Tồn Am thi tập là tập thơ trong hệ thống sáng tác thơ của Bùi Huy Bích, nhưng qua khảo sát, chúng tôi chưa tìm thấy được công trình nghiên cứu nào một cách có hệ thống về văn bản cũng n
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
PHẠM ĐÌNH NGỌC
KHẢO SÁT VĂN BẢN VÀ TÌM HIỂU GIÁ TRỊ
TỒN AM THI TẬP CỦA BÙI HUY BÍCH
Chuyên ngành: Hán Nôm
Mã số: 60 22 01 04
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Thị Thanh Chung
Trang 2HÀ NỘI – 2015
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất tới TS Nguyễn Thị Thanh Chung - người thầy đã quan tâm, chỉ bảo, hướng dẫn tôi về học thuật, tạo điều kiện tốt nhất về mọi mặt giúp tôi hoàn thành luận văn này
Xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới các thầy cô trong Bộ môn Hán Nôm trường Đại học Sư phạm Hà Nội - những người đã tận tâm dạy bảo chúng tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu
Chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu, Phòng sau đại học, khoa Ngữ Văn của trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã tạo điều kiện cho tôi hoàn thành khóa học
Tôi xin cảm ơn gia đình, bạn bè, những người hỗ trợ luôn động viên tinh thần, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian hoàn thành luận văn này
Hà Nội, tháng 10 năm 2015
Tác giả
Phạm Đình Ngọc
Trang 4MỤC LỤC
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Bùi Huy Bích (1774-1818), còn có tên là Bùi Bích, tự Hi Chương, Ảm Chương, hiệu Tồn Am, Tồn Am Bệnh Tẩu, Tồn Ông Bùi Huy Bích là con cháu gia tộc họ Bùi làng Thịnh Liệt hay họ Bùi làng Sét (tên Nôm), là dòng
họ nổi tiếng về tài văn chương và có nhiều danh nhân Bùi Huy Bích sống trong thanh bần Thú vui của ông là dạy học, làm thơ, viết sách Ông thường mượn thơ văn thể hiện niềm ưu thương, để lại cho người đời nhiều áng thơ văn bất hủ
Bùi Huy Bích viết nhiều, các tác phẩm có độ dày, nội dung lớn nhỏ khác nhau, nhưng đều có giá trị về nhiều mặt văn học, lịch sử, triết học và giáo dục Hiện những bài văn trong hoạt động chính trị (biểu, tấu, khải, thư, trát) cũng như trong đời sống xã hội (bi kí, câu đối, bài tựa, bài bạt, văn tế) của ông vẫn còn được lưu trong nhiều sách in hay viết tay Các tác phẩm tiêu
biểu của ông về văn có Tồn Am văn tập, Lữ trung tạp thuyết; về thơ có Nghệ
An thi tập, Bích Câu thi tập, Tồn Am thi cảo, Tồn Am thi tập Các tập văn thơ
ông sưu tập và hợp tuyển ( ghi chép từ thời Lý Trần đến thời Lê Hiển Tông)
gồm có Hoàng Việt thi tuyển và Hoàng Việt văn tuyển.
Tồn Am thi tập là tập thơ trong hệ thống sáng tác thơ của Bùi Huy
Bích, nhưng qua khảo sát, chúng tôi chưa tìm thấy được công trình nghiên cứu nào một cách có hệ thống về văn bản cũng như nội dung, nghệ thuật của tập thơ này
Là một học viên cao học chuyên ngành Hán Nôm, tôi nhận thấy tìm hiểu thêm được một tác phẩm văn thơ cổ là việc làm ý nghĩa, giúp cho bản thân nâng cao kiến thức, có thêm tư liệu cho việc nghiên cứu sau này Hơn
nữa tác giả Tồn Am thi tập- Bùi Huy Bích, một tác giả có hệ thống nhiều tác
phẩm, đa dạng về thể loại, và có ảnh hưởng nhất định đến phong trào văn học
Trang 6giai đoạn thế kỷ 18, đầu thế kỷ 19, cho nên tìm hiểu thêm được tác phẩm của ông là góp phần hiểu thêm về con người và tài năng trong nghệ thuật thơ ca của ông cũng như hiểu sâu hơn về thời đại lúc bây giờ.
Vì vậy mong muốn của người nghiên cứu là tìm hiểu về tác phẩm một cách cơ bản, để có cái nhìn khái quát về tác phẩm, từ đó nắm bắt được
tư tưởng nội dung cũng như nghệ thuật của nó Chính vì thế chúng tôi tiến
hành đề tài “Khảo sát văn bản và tìm hiểu giá trị Tồn Am thi tập của
Bùi Huy Bích”.
2 Lịch sử nghiên cứ vấn đề
Chúng tôi tiến hành tìm hiểu về các vấn đề như sau:
2.1 Lịch sử nghiên cứu về cuộc đời và sự nghiệp của Bùi Huy Bích
Dưới đây là những công trình, bài viết tham luận về cuộc đời và sự nghiệp của Bùi Huy Bích mà chúng tôi tìm hiểu được:
- Từ điển văn học, Bộ mới ( Nxb Thế giới, 2004) giới thiệu về Bùi Huy Bích.
- Lược truyện các tác gia Việt Nam, Trần Văn Giáp chủ biên (Nxb
KHXH, Hà Nội 1971) giới thiệu sơ lược về tác giả và những tác phẩm của Bùi Huy Bích ( tr 339- 340)
- Bộ Tìm hiểu kho sách Hán Nôm (nguồn tư liệu văn học,lịch sử Việt
Nam) của Trần Văn Giáp (NXB Văn hóa Hà Nội, 1984) với mục đích thống
kê, khái quát về hiện trạng các văn bản Hán Nôm đã làm một việc rất giá trị cho công việc khảo cứu đó là: Giới thiệu về tác giả Bùi Huy Bích ở phần tiểu truyện ( trang 273, tập I)
- Tìm hiểu Bùi Huy Bích_ Trương Chính, Tạp chí Văn học số 3-1975
Bài viết gồm 11 trang khái quát về cuộc đời và sự nghiệp của Bùi Huy Bích Tác giả ca ngợi Bùi Huy Bích với nhiều tác phẩm nổi tiếng và có giá trị, nên theo ông cần khai thác, nghiên cứu kỹ về những trước tác của ông để lưu giữ
Trang 7như một tư liệu quý và bổ sung những đóng góp của ông cho nền văn học nước nhà.
- Danh nhân văn hóa Bùi Huy Bích 1744 – 1818, Bùi Hữu Nghị, Phạm
Đình Nhân- Trung tâm UNESCO thông tin tư liệu lịch sử và văn hóa Việt Nam ( 1998) Trong sách có nhiều bài viết liên quan đến tác giả, tác phẩm của Bùi Huy Bích
- Bùi Huy Bích, danh nhân truyện kí- Trúc Khê, Nxb Hà Nội, 1998
Tác giả đã giới thiệu về cuộc đời, sự nghiệp văn thơ Bùi Huy Bích
- Bùi Huy Bích, đại danh Nho Việt Nam cuối thế kỷ XVIII- Trí thức
Việt Nam thời xưa, Vũ Khiêu, Nxb Thuận Hóa 2006
- Nghiên cứu văn bản Hoàng Việt văn tuyển của Bùi Huy Bích - Luận
văn thạc sĩ của Nguyễn Thị Hiền, Đại học KHXH&NV, 2008 Trong luận văn tác giả đã trình bày về tiểu sử, sự nghiệp của Bùi Huy Bích và đi sâu nghiên
cứu về văn bản, giá trị của tác phẩm Hoàng Việt văn tuyển trong hệ thống thi
tuyển Việt Nam
- Nghiên cứu văn bản học Hoàng Việt thi tuyển của Tồn Am Bùi Huy Bích- Luận văn Thạc sĩ của Nguyễn Thị Dung, Đại học KHXHNV, 2010
Luận văn đã nghiên về tác giả Bùi Huy Bích và đi sâu vào công tác văn bản
học của Hoàng Việt thi tuyển.
- Khảo sát thể loại thơ Ngũ ngôn trong Hoàng Việt thi tuyển - Luận
văn Thạc sĩ của Mai Diệu Thúy, Đại học SPHN, 2012 Luận văn đã nghiên cứu về tác giả Bùi Huy Bích và đi sâu nghiên cứu về thể loại thơ Ngũ ngôn
trong Hoàng Việt thi tuyển.
Như vậy, các bài viết tham luận, các công trình nghiên cứu trên chủ yếu mới chỉ đề cập đến vấn đề về tiểu sử, sự nghiệp chung của Tồn Am Bùi Huy
Bích mà chưa đi vào nghiên cứu sự nghiệp thơ ca và tác phẩm Tồn Am thi tập.
Trang 82.2.Lịch sử nghiên cứu về tác phẩm Tồn Am thi tập
- Theo khảo sát của chúng tôi, cho đến nay vấn đề tìm hiểu về tác phẩm
Tồn Am thi tập mới chỉ có những bài viết, hoặc các công trình nhắc đến tên
tác phẩm này trong khi giới thiệu các tác phẩm của ông trong đề tài của mình
Đó là bài viết của tác giả Bùi Hạnh Thẩn trong các sách Danh nhân văn hóa Bùi Huy Bích (trang 135); sách Bùi Huy Bích, Danh nhân truyện ký - Trúc
Khê, Nxb Hà Nội 1998
- Về mặt văn bản học và hệ thống nội dung cũng như nghệ thuật của tập thơ, theo tìm hiểu của chúng tôi hiện nay vẫn chưa có công trình nghiên cứu nào tìm hiểu một cách cụ thể
- Trong quá trình tìm hiểu về thơ Bùi Huy Bích trong các sách như
Tổng tập Văn học Việt Nam, Hợp tuyển văn học trung đại Việt Nam, Danh nhân Hà Nội, Các tác gia Hán Nôm Thăng Long- Hà Nội, Danh nhân văn hoá Bùi Huy Bích, chúng tôi đã tìm ra được 14 bài dịch trong hệ thống các bài thơ trong Tồn Am thi tập Đó là các bài: Vãn độ Bình Lãng khê ( Phạm Tú Châu dịch), Đề Cổ Mễ sơn tự lâu chung, Thu hiểu đăng Phổ Linh tự chung lâu ( Bùi Quảng Tuân dịch), Thu dạ, Khê kiều tế nguyệt, Qua Quang Liệt thôn quan thủy ngưu ma cam giá tương, Thôn trang hàn dạ nhiên sơn mộc dĩ
tự ôn nhân tác và Túc Thạch Xá (Trúc Khê dịch), Sài Sơn tự ( Bùi Hạnh Cẩn dịch), Vãn hành quách ngoại ký kiến (Nguyễn Vinh Phúc dịch), Quang Liệt
xã giang thượng ngâm ( Phạm Đình Nhân dịch), Quá Liên Sơn tự ( Bùi Văn Chất dịch), Phú Nghĩa sơn hành vũ trung tác( Đỗ Ngọc Toại dịch), Kí gia đệ
(Trần Lê Văn dịch) Đây cũng chính là nguồn tư liệu quý báu giúp chúng tôi hoàn thành đề tài nghiên cứu này
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
- Văn bản Tồn Am thi tập của Bùi Huy Bích kí hiệu là A.2986 tại Viện
Nghiên cứu Hán Nôm
Trang 93.2 Phạm vi nghiên cứu
- Khảo sát văn bản Tồn Am thi tập, kí hiệu là A.2986 Luận văn so sánh
văn bản Hán Nôm khác có liên quan đến tác phẩm Tồn Am thi tập, đó là tác
phẩm Tồn Am thi cảo [存庵詩稿] hiện đang lưu giữ tại Thư viện Viện nghiên
cứu Hán Nôm, kí hiệu VHv.86 – đây là tác phẩm gồm 3 tập thơ: Thoái hiên thi tập [退軒詩集], Bích Câu thi tập [壁溝詩集], Nghệ An thi tập [乂安詩集]
- Nghiên cứu giá trị của Văn bản Tồn Am thi tập.
4 Mục tiêu và nhiệm vụ và dự kiến đóng góp của đề tài
4.1 Mục tiêu
- Xác định được các đặc điểm của văn bản Văn bản Tồn Am thi tập
- Tìm hiểu các đặc trưng và giá trị của tập thơ
- Khẳng định được tài năng thi ca của tác giả Bùi Huy Bích
4.2 Nhiệm vụ
- Khảo sát văn bản Văn bản Tồn Am thi tập.
- Nghiên cứu giá trị Văn bản Tồn Am thi tập để thấy được giá trị nổi
bật của nội dung và nghệ thuật của tập thơ
- Chú dịch 31 bài thơ trong tập Văn bản Tồn Am thi tập.
4.3 Dự kiến đóng góp của đề tài
Thực hiện đề tài này, chúng tôi dự kiến được những đóng góp như sau:
- Về nghiên cứu văn bản Văn bản Tồn Am thi tập: Xác lập được một
văn bản tốt nhất về tập thơ, làm tiền đề nghiên cứu sâu hơn tác phẩm này cùng những sáng tác khác của tác giả Bùi Huy Bích
- Về nghiên cứu giá trị nội dung Văn bản Tồn Am thi tập: Bước
đầu khái quát nội dung, từ đó đánh giá tư tưởng và tình cảm của tác giả qua tập thơ
- Về giá trị nghệ thuật Văn bản Tồn Am thi tập: làm nổi bật sự đa
dạng về thể thơ, sự linh hoạt trong trong sử dụng ngôn ngữ của tác giả
Trang 105 Về dịch chú Văn bản Tồn Am thi tập
Đưa ra được bản dịch tương đối rõ ràng, sát với nội dung, làm cơ sở nghiên cứu sâu hơn về tác phẩm
6 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp văn bản học: Phương pháp văn bản học, với các thao tác
cụ thể như thống kê, phân loại, so sánh, lý giải các dị văn, dị tự… được tiến hành trong quá trình khảo sát văn bản nhằm xác định thiện bản
Phương pháp nghiên cứu văn học sử: Phương pháp nghiên cứu văn học
sử, với thao tác chủ yếu là so sánh, đối chiếu, được sử dụng để khẳng định giá trị của thi tập
Phương pháp dịch chú tác phẩm Hán Nôm: phương pháp này được sử dụng trong quá trình phiên âm, dịch nghĩa, chú giải các tác phẩm
Các phương pháp liên ngành: được sử dụng trong quá trình nghiên cứu các vấn đề tổng hợp của luận văn
7 Cấu trúc luận văn
Phần chính văn của luận văn gồm 3 phần: Mở đầu, Nội dung và Kết
luận Trong đó, phần Nội dung được chia làm 3 chương, dự kiến các chương
như sau:
Chương 1: Giới thiệu tác giả Bùi Huy Bích và tác phẩm Tồn Am thi tập Chương 2: Khảo sát văn bản Tồn Am thi tập.
Chương 3: Nghiên cứu giá trị Tồn Am thi tập.
Ngoài ra còn có phần phụ lục (phần phiên âm dịch nghĩa, văn bản Tồn
Am thi tập) và phần Tài liệu tham khảo.
Trang 11NỘI DUNG Chương 1 GIỚI THIỆU TÁC GIẢ BÙI HUY BÍCH
VÀ SỰ NGHIỆP THƠ CA CỦA ÔNG
1.1 Vài nét về Bùi Tồn Am [裴存庵]
1.1.1 Tiểu sử
Bùi Huy Bích là một tác gia lớn của dân tộc đã được nhiều nhà nghiên
cứu quan tâm, tìm hiểu Để có được cái nhìn tổng quan về tác giả của Tồn Am thi tập, chúng tôi đã tham khảo các tài liệu của các nhà nghiên cứu đi trước, trong đó chủ là cuốn Danh nhân văn hóa Bùi Huy Bích (1998) - Trung tâm
Unesco thông tin tư liệu lịch sử và văn hóa Việt Nam và Luận văn thạc sĩ
Khảo sát thể loại thơ ngũ ngôn trong Hoàng Việt thi tuyển của Mai Diệu
Thúy (2012) Dưới đây, chúng tôi xin trình bày tóm lược về tiểu sử của ông
Bùi Huy Bích [裴輝壁] còn gọi là Bùi Bích [裴壁] ), tự là Hy Chương [希章], hiệu là Tồn [存庵], Tồn Ông [存翁], Tồn Am Bệnh Tẩu [存庵病叟] Ông sinh này 28 tháng 8 năm Giáp Tí [甲子] 1744, tại làng Định Công [定公], huyện Thanh Trì [叟池], nay thuộc ngoại thành Hà Nội; mất ngày 25 tháng 5 năm Mậu Dần [戊寅] 1818, thọ 75 tuổi
* Quê hương:
Bùi Huy Bích ở làng Thịnh Liệt [盛列], là một làng quê rất cổ kính, nằm cạnh kinh thành Thăng Long [昇龍] Xưa làng có tên Cổ Việt [古越], đến thế kỉ thứ XV mới có tên là Thịnh Liệt, tên Nôm là làng Sét Gia tộc họ Bùi làng Thịnh Liệt này bắt đầu từ thôn Giáp Nhị Vào đầu thế kỉ XIX, làng Thịnh Liệt, thuộc tổng Hoàng Mai, huyện Thanh Trì, phủ Thường Tín, trấn
Trang 12Sơn Nam Thượng Ngày nay, Thịnh Liệt , thuộc quận Hoàng Mai của thành phố Hà Nội.
Làng Thanh Liệt quê hương cụ Bùi Huy Bích có truyền thống kính thọ, không chỉ có văn chỉ mà còn có cả thọ chỉ, rất hiếm thấy ở các làng quê văn hiến khác Thọ chỉ, giống như văn chỉ, là một đền trong làng, nhưng không dùng đẻ tôn vinh các danh nhân văn hóa mà để tôn vinh người lớn tuổi (từ 70 tuổi trở lên, đặc biệt là các cụ trên 100 tuổi), đề cao các đức của các vị cố lão
để con cháu noi theo Danh sĩ Bùi Huy Bích chính là người viết văn bia cho đền Ông Thọ của làng Qua văn bia, biết mỹ tục của làng, những cụ 100 tuổi trở lên là Quốc lão, được thờ tại đền Thọ Chỉ; các cụ trên 90 tuổi là bậc Hương lão, cũng được phối thờ theo; các cụ trên thì được đặt bài vị thờ ở hai bên Tả, Hữu Hàng năm lấy ngày 10 tháng 2 và 10 tháng 8 làm lễ, có văn tế
và nghi lễ trịnh trọng Việc thờ, tôn vinh các bậc tiền lão vẫn được duy trì theo nghi thức cổ truyền Các cụ thọ 70 tuổi (nam và nữ) vẫn được khắc tên đặt hai bên bệ thờ trong đền ông thọ ngày xưa Ngày tế lễ hàng năm (nay do các cụ cao tuổi trong làng phụ trách) vẫn được các cụ trong làng, trong phường, kể cả các cụ đang làm ăn, sinh sống ở khắp mọi nơi về tham dự; làm cho ngày nay thực sự là ngày trọng thọ của dân làng Những tục lệ tốt đẹp về trọng thọ, tôn kính các vị tiền lão đã được dân làng nơi đây gìn giữ hàng trăm năm, nay ngày càng trân trọng
Dòng họ:
Dòng họ Bùi [裴] làng Thịnh Liệt là một dòng họ nổi tiếng đã đóng góp nhiều nhân vật quan trọng cho các thời đại trong thời gian đầu thế kỉ XV đến đầu thế kỉ XX, cũng như nhiều văn hào, tác gia…của nền văn hóa Việt Nam
trong năm thế kỉ đó Ca ngợi dòng họ Bùi, trong Kiến văn tiểu lục…Lê Qúy
Đôn viết: “Con cháu sinh sôi nảy nở, công nghiệp rạng rỡ vẻ vang Từ thời Lê
Trang 13trung hưng, bày tôi thế kế, tộc thuộc lớn lao, nói đến nhà quý hiển nhất, chỉ có
họ Bùi mà thôi”
Dựa theo tài liệu và gia phả của nhiều gia đình thì nguồn gốc của gia tộc họ Bùi làng Thịnh Liệt là từ làng Cát Xuyên, huyện Hoằng Hóa, phủ Hà Trung, trần Thanh Hóa (nay là huyện Hoằng Hóa tỉnh Thanh hóa) Khoảng cuối thời nhà Hồ, vì chiến tranh giữa Việt Nam với nhà Minh, gia tộc này dọn đến làng Định Công , huyện Thanh Đàm (sau này là Thanh Trì), phủ Thường Tín, trấn Sơn Nam Thượng (gần thành Thăng Long) Ngay sau đó, nghe theo lời của một thầy phong thủy Trung Hoa thông hiểu về phong thủy, gia tộc này lại dọn sang làng ngay bên cạnh-làng Thịnh Liệt
Thủy tổ của dòng là người có tên là Chí Đức Cụ sống trong khoảng từ cuối thế kỳ XIV đền đầu thế kỷ XV, và cũng là người đã đưa gia đình từ Thanh Hóa đến gần Thăng Long Cụ Chí Đức có một người con tên là Trung Thức.Trung Đức lấy con gái nhà Cao là Cao Thục Tịnh Về sau, khi gia đình trở nên quý hiển có nhiều con cháu làm quan trong triều, Trung Đức được vua nhà hậu Lê phong tước Diễn Phúc Bá, chức tả thị lang và tên hiệu là Tả Dụ
Như vậy, Hoằng Hóa là quê tổ, Định Công là quê gốc, làng Thịnh Liệt
là nơi khởi phát dòng họ Bùi lừng danh thiên hạ Từ khi định cư tại làng Thịnh Liệt, gia tộc họ Bùi này đã đã đóng góp nhiều nhân tài trong lịch sử Việt Nam Số người làm quan trong họ rất nhiều, trong đó những người giữ chức vụ quan trọng và tiêu biểu trong triều đình như: Bùi Xương Trạch [裴昌叟], Bùi Huy Bích[ 裴輝璧], Bùi Trụ [ 裴叟], Bùi Vịnh [裴詠], Bùi Bỉnh Uyên[裴秉淵], Bùi Công Cẩn[裴公瑾], Bùi Bỉnh Quân[裴秉君], Bùi Xương Tự[裴昌嗣], Bùi Dụng Tân[裴用賓], Bùi Bỉnh Trục[裴秉軸], Quốc Tử Giám
bạ [國子監簿],
Trang 14Các văn bia Tiến sĩ tại Văn miếu Hà Nội còn ghi tên của bốn vị Tiến sĩ của dòng họ này:
- Bùi Xương Trạch: đệ tam giáp tiến sĩ năm 1478
- Bùi Vịnh: bảng nhãn năm 1532
- Bùi Bỉnh Quân: tiến sĩ năm 1619
- Bùi Huy Bích: hoàng giáp năm 1769
Số người thi đỗ cử nhân trong các kỳ thi Hương cũng khoảng 20 người, như Bùi Phổ, Bùi Bỉnh Khiêm, Bùi Xương Nghị, Bùi Xương Tự, Bùi Nhữ Tích,…
Ngoài ra dòng họ Bùi còn đóng góp rất nhiều vào văn hóa và văn học Việt Nam với nhiều tác phẩm của nhiều tác gia Nổi tiếng nhất là Bùi Huy
Bích ( Tồn Am thi tập, Bích Câu thi tập, Nghệ An thi tập, Hoàng Việt thi tuyển, Hoàng Việt văn tuyển…), Bùi Bỉnh Trục ( Đản trai trích đối, Đản trai công thi…), Bùi Phổ ( Mão Hiên văn tập, Bùi thị gia phả ),…và nhiều
số bảo cậu bé sinh năm Giáp Tí, đó là mệnh kim, vậy nên đặt cho cậu cái tên
Trang 15có kèm chứ thổ, để lấy nghĩa “ kim thổ tương sinh”cho tốt Nhân thế, ông đặt tên cho con là Bích[壁], vì nửa dưới chữ Bích ghép bằng chữ thổ[土]”1.
Bùi Huy Bích tuy bề ngoài có vẻ ốm yếu, nhưng bên trong lại có khiếu thông minh
Năm 17 tuổi, Huy Bích đến học ông nghè Nguyễn Bá Trữ, hiệu Thân Trai2 người cùng huyện Học được một tháng, ông Thân Trai hỏi :
- Ngày trước anh học ở đâu?
Huy Bích thưa là học phụ thân ở nhà Thân Trai khen:
- Ít có một gã thiếu niên thông tuệ như vậy
Huy Bích đọc sách cốt tìm lấy đại ý của một chương tiết Mỗi khi hỏi, tất là những câu hỏi đích đáng Thầy và bạn đều mến phục lắm, và rất tin ở Huy Bích sẽ có một tiến trình rộng xa, chưa biết đâu mà hạn lượng được
*Giai đoạn khoa cử:
Năm 19 tuổi, Bùi Huy Bích đi thi khoa Hương, đỗ ngay Hương cống
Đó là năm Nhâm Ngọ niên hiệu Cảnh Hưng thứ 23(1762) Năm sau ông đi thi Hội, không trúng cách Từ đó ông đến học ở trường quan bảng nhãn Lê Quý Đôn3 người huyện Diên Hà, ông bảng Lê rất khen ngợi tài học
Bấy giờ chúa Trịnh là Tương Vĩnh Sâm, một vị chúa không được lòng phần nhiều các bậc sĩ phu Bùi Tồn Am thấy thời chính như vậy thì rất buồn nản về đường sĩ tiến Thêm sự việc Thái tử Lê Duy Vỹ bị bắt bỏ ngục, ông càng thêm chán ngán, chẳng thiết gì đi thi để đỗ đạt làm quan Nhưng sau nghe lời khuyên của cha, năm Kỷ Sửu [己丑] 1769, niên hiệu Cảnh Hưng 30, ông nộp quyển đi thi Khoa thi Hội năm ấy có 9 người được trúng cách, đứng đầu là ông Ngô Duy Viên người làng La Khê huyện Từ Liêm Trong 9 người
1 Bùi Huy Bích, Tạp chí Tân Dân, 1944 – VV-D1/249 ĐHPHN
2 Tiến sĩ khoa Giáp(1754) niên hiệu Cảnh Hưng.
3 Lê Quý Đôn (chữ Hán: 黎貴惇, 1726 - 1784), tên thuở nhỏ là Lê Danh Phương, tự Doãn Hậu (允厚), hiệu Quế Đường; là quan thời Lê trung hưng, là nhà thơ, và là "bác học lớn của Việt Nam trong thời phong kiến"(Theo GS Văn Tân, "Con người và sự nghiệp Lê Quý Đôn", tr 306.).
Trang 16trúng cách ấy thì Bùi Huy Bích là một Tiếp sau ông đỗ thi Đình, đỗ Hoàng Giáp- hạng Tiến sĩ thứ tư sau Trạng nguyên, Bảng nhãn, Thám hoa Năm đó, ông mới 25 tuổi Sau khi vinh quy bái tổ, ông được bổ nhiệm làm Hiệu lý [校理] ở Hàn lâm viện [翰林院], làm thị giảng Từ đó, ông bước chân vào chốn quan trường.
Trang 17Năm Cảnh Hưng 31( 1770), Tồn Am được thăng lên chức Thị chế [侍制] Tiếp đó được thụ chức Thiêm sai1 [叟差], kiêm chức Đông cac hiệu thư [東閣校書].
Năm Cảnh Hưng 38( 1777), ông vào lãnh chức Đốc đồng2 [督同 ] ở Nghệ An Sau đó ông phụng sai vào Thuận Hóa tuyên dụ Thuận Hóa nguyên
là đất cưa chúa Nguyễn trước, triều đình mới sai quân vào đánh chiếm được thừa khi đất ấy có biến- loạn Tây Sơn Tồn Am vào Thuận Hóa làm xong công việc trở ra, thảo tờ điều trần về công tội của các tướng sĩ, cũng như là tình hình sinh sống, bệnh tật ở dân chúng rất là tường tận
Gặp khi miền Trấn Ninh3 có giặc Mường Thai kéo vào làm loạn, triều đình sai Tương đông hầu Nguyễn Xuân Phủ đem quân dẹp, và sai Tồn Am đi với Tương đông hầu, làm chức Tham hiệp nhung vụ Năm thứ 41 Cảnh Hưng, ông trở về Vĩnh Doanh, được phong lên chức Hiệp trấn [協 鎭 ] Nghệ An, kiêm chức Tham chính [參政]
Sau 5 năm ở đất Nghệ An, đến năm Tân Sửu [辛丑] niên hiệu Cảnh Hưng thứ 42 (1781), ông được chúa Trịnh Tĩnh Vương triệu về, trao cho chức Nhập nhị bồi tụng [入侍陪從], chỉ sau chức Bồi tụng4 [陪從] Song về đến Kinh, ông đệ khải văn vào vương phủ lấy cớ là ốm yếu xin từ chức Lý do thực là vì ông nghĩ Tĩnh Vương không phải là vị chúa hiền minh, chính sự phần nhiều mục nát, nay mình chen chân vào chính phủ, vị tất đã tài gì uốn
1 Chức Thiêm sai có nhiệm vụ xét lại các sự việc kiện tụng Đặt ra từ thời vua Lê Hy Tông.
2 Chức Đóc đồng được đạt ra từ thời Lê trung hưng, dùng cho quan tứ phẩm, ngũ phẩm trở xuống.
3 Một phủ ở về thượng du trấn Nghệ An( tỉnh Nghệ An bây giờ).
4 Tương đương chức Phó Thủ tướng ngày nay
Trang 18nắn lại được Nhưng khi mang khải thư vào, Tĩnh Vương nhất định không chuẩn hứa, Tồn Am không được lui về như ý muốn của mình Khi chúa Trịnh Sâm bỏ con trưởng Trịnh Tông [鄭棕] để lập con thứ Trịnh Cán [鄭叟] của Tuyên phi Đặng Thị Huệ [鄧氏蕙], ông đã ra sức can ngăn, nhưng không thành Chính vì Trịnh Sâm phế con trưởng, lập con thứ nên đã xảy ra loạn trong triều khi chúa qua đời Trịnh Tông lật đổ Trịnh Cán để lên ngôi, cách chức Tham tụng của Phan Lê Phiên1, và mời Bùi Huy Bích ra làm Hành tham tụng [行參從], tước Kế liệt hầu, hy vọng ông có thể cứu vãn được tình thế do loạn kiêu binh gây ra Sau đó, do xảy ra nhiều chuyện ngờ vực, ông từ quan
về dưỡng bệnh tại phường Bích Câu [碧溝], Hà Nội [河叟], gần hồ Tú Uyên [秀淵], năm ấy mới ngoài 40 tuổi2 Đến năm Bính Ngọ, quân Tây Sơn lấy danh nghĩa “ phù Lê diệt Trịnh” kéo ra Bắc, Trịnh Tông điều ông ra mặt trận làm đốc chiến Tây Sơn diệt Trịnh không lâu thì Lê Hiển Tông [黎顯宗] mất, cháu là Chiêu Thống [昭 統 ] lên thay Chiêu Thống mời ông ra làm Bình chương sự [ 平章事] kiêm Tham tụng, nhưng ông từ chối Khi Nguyễn Huệ [阮惠] lên ngôi vua và đánh tan quân Thanh (1789) có mời các danh thần đời Hậu Lê [後黎] ra giúp nước nhưng ông không hợp tác Đến triều Nguyễn [阮朝], ông được trọng đãi nhưng vẫn xin sống thanh nhàn ở quê cho đến khi mất( 1818)
*Từ khi trí sĩ:
1 Cùng phe với mẹ con Trịnh Cán.
2
Trang 19Tuổi già, ông lấy thơ văn làm vui, thường cùng em là Bùi Cảnh, cháu
họ là cử nhân Bùi Trục1, anh em chú cháu xướng họa thơ từ Ngoài ra ông còn ông còn dạy con cháu học thi lễ Có khi rong chơi cùng một số người bạn
cũ, người bạn thân thiết nhất của ông là ông Phạm Lập Trai
Ông thường sai các con biên chép những thơ văn của mình Những khi con cháu học hành được lúc nhàn rỗi thường bảo đem ra ngâm đọc để giảng bảo cho đại ý Ông mở lớp dạy học, người nào muốn đến học, trước hết tiên sinh xét trước về tính cách con người, có đáng nhận mới làm lễ nhập môn Sự dạy thì cốt khiến kẻ học tìm hiểu nghĩa lý trong sách, chữ viết phải chon gay ngắn, nói , làm, lui, tới phải cung cẩn, còn sự tập luyện văn trường ốc chỉ là việc phụ Những người được ông giảng dạy, trước và sau chỉ có vài mươi người tất cả, bởi hay đau yếu nên không chịu thu nhận nhiều Hai vị danh thần của bản triều là Hà Tôn Quyền và Doan Uẩn đều đã từng là môn đệ của ông
Từ năm Nhâm Tuất (1802) trở về sau, ông ở luôn tại quê nhà, cứ những ngày sóc, ngày vọng và ngày chính đán2, vận mũ áo nhà nho ngay ngắn, cùng con em vào làm lễ ở từ đường, và giảng giải cho biết ý nghĩa của lễ Như thế trong mười mấy năm tuy già yếu nhưng vẫn không trễ nải Những nhà thân thích, bạn bè, thông gia khi có việc vui, buồn lớn dù trong khi đau yếu cũng gắng gượng đến, có khi xa đến nửa ngày cũng không quản ngại
Tháng 5 năm Mậu Dần [ 戊 寅 ] niên hiệu Gia Long [ 嘉 隆 ] thứ 17(1818), ông bị bệnh, không muốn ăn uống gì cả, hơi thở ngắn và tiếng nhỏ dần đi Khi bệnh đã gần nguy, ông còn đọc cho con cháu nghe một bài thất ngôn tứ tuyệt Người nhà hỏi về hậu sự, ông nói: Tên hiệu của ta là
1 Trưởng họ Bùi.
2 Ngày sóc là ngày mồng một, đầu tháng âm lịch (sóc là mở đầu); ngày vọng là ngày rằm âm lịch (vọng là trông), ngày ấy mọi người thường ra sân ngắm trăng; Sáng mùng Một Tết, còn gọi là ngày Chính đán, người Việt thường tổ chức tụ họp đông đủ con cháu để cúng tổ tiên và chúc Tết ông bà
Trang 20Tồn Am, vậy lấy ngay đó làm tên thụy Khi táng trước hết phải làm lễ cáo
ở từ đường Tang ma cốt cho đủ lễ mà thôi, còn những lối th ế tục vẫn dung, rất chớ nên bắt chước
Ngày 25 tháng 05, ông tạ thế, thọ 75 tuổi
Ông mất đi, sĩ phu xa gần nghe tin, hết thảy đều thương tiếc Người ta thương tiếc, không phải vì ông là người đã từng lập nên những sự nghiệp gì to lớn trong lịch sử, mà bởi ông là một nhà văn học đạo đức, sinh gặp thời suy kém, lễ giáo tiêu mòn, kỷ cương đổ nát, học đỗ đến Hoàng giáp, làm quan đến chức tể tướng, mà đến khi về già sống đạm bạc, trước sau vẫn giữ mình một cách cao sạch, không chịu đắm sa vào những vẩn đục của dòng đời
1.2 Sự nghiệp thơ ca
Xuất phát từ vốn thông minh tài phú từ nhỏ, Bùi Huy Bích sinh thời vào buổi chính trị rối ren, nên sự nghiệp quan trường không được mãn ý Bởi thế Bùi Huy Bích đã tập trung vào việc sưu tầm và nghiên cứu thơ văn, sáng tác văn học, mở lớp dạy học trò Ông đã để lại cho đời một khối lượng tác phẩm
đồ sộ, có giá trị về nhiều mặt: lịch sử, văn học, triết học, giáo dục Trước tác của ông gồm cả hai mảng văn và thơ, hầu hết viết bằng chữ Hán Về văn, sáng
tác có Lữ trung tạp thuyết [呂忠雜說], Tồn Am văn cảo [存庵文稿], biên soạn
có các tác phẩm Hoàng Việt văn tuyển [皇越文選], Ngũ kinh tiết yếu[五經節 要], Tính lý tiết yếu[性理節要], Chu lễ tiết yếu[周禮節要], Thư kinh tiết yếu
[書經節要], Tứ thu tiết yếu [四書節要], Luận ngữ tiết yếu [論語節要], Ngũ kinh tiết yếu diễn nghĩa [五經節要演義] Tuy nhiên do mục đích của luận văn, nên trong sự nghiệp sáng tác ở đây, chúng tôi chỉ tập trung nghiên cứu về
sự nghiệp thơ ca của ông
Trang 21Bùi Huy Bích viết thơ nhiều, qua quá trình tìm hiểu và khảo sát về sự nghiệp thơ ông, chúng tôi tiến tiến hành lập bảng thống kê các thi tập do ông
sáng tác và tuyển tập Hoàng Việt thi tuyển do ông biên soạn như sau:
Bảng 1.1: Thống kê các tập thơ của Bùi Huy Bích
STT Tên tập thơ các biệt tập hoặc vựng tập Kí hiệu 1
01 Bích Câu thi tập (tiền tập) VHv.86/1
02 Bích Câu thi tập (hậu tập) VHv.86/2
03 Thoái Hiên thi tập (quyển 1) VHv.86/2
04 Thoái Hiên thi tập (quyển 2) VHv.86/2
05 Thoái Hiên thi tập (quyển 3) VHv.86/2
06 Nghệ An thi tập (quyển thượng) VHv.86/1, A.602A.2831
07 Nghệ An thi tập (quyển hạ) VHv.86/1, A.602A.2831
Đối tượng nghiên cứu của chúng tôi là Tồn Am thi tập, theo khảo
sát của chúng tôi, thực chất đây là tập thơ được tuyển chọn từ các tập thơ
khác của Bùi Huy Bích, đó là Bích Câu thi tập , Nghệ An thi tập và Thoái Hiên thi tập.
Trong các tập thơ được thống kê trong bảng B1, chỉ có Hoàng Việt thi tuyển là tác phẩm biên soạn, không có các bài thơ được tuyển chọn trong Tồn
Am thi tập cho nên chúng tôi trình bày khái quát 7 tập còn lại được gộp lại thành ba tập là Bích Câu thi tập , Nghệ An thi tập và Thoái Hiên thi tập, và ba tập này sau lại được gộp lại trong một vựng tập có tên gọi là Tồn Am thi cảo
Vì thế để nhất quán trong nghiên cứu đề tài, chúng tôi tiến hành nghiên cứu
các tập thơ trên trong văn bản của Tồn Am thi cảo để đối chiếu, so sánh với Tồn Am thi tập, làm rõ vấn đề của đề tài đã đặt ra.
1 Biệt tập: tác phẩm chép riêng tập.Vựng tập: tác phẩm đan xen nhiều tập hoặc nhiều tác giả.
Trang 22Về Tồn Am thi cảo [ 存庵詩稿], theo như “Di sản Hán Nôm Việt Nam, thư mục đề yếu” thì tập thơ bao gồm 681 bài thơ viết vịnh thời tiết, danh
trình bày dưới hình thức viết tay, khổ giấy 29.5cm x 17.5cm, 2 tựa, 4 bạt
Tập thơ có hai bài tựa, một là của Phạm Nguyễn Du viết năm Nhâm Dần [壬寅] 1782, một là của Lê Quý Đôn viết lời tựa năm Quý Mão [癸卯] niên hiệu Cảnh Hưng thứ 4(1783) Đây là cơ sở quan trọng để chúng tôi khảo
sát, đối chiếu phần chữ Hán với tập Tồn Am thi tập.
- Bích Câu thi tập [碧溝詩集] bao gồm tiền tập, là những sáng tác khi ông mới ra làm quan, trú tại phường Bích Câu và hậu tập là những bài thơ làm trong thời gian ông trở về kinh đô giữ chức Bồi tùng, Tham tụng Hiện nay chúng tôi chỉ tìm được tập thơ mang tên này dưới dạng chép tay trong tập
Tồn Am thi cảo của ông, có ký hiệu VHv.86, được lưu trữ tại Thư viện Viện
nghiên cứu Hán Nôm
+ Theo khảo sát của chúng tôi Bích Câu tiền tập là tập thơ gồm 69 bài
thơ thuộc thể loại thơ thất ngôn Thi tập được trình bày dưới dạng viết tay, khổ giấy 29.5cm x 17.5cm Tập thơ do một người chép, thể chữ hành đá thảo, được chép tương đối sạch sẽ, ít dập xóa Các bài thơ được trình bày theo lối viết cổ, viết từ trên xuống, từ phải qua trái Toàn tập có 27 tờ ( 53 trang), mỗi trang 16 dòng, chia hai mặt mỗi mặt 08 dòng Nhan đề được chép riêng một
Trang 23dòng và chép thụt so với dòng chính một chữ Tập thơ được chép trong tác
phẩm Tồn Am thi cảo, quyển 1, ký hiệu VHv.86/1.(Xem 1.2a ).
+ Bích Câu hậu tập là một tập thơ bao gồm 57 bài thơ chủ yếu thuộc
thể loại thất ngôn bài luật, được trình bày dưới dạng viết tay,khổ giấy 29.5cm x 17.5cm Tập thơ các bài do một người chép, thể chữ chân, rõ ràng
dễ đọc, không bị dập xóa Cũng như tập Bích Câu tiền tập các bài thơ được
trình bày trình theo lối viết cổ, viết từ trên xuống, từ phải qua trái Toàn tập có
20 tờ (39 trang), mỗi tờ gồm 16 dòng, chia hai mặt mỗi mặt 08 dòng( những mặt có chú dẫn dài thường thêm hai dòng nhỏ), mỗi dòng có là mỗi dòng số chữ không đều nhau( khoảng 20 chữ) Nhan đề bài thơ viết thụt xuống so với
dòng chính 3 chữ Tập thơ được chép trong tác phẩm Tồn Am thi cảo, quyển
2, có kí hiệu VHv.86/2.( Xem 1.2b )
H1.2a (Trang 3a) H1.2b (Trang 1a)
Trang 24- Nghệ An thi tập [乂安詩集] gồm thượng tập và hạ tập, là tập thơ
ông biên soạn và sáng tác khi làm quan (chức Đốc đồng) ở Nghệ An Sách
có 3 bài tựa, Thạch Động Dưỡng Hiên Nguyễn Du Thanh Thị [石 叟 養 軒
阮 攸 叟 氏] viết tựa năm Nhâm Dần (1782), Vãn tiến, Hoan Châu Tử Cư
Sĩ Nguyễn Đường [叟州子居士阮堂] viết tựa năm Nhâm Dần (1782), Diên
Hà Quế Đường [延何桂堂 ] viết tựa năm Cảnh Hưng 44 (1783) Tập thơ hiện được lưu giữ và bảo quản tại thư viện Viện nghiên cứu Hán Nôm, kí
hiệu A.602, A.2831 và VHv.86 Theo “Di sản Hán Nôm Việt Nam, thư mục đề yếu” thì tập thơ có tổng 467 bài thơ (trong lời tựa của Lê Quí Đôn
nói là 200 bài), nhưng khi chúng tôi tiến hành khảo sát văn bản VHv.86 thì
Nghệ An thi tập bao gồm 158 bài thơ với 51 tờ (102 trang) Như vậy kết
quả số lượng bài thơ theo khảo sát của chúng tôi gần giống với của cụ Lê Quý Đôn khi viết lời tựa cho thi tập này Tập thơ do hai người chép khác
nhau, phần hạ tập ( xem 1.2d ) được trình bày bằng thể chữ chân, rõ ràng, sạch sẽ, dễ đọc, phần thượng tập ( xem 1.2c ) được trình bày bằng thể chữ
hành đá thảo, nét bút mềm mại, sạch sẽ, nhưng do cách viết thảo nhiều đoạn khó đọc Ở cả hai phần thì mỗi trang đều có 08 dòng, có cước chú hai dòng nhỏ Cách thức trình bày theo lối viết cổ, đều viết từ trên xuống dưới,
từ phải qua trái Tên nhan đề được ngắt thành một dòng riêng và thụt xuống
2 chữ ( ở thượng tập), 3 chữ ( ở hạ tập) so với dòng chính
Trang 25H1.2c (Trang 30a) H1.2d ( Trang 61a)
- Thoái hiên thi tập [退軒詩集] gồm 3 quyển Đây là tập thơ làm trong thời gian Bùi Huy Bích giải chức về quê hoặc đi lánh nạn tại Tây Sơn, Hải Dương Hiện nay chúng tôi cũng chỉ tìm được tập thơ mang tên
này dưới dạng chép trong tập Tồn Am thi cảo, mà chưa thấy bản nào khác
Toàn tập thơ có 223 bài thơ chủ yếu thuộc thể thơ ngũ ngôn, với 55 tờ ( 110 trang), được trình bày dưới dạng chép tay, trình bày bằng thể chữ hành đá thảo, nhiều đoạn mờ chữ, dập xóa cùng với lỗi viết thảo nên khó đọc Văn bản được trình bày theo lối viết cổ: viết từ trên xuống dưới và từ trái qua phải Mỗi tờ có 20 dòng, chia hai mặt, mỗi mặt có 10 dòng Nhan
Trang 26đề bài thơ được viết thụt thấp hơn so vói dòng chính một chữ Các câu thơ lần lượt nối tiếp nhau cho đến hết bài.
H1.2e.( Trang 22a) H1.2f ( Trang 37a)
- Tồn Am thi tập[存庵詩集] là tập thơ bao gồm 119 bài tuyển chọn hệ thống thơ sáng tác của ông trong 7 thi tập trên, nội dung vịnh cảnh vật, thời tiết, di tích lịch sử, đề tặng, cảm hứng… Đây là tác phẩm chúng tôi chọn làm văn bản nghiên cứu của luận văn, xin trình bày cụ thể ở các phần sau
Tiểu kết chương 1
Trang 27Bùi Huy Bích sinh ra vào nửa cuối thế kỉ XVIII, cuộc đời ông với tư chất thông minh, ham học Năm 19 tuổi, ông đỗ Hương cống, năm 25 tuổi đỗ Hoàng Giáp- hạng Tiến sĩ ( khoa thi năm Kỷ Sửu [己 丑 ] 1769, niên hiệu Cảnh Hưng 30) Ông từng làm các chức quan Hiệu lý [校理] ở Hàn lâm viện [翰林院], Thị chế [侍制], Thiêm sai [叟差], Đốc đồng [督同], Bồi tụng [陪從], Hành tham tụng [行參從], là một vị quan thanh liêm hết lòng yêu thương dân, nhất là dân nghèo lao động Trải qua nhiều biến cố của triều đình, khi nhà Nguyễn lên thay nhà Lê có chính sách dụng người tài từ triều trước, nhưng cuối cùng ông cáo bệnh xin về quê dạy học, sưu tầm, sáng tác thơ văn sống những năm tháng cuối đời trong thanh bần.
Sáng tác về thơ ca của Bùi Huy Bích có 7 thi tập gộp lại thành 3 tập
sau: Bích Câu thi tập ( gồm có tiền tập và hậu tập), Nghệ An thi tập( gồm có thượng tập và hạ tập), Thoái hiên thi tập ( gồm quyển 1, 2 và 3) Tổng cộng
ông sáng tác 507 bài thơ1 bao gồm nhiều thể loại như Ngũ ngôn cổ phong, Ngũ ngôn luật, Thất ngôn cổ phong, Thất ngôn tuyệt cú và thất ngôn bài luật
Ngoài ra ông còn biên soạn Hoàng Việt thi tuyển là tuyển tập thi ca từ
thời Lý Trần đến thời Lê rất nổi tiếng
Tồn Am thi tập là tác phẩm tuyển chọn từ các tập thơ sáng tác của ông
Tác phẩm với 119 bài thơ với những đặc sắc về nội dung và nghệ thuật chúng tôi sẽ trình bày ở các phần sau của luận văn này
Chương 2
KHẢO SÁT VĂN BẢN TỒN AM THI TẬP
Để nghiên cứu một tác phẩm Hán Nôm, hiểu được các giá trị của nó thì công tác xử lý văn bản là một khâu tối quan trọng Một tác phẩm cần phải làm rõ
1 Dựa theo khảo sát của chúng tôi qua văn bản Tồn Am thi cảo (VHv.86).
Trang 28tác giả là ai, có bao nhiêu văn bản, văn bản nào là văn bản gốc, các văn bản có thời điểm ra đời từ bao giờ Từ đó khảo sát các văn bản, xác định dị văn và xác lập nên văn bản tốt nhất để phục vụ cho công tác tìm hiểu các giá trị của tác
phẩm Ở đề tài này, may mắn cho người nghiên cứu là tác phẩm Tồn Am thi tập
rõ ràng về tác giả, chỉ có độc bản cho nên ở chương này chúng tôi tập trung vào nghiên cứu thời gian ra đời và khảo sát các vấn đề từ ngữ của văn bản
2.1 Thực trạng văn bản
Văn bản chúng tôi tiến hành nghiên cứu và khảo sát mang tên Tồn Am thi tập [存庵詩集 ], tác phẩm hiện được lưu giữ và bảo quản tại Thư viện Viện nghiên cứu Hán Nôm, kí hiệu là A.2986
Chúng tôi tiến hành đối chiếu với văn bản có thơ được chép trong Tồn
Am thi tập của tác giả Bùi Huy Bích mà đến nay chúng tôi bao quát được, đó
là các tác phẩm: Thoái hiên thi tập [退軒詩集], Bích Câu thi tập [壁溝詩集], Nghệ An thi tập [乂安詩集] Ba tập thơ này được tập hợp trong cuốn Tồn Am
thi cảo [存庵詩稿], hiện đang được lưu giữ và bảo quản tại Thư viện Viện nghiên cứu Hán Nôm, có kí hiệu VHv.86
Đối tượng nghiên cứu chính của chúng tôi -Tồn Am thi tập sẽ được mô
tả cụ thể như sau:
- Về hình thức trình bày: Toàn văn bản được trình bày dưới hình thức viết tay, khổ giấy 28.7cm x 17cm, kiểu chữ chân, đá hành đẹp, rõ ràng, được trình bày theo lối thường của cổ thư: viết từ trên xuống, từ phải qua trái Toàn tác phẩm có 33 tờ (66 trang), mỗi tờ gồm 16 dòng, chia hai mặt mỗi mặt 08 dòng( những mặt có chú dẫn dài thường thêm hai dòng nhỏ), mỗi dòng có là mỗi dòng số chữ không đều nhau( khoảng 20 chữ) Văn bản không có trang bìa, có dấu chấm câu, nhưng không đánh số tờ
Trang 29H2.1a (Trang 1a)Văn bản không ghi tên người sao chép, niên đại; được sao chép sạch
sẽ, ít chỗ tẩy xóa thêm bớt nên tương đối rõ ràng, có dấu hiệu sửa chữa đối với những chữ viết sai, nếu sai hoàn toàn về tự dạng sẽ được xóa bỏ bằng
ba dấu chấm son bên trái chữ, và được viết lại ngay bên dưới chữ sai; có trường hợp chép thiếu chữ, thì chữ thiếu được viết nhỏ ngay khoảng giữa hai chữ trước và sau nó
Trang 30H2.1b (Trang5a) H2.1c (Trang5b)
Cách bố trí các bài thơ trong văn bản như sau: tên đầu đề bài thơ được ngắt thành một cột riêng, các câu thơ được chép nối tiếp nhau liền mạch cho đến cuối bài.Khi kết thúc thì mới ngắt dòng chuyển sang dòng khác chép bài thơ mới Tên bài viết thụt xuống một chữ so với bình thường; lời tựa, dẫn của mỗi bài được thụt xuống một chữ, chú thích theo kiểu lưỡng cước1, chú ngay vào chữ, từ, địa danh, hoặc ở cuối bài ( Xem hình H11) Lời tựa trong bài không ghi rõ ngày tháng sao chép cũng như tên tên người viết tựa Trong văn bản có hiện tượng chú âm đọc với những chữ có nhiều âm đọc khác nhau
1 Tức chú ngay vào dưới phần cần chú bằng hai dòng nhỏ( hai chân) với không gian tương đương bằng một
Trang 31H2.1d (Trang 22a)
- Về kết cấu: Tên văn bản Tồn Am thi tập được ghi ngay góc phải tờ
đầu, dưới là bài tựa ghi bằng chữ nhỏ( 04 dòng ngắn gọn) giới thiệu và tác giả Bùi Huy Bích, tiếp đó là chép luôn các bài thơ ngay tờ đầu( bài 01 cùng mặt với mặt chứa nhan đề tác phẩm và lời tựa) cho đến hết Bố cục các bài được chia theo thể loại thơ cụ thể như sau:
+ Ngũ ngôn cổ phong: 06 tờ( tờ 01 đến 06 - từ bài 01 đến 26)
+ Ngũ ngôn luật: 06 tờ ( từ tờ 06 đến tờ 12- từ bài 28 đến 43)
+ Thất ngôn cổ phong: ½ tờ( tờ 12b- bài 44)
+ Thất ngôn tuyệt cú: 04 tờ ( từ tờ 13 đến 16- từ bài 45 đến 58)
+ Thất ngôn bài luật: 19 tờ ( từ tờ 16 đến 33- từ bài 59 đến 120)
2.2 Về thời điểm ra đời của văn bản
Tác phẩm văn học cổ trải qua thời gian lịch sử lâu dài với nhiều biến cố
xã hội không tránh khỏi mất chữ, mất trang do cũ nát, hay mối mọt; hơn nữa
Trang 32trong thời gian lưu truyền, các tác phẩm thường được sao chép đi chép lại Thường văn bản có ghi rõ mốc thời gian sao chép, nhưng nếu trong văn bản không ghi rõ thì việc xác định thời điểm ra đời của văn bản phải dựa vào từ
ngữ trong văn bản Trong trường hợp với Tồn Am thi tập, chúng tôi tiến hành
tìm hiểu về cách dung chữ húy của văn bản để xác định
Kị húy hay kiêng húy (đôi khi gọi là húy kị hoặc tị húy) là cách viết hay đọc trại một từ nào đó do bị kiêng kị trong ngôn ngữ văn tự xã hội tại các nước quân chủ chuyên chế trong khu vực văn hóa chữ Hán Theo luật, trong phạm vi quốc gia, mọi thần dân kiêng kị tên huý của vua, không được phép dùng để đặt tên cho con cái trong gia đình, cũng như không được phép dùng trong văn tự hay trong lời nói hàng ngày
Việt Nam có lịch sử một ngàn năm đô hộ của Trung Quốc nên chịu ảnh hưởng nền văn hóa Trung Quốc, trong đó có văn hóa "húy kỵ" Lệnh kiêng húy đầu tiên trong lịch sử Việt Nam được ban hành tháng sáu năm Kiến Trung thứ tám (1232) dưới thời Trần Thái Tông1 Lệnh vua đã ban thì thần dân phải thi hành; và đương nhiên con cháu nhà Lý phải từ bỏ gốc gác họ hàng của mình để được tồn tại Lệnh kiêng húy do vua ban ra để giữ vẻ uy nghi của ngai vàng, kẻ nào phạm húy sẽ bị tru di tam tộc
Sang triều Hậu Lê, ngày 20 tháng 4 âm lịch năm 1428, sau khi lên ngôi được 5 ngày2 Lê Thái Tổ đã ban bố ngay lệnh kiêng húy rộng rãi nhất lịch sử: Kiêng đến nhiều loại húy: quốc húy, tên húy, gia tộc kính húy và dân gian húy3
Và từ đó đến mãi thời nhà Nguyễn, lệnh kiêng huý tiếp tục duy trì, nhiều thời được áp dụng một cách khắt khe Do kiêng huý mà những danh nhân đất Việt đã một thời biến thành tên khác như Ngô Thì Nhậm (Ngô
1 Đại Việt sử ký toàn thư - Quyển V - Kỷ nhà Trần - Thái Tông hoàng đế.
2 Đại Việt sử ký toàn thư - Quyển X - Kỷ nhà Lê - Thái Tổ Cao hoàng đế.
3
Trang 33Thời Nhiệm), Phan Châu Trinh (Phan Chu Trinh), Châu Thượng Văn (Chu Thượng Văn)
Húy kỵ dưới triều đại phong kiến Việt Nam, đặc biệt Quốc húy dưới thời các vua Nguyễn, khá phức tạp Húy kỵ đã được nâng lên thành Quốc luật, làm thay đổi một phần ngôn ngữ Có nhiều chữ Nho do viết theo lối húy
kỵ (thêm bộ chữ hoặc thêm bớt nét) mà biến thành dạng chữ khác ở cả cách đọc và cách viết
Trong lịch sử các triều đại phong kiến ở Việt Nam từ thời nhà Trần đến nhà Nguyễn có tất cả 40 lần ban bố kiêng húy1 Quy tắc kiêng húy như trên đã trình bày là kiêng âm hoặc khiêng chữ viết Phương pháp viết húy, theo GS Ngô Đức Thọ, có 03 cách: Một là bỏ trống; Hai là đổi dung chữ khác; Ba là viết dạng khác
Qua khảo sát, chúng tôi lập thành bảng thống kê kết quả cách viết chữ
húy trong tác phẩm Tồn Am thi tập như sau:
Bảng 2.2: Khảo sát chữ húy trong văn bản Tồn Am thi tập
STT Chữ húy chuẩn Chữ Đối tượng húy
Vị trí xuất hiện
Cách viết
Số lần Ghi chú
Các bài
02, 40,
Dị thể 02
Thì
Tên chính thức vua Tự Đức (Nguyễn Phúc Thì)
Xuất hiện trong toàn tập
Đổi dùng chữ khác
31
1 Ngô Đức Thọ- Trịnh Khắc Mạnh: “ Cơ sở văn bản học Hán Nôm”, Nxb KHXH, Hà Nội 2006, trang 312.
Trang 34華
Tên mẹ vua Thiệu Trị ( Hồ Thị Hoa)
Bài 84
Biến dạng, bớt nét 02
Hồng
洪Hồng
Tên vua Tự Đức (Nguyễn Phúc Hồng Nhậm)
Bài 100
Biến dạng, bớt nét 01
Cũng có thể nói đây là cách đổi dùng chữ khác
*Nhận xét:
Qua khảo sát và bảng thống kê cho thấy hiện tượng viết húy được thể hiện trong tác phẩm là tương đối rõ nét Tổng cộng có 44 lần viết húy và 01 lần không viết húy, cách viết tương đối thống nhất Trong số những chữ húy, chữ nào được ban bố lệnh húy nghiêm ngặt được viết húy một cách triệt để
như chữ Thì là húy tên vua Tự Đức được viết đến 31 lần, tương tự chữ Hoa là
tên mẹ vua Thiệu Trị được viết 08 lần
Với việc văn bản sử dụng cách viết húy tên vua Tự Đức trong suốt tác phẩm cho thấy văn bản được sao chép vào thời Tự Đức Mà chúng ta đã biết Bùi Huy Bích mất năm 1818, vua Tự Đức lên ngôi năm 1848, tức là sau
khoảng thời gian khi Bùi Huy Bích mất 30 năm thì văn bản Tồn Am thi tập
mới được sao chép
Trang 35Như vậy, nhờ cách viết chữ húy này mà chúng ta xác định được khoảng thời gian ra đời của văn bản và có thêm cơ sở để khẳng định giá trị chân thực của nó.
2.3 Khảo sát số lượng bài thơ trong Tồn Am thi tập
2.3.1 Khảo sát số lượng bài thơ
Để thấy rõ được hiện trạng và bố cục của tác phẩm, chúng tôi tiến hành
lập bảng thống số lượng, nhan đề và thể loại các bài thơ trong Tồn Am thi tập Những bài này là tuyển chọn các bài thơ trong Tồn Am thi cảo, vì vậy chúng tôi khảo sát vị trí của các bài thơ tương ứng trong Tồn Am thi cảo.
(Quy ước viết tắt: Dấu + kí hiệu bài có trong văn bản, dấu – kí hiệu bài không có không có trong văn bản, những bài đánh thứ tự 1,2 trong ngoặc () là những bài trùng tên nhưng không thuộc chùm bài nên chúng tôi đánh số để dễ phân biệt)
Bảng được sắp xếp các bài theo thứ tự xuất hiện trong tác phẩm:
Bảng B2.3a Khảo sát số lượng bài thơ trong Tồn Am thi tập
STT
Nhan đề bài thơ
Tồn
Am thi tập
A.2986
Tồn Am thi cảo VHv.86
Thể loại Thoái
Hiên thi tập
Bích Câu thi tập
Nghệ
An thi tập
ngôn cổ phong
04 歲叟撚菊花 Tuế vãn nhiên cúc hoa:
Tuổi già chơi hoa cúc
05 家人於西村園中叟 Gia nhân ư tây
thôn viên trung trọc: Người ở với
Trang 36nông cụ trong vườn
06 九月仙巖上望北岸群山 Cửu nguyệt
tiên nham thượng vọng bắc ngạn quần
sơn: Tháng 9 lên núi tiên nhìn sang
dãy núi phia bắc
07 盛烈溪橋 (1) Thịnh Liệt khê kiều1:
Cây cầu bắc ngang khe ở Thịnh Liệt
08 定攻月池 (1 ) Định Công nguyệt trì:
Ao trăng ở Định Công
09 黃梅市酒 (1) Hoàng Mai thị tửu: Mua
rượu ở Hoàng Mai
12 叟塘水蓮 (1) Linh đường thủy liên:
Hoa sen nước ở ao Linh
13 光烈叟枝 1 Quang Liệt lệ chi: Cây
vải ở Quang Liệt (1)
14 盛烈溪橋 (2) Thịnh Liệt khê kiều 2:
Cây cầu bắc ngang khe ở Thịnh Liệt 2
15 定攻月池 2 Định công nguyệt trì 2:
Ao trăng ở Định Công 2
16 黃梅市酒 (2) Hoàng Mai thị tửu 2:
Mua rượu ở Hoàng Mai
17 銅池網津 (2 )Đồng trì võng tân 2: Bắt
cá ở ao Đồng
18 叟塘水蓮 (2) Linh đường thủy liên 2:
Hoa sen nước ở ao Linh
19 光烈叟枝 (2 ) Quang Liệt lệ chi 2:
Cây vải ở Quang Liệt
Trang 37Cây cầu bắc ngang khe ở Thịnh Liệt 3
21 定攻月池 (3) Định công nguyệt trì 3:
Ao trăng ở Định Công 3
22 黃梅市酒 (3) Hoàng Mai thị tửu: Mua
rượu ở Hoàng Mai
25 叟塘水蓮 (3) Linh đường thủy liên 3:
Hoa sen nước ở ao Linh 3
26 光烈叟枝 (3) Quang Liệt lệ chi 3:
Cây vải ở Quang Liệt 3
ngôn luật
29 歲戊辰余年六十有五元旦賦示兒三
首 Tuế Mậu Thìn dư niên lục thập hữu
ngũ Nguyên đán phú thị nhi tam thủ:
Ba bài thơ ngâm dạy con đầu năm
Mậu Thìn khi 65 tuổi
bệnh góp nhặt thơ Đào
31 重酌越山泉 Trùng chước Việt Sơn
tuyền: Lại uống rượu nồng ở suối Việt
Trang 38đồng niên Sơn Tây thự Tham chính
Nguyễn Phục Am, đồng thời gửi dâng
liệt vị
33 冬叟叟靈雲閣 Đông vãn đăng Linh
Vân các: Chiều đông lên gác Linh
42 秋雨山村晨起作二首 Thu vũ sơn
thôn thần khởi tác nhị đầu: Hai bài
thơ sáng tác buổi sớm mùa thu nơi
xóm núi
43 過光烈村舍觀水 牛磨甘蔗叟 Quá
Quang Liệt thôn xá quan thủy ma
ngưu ma cam giá tương: Qua nhà
thôn Quang Liệt xem trâu kéo mật
ngôn cổ phong
44 看菊三首 Khán cúc tam thủ: Ba bài
thơ Ngắm cúc
ngôn tuyệt cú
Trang 39giang: Sông Lam bồng bềnh trong
ban trúc khả vi hệ dĩ đông sử nhân thái
bách dư chi kì tuế mộ hội tộc nhi thư
chi quán chi bích: Núi Yên Tử sinh ra
rừng trúc trải dài che chở khỏi mùa
đông,giúp cho con người hái hơn trăm
cây buổi chiều về nhà làm sách, dựng
52 村中春夜聞歌 Thôn trung xuân dạ
văn ca: Đêm xuân nghe hát trong thôn
53 叟行郭外記見 Vãn hành quách ngoại
kí kiến: Chiều tối đi ra ngoài thành
ghi lại những điều nhìn thấy
54 對石榴花有感 Đối thạch lưu hoa hữu
cảm: Cảm xúc trước hoa cây thạch
Trang 4059 秋曉登普靈寺鍾叟樓 Thu hiểu đăng
Phổ Linh tự chung lâu: Buổi sớm mùa
thu lên gác chuông chùa Phổ Linh
60 題佛跡山禪院 Đề Phật Tích thiền
viện: Thơ đề thiền viện Phật Tích
61 過三叟山 Quá Tam Điệp sơn: Qua
nói Tam Điệp
經連花一朶因作 Vãn kinh quán tân
độ bản trấn tiểu biền ư độ đầu trì
thượng sở trích hồng liên hoa nhất đ,
nhân tác: Buổi chiều đi dọc bến đò ở
trấn nhỏ Quán Tân Độ, thư thả hái
một đóa hoa sen hồng, nhân đó mà
làm bài thơ
64 過弘化便道之永治訪同年阮拙齋
Quá Hoằng Hóa tiện đạo chi Vĩnh Trị
phỏng đồng niên Nguyễn Chuyết
Trị Thủy thăm hỏi bạn đồng niên
Nguyễn Chuyết Trai
1 Tác giả chú: Chuyết Trai tự là Diên Giản,đỗ tiến sĩ khoa Kỷ Sửu, niên hiệu Cảnh Hưng, làm quan đến đến