Trong tiếng Việt tính từ chỉ đặc điểm về lượng của sự vật là loạitính từ đặc biệt, biểu thị những thuộc tính của sự vật, hiện tượng được conngười tri nhận và phân chia, vừa mang đặc điểm
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: GS.TS BÙI MINH TOÁN
SƠN LA, NĂM 2015
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu củariêng tôi Các kết quả trong luận văn là trung thực và chưatừng được ai công bố trong bất cứ một công trình nào
Tác giả Luận văn
Trần Thị Phước Thủy
Trang 3Lời cảm ơn
Trong tiếng Việt, tính từ chỉ lượng là một nhóm từ có số lượng lớn vàhoạt động hết sức phức tạp Hiện đã có một số công trình nghiên cứu tiếngViệt đề cập đến, tuy nhiên sự nghiên cứu về tính từ chỉ lượng còn sơ lược,nhiều điểm chưa thống nhất và còn nhiều vấn đề chưa được giải quyết mộtcách triệt để Được sự động viên khuyến khích của các thầy cô giáo, thời gian
vừa qua chúng tôi đã mạnh dạn nghiên cứu đề tài “ Nhóm tính từ chỉ đặc điểm về lượng của sự vật: đặc điểm ngữ nghĩa và kết trị” Về đề tài này
chúng tôi muốn khám phá cái hay, cái đẹp của tính từ chỉ lượng với tư cách làmột tín hiệu thẩm mỹ Để thực hiện đề tài này, ngoài sự cố gắng, nỗ lực của
bản thân, tôi được sự hướng dẫn tận tình, chu đáo của GS.TS Bùi Minh Toán
cùng sự góp ý chân thành, nhiệt tình của các thầy cô giáo đã tham gia giảngdạy lớp Cao học Ngôn ngữ Việt Nam khóa 2 - Đại học Tây Bắc và sự độngviên khích lệ của gia đình cũng như bạn bè đồng nhiệp
Nhân dịp này chúng tôi muốn bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến các thầy côgiáo, gia đình và bạn bè đã giúp đỡ tôi hoàn thành tốt luận văn này
Lai Châu, ngày tháng năm 2015
Tác giả
Trần Thị Phước Thủy
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
1.1 Vào những năm 20-30 của thế kỷ XX với sự xuất hiện của khái
niệm Trường từ vựng, Ngôn ngữ đã mở ra hướng nghiên cứu mới Trường từ
vựng đã giúp các nhà nghiên cứu ngôn ngữ khám phá ra nhiều vấn đề trongngữ nghĩa học như: tính hệ thống về ngữ nghĩa, hiện tượng nhiều nghĩa, hiệntượng trái nghĩa, đồng nghĩa… Bởi vậy việc khám phá, nghiên cứu từ vựngtheo các trường đến nay được mọi người lựa chọn và đánh giá là hướngnghiên cứu khả dụng Vào năm 40 của thế kỷ XX trong Ngôn ngữ học, thuậtngữ kết trị được sử dụng rộng rãi, để chỉ khả năng kết hợp của các lớp từ hoặccác từ loại trong ngôn ngữ nói chung Theo các nhà nghiên cứu trong mốiquan hệ mật thiết giữa ý nghĩa và thuộc tính kết trị của từ thì ý nghĩa có vaitrò quyết định đến khả năng kết hợp từ, bởi vậy khi miêu tả hay định nghĩacác từ loại, tiểu loại, đặc điểm ý nghĩa thường được nêu gắn với đặc điểm ngữpháp, đó là khả năng khả năng kết hợp và chức năng cú pháp
1.2 Trong tiếng Việt tính từ chỉ đặc điểm về lượng của sự vật là loạitính từ đặc biệt, biểu thị những thuộc tính của sự vật, hiện tượng được conngười tri nhận và phân chia, vừa mang đặc điểm chung vừa thể hiện đặc điểmriêng về cách tri nhận, về văn hóa và ngôn ngữ của dân tộc Đi sâu nghiên cứunhóm tính từ này sẽ làm sáng tỏ cách thức, cơ chế mà người Việt tri nhận và ýniệm hoá các thực thể không gian, cách định vị, xác định kích thước, kiểuloại, sự phân cắt sự vật thế giới khách quan Hướng nghiên cứu của đề tài phùhợp với những yêu cầu, hướng tiếp cận của ngôn ngữ học ở Việt Nam Kếtquả nghiên cứu sẽ góp phần bổ sung vào địa hạt lí luận cũng như ứng dụngcủa ngôn ngữ học
Trang 51.3 Cuộc sống là một bức tranh được con người nhận thức, tái tạo lạithông qua ngôn ngữ và bằng ngôn ngữ Tư duy, văn hóa của các dân tộc nóinhững thứ tiếng khác nhau được ánh xạ vào ngôn ngữ Trong mỗi ngôn ngữđều tồn tại một sự quy ước hóa giữa những người bản ngữ để diễn đạt tưtưởng, tình cảm theo một cách thức nhất định Nói theo ngôn ngữ học trinhận, trong các cấu trúc và quá trình tri nhận, bên cạnh cái phổ quát, cái đồngnhất còn có cái tương đối, cái đặc thù phản ánh một cách thức phân cắt riêngcủa cộng đồng bản ngữ về các sự vật và sự tình của thế giới hiện thực, phảnánh những giới hạn và ràng buộc của văn hóa đối với cách thức tri nhận Quakhảo sát và đối chiếu, luận văn sẽ tìm ra những sự tương đồng và khác biệtnày trong cách thức cấu trúc hóa các quan hệ và thuộc tính không gian nóichung và kích thước nói riêng.
Ngày nay, yêu cầu dạy học mang tính chuyên sâu, đòi hỏi phải cónhững nghiên cứu toàn diện và cặn kẽ các trường từ vựng, trong đó có tiểutrường từ vựng chỉ đặc điểm về lượng của sự vật Các kết quả nghiên cứu củaluận văn sẽ góp phần vào việc dạy học tiếng Việt có hiệu quả hơn
Ở nhiều nước trên thế giới đã có sự đào sâu, nghiên cứu sự chi phối củanhân tố nghĩa đối với thuộc tính kết hợp nói riêng và hoạt động ngữ pháp nóichung của từ nhưng ở Việt Nam là một hướng mới và còn rất ít công trình
nghiên cứu Đây là lí do chúng tôi chọn “Nhóm tính từ chỉ đặc điểm về lượng của sự vật: đặc điểm ngữ nghĩa và kết trị” làm đề tài nghiên cứu Với
đề tài này, tôi mong muốn góp phần làm rõ mối quan hệ giữa ý nghĩa và thuộctính kết hợp của nhóm tính từ chỉ đặc điểm về lượng của sự vật trong TiếngViệt - một nhóm từ có số lượng tương đối lớn, có vị trí quan trọng trong kho
từ vựng dân tộc và được sử dụng rộng rãi trong Tiếng Việt
2 Lịch sử nghiên cứu
2.1 Lịch sử nghiên cứu trường từ vựng
Trang 6Vào những năm 20-30 của thế kỷ XX từ lý thuyết ngôn ngữ của F.Saussure, Jos Trier đã nghiên cứu và đưa ra khái niệm Trường Tiếp theo đónhiều tác giả đã đưa ra các quan niệm về Trường Từ đây lý thuyết trường từvựng dần được hình thành và được các nhà nghiên cứu ngôn ngữ nhanh chóngtiếp nhận, quan tâm.
Ở Việt Nam: Từ và vốn tiếng Việt hiện đại (1976) - Nguyễn Văn Tu;
Từ vựng Tiếng Việt (1981), Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng (1986) - Đỗ Hữu
Châu được coi là những công trình nghiên cứu đầu tiên có vai trò nền tảng vềTrường từ vựng Các tác giả đã đưa ra những khái niệm có chức năng địnhhướng cho việc nghiên cứu ngôn ngữ theo các Trường từ vựng: Khái niệm,các tiêu chí, phân loại các trường từ vựng
Ngoài những công trình nghiên cứu trình bày lý thuyết về những vấn đề
cơ bản của Trường từ vựng của Nguyễn Văn Tu, Đỗ Hữu Châu, còn có nhữngluận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ, khóa luận tốt nghiệp đã khám phá áp dụng lýthuyết Trường từ vựng để nghiên cứu các trường nghĩa cụ thể
Có công trình khai thác nghiên cứu ngôn ngữ nghệ thuật trong các tác
phẩm thơ, văn của một số tác giả như: “ Trường từ vựng chỉ người trong thơ
Chế Lan Viên” (Nguyễn Chí Trung, LVThS, 2004); “Đặc điểm ngôn ngữ của
nữ giới qua hành vi hỏi (Trên cứ liệu lời thoại nhân vật trong truyện ngắn Nam Cao trước 1945) ( Nguyễn Lê Lơng, LVThS, 2006); “ Khảo sát việc sử dụng từ địa phương trong thơ Tố Hữu” ( Phạm Thị Thùy Dương, LVThS,
2008); “ Biểu thức ngữ vi thể hiện hành động hỏi của nhân vật nữ trong
truyện ngắn sau 1975 trên cứ liệu lời thoại nhân vật trong truyện ngắn sau
1975 ” ( Văn Thị Nga, LVThS, 2009);“ Trường từ vựng ngữ nghĩa thực vật với hai mùa xuân hạ trong thơ nôm Đường luật thế kỷ XV-XVII” ( Hà Thị Mai
Thanh, LVThS, 2010); “Trường từ vựng ngữ nghĩa thực vật với hai mùa Thu
- Đông trong thơ nôm Đường luật thế kỷ XV-XVII” ( Nguyễn Thị Tuyết,
Trang 7LVThS, 2010)…
Lại có những công trình khai thác nghiên cứu ngôn ngữ sinh hoạt hàng
ngày của người Việt Nam chúng ta: “Hiện tượng nhiều nghĩa trong trường từ
vựng chỉ người” ( Phạm Thị Hòa, LATS, 2000); “ Trường từ vựng ngữ nghĩa các từ biểu thị thời gian của tiếng Việt trong sự so sánh với tiếng Đức” (Lê
Thị Thanh, LATS, 2001); “ Trường nghĩa mùi vị và các hình thức biểu hiện
trong Tiếng Việt” (Hoàng Ái Vân, LVThS, 2008); “ Đặc điểm tri nhận của người Việt qua trường từ vựng thức ăn” (Đinh Phương Thảo, LVThS, 2010);
“ Đặc điểm tri nhận của người Việt qua trường ngữ nghĩa côn trùng”
(Dương Thị Mỹ Dung, LVThS, 2010); “Đặc điểm ngữ nghĩa của những từ
ngữ biểu thị phong tục cưới xin của người Việt (So sánh với người Anh)” (Vũ
Linh Chi, LVThS, 2010); “ Nghĩa biểu trưng của nhóm danh từ chỉ động vật
trong biểu thức khen chê” (Bạch Thanh Thanh, LVThS, 2012)…
Qua một số công trình kể trên, chúng ta thấy nghiên cứu về Trường từvựng giúp khám phá được đặc điểm về văn hóa, tư duy của các dân tộc, đặctrưng phong cách của tác giả, giai đoạn văn học… Có thể nói Trường từ vựng
là mảnh đất khơi gợi được sự hấp dẫn, đam mê nghiên cứu, khám phá
2.2 Lịch sử nghiên cứu nhóm tính từ chỉ đặc điểm về lượng
Trong lịch sử mấy nghìn năm dựng nước và giữ nước, dân tộc ViệtNam ta có nhiều từ ngữ để chỉ đặc điểm về lượng của sự vật, hiện tượng rấtphong phú, giàu có, nhưng theo tìm hiểu của tôi thì kho tàng quý báu đó củadân tộc vẫn chưa được khai thác, nghiên cứu thấu đáo Đã có một số công
trình nghiên cứu về trường từ ngữ chỉ đặc điểm về lượng như: “Đặc trưng
ngữ pháp và ngữ nghĩa của phụ từ chỉ lượng trong Tiếng Việt” (Võ Thị
Thắm, LVThS), “ Đặc trưng ngữ nghĩa nhóm tính từ chỉ kích thước” ( Trên
ngữ liệu tiếng Nga và Tiếng Việt) … song mới chỉ dừng lại ở việc đề cập đến
một số đặc điểm hình thức và ngữ nghĩa của chúng, chỉ ra được một số đặc
Trang 8trưng trong cách tri nhận về phạm trù chỉ lượng của người Việt Nam; tầmquan trọng của khái niệm không gian trong hệ thống ngôn ngữ cũng như cácđặc điểm ngữ nghĩa các tính từ chỉ kích thước trong tiếng Nga và tiếng Việt,
và góp phần phát hiện những nét đặc trưng tư duy và văn hóa của người Nga
và người Việt được phản ánh qua nhóm từ này Đối tượng nghiên cứu của cáccông trình là cả hệ thống từ ngữ chỉ lượng trong Tiếng Việt, còn luận văn củachúng tôi chỉ tập trung vào nhóm Tính từ chỉ đặc điểm về lượng của sự vật.Trong các công trình trên, chưa có công trình nào đặt ra mục đích nghiên cứu
là tìm hiểu mối quan hệ giữa ý nghĩa và đặc điểm kết trị của nhóm từ ngữ chỉlượng Vì vậy, đây là khoảng trống mà chúng tôi muốn khám phá, tìm hiểu
2.3 Lịch sử nghiên cứu và ứng dụng lý thuyết kết trị trong ngôn ngữ học.
2.3.1 Trên thế giới
Vào cuối những năm 40 của thế kỷ XX, thuật ngữ kết trị được dùngnhiều trong ngôn ngữ học với mục đích chỉ khả năng kết hợp của các lớp từhoặc các từ loại trong ngôn ngữ nói chung
Thuật ngữ kết trị - tiếng Pháp: Valence- ban đầu được hiểu là thuộctính kết hợp của động từ Một trong những người sáng lập lý thuyết kết trị,nhà ngôn ngữ học người Pháp L Tesnière quan niệm: “ Động từ có vai trò màngữ pháp truyền thống gọi là vị ngữ thực chất là thành tố hạt nhân, là cái nútchính của câu Với vai trò hạt nhân, động từ quy định số lượng và đặc tínhcủa các thành tố có quan hệ với nó Các thành tố này, xét theo mức độ gắn bóvới động từ được chia thành thành tố bắt buộc - tương ứng với chủ ngữ và bổngữ truyền thống và thành tố tự do tương ứng với trạng ngữ truyền thống” L.Tesnière gọi thành tố bắt buộc là tham tố, thành tố tự do là chu tố
S.D Kasnelson - nhà ngôn ngữ học của Liên Xô cũng có quan niệm vềkết trị giống L Tesnière Theo S.D Kasnelson “ kết trị là thuộc tính của lớp
Trang 9từ nhất định kết hợp vào mình những từ khác” S.D Kasnelson phân biệt kếttrị với khả năng tham gia vào những mối quan hệ ngữ pháp nói chung của từ.
Về nguyên tắc từ nào cũng có khả năng kết hợp với từ khác, song không cónghĩa mọi từ đều là kết trị Từ có kết trị là những từ có khả năng tạo ra cáckhoảng trống yêu cầu được bổ sung trong các phát ngôn Để xác định được sốlượng kết trị của từ phải căn cứ vào số lượng các vị trí mở ( khoảng trống)bao quanh từ Theo S.D Kasnelson: Chủ thể, đối thể trực tiếp, đối thể giántiếp của hành động và những yếu tố “ bổ sung” hay bổ ngữ của động từ là cácyếu tố làm đầy các vị trí mở xung quanh động từ và có ý nghĩa phụ thuộc vào
ý nghĩa của động từ Dựa vào số lượng các vị trí mở xung quanh động từ,S.D Kasnelson chia động từ tiếng Nga thành: Động từ 1 vị trí, Động từ 2 vịtrí …Phân biệt kết trị thành kết trị nội dung ( thể hiện mối quan hệ về nghĩa,gắn với mặt nghĩa của từ) và kết trị hình thức (thể hiện mối quan hệ về mặthình thức giữa cá từ, gắn với mặt hình thái của từ)
Như vậy, so với L Tesnière, S.D Kasnelson đưa ra định nghĩa kết trị chặtchẽ hơn ( kết trị là khả năng của động từ tạo ra xung quanh mình các vị trí mởđòi hỏi phải được lấp đầy trong các phát ngôn, chứ không phả là khả năng kếthợp chung chung và Phân biệt kết trị thành kết trị nội dung và kết trị hình thức)
Bên cạnh L Tesnière, S.D Kasnelson còn có công trình nghiên cứu vềkết trị của N.I.Tjapkina N.I.Tjapkina quan niệm: kết trị của động từ được xácđịnh dựa vào toàn bộ các mối quan hệ cú pháp có thể có đối với nó và phân biệtkết trị chung ( kết trị được xác định dựa vào toàn bộ các quan hệ cú pháp có thể
có đối với động từ) và kết trị hạt nhân ( kết trị được xác định dựa vào mối quan
hệ của động từ với các thành tố chủ thể và đối thể của hoạt động) khi phân loạicác kiểu kết trị của động từ Kết trị hạt nhân là cơ sở có thể dựa vào đó để tiếnhành phân tích và phân loại câu động từ Như vậy, so với L Tesnière, S.D.Kasnelson, quan niệm về kết trị của N.I.Tjapkina rộng hơn và đồng nhất kết trị
Trang 10với khả năng tham gia vào các mối quan hệ ngữ pháp nói chung của từ.
Qua các quan niệm về kết trị trình bày trên, cho thấy kết trị là thuộctính cú pháp của từ Tuy nhiên, một số nhà khoa học đã nghiên cứu, khám phá
và mở rộng khái niệm kết trị sang cấp độ và bình diện khác của ngôn ngữ.Trong “Lý thuyết kết trị và việc phân tích kết trị”, M.D.Stepanova quan niệm:
“ kết trị là khả năng kết hợp của các đơn vị ngôn ngữ cùng cấp độ… kết trịđồng thời vừa là sự kiện của ngôn ngữ, vừa là sự kiện của lời nói” Như vậykết trị không phải chỉ là thuộc tính kết hợp của cấp độ từ mà còn là thuộc tínhcủa cấp độ ngôn ngữ khác Kết trị cũng không phải chỉ là thuộc tính về bìnhdiện cú pháp, ngoài kết trị cú pháp ( kết trị hình thức) còn kết trị ngữ nghĩa( kết trị nội dung) và kết trị logic ( khả năng kết hợp từ vựng của từ)
Qua những nội dung trình bày trên, chúng tôi thấy việc phát triển lýthuyết kết trị là sự mở rộng khái niệm kết trị từ cấp độ từ, mà ban đầu là động
từ sang cấp độ khác của ngôn ngữ ( cấp độ hình vị, âm vị…), mở rộng từ bìnhdiện cú pháp sang bình diện logic – ngữ nghĩa Kết trị không chỉ là thuộc tínhcủa cấp độ từ, cũng không phải là thuộc tính riêng của động từ mà là thuộctính của các cấp độ ngôn ngữ khác Trong quá trình nghiên cứu, để áp dụng lý
thuyết kết trị, cần phải làm rõ các nội dung: Thứ nhất những đơn vị ngôn ngữ nào là đơn vị có kết trị; thứ hai những thuộc tính nào là thuộc tính có kết trị.
Để giải quyết được hai nội dung này cần phải có những công trình chuyên sâu
về kết trị Hiện nay, khái niệm kết trị đã được mở rộng đến các cấp độ khácnhau của ngôn ngữ, song việc nghiên cứu kết trị của từ vẫn là một mảnh đấthấp dẫn thu hút các nhà nghiên cứu về ngôn ngữ
2.3.2 Ở Việt Nam
Hiện nay ở nước ta, lý thuyết kết trị vẫn chưa được đưa vào chươngtrình giảng dạy ở các trường Đại học, song rất nhiều nhà nghiên cứu say mêtìm hiểu, vận dụng lý thuyết kết trị vào các công trình nghiên cứu Đầu tiên,
Trang 11có công trình Kết trị của động từ tiếng Việt ( 1995) của tác giả Nguyễn Văn
Lộc Công trình này đã khái quát về lý thuyết kết trị trong ngôn ngữ, đưa rađịnh nghĩa, các nguyên tắc, thủ pháp hình thức trong xác định, phân loại kếttrị của động từ, phân tích kết tố chủ thể và kết tố đối thể của động từ tiếngViệt Đến năm 2010, tác giả Đinh Văn Đức đã giới thiệu và thảo luận về lý
thuyết kết trị của L Tesnière trong công trình Các bài giảng từ pháp học
tiếng Việt ( Từ loại nhìn từ bình diện chức năng) Đinh Văn Đức cho rằng:
Kết trị là loại giá trị ngữ pháp thường xuyên, biểu đạt những khía cạnh cốt lõicủa một từ loại Do tính thường trực, kết trị dường như trở thành đặc trưngtổng quát cho từ loại
Ngoài ra lý thuyết kết trị thu hút không ít sinh viên, học viên vận dụng
nó vào các công trình nghiên cứu về những nhóm từ cụ thể Dưới đây chúng
tôi liệt kê một vài công trình, cụ thể: So sánh đối chiếu kết trị của động từ
trong hai hệ thống ngôn ngữ Pháp- Việt và những ứng dụng vào việc giảng dạy tiếng Pháp ngoại ngữ cho người Việt ( Phạm Quang Trường, Vũ Thị
Ngân, Nguyễn Quang Thuấn ( 2004), đề tài nghiên cứu khoa học, khoa Ngôn
ngữ - văn hóa Pháp, trường Đại học ngoại ngữ, Đại học Quốc gia Hà Nội); Sự
chi phối của ý nghĩa đối với kết trị và sự hiện thực hóa kết trị của động từ
( Nguyễn Mạnh Tiến, (2013), tạp chí khoa học, Đại học Quốc gia Hà Nội,
Khoa học xã hội và Nhân văn, tập 29, số 1, trang 35-43); Nhóm tính từ chỉ
mùi vị trong tiếng Việt: đặc điểm ngữ nghĩa và kết trị ( Nguyễn Quỳnh Thu
( 2013), LVThS, Đại học Sư phạm Hà Nội); Nhóm tính từ chỉ màu sắc trong
tiếng Việt: đặc điểm ngữ nghĩa và kết trị ( Trần Ái Chin ( 2014), LVThS, Đại
học Sư phạm Hà Nội)…
Các công trình nghiên cứu trên đã áp dụng lý thuyết kết trị xét đến mốiliên hệ giữa bình diện ngữ nghĩa với đặc điểm kết trị của nhóm từ và thu đượcnhững kết quả có giá trị Tuy nhiên còn nhiều vấn đề cần được tiếp tục nghiên
Trang 12cứu, trong đó nhóm tính từ chỉ đặc điểm về lượng: Đặc điểm ngữ nghĩa và kết
trị - Đối tượng nghiên cứu trong luận văn của chúng tôi, là một trong những
vấn đề đó
3 Đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu nhóm tính từ chỉ đặc điểm về lượng của sự vật,hiện tượng trong tiếng Việt ở các phương diện: cấu tạo, đặc điểm ngữ nghĩa,đặc điểm kết hợp (kết trị), đó là nhóm từ gồm những từ như cao - thấp, sâu -nông, dày - mỏng, dài - ngắn, rộng - hẹp, to - nhỏ, nặng nhẹ, thâm thấp, mỏngdính, nhẹ tênh, rộng rãi …
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Nguồn tư liệu được sử dụng trong luận văn là ngữ liệu được rút ra từcác từ điển Tiếng Việt, các tác phẩm văn học nghệ thuật và trong ngôn ngữsinh hoạt hàng ngày, các giáo trình, sách giáo khoa, các công trình nghiêncứu, luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ
Cụ thể, một số ngữ liệu bước đầu phục vụ đề tài được sưu tầm, tổnghợp từ các nguồn sau:
- Từ điển Tiếng Việt, Hoàng Phê ( chủ biên), 2008, NXB Đà Nẵng,Trung tâm Từ điển học Vietlex
- Từ điển chính tả, Hoàng Phê ( chủ biên), 1995, NXB Đà Nẵng, Trungtâm Từ điển học
- Truyện Kiều - Nguyễn Du, 2006, Nhà xuất bản Văn hóa thông tin
- Tập Thơ “ Ra trận” - Tố Hữu, 2012, NXB Văn học, Hà Nội
- Tục ngữ, ca dao, dân ca Việt nam, Vũ Ngọc Phan, 1998, NXB Khoahọc xã hội
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Mục đích nghiên cứu
Luận văn hướng đến các mục đích:
Trang 13- Vận dụng lý thuyết về Trường từ vựng - ngữ nghĩa và lý thuyết kết trịvào nghiên cứu một hiện tượng ngôn ngữ cụ thể của Tiếng Việt - nhóm tính
từ chỉ đặc điểm về lượng của sự vật, hiện tượng trong tiếng Việt
- Góp phần làm rõ đặc điểm cấu tạo, đặc điểm ngữ nghĩa và đặc điểmkết hợp của nhóm tính từ chỉ đặc điểm về lượng của sự vật, hiện tượng trongtiếng Việt, đặc biệt là phát hiện những nghĩa, nét nghĩa chưa có trong từ điển,hoặc chưa được làm sáng tỏ, hay còn mang tính khái quát cần được miêu tả cụthể hơn
- Ứng dụng các kết quả nghiên cứu vào thực tiễn dạy và học tiếng Việt
4.2 Nhiệm vụ của đề tài
Đề tài thực hiện các nhiệm vụ chính sau:
- Tìm hiểu những khái niệm cơ bản về trường từ vựng và lý thuyết kếttrị có liên quan quan đến đề tài Những khái niệm cơ bản của triết học, vật lýhọc liên quan đến việc nhận thức đặc điểm về lượng của sự vật của con người
để làm cơ sở lý thuyết cho việc triển khai đề tài
- Tập hợp và phân loại nhóm tính từ chỉ đặc điểm về lượng của sự vật
- Phân tích và Miêu tả đặc điểm cấu tạo theo từng nhóm: đơn, ghép, láy
- Miêu tả, phân tích ngữ nghĩa của các tính từ đặc điểm về lượng của sựvật, hiện tượng trong tiếng Việt, làm rõ mối quan hệ có tính hệ thống giữa từ
và ngữ nghĩa của chúng, sự chuyển nghĩa của chúng trong sử dụng
- Phân tích đặc điểm kết hợp khi tính từ được dùng theo nghĩa gốc vànghĩa chuyển
5 Phương pháp và thủ pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài, chúng tôi sử dụng các phương pháp và thủ pháp cơbản sau:
5.1 Phương pháp phân tích và miêu tả
Luận văn tiến hành phân tích đặc điểm cấu tạo, đặc điểm nghĩa, đặc
Trang 14điểm kết hợp của các từ, các nhóm từ thuộc trường tính từ chỉ đặc điểm vềlượng của sự vật, hiện tượng trong tiếng Việt, miêu tả chúng theo các đặcđiểm trên.
5.2 Phương pháp so sánh: So sánh các tính từ, các nhóm tính từ chỉ đặc điểm về lượng để thấy điểm đồng nhất và khác biệt của chúng.
5.3 Thủ pháp thống kê phân loại
Khảo sát, thống kê những tính từ chỉ đặc điểm về lượng của sự vật,hiện tượng trong tiếng Việt và những biểu thức ngôn ngữ có chứa tính từ chỉlượng, phân chúng thành nhóm để thực hiện nghiên cứu
6 Đóng góp của luận văn
* Về lí luận
Kết quả nghiên cứu của Luận văn góp phần làm sáng tỏ những lí luậnchung về trường từ vựng ngữ nghĩa, về lý thuyết kết trị của từ thông qua ngữnghĩa và kết trị của nhóm tính từ chỉ đặc điểm về lượng của sự vật trongTiếng Việt Đồng thời luận văn cũng góp phần làm sâu sắc hơn những hiểubiết về tính từ tiếng Việt, về ngữ nghĩa và sự chuyển nghĩa, sự thay đổi kết trịcủa chúng khi tham gia hoạt động giao tiếp
* Về thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể dùng làm tài liệu dạy học tiếngViệt trong nhà trường, góp phần vào việc xác định những chuẩn mực sử dụng
từ ngữ trong tiếng Việt
7 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục và các côngtrình nghiên cứu liên quan, luận án có ba chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận
Chương 2: Tính từ chỉ đặc điểm về lượng xét về cấu tạo, về nghĩa gốc
và đặc điểm kết hợp
Trang 15Chương 3: Sự chuyển nghĩa, chuyển trường và thay đổi kết trị của tính
từ chỉ đặc điểm về lượng của sự vật
Trang 16NỘI DUNG
Chương 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN
1.1 Cơ sở triết học, vật lý
1.1.1 Khái niệm Lượng
Lượng là một thuộc tính của các vật thể vật chất mà con người có thểnhận biết bằng giác quan Theo Từ điển Tiếng Việt, Hoàng Phê (chủ biên),
2004, NXB Đà Nẵng, Trung tâm Từ điển học Hà Nội - Đà Nẵng, từ Lượng cócác cách hiểu và vận dụng trong cuộc sống:
(1) Mức độ ít nhiều, có thể xác định bằng con số cụ thể Ví dụ: Lượng
mưa hàng năm; lượng vận chuyển hàng hóa.
(2) Tính toán, cân nhắc điều kiện chủ quan và khách quan để quyếtđịnh hành động cho phù hợp, cho có thể đạt kết quả mong muốn Ví dụ:
Lượng sức không làm nổi; Biết lượng thế giặc mà đánh.
(3) Lạng ( thường dùng nói về khối lượng của vàng bạc)
(4) Lòng bao dung, sẵn sàng tha thứ đối với kẻ có sai lầm, tội lỗi Ví
dụ: Rộng lượng; Hưởng lượng khoan hồng.
(5) Lượng còn dùng trong các môn khoa học (Lượng giác học; Lượngtử), trong đời sống tình cảm của con người (Lượng thứ, Lượng tình)
Trong luận văn này, đặc điểm về lượng của sự vật được quan niệm lànhững đặc điểm có thể xác định theo một số lượng chính xác hay có thể lượnghóa thành con số Do đó tính từ chỉ đặc điểm về lượng của sự vật khi dùngtheo nghĩa gốc thì có khả năng kết hợp với số từ, tổ hợp số từ chỉ lượng cụ thể
Ví dụ: Cây cao năm mét Đường rộng tám mét Xe đạp nặng 20 kg Tuy
nhiên, những tính từ chỉ đặc điểm về lượng của sự vật khi cấu tạo thành từghép hay từ láy, hoặc khi chuyển nghĩa thì mất khả năng kết hợp với số từ So
Trang 17sánh: Căn phòng rộng rãi Ý nghĩa sâu xa của tác phẩm Ông ấy có hiểu biết
sâu rộng… Như vậy, trong luận văn này từ lượng được hiểu theo nghĩa thứ
nhất trong các nghĩa mà từ điển Hoàng Phê nêu ra ở trên
1.1.2 Cơ sở triết học, vật lý về lượng
Lượng là phạm trù triết học chỉ tính quy định vốn có của sự vật và hiệntượng trong thế giới khách quan về mặt số lượng, quy mô, trình độ, nhịp điệucủa sự vận động và phát triển cũng như các thuộc tính của sự vật
Lượng là cái vốn có của sự vật, song lượng chưa làm cho sự vật là nó,chưa làm cho nó khác với những cái khác Lượng tồn tại cùng với chất của sựvật và cũng có tính khách quan như chất của sự vật
Lượng của sự vật là tính quy định vốn có của sự vật, hiện tượng, chỉ rõ
về mặt quy mô, tốc độ, trình độ phát triển của sự vật, hiện tượng Nói đếnlượng sự vật tức là sự vật đó lớn hay bé, tốc độ phát triển nhanh hay chậm,trình độ cao hay thấp, kích thước dài hay ngắn, số lượng nhiều hay ít, quy môlớn hay nhỏ, trình độ cao hay thấp, nhịp điệu nhanh hay chậm Trong thực tếlượng của sự vật thường được xác định bởi những đơn vị đo lường cụ thể nhưvận tốc của ánh sáng là 300.000 km trong một giây, một phân tử nước baogồm hai nguyên tử hyđrô liên kết với một nguyên tử ôxy, một cái bàn cóchiều cao 80 phân, một nước có 50 triệu dân bên cạnh đó có những lượngchỉ có thể biểu thị dưới dạng trừu tượng và khái quát như trình độ tri thứckhoa học của một người, ý thức trách nhiệm cao hay thấp của một công dân, trong những trường hợp đó lượng và chất có sự hòa kết với nhau và chúng tachỉ có thể nhận thức được lượng của sự vật bằng con đường trừu tượng vàkhái quát hóa Có những lượng biểu thị yếu tố quy định kết cấu bên trong của
sự vật (số lượng nguyên tử hợp thành nguyên tố hóa học, số lượng lĩnh vực cơbản của đời sống xã hội), có những lượng vạch ra yếu tố quy định bên ngoàicủa sự vật (chiều dài, chiều rộng, chiều cao của sự vật) Sự phân biệt chất và
Trang 18lượng của sự vật chỉ mang tính tương đối Có những tính quy định trong mốiquan hệ này là chất của sự vật, song trong mối quan hệ khác lại biểu thị lượngcủa sự vật và ngược lại Chẳng hạn, số lượng sinh viên học giỏi nhất định củamột lớp sẽ nói lên chất lượng học tập của lớp đó Điều này cũng có nghĩa là
dù số lượng cụ thể quy định thuần túy về lượng, song số lượng ấy cũng cótính quy định về chất của sự vật
- Một quan điểm rất phố biến: Quan điểm đồng nhất nghĩa của từ vớikhái niệm logic hay biểu tượng tâm lý có liên hệ với từ ấy Những người theoquan điểm nay cho rằng: Nghĩa của từ trong ngôn ngữ nào đó là tư tưởng củangười nói thứ tiếng ấy của loài người”
Trong giáo trình “ Ngữ nghĩa học từ bình diện hệ thống đến hoạt động”
- Nhà xuất bản Đại học sư phạm của tác giả Đỗ Việt Hùng đã tiếp thu thành
tự của các nhà nghiên cứu đi trước và quan niệm rằng: “ Nghĩa của từ là toàn
bộ nội dung tinh thần xuất hiện trong suy nghĩ của một người bản ngữ khingười đó tiếp xúc (tạo lập hoặc lĩnh hội) với một hình thức âm thanh ngônngữ nhất định” Vì vậy tác giả chủ trương quan niệm rộng về nghĩa của từ -không chỉ bao gồm phần nội dung ổn định, chung cho cộng đồng ( gọi là phầnnghĩa hạt nhân) mà còn là phần nội dung xuất hiện trong suy nghĩ của người
sử dụng hoặc người tiếp nhận ( phần nghĩa liên hội)
Trang 19b Các nhân tố tạo nên nghĩa của từ định danh
Từ định danh là từ có chức năng gọi tên những sự vật, hoạt động, tínhchất, trạng thái…Đó thường là các danh từ, động từ, tính từ, trạng từ… Đốilập lại là các từ phi định danh (hư từ) Trong khuân khổ phạm vi luận văn,chúng tôi chỉ nói đến ý nghĩa của các từ định danh, bởi tính từ chỉ lượng làloại từ định danh
- Các nhân tố ngoài ngôn ngữ: từ tam giác ngữ nghĩa của Ogden vàRichard, có thể thấy hai nhân tố cơ bản ngoài ngôn ngữ góp phần làm nênnghĩa của từ là: Sự vật, hiện tượng thuộc thế giới bên ngoài; Hiểu biết về sựvật, hiện tượng
- Các nhân tố nội bộ ngôn ngữ: yếu tố trong ngôn ngữ là toàn bộ hệthống ngôn ngữ
- Tổng hợp về các nhân tố ảnh hưởng đến nghĩa của từ định danh: Pháttriển quan điểm về các nhân tố ảnh hưởng đến nghĩa của từ, tác giả Đỗ HữuChâu sử dụng hình tháp ngữ nghĩa:
người dùng
tư duy
sự vật
chức năng tín hiệu hocjhọc
từ - trừu tượng
Hệ thống ngôn ngữ
Trang 20Theo đó, nghĩa của từ được tạo thành trong mối quan hệ với hàng loạicác yếu tố: sự vật, tư duy, người dùng, chức năng tín hiệu học, hệ thống ngônngữ … Số lượng các đỉnh ở đáy có thể thay đổi tăng lên tùy thuộc vào nhữngnhân tố có thể sẽ được phát hiện:
+ Từ mối quan hệ giữa từ với sự vật sẽ hình thành ý nghĩa biểu vật.+ Từ mối quan hệ giữa từ với tư duy sẽ hình thành ý nghĩa biểu niệm.+ Từ mối quan hệ giữa từ với người dùng sẽ hình thành ý nghĩa phongcách, liên hội
+ Từ mối quan hệ giữa từ với chức năng tín hiệu học sẽ hình thành ýnghĩa giá trị chức năng
+ Từ mối quan hệ giữa từ với hệ thống ngôn ngữ sẽ hình thành ý nghĩacấu trúc ( cấu tạo từ, ngữ pháp)
Trên đây là những yếu tố cơ bản tạo nên nghĩa của từ Trên thực tế còn
có các yếu tố khác như: Lịch sử, xã hội, thời đại, tập thể xã hội, nghề nghiệp,tôn giáo, địa phương… cũng ảnh hưởng đến nghĩa của từ
c Các thành phần nghĩa của từ định danh
Trong từ định danh có hai loại ý nghĩa lớn: ý nghĩa từ vựng và ý nghĩangữ pháp Tuy nhiên xuất phát từ mục tiêu, nhiệm vụ, đối tượng nghiên cứutrong luận văn chúng tôi chỉ đề cập tới ý nghĩa từ vựng
Ý nghĩa từ vựng là ý nghĩa của riêng từng từ
Các thành phần ý nghĩa từ vựng của từ định danh:
Ý nghĩa biểu vật là thành phần của từ liên quan đến sự vật hoặc phạm vi
sự vật trong thế giới mà từ gợi ra khi ta tiếp xúc với nó ( sản sinh và tiếp nhận)
Ý nghĩa biểu vật thể hiện cách nhìn của cộng đồng ngôn ngữ về thếgiới Nó liên quan đến các sự vật trong thế giới bên ngoài Sự tồn tại trong thếgiới ở những dạng khác nhau, trong đó dạng cơ bản là vật chất, trong khi đó ýnghĩa biểu vật của từ thuộc về phạm trù tinh thần của ngôn ngữ, mặt khác sự
Trang 21chia cắt thế giới thành các “ mẫu- sự vật” ứng với nghĩa của từ ở các dân tộckhác nhau là khác nhau Từ đó cho thấy ý nghĩa biểu vật của từ mang tính dântộc, đặc trưng cho tư duy- văn hóa của cộng đồng ngôn ngữ Cụ thể:
- Có sự vật ở ngôn ngữ này được biểu thị bằng một từ, nhưng ở ngôn
ngữ khác biểu thị bằng nhiều từ Ví dụ: Trong tiếng Anh chỉ có một từ rice để chỉ chung cho cho lúa, gạo, thóc, cơm của tiếng Việt.
- Không chỉ các ngôn ngữ khác nhau mới có sự khác nhau về phạm trùbiểu vật, ngay trong một ngôn ngữ với các vùng phương ngữ khác nhau cũngcho thấy sự khác biệt phạm trù biểu vật Ví dụ: Người miền Nam chỉ có một
từ lúa để chỉ chung cả lúa và thóc theo cách gọi của người miền Bắc
Ý nghĩa biểu vật và hành động chiếu vật: Ý nghĩa biểu vật của từ là cơ sởchiếu vật của mình khi ngôn ngữ thực hiện hoạt động hành chức, khi các từ ngữđược sử dụng để phục vụ cho giao tiếp Hành động chiếu vật là hành động màngười nói sử dụng các từ ngữ để đưa sự vật, hiện tượng từ thế giới bên ngoài vàotrong diễn ngôn, còn người nghe lại từ các hình thức ngôn ngữ tiếp nhận được
mà suy ra sự vật, hiện tượng trong thế giới bên ngoài được nói đến
Trong luận văn nghĩa gốc của các tính từ chỉ lượng tương ứng vớilượng trong hiện thực khách quan chính là nghĩa biểu vật của chúng
Ý nghĩa biểu niệm là phần nghĩa của từ liên quan đến hiểu biết về ý
nghĩa biểu vật, tức về cách dùng từ
Ý nghĩa biểu niệm có cấu trúc gồm một số thành tố được sắp xếp vớinhau theo một trình tự nhất định Các thành tố được phân xuất trên cơ sở phântích thành tố nghĩa Chúng là đơn vị một mặt nhỏ nhất ở phương diện nội dung(cái được biểu hiện) của tín hiệu ngôn ngữ và được gọi là nét nghĩa Nét nghĩađược phân xuất trên cơ sở phân tích thành tố nghĩa Trong cấu trúc nghĩa của từ,mối nét nghĩa có hai đặc trưng: Đặc trưng bản chất và đặc trưng vị trí
Đặc trưng bản chất tương ứng với thuộc tính của sự vật, hiện tượng
Trang 22khách quan hoặc ứng với sự hạn chế biểu vật, hoặc thái độ, tình cảm cáchđánh giá cần lưu ý khi sử dụng từ V.G Gak cho rằng: “ mỗi nét nghĩa là sựthể hiện trong nhận thức của người bản ngữ những đặc điểm khác nhau tồn tạikhách quan cho sự vật hoặc được hoặc được được môi trường ngôn ngữ gáncho nó và, do đó là khách quan với người dùng” [trang 64] Song sự vật lạitồn tại ở nhiều đặc điểm khác nhau Đặc điểm nào được coi là nét nghĩa, đặcđiểm nào không phải là nét nghĩa Định nghĩa của V.G Gak khó có thể trả lời
và khó giúp ta xác định được nét nghĩa Đỗ Hữu Châu, trong các công trìnhnghiên cứu về từ vựng - ngữ nghĩa tiếng Việt khảng định: “ Chỉ những thuộctính nào tạo nên sự đồng nhất và sự đối lập về mặt ngữ nghĩa giữa các từ thìthuộc tính đó mới trở thành nét nghĩa của ý nghĩa biểu niệm Do đó, để pháthiện ra các nét nghĩa cần phải tìm ra những nét nghĩa chung, đồng nhất trongnhiều từ rồi lại đối lập những từ có nét nghĩa chung đó với nhau để tìm ra nétnghĩa cụ thể hơn, cứ như vậy cho đến khi chúng ta gặp những nét nghĩa chỉ córiêng trong một từ” Theo đó chúng ta dễ dàng tìm được nét nghĩa của một từ
Ví dụ: Từ bà so sánh với thực vật, ta phân xuất được nét nghĩa [động vật], đem so sánh với động vật, phân xuất được nét nghĩa [Người], so sánh với
người, phân xuất được nét nghĩa [ tuổi cao], so sánh ông với phân xuất được
nét nghĩa [giới tính nữ] Hoặc tính từ chỉ đặc điểm về lượng “cao” có hệ thống
nét nghĩa như sau: (đặc điểm kích thước),( của người hay vật),(theo chiều
thẳng đứng), ( hướng từ dưới lên), (có độ đo được coi là lớn) … Song hạn
chế của các bước này là tính “ ngẫu hứng” Hậu quả của nó đưa đến chochúng ta hai băn khoăn: 1) đã nhận biết được hết các nét nghĩa chưa? 2) Cácnét nghĩa nhận được có tương thích không?
Quan niệm về tính đồng nhất và đối lập của Đỗ Hữu Châu đã gợi đếnviệc so sánh các nét nghĩa trong cấu trúc nghĩa của một từ với mô hình phânloại nghĩa từ vựng trong một ngôn ngữ theo chủ đề Như vậy, nét nghĩa là
Trang 23những thành phần nghĩa thể hiện thuộc tính sự vật mà từ biểu thị, dựa vào đó
mà từ có thể thuộc vào một trong các nhóm từ vựng- ngữ nghĩa được phânchia theo chủ đề [66] Theo đó, từ “ lưu giữ” trong nghĩa của mình nhữngthong tin các nhóm từ vựng - ngữ nghĩa ở các cấp độ khác nhau mà nó thuộcvào Trong đó thông tin về mỗi nhóm là một nét nghĩa Lí tưởng nhất là sốlượng nét nghĩa trong cấu trúc nghĩa biểu niệm của một từ bằng đúng sốnhóm từ vựng - ngữ nghĩa mà nó thuộc vào Ví dụ: Cấu trúc nghĩa biểu niệmcủa từ “ bánh Chưng” là: (sự vật) (thực phẩm) (dùng để ăn) (một loại bánh)(làm từ gạo, đỗ, thịt) (làm ra nhờ bàn tay con người)
Về đặc trưng vị trí của nét nghĩa: Đặc trưng này chiếm vị trí nhất địnhtrong cấu trúc nghĩa biểu niệm của từ Mỗi nét nghĩa phải chiếm một vị trí xácđịnh trong cấu trúc biểu niệm của từ Trật tự các nét nghĩa thay đổi có thể làmthay đổi nghĩa của các từ Vị trí của các nét nghĩa trong cấu trúc biểu niệmquy định giá trị, tính chất của nét nghĩa Đặc tính vị trí của các nét nghĩa phảnánh các giá trị hệ thống và chức năng của chúng
Giá trị hệ thống là chỉ số về lực tạo hệ thống, lực liên kết của nét nghĩa đốivới các từ khác nhau Nét nghĩa có vị trí càng cao thì giá trị hệ thống càng lớn
Giá trị chức năng là chỉ số về lực khu biệt, phân biệt nghĩa giữa các từkhác nhau Nét nghĩa có giá trị càng thấp, càng cụ thể thì giá trị chức năngcàng lớn Ví dụ: từ “ giáo viên” có cấu trúc biểu niệm được đánh số như sau: (1- người) ( 2- có trình độ từ trung cấp trở lên) ( 3- ngành giáo dục) ( 4- làmnghề dạy học) Giá trị hệ thống của các nét nghĩa trong cấu trúc nghĩa biểuniệm của từ “ giáo viên” được sắp xếp từ cao xuống thấp như sau: 1-2-3-4.Giá trị chức năng thì thứ tự là: 4-3-2-1
Ý nghĩa biểu thái là thành phần nghĩa liên quan đến thái độ, cảm xúc,
cách đánh giá
Ý nghĩa biểu thái có vai trò quan trọng trong hướng dẫn cách dùng từ
Trang 24Ví dụ: “Mời xơi cơm” và “ ăn cơm đi” là hai từ có ý nghĩa biểu thái khác nhau: “Mời xơi cơm” thể hiện thái độ tôn trọng, “ăn cơm đi” thể hiện thái độ
bình thường, dân dã Hoặc hai từ đồng nhất về nghĩa biểu vật và biểu niệm( chỉ đặc điểm kích thước theo chiều thẳng đứng, hướng từ dưới lên, độ đonhỏ …) nhưng khác nhau về nghĩa biểu thái, chẳng hạn: thấp/ lùn tịt Ví dụ:
“Hoa đứng đầu hàng vì Hoa thấp nhất nhóm” ( Lời giải thích, mang tính
trung hòa) và “ Cái Hoa lùn tịt” ( Nhận xét mang thái độ chê bai) Bởi vậy ý
nghĩa biểu thái là một nét nghĩa trong cấu trúc biểu niệm của từ
Ý nghĩa liên hội là thành phần nghĩa không ổn định nhưng lại có vai
trò quan trọng trong giao tiếp, trong việc sử dụng từ Những từ gây ra những ýnghĩa không đẹp, không tốt không nên dùng ở những chỗ không phù hợp Ví
dụ: Trong sinh hoạt của dân tộc ta rất kị nghe những từ phân, gio… trong khi
ăn uống cũng là biểu hiện của việc cần phải biết ý nghĩa liên hội của từ đểdùng từ cho phù hợp
Ý nghĩa liên hội của từ còn phản ánh những suy nghĩ, tính biểu trưng,đặc điểm của điển dạng trong các thời kỳ khác nhau Ý nghĩa liên hội cũng cótính cá nhân, do điều kiện song và kinh nghiệm sống của mỗi cá nhân quyết
định Ví dụ: với từ Xe có người sẽ hình dung ra “xe đạp, xe máy”, có người
hình dung ra “xe ô tô”, rồi “siêu xe” và cũng có thể đó là “mục đích, điểmphấn đấu” của cá nhân nào đó…
Việc nắm bắt và phân tích được các ý nghĩa liên hội góp phần tìm racác đặc trưng nhận thức của thời đại, của cộng đồng ngôn ngữ và của cá nhâncác nhà sáng tác - các nhà nghệ thuật ngôn ngữ
đ Hiện tượng nhiều nghĩa
Đặc điểm của tín hiệu ngôn ngữ có tính đa trị Biểu hiện quan trọng củatính đa trị là một cái biểu đạt (một hình thức tín hiệu) có thể có nhiều cái đượcbiểu đạt (ứng với nhiều nội dung) Đó là hiện tượng nhiều nghĩa và hiện
Trang 25tượng đồng âm Hiện tượng nhiều nghĩa là hiện tượng một từ có nhiều nghĩa;
hiện tượng đồng âm là hiện tượng các từ khác nhau có hình thức âm thanh
trùng nhau một cách ngẫu nhiên
Hiện tượng nhiều nghĩa của từ là kết quả của sự chuyển biến ý nghĩacủa từ Động lực chính là do nhu cầu giao tiếp như: nhu cầu gọi tên sự vật,hiện tượng, tính chất….mới và sự ảnh hưởng của yếu tố tâm lý xã hội do cácnguyên nhân kiêng kị, nói giảm nói tránh để đảm bảo phương châm lịch sự Đồng thời còn phụ thuộc vào tư tưởng phổ biến trong mỗi giai đoạn lịch sử xãhội và cách nhìn nhận, nhận thức của cộng đồng, hoặc các cá nhân đối với sựvật, hiện tượng trong thế giới
Hiện tượng nhiều nghĩa được chia ra: Hiện tượng nhiều nghĩa ngôn ngữ
và Hiện tượng nhiều nghĩa lời nói
Về phương thức chuyển nghĩa: phương thức mà dựa vào đó có thể thựchiện sự chuyển biến ý nghĩa và tăng thêm nghĩa mới cho từ Ẩn dụ và Hoán
dụ là hai phương thức chuyển nghĩa phổ biến nhất
Về quá trình chuyển nghĩa: Sự chuyển biến ý nghĩa của từ diễn ra theonhiều phương thức khác nhau:
- Sau quá trình chuyển nghĩa, nghĩa ban đầu của từ không còn Ví dụ:
Từ “đểu” và “cáng” nghĩa ban đầu chỉ phu khiêng kiệu, sau quá trình chuyểnnghĩa “ đểu cáng” được dùng để chỉ một tính không tốt của con người
- Sau quá trình chuyển nghĩa, nghĩa sau trái ngược hẳn với ý nghĩa
trước (trở thành đồng nghĩa với từ vốn trái nghĩa với nó) Ví dụ: Chị công
nhân đứng 20 máy = chị công nhân chạy 20 máy.
- Sau quá trình chuyển nghĩa, nghĩa mới có thể được mở rộng hơn, cóthể bị thu hẹp hơn so với nghĩa gốc Ví dụ: “Chiến tranh lạnh” có nghĩa rộngnhưng “tôi đang chiến tranh lạnh với bà xã” (mâu thuẫn gia đình) Hoặc
“Chúng em đang kế hoạch” (kế hoạch = chưa vội sinh con)
- Trong quá trình chuyển nghĩa, ý nghĩa biểu thái cũng có thể bị thay
Trang 26đổi Ví dụ: Khi sử dụng từ “ong”, “bướm” trong: “Mùa con ong đi kiếm
mật”, “Xưa yêu quê hương vì có chim có bướm” và “Thân sao bướm chán, ong chường bấy thân” (Truyện Kiều - Nguyễn Du) (chỉ khách làng chơi)
“Tường đông ong bướm đi về mặc ai” (Truyện Kiều - Nguyễn Du) (chỉ nam
nhân đang muốn tìm người yêu) thì ý nghĩa biểu thái của từ cũng thay đổi.
Về phân loại nghĩa trong từ nhiều nghĩa: căn cứ vào quá trình chuyểnnghĩa, ta có nghĩa gốc (còn gọi: nghĩa chính, nghĩa đen) và nghĩa chuyển ( còngọi: nghĩa phụ, nghĩa bóng) Nghĩa gốc là nghĩa cơ sở để xuất hiện nghĩa mới,nghĩa chuyển là nghĩa xuất hiện trên cơ sở một nghĩa đã có Nghĩa gốc có thể lànghĩa đầu tiên của từ, nhưng cũng có thể không phải là nghĩa đầu tiên
Ví dụ: Từ “ mũi” có các nghĩa S1, S2, S3, S4 như sau:
S1: Một bộ phận cơ thể, phần nhô ra: Cái mũi
S2: Chỉ phần nhô ra của đất: Mũi đất
S3: Một phần của trận đánh: Trận đánh chia làm 5 mũi
S4: Cảnh ngoài đời ( nói hài hước): Nàng đã trúng mũi tên tình ái.Quá trình chuyển nghĩa của các nghĩa trên như sau:
S1-> S2
-> S3 -> S4
Trong các nghĩa đó S1 được coi là nghĩa gốc của từ, các nghĩa S2, S3,S4 là các nghĩa chuyển Song nếu xét riêng từng trường hợp chuyển nghĩa, tathấy S3 là nghĩa chuyển của nghĩa gốc S1, nhưng đồng thời cũng là nghĩa gốc
để xuất hiện nghĩa S4 Như vậy ta có thể căn cứ mức độ phụ thuộc vào ngữcảnh để phân biệt hai loại nghĩa trên của từ, thường thì nghĩa chính là nghĩa
mà người sử dụng ngôn ngữ có thể nói ra ngay mà không cần phải có ngữcảnh, còn nghĩa chuyển là những nghĩa cần có ngữ cảnh mới xác định được
Ví dụ: “Đong đầy, bán vơi” ta nghĩ ngay đến nghĩa chính: Hoạt động của con
người “đong”,“bán” mà không cần một ngữ cảnh nào cả Còn các nghĩa
Trang 27chuyển của nó cần phải đặt vào ngữ cảnh mới xác định được ( Ví dụ: “ Nó
chỉ là loại “Đong đầy, bán vơi” - thái độ coi thường một con người làm ăn
buôn bán gian dối; hoặc: “Tôi ấy à ? Tôi chỉ “Đong đầy, bán vơi” thôi - Thái
độ khiêm nhường) Ngoài ra căn cứ vào phạm vi sử dụng, các nghĩa của từ cóthể chia thành: Nghĩa phổ thông, nghĩa thuật ngữ, nghĩa lóng, nghĩa vănchương Đồng thời căn cứ vào tính chất lịch sử, các nghĩa của từ có thể chiathành: Nghĩa hiện dùng, nghĩa cố, nghĩa lịch sử…
1.2.1.2 Trường từ vựng ngữ nghĩa
a Khái niệm
Các đơn vị từ vựng đồng nhất với nhau về một hay nhiều nét nghĩa tạonên Trường từ vựng ngữ nghĩa ( hay là trường từ vựng hoặc Trường nghĩa).Trường từ vựng ngữ nghĩa bắt nguồn từ những tiền đề duy tâm của trườngphái W Humboldt và phần nào tư tưởng về tính cấu trúc ngôn ngữ của F.Saussure Sau đó là các tên tuổi như M Pokrovxkij, J Trer ( 1934), L.Weisgerber, W Poig… ở nước ta Trường từ vựng ngữ nghĩa thu hút sự quantâm của các nhà ngôn ngữ học như Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Thiện Giáp,Nguyễn Đức Tồn, Nguyễn Đức Dân, Bùi Minh Toán…
b Các loại trường nghĩa
Trong giáo trình “ Ngôn ngữ học đại cương” F Saussure đã chỉ ra haimối quan hệ cơ bản giữa các đơn vị đồng loại của ngôn ngữ, đó là quan hệngang (quan hệ hình tuyến, quan hệ tuyến tính, quan hệ ngữ đoạn ) và quan hệdọc (quan hệ trực tuyến, quan hệ hệ hình) Cũng theo quan hệ này, trường từvựng ngữ nghĩa phân loại thành các trường từ vựng ngữ nghĩa theo quan hệngang (Trường tuyến tính) và trường từ vựng ngữ nghĩa theo quan hệ dọc(Trường nghĩa biểu vật và Trường nghĩa biểu niệm) Ngoài hai trường nghĩa
cơ bản trên, ngôn ngữ còn tồn tại trường nghĩa liên tưởng
Về Trường nghĩa ngang: Là tập hợp các đơn vị từ vựng có khả năng
Trang 28kết hợp với một từ trung tâm nào đó trên trục tuyến tính Để xác lập nên cáctrường nghĩa tuyến tính, chúng ta chọn một từ làm gốc rồi tìm tất cả những từ
có thể kết hợp với nó thành những chuỗi tuyến tính (cụm từ, câu) chấp nhậnđược trong ngôn ngữ Ví dụ: Trường tuyến tính của từ “ Mũi” là: lõ, hếch, tẹt,
to, nhỏ, dọc dừa …Từ “lùn”: người, xe máy, lúa … Các từ trong một trườngtuyến tính là những từ thường xuất hiện với các từ trung tâm trong các loạingôn bản Phân tích ý nghĩa của chúng, chúng ta có thể phát hiện những nộidung ngữ nghĩa của các quan hệ cú pháp và tính chất của các quan hệ đó
Về Trường nghĩa dọc: Gồm Trường nghĩa biểu vật và trường nghĩa
biểu niệm
Trường nghĩa biểu vật: Là tập hợp các từ có quan hệ đồng nhất về
phạm vi biểu vật Để xác lập trường nghĩa biểu vật, chọn một danh từ biểu thị
sự vật làm gốc, rồi trên cơ sở đó thu thập các từ ngữ có cùng phạm vi biểu vậtvới danh từ được chọn làm gốc đó Tùy theo mục đích của việc huy động vốn
mà ta có thể lựa chọn số lượng các tiêu chí để xác lập trường nghĩa Ví dụ: Để
xác lập trường nghĩa lượng trong tiếng Việt, ta chọn từ lượng làm gốc, thu thập các từ ngữ có cùng phạm vi biểu vật với lượng như:
- Hành động tạo ra lượng: cân, đong, đo, đếm…
Lưu ý, trong Trường nghĩa biểu vật số lượng từ ngữ không đồng đềunhau giữa các trường Có những trường có nhiều từ biểu thị, có những trường
có ít từ biểu thị Số lượng từ ngữ cũng không đồng đều nhau giữa các miềntrong các trường biểu vật của các ngôn ngữ Có những miền trong ngôn ngữ
Trang 29này có từ biểu thị, nhưng trong ngôn ngữ kia không có từ biểu thị Do từ cóhiện tượng nhiều nghĩa nên mỗi từ có thể nằm trong nhiều trường khác nhautạo nên hiện tượng giao trường Mỗi trường thường có một nhóm từ trung tâm
có tác dụng quy định đặc trưng ngữ nghĩa của trường
Trường nghĩa biểu niệm: Là tập hợp các đơn vị từ vựng có cùng cấu
trúc biểu niệm Để xác lập trường nghĩa biểu niệm, chọn một cấu trúc biểuniệm làm gốc, rồi trên cơ sở đó thu thập các từ ngữ có cùng cấu trúc biểuniệm gốc đó Ví dụ: chọn cấu trúc biểu niệm: (hoạt động) (A tác động vào B)(B thay đổi trở thành sản phẩm), ta có thể thu được các từ ngữ có cùng trường
biểu niệm như: Khâu, may, vá, thêu, đan, lát, nặn, vẽ, nhào… Tùy theo mục
đích xác lập trường nghĩa biểu niệm, ta có bổ sung thêm nét nghĩa (bằng dụng
cụ có mũi), ta thu được các từ: Khâu, may, vá, thêu, đan Số lượng các nét
nghĩa trong cấu trúc biểu niệm được chọn làm gốc tỷ lệ nghịch với số lượng
từ ngữ thu thập được
Các từ cùng một trường nghĩa biểu niệm có thể khác nhau về trườngnghĩa biểu vật Ví dụ: gào, hót có chung cấu trúc nghĩa biểu niệm (hoạt động)(phát ra âm thanh), song chúng thuộc về trường nghĩa biểu vật khác nhau:
Gào (trường nghĩa biểu vật người), hót ( trường nghĩa biểu vật Chim).
Cũng như trường biểu vật, trường biểu niệm có thể được phân thànhnhiều miền nhỏ, với mật độ từ ngữ khác nhau Vì cũng có hiện tượng nhiềunghĩa biểu niệm nên một từ có thể được nằm trong nhiều trường biểu niệmkhác nhau tạo nên hiện tượng giao trường Trường biểu niệm có quan hệ vớikhái niệm nhưng không đồng nhất với tập hợp các khái niệm về thực tế kháchquan tồn tại trong tư duy
Trường nghĩa liên tưởng Là tập hợp các từ biểu thị các sự vật, hiện
tượng , hoạt động, tính chất … có quan hệ liên tưởng với nhau Ch.Bally –
Trang 30Nhà ngôn ngữ học người Pháp, tác giả đầu tiên của khái niệm Trường liêntưởng cho rằng: mỗi từ có thể là trung tâm của một trường liên tưởng các từtrong một trường liên tưởng là sự hiện thực hóa, cố định hóa bằng các nghĩa
liên hội có thể có của từ trung tâm đó Ví dụ: thuộc trường liên tưởng uống có thể có các từ: Bia, rượu, nước, mồ hôi, nước mắt, tình yêu, thù hận…
Trường liên tưởng có tính chủ quan cao, phụ thuộc vào điều kiện, môitrường sống, thời đại sống, kinh nghiệm sống… mỗi cá nhân Có những liêntưởng có ở người này nhưng không tồn tại hoặc xa lạ với người khác vàngược lại Tuy nhiên ở mỗi thời đại, mỗi ngành nghề, mỗi địa phương lại cómột điểm liên tưởng chung, ví dụ: Cùng sự việc “ăn mặc”, những người nôngdân, công nhân thì gọn gàng, thuận lợi, với giáo viên cẩn thận, kín đáo, đảmbảo tính sư phạm, giới nghệ sĩ gợi cảm, hấp dẫn, phô diễn hình thể…
Nói chung, phạm vi liên tưởng rất rộng Có những liên tưởng phổ biếnnhưng cũng có những liên tưởng mang tính cá nhân, điều đó lệ thuộc vào giaicấp, trình độ lứa tuổi, thời đại của người sử dụng ngôn ngữ Trường liêntưởng tự do chấp cánh cho nhà văn sáng tạo, bay cao trong vùng trời văn học.nắm được những điểm chung trong liên tưởng cho mỗi thời đại, mỗi nhóm xãhội… là điều kiện cần thiết để lý giải những hiện tượng “ ý tại ngôn ngoại”hay các biểu tượng, biểu trưng văn học
c Hiện tượng chuyển trường nghĩa
Hiện tượng chuyển trường nghĩa là hiện tượng một từ vốn thuộc trường
từ vựng ngữ nghĩa này nhưng trong quá trình sử dụng lại chuyển sang trường
từ vựng ngữ nghĩa khác Hiện tượng chuyển trường nghĩa có cơ sở từ hiệntượng chuyển nghĩa của từ Các đơn vị ngôn ngữ khi chuyển sang một nghĩakhác thì cũng thường chuyển sang một nghĩa mới
Ví dụ: Xét các phát ngôn sau:
Trang 31- “ Ngoài cửa ô tàu đói những vầng trăng” ( Chế Lan Viên)
- Tôi chỉ có một ham muốn là làm sao nước ta được độc lập ( Hồ Chí Minh)
- Tao muốn làm người lương thiện ( Nam Cao, Chí Phèo).
Các từ đói, ham muốn, muốn vốn thuộc trường nghĩa chỉ cảm giác sinh
lý, biểu thị nhu cầu của con người đòi hỏi được cung cấp thức ăn nhưng chưađược cung cấp hoặc cung cấp chưa đầy đủ Nhưng ở các phát ngôn trên, các từnày chuyển sang trường chỉ trạng thái tâm lí, biểu thị sự mong chờ, khát khao
của chủ thể đối với những điều được đề cập trong phát ngôn Hoặc Tính từ lùn
có thể chuyển sang thể hiện trình độ thấp về hiểu biết, trí tuệ: văn hóa lùn!
Các từ được sử dụng chuyển trường nghĩa ngoài giá trị biểu đạt xuấthiện mới, còn giữ được những ấn tượng ngữ nghĩa vốn có ở trường nghĩa cũlàm cho giá trị diễn đạt vượt hơn hẳn giá trị diễn đạt của các kết hợp giữa các
từ cùng trường nghĩa Ví dụ: Các từ chảy, bay, đi, về đều có khả năng thể hiện
sự dịch chuyển, rời chỗ trong không gian Song đi, về trong câu thơ: “ Nước
đi đi mãi không về cùng non” của Tản Đà đã làm cho nước được nhân hóa, trở
thành chủ thể có tâm hồn, chủ động trong sự “ chia ly”
Hiện tượng sử dụng các từ ngữ chuyển trường nghĩa có tính hệ thống.Một từ khi được dùng chuyển trường nghĩa thường kéo theo sự chuyển trườngnghĩa của các từ ngữ khác tạo nên hiện tượng cộng hưởng ngữ nghĩa
Ví dụ: “ Đã thấy xuân về với gió đông,
Với trên màu má gái chưa chồng.
Bên hiên hàng xóm, cô hàng xóm
Ngước mắt nhìn trời đôi mắt trong” ( Nguyễn Bính - Xuân về)
Mùa xuân về được so sánh với hình ảnh thiếu nữ thì các từ ngữ khác
cùng trường như: màu má gái chưa chồng, cô hàng xóm, đôi mắt trong cũng
được chuyển trường để biểu thị hình ảnh tươi trẻ, đầy sức sống, tươi vui củamùa xuân
Trang 32Việc chuyển trường nghĩa của các từ ngữ có giá trị diễn đạt rất lớn, vừathích ứng với giá trị biểu đạt của các từ ngữ thuộc trường nghĩa mới, vừamang sắc thái biểu đạt vốn có ở trường nghĩa cũ Khi nghiên cứu sự chuyểntrường của một nhóm từ ngữ, cần xem xét sự chuyển trường của từng thànhviên trong nhóm cũng như xu hướng biến đổi chung của chúng.
1.2.2 Cấu tạo của từ tiếng Việt
1.2.2.1 Về cấu tạo từ tiếng Việt
a Đơn vị cấu tạo từ trong tiếng Việt
Từ là đơn vị sẵn có trong ngôn ngữ và là đơn vị nhỏ nhất, cấu tạo ổnđịnh, mang nghĩa hoàn chỉnh, được dùng để cấu thành nên câu Từ có thể làmtên gọi của sự vật (danh từ), chỉ các hoạt động (động từ), trạng thái, tính chất(tính từ) Từ là công cụ biểu thị khái niệm của con người đối với hiện thực.Trong ngôn ngữ học, từ là đối tượng nghiên cứu của nhiều cấp độ khác nhau:cấu tạo từ, hình thái học, ngữ âm học, phong cách học, cú pháp học
Từ được tạo ra nhờ một hoặc một số hình vị kết hợp với nhau theonguyên tắc nhất định Hình vị trong tiếng Việt với đặc điểm là một ngôn ngữkhông biến hình, chỉ thực hiện chức năng cấu tạo từ Ranh giới các hình vịtrong tiếng Việt trong phần lớn trường hợp trùng với ranh giới của âm tiết.Tiếng Việt tồn tại những hình vị đa âm tiết, ví dụ các hình vị mượn từ ngôn
ngữ Châu Âu: cà phê, ghi đông, gác đờ xen… và các hình vị thuần việt: đu
đủ, bồ hóng, tắc kè.
b Các phương thức cấu tạo từ trong tiếng Việt
Từ trong các ngôn ngữ được cấu tạo bằng một số phương thức khácnhau Nói khác đi, người ta có những cách khác nhau trong khi sử dụng cáchình vị để tạo từ Tiếng Việt sử dụng các phương thức cấu tạo:
Phương thức từ hoá hình vị: Dùng một hình vị tạo thành một từ.Phương thức này thực chất là người ta cấp cho một hình vị cái tư cách đầy đủ
Trang 33của một từ, Ví dụ các từ: nhà, người, đẹp, ngon, viết, ngủ,… của tiếng Việt; các từ: đây, tức, phle, kôn,… của tiếng Khmer, các từ: in, of, with, and,… của
tiếng Anh là những từ được cấu tạo theo phương thức này
Phương thức Ghép hình vị: Phương thức này cũng gọi là phương thứchợp thành Ví dụ: trong tiếng Anh: homeland, newspaper, inkpot… trongtiếng Việt: đường sắt, cá vàng, sân bay… Ở đây không phải chỉ kể nhữngtrường hợp ghép các hình vị thực gốc từ, mà còn kể cả trường hợp ghép các
hình vị vốn hiện diện là những từ hư, những "từ ngữ pháp" như bởi vì, cho
nên… trong tiếng Việt.
Phương thức láy hình vị: Thực chất của phương thức này là lặp lại toàn
bộ một phần của từ, hình vị ban đầu trong một số lần nào đó theo quy tắc cho
phép, để cho một từ mới Ví dụ: co ro, lúng túng, giỏi giang, vành vạnh
1.2.2.2 Các kiểu cấu tạo từ
Tiếng Việt có các kiểu từ được phân loại theo cấu tạo như sau:
Từ đơn: là những từ được cấu tạo theo phương thức từ hóa hình vị, từ
đơn bao gồm một hình vị Vì có hình vị một âm tiết và hình vị nhiều âm tiếtnên cũng có các từ đơn một âm tiết ( từ đơn đơn âm) và từ đơn nhiều âm tiết( từ đơn đa âm) Xét về mặt lịch sử, hầu hết từ đơn là những từ đã có từ lâuđời Một số từ có nguồn gốc thuần Việt, một số từ vay mượn từ các ngôn ngữnước ngoài như tiếng Hán, tiếng Pháp, Anh, Nga,… Xét về mặt ý nghĩa , từđơn biểu thị những khái niệm cơ bản trong sinh hoạt của đời sống hàng ngàycủa người Việt, biểu thị các hiện tượng thiên nhiên, các quan hệ gia đình, xãhội , các số đếm,… Xét về mặt số lượng, tuy không nhiều bằng từ ghép và từláy (Theo thống kê của A.Derode, từ đơn chiếm khoảng 25% trong tổng số từtiếng Việt) nhưng là những từ cơ bản nhất, giữ vai trò quan trọng nhất trongviệc biểu thị các khái niệm có liên quan đến đời sống và cấu tạo từ mới chotiếng Việt
Trang 34Từ ghép: Từ được tạo ra theo phương thức ghép hình vị dựa vào
quan hệ ngữ pháp giữa các hình vị, có thể phân từ ghép ra làm 2 loại chính:
Từ ghép đẳng lập (từ ghép có các hình vị bình đẳng với nhau về ngữ pháp,
không có hình vị chính, không có hình vị phụ); Từ ghép chính phụ (từ ghép
có các hình vị không bình đẳng với nhau về ngữ pháp, có hình vị chính, cóhình vị phụ)
Từ láy: là những từ được tạo ra theo phương thức láy hình vị, tức là tác
động vào một hình vị gốc về mặt âm thanh để tạo ra hình vị ( một số hình vị)láy và kết hợp chúng lại với nhau để tạo thành từ Dựa vào sự giống nhau vềhình thức giữa hình vị gốc và hình vị láy, chia ra: Láy toàn bộ ( từ láy có cáchình vị giống nhau toàn bộ, hoặc khác nhau về thanh điệu, hoặc khác nhau vềphụ âm cuối: p- m, t- n, c- ng, ch- nh và thanh điệu) và Láy bộ phận ( từ láy
có các hình vị giống nhau ở phụ âm đầu và phần vần)
1.2.3 Hệ thống từ loại tiếng Việt
Vốn từ vựng của một ngôn ngữ có số lượng vô cùng lớn, các lớp từ lại
đa dạng về nghĩa nhưng không thuần nhất, do đó người ta phải tiến hành phânloại chúng Tuỳ theo mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu mà có những cáchphân loại từ loại khác nhau: phân loại của những nhà biên soạn từ điển, phânloại của những nhà từ vựng - ngữ nghĩa học… Chỉ có sự phân loại theo bảnchất ngữ pháp của từ mới được gọi là từ loại
Để phân chia từ loại, các nhà ngữ pháp học thường dựa vào ý nghĩakhái quát của lớp từ và đặc điểm hoạt động ngữ pháp của chúng Hai tiêu chínày có khi lại được tách thành ba: ý nghĩa, khả năng kết hợp, chức vụ cú pháp(Đinh Văn Đức); ý nghĩa khái quát, khả năng kết hợp, chức năng cú pháp(Diệp Quang Ban), ý nghĩa khái quát của từ, khả năng kết hợp của từ, khảnăng làm thành phần câu (Đỗ Thị Kim Liên) Mục đích của sự phân loại lànhằm phát hiện bản chất ngữ pháp, tính quy tắc trong hoạt động ngữ pháp và
sự hành chức của các lớp từ trong quá trình thực hiện các chức năng cơ bản
Trang 35của ngôn ngữ làm công cụ để giao tiếp, để tư duy.
Như vậy, từ loại là lớp từ có cùng bản chất ngữ pháp, được phân chiadựa theo ý nghĩa phạm trù, theo khả năng kết hợp trong cụm từ và trong câu,thực hiện những chức năng ngữ pháp nhất định
Dựa vào các căn cứ nói trên, các nhà ngữ pháp học đã tiến hành phânloại vốn từ tiếng Việt qua nhiều bước, từ phạm trù từ loại đến thực từ và hư
từ, rồi đến các tiểu loại trong mỗi từ loại
Sơ đồ về hệ thống từ loại tiếng Việt của các nhà ngữ pháp học có khácnhau chút ít Sau đây là sơ đồ hệ thống phân loại mà chúng tôi sử dụng làmcăn cứ trong đề tài này:
(Theo Đỗ Thị Kim Liên - Ngữ pháp tiếng Việt - NXB Giáo dục - 2002)
1.2.3.1 Tính từ chỉ lượng trong hệ thống từ loại tiếng Việt
Số từ
Tính
Đại từ
Danh
từ
Tìnhthái từ
Trang 36thực từ, sau danh từ và động từ Tính từ có số lượng lớn trong kho từ vựngmột ngôn ngữ, có ý nghĩa chỉ tính chất, hay nói rộng hơn, chỉ đặc trưng nóichung Tính từ là một trong những đơn vị ngôn ngữ có tần số xuất hiệnthường xuyên trong hoạt động giao tiếp ngôn ngữ của con người Đặc biệt,tính từ là đơn vị không thể thiếu khi con người sử dụng để đánh giá, nhận xét,bình phẩm về hình thức bề ngoài cũng như nội dung các hoạt động của conngười, vật và sự vật.
+ Về chức năng định danh, tính từ có chức năng định danh tính chất,định danh sự vật quan trọng sau danh từ và động từ Đỗ Hữu Châu đã khẳngđịnh: “Không phải chỉ danh từ mới có chức năng định danh Động từ, tính từ,trạng từ cũng là những tên gọi của các thuộc tính, các quá trình và các biểuhiện của thuộc tính và quá trình… nhờ các tính từ chỉ kích thước mà các đốitượng được phân biệt với nhau về mặt kích thước trong tư duy”…[16, tr 187]
+ Về mặt ý nghĩa ngữ pháp, tính từ là từ loại chỉ đặc trưng nói chung,gồm những đặc trưng hình thành theo nhận thức chủ quan của con ngườitrong quan hệ với đối tượng, quan hệ của trạng thái tình cảm và những liên hệtrừu tượng Ngoài tính chất chỉ đặc trưng chung, tất nhiên, tính từ còn có ýnghĩa chỉ về tính chất, đặc điểm, màu sắc
+ Về vị trí của tính từ trong câu cũng có sự khác nhau giữa các ngônngữ ở các ngôn ngữ có loại hình trật tự SVO thì tính từ thường đứng sau.Khác với tiếng Việt khi tính từ mô tả sự vật được biểu thị ở danh từ trong cácngôn ngữ Ấn - Âu thì vị trí của tính từ là đứng trước danh từ
+ Về mối quan hệ giữa tính từ và trạng từ, trong nhiều ngôn ngữ, cómột lớp trạng từ miêu tả tính chất của các hoạt động có nhiều nét giống theocách mà tính từ miêu tả tính chất của các sự vật Về mặt hình thái, phần lớncác trạng từ được cấu tạo từ những tính từ
+ Xét về chức năng cú pháp: Trong tiếng Việt, theo Đinh Văn Đức, tính
Trang 37từ tiếng Việt có hai chức năng: vị ngữ và định ngữ, ngoài ra có thể đóng vaitrò chủ ngữ trong câu, ví dụ, đẹp thì cho ra đẹp [31, tr 23] Tuy vậy, chứcnăng này của tính từ trong tiếng Việt là hạn chế và có thể nói mang tính chủ
đề hơn là chủ ngữ
- Nghĩa của tính từ: Các nhà ngôn ngữ học cho rằng các ý nghĩa ngữpháp của tính từ tiếng Việt cũng tương tự như ở các ngôn ngữ khác, nhưngchúng không có hình thái cấu tạo riêng Các ý nghĩa này được biểu đạt bằngphương tiện cú pháp, tức là khả năng kết hợp trong cụm từ và chức năngthành phần câu Tuy vậy, tính từ tiếng Việt cũng có những nét đặc trưngriêng Tiếng Việt không có tính từ chỉ quan hệ và sở thuộc, chúng được diễnđạt bằng các phương tiện từ vựng [38, tr 15]
Tính từ, ngoài nghĩa miêu tả như đã đề cập trên, còn một nghĩa nữa đặcbiệt quan trọng, đó là nghĩa dụng học Nghĩa miêu tả kết hợp với nghĩa dụnghọc thì mới tổ hợp thành một ý nghĩa biểu hiện hoàn chỉnh của tính từ [16, tr35-50] Đề cập tới ý nghĩa dụng học của tính từ tức là tính đến yếu tố conngười, mối quan hệ giữa đơn vị ngôn ngữ - tính từ - với người sử dụng Việcnghiên cứu cấu trúc ngữ nghĩa của tính từ ở bình diện dụng học, một mặt chochúng ta thấy “ toàn cảnh” cấu trúc phức tạp về mặt ý nghĩa của tính từ, mặtkhác giúp chúng ta phân loại tính từ một cách khu biệt, rạch ròi và thuyếtphục hơn Trên cơ sở bình diện nghĩa dụng học của tính từ, Đỗ Hữu Châuphân loại tính từ tiếng Việt thành các nhóm như sau
+ Các tính từ có tính chất vật lý, độ đo theo các chiều không gian: cao,
thấp, to, nhỏ, rộng, hẹp, nông, sâu…
+ Các tính từ có tính chất vật lý, dạng hình học trong không gian:
vuông, tròn, méo, cong ….
+ Các tính từ có tính chất vật lý, có tư thế: xiên, ngang, ngay …
Trang 38+ Các tính từ có tính chất vật lý, có cảm giác xúc giác: nóng, ấm, lạnh… + Các tính từ có tích chất vật lý, có cảm giác vị giác: ngọt, bùi, đắng, cay, + Các tính từ có tính chất vật lý có cảm giác khứu giác: thơm, khét, nồng + Các tính từ có tính chất vật lý có cảm giác thị giác về màu sắc: xanh,
đỏ, tím, vàng…
b Hệ thống từ ngữ chỉ lượng trong tiếng Việt
Trong hệ thống từ loại tiếng Việt, có lớp từ định danh, gọi tên sự vật;
có lớp từ chỉ đặc điểm, tính chất sự vật; có lớp từ chỉ hoạt động, trạng thái của
sự vật Và có lớp từ chỉ số lượng của các sự vật và biểu thị ý nghĩa về lượngcủa các đặc điểm, tính chất, hoạt động của các sự vật đó Trong tiếng Việt,
để biểu đạt nội dung ý nghĩa về lượng, có thể có nhiều nhóm, nhiều từ loạitham gia thể hiện ở những mức độ chuyên dụng hay phù trợ khác nhau: số từ,phụ từ, tính từ, đại từ, danh từ, động từ…
Trong đó, số từ là từ loại chuyên dụng, gồm những từ biểu thị ý nghĩa
số (Ý nghĩa số vừa có tính chất thực - gắn với khái niệm thực thể, vừa có tínhchất hư - không tồn tại như những thực thể hay quá trình)…
Tuy nhiên, trong tiếng Việt còn rất nhiều các từ loại khác biểu đạt ý
nghĩa số lượng Đó là các đại từ chỉ khối lượng, tổng thể: cả, tất cả, tất thảy,
hết thảy bao nhiêu bấy nhiêu; các tính từ: ít, nhiều, nặng nhẹ ; các danh từ: mét, tạ, tấn, và các phụ từ: những, các, mọi, từng, mấy Chẳng hạn:
Ta muốn ôm cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn
(Xuân Diệu)
Hôm nay trời nhẹ lên cao
Tôi buồn không hiểu vì sao tôi buồn
(Xuân Diệu)
Trong số những từ chỉ lượng đó, chúng ta thấy số từ, đại từ, tính từ vàphụ từ có khả năng biểu đạt ý nghĩa về lượng rõ ràng hơn cả Số từ là từ loại
Trang 39chuyên biệt dùng để chỉ số trong tiếng Việt Đại từ và tính từ là những thực
từ Đại từ dùng để chỉ trỏ, thay thế Tính từ dùng để chỉ đặc điểm, tính chất,trạng thái của sự vật, hiện tượng Các từ loại này cũng tham gia biểu thị vềlượng nhưng không chuyên dụng như số từ, phụ từ chỉ lượng
Đối với các ngôn ngữ biến hình như tiếng Nga, tiếng Anh, để biểu đạt ýnghĩa về số, các ngôn ngữ này dùng phương thức kết hợp: số từ + danh từ Ví
dụ: 3 students, 100 dolars (giống tiếng Việt) Nhưng cũng có thể dùng phương thức biến hình: thêm phụ tố (số lượng) vào căn tố Ví dụ: books, boys
(những cuốn sách, những đứa trẻ); hay đùng phương thức biến đổi căn tố Ví
dụ: man/men (một người đàn ông/ nhiều người đàn ông)…Điều này khác với
tiếng Việt Tiếng Việt là ngôn ngữ không biến hình, từ không biến đổi hìnhthái Vậy, để biểu đạt nội dung, ý nghĩa một cách phong phú, đa dạng và tinh
tế, chính xác, tiếng Việt rất cần đến trật tự từ và hư từ Các hư từ, trong đó cóphụ từ, mặc dù không có ý nghĩa thực nhưng lại có ý nghĩa quan trọng,không thể thiếu trong cách diễn đạt của người Việt, trong đó có phương thứcbiểu đạt ý nghĩa chỉ lượng
Cũng như vậy, trong biểu đạt nội dung số lượng của tiếng Việt, sự có mặt
của những: " Những, các, từng, mọi, mấy, mỗi " có ý nghĩa vô cùng quan trọng.
c Tính từ chỉ lượng
Tính từ chỉ lượng cũng có những đặc điểm hình thái, cú pháp và ngữnghĩa như những tính từ khác Tuy nhiên, tính từ chỉ lượng tự thân chúng làloại tính từ tính chất đặc biệt mà có thể gọi là những tính từ phẩm chất - đánhgiá chỉ những thuộc tính tương đối của sự vật được con người phân chia trongquá trình định vị đánh giá
Tính từ chỉ lượng thường ở thế đối lập từng cặp về nghĩa Việc sử dụngcác tính từ phần lớn phụ thuộc vào danh từ chỉ sự vật, hiện tượng có nhữngtính chất tương ứng được biểu thị Tính từ chỉ lượng thường là những tính từ
đa nghĩa và có cấu trúc mở với một số lượng ý nghĩa nhất định Sự khác nhau
Trang 40giữa các nghĩa của các tính từ đa nghĩa chủ yếu là sự khác nhau về khả năngkết hợp từ vựng của chúng với những danh từ nhất định.
Như vậy, khái niệm lượng là một khái niệm mang tính phạm trù, nhưng
là một thể thống nhất của hai thành phần số lượng và không gian Thành phầnkhông gian bao hàm khái niệm phương, chiều, điểm, đường thẳng và mặtphẳng Các khái niệm đó đều được thể hiện đầy đủ và phức tạp trong tính từchỉ lượng
Ví dụ: - Sông Cửu Long dài
- Toà nhà Xinh cao, to
Nói sông Cửu Long dài là so với những con sông khác, toà nhà “Xinh”cao, to là so với những toà nhà khác, có thể ở một vùng địa lý hoặc khu vựcxác định nào đó trong ý thức người nói
1.2.4 Kết trị, sự thay đổi kết trị
a Khái niệm kết trị
Kết trị là khái niệm mở và thể hiện hướng nghiên cứu đầy triển vọng,đang trong quá trình hoàn thiện Từ định nghĩa kết trị động từ của Nguyễn VănLộc, chúng tôi đưa ra định nghĩa kết trị của tính từ: “ Kết trị của tính từ theocách hiểu hẹp thường được xác định là thuộc tính kết hợp cú pháp bắt buộc củatính từ, tức là khả năng tính từ kết hợp vào mình các thành tố bắt buộc của câu(chủ ngữ và định ngữ truyền thống ) Theo cách hiểu rộng kết trị của tính từ làtoàn bộ thuộc tính kết hợp của tính từ (bao gồm cả khả năng kết hợp từ vựnglẫn khả năng kết hợp cú pháp, cả khả năng kết hợp bắt buộc lẫn tự do)
Xác định kết trị của tính từ theo nghĩa hẹp: Ta có thể tập trung vàothuộc tính kết hợp cú pháp quan trọng nhất của từ Từ đó phát hiện ra nhữngđặc điểm bản chất nhất của tính từ, những bình diện đối lập cơ bản giữa cácphạm trù từ vựng - ngữ pháp trong nó A.A Kholorovich quan điểm: Cácthành tố bắt buộc chính là những thành tố lập thành “ bối cảnh tối ưu” của