trọng đánh dấu bước chuyển mình khi chuyển từ đề tài miền núi sang đề tài thành thị
Đặc biệt, sau hơn nửa thế kỉ cầm bút, cho đến gần 80 tuổi trong năm
2011 và 2012 Ma Văn Kháng tiếp tục khẳng định tình yêu văn chương và sự
Trang 33dẻo dai của ngòi bút khi cho ra đời những tác phẩm về an ninh hình sự Bóng
đêm (NXB Công an nhân dân), Bến bờ (NXB Phụ nữ) Ngoài ra còn có tập
truyện ngắn Mùa thu đảo chiều (NXB Văn hóa – Văn nghệ).
Bên cạnh đó ông còn viết nhiều bài phê bình, tiểu luận Ông cho ra mắt
cuốn hồi kí Năm tháng nhọc nhằn, năm tháng nhớ thương Tiếp tục năm 2013 tập tiểu luận và bút kí về nghề văn Phút giây huyền diệu.
Như vậy, có thể thấy được một hành trình sáng tạo cần mẫn và hào hứng của nhà văn với một khối lượng lớn tác phẩm Ông quả xứng nhà văn có tài, có tâm
1.2.2.Hành trình tiểu thuyết Ma Văn Kháng
Số phận - tình cờ cũng có, chủ tâm cũng có - đã đưa ông đến vùng Lào Cai, miền đất vàng, như ông quan niệm nhuốm màu tâm linh, huyền diệu - mà
ở đó ông lập thân, lập nghiệp, thành danh với bút hiệu Ma Văn Kháng và khởi thảo cuốn tiểu thuyết đầu tay ở chính nơi đây
Trong cuốn Phút giây huyền diệu tường thuật lại quá trình sáng tác
Ma Văn Kháng chia sẻ: “Tháng 11 năm 1972, tôi viết xong tiểu thuyết
Đồng bạc trắng hoa xòe, và được nhà xuất bản Văn học in năm 1979 Với
600 trang “tôi muốn tái hiện một giai đoạn lịch sử ngắn ngủi nhưng rắc rối vào bậc nhất của cách mạng Việt Nam hiện đại, một cuộc cách mạng diễn tiến trên một địa bàn miền núi cả nghìn năm nay sống dưới ách thống trị của chế độ phong kiến thế tập phiên thần, nghèo nàn và lạc hậu, trong một không gian biên giới tỉnh Lào Cai.”
Tiếp sau Đồng bạc trắng hoa xòe là cuốn Vùng biên ải thể hiện cuộc
đấu tranh căng thẳng, ác liệt giữa lực lượng cách mạng và phản cách mạng ở
vùng biên giới phía bắc Tiếp đến là Mưa mùa hạ viết trong cảm hứng nhập
thế, tham gia vào công cuộc bảo vệ cái đẹp chân chính đang có cơ bị xô lấn
trước cái tha hóa đang tràn lan ngoài xã hội thời hậu chiến Tiểu thuyết Mùa
lá rụng trong vườn (nhà xuất bản Phụ nữ ấn hành năm 1985 và nhà xuất bản
Trang 34Văn học tái bản năm 1995) là một cuốn sách phản ánh gương mặt thời hậu chiến cùng những vấn đề nóng hổi mang tính thời đoạn của nó Năm 1989
“tôi công bố cuốn tiểu thuyết Đám cưới không có giấy giá thú… “ tôi muốn
đề cập đến số phận của người trí thức trong xã hội còn nhiều thiên kiến nặng
nề” In năm 1989 Côi cút giữa cảnh đời khai thác những tình huống mạo
hiểm kích thích tính hiếu kỳ… Cuốn sách đặt con người vào dòng đời đương
đại trong một hiện thực gay gắt và không ít buồn phiền đớn đau “Sau Côi cút
giữa cảnh đời, năm 1992 tôi cho in tiểu thuyết Chó Bi, đời lưu lạc Cuốn sách
là một bức tranh rộng rãi về cuộc sống hôm nay, về số phận không dễ dàng gì của những tấm lòng trung thực, về một niềm tin vào cái tất yếu, cái quy luật”
Tiếp sau những cuốn trên, năm 1999, “tôi cho in tiểu thuyết Ngược dòng
nước lũ, 2001 với Gặp gỡ ở La Pan Tẩn”.
Hồi tưởng những ngày cuối năm 1954 đầu năm 1955 khi đi tới quyết định không gì lay chuyển nổi là tình nguyện lên Tây Bắc dạy học sau ngày tốt nghiệp Trường Trung cấp Sư phạm, ông viết: Dạo đó “tôi đã đọc và rất
mê Truyện Tây Bắc của Tô Hoài (…) và “đã có một thôi thúc vừa da diết vừa
mơ hồ trong tôi, nó cho tôi cái cảm giác rằng ở nơi đó tôi sẽ sống thoải mái và làm được một điều gì có ích” (15,44-45) Ông khẳng định, không chút đắn đo:
“Đối với tôi, trong sự hình thành những cơ sở đầu tiên của một nhà văn, tất cả đều là nhờ thầy cô” “Và nếu hôm nay tôi có được bạn đọc công nhận là nhà văn thì công lao tạo nên tôi, trước hết là thuộc về nhà trường, nơi trau dồi lý tưởng sáng đẹp, nơi dạy tôi tình yêu đối với tiếng Việt, nơi cho tôi thấy cái đẹp kỳ lạ, cái sức mạnh vô hình, lớn lao của ngôn ngữ ông cha, trong đó, ở bậc tiểu học là sự manh nha và cảm tính; sâu sắc, ấn tượng mạnh mẽ hơn ở bậc trung học và hoàn thiện trọn vẹn, kể cả từ một tình yêu bền vững tới tri thức và kỹ năng sử dụng tiếng Việt cùng cách thức tạo lập nên các giá trị văn học, ở bậc Đại học” (15,39-40)
Sự xuất hiện những tập Đồng bạc trắng hoa xòe và Vùng biên ải cho
Trang 35thấy sự nỗ lực của Ma Văn Kháng – một cây bút thời đại – lúc bấy giờ còn đang trẻ ở đề tài phong tục – lịch sử Bền bỉ, cần mẫn đi vào đời sống, bắt rễ sâu vào những ngõ ngách phố thị, làng xã, kiên trì tìm hiểu khám phá các số phận đa đoan mà phức tạp, dị biệt nhưng đáng trọng, xới lên những vấn đề nóng bỏng của ngành giáo dục và nghề dạy học, Ma Văn Kháng trong những năm đầu đổi mới cho đến gần đây, bằng các tác phẩm xuất hiện kịp thời, đã thu hút sự quan tâm, thảo luận, bình giá của công chúng rộng rãi.
Thập kỷ 90 và cho tới những năm đầu thế kỷ này, Ma Văn Kháng vững bước trên đường đổi mới với những cảm hứng mới, tâm thế mới và khí thế ngày càng mạnh mẽ Sự nghiệp đổi mới văn học đã được khẳng định trong đó
có đóng góp tích cực của cây bút điềm đạm mà quyết liệt, bình tĩnh chọn lựa, kiên định trước những chao đảo, nhiễu loạn của văn đàn khi không tránh khỏi những xu thế cơ hội và vụ lợi của cơ chế thị trường và mở cửa văn hóa hội nhập toàn cầu Có một hiện thực không vui là sự phân định giả tạo với ít nhiều định kiến hai phe “đổi mới” và “bảo thủ” để khích bác lẫn nhau! Không
ít trường hợp thiện chí đi tìm cái mới hóa ra là nhặt lại “đống rác cũ” Mở cửa đón gió lành, gió mát nhưng sao tránh khỏi gió độc, gió chướng? Có những trường hợp vận dụng tốt yếu tố nghệ thuật hậu hiện đại nhưng cũng có những
“thử nghiệm” lạ mà không mới, còn phải chờ phán xét của thời gian Táo bạo
có khi đồng nghĩa liều lĩnh, không tránh được rủi ro Cuộc sống khi trở lại hòa bình nhưng lại không ở trạng thái bình thường, mà trong trạng thái khủng hoảng, cái tiêu cực và tích cực xã hội xen lẫn, đấu tranh với nhau Sự chuyển mình của xã hội sống trong nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp của sức mạnh đồng tiền của sự chao đảo trong xã hội, trong từng con người Tất cả những hiện thực ấy thông qua hành vi tâm lý của từng con người cụ thể, hình thành nên những con người mới trong tiểu thuyết và truyện ngắn Ánh sáng, bóng tối, trắng, đen, nhờ nhờ… đạo đức, tình yêu, tình bạn Hiện thực ấy đã tạo nên những “đứa con tinh thần” mang không khí thời đại
Trang 36Con đường hình thành tư duy nghệ thuật của nhà văn được quy định bởi sự đổi thay của lịch sử vây quanh nó Mặt khác còn được hình thành trên
cơ sở đặc điểm của chính nhà văn Trong khuôn khổ của Luận văn người viết xin đi sâu vào các phương diện kết cấu, nhân vật, không gian – thời gian trong
tiểu thuyết Đồng bạc trắng hoa xòe và Mùa lá rụng trong vườn Từ đó cho
thấy hai giai đoạn với hai tâm thế sáng tác, tư duy nghệ thuật của Ma Văn Kháng có sự chuyển biến rõ rệt nhưng đồng thời cũng có sự nhất quán
Trang 37CHƯƠNG II
TƯ DUY NGHỆ THUẬT QUA KẾT CẤU TRONG TIỂU THUYẾT
“ĐỒNG BẠC TRẮNG HOA XÒE” VÀ “MÙA LÁ RỤNG TRONG VƯỜN” 2.1 Khái niệm kết cấu
Nhiệm vụ của nhà văn là nhào nặn vốn sống để xây dựng thành những sinh mệnh nghệ thuật – tái hiện những bức tranh đời sống giàu tính khái quát, nghĩa là phải tổ chức các chất liệu sống, bỏ đi những cái thừa, phát triển thêm những cái chưa có, nối liền cái xa nhau, dừng lại dòng thời gian đang trôi, tạo thành một chỉnh thể mang giá trị nghệ thuật Một tác phẩm văn học dù dung lượng lớn hay nhỏ cũng đều là những chỉnh thể nghệ thuật, bao gồm nhiều yếu tố, bộ phận… Tất cả những yếu tố, bộ phận đó được nhà văn sắp xếp, tổ chức theo một trật tự, hệ thống nào đó nhằm biểu hiện một nội dung nhất định gọi là kết cấu Vậy kết cấu là gì? Trước hết nó là một hiện tượng xã hội văn học nói như M.B.Khrapchenko khi đề cập đến đặc tính của kết cấu tác phẩm
văn học đã viết: “Cũng như kết cấu của hiện tượng xã hội văn học khác, kết
cấu của tác phẩm văn học không thể quy vào sự tương quan của những hình thức “thuần túy” Chẳng hạn, khi nói về cấu trúc của xã hội tư bản thì trước hết là muốn đề cập sự phân chia xã hội đó thành những giai cấp, rồi sau đó
là những mối liên hệ thực tế và những mâu thuẫn tồn tại giữa chúng Và trong tác phẩm văn học, khi chú ý đến toàn bộ đặc trưng của nó, những quan
hệ kết cấu không chỉ đụng chạm đến hình thức mà còn nội dung nữa Do đó, kết cấu của tác phẩm văn học không mang tính chất đóng kín, tách biệt khỏi thế giới hiện thực, và đặc tính của thế giới nghệ thuật là nằm trong sự giao tiếp sinh động với tư liệu của hiện thực, với những hiện tượng khác của văn học và nghệ thuật”(38,256) Kết cấu là yếu tố tất yếu của mọi tác phẩm Nếu
khái niệm cốt truyện nhằm chỉ sự liên kết những sự kiện, hành động, biến cố trong tác phẩm tự sự và kịch thì kết cấu là một khái niệm rộng hơn nhiều
Bố cục chỉ là sự tổ chức hình thức bên ngoài của tác phẩm Nói cách
Trang 38khác bố cục mới chỉ là kết cấu bề mặt của tác phẩm Còn kết cấu bên cạnh việc tổ chức, sắp xếp các yếu tố của tác phẩm, kết cấu còn bao hàm sự liên kết bên trong, những mối liên hệ qua lại giữa các yếu tố thuộc về nội dung và hình thức của tác phẩm văn học trong đó có cả yếu tố bố cục.
Vì thế trước hết: kết cấu có nhiệm vụ góp phần thể hiện chủ đề và tư tưởng của tác phẩm Trong lao động sáng tạo văn học, có thể coi chủ đề tư tưởng là mục tiêu nhằm hướng tới của nhà văn trong quá trình phát hiện và xây dựng kết cấu Tiêu chuẩn cao nhất để đánh giá kết cấu một tác phẩm chính là hiệu quả diễn đạt nội dung của nó Do đó trong nội hàm khái niệm kết cấu đã thể hiện đặc trưng và chức năng cơ bản của kết cấu
“Kết cấu tác phẩm là toàn bộ tổ chức tác phẩm phục tùng đặc trưng nghệ thuật và nhiệm vụ nghệ thuật cụ thể mà nhà văn tự đặt ra cho mình.Kết cấu tác phẩm không bao giờ tách rời nội dung cuộc sống và tư tưởng trong tác phẩm” (47, 152-153) Kết cấu còn là phương tiện biểu đạt ý nghĩa nghệ thuật: là phương tiện biểu đạt ý nghĩa, kết cấu ra đời cùng lúc với ý đồ nghệ thuật của tác phẩm, cụ thể hóa cùng với sự phát triển của hình tượng”(47,157
-158) “Kết cấu tác phẩm không chỉ là mối liên hệ các hiện tượng, con người
Mối quan tâm lớn nhất của nhà văn là làm sao sắp xếp tài liệu để cho cái chính yếu được nổi bật lên, cái quan trọng gây được ấn tượng mạnh mẽ Kết cấu tác phẩm thể hiện quá trình vật lộn của nhà văn với tài liệu sống, để biểu hiện một chân lí khái quát Nó cũng phản ánh quá trình tư duy của nhà văn, quá trình vận động của tư duy ấy Tư tưởng sống động của nhà văn bao giờ cũng biểu hiện trong kết cấu và qua kết cấu”(47,159) Kết cấu luôn luôn là
phương tiện, tổ chức hình tượng nghệ thuật và khái quát tư tưởng – cảm xúc
cụ thể độc đáo Lựa chọn một kết cấu nào đó, nhà văn bao giờ cũng nhằm nâng cao sức biểu hiện của đề tài và chủ đề, tăng cường sức tác động nghệ thuật, phục vụ tối đa cho nghệ thuật và tư tưởng của tác phẩm
Các bình diện và cấp độ của kết cấu: theo quy định của thể loại thì có:
Trang 39kết cấu tự sự, kết cấu kịch, kết cấu trữ tình… Có kết cấu bề mặt và kết cấu bề sâu Kết cấu bề mặt bao gồm: kết cấu hình tượng nhân vật – kết cấu cốt truyện – kết cấu văn bản ngôn từ Cấu trúc bề sâu là phần chìm, cung cấp quy tắc, trật tự, chức năng cho tổ chức bề mặt.
Tiểu thuyết có nhiều dạng thức kết cấu tùy theo yêu cầu của đề tàì, chủ
đề hoặc theo sở trường của người viết Thậm chí người ta còn cho rằng, về nguyên tắc, tiểu thuyết không có một hình thức thể loại hoàn kết, bởi vì nó là
"sử thi của thời đại chúng ta", tức là sử thi của cái hiện tại, cái đang hàng ngày hàng giờ đổi thay, bởi vì điều quan trọng đối với nó là sự tiếp xúc tối đa với cái thực tại dang dở "chưa xong xuôi", cái thực tại đang thành hình, cái thực tại luôn bị đánh giá lại, tư duy lại Tuy thường gặp những kết cấu chương hồi, kết cấu tâm lý, kết cấu luận đề, kết cấu đơn tuyến, kết cấu đa tuyến tiểu thuyết vẫn không chịu được những chế định chặt chẽ, nó không có quy phạm
cố định và người viết thậm chí có thể phá vỡ những khuôn mẫu sẵn có để vận dụng một cách linh hoạt và sáng tạo các hình thức kết cấu khác nhau Kết cấu cho phép tạo nên một diện mạo chung nhất về tiểu loại: tiểu thuyết chương hồi, tiểu thuyết tâm lý, tiểu thuyết luận đề, tiểu thuyết đa thanh
“Tác phẩm nghệ thuật bao gồm nhiều yếu tố, nhiều thành phần phức tạp Tất cả những bộ phận khác nhau đó được nhà văn sắp xếp, tổ chức theo một hệ thống, một trật tự nhất định gọi là kết cấu” (8,257) Công việc chủ
yếu của kết cấu là tổ chức mối liên hệ giữa các yếu tố thuộc nội dung tác phẩm (tính cách và hoàn cảnh, hành động và biến cố trong cốt truyện) và các yếu tố khác thuộc hình thức (bố cục, hệ thống ngôn ngữ, nhịp điệu…) Kết cấu phải xử lí mối liên hệ giữa tuyến sự kiện và tuyến nhân vật, phải tổ chức các yếu tố tự sự sinh động, miêu tả tĩnh tại, đối thoại giữa các nhân vật, độc thoại nội tâm, thư từ giữa các nhân vật, những bình luận trữ tình phụ đề của các tác giả, tổ chức các hình thức bề ngoài của tác phẩm (tức bố cục) bao gồm các quyển, các phần, các chương, các đoạn của một cuốn tiểu thuyết
Trang 40Cốt truyện thường lý giải như một yếu tố thuộc nội dung tác phẩm, còn kết cấu là một yếu tố thuộc về hình thức Khái niện kết cấu rộng hơn khái niệm cốt truyện vì có những tác phẩm có kết cấu nhưng không có cốt truyện.
Như vậy có thể thấy: Kết cấu là toàn bộ tổ chức phức tạp và sinh động của tác phẩm thể hiện cho mục đích nghệ thuật của tác giả; những
bộ phận khác nhau đó được nhà văn sắp xếp, tổ chức theo hệ thống, trật tự gọi là kết cấu
2.2 Kết cấu nghệ thuật tiểu thuyết
Tiểu thuyết là loại hình tự sự mang tính tổng hợp cao cả về nội dung phản ánh hiện thực và các phương diện hình thức nghệ thuật Tiểu thuyết có khả năng bao quát hiện thực rộng lớn, miêu tả nhiều số phận, đi sâu phân tích tâm lý con người ở những lĩnh vực hoàn cảnh phức tạp khác nhau Chất văn xuôi đậm đặc là đặc trưng của thể loại tiểu thuyết Con người trong tiểu thuyết là con người nếm trải được nhìn nhận và phản ánh ở nhiều góc độ khác nhau, cuộc sống của tiểu thuyết là một cái gì đó chưa xong xuôi Vì thế kết cấu nghệ thuật trong tiểu thuyết đáp ứng yêu cầu phản ánh hiện thực của thể loại
Cấp độ hình tượng và cấp độ trần thuật của tiểu thuyết thường rất rộng lớn, phong phú sâu sắc như hiện thân của đời sống vào trong tác phẩm với nhiều mối quan hệ chằng chịt, nhiều tầng nhiều lớp Nó luôn được đặt trong quá trình phát triển vì vậy kết cấu của tiểu thuyết thường là kết cấu để ngỏ Kết cấu nghệ thuật tiểu thuyết phong phú tùy thuộc vào tư duy nghệ thuật của người nghệ sĩ trong từng tác phẩm cụ thể như: kết cấu tâm lí, kết cấu sự kiện, kết cấu lồng ghép, kết cấu mở… Nhìn chung về cơ bản do đặc trưng thể loại
và mục đích nghệ thuật của tiểu thuyết so với truyện ngắn, truyện vừa và các thể loại tự sự khu biệt tính tổng hợp, tính quy mô phức tạp và tính để ngỏ rất phong phú nhưng được nhà văn sắp xếp, tổ chức theo một hệ thống, một trật