Nghiên cứu về trường nghĩa, ta không chỉ tăng thêm vốn từ mà còn đưa ra cách sử dụng từ ngữ chuẩn xác và hay hơn.Không những vậy, với ý nghĩa biểu trưng của trường nghĩa được sử dụngtron
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
NGUYỄN THỊ THANH HOA
TRƯỜNG NGHĨA THIÊN NHIÊN VÀ CON NGƯỜI TÂY BẮC
TRONG TRUYỆN TÂY BẮC
Chuyên ngành: Ngôn ngữ Việt Nam
Mã số: 60220102
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Đỗ Việt Hùng
SƠN LA - 2015
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi.Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưatừng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả
Nguyễn Thị Thanh Hoa
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn thạc sĩ này, tôi đã nhận được sự động viên,giúp đỡ tận tình của các thầy cô giáo, bạn bè và người thân
Trước tiên, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới GS.TS Đỗ Việt
Hùng-người đã tận tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thànhluận văn
Tôi xin trân trọng cảm ơn các thầy giáo, cô giáo trong Trường Đại học Tây Bắc, những thầy cô giáo đã tận tình giảng dạy, quan tâm tạo điềukiện cho tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu tại trường
Đồng thời, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới gia đình, bạn bè, đồng nghiệp,những người đã ủng hộ, động viên, giúp đỡ tôi trong thời gian học tập vàhoàn thành luận văn Thạc sĩ
Sơn La, ngày 05 tháng 11 năm 2015
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Thanh Hoa
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
4 Phương pháp nghiên cứu 5
5 Đóng góp của luận văn 6
6 Cấu trúc luận văn 6
Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN 7
1.1 Lý thuyết về trường nghĩa 7
1.1.1 Khái niệm trường nghĩa 7
1.1.2 Các loại trường nghĩa 7
1.1.3 Hiện tượng chuyển trường 14
1.1.4 Khái niệm nghĩa biểu trưng 15
1.2 Khái quát chung về Truyện Tây Bắc 15
1.2.1 Nội dung chính 15
1.2.2 Hình ảnh thiên nhiên 16
1.2.3 Hình ảnh con người 17
Tiểu kết chương 1 18
Chương 2: TRƯỜNG NGHĨA THIÊN NHIÊN TÂY BẮC TRONG TRUYỆN TÂY BẮC 19
2.1 Thống kê, phân loại trường nghĩa thiên nhiên trong tập Truyện Tây Bắc .19
2.1.1 Trường nghĩa về cảnh vật mùa xuân Tây Bắc 19
2.1.2 Trường nghĩa về cảnh núi rừng Tây Bắc 22
2.1.3 Nhận xét chung 37
2.2 Ý nghĩa biểu trưng của các từ ngữ thuộc trường thiên nhiên 45
2.2.1 Biểu trưng cho nỗi đau khổ mà con người phải chịu đựng 46
2.2.2 Biểu trưng cho sức sống mãnh liệt của con người 49
Trang 5Tiểu kết chương 2 54
Chương 3: TRƯỜNG NGHĨA CON NGƯỜI TÂY BẮC TRONG TRUYỆN TÂY BẮC 55
3.1.Thống kê, phân loại trường nghĩa con người trong Truyện Tây Bắc 55
3.1.1 Trường nghĩa về người phụ nữ 55
3.1.2 Trường nghĩa về người nô lệ 61
3.1.3 Trường nghĩa về người nghèo 65
3.1.4 Trường nghĩa về giai cấp thống trị 75
3.1.5 Nhận xét chung 80
3.2 Ý nghĩa biểu trưng của các từ ngữ thuộc trường nghĩa con người 87
3.2.1 Biểu trưng cho nỗi đau khổ mà con người phải chịu đựng 87
3.2.2 Biểu trưng cho sức sống mãnh liệt của con người 90
3.2.3 Biểu trưng cho sự phê phán thế lực phong kiến và thần giáo 96
Tiểu kết chương 3 100
KẾT LUẬN 101
TÀI LIỆU THAM KHẢO 104
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trường nghĩa là một khái niệm thú vị của ngôn ngữ học Theo Đỗ Hữu
Châu, “Mỗi tiểu hệ thống ngữ nghĩa được gọi là một trường nghĩa Đó là tập hợp đồng nhất với nhau về nghĩa” Nghiên cứu về trường nghĩa, ta không chỉ
tăng thêm vốn từ mà còn đưa ra cách sử dụng từ ngữ chuẩn xác và hay hơn.Không những vậy, với ý nghĩa biểu trưng của trường nghĩa được sử dụngtrong các văn cảnh cụ thể, ta còn hiểu được cả văn hóa dân tộc cũng như suynghĩa, quan điểm của người viết Hiện giờ, khái niệm này đã được nghiên cứunhiều song chủ yếu dừng lại ở các ngữ liệu hoặc văn bản ngắn như ca dao, tụcngữ chứ chưa thấy phân tích trong các văn bản dài như truyện ngắn, tiểuthuyết,…Trường nghĩa cũng đã được đưa vào giảng dạy ở THPT, tuy nhiên
nó chỉ xuất hiện thoáng qua với số lượng ít, chưa lấy ngữ liệu từ chính vănbản văn học để phân tích Vì thế, cần đưa khái niệm này gần với học sinh hơnbằng cách nghiên cứu nó trực tiếp trên các văn bản văn học trong nhà trường
Nó vừa bổ sung thêm về khái niệm trường nghĩa vừa là một lần hiểu thêm vềvăn bản văn học
Trong các tác phẩm viết về đề tài miền núi, tập truyện “Tây Bắc” của
Tô Hoài là tập truyện xuất hiện nhiều hình ảnh thiên nhiên và con người TâyBắc vô cùng đặc sắc và giàu giá trị biểu trưng Nó tạo thành các trường nghĩađầy hấp dẫn mà chúng ta có thể đi sâu nghiên cứu.Đây là một tập truyện được
Tô Hoài viết năm 1953, ngay sau chuyến đi thực tế lên vùng cao của tác giả.Tập truyện là bức tranh miêu tả chân thực và sinh động cuộc sống vùng cao,nơi có những thân phận khổ đau, những con người nghèo khó sống dưới ách
áp bức, bóc lột của thực dân, phong kiến Tiêu biểu là nhân vật Mị trongtruyện “Vợ chồng A Phủ” Mị là người con gái đẹp và tài hoa, Mị “uốn chiếc
lá trên môi, thổi lá cũng hay như thổi sáo”, nhưng bông hoa đẹp miền sơn
Trang 7cước đó đã phải chịu một cuộc đời cay đắng, tủi nhục Để giúp cha trả nợ, cô
đã phải chịu cảnh làm con dâu gạt nợ trong nhà thống lý Pá Tra Không chỉphản ánh nỗi khổ của những người như Mị, như A Phủ, truyện còn là bài ca
ca ngợi những phẩm chất cao đẹp, sức sống mãnh liệt và khát vọng tự do cháybỏng của những người con nơi núi rừng Tây Bắc Khi chứng kiến A Phủ “chỉđêm mai là người kia chết, chết đau, chết đói, chết rét, phải chết”, khi thấydòng nước mắt của A Phủ “lấp lánh bò xuống hai hõm má đã xám đen”, Mị
đã nhớ lại, thấy thương xót cho chính mình và cho A Phủ, Mị nhận ra “chúng
nó thật độc ác”, rằng “người kia việc gì mà phải chết” Mị cởi trói cho A Phủ
để rồi chạy theo A Phủ Tình yêu cuộc sống như được thổi bùng lên trong Mị
Mị như tìm lại được con người thật đã bị lãng quên bấy lâu, đầy sức sống vàkhát khao thay đổi số phận “Truyện Tây Bắc” là tập truyện ngắn đặc sắctrong sự nghiệp văn chương của nhà văn Tô Hoài nói riêng và của văn xuôichống Pháp nói chung Tập truyện nói chung và truyện ngắn “Vợ chồng APhủ” nói riêng đã xuất sắc giành giải nhất ở thể loại truyện ngắn - giải thưởng
do Hội nghệ sĩ Việt Nam trao tặng năm 1954-1955
Vậy, trong tập “Truyện Tây Bắc”, thiên nhiên và con người Tây Bắcmang ý nghĩa biểu trưng như thế nào và được thể hiện ra sao Hiện nay, đã córất nhiều công trình nghiên cứu về tập truyện này, song chưa có công trìnhnghiên cứu nào đi sâu tìm hiểu trường nghĩa trong đó Do vậy, chúng tôi
mạnh dạn tìm hiểu, nghiên cứu đề tài: Trường nghĩa thiên nhiên và con
người Tây Bắc trong Truyện Tây Bắc Chúng tôi mong muốn rằng, đề tài
này sẽ góp một phần nhỏ vào kết quả nghiên cứu trường nghĩa của ngườiViệt, cũng như việc giảng dạy các tác phẩm trong nhà trường phổ thông
2 Lịch sử vấn đề
Từ trước đến nay, trường nghĩa cũng như tập “Truyện Tây Bắc” là đốitượng được nhiều ngành khoa học quan tâm, nghiên cứu
Trang 8Có rất nhiều nhà nghiên cứu đã có các công trình nghiên cứu đáng kể
về trường nghĩa Ví dụ như hai ngôn ngữ Đức là J.Trier và L.Weisgerber đãhoàn thiện về lí thuyết trường từ vựng – ngữ nghĩa Công trình của các ông làtài liệu cơ sở giúp chúng ta đi vào nghiên cứu sâu trường nghĩa trong ngônngữ mỗi quốc gia Lí thuyết ấy về tới Việt Nam đã được GS Đỗ Hữu Châutiếp nhận Ông đã đưa lí thuyết này vào sử dụng phù hợp tình hình ngôn ngữnước ta Năm 1973, ông có công trình “Trường từ vựng và hiện tượng đồngnghĩa, trái nghĩa” Trong công trình này, ông nêu lên các hiện tượng đồngnghĩa, trái nghĩa của từ thông qua việc phân tích trường từ vựng Năm 1975,ông tiếp tục trình bày cụ thể về trường nghĩa Công trình của ông chia trườngnghĩa ra làm 4 loại: trường nghĩa biểu vật, biểu niệm, tuyến tính và liêntưởng Các nhà nghiên cứu đã áp dụng lí thuyết này để nghiên cứu tiếng Viêt,đặc biệt trong nghiên cứu văn học
Nói tới nghiên cứu trường nghĩa trong việc sử dụng cụ thể cũng có
nhiều bài viết, như: Vài nét về sự dị biệt giữa biểu trưng của văn bản tục ngữ và biểu trưng của tục ngữ trong ngữ cảnh, Tạp chí kiến thức ngày nay,
số 547, tác giả Nguyễn Văn Nở cho rằng, tục ngữ chỉ thật sự sống, trường thọhay yểu mệnh, khi được vận dụng trong lời nói chứ không phải nhờ “nằmtrang trọng nhưng im lìm trong các công trình sưu tập về chúng” Biểu trưngcủa văn bản tục ngữ mang tính trừu tượng và khái quát, nó chỉ giới hạn trongcấu trúc hình thức, cấu trúc logic, cấu trúc hình ảnh của nó, vì vậy nên biểutrưng này tồn tại ở dạng tĩnh, trong ý thức và tư duy của con người hoặc trongcác từ điển Trong khi đó, biểu trưng của tục ngữ trong ngữ cảnh mang tínhchất linh hoạt, sinh động, cụ thể và tồn tại trong một hoàn cảnh vận dụng cụthể; ngoài ra nó còn chịu sự chi phối của các nhân tố ngôn ngữ và ngoài ngônngữ Vậy nên, khi được vận dụng, tục ngữ như được khoác lên một sinh khímới, vận động mới, phần hồn mới và đem đến một phát hiện mới do hoàn
Trang 9cảnh mới tạo ra Hay chuyên khảo: Biểu trưng trong tục ngữ người Việt của
Nguyễn Văn Nở Chuyên khảo đã tập trung nghiên cứu về nghĩa biểu trưng vàmột số biện pháp tạo nghĩa biểu trưng trong tục ngữ của người Việt Ôngphân tích các nhóm chất liệu tiêu biểu của tục ngữ người Việt bao gồm nhómchất liệu tự nhiên, chất liệu là thực vật, chất liệu là động vật, chất liệu là vậtthể nhân tạo, chất liệu là bộ phận cơ thể con người và qua đó chỉ ra dấu ấnvăn hóa, dân tộc được thể hiện qua các chất liệu biểu trưng đó Trong chuyênkhảo này, tác giả tìm hiểu đặc điểm biểu trưng của tục ngữ người Việt Ôngkhẳng định tục ngữ là một đơn vị biểu trưng toàn vẹn, ý nghĩa biểu trưng củatục ngữ không chỉ tồn tại trong các văn bản tục ngữ mà còn được mở rộngthêm trong ngữ cảnh và đi sâu vào một số biểu trưng của các câu tục ngữtrong ngữ cảnh cụ thể
Hoặc có thể nhắc tới công trình nghiên cứu trường từ vựng ở luận ánPTS “Đặc điểm trường từ vựng – ngữ nghĩa tên gọi động vật” của NguyễnThúy Khanh, luận án PTS “Trường từ vựng tên gọi bộ phận cơ thể người” củaNguyễn Đức Tồn Các luận án này có phần cơ sở lí thuyết khá hoàn thiện.Ngoài ra, cần nói tới cuốn sách “Tìm hiểu đặc trưng văn hóa dân tộc của ngônngữ và tư duy người Việt” Trong cuốn sách này, tác giả đã chỉ đặc điểm ngữnghĩa của trường tên gọi thực vật Tác giả đã trình bày cụ thể cấu trúc ngữnghĩa của trường từ vựng chỉ thực vật, sự chuyển nghĩa và ý nghĩa biểu trưng củamột số từ ngữ thực vật
Chúng ta xét về việc nghiên cứu tập “Truyện Tây Bắc” trong đó có tácphẩm “Vợ chồng A Phủ” Tác phẩm được đưa vào chương trình Ngữ văn lớp
12, vì thế có rất nhiều bài viết, sách nghiên cứu nói về nó song chỉ dừng lại ởbài viết dành cho học sinh với kiến thức cơ bản Việc nghiên cứu chuyên sâu
đa số đan lồng vào việc nhận định cả về sự nghiệp và phong cách sáng tác của
Tô Hoài Người đầu tiên nghiên cứu văn chương Tô Hoài là nhà nghiên cứu
Trang 10phê bình Vũ Ngọc Phan Trong cuốn Nhà văn hiện đại, khi giới thiệu về TôHoài, Vũ Ngọc Phan đã có những đánh giá rất thiết thực và ý nghĩa về phongcách viết tiểu thuyết của Tô Hoài Sau năm 1945, Tô Hoài đã cho ra đời nhiềutác phẩm Số lượng công trình nghiên cứu văn chương Tô Hoài cũng khôngngừng gia tăng Những nhà phê bình có tên tuổi yêu thích văn chương TôHoài như: Phong Lê, Nguyễn Đăng Mạnh, Phan Cự Đệ, Hà Minh Đức,Nguyễn Văn Long, Trần Hữu Tá, Nguyễn Đăng Điệp… đã có những đánh giáthật tinh tế khách quan về các tác phẩm và văn chương của ông.
Có thể nói, nhìn chung, các tác giả nói trên đã chỉ ra những nghiên cứu
rõ ràng , cụ thể về trường nghĩa Trong đó có cả nghiên cứu chung về trườngnghĩa và cả nghiên cứu riêng về trường nghĩa trong một tác giả, tác phẩm cụthể Bên cạnh đó, tác phẩm “Truyện Tây Bắc” cũng như tác giả Tô Hoài cũng
được nhiều nhà nghiên cứu đề cập tới Tuy nhiên, nghiên cứu về Trường
nghĩa thiên nhiên và con người Tây Bắc trong Truyện Tây Bắc thì chưa có
công trình, bài viết nào đề cập tới
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn là trường nghĩa về thiênnhiên và con người Tây Bắc trong “Truyện Tây Bắc”
4 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi chủ yếu sử dụng các phương pháp sau:
4.1 Phương pháp thống kê phân loại
Dựa trên cơ sở ngữ liệu đã chọn, chúng tôi tiến hành khảo sát, thống kê
số lượng cụ thể của từ ngữ chỉ hình ảnh thiên nhiên và con người Tây Bắctrong “Truyện Tây Bắc” và phân chia chúng vào từng nhóm riêng
4.2 Phương pháp phân tích ngữ nghĩa
Sau khi đã phân loại, chúng tôi tiến hành phân tích mối quan hệ giữa ýnghĩa bản thể và ý nghĩa liên hội, nghĩa bề mặt ngôn từ với nghĩa biểu trưng
Trang 114.3 Phương pháp phân tích tổng hợp
Sau khi thống kê, phân loại, phân tích ngữ nghĩa, chúng tôi tiến hànhphân tích ý nghĩa biểu trưng của trường nghĩa về thiên nhiên và con ngườiTây Bắc trong “Truyện Tây Bắc”, từ đó rút ra những đặc điểm cơ bản về tưduy và bản sắc văn hóa của người Tây Bắc
5 Đóng góp của luận văn
Với luận văn Trường nghĩa thiên nhiên và con người Tây Bắc trong
Truyện Tây Bắc, chúng tôi dự kiến sẽ có những đóng góp sau:
5.1 Về lý luận
Trên cơ sở kế thừa những thành quả của các công trình nghiên cứutrước, chúng tôi mong muốn luận văn sẽ góp phần bổ sung vào các kết quảnghiên cứu về trường nghĩa
Góp thêm những căn cứ để làm sáng tỏ quan niệm của người Việt, quanniệm về triết lý nhân sinh và bản sắc văn hóa của người Việt
6 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và mục lục tài liệu tham khảo, luận vănbao gồm 3 chương:
Chương 1.Cơ sở lý luận
Chương 2 Trường nghĩa thiên nhiên Tây Bắc trong Truyện Tây Bắc Chương 3 Trường nghĩa con người Tây Bắc trong Truyện Tây Bắc
Trang 12Chương 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN1.1 Lý thuyết về trường nghĩa
1.1.1 Khái niệm trường nghĩa
Trường nghĩa hay còn gọi là trường từ vựng – ngữ nghĩa, là “tập hợpcác từ và ngữ cố định trong từ vựng của một ngôn ngữ dựa vào sự đồng nhấtnào đấy về ngữ nghĩa” [4, 127]
Ngôn ngữ học Pháp dùng khái niệm trường nghĩa để ám chỉ một tậphợp gồm tất cả các nghĩa từ vựng khác nhau của một từ ngữ nào đó.Còn ĐỗHữu Châu dùng thuật ngữ trường nghĩa để gọi tắt trường từ vựng – ngữ nghĩa,tập hợp nhiều đơn vị từ vựng Do đó, ông cho rằng trường nghĩa cũng chính làtrường từ vựng – ngữ nghĩa
Theo Đỗ Hữu Châu, các đơn vị từ vựng có nghĩa biểu vật và nghĩa biểuniệm nên có trường biểu vật và trường biểu niệm.Tác giả gọi đó là các trườngdọc, tức hệ thống các từ đồng nhất về ngữ nghĩa Ngoài các trường nghĩa dọccòn có các trường nghĩa ngang, tức là các trường tuyến tính và trường liêntưởng theo cách gọi của Đỗ Hữu Châu Trường liên tưởng vừa là trườngnghĩa dọc, vừa là trường nghĩa ngang do cơ chế liên hội mà có
1.1.2 Các loại trường nghĩa
1.1.2.1 Trường nghĩa dọc
a Trường biểu vật
Theo Đỗ Hữu Châu, “các từ cùng chỉ những sự vật thuộc một phạm vi
sự vật nào đó lập thành một trường biểu vật” [4, 127].Và vì có hiện tượngnhiều nghĩa nên có nhiều từ khi xét ở nghĩa biểu vật này thì thuộc trường biểuvật này, xét ở nghĩa biểu vật khác thì thuộc trường biểu vật khác Ví dụ, từmiệng, cổ, tay, mắt, mũi… theo nghĩa chính sẽ thuộc về trường biểu vật chỉ
Trang 13người, nhưng xét theo nghĩa phụ lại thuộc trường chỉ các đồ vật như miệngchén, cổ áo, tay vịn, mắt đèn pha, mũi dao.
Cũng theo Đỗ Hữu Châu, một trường biểu vật có thể chia thành nhữngtrường nhỏ hơn Chẳng hạn, với trường biểu vật “người”, ta có các tiểu trườngnghĩa nhỏ hơn như sau:
- Người nói chung:
+ Xét về giới: đàn ông, đàn bà, nam, nữ, trai, gái…
+ Xét về tuổi tác: trẻ em, nhi đồng, thanh niên, thiếu niên, trung niên,
- Hoạt động của con người:
+ Hoạt động trí tuệ: nghĩ, suy nghĩ, ngẫm nghĩ, phân tích, tổng hợp, kếtluận…
- Hoạt động của các giác quan: nhìn, ngó, ngửi, nếm, sờ, nghe…
- Hoạt động vật lí của người:
+ Hoạt động của tay: túm, nắm, xé, cắt, chặt…
+ Hoạt động của đầu: húc, đội…
Trang 14+ Hoạt động của chân: đá, đạp, xéo, giẫm, khoèo…
+ Hoạt động dời chỗ: chạy, nhảy, đi, bò, ra, vào, lên, xuống…
+ Hoạt động thay đổi tư thế: đứng, ngồi, cúi, lom khom, ngửa, nghiêng…
- Tính chất người:
+ Tính chất ngoại hình: cân đối, tầm thước, béo, gầy, què, cụt, lùn, cao,khập khiễng…
+ Tính chất trí tuệ: thông minh, nhanh chí, sáng suốt, ngu, đần…
+ Tính chất thể hiện qua đối xử với người khác: hiền, tốt bụng, độlượng, ác, hẹp hòi, ích kỉ…
- Tính chất thể hiện qua quan hệ với người: hòa thuận, lục đục, bất hòa,đối đâu…
- Tính chất quan hệ với xã hội: lương thiện, bất lương, phi pháp…
- Trạng thái con người:
+ Trạng thái sinh lí: yếu ớt, khỏe mạnh, ốm yếu, bệnh tật, sảng khoái,
tê liệt, phê…
+ Trạng thái trí tuệ: minh mẫn, mụ mị, mụ mẫm, tỉnh táo…
+ Trạng thái nội tâm: buồn, vui, căm phẫn, phẫn nộ, giận dữ, hoảngloạn, hoang tưởng…
b.Trường biểu niệm
Theo Đỗ Hữu Châu, “căn cứ để lập nên một trường biểu niệm là khuônnghĩa nét chung (còn gọi là cấu trúc biểu niệm)” [4, 128] Và “cũng như cáctrường biểu vật, do hiện tượng nhiều nghĩa nên có những từ có thể di chuyểnvào nhiều trường biểu niệm khác nhau và trường biểu niệm lớn có thể chiathành các trường biểu niệm nhỏ” [4, 128]
Ví dụ, cấu trúc biểu niệm /hoạt động/tác động đến sự vật X/làm cho X
có tình trạng Y/ có các trường nghĩa nhỏ hơn:
- Y động hay tĩnh:
Trang 15+ Động hay tĩnh tại chỗ một cách cơ giới: rung, lắc,…
+ Y rời chỗ hoặc dừng lại: đẩy, xô, ném, lao, bật, giật, bẩy, xoay, quay,hãm, thẳng, phanh, dừng…
+ X là thiết bị cơ khí: phát động, khởi động, nổ, đóng, tắt, cúp…
+ X là trạng thái tâm sinh lí: thức, đánh thức, khêu gợi, kích tích, mê…
- Làm cho X có những biến đổi trong trạng thái Y, trạng thái Y nằmtrong bản thân X
+ Tăng hay giảm về kích thước vật lí: co, giãn, nở, đóng, khép, xẹp,bẹp, phình, giảm, tăng trọng…
+ Bị phá vỡ hay liền lại: phân, chia, phân tán, giải tán, giải tỏa, cắt,chặt, thái, bẻ, cưa, mổ, nối, hàn…
Đỗ Hữu Châu cũng lưu ý, “vì tiêu chí tập hợp trường biểu niệm là cấutrúc nghĩa biểu niệm nên thuộc một trường biểu niệm lớn hoặc nhỏ có rấtnhiều từ thuộc các trường biểu vật khác nhau” [4, 130]
Mặt khác, qua các trường biểu niệm, có thể thấy rõ sự quy đinhk, ràngbuộc giữa các từ về mặt ngữ nghĩa Chẳng hạn, nghĩa của từ giải tán bị quyđịnh bởi nghĩa của các từ tập hợp, đoàn, nhóm, hội, bầy… Ngoài ra, khi tìmhiểu nghĩa biểu niệm chính xác của từ này, không thể không đối chiếu nó vớinghĩa của các từ chia, phân chia, gần hơn là nghĩa của các từ phân tán, giảithể, giải tỏa…
1.1.2.2 Trường nghĩa ngang (trường nghĩa tuyến tính)
Theo Đỗ Hữu Châu, “trường nghĩa ngang là tập hợp tất cả các từ ngữ
có thể kết hợp với một từ ngữ nào đó lấy làm gốc để hợp thành những chuỗituyến tính (cụm từ, câu) chấp nhận được một cách bình thường đối với người
sử dụng ngôn ngữ” [4, 137]
Ví dụ, trường nghĩa ngang của từ tay là búp măng, mềm, ấm, lạnh, dẻo,dùi đục, chuối mắn, nắm, cầm, chặt, bóc, xé… Những từ như đá, đạp, dẫm…
Trang 16không thuộc trường nghĩa ngang của từ tay Trường nghĩa ngang của từ đi làngười, học sinh, con voi, con ngựa, con chó, con mèo, ngựa, xe, ô tô, xe máy,
xe đạp, tàu hỏa, xích lô, ván lướt, gà, chim cánh cụt, vịt, bò, trâu… nhanh,chậm, tập tễnh, khập khiễng, thoăn thoắt, chợ, học, làm, buôn, giày, dép…Những từ không thuộc trường nghĩa với từ đi là rắn, ruồi, sâu, muỗi, liếnthoắng, mấp máy, …
Qua những ví dụ trên, có thể rút ra những nhận xét như sau:
-“Các từ trong một trường nghĩa ngang là những từ thường kết hợptheo một chuẩn mực nghĩa phổ biến cho một ngôn ngữ chung” [4, 138] Thực
tế, chúng là những từ thuộc cùng một trường biểu vật đi với nhau sao cho nétnghĩa biểu vật của chúng phải phù hợp với nhau Chúng ta nói đi thoăn thoắt
mà không nói đi liến thoắng vì liến thoắng đòi hỏi nét nghĩa biểu vật nói,không đòi hỏi nét nghĩa biểu vật đi, mặc dù cả hai từ thoăn thoắt và liếnthoắng đều có nét nghĩa biểu niệm là [liên tiếp], [nhanh], [thành từng chuỗi]
-“Một từ nhiều nghĩa có thể lập những trường ngang khác nhau về tínhchất tùy theo nghĩa nào được lấy làm trung tâm” [4, 138] Ví dụ, từ màn vớinghĩa [tấm vải che phủ] lập thành trường nghĩa ngang với mỏng, dày, thưa,cuốn, hoa, có cánh, có cửa; với nghĩa [một phần của một vở kịch] lập thànhtrường nghĩa ngang với mở đầu, kết thúc, kịch, hài hước, bi thảm, thắt nút,
mở nút… Đối với những từ có nghĩa phương nghĩa thì trường nghĩa ngang cóthể khác với trường nghĩa ngang của ngôn ngữ toàn dân
Theo Đỗ Hữu Châu, “trong ngôn ngữ văn chương, có những trườngnghĩa ngang vượt ngoài chuẩn mực Đây là những sáng tạo của nhà văn, nhàthơ trong cách dùng từ ngữ Những kết hợp bất thường này có thể được chấpnhận rộng rãi, trở thành những kết hợp bình thường” [4 ,138] Chẳng hạn,suối, bờ… trong ngôn ngữ thơ có thể kết hợp với tóc, vai thành suối tóc, bờvai Chúng chưa thành thành tố của trường nghĩa ngang với hai từ tóc và vai,trong khi mây đã đi vào trường nghĩa ngang bình thường của tóc là tóc mây…
Trang 17-“Các từ trong một trường ngang là sự cụ thể hóa các nét nghĩa trongnghĩa biểu vật của từ” [4, 138].
-“Có rất nhiều từ đi với một từ trung tâm nào đó lập thành trường nghĩangang của nó Tuy nhiên quan hệ giữa các từ lập thành trường nghĩa ngangvới từ trung tâm, có mức độ lỏng chặt khác nhau” [4, 138].Ví dụ, lập thànhtrường nghĩa ngang có quan hệ bền chặt với từ đi là những từ đã dẫn bên trên.Cũng lập thành trường nghĩa ngang với từ đi là những từ ngữ như xe, tàu,thuyền, bộ… trong nhà, ngoài sân… một giờ, hai giờ… biền biệt, mất tăm,mất tích… nhưng những từ này có quan hệ lỏng với từ đi
Ngoài ra, “cùng với các trường nghĩa dọc, biểu vật và biểu niệm, cáctrường nghĩa ngang góp phần phát hiện ra tính hệ thống, quan hệ ngữ nghĩagiữa các đơn vị từ vựng trong từ vựng” [4, 139]
1.1.2.3.Trường liên tưởng
Theo Đỗ Hữu Châu, “khi từ ngữ của cả dân tộc hay một người có sức gợiliên tưởng, như vậy mỗi từ sẽ thành trung tâm của một trường liên tưởng” [4, 142]
Nhà ngôn ngữ học người Pháp Bally là người đầu tiên đưa ra kháiniệm trường liên tưởng.Theo ông, “mỗi từ có thể là một trung tâm của mộttrường liên tưởng” [4, 142] Chẳng hạn, từ bò (boeuf) trong tiếng Pháp cóthể gợi ra do liên tưởng
- Bò cái, bò mộng, bê, sừng, gặm cỏ, nhai trầu…
- Sự cày bừa, cái cày, cái ách…
- Những ý niệm về tính chịu đựng, nhẫn nại, sự chậm chạp, nặng nề,tính thụ động mà chúng ta hay gặp trong các lối so sánh, các thành ngữ Pháp
Trường liên tưởng có một số đặc tính như sau:
- “Trường liên tưởng của một từ gồm những từ đồng nhất về ngữ nghĩavới từ đó Ngoài ra, còn gồm những từ khác tuy không đồng nhất về nghĩanhưng thường đi kèm với từ trung tâm hay những từ đồng nhất về nghĩa với
Trang 18nó” [4, 142] Chẳng hạn, từ bò gợi ra trâu; từ trâu gợi ra trẻ chăn trâu; từ trẻchăn trâu gợi ra các từ hát, tiếng sáo, nghêu ngao, non nớt…
- Tính dân tộc: Từ bò trong tiếng Việt gợi ra các từ lúa, rơm, mụcđồng… bướng bỉnh, đần độn… mà từ boeuf trong tiếng Pháp không có Từchim đối với người Việt Nam có thể dùng cho người đàn ông, chỉ sự baynhảy, sự vui tươi, sự thoải mái, nhưng lại là điều cấm kị đối với đàn ông TâyBan Nha vì nó sẽ gợi ra những điều rất xấu xa Những từ ngữ chỉ màu sắc,cảnh vật, sự vật, vật thể thiên nhiên chắc chắn sẽ có những trường liên tưởngkhác nhau ở các dân tộc sống gần gũi với thiên nhiên, có nền kinh tế chủ yếu
là nông nghiệp so với những dân tộc có nền văn minh đại công nghiệp…
- Tính thời đại: Trường liên tưởng của một từ đơn giản như: cánh đồngđối với những người nông dân trước cách mạng tháng Tám và hiện nay khônggiống nhau Chắc chắn ngày trước từ này không thể gợi ra các từ hợp tác, độisản xuất, bờ thửa, bờ vùng, phân hóa học, máy cày, độ pH… Bởi vì, thờitrước không có những thứ ấy.Mặt khác, những cây đa, quán ngói, bầy cò đã đikhỏi trường liên tưởng của các từ này trong thời đại ngày nay
Sự thay đổi về chế độ xã hội, về ý thức chính trị, những tiến bộ trongsản xuất, những đổi mới trong đời sống… những nỗi niềm lớn của từng giaiđoạn lịch sử thu hút sự quan tâm của mọi người dân… làm cho từ ngữ biếnđộng về khả năng liên tưởng
Nếu trong một thời đại biến đổi chậm chạp, ngưng đọng thì liên tưởngcủa các từ cũng trở nên cố định, tĩnh lặng, chứa đựng các sáo ngữ, công thức,ước lệ Ngược lại, ở những thời đại đầy những biến động mau lẹ, thay đổi mỗingày một khác thì liên tưởng cũng thường xuyên được đổi mới, phong phú
Văn học của từng thời đại là nhân tố quan trọng góp phần làm hìnhthành những trường liên tưởng của các từ, nhất là những từ có phong cách vănhọc Đã một thời, hễ cứ nói đến mưa, chiều, bến đò, con sông… là chúng ta
Trang 19lại nghĩ tới tàn tạ, sầu muộn tán úa, lệ, chia li, cách biệt… Đó là những từthấm đẫm trong một lớp người, và văn học có trách nhiệm ghi lại điều đó.
- Tính cá nhân: “Do kinh nghiệm sống, do tình cảm đã từng trải, mỗingười, tùy theo lứa tuổi, tùy theo nếp sống, môi trường sống, nghề nghiệp, cónhững từ ngữ khác nhau trong những trường liên tưởng cùng từ trung tâm” [4,143] Đối với người sống quanh quẩn trong những thành phố lớn, từ tắc cùnglắm cũng chỉ gợi ra ô tô, xe đạp, xe máy, bụi bặm, ồn ào, chật chội, chờ đợi,khó chịu, chen, lách, va chạm, tai nạn,… Nhưng đối với các chiến sĩ, cácthanh niên xung phong trên tuyến đường chống Mỹ cứu nước năm xưa lại gợi
ra bức tranh nhiều màu sắc đậm nét, đầy những sự tích anh hùng như bomđạn, rốc két, sụt, lở, bom từ trường, cái chết, hố, lởm chởm, pháo sáng, thôngđường, san lấp, xe không kính…
Ngoài ra, Đỗ Hữu Châu cũng tạm xếp vào phạm vi tính chất cá nhânnhững yếu tố chung của giai cấp, giới, trình độ văn hóa, địa phương, vốn vănhọc…ở trong các trường liên tưởng
1.1.3 Hiện tượng chuyển trường
Theo Đỗ Hữu Châu, ngôn ngữ luôn luôn phải đứng trước đòi hỏi kịpthời sáng tạo ra những phương tiện mới để biểu thị những sự vật, hiện tượng
và những nhận thức mới xuất hiện trong xã hội, để thay thế những cách diễnđạt, những tên gọi đã cũ mòn, không còn khả năng gợi tả, bộc lộ cảm xúc vàgây ấn tượng sâu sắc cho người nghe
Ví dụ: Trước kia, nói tới ngân hàng là nói tới các hoạt động liên quantới tiền tệ, tuy nhiên, hiện nay, từ ngân hàng còn xuất hiện trong các vai tròkhác như: Ngân hàng đề thi, ngân hàng máu, ngân hàng dữ liệu, Hay
trước kia, lăn tăn là một từ dùng để chỉ trạng thái dao động nhẹ (về vật lý)
thì nay nó còn chỉ trạng thái tâm lý dao động, suy nghĩ chưa quả quyết củacon người
Trang 20Nghiên cứu về hiện tượng chuyển nghĩa trong từ vựng, các nhà nghiêncứu đều thống nhất có hai phương thức chuyển nghĩa đó là ẩn dụ và hoán dụ.
Hiện tượng chuyển trường này cho thấy sự chi phối lẫn nhau giữa cáctrường từ vựng trong một tác phẩm văn học để cùng phục vụ cho một mạchchủ đề, tư tưởng nhất định của tác phẩm đó
1.1.4 Khái niệm nghĩa biểu trưng
Theo Đỗ Hữu Châu, nguồn gốc của ngôn ngữ không có gì khác chính
là sự sử dụng những yếu tố, những chi tiết của đời sống hiện thực vào mụcđích thẩm mỹ Khi đi vào tác phẩm (câu nói) dưới dạng ngôn từ những yếu tố,những chi tiết ấy sẽ không còn là bản thân nó như trong thực tại, mà trở thànhhình thức do một nội dung ý nghĩa mang tính khái quát, vượt ra ngoài phạm
vi ngữ nghĩa thông dụng của những yếu tố ngôn từ được sử dụng Ta gọi đó là
ý nghĩa biểu trưng nghệ thuật
Bất cứ từ ngữ nào đi vào văn chương cũng có thể mang những ý nghĩabiểu trưng nhất định để thể hiện nội dung, tư tưởng, ý nghĩa của tác phẩm.Nếu không có ý nghĩa biểu trưng, các từ ngữ sẽ không có giá trị văn học,không xây dựng được hình tượng văn học, mà chỉ là các từ giao tiếp bìnhthường ngoài đời sống hoặc trong các loại văn bản mang tính quy phạm khác
1.2 Khái quát chung về Truyện Tây Bắc
1.2.1 Nội dung chính
1.2.1.1 Giá trị hiện thực
Tác phẩm cho thấy cuộc sống cơ cực bị đè nén áp bức nặng nề củangười dân miền núi vùng Tây Bắc dưới ách thống trị hà khắc của bọn địa chủ
và phong kiến cấu kết với thực dân Pháp
Tiêu biểu cho số phận những con người khốn khổ bị vùi dập chẳngkhác nào con sâu, con kiến, bị coi không bằng trâu ngựa
Trang 21Gía trị hiện thực của thiên truyện còn thể hiện ở chỗ người đọc thấyhiện lên ở đây rất sinh động bộ mặt tàn bạo và những hủ tục thối nát của chế
độ phong kiến ở miền núi trước cách mạng
Tập truyện còn hé mở cho người đọc thấy sự đổi đời của những conngười cùng khổ.Dưới ánh sáng của cách mạng, họ đã tham gia du kích, chuẩn
bị cùng dân làng đánh Pháp sống cuộc sống của những con người tự do
1.2.1.2 Giá trị nhân đạo
Cảm thông sâu sắc đối với người dân, thể hiện tình yêu thương, sựđồng cảm sâu sắc với thân phận đau khổ của người dân lao động miền núitrước cách mạng
Tố cáo lên án, phơi bày bản chất xấu xa tàn bạo của thế lực phong kiến
ở miền núi chà đạp lên quyền sống của con người, hiểu được ước mơ nguyệnvọng của họ, trân trọng đề cao những khát vọng chính đáng của con người
Ngợi ca vẻ đẹp tâm hồn, sức sống mãnh liệt và khả năng cách mạngcủa nhân dân Tây Bắc.Thấy được người nông dân miền núi mặc dù bị đè nén,
áp bức nặng nề nhưng họ vẫn tiềm tàng một sức sống mãnh liệt , khao kháttình yêu, hạnh phúc, tự do Đặc biệt cũng như nhiều tác phẩm ở giai đoạn này,tập truyện đề cao tình hữu ái giai cấp, sự đồng cảm của những con ngườinghèo khổ cùng cảnh ngộ
Giải phóng con người khỏi sự chà đạp, cho họ một cuộc sống mới tốtđẹp hơn Nhà văn đã tin tưởng vào sức mạnh quật khởi , tinh thần đấu tranh
để tự giải phóng của họ
1.2.2 Hình ảnh thiên nhiên
Hình ảnh thiên nhiên ấy hiện qua biết bao là địa danh Tô Hoài đã đến,như Trạm Tấu, Quỳnh Nhai, Than Uyên, Mèo Vạc, Lũng Phầy, rồi HồngNgài, Phìn Sa Đầu tiên, thiên nhiên hiện lên thật giàu chất thơ Đó là hìnhảnh mùa xuân ở Tây Bắc với ngọn khói, tấm váy hoa xòe được đem phơi,
Trang 22tiếng sáo gọi bạn tình văng vẳng đến trước ngõ mỗi nhà…Tất cả đã sẵn sàngcho một cái Tết thật sôi nổi, đầm ấm Đó còn là thiên nhiên trong không khícách mạng Các chi tiết về hình ảnh núi rừng hùng vĩ nuôi dấu cán bộ vừa nóilên đặc điểm miền Tây Bắc vừa mang tính biểu tượng cao cho sự đấu tranhvươn lên của con người Tây Bắc.
1.2.3 Hình ảnh con người
Đọc Truyện Tây Bắc, ta hiểu thêm về cuộc sống của miền núi, với
những mặt trái như những nỗi đau Tập truyện có một chủ đề rất tập trung:những người dân miền núi vừa là nạn nhân của thực dân Pháp, của chế độphong kiến, của chính những phong tục, tập quán lạc hậu, mê tín dị đoan của
mình Qua số phận của bà Ảng (Cứu đất cứu mường), Mát (Mường Giơn), và
Mỵ (Vợ chồng A Phủ), Tô Hoài cho thấy trùng điệp những nỗi khổ, để đi tới
cái nhận thức thật đau đớn và khó hiểu là làm sao con người có thể kéo dài kiếpsống lay lắt và mù mịt như thế được Họ đã đứng lên đấu tranh, giải phóng…Truyện Tây Bắc là tập hợp truyện kể về những người dân vùng Tây Bắc hiềnlành, thật thà nhưng sẵn sàng đi theo tiếng gọi của cách mạng chống lại thựcdân Pháp cướp nước Đúng như chính nhà văn Tô Hoài nhận xét rằng hình ảnhTây Bắc đau thương và dũng cảm lúc nào cũng thành nét, thành người, thànhviệc trong tâm trí ông Những chiến khu của các dân tộc một lòng kháng chiến.Dân tộc Mường ở Bản Thải, dân tộc Thái ở Ngọn Lao, người Dao Nga Hoàng
ở Suối Ron, người H’Mông ở khu 99, ở Pú Nhung, người Xá, người Puộc trênsông Nậm Mu … Trong kháng chiến, mỗi chúng ta đều trải biết rất nhiều việcdồn dập, mãnh liệt, nhiều việc tưởng không thể quên, nhưng rồi việc khác ậpđến, cái hôm qua lại nhãng đi Nhưng lần ông đi Tây Bắc này khác thế Cho tớihôm nay, ông vẫn bồi hồi nhớ như in Một ám ảnh mạnh mẽ, thúc đẩy ông sángtác - ý thức thiết tha với đề tài là một quyết định
Trang 23Tiểu kết chương 1
Trong chương 1, chúng tôi đã trình bày cơ sở lí luận bao gồm các lí thuyết
về trường nghĩa và khái quát về tập Truyện Tây Bắc của nhà văn Tô Hoài.
Trong phần lí thuyết về trường nghĩa, chúng tôi giới thuyết khái niệmtrường nghĩa và phân chia các loại trường nghĩa gồm trường nghĩa dọc(trường biểu vật và trường biểu niệm), trường nghĩa ngang (trường tuyến tính)
và trường liên tưởng.Ngoài ra, chúng tôi cũng trình bày khái niệm về hiệntượng chuyển trường và nghĩa biểu trưng của trường từ vựng Tất cả các líthuyết này, chúng tôi thống nhất đi theo quan điểm của tác giả Đỗ Hữu Châu
Trong phần khái quát về tập Truyện Tây Bắc, chúng tôi đã trình bàynhững nội dung chính gồm giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo của tập truyệnnày Ngoài ra, chúng tôi cũng nói đôi nét về hình ảnh thiên nhiên và hình ảnhcon người trong tập truyện Tây Bắc
Trang 24Chương 2 TRƯỜNG NGHĨA THIÊN NHIÊN TÂY BẮC TRONG
TRUYỆN TÂY BẮC 2.1 Thống kê, phân loại trường nghĩa thiên nhiên trong tập Truyện Tây Bắc
2.1.1 Trường nghĩa về cảnh vật mùa xuân Tây Bắc
Sau khi khảo sát ba truyện ngắn trong tập Truyện Tây Bắc, chúng tôi thống kê được các từ thuộc trường nghĩa về cảnh vật mùa xuân Tây Bắc theo bảng sau:
Tên truyện Các từ thuộc trường nghĩa cảnh vật mùa xuân Tây Bắc
Cứu đất cứu mường
Mùa gặt hái, chút vàng, lúa chín, tấp nập, nhộn nhịp,ngày mùa, phát nương, mùa gặt mới, phát nươngmới, nương lúa, chín vàng
Mường Giơn Mùa lúa, chín tới, thơm ngọt, bát ngát, cánh đồng,
vàng, sương giá, cánh đồng mới gặt, mùi rơm, còn mới
Vợ chồng A Phủ
Mương mới, mưa xuân, cỏ tranh vàng ửng, gió rét, dữdội, gió giật từng cơn, chiều buốt, lạnh teo, thong thảtới
Trong đó, có thể chia nhỏ thành các tiểu trường nghĩa thuộc trường “cảnh vật mùa xuân Tây Bắc” như sau.
Hoạt động ngoài
thiên nhiên mùa
xuân
Phát nương, phát nương mới
Ruộng lúa mùa xuân
Chút vàng, lúa chín, tấp nập, nhộn nhịp, nương lúa,chín vàng, cánh đồng mới gặt, mùi rơm, còn mới,cánh đồng, vàng, chín tới, thơm ngọt, bát ngát,nương mới
Thời tiết mùa xuân Sương giá, mưa xuân, gió rét, dữ dội, gió giật từng
cơn, chiêu buốt, lạnh teo, thong thả tới
Cần lưu ý tới các trường liên tưởng mà mỗi từ trong trường biểu vật
“cảnh vật mùa xuân Tây Bắc” gợi ra.Trong mỗi trường liên tưởng nhỏ hơn ở
Trang 25các từ thuộc trường “cảnh vật mùa xuân Tây Bắc” sẽ là tập hợp một chuỗi từđóng vai trò nghĩa tố liên tưởng Các từ này sẽ gợi ra toàn bộ cảnh vật mùaxuân Tây Bắc dựa vào tính hàm súc, gợi hình của nó.Số lượng từ ở các trườngliên tưởng này rất rộng lớn và phụ thuộc vào khả năng cảm thụ khác nhau ởtừng độc giả khi họ tiếp xúc với từ ngữ Vì vậy, trong bảng phân loại dướiđây, chúng tôi chỉ thống kê các từ và cụm từ trong trường liên tưởng theoquan điểm của mình.
Tên truyện Các từ và cụm từ trong tiểu trường liên tưởng
Cứu đất cứu mường - Mùa gặt hái: [mùa xuân], [lúa chín], [chín
vàng], [ấm áp], [nhộn nhịp], [tấp nập], [hươnglúa], [thơm ngát], [đồng nội], [cỏ cây], [sứcsống], [mơn mởn], [tiếng chim], [véo von], [vạnvật sinh sôi], [nảy nở]
- Chút vàng: [man mác], [hiu hiu], [thơ mộng],[nắng chiều]
- Lúa chín: [hương lúa], [ấm no], [đủ đầy], [tươivui]
- Tấp nập: [cười nói], [nhộn nhịp], [vui vẻ], [trànđầy sức sống], [đổi thay], [đi lên]
- Nhộn nhịp: [vui vẻ], [lễ hội], [trò chơi], [cườinói], [vui chơi], [đùa giỡn], [sung túc], [yênbình]
- Ngày mùa: [nô nức], [ấm no], [gặt hái], [thànhquả], [lao động], [lúa chín], [hương lúa], [thơmnồng]
- Phát nương: [lao động], [dựng xây], [cuộcsống], [yên bình], [chăm chỉ], [chất phác], [cầncù], [chịu khó]
Trang 26- Mùa gặt mới: [mùa xuân mới], [tươi mới], [đilên], [đầy sức sống], [dựng xây lại], [quật cường].
- Phát nương mới: [cần cù], [chịu khó], [phấnđấu], [vươn lên]
- Nương lúa: [ruộng bậc thang], [ruộng triền đổi],[ruộng triền núi], [rộng lớn], [bao la], [hùng vĩ],[rợn ngợp], [thanh mát], [yên bình], [êm ả], [ấmno], [đủ đầy], [mênh mông], [bát ngát], [khoángđạt]
- Nhín vàng: [hương thơm], [màu sắc], [thuhoạch], [thành quả], [ấm no], [đầy đủ]
Mường Giơn - Mùa lúa: [mùa bội thu], [mùa thu hoạch], [ấm no],
[đủ đầy], [tấp nập], [nhộn nhịp], [hương lúa], [thơmnồng], [dễ chịu], [thư thái]
- Chín tới: [độ xuân thì], [trẻ trung]
- Thơm ngọt: [ngon lành], [ngọt ngào]
- Bát ngát: [rộng lớn], [bao la], [hùng vĩ], [núi rừng],[đồi nương], [trùng điệp], [thoáng mát], [xanh tươi],[đầy sức sống], [đẹp đẽ], [trù phú]
- Cánh đồng vàng: [bát ngát], [mênh mông], [lúachín], [hương lúa], [thơm ngát], [gió mát], [dễ chịu],[ấm nó], [sung túc], [hạnh phúc], [vui vẻ], [thanhbình]
- Sương giá: [rét], [lạnh buốt], [cắt da cắt thịt], [mưaphùn], [ẩm ướt], [âm u], [vắng vẻ], [cô quạnh]
- Cánh đồng mới gặt: [hết vụ mùa], [nghỉ ngơi], [vuichơi], [lễ hội]
- Mùi rơm: [hương làng quê]
- Còn mới: [chớm nở], [tươi trẻ]
Vợ chồng A Phủ - Nương mới: [trỗi dậy], [dựng xây], [ruộng mới],
[đất mới], [nơi ở mới], [khai hoang], [làm lại từ đầu],
Trang 27[cần cù], [chịu khó], [quật cường], [xanh tươi], [baola].
- Mưa xuân: [rét ngọt], [ái tình], [tết đến], [xuân về],[hoa trái đơm chồi nảy lộc], [vạn vật sinh sôi nảy nở],[ấm lòng], [không khí thanh mát]
- Cỏ tranh vàng ửng: [tiêu điều], [xơ xác], [lạnh],[ héo], [úa], [tàn], [khắc nghiệt], [khô hanh]
- Gió rét: [khắc nghiệt], [rét buốt], [cắt da cắt thịt],[lạnh lẽo], [thử thách], [đông về], [đầu xuân]
- Dữ dội: [bão tố], [chiến tranh], [quật khởi], [cáchmạng], [xung đột], [đàn áp], [chém giết], [áp bức],[đánh đập], [sức mạnh]
- Gió giật từng cơn: [gào thét], [điên cuồng], [quằnquại], [đớn đau], [gào khóc], [day dứt]
- Chiều buốt: [lạnh], [rét], [mưa], [sương], [âm u],[lạnh lẽo], [khắc nghiệt], [mùa đông], [đầu xuân]
- Cạnh teo: [khắc nghiệt], [sinh tồn], [tồn tại], [thíchnghi], [nghị lực], [sức sống]
- Thong thả tới: [thư thái], [yên ả], [thanh bình], [vô
lo vô nghĩ], [tâm trạng dễ chịu], [không gấp gáp],[không vội vàng], [nguy hiểm đã qua], [cuộc sống trởlại]
2.1.2 Trường nghĩa về cảnh núi rừng Tây Bắc
Sau khi khảo sát ba truyện ngắn trong tập Truyện Tây Bắc, chúng tôi thống kê được các từ thuộc trường nghĩa về cảnh núi rừng Tây Bắc theo bảng sau.
Tên truyện Các từ thuộc trường nghĩa cảnh núi rừng Tây Bắc
Cứu đất cứu
mường
Chim kỳ, khe Mông Mang, sườn núi, sừng sững, đáxám ngắt, lúa chín, sương mù, rừng sâu, chân núi,dốc, khe, nương, khe sâu, sông Thao, trèo núi, lưngchừng núi, cánh rừng, thoai thoải, sông Đà, lũng,mỏm núi, phượng hoàng đất, cửa rừng, nương, hang
Trang 28đá, suối nước nóng, hang núi đá, suối, núi, hốc đá,nương lúa chín vàng, vi vu tiếng chim kỳ, vách dựngđứng, vang động, vượn hú, mỏm đá, vách đá, vạtrừng kín đáo, lòng núi, khe sâu, vách đá trắng toát,con sóc, mưa tầm tã trên núi, ngọn cây, cây xoan,gấu, rím, thú rừng, mô đá đen xì, cành xoan, nươngsắn, nương bông, ven suối, rừng hoang núi cao, ngọnnúi, thung, đỉnh gò cỏ tranh, đỉnh núi, lau, gò gianh,chim gõ kiến, khe suối, cánh đồng, lũng Tùm Cầu,sương mịt mùng, đầu núi, hốc đá, đồi chè, bóngsương, chân rừng.
Mường Giơn
Rét ngọt, hơi núi, ngùn ngụt phả xuống, cánh đồng,hàng tháng mịt mù, khe suối cạn, lưng núi, đồngvùng thấp, ngọn suối, dê núi, hiu hiu, nhiều sương
mù, sương lạnh, hươu, nai, suối nước nóng, cánhđồng, hang con rúi, cầy hương, trời xuống sương,sương vờn, sương xuống nặng, trời xuống thấp, sáttận đầu người, bốc hơi ngùn ngụt, ám trắng cả hai bờ
đá, cây hoa lai, men núi, hang đá, cây hương nhurừng, vũng Nước Nóng, suối Nậm Giơn, vũng đá,tuôn thành, giếng nước nóng, cá suối to, cành mầntang, ruộng cao, mây trắng, che đỉnh núi, núi LạnPhạ, đèo Lạn Phạ, hoa mào gà, dốc Cao Phạ, cánhđồng mới gặt, mùi rơm, bóng nước suối, chảy lấplánh, bọc quanh ruộng ven rừng, cây hoa mai trắngtinh, con đường có bóng cây, khe đá
Vợ chồng A Phủ Nương ngô, quả thuốc phiện, bắp, đầu núi, nương
lúa, nương mới, cỏ tranh vàng ửng, gió rét, hoa thuốc
Trang 29phiện nở trắng, đỏ hau, đỏ thậm, tím man mát, núinày, núi khác, rừng, lá thuốc, cánh đồng, Hang-Bla,núi, hổ, gấu rừng, dê, thông cụt, vết chân hổ, bò tót,núi cao, mùa đông, dài, buồn, ruộng Mường Quài,dốc Lùng Chùng Phúng, bờ sông Đà, châu Phú Yên,châu Mai Sơn, vùng Phìn Sa, đồng Bản Pe, ruộng xòenhư cánh quạt, lốc tháng Tám, đầu núi, cửa Vạn, consuối, rừng sâu, đầu nương, đồi tranh, mênh mông, giógiật từng cơn, chiều buốt, lạnh teo, đường đất đỏ ối,dài hun hút, phong cảnh khô héo, núi trọc, đồi tranh,chân núi, dòng suối ngọn nước trắng tinh.
Dựa vào bảng trên, có thể chia nhỏ thành các tiểu trường nghĩa thuộc trường “cảnh vật mùa xuân Tây Bắc” như sau.
Rừng Tây Bắc
Rừng sâu, cánh rừng, cửa rừng, vi vu tiếng chim kỳ,vượn hú, vạt rừng kín đáo, ngọn cây, cây xoan,vensuối, rừng hoang núi cao, khe suối, chân rừng, khesuối cạn, bóng nước suối, chảy lấp lánh, bọc quanhruộng ven rừng, con đường có bóng cây, rừng, consuối, phong cảnh khô héo, dòng suối ngọn nước trắngtinh
Núi Tây Bắc Sườn núi, sừng sững, đá xám ngắt, sương mù, chân
núi, dốc, khe, khe sâu, lưng chừng núi, thoai thoải,mỏm núi, phượng hoàng đất, hang núi đá, núi, hốc
đá, vách dựng đứng, vang động, mỏm đá, vách đá,lòng núi, vách đá trắng toát, mưa tầm tã trên núi, mô
đá đen xì, rừng hoang núi cao, ngọn núi, thung, đỉnh
gò cỏ tranh, đỉnh núi, sương mịt mùng, đầu núi, hốc
Trang 30đá, bóng sương, hơi núi, ngùn ngụt phả xuống, lưngnúi, nhiều sương mù, sương lạnh, sương vờn, trờixuống thấp, sát tận đầu người, bốc hơi ngùn ngụt,
ám trắng cả hai bờ đá, men núi, hang đá, vũng đá,mây trắng, che đỉnh núi, khe đá, đầu núi, cỏ tranhvàng ửng, núi này, núi khác, núi cao, đầu núi, núitrọc, đồi tranh, chân núi
Cây cỏ ở Tây Bắc
Lúa chín, ngọn cây, cây xoan, cành xoan, đỉnh gò cỏtranh, lau, gò gianh, đồi chè, cây hoa lai, cây hương nhurừng, cây hoa mai trắng tinh, quả thuốc phiện, bắp, cỏtranh vàng ửng, hoa thuốc phiện nở trắng, đỏ hau, đỏthậm, tím man mát, lá thuốc, thông cụt, hoa mào gà, cànhmần tang
Loài vật ở Tây Bắc
Chim kỳ, phượng hoàng đất, vi vu tiếng chim kỳ, vangđộng, vượn hú, con sóc, gấu, rím, thú rừng, chim gõkiến, dê núi, hiu hiu, hươu, nai, hang con rúi, cầyhương, cá suối to, hổ, gấu rừng, dê, vết chân hổ, bò tót
Ruộng nương ở Tây
Bắc
Lúa chín, nương, nương lúa chín vàng, nương sắn,nương bông, cánh đồng, đồng vùng thấp, ruộng cao,cánh đồng mới gặt, mùi rơm, nương ngô, nương lúa,nương mới, ruộng xòe như cánh quạt, đầu nương
Các địa danh ở Tây
Bắc
Khe Mông Mang, sông Thao, sông Đà, lũng Tùm Cầu,vũng Nước Nóng, suối Nậm Giơn, núi Lạn Phạ, đèoLạn Phạ, dốc Cao Phạ, Hang-Bla, ruộng MườngQuài, dốc Lùng Chùng Phúng, bờ sông Đà, châu PhúYên, châu Mai Sơn, vùng Phìn Sa, đồng Bản Pe, cửaVạn
Thời tiết, khí hậu ở
Tây Bắc
Sương mù, mưa tầm tã trên núi, rét ngọt, hàng tháng mịt
mù, nhiều sương mù, sương lạnh, trời xuống sương,
Trang 31sương vờn, sương xuống nặng, gió rét, mùa đông, dài,buồn, lốc tháng Tám, gió giật từng cơn, chiều buốt, lạnhteo.
Cần lưu ý tới các trường liên tưởng mà mỗi từ trong trường biểu vật “cảnhnúi rừng Tây Bắc” gợi ra Trong mỗi trường liên tưởng nhỏ hơn ở các từ thuộctrường “cảnh núi rừng Tây Bắc” sẽ là tập hợp một chuỗi từ đóng vai trò nghĩa tốliên tưởng Các từ này sẽ gợi ra toàn bộ cảnh núi rừng Tây Bắc dựa vào tính hàmsúc, gợi hình của nó Số lượng từ ở các trường liên tưởng này rất rộng lớn và phụ thuộc vào khả năng cảm thụ khác nhau ở từng độc giả khi họ tiếp xúc với từ ngữ Vì vậy, trong bảng phân loại dưới đây, chúng tôi chỉ thống kê các từ và cụm từ trong trường liên tưởng theo quan điểm của mình.
Tên truyện Các từ và cụm từ trong tiểu trường liên tưởng
Cứu đất cứu mường - Chim kỳ: [loài chim tự nhiên], [hiếm gặp],
[thường sống ở vùng rừng núi], [gợi về núi rừng]
- Khe Mông Mang: [khe núi lớn], [khu vực sinhsống của người Mông], [gắn với đồng bào dân tộcthiểu số], [gắn với miền cao], [cao nguyên]
- Sừng sững: [to lớn], [chắn ngang tầm nhìn],[hùng vĩ], [gắn với thiên nhiên], [gắn với núi rừng],[gắn với vùng cao], [hoang sơ], [rợn ngợp]
- Đá xám ngắt: [đá trên miền cao], [lạnh ngắt],[hoang vu], [khắc nghiệt], [cô độc], [gió rét], [bănggiá], [mùa đông]
- Lúa chín: [ấm no], [đủ đầy], [thu hoạch], [thơmnồng], [ấm áp]
- Sương mù: [lạnh lẽo], [rợn ngợp], [bao la], [mùađông], [giá rét], [mịt mù], [cao nguyên], [hoangsơ]
Trang 32- Rừng sâu: [hoang sơ], [ít bóng người], [nguyênvẹn], [nhiều thú dữ ], [rậm rạp], [âm u], [hiểm trở],[gắn với vùng cao].
- Chân núi: [có thể sinh sống]
- Dốc: [nguy hiểm], [khó đi lại], [gắn với vùngrừng núi], [trên cao]
- Khe: [hiểm trở], [nguy hiểm], [khó vượt qua],[khó đi lại], [gắn với rừng núi]
- Nương: [gắn với vùng cao], [lao động], [cần cù],[khai hoang], [sức người], [dựng xây], [làm ăn]
- Khe sâu: [hiểm trở], [nguy hiểm], [cao], [dốc],[thăm thẳm], [trên núi cao]
- Sông Thao: [hùng vĩ], [chảy qua cao nguyên],[mang lại tôm cá], [nuôi dưỡng con người]
- Lưng chừng núi: [cheo leo], [chênh vênh], [hiểmtrở], [khó đi lại]
- Cánh rừng: [rộng lớn], [sâu thẳm], [hoang sơ],[lâu năm], [ít người]
- Thoai thoải: [bằng bằng], [dễ đi lại]
- Sông Đà: [dữ dội], [bão tố], [chảy siết], [chảy quanúi rừng], [hùng vĩ], [rắn rỏi], [sức người], [quậtkhởi], [kiên cường], [chế ngự thiên nhiên]
- Lũng: [nơi sinh sống của con người vùng cao],[tập trung nhiều người], [nhiều ruộng đồng]
- Mỏm núi: [cao vút], [hiểm trở], [cheo leo], [chênhvênh]
- Phượng hoàng đất: [quý], [hiếm], [ít gặp], [đẹp],
Trang 33[biểu tượng của núi rừng], [sống trong rừng sâu].
- Cửa rừng: [lối vào rừng], [dẫn vào thiên nhiên],[dẫn vào hoang sơ]
- Hang đá: [hoang sơ], [tự nhiên]
- Suối nước nóng: [vùng núi cao], [ấm áp], [thưgiãn], [thư thái], [nghỉ dưỡng]
- Hang núi đá: [hoang sơ], [tự nhiên], [lâu năm],[sâu trong rừng núi]
- Suối: [róc rách], [tiếng chim], [tiếng vượn], [tiếngnhạc rừng], [dịu êm], [thanh bình], [thôn nữ ]
- Núi: [hiểm trở], [khó khăn], [rừng núi]
- Hốc đá: [hoang sơ], [hẻo lánh], [trú ẩn], [bí ẩn]
- Nương lúa chín vàng: [thành quả], [thu hoạch],[vụ mùa], [ấm no]
- Vi vu tiếng chim kỳ: [thanh âm], [nhạc điệu],[hoang vu], [rừng núi], [vang vọng]
- Vách dựng đứng: [hiểm trở], [nguy hiểm], [khóvượt qua], [chông gai], [khắc nghiệt]
- Vang động: [vang vọng], [thanh âm núi rừng]
- Vượn hú: [tiếng vượn], [tiếng hót], [tiếng nhạc],[có giai điệu], [vui tươi], [thanh bình]
- Vách đá: [hiểm trở], [gập ghềnh], [cheo leo], [khóvượt qua]
- Vạt rừng kín đáo: [cánh rừng], [rất sâu], [sâutrong núi], [không ai biết], [che chở con người]
- Lòng núi: [bên trong núi], [kín đáo], [rậm rạp câycối], [bao bọc con người]
Trang 34- Khe sâu: [nguy hiểm], [đặt bẫy quân thù].
- Vách đá trắng toát: [núi cao], [rét buốt], [giá lạnhtới trắng đá], [khắc nghiệt]
- Con sóc: [loài vật của rừng núi], [sống trongrừng], [dễ thương], [hiền lành]
- Mưa tầm tã trên núi: [mưa rừng], [nhiệt đới], [ẩmướt], [lạnh]
- Cây xoan: [cây cao], [rợp bóng]
- Gấu: [thú dữ], [nguy hiểm], [hoang sơ], [vắngbóng người], [trong rừng]
- Rím: [loài vật sống trong rừng], [thức ăn củangười dân tộc], [hoang sơ]
- Thú rừng: [rừng núi], [hoang sơ], [sinh động], [đadạng]
- Mô đá đen xì: [đen tối], [đêm tối], [rình rập], [ẩnnấp], [đáng sợ]
- Nương sắn: [rộng lớn], [xanh mướt], [giàu sứcsống]
- Nương bông: [trắng muốt một vùng], [tươi đẹp],[lãng mạn]
- Ven suối: [dạo chơi], [thanh bình], [róc rách], [títách]
- Rừng hoang núi cao: [hoang vu], [trên cao], [sâuthẳm], [vắng bóng người], [tự nhiên], [hùng vĩ]
- Ngọn núi: [cao vút], [hiểm trở], [hùng vĩ], [sừngsững]
- Thung: [có người sinh sống], [sôi động], [ấm
Trang 35cúng], [cuộc sống sinh hoạt của người thiểu số]
- Đỉnh gò cỏ tranh: [đỉnh gò có nhiều cỏ tranh],[lãng mạn], [mát mẻ]
- Đỉnh núi: [trên đỉnh cao], [hun hút]
- Lau: [cỏ dại], [giàu sức sống], [giàu nghị lực],[luôn sinh tồn]
- Chim gõ kiến: [chim sống trong rừng], [hệ sinhthái], [tự nhiên]
- Khe suối: [róc rách tiếng nước chảy], [mát mẻ],[cá tôm], [nghỉ ngơi, [thư giãn]
- Bóng sương: [âm u], [mê ảo]
- Chân rừng: [giải thoát], [cứu thoát], [cánh cửamới]
Mường Giơn - Rét ngọt: [lạnh cắt da cắt thịt], [mùa đông hoặc
đầu xuân], [khí hậu Tây Bắc], [khắc nghiệt]
- Hơi núi: [hương núi], [hơi thở của núi], [khói],[lạnh], [mát], [mùi của rừng], [dễ chịu]
- Ngùn ngụt phả xuống: [rất nhiều], [rất nhanh],[làn khói]
Trang 36- Hàng tháng mịt mù: [sương], [mưa], [ẩm], [ítnắng], [giá rét], [mùa đông], [lạnh], [hoang sơ].
- Khe suối cạn: [khô cạn], [thiếu sức sống], [bị tắcnghẽn], [không bình thường]
- Lưng núi: [cheo leo], [chênh vênh], [hiểm trở],[hình ảnh người mẹ cõng con trên lưng]
- Đồng vùng thấp: [cánh đồng vùng trũng], [sự di
cư của con người]
- Ngọn suối: [đầu suối]
- Dê núi: [loài vật sống trên núi], [hay leo chèo],[đặc trưng của rừng núi]
- Hiu hiu: [loài vật lạ], [chỉ có trong rừng núi],[hoang sơ], [tự nhiên]
- Nhiều sương mù: [mùa đông], [mịt mù], [khó đilại], [lạnh]
- Sương lạnh: [đông], [rét buốt], [lạnh giá], [âm u]
- Hươu: [loài vật chỉ sống ở rừng], [thiên nhiênhoang sơ], [hiền lành]
- Nai: [loài vật chỉ sống ở rừng], [thiên nhiên hoangsơ], [hiền lành]
- Suối nước nóng: [nghỉ ngơi], [thư giãn], [tậnhưởng], [ấm áp giữa mùa đông]
- Hang con rúi: [con vật trong rừng], [thiên nhiênhoang sơ], [cuộc sống săn bắt của người Tây Bắc]
- Cầy hương: [loài vật trong rừng], [lấy làm thịt],[cuộc sống săn bắt của người Tây Bắc]
- Trời xuống sương: [nhiều sương], [chiều tà], [tối],
Trang 37- Trời xuống thấp: [cảnh rừng núi Tây Bắc], [nhưtranh thủy mạc], [núi rất cao], [sương rất dày],[trắng xóa], [trời chải tóc vào núi], [hùng vĩ],[hoang sơ].
- Sát tận đầu người: [người chạm vào trời], [núi rấtcao], [trời bao bọc người], [cảnh hùng vĩ], [chỉ có ởTây Bắc]
- Cây hoa lai: [loài hoa rừng], [rất đẹp], [man dại],[hoang sơ]
- Men núi: [ven núi], [lối đi của con người], [hiểmtrở], [chênh vênh], [đặc thù Tây Bắc]
- Hang đá: [sâu trong rừng], [nơi trú ẩn]
- Cây hương nhu rừng: [loài cây trong rừng], [gợicuộc sống sinh hoạt nơi rừng núi]
- Vũng Nước Nóng: [địa danh nghỉ dưỡng]
- Suối Nậm Giơn: [địa danh đẹp], [hùng vĩ]
- Vũng đá: [cảnh vật miền sơn cước]
- Giếng nước nóng: [nghỉ ngơi], [thư giãn], [đặctrưng miền cao]
- Cá suối to: [sản vật miền cao], [quà tặng thiênnhiên, rừng núi]
Trang 38- Cành mần tang: [loại cây trên miền cao], [sốngtrong rừng núi].
- Ruộng cao: [ruộng trên cao], [ruộng bậc thang],[công sức khai hoang], [cuộc sống sinh hoạt củangười Tây Bắc đều ở trên cao]
- Mây trắng: [mây nhiều]
- Che đỉnh núi: [nhiều sương], [mát mẻ], [baoquanh núi], [trắng một không gian trên cao]
- Núi Lạn Phạ: [núi cao], [cảnh hùng vĩ]
- Đèo Lạn Phạ: [đèo ngang qua núi], [uốn lượn],[mềm mại], [như dải lụa đào], [sự mềm mại củathiên nhiên], [đôi tình nhân là núi và đèo]
- Hoa mào gà: [đỏ rực], [thắp lửa không gian], [lậplòe], [đầy sức sống]
- Dốc Cao Phạ: [dốc lớn], [hùng vĩ], [uốn lượn],
- Cánh đồng mới gặt: [tấp nập], [nhộn nhịp], [cònthơm mùi lúa]
- Mùi rơm: [mùi của làng quê]
- Bóng nước suối: [nước đổ bóng], [dưới ánh mặttrời], [chiếu vào nước], [chảy róc rách]
- Chảy lấp lánh: [tỏa sáng], [ánh lên những ánhsáng nhiều màu sắc], [lãng mạn], [tươi mới]
- Bọc quanh ruộng ven rừng: [ruộng ở giữa],[quanh ruộng là suối], [khung cảnh thanh mát]
- Cây hoa mai trắng tinh: [mùa xuân về], [hoa mai
nở rộ], [trắng cả một rừng], [cảnh hùng vĩ, thơmộng], [gọi tình ái]
Trang 39- Con đường có bóng cây: [con đường mát mẻ],[lãng mạn], [gợi nhiều suy tư ].
- Khe đá: [chênh vênh], [hiểm trở], [gồ ghề], [nguyhiểm]
Vợ chồng A Phủ - Nương ngô: [bạt ngàn], [ruộng ngô trên cao],
- Đỏ thậm: [mùa của hoa thuốc phiện]
- Tím man mát: [màu của hoa thuốc phiện], [tạonên thảm màu sắc sinh động], [lãng mạn]
- Núi này núi khác: [núi nhiều], [xen kẽ], [nối tiếp],[trùng trùng điệp điệp], [hùng vĩ]
- Lá thuốc: [những loại cây thuốc trên rừng núicao]
Trang 40- Hổ: [loài vật gợi những rừng núi hoang sơ trêncao], [sự nguy hiểm, khắc nghiệt của thiên nhiên],[thử thách con người].
- Gấu rừng: [loài vật gợi những rừng núi hoang sơtrên cao], [sự nguy hiểm, khắc nghiệt của thiênnhiên], [thử thách con người]
- Dê: [loài vật leo trèo], [gợi hình ảnh những vách
đá cao, gập ghềnh]
- Thông cụt: [loài cây hay mọc trên đồi núi]
- Vết chân hổ: [sự hiểm nguy], [rình rập conngười], [cuộc sống khắc nghiệt], [đấu tranh vớithiên nhiên]
- Bò tót: [loài vật ở rừng núi]
- Núi cao: [khu vực sinh sống hiểm trở]
- Mùa đông: [mùa đông miền cao], [lạnh buốt], [giárét], [sương dày], [âm u], [tím tái], [khắc nghiệt]
- Dài: [mùa đông kéo dài], [vắng lặng], [tẻ ngắt],[chuỗi ngày lê thê]
- Buồn: [mùa đông buồn tẻ]
- Ruộng Mường Quài: [ruộng trên cao], [rộng], [bátngát]
- Dốc Lùng Chùng Phúng: [con dốc lớn]
- Bờ sông Đà: [bờ sông lớn], [trên núi cao]
- Ruộng xòe như cánh quạt
- Lốc tháng Tám: [lốc mạnh], [bão táp], [gió to],[cách mạng], [sức quật khởi], [sức mạnh dân tộc],[sức mạnh nhân dân]