Các đối tượng trong ví dụ 1 có thể hoán đổi vị trí cho nhau mà nghĩa không thay đổi, còn các đối tượng của ví dụ 2 có thể hoán đổi vị trí cho nhau nhưng nghĩa hoặc sẽ thay đổi hoặc câu t
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
TRỊNH TỐ LOAN
NGHỆ THUẬT SO SÁNH TRONG TIỂU THUYẾT
ĐOẠN TUYỆT CỦA NHẤT LINH
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam hiện đại
Mã số: 60 22 01 21
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN
Người hướng dẫn khoa học: TS Trần Văn Toàn
HÀ NỘI - 2015
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên, tác giả xin gửi lời cảm ơn trân trọng và sâu sắc nhất tới
TS Trần Văn Toàn – Người thầy đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo cho tác giả
trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn.
Tác giả trân trọng cảm ơn ban Giám hiệu trường Đại học sư phạm Hà Nội, ban Chủ nhiệm khoa Ngữ Văn, các thầy cô giáo bộ môn đã tham gia giảng dạy, truyền đạt kiến thức, hướng dẫn khoa học, đóng góp ý kiến quý báu và giúp đỡ tác giả trong suốt quá trình học tại trường cũng như quá trình thực hiện luận văn.
Cuối cùng tác giả xin cảm ơn gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã cổ vũ, động viên nhiệt tình và tạo điều kiện giúp đỡ mọi mặt để tác giả hoàn thành tốt chương trình học tập và nghiên cứu đề tài khoa học này.
Hà Nội, tháng 10 năm 2015
Tác giả
Trịnh Tố Loan
Trang 3MỤC LỤC
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
1.1 Văn học Việt Nam hiện đại (1930- 1945) là dấu mốc quan trọng trong toàn bộ tiến trình văn học nước nhà Mặc dù chỉ tồn tại trong khoảng 15 năm nhưng văn học Việt Nam hiện đại đã để lại cho hậu thế một khối lượng tác phẩm đồ sộ gắn liền với nó là những phong cách nghệ thuật độc đáo trong
cả thơ lẫn văn xuôi Trong văn học Việt Nam giai đoạn 1930- 1945, Tự lực
văn đoàn là "nhóm quan trọng nhất và là nhóm cải cách đầu tiên của nền văn
học Việt Nam hiện đại" (Hoàng Xuân Hãn)
Tự Lực văn đoàn là một tổ chức của các nhà văn chuyên nghiệp do
Nguyễn Tường Tam (Nhất Linh) khởi xướng và bắt đầu hình thành vào cuối năm 1932, chính thức tuyên bố thành lập vào Thứ Sáu, ngày 2 tháng 3 năm
1934 (tuần báo Phong Hóa số 87) Đây là một tổ chức văn học đầu tiên của Việt Nam mang đầy đủ tính chất một hội đoàn sáng tác theo nghĩa hiện đại, và là một
tổ chức văn học đầu tiên trong lịch sử văn học của dân tộc Việt do tư nhân chủ xướng Với khoảng 10 năm (1932 - 1942) tồn tại, văn đoàn ấy với những sáng tác văn học, hoạt động báo chí, xuất bản sách, trao giải thưởng, v.v đã tạo nhiều ảnh hưởng đến văn học và xã hội Việt Nam ở thời kỳ đó
Trong Tự lực văn đoàn, Nhất Linh là người sáng lập, người điều hành,
đồng thời cũng là cây bút trụ cột của nhóm Mặc dù sáng tác không nhiều, nhưng Nhất Linh đã "vạch ra một con đường riêng", cách tân mạnh bạo trong các sáng tác cả về nội dung và nghệ thuật, góp phần tạo danh tiếng cho tổ chức văn học này
1.2 Nhất Linh và Tự lực văn đoàn "đã có những đóng góp lớn vào
nghệ thuật tiểu thuyết và tính hiện đại của tiểu thuyết, đóng góp vào câu văn của dân tộc với lối văn trong sáng và rất Việt Nam" (Huy Cận) Một trong những đóng góp đó của Nhất Linh chính là nghệ thuật so sánh
Trang 5Sự nghiệp văn học của Nhất Linh đã được nhiều người quan tâm nghiên cứu Tuy nhiên, trong số những công trình nghiên cứu về sự nghiệp văn học của ông đã công bố, chưa có công trình nào tập trung tìm hiểu sâu về
“Nghệ thuật so sánh trong tiểu thuyết của Nhất Linh” Vì lẽ đó mà chúng tôi
lựa chọn đề tài này làm đối tượng nghiên cứu của luận văn
2 Lịch sử vấn đề
2.1 Nghiên cứu về Nhất Linh
Ngay từ khi mới ra đời, tác phẩm của Nhất Linh chưa bao giờ thôi hấp dẫn người đọc và các nhà nghiên cứu Những công trình nghiên cứu về Nhất Linh khá phong phú và đa dạng, có thể điểm qua những công trình tiêu biểu như sau:
Cuốn Nhất Linh trong tiến trình hiện đại hoá văn học của Vu Gia của
Nxb Văn hoá thông tin 1995, là tập hợp các bài nghiên cứu về cuộc đời, sự
nghiệp văn học của Nhất Linh và nhóm Tự lực văn đoàn trong tiến trình hiện
đại hoá văn học Việt nam
Cuốn Nhất Linh - cây bút trụ cột của Tự Lực Văn Đoàn của nhiều tác
giả do Mai Hương tuyển chọn, biên soạn của Nxb Văn hoá Thông tin 2000 ấn hành, là tập hợp những bài nghiên cứu, những bài viết về cuộc đời và văn nghiệp của nhà văn Nhất Linh với ba phần: Nhất Linh - phác thảo chân dung
và văn nghiệp Tiếp cận thế giới nghệ thuật của Nhất Linh Nhất Linh trong bạn bè, đồng nghiệp và người thân
Cuốn Anh em Nguyễn Tường Tam, Nhất Linh - ánh sáng và bóng tối của
Khúc Hà Linh, Nxb Thanh niên 2008 là cuốn khảo cứu về một số tác phẩm tiêu
biểu của tự lực văn đoàn, về vùng đất và các tác giả Tự lực văn đoàn.
Vũ Tiến Quỳnh có cuốn Nhất Linh, Khái Hưng, Hoàng Đạo, Thạch
Lam:Tuyển chọn và trích dẫn những bài phê bình - bình luận văn học của các nhà văn và các nhà nghiên cứu Việt Nam , Nxb Văn nghệ Tp Hồ Chí Minh
Trang 61999 đã giới thiệu những bài phê bình bình luận văn học của các nhà văn và các nhà nghiên cứu Việt Nam về phong cách sáng tác của các tác giả: Nhất Linh, Khái Hưng, Hoàng Đạo, Thạch Lam.
Cuốn Nhất Linh con người và tác phẩm của Lê Cẩm Hoa, Nxb Văn học
2000 giới thiệu một số bài viết về Nhất Linh (Nguyễn Tường Tam) Tóm tắt
và trích một số tác phẩm tiêu biểu của Nhất Linh như: Hai vẻ đẹp, Đoạn tuyệt, Lạnh lùng, Đôi bạn
Bên cạnh đó những công trình như: Vấn đề chống lễ giáo phong kiến
trong tiểu thuyết của Nhất Linh (Tác giả Nguyễn Thị Hương ); Ngôn ngữ nghệ thuật của Nhất Linh trong các sáng tác trước năm 1945 (Tác giả Lê Thị
Quỳnh); Đặc điểm diễn ngôn trần thuật trong truyện ngắn của Nhất Linh và
Khái Hưng (Tác giả Nguyễn Đăng Vy), Nam tính hóa nữ tính - đọc Đoạn tuyệt của Nhất Linh từ góc nhìn giới tính và Diễn ngôn về giới tính và thi pháp nhân vật (Trường hợp Dũng trong Đoạn tuyệt của Nhất Linh) của Trần
Văn Toàn … đã góp phần soi sáng những nét nghệ thuật nổi bật trong tiểu thuyết của Nhất Linh
Ngay từ cao trào đổi mới, Nhất Linh và những sáng tác của ông đã trở thành đối tượng nghiên cứu của một loạt những luận án, luận văn Năm 1994,
với đề tài “Quan niệm về con người trong tiểu thuyết của tự lực văn đoàn qua
ba tác giả Nhất Linh - Khái Hưng - Hoàng Đạo, Lê Thị Dục Tú đã miêu tả
khá thuyết phục những đóng góp độc đáo cũng như những hạn chế lịch sử
trong thế giới nghệ thuật của ba nhà văn tiêu biểu của Tự lực văn đoàn, đồng
thời cho thấy vị trí quan trọng của ba nhà văn trong tiến trình văn học hiện đại
của dân tộc Luận án của Vũ Thị Khánh Dần: Tiểu thuyết của Nhất Linh
trước cách mạng tháng Tám năm 1996 (Viện văn học) đã giới thiệu được vài
nét về thời đại lịch sử, xã hội, con người và quan niệm văn chương của Nhất Linh, những tìm tòi và sáng tạo của Nhất Linh trong quá trình hiện đại hóa thể
Trang 7loại tiểu thuyết và đặc biệt quan tâm tới tiểu thuyết luận đề Luận án Tiến sĩ
của Đỗ Hồng Đức: Nhân vật nữ trong tiểu thuyết của Nhất Linh và Khái
Hưng, năm 2010 đã tìm hiểu giá trị của nhân vật nữ trong tiểu thuyết của
Nhất Linh và Khái Hưng thời kỳ Tự lực văn đoàn trên cả hai phương diện: nội dung và nghệ thuật nhằm làm rõ diện mạo của nhân vật nữ với những dấu
ấn đậm nét về tư tưởng và nhìn từ góc độ nghệ thuật thể hiện Từ những công trình nghiên cứu về Nhất Linh có thể thấy tác phẩm của Nhất Linh đã được nghiên cứu ở các phương diện sau:
• Nghệ thuật xây dựng nhân vật dưới các góc độ: Thi pháp, giới tính, chính trị, xã hội, triết học, mĩ học
• Vấn đề chống lễ giáo trong tiểu thuyết Nhất Linh ở nhiều bình diện khác nhau, khẳng định tư tưởng tiến bộ của nhà văn trong công cuộc đấu tranh giải phóng cá nhân, đặc biệt là giải phóng người phụ nữ khỏi sự kiềm tỏa của lễ giáo phong kiến
• Nghiên cứu ngôn ngữ nghệ thuật của Nhất Linh để thấy sự vận động
của ngôn ngữ trước và sau khi tham gia Tự lực văn đoàn từ đó đánh giá một
số đặc sắc trong ngôn ngữ nghệ thuật của Nhất Linh
• Gần đây dưới sự soi chiếu của lý thuyết Diễn ngôn, các nhà nghiên cứu đã nghiên cứu tác phẩm của Nhất Linh từ góc nhìn Diễn ngôn để thấy được xu hướng cách tân trong xây dựng nhân vật, cách tân trong ngôn ngữ
nghệ thuật của Nhất Linh nói riêng và Tự lực văn đoàn nói chung.
2.2 Nghiên cứu về nghệ thuật so sánh
2.2.1 Trong quá trình giao tiếp hàng ngày, để lời nói tăng thêm tính thuyết
phục, gợi cảm chúng ta thường sử dụng biện pháp so sánh như: “Hoa cao hơn mẹ”, “mưa như trút nước”, “chậm như rùa”… Việc dùng thủ pháp so sánh làm tăng tính hình tượng cho lời nói, đồng thời giúp cho quá trình tri nhận đối tượng
Trang 8được cụ thể, rõ ràng hơn Tuy nhiên, mục đích sử dụng biện pháp so sánh trong lời nói hằng ngày và trong tác phẩm văn chương có sự khác nhau Để hiểu rõ
hơn những giá trị nghệ thuật của so sánh tu từ cần phân biệt so sánh tu từ (So
sánh nghệ thuật) và so sánh luận lí (So sánh logic), ví dụ:
(1): Tóc của Hoài dài như tóc của Hương (Khẩu ngữ)
(2): Lần này là lần nàng về hẳn, như con chim bay về tổ cũ (Đoạn
tuyệt, Nhất Linh)
Trong hai ví dụ trên thì ví dụ (1) là so sánh logic còn ví dụ (2) là so sánh
tu từ Chúng phân biệt nhau ở tính hình tượng, tính biểu cảm, tính dị loại và mục đích của việc so sánh Trong ví dụ (1), tóc của Hoài và tóc của Hương là
hai đối tượng cùng loại - tóc, còn trong ví dụ (2) là hai đối tượng khác loại (nàng - người được so sánh với chim - vật) So sánh trong ví dụ (1) nhằm đưa
ra một phán đoán (tác động vào nhận thức người đọc) nên trung hòa sắc thái biểu cảm, còn so sánh trong ví dụ (2) lại giàu tính hình tượng và biểu cảm Người đọc sẽ thấy thú vị khi Nhất Linh so sánh Loan như con chim bay về tổ
cũ từ đó người đọc dễ dàng tưởng tượng ra niềm vui, sự hồi sinh của Loan khi đoạn tuyệt với gia đình chồng Các đối tượng trong ví dụ (1) có thể hoán đổi vị trí cho nhau mà nghĩa không thay đổi, còn các đối tượng của ví dụ (2) có thể hoán đổi vị trí cho nhau nhưng nghĩa hoặc sẽ thay đổi hoặc câu trở nên vô lí:
(1): Tóc của Hương dài như tóc của Hoài (+)
(2): Như con chim bay về tổ cũ, lần này là lần nàng về hẳn.(-)
Với những tiêu chí khác biệt như trên mà so sánh tu từ được xem là một phương tiện hữu hiệu làm tăng thêm giá trị cho tác phẩm nghệ thuật
2.2.2.Trong các tác phẩm của mình, Nhất Linh đặc biệt thích sử dụng
nghệ thuật so sánh Cấu trúc so sánh trong tác phẩm Nhất Linh luôn biến hóa
đa dạng, độc đáo và bất ngờ Tất cả sự vật, hoạt động, trạng thái, tính chất, sự tình, sự việc… được Nhất Linh đưa vào trong trường so sánh của mình trở
Trang 9thành đối tượng được so sánh Song chưa có một công trình nào nghiên cứu chuyên sâu về nghệ thuật so sánh của Nhất Linh, mà mới chỉ có những ý kiến đánh giá, đáng chú ý là các ý kiến sau:
Trong tiểu luận “Hạnh phúc trong tác phẩm Nhất Linh”, nhà nghiên cứu Đặng Tiến nhận thấy :“trong những đoạn miêu tả thiên nhiên, ngoại giới
của Nhất Linh có một chữ như, chữ như chìa khóa đưa vào không gian Nhất Linh, chữ như làm môi giới giữa sắc và không, giữa thực tế và cảm giác, giữa
ngoại giới và nội tâm Nhân vật của Nhất Linh sống trong không gian không phải của ngoại giới mà trong không gian của nội tâm Có thể nói nhân vật Nhất Linh chiếm lĩnh thiên nhiên, ngoại giới bằng cảm giác, đồng hóa thiên
nhiên trong cảm giác, trong một thế giới nội tâm phong phú và tinh tế”(Hạnh
phúc trong tác phẩm Nhất Linh, Đặng Tiến).
Trong cuốn Nhất Linh - cây bút trụ cột của Tự lực văn đoàn, Bạch
Năng Thi nhận xét: “… Cho nên văn Nhất Linh vừa rành mạch, trong sáng vừa có nhạc điệu có hình ảnh Nó diễn tả được những cảm giác tinh vi Nó sử dụng các so sánh cụ thể, có khả năng tạo hình tượng và gợi cảm Những cảnh dựng nên thường chỉ thoáng qua thôi và chỉ chiếm mấy dòng chữ nhưng lại ăn nhịp với tâm trạng nhân vật”
Như vậy có thể thấy, trong các công trình nghiên cứu về Nhất Linh mới chỉ có những đánh giá khái quát, chưa tường giải, đi sâu phân tích các cấu trúc so sánh cụ thể để đánh giá năng lực sáng tạo của nhà văn cũng như đóng góp của Nhất Linh đối với quá trình hiện đại hóa ngôn ngữ trong tiểu thuyết
hiện đại Vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:“Nghệ thuật so sánh
trong tiểu thuyết Đoạn tuyệt của Nhất Linh” với mong muốn làm rõ thêm một
khía cạnh nghệ thuật được xem là góp phần quan trọng tạo nên sự thành công trong các sáng tác của Nhất Linh
Trang 103 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu chủ yếu của luận văn là tìm hiểu nghệ thuật so
sánh trong tiểu thuyết Đoạn Tuyệt của Nhất Linh - một trong những tác phẩm
ghi dấu ấn đậm nét của nhà văn trên văn đàn
* Phạm vi nghiên cứu
Với đề tài này, luận văn tập trung khảo sát các cấu trúc so sánh trong
tiểu thuyết Đoạn tuyệt của Nhất Linh, từ đó có những tìm tòi phát hiện để
đánh giá những đóng góp của Nhất Linh đối với quá trình hiện đại hóa ngôn ngữ Tiếng Việt
4 Đóng góp của luận văn
Luận văn mong muốn cung cấp thêm một cách tiếp cận, lí giải tác phẩm văn chương từ góc độ ngôn ngữ mà cụ thể là nghệ thuật so sánh qua đó góp phần nhận diện sự vận động của văn xuôi Việt Nam nửa đầu thế kỉ XX
Những nghiên cứu về ngôn ngữ nghệ thuật của Tự lực văn đoàn cũng như văn
xuôi nghệ thuật đã có nhiều thành tựu quan trọng nhưng chủ yếu vẫn có tính chất định tính Luận văn hướng đến một nghiên cứu mang tính định lượng nhằm nhận thức một cách chính xác và tường giải hơn cho lĩnh vực này Do chỗ hình thức và nội dung trong tác phẩm là một thể thống nhất nên nếu thực hiện tốt nhiệm vụ này, luận văn cũng sẽ đóng góp những kiến giải sâu sắc về những giá trị nội dung và tư tưởng của tác phẩm
5 Phương pháp nghiên cứu
Để nghiên cứu đề tài này, luận văn sử dụng những phương pháp nghiên cứu sau đây:
- Phương pháp liên ngành
- Phương pháp đối chiếu, so sánh
Trang 11Ngoài ra luận văn còn sử dụng các thao tác nghiên cứu như:
- thống kê - phân loại
- phân tích - tổng hợp
6 Kết cấu luận văn
Gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lí luận chung
Chương 2: So sánh với chức năng khắc họa những xung đột xã hội Chương 3: So sánh với chức năng miêu tả thiên nhiên và nhân vật
Trang 12NỘI DUNG
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG
1.1 Quan niệm chung về so sánh tu từ
Để chiêm ngưỡng thế giới muôn màu con người chỉ cần “thức nhọn mọi giác quan” nhưng để nhận thức chúng thì chúng ta phải sử dụng đến các thao tác của tư duy và so sánh là một trong những thao tác đầu tiên cần có Hiểu một cách đơn giản, so sánh là đem đối chiếu sự vật này với sự vật khác nhằm tìm ra nét tương đồng và khác biệt Trong ngôn ngữ học, so sánh là một trong những biện pháp tu từ ngữ nghĩa có tác dụng nâng cao hiệu quả giao tiếp Trong văn học, chất liệu chính lại là ngôn từ nên so sánh được coi là một biện pháp nghệ thuật có vai trò kiến tạo hình ảnh, biểu tượng qua đó làm tăng hiệu quả thẩm mĩ cho tác phẩm văn chương, thể hiện những nét độc đáo trong phong cách nghệ thuật của nhà văn Sự sáng tạo và năng lực của nhà văn thể hiện ở việc chiếm lĩnh thế giới khách quan để xây dựng thành hình ảnh, biểu tượng mang dấu ấn riêng của tác giả Thông qua hình ảnh, biểu tượng của trường so sánh ở vế B - cái được so sánh mà nhân vật trong tác phẩm được khắc họa rõ nét về cả ngoại hình và tính cách Mặt khác, tìm hiểu nghệ thuật so sánh trong tác phẩm không chỉ giúp người đọc rung động trước cái hay, cái đẹp của ngôn từ mà còn có thể hiểu được những nội dung tư tưởng của tác phẩm, hiểu được những nét đặc trưng về văn hóa của thời đại - một trong những cơ sở để tiếp cận, giải mã tác phẩm văn chương một cách toàn diện, sâu sắc
Bàn về nghệ thuật so sánh, Cù Đình Tú trong Phong cách học và đặc
điểm tu từ tiếng Việt quan niệm: "So sánh tu từ là cách công khai đối chiếu hai hay nhiều đối tượng cùng có một dấu hiệu chung nào đấy (nét giống nhau) nhằm diễn tả một cách hình ảnh đặc điểm của một đối tượng"
Trang 13[tr.174] Như vậy, so sánh chính là đối chiếu Để quá trình so sánh xảy ra, người ta cần ít nhất hai đối tượng cùng tham gia và giữa hai đối tượng này phải có nét tương đồng Đối chiếu để "diễn tả một cách hình ảnh đặc điểm của đối tượng" tức có nghĩa làm cho đối tượng trở nên rõ ràng hơn Như thế, nội hàm của khái niệm trên không chỉ bao hàm phương thức so sánh tu từ mà còn bao hàm các kiểu so sánh logic Định nghĩa trên của Cù Đình Tú chưa nêu được chức năng thẩm mĩ của so sánh - một chức năng cần thiết mà nó phải có khi trở thành phương tiện nghệ thuật của tác phẩm văn học Tuy nhiên, trong cuốn sách này, ông cũng đã trình bày được nhiều kiểu so sánh cơ bản và bước đầu chỉ ra được chức năng nhận thức và biểu cảm của so sánh tu từ.
Để bổ sung cho định nghĩa trên, trong cuốn Tiếng Việt (tập II), Nxb
Giáo dục, năm 1995, tác giả Đinh Trọng Lạc phát biểu một cách rõ ràng, cụ
thể về so sánh tu từ "So sánh tu từ là biện pháp tu từ ngữ nghĩa trong đó người ta đối chiếu hai hay nhiều đối tượng khác nhau nhưng giống nhau ở một điểm nào đó chứ không đồng nhất hoàn toàn, để đem đến một cách tri giác mới mẻ về đối tượng" [tr.191] Đặc biệt, Nguyễn Thái Hòa và Đinh
Trọng Lạc trong công trình Phong cách học Tiếng Việt (Nxb GD, 1995) một
lần nữa khẳng định: “So sánh là phương thức diễn đạt tu từ khi đem sự vật này đối chiếu với sự vật khác miễn là giữa hai sự vật có một nét tương đồng nào đó, để gợi ra hình ảnh cụ thể, những cảm xúc thẩm mĩ trong nhận thức của người đọc và người nghe” [tr 190] Như vậy, so sánh chính là
nghệ thuật của ngôn từ nhằm "gợi ra những hình ảnh cụ thể, những cảm xúc thẩm mĩ trong nhận thức của người đọc và người nghe" Để hình tượng sống lâu trong lòng người đọc, những cảm xúc thẩm mĩ mà so sánh tu từ mang lại quả là quan trọng Nó không chỉ dừng lại ở mức độ "cụ thể hóa" đối tượng, làm cho đối tượng dễ hình dung, dễ tri nhận, nó còn gợi lên trong lòng người đọc điều mà họ luôn mong chờ khi đón đọc tác phẩm văn học là sau khi gấp
Trang 14cuốn sách lại, hình tượng văn học đã bước ra ngoài tác phẩm, trở thành một phần trong tâm hồn họ.
1.2 Cấu trúc của so sánh tu từ
Định nghĩa về so sánh, so sánh tu từ cũng như cấu trúc của so sánh có điểm chung khá thống nhất ở các nhà nghiên cứu Tuy có chút khác nhau về tên gọi, song hầu hết các công trình nghiên cứu đều thống nhất cấu trúc đầy
đủ của so sánh tu từ gồm có 4 yếu tố
Với Đinh Trọng Lạc, Bùi Minh Toán trong cuốn Tiếng Việt (tập II), hai tác giả đưa ra cấu trúc chung của các kiểu so sánh gồm 4 yếu tố chính:
+ Yếu tố 1: yếu tố được/ bị so sánh
+ Yếu tố 2: Yếu tố chỉ phương diện so sánh
+ Yếu tố 3: Yếu tố chỉ quan hệ so sánh
+ Yếu tố 4: Yếu tố so sánh, là yếu tố được dùng làm chuẩn khi so sánh.Khác một chút với cách chia trên là cách chia của Hữu Đạt trong
Phong cách học tiếng Việt hiện đại, Nxb Khoa học Xã hội năm 1999 Đặc
biệt, cách chia của Đinh Trọng Lạc và Nguyễn Thái Hòa trong công trình
Phong cách học Tiếng Việt (Nxb Giáo dục 1995) có phần dễ hiểu, dễ áp dụng
trong nghiên cứu tác phẩm văn học Tác giả cho rằng, trong cấu trúc so sánh gồm bốn yếu tố: Cái so sánh (CSS) được gọi là yếu tố 1; Cơ sở so sánh (CSSS) được gọi là yếu tố 2 (hay chính là phương diện so sánh); từ so sánh được gọi là yếu tố 3 (TSS) và Cái được so sánh (CĐSS) là yếu tố 4
Trong luận văn này, chúng tôi chủ yếu dựa theo cấu trúc so sánh của tác giả Nguyễn Thái Hòa - Đinh Trọng Lạc và gọi tắt các yếu tố 1, 2, 3, 4 lần lượt là AnxB Cấu trúc đầy đủ của phép so sánh là:
Trang 15Sau đây, chúng tôi sẽ tiến hành miêu tả lần lượt các yếu tố trong cấu trúc theo vị trí, hình thức cấu tạo (từ loại) và chức năng biểu hiện của nó.
1.2.1 Yếu tố 1: A - Cái so sánh (CSS)
* Vị trí
Yếu tố 1 đứng trước ba yếu tố còn lại, đứng đầu câu, thường đứng ngay sau chủ ngữ hoặc thuộc về chủ ngữ Tuy nhiên, tùy thuộc vào hình thức từ loại của nó, kiểu câu, ý nghĩa biểu hiện mà nó có vị trí khác nhau trong câu
Ví dụ như muốn nhấn mạnh tới CSS, nó có thể được đảo vị trí xuống sau cái được so sánh (CĐSS):
Ví dụ 1: Như đám mây màu lam, khói vờn tỏa trên những nóc nhà.
"khói vờn tỏa trên nóc nhà" là CSS "Như đám mây màu lam" là phông nền, bối cảnh dùng để nổi bật CSS Tuy nhiên, khi đảo trật tự như vậy, thuộc tính "màu lam" của khói được nhấn mạnh, tạo hiệu quả rõ rệt trong tri nhận, cảm thụ nghệ thuật của người tiếp nhận Hoặc:
Ví dụ 2:
Hãy sáng mãi niềm tin tươi ánh thépNhư quê em Gò Nổi, Kỳ Lam
Hỡi em người con gái Việt Nam
(Người con gái Việt Nam - Tố Hữu)
CSS ở đây là "Người con gái Việt Nam" - chị Lý được đảo vị trí xuống sau CĐSS là "quê em Gò Nổi, Kỳ Lam" nhằm nhấn mạnh, ngợi ca đến thuộc tính "niềm tin tươi ánh thép" mà chị Lý thừa hưởng từ quê hương mình
Yếu tố CSS có thể biến mất khỏi cấu trúc so sánh hay biểu thức ngôn ngữ so sánh Căn cứ vào ngữ cảnh câu văn mà người nghe, người đọc có thể nhận diện ra nó
Ví dụ 3: Cháu ra ngoài mà ngủ Như cái chợ
Người nghe, người đọc hiểu rằng: Cảnh ở nơi người cháu đang tồn tại rất ồn ào "như cái chợ" không thích hợp với việc "ngủ" Tuy CSS có thể là
Trang 16trong nhà, trong này, ngoài này được ẩn đi nhưng người đọc vẫn có thể ngầm hiểu được A hay CSS ở đây là gì.
* Cấu tạo từ loại
CSS được cấu tạo bởi danh từ hoặc cụm danh từ; động từ hoặc cụm danh động từ
+ Danh từ hoặc cụm danh từ
Danh từ là những từ chỉ sự vật (người, vật, hiện tượng, khái niệm, đơn vị) được chia thành nhiều loại với những chức năng riêng: Danh từ chung, danh từ riêng; danh từ chỉ cái cụ thể, danh từ chỉ cái trừu tượng; Danh từ chỉ hiện tượng; danh từ chỉ đơn vị
Ví dụ 4:
Cho tôi hôn bàn tay em lạnh ngắtCho tôi hôn bàn tay em nắm chặt
Ôi bàn tay như đôi lá còn xanh
(Người con gái Việt Nam - Tố Hữu)
Cụm danh từ là phần kết hợp giữa danh từ và phụ ngữ Tùy vào vị trí của các phụ ngữ đứng trước hay sau danh từ được bổ sung ý nghĩa về số lượng, vị trí, đặc điểm khác nhau
+ Động từ hoặc cụm động từ
Động từ là những từ chỉ hoạt động, trạng thái của sự vật Tuy nhiên có những động từ vốn để chỉ hoạt động nhưng lại dùng để chỉ trạng thái hoặc ngược lại
Ví dụ 5: "Một người lính quát một tiếng, thế là cả cái dòng người ấy tan tác ra như một đàn ruồi ở sau mông con bò, lúc bị cái đuôi bò đập một cái vậy"
(Giông tố - Vũ Trọng Phụng)
Cụm động từ là sự kết hợp giữa động từ và các phụ từ Các phụ từ này nếu đứng đằng trước nhằm bổ sung ý nghĩa về quan hệ thời gian, sự tiếp diễn
Trang 17tương tự, sự khuyến khích, ngăn cản, khẳng định hoặc phủ định Nếu đứng đằng sau động từ, nó giúp bổ sung cho động từ chi tiết về hướng, địa điểm, mục đích, nguyên nhân, phương tiện
Ví dụ 6: "Nghe lời có lý, cái bọn bốn năm chục người đương lôi thôi,
lốc thốc cắm đầu cắm cổ bước đi một cách buồn rầu như đàn cừu ấy, bỗng
bảo nhau đứng dừng cả lại"
(Vỡ đê - Vũ Trọng Phụng) + Cụm danh động từ hay cụm chủ - vị
Cụm danh động từ được cấu tạo bởi sự kết hợp giữa danh từ hay cụm danh từ và động từ tạo thành một cụm chủ - vị hoàn chỉnh, giữ chức năng là trạng ngữ, chủ ngữ hoặc vị ngữ trong câu
Ví dụ 7: "Ông già lắc đầu thất vọng như phải có việc với một thằng
ngu, một kẻ hoàn toàn bỏ đi nên nguây nguẩy:"
(Lấy nhau vì tình - Vũ Trọng Phụng)
* Chức năng
Khi CSS là danh từ hoặc cụm danh từ, nó giữ vai trò là chủ ngữ trong câu, làm chủ thể của những đặc điểm, hành động được miêu tả, so sánh ở trong câu
CSS có thể biểu thị những đối tượng cụ thể, có thể tri giác, cảm giác được một cách nhanh chóng, rõ ràng như người, vật, hành động cụ thể
Ví dụ 8:
Súng nổ rung trời giận giữ
Người lên như nước vỡ bờ
(Đất nước - Nguyễn Đình Thi)
CSS cũng có thể biểu thị những đối tượng trừu tượng như ý niệm, khái niệm, tình cảm:
Trang 18Ví dụ 9:
Anh bỗng nhớ em như đông về nhớ rét Tình yêu ta như cánh kiến hoa vàng
Như xuân đến chim rừng lông trở biếc
(Tiếng hát con tàu - Chế Lan Viên)
1.2.2 Yếu tố 2 - Cơ sở so sánh (n)
* Vị trí:
Trong cấu trúc so sánh, CSSS là thuộc tính của CSS Nó có thể là trạng thái, hành động, tính chất của CSS Và nó cũng là phần giao nhau giữa CSS và CĐSS Yếu tố 2 thường đứng ngay sau yếu tố 1, trước từ dùng để so sánh và cái được dùng để so sánh Tuy nhiên yếu tố 2 cũng có thể được đảo lên đầu, được đưa xuống cuối cấu trúc so sánh hoặc có thể biến mất cùng với CSS
(Thành ngữ)
hoặc khuyết thiếu cùng với từ chỉ kết quả so sánh như ví dụ 1 ở trên
Trang 19Trong câu văn, cơ sở so sánh khi là động từ, cùng với trạng ngữ của câu, nó cũng chỉ ra được thời gian diễn ra sự so sánh.
+ Tính từ
Ví dụ 5:
Bác lớn như trời đất của ta
Yêu từng ngọn lúa mỗi nhành hoa
(Bác ơi - Tố Hữu)
Trang 20* Chức năng
CSSS cho biết phương diện, phạm vi, khía cạnh của sự vật, hiện tượng, khái niệm, hành động được so sánh Nói cách khác, CSSS là một phần của yếu tố 1, biểu hiện thuộc tính, hành động của CSS và nhiều khi, nó hợp nhất với CĐSS như trong ví dụ sau:
Tìm em như thể tìm chim
Chim ăn bể bắc đi tìm bể đông
(Ca dao)Đồng thời, CSSS còn cho thấy vùng tương đồng giữa A và B trong cấu trúc so sánh Đôi khi, CSSS có thể được ẩn đi, người đọc dựa vào nét tương đồng giữa hai yếu tố 1 và 2 để xác định cơ sở so sánh Kiểu so sánh ẩn đi CSSS được các nhà nghiên cứu như Lê Anh Hiền, Cù Đình Tú, Đinh Trọng Lạc gọi là kiểu so sánh chìm Tuy khó nắm bắt nhưng "đứng về mặt nội dung biểu hiện thì so sánh tu từ chìm tạo điều kiện cho sự liên tưởng rộng rãi hơn với so sánh nổi, nó kích thích sự làm việc của trí tuệ và tình cảm nhiều hơn so sánh nổi" [37; tr.177]
1.2.3 Yếu tố 3 - Từ dùng để so sánh (x)
Yếu tố 3 có thể đứng giữa hai thực thể A và B trong câu văn hoặc đứng
ở đầu câu như:
Ví dụ 1: Giống như vệt khói nhờ, nắng vờn qua những màu xanh bóng
loáng của một dãy xóm làng cây cối im lìm
(Đôi mắt - Nam Cao)Song, yếu tố này luôn luôn đứng trước cái được dùng để so sánh B Đối với những biểu thức so sánh thiếu B, từ dùng để so sánh thường được kết hợp với các từ "ấy", "đấy"
Ví dụ 2: Cha nói giỏi Nó còn hơn cả ấy.
Trong ví dụ trên, từ chỉ kết quả so sánh "hơn cả" không đứng trước CSS Trong câu thứ hai, CSS bị khuyết thiếu, căn cứ vào ngữ cảnh câu văn trước mà người tiếp nhận có thể hiểu rằng: Nó còn giỏi hơn cha của nó
Trang 21* Hình thức cấu tạo:
Từ dùng để so sánh được cấu tạo bởi động từ hoặc kết từ
+ Động từ: giống, không giống, tựa, hơn, kém, là có nghĩa biểu thị sự
ngang bằng, đồng nhất; không ngang bằng, không đồng nhất, mức độ không ngang bằng về hình dáng, màu sắc, tính chất
+ Kết từ: như biểu thị mối quan hệ gắn kết giữa hai hay nhiều đối
tượng có chung nét tương đồng về tính chất, mức độ, cách thức, hình thức
* Vai trò:
Từ dùng để so sánh hay từ chỉ kết quả so sánh cho phép người tiếp nhận biết được sự đồng nhất hay khác biệt của thực thể được so sánh và cái dùng để so sánh Để biểu thị sự giống nhau, tương đồng nhau, bằng nhau
phép so sánh thường dùng các từ ngữ như: giống, giông giống, hơi giống,
giống hệt, giống như hai giọt nước, giống như in, hao hao giống, giống như đúc; như , như thể, như là, hệt như, tựa như, như hệt, y như, tựa hồ, hồ như,
na ná; là; bằng, xem bằng, tầy, bao nhiêu - bấy nhiêu, hay các ngữ kết cấu
kiểu phủ định của phủ định như: khác gì, không kém gì, chẳng khác gì, không
khác, không khác gì, chẳng khác chi, không thua, không thua gì, chẳng kém, kém gì, chẳng kém gì
Ví dụ 3: Con nhà tông không giống lông cũng giống cánh.
Ví dụ 4: Cuộn len như quả cầu xanh đang lăn những vòng chậm rãi.
(Ý Nhi - Người đàn bà ngồi đan)
Để biểu thị sự khác biệt, chênh lệch, hơn kém, người ta thường dùng các từ ngữ có ý nghĩa phủ định kết hợp với các từ ở trên hoặc dùng các từ sau: khác, nhất - nhì, hơn, kém, không thể nào so sánh được, hơn cả, hơn tất cả, hơn hết thảy, hơn hết, hơn ai hết, không gì hơn, nào bằng, hơn mọi, không có
ai hơn thế, chẳng đâu, chẳng ai sánh bằng, nhất
Trang 22Ví dụ 5: Xứ Nam nhất chợ Bằng Vồi
Xứ Bắc: Vân Khánh, xứ Đoài: Hương Canh
(Ca dao)Tuy nhiên, ở nhiều công trình nghiên cứu hiện nay, từ kết quả so sánh,
để cụ thể hơn, người nghiên cứu đã chia các từ dùng để so sánh thành các nhóm nhỏ sau:
+ Từ chỉ sự tương ứng, tương đồng: như, tựa như, giống
+ Từ chỉ mức độ hơn kém, ngang bằng: hơn, kém, nhất, bằng, vừa + Từ chỉ sự hô ứng: bao nhiêu bấy nhiêu
Ví dụ 6:
Qua cầu ngả nón trông cầuCầu bao nhiêu nhịp em sầu bấy nhiêu
(Ca dao)Nỗi sầu muộn của người con gái tỉ lệ thuận với số lượng nhịp cầu, qua cặp
so sánh hô ứng, nỗi buồn dường như được cụ thể hơn, nhân lên nhiều hơn
+ Từ chỉ sự tăng tiến: càng càng
Ví dụ 7:
Bà Typn càng lạy van, nó càng thản nhiên
(Số đỏ - Vũ Trọng Phụng) Qua cặp từ so sánh tăng tiến "càng càng", hành động của Xuân Tóc
Đỏ tỉ lệ thuận với sự lạy van của bà Typn cho thấy mức độ giả tạo của bà và
sự trơ tráo của Xuân rất ăn khớp, rất hợp gu với nhau
Thực tế, trong luận án Tiến sĩ của Trần Thị Oanh, Hành động so sánh
của người Việt (Năm 2014), các cặp từ bao nhiêu, bấy nhiêu đều được xét đến
trong so sánh đồng nhất, không tách riêng rẽ như trong cách chia trên Tuy nhiên theo chúng tôi, cách hợp nhất như thế cũng rất có lý bởi mỗi mức độ của hành động, trạng thái hay tính chất của thực thể được so sánh gần như ngang
Trang 23bằng về mức độ với hành động, tính chất, trạng thái của thực thể dùng để so sánh Vì vậy, trong luận văn này, chúng tôi giữ nguyên cách phân chia ban đầu.
Trong cấu trúc so sánh, từ dùng để so sánh hay từ biểu thị kết quả so sánh ở trên có thể được thay thế bởi dấu câu như dấu ":"; ","; "-" Đối với những trường hợp này, thường thì CSSS hay phương diện so sánh cũng bị triệt tiêu Song, hai yếu tố chính là CSS và CĐSS được giữ nguyên
Ví dụ 8:
Người giai nhân: bến đợi dưới cây giàTình du khách: thuyền qua không buộc chặt
(Xuân Diệu)Thay vì nói: "Người giai nhân như bến đợi dưới cây già/ Tình du khách như thuyền qua không buộc chặt" thì từ dùng để so sánh ở đây đã bị thay thế bởi dấu ":" làm cho câu thơ bị chia ra, ngắt nhịp đồng thời cũng để cho người đọc có thể hình dung được hai vế so sánh rất cô đọng, hàm súc.[22/ tr.71]
1.2.4 Yếu tố 4 - Cái được so sánh CĐSS (B)
Cái được so sánh hay chính là bối cảnh, là phông nền, là yếu tố được dùng làm chuẩn để so sánh Giữa cái được so sánh và cái dùng làm chuẩn để
so sánh luôn có mối quan hệ tương đồng hoặc khác biệt
* Vị trí:
CĐSS có thể đứng trước CSS và luôn đi sau từ dùng để so sánh Tùy vào từng ngữ cảnh và ý muốn nhấn mạnh của câu nói mà B có thể đứng trước hay sau A
* Hình thức cấu tạo
CĐSS có thể được cấu tạo bởi danh từ, cụm danh từ, cụm C-V hoặc động từ
Ví dụ 1:
Cày đồng đang buổi ban trưa
Mồ hôi thánh thót như mưa ruộng cày
(Ca dao)
Trang 24Ví dụ 2: Một mạng lớn giết đi một mạng nhỏ, êm nhẹ như hơi chiều lặng lờ sang.
(Truyện gã chuột bạch -Tô Hoài)
Ví dụ 3:
Lão cười như mếu.
(Lão Hạc - Nam Cao)
* Vai trò:
CĐSS là cái được dùng làm chuẩn và thường không thể vắng mặt trong cấu trúc so sánh, quyết định chủ yếu đến giá trị của phép so sánh CĐSS cũng thường là những thực thể, hành động, trạng thái, tính chất gần gũi nhằm giúp người đọc, người nghe có thể dễ dàng hình dung về CSS Trong lời nói hàng ngày và nhất là trong văn chương nghệ thuật, CĐSS có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc phản ánh tư duy nghệ thuật của tác giả Nó mang dấu ấn cảm xúc, thái độ của tác giả, góp phần khẳng định phong cách riêng độc đáo của tác giả
Có thể có một hoặc nhiều hành động, trạng thái được mang ra làm chuẩn để đối chiếu, so sánh với một hoặc nhiều thực thể Người ta gọi đó là cấu trúc so sánh dạng mở rộng Những CĐSS ở cấu trúc mở rộng thường có những nét tương đồng
Ví dụ 4:
Đàn ông nằm với đàn ôngNhư gốc, như gác, như chông, như chàĐàn ông nằm với đàn bà
Như lụa, như lĩnh, như hoa trên cành
(Ca dao)Trong lời ca dao trên, việc "đàn ông nằm với đàn ông" được so sánh với hàng loạt những danh từ có sự tương đồng "gốc gác", "chông chà" nhằm
Trang 25đặc tả sự khô khan, thiếu cảm xúc, bất hợp lý Ngược lại với điều đó là sự tươi mới, mát mẻ, êm ái, đầy xúc cảm như "lụa", "lĩnh", "hoa trên cành" khi
"đàn ông nằm với đàn bà" Thông qua cách so sánh mở rộng, thực thể được so sánh trở nên rõ ràng, dễ nắm bắt hơn
1.3 Phân loại so sánh tu từ
1.3.1 Tiêu chí phân loại
Có nhiều tiêu chí để phân loại so sánh tu từ song các nhà nghiên cứu chủ yếu phân loại nó dựa trên cấu trúc so sánh để phân thành hai loại: so sánh chìm và so sánh nổi Một số nhà nghiên cứu lại chia so sánh thành các kiểu dựa vào từ ngữ dùng để so sánh mà có các loại như: so sánh ngang bằng và so sánh hơn kém Nhà nghiên cứu Đào Thản lại chia so sánh tu từ dựa vào mục
đích của phép so sánh Theo như tác giả Đào Thản trong Từ ngôn ngữ chung
đến ngôn ngữ nghệ thuật, NXb Khoa học Xã hội, 1988, và công trình nghiên
cứu của Searle so sánh có các kiểu sau:
Theo như Searle, các hành động ngôn ngữ đều nhằm tới các mục đích như tái hiện, kể, thông tin, điều khiển, biểu cảm và tuyên bố Biểu thức ngôn
Trang 26ngữ so sánh là một hành động ngôn ngữ Chức năng của nó chính là tái hiện,
kể, điều khiển, biểu cảm và tuyên bố Như vậy, chức năng tái hiện của phép
so sánh tu từ có thể dùng để kể, tả, khẳng định
Tùy theo cách tiếp cận của các nhà nghiên cứu mà có cách phân loại so sánh tu từ theo cấu trúc hay theo nội dung Song, chúng tôi thấy cách phân loại so sánh tu từ theo mục đích biểu hiện của tác giả Đào Thản là một hướng
đi phù hợp, hứa hẹn nhiều triển vọng trong việc áp dụng để nghiên cứu tác phẩm văn chương Theo Đào Thản so sánh tu từ được chia thành các kiểu sau:
là phù hợp với việc nghiên cứu tác phẩm Đoạn tuyệt của Nhất Linh Đó là: so
sánh dùng để giải thích; để miêu tả; để đánh giá; để biểu lộ tình cảm
1.3.2 Phân loại
1.3.2.1 So sánh dùng để miêu tả
So sánh dùng để miêu tả hay nói cách khác là so sánh dùng để tái hiện Đây là kiểu so sánh phổ biến nhất trong sinh hoạt ngôn ngữ đặc biệt là trong văn học nghệ thuật
So sánh dùng để miêu tả nhằm mục đích vẽ nên "những hình ảnh cụ thể, sinh động để người khác như được trông thấy tận mắt"1 Trong cấu trúc
so sánh thì A chính là đối tượng cần được tả và B là đối tượng phông nền, dùng làm chuẩn và có những thuộc tính giống A B có tính phổ biến và nếu B
là con người thì B phải là đối tượng được người tiếp nhận biết đến nhiều Bởi
Trang 27mỗi người có một góc quan sát riêng, mỗi nhà văn có dụng ý nghệ thuật riêng khi miêu tả một nhân vật nên B phản ánh không chỉ kinh nghiệm sống, ý đồ biểu đạt mà còn nói lên được trạng thái tâm lý của tác giả trong thời điểm sáng tạo phép so sánh dùng để tả Nói cách khác, B chính là phần phản ánh phong cách nghệ thuật của tác giả đó Trong văn học nghệ thuật, B có thể là một phong cảnh, một loài vật hay một con người được nhà văn với hình dạng, hành động, nội tâm được nhà văn xây dựng nên và phản ánh một phần thế giới quan, nhân sinh quan và tài năng nghệ thuật của nhà văn Và để CSS A trở nên rõ nét, gây được ấn tượng mạnh mẽ trong lòng người đọc, để lại trong lòng họ những cảm xúc sâu sắc thì những nét mà nhà văn lựa chọn từ CĐSS
B phải là những thuộc tính được chọn lọc, chắt lọc và là những chi tiết điển hình thể hiện sự quan sát, tri nhận tỉ mỉ, chu đáo của nhà văn đối với cuộc sống xung quanh
Ví dụ 1: "Ôi chao! Chú chuồn chuồn nước mới đẹp làm sao! Bốn cái
cánh mỏng như giấy bóng Cái đầu tròn và hai con mắt long lanh như thủy tinh Thân chú nhỏ và thon dài như màu vàng của nắng mùa thu Chú đậu trên một cành lộc vừng ngả xuống mặt hồ Bốn cái cánh khẽ rung rung như còn đang phân vân."
(Phong Thu)Một chú chuồn chuồn nước nhỏ bé nhưng đã đi vào văn học đẹp đẽ, sinh động nhờ vào cách so sánh chính xác, độc đáo của nhà văn Màu vàng của thân chú được ví như "màu vàng của nắng mùa thu", hành động "rung rung" của bốn cái cánh khi chú đậu trên cành lộc vừng được so sánh với một
sự xao động trong lòng chú khiến chú chuồn chuồn trở nên vô cùng có hồn
"như còn đang phân vân" Hình ảnh chú chuồn chuồn nước và đoạn văn tả chú đã được các em học sinh lớp 4, lớp 5 thuộc nằm lòng nhờ vào những so sánh ngộ nghĩnh nhưng cũng rất đỗi tinh tế đó
Trang 28So sánh để miêu tả còn dùng để kể lại một sự việc, sự kiện Kiểu so sánh này thường đi kèm các trạng ngữ chỉ không gian và thời gian trong cấu trúc so sánh Trạng ngữ chỉ thời gian, không gian làm dấu mốc cho cấu trúc
so sánh kể về CSS A
Ví dụ 2:
Tôi nhìn thấy một cô áo đỏTiễn đưa chồng trong nắng vườn hoa
Chiếc áo đỏ rực lên như lửaCháy không nguôi trước cảnh chia ly
(Cuộc chia ly màu đỏ - Nguyễn Mỹ)
Thời gian và không gian ở đây chính là cuộc chia ly, nó làm nền cho nhà thơ Nguyễn Mỹ vẽ nên hình ảnh một cô gái tiễn chồng ra trận với chiếc
áo màu đỏ được so sánh "rực lên như lửa" Chỉ có trong thời khắc đó, tại nơi diễn ra cuộc chia ly đó, tình cảm của cô gái mới trở nên nồng nàn, rực rỡ như vậy khiến "cả vườn hoa và chiếc nón trắng kia/ Không ngăn được tình yêu cô rực cháy" Nó như bung ra ngoài qua màu chiếc áo đỏ, nói hộ cho cô gái đang thổn thức không nên lời Trong tác phẩm văn học, thời gian và không gian trong cấu trúc so sánh còn cho biết nguyên nhân gây ra những hành động, tâm
lý của nhân vật và khả năng thấu hiểu nhân vật của nhà văn
1.3.2.2 So sánh dùng để biểu cảm
So sánh dùng để biểu cảm có chức năng truyền tải những xúc cảm đến với người đọc, người nghe Đó có thể là những cảm xúc tích cực, phản ánh sự vui mừng của nhân vật, tác giả nhưng cũng có thể mang cảm xúc tiêu cực, phản ánh nỗi thất vọng, khổ đau, tan vỡ
Cảm xúc tích cực thường xuất hiện trong những lời văn ca ngợi, tán thưởng, khen ngợi với giọng văn vui tươi, hóm hỉnh hoặc trìu mến, tự hào
Trang 29Cũng có thể là cảm giác mừng vui, phấn khích Những thực thể dùng để so sánh B thường đem lại cho người đọc cảm giác dễ chịu, vui tươi, ấm áp Vì vậy, những lời khen ngợi thường có cấu trúc so sánh dạng so sánh bằng:
Ví dụ 1:
Con gặp lại nhân dân như nai về suối cũ
Cỏ đón giêng hai, chim én gặp mùaNhư đứa trẻ thơ đói lòng gặp sữaChiếc nôi ngừng bỗng gặp cánh tay đưa
(Tiếng hát con tàu - Chế Lan Viên)
Thật không còn niềm hạnh phúc nào hơn khi được trở lại với nhân dân
đã được Chế Lan Viên diễn tả bằng những hình ảnh so sánh rất đỗi giản dị nhưng đầy triết lý: Nhân dân chính là ngọn nguồn của tất thảy niềm hạnh phúc, của sự no đủ, ấm áp cho tâm hồn mỗi con người Hoặc khi để khen ngợi, các tác giả cũng thường dùng cách so sánh hơn nhằm ngụ ý: B đã đẹp,
đã tốt, đã giỏi , A còn hơn như thế
Ví dụ 2:
Bóng Bác cao lồng lộng
Ấm hơn ngọn lửa hồng
(Đêm nay Bác không ngủ - Minh Huệ)
Ngọn lửa hồng trong một đêm rừng giá lạnh thật cần thiết và ấm áp biết bao Nhưng hình ảnh Bác "ấm hơn ngọn lửa hồng" còn gần gũi, ấm áp hơn Người chính là ngọn lửa trong trái tim mỗi người Việt Nam - đó có lẽ chính là điều Minh Huệ muốn nói đến khi dùng phép so sánh này
Song, so sánh biểu cảm cũng dùng để bộc lộ những cảm xúc buồn bã, thất vọng, cay đắng Biểu cảm đó thường gắn với kiểu lời chê, những lời mai mỉa hoặc những lời diễn tả tâm trạng đau buồn của nhân vật hay của chính tác giả Cái dùng để so sánh B thường là các đối tượng có những thuộc tính xấu,
Trang 30gây nên cảm giác tiêu cực trong lòng người đọc Đôi khi, tác giả không nói thẳng ra cảm xúc này mà để người đọc tự mình cảm nhận thông qua cách sử dụng từ ngữ đối lập, cấu trúc so sánh đối lập hoặc cách nói vòng.
Ví dụ 3:
Lão cười như mếu.
(Lão Hạc - Nam Cao)
so sánh
Trong kiểu tương đồng, các đối tượng được so sánh có những nét giống nhau ở thuộc tính nào đó Mức độ giống nhau đó phụ thuộc hoàn toàn vào từ chỉ kết quả: hơi giống, giống, rất giống, giống như in, giống như
Ví dụ 1: Thế địch như lửa thế ta như nước (Hồ Chí Minh)
Trong kiểu so sánh dị biệt, hai đối tượng được so sánh có thể chênh lệch mức độ khác nhau một cách tuyệt đối CSS trở thành duy nhất, đứng đầu, nổi trội vượt bậc, chiếm được ấn tượng lớn với người đọc CĐSS trở thành nền để cho A khẳng định sự dị biệt đó Tùy vào từng vị trí đứng trong cấu trúc
và từ dùng để so sánh mà người đọc nhận thức được vị trí của CSS A Tuy nhiên, cũng có những trường hợp, người đọc phải phân tích thận trọng để xác định vị trí đứng đầu, duy nhất cho A
Trang 31Ví dụ 2: "Khi người ta có tội với người yêu, thì chả còn cách chuộc tội
nào màu nhiệm bằng nói với người yêu những lời nồng nàn âu yếm"
(Đôi bạn - Nhất Linh)
Ở đây, việc "nói với người yêu những lời nồng nàn, âu yếm" được khẳng định là biện pháp tốt nhất, cao nhất mặc dù trong câu không có từ chỉ dạng so sánh này Tất cả nhờ vào sự liên kết logic giữa ý nghĩa của các từ ngữ
Không chỉ dùng để so sánh mức độ khác biệt tuyệt đối, mức độ khác biệt tương đối chỉ mang tính chất hơn/kém cũng xuất hiện rất nhiều trong tác phẩm văn học
Ví dụ 3: Con hơn cha là nhà có phúc.
(Tục ngữ)hoặc: "Theo ý tôi, dù sao đi nữa, lấy một người chồng An Nam vẫn hơn"
(Kỹ nghệ lấy Tây - Vũ Trọng Phụng)
1.3.2.4 So sánh dùng để giải thích
Theo tác giả Đào Thản tác dụng chủ yếu của so sánh là miêu tả đối tượng bằng hình ảnh cụ thể, nhưng đồng thời nó cũng bao gồm cả giải thích,
đánh giá và biểu cảm (12/ tr.124) Kiểu so sánh để giải thích được sử dụng
nhiều trong ngôn ngữ hàng ngày và trong tác phẩm văn chương nhằm mục đích tác động đến nhận thức của người đọc, thuyết phục người đọc đồng tình
hay phản đối với ý kiến được đưa ra.“Khi giải thích ta thường dùng so sánh
để làm rõ hơn điều mình muốn thông báo” (Trần Đình Tuấn).
Ví dụ 1: Ở nông thôn, nước ví như sông mà chủ nghĩa xã hội như
thuyền, nước sông lên nhiều thì thuyền đi lại dễ dàng (Hồ Chí Minh)
Để nhận biết được kết quả của phép so sánh này, trước hết chúng ta có
thể dựa vào từ ngữ dùng để so sánh như: ví như, như, là, nghĩa là, giống
như… Song những từ ngữ này cũng chỉ là những dấu hiệu hình thức mà nó có
ở nhiều kiểu so sánh khác như đã trình bày ở trên Do vậy, để nhận biết đúng
Trang 32kiểu so sánh này chúng ta phải căn cứ vào nội dung ý nghĩa của cả cấu trúc so sánh dựa trên thuộc tính của CSS - vế A và CĐSS - vế B Thông thường trong kiểu so sánh để giải thích thì vế A chính là tiền đề, vế B là điều mà người viết đưa ra để giải thích, để minh họa.
Ví dụ 2:
- Còn như cô nói đảm, nhưng thế nào là đảm mới được chứ?
- Vâng, đảm nghĩa là về hầu hạ nhà chồng từ người trên đến người
dưới cho chu tất (Đoạn tuyệt, Nhất Linh) Trong cấu trúc so sánh này, CSS
đảm làm tiền đề cho toàn bộ vế B - CĐSS (hầu hạ nhà chồng từ người trên đến người dưới) mang ý nghĩa giải thích.
Lối so sánh nói chung là lấy sự vật cụ thể hoặc hình ảnh để minh họa cho đối tượng Do vậy ngoài việc tác động đến nhận thức, tác dụng gợi cảm
và kích thích trí tưởng tượng của người đọc là mục đích được xem quan trọng nhất mà các so sánh thường hướng đến
1.4 Chức năng của so sánh tu từ
1.4.1 Chức năng nhận thức
Ngôn ngữ là cái vỏ vật chất của tư duy Nó phản ánh nhận thức của con người về thế giới khách quan đầy màu sắc Nhờ có so sánh tu từ mà những cái mới luôn được kiến tạo, phản ánh và được tri nhận, giúp mở rộng vùng hiểu biết của con người Hơn bất cứ loại hình nghệ thuật nào, văn học là bộ môn nghệ thuật được xây dựng từ ngôn ngữ và với nó, so sánh tu từ có một vai trò
vô cùng quan trọng Không chỉ giúp tái hiện sự vật, sự việc và khẳng định những thuộc tính, quan trọng hơn, so sánh tu từ còn có khả năng dẫn dắt người đọc đến những vùng cảm xúc mới, tiếp nhận những đối tượng trừu tượng mà các phương thức ngôn ngữ thông thường không làm được
So sánh tu từ dùng để đối chiếu những cái cụ thể với cái cụ thể:
Ví dụ 1: Bốn cái cánh mỏng như giấy bóng Cái đầu tròn và hai con mắt
long lanh như thủy tinh
(Phong Thu)
Trang 33"Giấy bóng", "thủy tinh" là những vật chất thường thấy, phổ biến So sánh độ mỏng manh, thấu suốt không gì hơn bằng so sánh với giấy bóng và
độ phản sắc long lanh không gì đẹp hơn bằng so sánh với thủy tinh Cách so sánh này giúp người đọc hình dung về chú chuồn chuồn nước chính xác và gần gũi nhất là đối tượng đọc là trẻ em
Tuy nhiên, cao hơn một chút, so sánh còn dùng để đối chiếu cái cụ thể với cái trừu tượng nhằm làm gia tăng sức gợi, tả và biểu cảm cho câu văn, giúp người đọc không chỉ hình dung về đối tượng, về hình dáng, màu sắc, tính cách của đối tượng được miêu tả mà còn cảm nhận được những rung cảm tinh
tế, triết lý sâu sắc của tác giả khi thực hiện thao tác so sánh
Ví dụ 2: "Thân chú nhỏ và thon dài như màu vàng của nắng của mùa thu"
(Phong Thu)
Để tả màu vàng của chú chuồn chuồn nước, nhà văn đã so sánh nó với
"màu vàng của nắng mùa thu" - một đối tượng không dễ gì tri nhận nếu người đọc
và tác giả thiếu những ký ức, những rung cảm về một ngày nắng thu vàng dịu Hoặc so sánh cũng giúp người đọc nhận thức cái trừu tượng thông qua cái cụ thể Điều này chúng ta hay bắt gặp trong thơ Chế Lan Viên, Tố Hữu, Huy Cận
Ví dụ 3:
Từ ấy trong tôi bừng nắng hạMặt trời chân lý chói qua timHồn tôi là một vườn hoa láRất đậm hương và rộn tiếng chim
(Từ ấy - Tố Hữu)Cái trừu tượng "hồn tôi" đã được Tố Hữu cụ thể hóa bằng một cảnh sắc tươi vui và sinh động "vườn hoa lá/ Rất đậm hương và rộn tiếng chim" Có lẽ đây là một tâm hồn đang vui say ngây ngất, đầy sức sống hồi sinh của một người yêu nước bắt gặp lý tưởng cộng sản
Trang 34So sánh tu từ cũng nhằm giúp người đọc tri nhận cái trừu tượng bằng chính cái trừu tượng:
Ví dụ 4:
Anh bỗng nhớ em như đông về nhớ rétTình yêu ta như cánh kiến hoa vàngNhư xuân đến chim rừng lông trở biếc
(Tiếng hát con tàu - Chế Lan Viên)
"Tình yêu" và nỗi nhớ trong tình yêu là phạm trù trừu tượng nhưng đã được Chế Lan Viên so sánh nó với những phạm trù trừu tượng như "đông về nhớ rét", "xuân đến chim rừng lông trở biếc" Đối với kiểu so sánh này, người đọc bước qua hai vùng liên tưởng: Vùng liên tưởng thứ nhất để tri nhận đối tượng dùng để so sánh B; vùng thứ hai là để đối chiếu vùng liên tưởng thứ nhất với đối tượng được so sánh A Tình yêu, nỗi nhớ ở đây hiển nhiên như quy luật cuộc sống: đông về thì làm người ta nhớ rét; xuân đến thì vạn vật hồi sinh và kết tinh qua thời gian, đẹp đẽ như "cánh kiến hoa vàng" So sánh đối chiếu cái trừu tượng với cái trừu tượng mang đến cho văn chương chiều sâu
tư duy logic và tính triết lý
Dù so sánh các đối tượng cụ thể hay trừu tượng thì mục đích của so sánh tu từ chính là phản ánh thế giới khách quan giúp người đọc tri nhận thế giới vật chất và tinh thần một cách dễ dàng và trọn vẹn hơn
1.4.2 Chức năng biểu cảm
Một trong những chức năng quan trọng của so sánh tu từ đó chính là chức năng biểu cảm Bất kỳ một so sánh tu từ trong văn chương đều nhằm thể hiện những cảm xúc nhất định của tác giả khi hình dung về bối cảnh, nhân vật, tình cảm Thông qua các biểu thức so sánh tu từ, người đọc không chỉ hình dung về đối tượng được so sánh mà còn cảm nhận được những tình cảm tác giả gửi gắm Những rung cảm mà họ nhận được chính là những hạt phù sa
Trang 35bồi đắp, nuôi dưỡng tâm hồn Một khung cảnh đẹp, một nhân vật thật như cuộc đời, một tình cảm sâu sắc được phản ánh qua phép so sánh tu từ luôn
để lại trong lòng người tiếp nhận những cung bậc cảm xúc, lắng sâu thành hạt ngọc, làm giàu thêm thế giới tinh thần và nhân cách của họ
So sánh tu từ mang người đọc đến với những tình cảm rộng lớn, khơi dậy trong lòng họ những điều thiêng liêng, cao đẹp:
Ví dụ 1:
Ôi lòng Bác vậy cứ thương taThương cuộc đời chung, thương cỏ hoaChỉ biết quên mình cho hết thảy
Như dòng sông chảy nặng phù sa
(Bác ơi - Tố Hữu)Tình thương của Bác đối với dân tộc được nhà thơ Tố Hữu so sánh với
"dòng sông chảy nặng phù sa" Hình tượng "dòng sông chảy nặng phù sa" gợi lên trong lòng người đọc về một sự mênh mông, vô tận, trường cửu của tình yêu mà Bác dành cho nhân dân Tình cảm đó nào khác với "nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra"! Nó làm ta dâng trào niềm xúc động thành kính và sâu xa về Người Đất nước từ cây lá, cỏ hoa đến con người đều được tình yêu
đó bồi đắp, vươn lên lớn mạnh như bây giờ
So sánh tu từ cũng mang người đọc đến những trải nghiệm của chính tác giả - những khổ đau/hạnh phúc; những điều được/mất - khơi lên trong lòng họ sự thương cảm, đồng cảm:
Ví dụ 2:
Trong một góc vườn cháy khét
Em sửng sốt gặp một nhành hoa cúc
Và em gọi đó là hạnh phúc
Như chồi biếc gặp mưa xuân, như chim én say trời
(Bài thơ về hạnh phúc - Bùi Minh Quốc)
Trang 36Trong khung cảnh của cái chết, một nhành hoa cúc vẫn còn làm ấm cả không gian, thắp lên niềm hi vọng sinh sôi mới như "chồi biếc gặp mưa xuân, như chim én say trời" Niềm hạnh phúc mê say và tràn đầy sức sống trong bài thơ như tưới vào lòng người đọc dòng nước mát mẻ, tươi vui.
Trong các sáng tác văn chương, tác giả không ngừng đổi mới phạm trù được dùng để so sánh B để làm giàu có hơn sắc thái biểu cảm trong ngôn ngữ Ngôn ngữ để lựa chọn xây dựng thuộc tính của B thể hiện rõ nhất phong cách của tác giả Chúng ta thường bắt gặp những hình ảnh được dùng để so sánh hết sức độc đáo, gây được ấn tượng mạnh với người đọc trong các sáng tác của Nguyễn Tuân, Vũ Trọng Phụng, Hàn Mặc Tử
Ví dụ 3: "Sông Đà tuôn dài, tuôn dài như một áng tóc trữ tình mà đầu
tóc, chân tóc ẩn hiện trong mây trời Tây Bắc bung nở hoa ban, hoa gạo."
(Người lái đò sông Đà - Nguyễn Tuân)
Con sông Đà được so sánh với "áng tóc" mà lại là "áng tóc trữ tình" là một cách so sánh hết sức độc đáo của Nguyễn Tuân Nó gợi lên nét đẹp mềm mại, nữ tính của dòng sông Nó lấp lánh trên bề mặt ngôn ngữ cảm xúc say
mê của nhà văn khi đứng trước vẻ đẹp sông Đà
Qua bất cứ một phép so sánh tu từ nào người ta cũng có thể nhận ra sự yêu/ghét; khen/chê; tán thưởng/phủ định của tác giả đối với thực thể cần so sánh A Và như vậy, bất cứ so sánh tu từ nào cũng "là so sánh gợi cảm", gợi lên những cảm xúc có thể nhìn thấu rõ ngay hoặc phải suy ngẫm lâu, phải đủ trải nghiệm mới có thể nhận thức được
1.4.3 Chức năng thẩm mĩ.
Trong văn chương, so sánh là phương thức tạo hình, phương thức gợi cảm Nói đến tác phẩm văn chương là nói đến cái đẹp của ngôn từ, cái tinh tế của hình ảnh Độc giả tìm đến tác phẩm văn chương trước hết để thỏa mãn nhu cầu thưởng thức cái đẹp được chắt lọc từ cuộc sống Lê Đình Tuấn cho
Trang 37rằng: “Nếu đặc trưng cơ bản của ngôn ngữ văn chương là tính thẩm mĩ thì
nhà văn sử dụng so sánh như một biện pháp tu từ quan trọng để làm nên giá trị thẩm mĩ của văn chương” [28] Ý kiến của Lê Đình Tuấn đã nhấn mạnh
đến chức năng rất quan trọng của phép so sánh bên cạnh các chức năng khác
đó là tính thẩm mĩ Trong thực tế, ngôn ngữ nhiều khi không thể diễn đạt hết
những ý rất khó nói, nó có thể chứa đựng một nội dung sâu sắc mà thường khi không muốn diễn đạt ra một cách lộ liễu Với chức năng thẩm mĩ, phép so sánh có thể đáp ứng được yêu cầu này:
Trông anh như thể sao mai Biết rằng trong có như ngoài hay không
(Ca dao)
“Sao mai” là hình ảnh nói lên được cái vẻ đẹp lí tưởng nhất của người
con trai: khôi ngô, tuấn tú đến mức chói sáng rực rỡ Nhưng hãy coi chừng đó chỉ là cái mẽ bề ngoài [11/ tr.126]
Chức năng thẩm mĩ của phép so sánh kích thích sự sáng tạo không ngừng của người nghệ sĩ, đồng thời tạo nên sự liên tưởng bất tận trong lòng người đọc Nhờ chức năng này mà các hình ảnh ở vế B luôn luôn được kiến tạo để một mặt làm mới hình ảnh được so sánh, mặt khác đạt giá trị thẩm mĩ cao thỏa mãn nhu cầu thưởng thức của bạn đọc:
Tiếng hát êm như suối Ngọc Tuyền
Êm như hơi gió thoảng cung tiên
Trang 38lần thấy suối “Ngọc Tuyền”, thấy màu đỏ “tựa ráng pha” để mà nói là cụ thể?
Ở đây chỉ thấy sự gợi cảm, để người đọc có được cái thú mê hồn bay bổng trong sự tưởng tượng ấy, làm giàu có thêm những rung động thẩm mĩ của họ
Bởi vì: “Ngôn ngữ nghệ thuật là ngôn ngữ của sự liên hội và so sánh nghệ
thuật là đôi cánh giúp chúng ta bay vào thế giới của cái đẹp, của tưởng tượng hơn là đến ngưỡng cửa của logic học” [Chương IV, tr.19]
Tiểu kết chương 1
So sánh chính là chìa khóa giúp ta tiếp cận và giải mã tác phẩm văn chương một cách chính xác và hoàn chỉnh Tìm hiểu các cấu trúc so sánh trong tác phẩm không chỉ giúp cho việc đánh giá năng lực sáng tạo của nhà văn mà quan trọng hơn nó giúp cho người đọc và các nhà nghiên cứu phát hiện được những nét nghệ thuật độc đáo trong tác phẩm Việc phát hiện ra những biểu thức so sánh trong tác phẩm sau đó khái quát thành những biểu thức mang dấu ấn sáng tạo riêng của nhà văn thiết nghĩ là một việc làm cần thiết Do vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài này với mong muốn phát hiện một lối đi, một hướng tiếp cận tác phẩm văn chương từ góc độ ngôn ngữ
để có thể bắc một nhịp cầu nối liền hai bờ ngữ học và văn học Bởi lẽ “ngôn ngữ là yếu tố thứ nhất của văn chương” (M Gorki), tìm hiểu yếu tố thứ nhất trong tác phẩm văn chương chính là hướng tiếp cận tác phẩm một cách hệ thống và hiệu quả nhất
Trang 39Chương 2
SO SÁNH VỚI CHỨC NĂNG KHẮC HỌA NHỮNG XUNG ĐỘT XÃ HỘI
So sánh tu từ là một trong những biện pháp nghệ thuật tạo nên sự kì diệu của ngôn ngữ Trong tác phẩm văn chương, so sánh là một trong những biện pháp nghệ thuật chủ yếu để kiến tạo hình tượng văn học đồng thời thể
hiện năng lực sáng tạo của nhà văn.“Nói đến năng lực sáng tạo văn chương
thì trước hết phải nói tới năng lực so sánh” (Nguyễn Thái Hòa) Tác giả Lê
Đình Tuấn cũng cho rằng: “Nhà văn lại càng dùng so sánh, bởi vì đối với họ,
so sánh không chỉ giúp người đọc nhận thức sự vật, hiện tượng, tình thái, tính chất một cách chính xác mà còn muốn thông qua so sánh làm tăng tính gợi cảm, gợi hình và biểu cảm cho câu văn” [tr.28] So sánh vì được cấu tạo chia
làm hai vế nên trong trường hợp của Nhất Linh đã rất đắc địa để khắc họa những xung đột, chủ yếu là những xung đột sau:
cuộc đấu tranh xung đột khốc liệt ấy.Trong Đoạn Tuyệt ông đã quyết liệt công
kích chế độ cũ, những tệ hại của chế độ đại gia đình phong kiến, những sai lầm về hôn nhân, những tập tục mê tín dị đoan…
Trang 40Trước hết, Nhất Linh đã phản đối cách tổ chức hủ lậu của chế độ đại gia đình, uy quyền chuyên chế của gia trưởng Trong chế độ gia trưởng con
cái nhất thiết phải phục tòng bố mẹ Bổn phận “Tam tòng tứ đức” đã cột chặt
trách nhiệm nặng nề của người phụ nữ với gia đình Bên cạnh đó quan niệm
“Đàn ông gánh vác việc quan, đàn bà thì phải lo toan việc nhà” cũng khiến
cho giá trị của người phụ nữ thường chỉ được đánh giá và nhìn nhận ở phương diện gia đình, giòng tộc Vai trò xã hội của người phụ nữ chưa được đề cập đến Vì vậy việc cô Loan được đi học là một việc hiếm thời bấy giờ Chính vì được đi học nên cô Loan đã được tiếp xúc với thế giới khác tươi đẹp hứa hẹn nhiều rộn rịp, khoáng đạt, siêu thoát ra hẳn lề lối thường Loan đã thấy được cái bất hợp thời, cái vô lý của nền luân lý cũ mà cái học của nàng đã chỉ ra cho nàng thấy là cần phải thay đổi Những người bạn của Loan là Thảo, Lâm,
và Dũng cũng nhận thấy Loan có những ý nghĩ táo bạo:“Chị táo bạo lạ,
nhiễm những tư tưởng quá mới”(I,tr.25) Trong một lần tranh luận về việc cha
mẹ có quyền uy tuyệt đối với con cái, Dũng đã mượn lời Loan bày tỏ thẳng thắn quan điểm của mình:
Cô khác, cô nhiễm tây học, cô biết lấy người mà xét người, không có cái định kiến như mọi người khác(1), bao giờ cũng cho cha mẹ là phải cả (2),
mà con tất nhiên là trái (3) (II, tr.30) Đây là một cấu trúc so sánh kép (trong
một câu mà có nhiều cấu trúc so sánh) trong đó, CSS (cha mẹ (2), con (3),
CĐSS - vế B (phải cả ở cấu trúc (2), trái ở cấu trúc (3) nhấn mạnh đến sự
khác nhau về quan điểm trong ứng xử giữa bố mẹ với con cái Quan niệm cho rằng cha mẹ luôn luôn phải mà con cái hiển nhiên là trái là quan niệm sai lầm, chính quan niệm này đã làm cho mâu thuẫn giữa cha mẹ và con cái nhiều khi
đi vào bế tắc không thể giải tỏa được Dũng là một trường hợp điển hình, chàng cương quyết theo đuổi chí hướng của mình thì liền bị gia đình từ bỏ, mất hết mọi quyền lợi trong gia đình, bị mọi người chê cười là có tội với gia tộc Song với Dũng anh coi việc đó chẳng có nghĩa lý gì: