Những thông tin ghi chép về ông là rất sơ sài và còn khuyết nhiều thông tin về năm sinh- mất, gia đình, hànhtrạng sự nghiệp của ông… Đó là cơ sở để chúng tôi tiến hành phục dựng lại cuộc
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
TIÊU PHƯƠNG NAM
KHẢO SÁT VĂN BẢN VÀ TÌM HIỂU GIÁ TRỊ
LÊ THÀNH CHU THI TẬP
Chuyên ngành: Hán nôm
Mã số: 60.22.01.04
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Dương Tuấn Anh
HÀ NỘI - 2015
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Trước tiên, tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến PSG.TSDương Tuấn Anh, người thầy đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo, giúp đỡ tôitrong suốt quá trình nghiên cứu để hoàn thành luận văn
Tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới GS.TS Nguyễn Ngọc Sancùng các thầy cô đã giảng dạy các chuyên đề cao học cho lớp Hán Nôm K23(2013 - 2015) tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
Tôi xin được gửi lời cảm ơn đến Ban Giám Hiệu, Phòng Sau Đại học,Khoa Ngữ văn, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã tạo điều kiện thuận lợicho tôi hoàn thành khoá học
Xin được gửi lời tri ân sâu sắc tới gia đình, bạn bè, đồng nghiệp vànhững người thân yêu đã luôn ủng hộ và động viên tôi trong suốt quá trìnhhọc tập và nghiên cứu
Hà Nội,28 tháng 10 năm 2015
Tác giả
Tiêu Phương Nam
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
4 Phương Pháp nghiên cứu 4
5 Mục tiêu - nhiệm vụ 5
6 Kết cấu của luận văn 5
Chương 1: GIỚI THIỆU VỀ LÊ THÀNH CHU VÀ TÁC PHẨM LÊ THÀNH CHU THI TẬP 6
1.1 Quê hương 6
1.2 Gia đình 8
1.3 Cuộc đời 11
1.3.1 Năm sinh năm mất 11
1.3.2 Hành trạng 12
1.3.3 Chức quan của Lê Thành Chu 16
1.4 Sự nghiệp sáng tác 17
Tiểu kết chương 1 21
Chương 2: KHẢO SÁT VĂN BẢN LÊ THÀNH CHU THI TẬP 22
2.1 Hiện trạng văn bản Lê Thành Chu Thi tập (黎成舟詩集) 24
2.2 So sánh 黎成舟詩集(Lê thành Chu thi tập)Lê thành Chu thi tập)) và 鶴亭詩集(Lê thành Chu thi tập)Hạc Đình thi tập)) 25
2.3 Lựa chọn bản cơ sở 27
2.4 Một số vấn đề văn bản học của bản cơ sở 29
2.4.1 Khảo sát phần chính văn Lê Thành Chu thi tập (黎成舟詩集) 29
2.4.2 Khảo sát dị văn trong văn bản Lê Thành Chu thi tập(黎成舟詩集) 29
2.4.3 Khảo sát chữ húy trong văn bản Lê Thành Chu thi tập (黎成舟詩集) 41
Trang 42.4.4 Khảo sát các chữ tục thể trong Lê Thành Chu thi tập (黎成舟詩集) 43
2.4.5 Khảo sát các chữ dị thể trong Lê Thành Chu thi tâp (黎成舟詩集) .49
Tiểu kết chương 2 53
Chương 3: BƯỚC ĐẦU TÌM HIỂU GIÁ TRỊ NỘI DUNG VÀ NGHỆ THUẬT CỦA LÊ THÀNH CHU THI TẬP 54
3.1 Giá trị nội dung của Lê Thành Chu thi tập) (黎成周詩集) 54
3.1.1 Thơ xướng họa- mừng tặng với bạn 55
3.1.2 Thơ ngâm vịnh cảnh 63
3.1.3 Thơ viết về những nỗi niềm riên tư của tác giả 65
3.1.4 Thơ thể hiện lòng yêu nước căm thù giặc 69
3.2 Đôi nét về giá trị nghệ thuật 75
3.2.1 Thể thơ 76
3.2.2 Nghệ thuật đối 79
3.2.3 Điển cố 82
3.3.4 Đặc điểm hệ thống từ vựng và hình ảnh 86
Tiểu kết chương 3 88
KẾT LUẬN 90
TÀI LIỆU THAM KHẢO 94
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Văn học trung đại Việt Nam thế kỉ XIX được ghi nhận là một giai đoạnvăn học hết sức đặc biệt Lịch sử xã hội thời kì này chứng kiến nhiều biến độnglớn của thời đại: Triều đại phong kiến nhà Nguyễn suy tàn và sự xâm lược đô hộcủa thực dân Pháp Mặc dù vậy, văn học giai đoạn này vẫn được xem là mộtmùa bội thu với sự xuất hiện của nhiều tác gia nổi tiếng với những đóng góp tolớn cho nền văn học trung đại nước nhà như: Nguyễn Văn Siêu, Nguyễn ĐìnhChiểu, Nguyễn Khuyến, Trần Tế Xương, Cao Bá Quát… Các tác gia này đã gópphần tạo nên cho văn học Việt Nam giai đọan này một diện mạo vô cùng phongphú và đa dạng Sự giàu có của nó tạo nên một sức hấp dẫn lớn đối với các nhànghiên cứu Đã có rất nhiều nhà nghiên cứu với nhiều công trình nghiên cứu cógiá trị về các tác gia nổi tiếng thời kì này Tuy nhiên, có một điều khá thú vị làkhi nghiên cứu về các tác gia thời kì này, các nhà nghiên cứu thường để tâm tớicác tác gia lớn nổi tiếng như: Nguyễn Đình Chiểu, Nguyễn Khuyến,TúXương… mà vô tình quên đi sự góp mặt của nhiều các tác gia, nhà văn, nhà thơkhác mà trường hợp Lê Thành Chu là một ví dụ điển hình
Qua tìm hiểu sơ bộ về Lê Thành Chu, chúng tôi thấy ông là một ngườitài chí, hiếu thảo, một nhà Nho yêu nước, thương dân có tinh thần dân tộc.Ông cũng đi thi đỗ đạt và làm quan cho nhà Nguyễn và cũng có những trướctác được lưu truyền Các sáng tác của ông gồm nhiều thể loại nhưng nổi bậtnhất vẫn là thơ Thơ của ông mang nhiều giá trị về nội dung và nghệ thuật,vừa tiếp nối được dòng mạch chung của nền văn học nước nhà, vừa thể hiệnđược bản sắc độc đáo riêng Tuy nhiên, những đóng góp đó của ông chưađược các nhà nghiên cứu để tâm tìm hiểu Đó là lí do chúng tôi chọn LêThành Chu và văn bản Lê Thành Chu thi tập để thực hiện đề tài này
Trang 6Thiết nghĩ, mỗi một sáng tác thơ ca dù lớn hay nhỏ đều là những tâmhuyết của tác giả và đều có những giá trị với những đóng góp nhất định chonền văn học nước nhà Bên cạnh những công trình nghiên cứu quy mô về cáctác gia lớn thời kì này, cũng nên có và cần có những công trình nghiên cứu vềcác tác gia còn lại Có như vậy, chúng ta sẽ có thêm những góc nhìn toàn diệnhơn về nên văn học của nước nhà cũng là để khỏi phụ lòng các bậc tiền nhân
đi trước Đó cũng là dí do thôi thúc chúng tôi tìm hiểu về tác giả Lê Thành
Chu và giá trị của tác phẩm Lê Thành Chu thi tập của ông.
2 Lịch sử vấn đề
Từ trước đến nay, việc nghiên cứu về Lê Thành Chu và các tác phẩm
của ông, nhất là tác phẩm Lê Thành Chu thi tập vẫn chưa được chú ý nhiều.
Về Lê Thành Chu, tên tuổi của ông ít được nhắc đến Những thư tịch
ghi chép về ông rất sơ lược Trong cuốn “Các tác gia Hán Nôm Việt Nam
từ TK X- đầu TK XIX” tập 1, Nxb Khoa Học Xã Hội và Nhân Văn , Trần
Văn Giáp chủ biên, tác giả có ghi ngắn gọn về Lê Thành Chu như sau: “ LêThành Chu là người làng Nga Thượng- Hà Nội, đậu cử nhân khoa ĐồngKhánh, Mậu Tí (1888), làm quan đến Huấn đạo Tiên lữ (Hưng yên cũ),
không rõ năm sinh năm mất”.
Cuốn Tên tự tên hiệu các tác gia Hán Nôm Việt Nam – Viện
KHXHVN, Viện nghiên cứu Hán Nôm, Trịnh Khắc Mạnh chủ biên, trang 114mục 263 có ghi : “ Lê Thành Chu (??) hiệu là Hạc Đình, người xã NgaThượng tỉnh Hà Nội nay thuộc thành phố Hà Nội Lê Thành Chu đỗ cử nhânnăm Mậu Tý (1888), đời vua Nguyễn Cảnh Tông và từng làm quan Huấn đạo
ở Tiên Lữ - Hưng Yên Tác phẩm của ông gồm có: Đỗ An Nhân sự trạng tịnh tương đối liễn, Lê Thành Chu thi tập, Hạc Đình thi tập, Quan liêu phong tặng đối liễn, Tống bần án khúc Ngoài ra còn có thơ văn in trong các sách: Tỉnh thần chúc hỗ ca văn…”
Trang 7Trong cuốn Quốc triều hương khoa lục- Nxb thành phố Hồ Chí Minh
1993, tác giả Cao Xuân Dực có ghi ngắn gọn: “Lê Thành Chu người làng Nga Thượng, Hà Nội đỗ cử nhân năm Mậu Tý (1888) niên hiệu Đồng Khánh”.
Cuốn Ông nghè ông cống triều Nguyễn- Nxb Văn hóa- Thông tin 1995,
nhóm tác giả Bùi Hạnh Cẩn, Nguyễn Loan, Lan Phương chủ biên, tại mục
1526 trang 365 có ghi về tác giả như sau: “Lê Thành Chu (Cử nhân), người
xã Nga Thượng tỉnh Hà Nội, thi hương khoa Mậu Tý, Đồng Khánh thứ 3 (1888), tại trường Hà Nội, làm quan tới chức huấn đạo Tiên Lữ”.
Như vậy, cho tới nay chúng tôi thấy chưa có công trình nào nghiên cứu
về cuộc đời và sự nghiệp của Lê Thành Chu Những thông tin ghi chép về ông
là rất sơ sài và còn khuyết nhiều thông tin về năm sinh- mất, gia đình, hànhtrạng sự nghiệp của ông…
Đó là cơ sở để chúng tôi tiến hành phục dựng lại cuộc đời và sự nghiệpcủa tác giả trong phần chương I của luận văn
Về tác phẩm Lê Thành Chu thi tập( 黎成舟詩集 ), chúng tôi đã tiến
hành khảo cứu tại các thư viện lớn: Thư viện Quốc Gia, Thư viện Hà Nội,Viện nghiên cứu Hán Nôm Kết quả cho thấy chưa có công trình nào nghiên
cứu về tác phẩm Lê Thành Chu Thi tập(黎成舟詩集) Những vấn đề về mặt
văn bản học, giá trị nội dung và nghệ thuật của tập thơ đều là những vấn đềcần được quan tâm nghiên cứu nhưng chưa thấy đề cập đến
Như vậy, có thể thấy việc nghiên cứu về tác giả Lê Thành Chu và tác
phẩm Lê Thành Chu thi(黎成舟詩集) tập chưa được quan tâm đúng mức Đó
cũng là một trong những cơ sở để chúng tôi thực hiện đề tài này
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng
- Thân thế, cuộc đời và sự nghiệp của Lê Thành Chu
- Những giá trị văn bản học, nội dung và nghệ thuật của tác phẩm Lê
Trang 8Thành Chu thi tập(黎成舟詩集)
* Phạm vi
- Văn bản Lê Thành Chu thi tập ( 黎成舟詩集), kí hiệu A.2162 đang
được lưu trữ tại kho thư tịch của Viện nghiên cứu Hán Nôm
- Tập thơ Hạc đình thi tập(鶴亭詩集) kí hiệu A.1891 ; Đỗ An Nhân sự trạng tịnh tương sự đối liên (杜安人事狀並襄事對聯) kí hiệu A.1865 và thơ của ông được ghi chép trong tập Quan liêu phong tặng đối liễn (官僚封贈對
聯) kí hiệu A.2122
- Các tài liệu, tư liệu, thông tin khác có liên quan tới tác giả thu thậpđược trong quá trình nghiên cứu, sưu tầm
4 Phương Pháp nghiên cứu
Xuất phát từ phạm vi, đối tượng và mục đích nghiên cứu, nhữngphương pháp nghiên cứu được chúng tôi dùng trong Luận văn là:
- Phương pháp văn bản học: được dùng nhằm hướng đến mục đích mô
tả văn bản học, nghiên cứu những đặc điểm về văn tự, văn bản học của văn
bản Lê Thành Chu thi tập(黎成舟詩集)
- Phương pháp điền dã: nhằm mục đích tập hợp các tư liệu liên quan
tới Lê Thành chu và văn bản Lê Thành Chu thi tập( 黎成舟詩集) hiện đang
còn được lưu trữ tại quê hương tác giả
- Phương pháp thống kê: dùng để thống kê, hệ thống hóa các dữ liệutrong quá trình nghiên cứu, phục vụ làm rõ nội dung nghiên cứu
- Phương pháp thống kê thư mục học: dùng để thống kê, mô tả kháiquát đặc điểm văn bản học của các tư liệu liên quan tơi Lê Thành Chu và văn
bản bản Lê Thành Chu thi tập(黎成舟詩集), hiện đang được lưu trữ tại Viện
nghiên cứu Hán Nôm và Thư viện Quốc gia Việt Nam phục vụ cho công việctra cứu, sưu tầm tư liệu của các công trình nghiên cứu về sau
- Phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp: các phương pháp này
Trang 9dùng để nghiên cứu, đối chiếu, so sánh các dị bản, dị văn, đánh giá tổng thểgiá trị của những yếu tố dị biệt giữa các văn bản trong phạm vi nghiên cứu vàcác tư liệu liên quan.
- Các phương pháp liên ngành văn bản học Hán Nôm – văn hóa học –văn học được sử dụng để khai thác một cách có hệ thống và toàn diện về giá
trị văn bản Lê Thành Chu thi tập(黎成舟詩集)
5 Mục tiêu - nhiệm vụ
- Tìm hiểu về cuộc đời và sự nghiệp của Lê Thành Chu
- Nghiên cứu Lê Thành Chu thi tập( 黎成舟詩集) trên các mặt văn bản
học, giá trị nội dung, nghệ thuật, giá trị tư tưởng
6 Kết cấu của luận văn
Chương 1: Giới thiệu về Lê Thành Chu và tác phẩm Lê Thành Chu thi tập Chương 2: Khảo sát văn bản Lê Thành Chu thi tập
Chương 3: Bước đầu tìm hiểu giá trị nội dung và nghệ thuật của Lê
Thành Chu thi tập
Trang 10Chương 1
GIỚI THIỆU VỀ LÊ THÀNH CHU
VÀ TÁC PHẨM LÊ THÀNH CHU THI TẬP
Một thực tế cho thấy, đối với những tác gia văn học lớn, các thư tịch ghichép về tiểu sử của họ là rất phong phú, tường tận Trong khi đó, đối với nhữngtác giả ít có tiếng vang thì ngược lại Lê Thành Chu là một trường hợp như vậy.Trong chương này, chúng tôi tiến hành khảo cứu các tài liệu thư tịch có ghi chép
về Lê Thành Chu để cung cấp những thông tin đầy đủ, chính xác hơn về cuộcđời và sự nghiệp của ông Khi nghiên cứu từng yếu tố, chúng tôi cố gắng xác lậpmối liên hệ và chỉ ra ảnh hưởng của từng yếu tố đó đối với cuộc đời tác giả, nhất
là những yếu tố ảnh hưởng tới tư tưởng và sự nghiệp sáng tác của ông
1.1 Quê hương
Lê Thành Chu sinh ra trong một gia đình nhà Nho tại phủ Nga Khê, NgaThượng, Hà Nội xưa, nay thuộc thôn Nga Khê, xã Nguyên Lý, huyện Lý Nhân,tỉnh Hà Nam Hà Nam nói chung và Nga Khê nói riêng là một vùng đất có vịtrí thuận lợi cho việc giao lưu phát triển kinh tế, văn hóa bằng cả đường thủy vàđường bộ Nga Khê nằm ở giữa hai con sông lớn là Sông Hồng và sông ChâuGiang, vì thế giao thông bằng đường thủy hết sức thuận lợi, có thể ngược vềkinh thành Thăng Long, xuôi về phủ Thiên Trường - Nam Định, sang Phố Hiến
- Hưng Yên chỉ trong một ngày Ngày ấy, bến đò Lẻ Độ1 của Nga Khê lúc nàocũng đông đúc tấp nập người qua lại thông thương với Phố Hiến – nơi sầm uấtthứ hai sau kinh thành Thăng Long Qua con sông Châu Giang là con đườngThiên Lý, hay còn gọi là đường Quan Lộ (tức là đường quốc lộ 1 bây giờ) chạythẳng từ kinh thành Huế ra kinh thành Thăng Long Vì vị trí trung chuyểnthuận lợi như vậy, nên Nga Khê được triều đình nhà Nguyễn đặt làm Phủ NgaKhê để coi sóc các huyện Hà Nam, Nam Xang, Kim Bảng
Bên cạnh đó, Nga Khê nói riêng và Hà Nam nói chung còn mang đặc
1 Bến đò Lẻ Độ: Một bến đò nằm ở địa phận Nga Khê- Hà Nam, nối Hà Nam với Phố Hiến – Hưng yên Hiện nay địa danh này vẫn còn ở khu vựa xã Nguyên Lý- Lý Nhân- Hà Nam
Trang 11điểm nổi bật của một vùng đồng bằng chiêm trũng Bắc Bộ Người dân nơiđây quanh năm chủ yếu sống bằng nghề nông - nghề phụ thuộc nhiều vàothiên nhiên Vụ chiêm mưa nắng thuận hòa thì cấy hái tốt, còn vụ mùa thì thấtthu vì nước lên, cả đồng bằng ngập trong nước trắng, cuộc sống của ngườidân trở nên khó khăn, lam lũ, khổ cực Chính sự khắc nghiệt của thiên nhiên
đã hun đúc cho con người nơi đây những phẩm chất đáng quý: cần cù, chịukhó, yêu thương đùm bọc giúp đỡ nhau
Ngoài ý nghĩa là một vùng đất có vị trí thuận lợi cho việc phát triểnkinh tế văn hóa, Hà Nam còn là vùng đất học Cả tỉnh Hà Nam có 56 nhàkhoa bảng Riêng Nga Khê có 4 người: Bùi Viết Lượng2, An Khí Sử3, TrầnBảo4, Bùi Đình Tán5 Trong vùng có làng Thư Lâu (Lầu Sách) nổi tiếng vớinhiều người tài giỏi hay chữ như thầy đồ Yên Khang6 Quê hương là một môitrường thuận lợi để Lê Thành Chu học tập và phát triển tài năng của mình
1.2 Gia đình
2 Bùi Viết Lượng(1422-1531) đỗ Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân (Hoàng giáp) khoa Bính Tuất niên hiệu Quang Thuận 7 (1466), đời Lê Thánh Tông Làm quan đến chức Thượng thư Năm 1471 được cử đi sứ nhà Minh
3 An Sử Khí(1506-1582) đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ, xuất thân khoa Kỷ Sửu niên hiệu Minh Đức thứ 3 (1529), đời Mạc Đăng Dung, làm quan chức Tự Khanh, sau thăng Thị Lang.
4 Trần Bảo(1449-1529), đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân khoa Kỷ Sửu, niên hiệu Quang Thuận 10 (1469), đời Lê Thánh Tông, làm quan đến chức Công bộ thượng thư, hàm Thiếu bảo, tước Quận công.
5 Bùi Đình Tán(1532-1609) đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân khoa Bính Thìn, niên hiệu Quang Bảo thứ 2 (1556), đời Mạc Phúc nguyên Làm quan Cấp sự bộ Công, Thừa chính sứ.
6 Thầy đồ Yên Khang: là một thầy giáo trường làng nổi tiếng hay chữ lúc bấy giờ; làng Thư Lâu thuộc phủ Nga khê xưa nay là Xã Nguyên Lý- huyện Lý Nhân – tỉnh Hà Nam (Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Thế Vinh (ỦY ban chấp hành nhà báo tỉnh Hà Nam, Phó tổng biên tập tạp chí Sông Châu)
Trang 12Trong các yếu tố ảnh hưởng tới cuộc đời của một con người thì giađình luôn được coi là một trong những yếu tố hàng đầu Gia đình luôn là cáinôi đầu tiên tạo môi trường thuận lợi hoặc cản trở sự phát triển tài năng cũngnhư nhân cách của một con người Thông thường, khi nghiên cứu sự ảnhhưởng của gia đình đến một con người, chúng ta phải chú ý tìm hiểu từ gốcgác, tổ tiên dòng họ, hai bên nội ngoại gia đình sau đó chỉ ra sự ảnh hưởngcủa các thành viên trong gia đình đến đối tượng được nghiên cứu Công việctrên sẽ khá thuận lợi đối với những tác gia lớn có tên tuổi vì những thông tin
về dòng họ, gia đình thường được sử sách ghi chép cẩn thận chu đáo Đối vớinhững tác giả nhỏ như Lê Thành Chu thì ngược lại, các thư tịch ghi chép vềông rất sơ lược khái quát và không hề đề cập tới những thông tin về dòng họ
Lê Thành và gia đình, cũng như hành trạng sự nghiệp của công
Chúng tôi đã thực hiện phương pháp điền dã về quê hương của tác giả
là làng Nga Khê, Nga Thượng, xã Nguyên Lý, tỉnh Hà Nam và các huyệnTiên Lữ, Khoái Châu- Hưng Yên (nơi tác giả làm quan) cố gắng liên hệ, tìmkiếm những thông tin về tác giả nhưng kết quả thu được không như mongmuốn Chúng tôi không tìm được thêm thông tin nào đáng chú ý về gia đình,dòng họ của tác giả cũng như tác phẩm của ông Chính vì vậy, khi phục dựnglại các yếu tố gia đình, cuộc đời và sự nghiệp của Lê Thành Chu, chúng tôichủ yếu căn cứ vào những tài liệu ghi chép về ông hiện đang lưu trữ tại Việnnghiên cứu Hán Nôm, và nhất là tác phẩm: 杜安人事狀並襄事對聯 (Đỗ An
Nhân sự trạng tịnh tương sự đối liên 7 ) do chính ông viết Trong tác phẩm
này, ông đã bày tỏ một các xúc động tấm lòng biết ơn của mình đối với công
ơn sinh thành dưỡng dục của mẹ ông Đồng thời, ông cũng đã tóm tắt lại
7 Đỗ An Nhân sự trạng tịnh tương đối liên(杜安人事狀並襄事對聯),- Sự trạng bà Đỗ An
Nhân tức Đỗ Thị Cừ, do con cả là Lê Thành Chu ở Nga Khê Lí Nhân, Hà Nam soạn, Thư
viện Hán Nôm, mã kí hiệu A.1865
Trang 13những biến cố thăng trầm trong gia đình và cuộc đời ông từ năm ông 12 tuổicho tới lúc ông thi đỗ và ra làm quan Huấn Đạo- Giáo Thụ cho nhà Nguyễn ởTiên Lữ - Hưng Yên.
Lê Thành Chu (黎成舟), tên hiệu là (鶴亭), sinh ra trong một gia đình nhà Nho ở Nga Khê, Hà Nam Trong cuốn Đỗ An Nhâ sự trạng tịnh tương sự đối liễn, trang 1a, tác giả viết về cha và mẹ của mình như sau:
“杜安人事狀,(諱渠,睡貞節,號慈和生於明命癸末夀.八十六歲,維新戊申,二十六日,命終.峩溪社靜裡,(先生諱春榜, 本總正總),之長女也年十八歸于我先考松臺,黎大人,生男長周.我先考以貧病交功,屡試不第中年早卒,(公卒于嗣德,癸丑年,辰方三十二歲),母安人三十歲,周十一歲,第初四歲,妹氏初生六七月.嗣後家清貧(由先父病三四年始卒),先母以買絹為生,
“ Đỗ An Nhân sự trạng, (húy Cừ, thụy Trinh Tiết, hiệu Từ Hòa sinh vuMinh Mệnh quý mạt thọ, bát thập lục tuế , Duy Tân, Mậu Thân , nhị thập lụcnhật , mệnh chung) Nga Khê xã tỉnh lí, (tiên sinh húy Xuân Bảng, bản tổng,chánh tổng), chi trưởng nữ dã, niên thập bát quy vu ngã tiên khảo Tùng Đài,
Lê đại nhân, sinh nam trưởng Chu Ngã tiên khảo dĩ bần bệnh, giao công lũthí, bất đệ trung niên tảo tốt (công tốt vu tự đức quý sửu niên ), mẫu An Nhântam thập tuế , Chu thập nhất, sơ tứ tuế muội, lí thị sơ sinh lục thất nguyệt Tựhậu gia thanh bần (do tiên phụ bệnh tam tứ niên thủy tốt), tiên mẫu dĩ mãiquyên vi sinh , triêu khứ mộ (triêu vãng Hưng Yên, quý kiến mộ hậu tuyệthồi), cầu thập nhất sát dĩ lục ngã đẳng anh huynh thập phân khổ…”
“Chuyện về công lao của bà Đỗ An Nhân (tên thật là Cừ, tên thụy là Trinh Tiết, hiệu là Từ Hòa), bà sinh năm Quý Mùi triều vua Minh Mạng, thọ
86 tuổi, mất ngày 26 tháng 6 năm Mậu Tuất, niên hiệu Duy Tân thứ 2 Bà người xã Nga Khê, là con gái trưởng của Chánh tổng Xã này (cha của bà là Xuân Bảng) Năm 18 tuổi bà kết hôn với cha ta là Lê đại nhân, hiệu Tùng
Trang 14Đài, sinh ta là con trai trưởng đặt tên là Chu (Thành Chu) Người cha đã mất của ta vốn dĩ nghèo, lại bệnh tật lâu năm, thi cử không đỗ, tuổi trung niên đã mất sớm Ông mất vào năm Quý Mùi đời vua Tự đức hưởng thọ 32 tuổi, khi
đó mẹ của ta 30 tuổi, ta 11 tuổi, em trai của ta 4 tuổi, còn em gái vừa mới sinh được 6,7 tháng Từ đó về sau, gia cảnh nhà ta càng thanh bần (do cha của ta mắc bệnh 3, 4 năm mới mất) Mẹ ta phải buôn bán để sinh sống (sớm
đi chiều tối mới về) để nuôi dưỡng các anh em ta, mười phần gian khổ…”\
Như vậy, cha của Lê Thành Chu là Lê đại nhân8 sinh năm Tân Tị(1821), tức năm Minh Mệnh thứ 2 và mất vào năm Quý Mùi (1853), tứcnăm Tự Đức thứ 6, tên hiệu là Tùng Đài Cha của ông là một nhà Nho được
ăn học tử tế nhưng đường thi cử lận đận, thi mãi mà không đỗ Đã vậy, thểtrạng của cha ông không được tốt nên thường xuyên đau yếu đến năm 1853thì bệnh nặng rồi mất ở tuổi 32, lúc này Lê Thành Chu mới 12 tuổi Có thểngay từ nhỏ, Lê Thành Chu đã được cha của mình dạy về Nho học, vàhướng cho con đường khoa cử Sau này, ông cũng đi theo con đường khoa
cử của cha mình và đỗ ở bậc Cử nhân Vì những kỉ niệm về cha mình đầybuồn đau cho nên sau này trong sáng tác của ông, không thấy ông nhắc tớihình ảnh cha của mình
Mẹ của Lê Thành Chu là bà Đỗ An Nhân sinh năm Quý Mùi (1821),tức năm Minh Mạng thứ 4 và mất vào năm Mậu Tuất (1909), tức năm DuyTân thứ 2, tên húy là Cừ, hiệu Diệu Hòa, thụy Tiết Trinh, là con gái cả củaông Đỗ Xuân Bảng làm Chánh tổng phủ Nga Khê Năm 18 tuổi bà lấy Lê đạinhân và sinh 3 người con, 2 nam, 1 nữ, Lê Thành Chu là con cả Năm 1853,
Lê đại nhân bênh nặng qua đời, bà không đi bước nữa mà ở giá nuôi dưỡngcác con cho tới khi mất ở tuổi 86 Trong gia đình, người ảnh hưởng lớn nhấtđến Lê Thành Chu chính là bà Đỗ An Nhân Sau này, khi bà mất Lê Thành
8 Lê đại nhân: “đại nhân” ở đây không phải là tên húy mà là cach gọi thể hiện sự kính trọng của Lê Thành Chu dành cho cha của mình
Trang 15Chu đã viết tác phẩm: Đỗ An Nhân sự trạng tịnh tương sự đối liên(杜安人
事狀並襄事對聯) để ngợi ca công đức của bà đối với ông và gia đình.
1.3 Cuộc đời
Tìm hiểu về cuộc đời của Lê Thành Chu chúng tôi dựa trên cơ sở
những thông tin do chính tác giả ghi trong cuốn Đỗ An Nhân sự trạng tịnh tương sự đối liên Từ đó xác lập các thông tin về năm sinh- mất của tác giả và
phục dựng lại hành trạng của tác giả với những dấu mốc quan trọng trongcuộc đời ông
1.3.1 Năm sinh năm mất
Những thư tịnh có ghi chép về Lê Thành chu đều khuyết thông tin vềnăm sinh- mất Đối với năm mất của ông, chúng tôi không có tài liệu chínhxác làm cơ sở để xác định nên chúng tôi vẫn để ở dạng tồn nghi(?) Còn vềnăm sinh của ông, chúng tôi căn cứ vào chính thông tin tác giả ghi trong
Cuốn Đỗ An Nhân sự trạng tịnh tương sự đối liên, nhất là đoạn ông nói về
năm sinh- mất của cha mẹ ông để xác định Ông có viết: 我先考以貧病交功屡試不第中年早卒(公卒于嗣德,癸丑年,辰方三十二歲),母安人三十歲,周十一歲,第初四歲,妹氏初生六七月- Ngã tiên khảo dĩ bần bệnh, giao công lũthí, bất đệ trung niên tảo tốt ( công tốt vu tự đức quý sửu niên ), mẫu An Nhântam thập tuế, Chu thập nhất, sơ tứ tuế muội , lí thị sơ sinh lục thất nguyệt:
Người cha đã mất của ta vốn dĩ nghèo, lại bệnh tật lâu năm, thi cử không đỗ, tuổi trung niên đã mất sớm Ông mất vào năm Quý Mùi đời vua Tự đức hưởng thọ 32 tuổi, khi đó mẹ của ta 30 tuổi, ta 11 tuổi, em trai của ta 4 tuổi, còn em gái vừa mới sinh được 6,7 tháng Chúng tôi xác định được Lê Thành
Chu sinh vào năm 1842, tức năm Thiệu Trị thứ 2 Như vậy, Lê Thành Chusống vào khoảng nửa cuối thế kỉ XIX - một thế kỉ đầy sóng gió trong lịch sửtrung đại Việt Nam Nói một cách khác, ông sinh ra và lớn lên đúng vào thờiloạn, ông đã chứng kiến và trải qua hầu hết những biến cố lớn của lich sử dân
Trang 16tộc thời kì Pháp xâm lược Khi đó, triều đình nhà Nguyễn đang trên đườngsuy tàn Lợi dụng thời cơ đó, thực dân Pháp âm mưu tiến hành cuộc xâm lược
và nhanh chóng đặt ách thống trị trên đất nước ta Pháp biến nước ta trở thànhmột nước thực dân nửa phong kiến Mọi quyền hành đều nằm trong tay ngườiPháp, triều đình vua - quan nhà Nguyễn chỉ là bù nhìn Dưới sự thống tri, bóclột của thực dân Pháp xã hội Việt Nam phân hóa một cách sâu sắc Sự suy tàncủa nhà nước phong kiến kéo theo sự sụp đổ của hệ tư tưởng Nho học Chế độthi cử không được coi trọng như thời kì thịnh vượng, tầng lớp Nho sĩ thất thếrơi vào bi kịch bất đắc chí vì sinh bất phùng thời Giống như phần lớn nhữngnhà Nho đương thời, Lê Thành Chu cũng đi thi, đỗ đạt và làm quan cho nhàNguyễn Trong thời gian làm quan, ông có nhiều mối lo, băn khoăn về conngười và thời cuộc Những băn khoăn này, được ông gửi gắm qua các bài:
Cảm hoài (感懷), Tự thuật (自述) của ông cũng như gián tiếp trong những bài
thơ họa - đáp của ông tặng bạn (những ảnh hưởng cụ thể sẽ được chúng tôinghiên cứu và trình bày cụ thể trong chương III của Luận văn)
1.3.2 Hành trạng
Dựa trên những sự kiện chính diễn ra trong cuộc đời ông, chúng tôi chihành trạng cuộc đơi của ông làm 3 thời kì: thời thơ ấu bên gia đình; thời kìtrưởng thành đỗ đạt; thời kì ông ra làm quan cho nhà Nguyễn
Thời thơ ấu, ông sống trong cảnh nhà nghèo khổ và phải trải qua bikịch mất người thân từ rất sớm Gia đình ông nghèo khổ vì cha ông thườngxuyên đau ốm nên tiền của trong gia đình đều dành để cha ông trị bệnh vậy
mà không qua khỏi Trong cuốn: “ Đỗ An Nhân sự trạng tịnh tương sự đối
liên”, ông có viết: “Từ đó về sau, gia cảnh nhà ta càng thanh bần (do cha
của ta mắc bệnh 3, 4 năm mới mất) Mẹ ta phải buôn bán để sinh sống (sớm
đi chiều tối mới về) để nuôi dưỡng các anh em ta, mười phần gian khổ…”.
Sau khi cha ông mất, gánh nặng gia đình dồn hết lên vai mẹ ông Bà Đỗ An
Trang 17Nhân là một người phụ nữ mẫu mực chung thủy thủ tiết thờ chồng nuôi con.
Bà khuya sớm tảo tần, buôn ngược bán xuôi để chăm lo cho các con Mặc dùkinh tế gia đình rất khó khăn song bà vẫn dành dụm tiền của để Lê Thành Chuđược học tập theo con đường khoa cử
Khi trưởng thành, ông cùng gia đình vẫn sống trong cảnh nghèo khó.Năm Quý Dậu 18739, thực dân Pháp đánh chiếm thành Hà Nội Chỉ trongvòng 20 ngày, chúng chiếm nốt 3 tỉnh Bắc kì là Hải Dương, Nam Định, NinhBình Biến cố này ảnh hưởng lớn tới cuộc sống và tư tưởng của người dânBắc kì Cuộc sống gia đình ông vốn đã nghèo khó lại gặp cảnh loạn lạc, nướcmất nhà tan nên càng thêm khổ Năm đó, mẹ ông và các em vẫn ở quê sinhsống còn ông phải đi ở nhờ nhà một người quen trên thành Hà Nội10 Lúc này,ông đã 31 tuổi Cuộc sống ăn nhờ ở đậu của ông trên Hà Nội rất gian khổ vàkéo dài 15 năm Trong thời gia này, mặc dù chịu nhiều gian khổ song ông vẫn
cố công đèn sách chờ đợi hội thi.Trong cuốn Đỗ An Nhân sự trạng ông viết:
“嗣德癸酉年,天下優乱,四省(河内,南定,北寜,海洋失守),國乱家貧,生計
理)凡十五年此間難危寔痿数矣 ( Tự Đức, Quý Dậu niên, thiên hạ ưu loạn,
tứ tỉnh ( Hà Nội, Nam Định, Bắc Ninh , Hải Dương thất thủ), quốc loạn giabần, sinh kế bất cấp, Chu nhật thậm ( thời Chu vãng kí thực vu Hà Nội thânhữu vi bạn độc , mẫu dữ đệ viễn đà nhất tiểu liêu vi sinh lí ), phàm thập ngũ
niên, thử gian nan nguy thật nuy sổ hỹ - Thời Vua Tự Đức, năm Quý Dậu thiên hạ loạn lạc, 4 tỉnh Hà Nội, Hải Dương, Nam Định, Bắc Ninh thất thủ) Nước loạn nhà nghèo, sinh sống không đủ ngày càng lo thêm, lúc này Chu
9 Trận thành Hà Nội 1873 hay còn gọi là trận thành Hà Nội lần thứ nhất, diễn ra vào ngày
20 tháng 11 năm 1873, Tổng chỉ huy quân đội nhà Nguyễn -Nguyễn Tri Phương bị bắt, Thành Hà Nội thất thủ
10 Trang 1b, Đỗ An Nhân sự trạng tịnh tương đối liên (杜安人事狀並襄事對聯), A.1865, Thư viện Hán Nôm, mã kí hiệu A.1865.
11 Chữ thần (辰) được viết húy đọc là thời (時)
Trang 18đến ăn ở nhờ ở Hà Nội( còn mẹ cùng các em vẫn sinh sống ở chỗ cũ), độc sách với bạn đến 15 năm Trong thời gian này thật gian khó, khổ sở vậy thay? ) Sự kiện thành Hà Nội và 4 tỉnh Bắc kì thất thủ được phản ánh rõ trong thơ của ông qua các bài: Long Thành thất thủ ưu loạn(龍城失守憂乱
乱), Huyện thành thất thủ(縣城失守), chùm thơ 3 bài Tư loạn tam thủ (思乱
三首), các bài thơ thể hiện một cách thấm thía tâm trạng lo âu, đau xót củamột trí thức yêu nước trước cảnh đất nước mất nhà tan
Năm Đồng Khánh thứ 2, tức năm Mậu Tý (1888) tại trường thi Hà Nội,
Lê Thành Chu đỗ Cử nhân12 Lúc này, ông đã 46 tuổi Tới năm Thành Tháithứ 2, tức năm Canh Dần (1890), những người đỗ đạt như ông được triều đìnhnhà Nguyễn bổ nhiệm làm quan Ông được giao chức Huấn đạo13 làm việc tạitổng Tiên Lữ - Hưng Yên (nay là huyên Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên) Ông có ghi
lại sự kiện này trong tác phẩm Đỗ An nhân sự trạng tịnh tương sự đối liễn :
“同慶三年戊子科仰賴祖蔭周中是科舉人.成泰二年,成事囬經,八月補授仙侶縣訓導”( Đồng Khánh tam niên Mậu Tí khoa ngưỡng lại tổ ấm, Chutrúng thị khoa Cử nhân Thành Thái nhị niên, bát nguyệt bổ thụ Tiên Lữ
huyện Huấn đạo - Năm Đồng Khánh thứ 3, khoa Mậu Tý nhờ phúc ấm của tổ tiên, khoa đó Chu đỗ Cử nhân) Năm Thành Thái thứ 2, trở về kinh, tháng 8 năm đó được bổ làm Huấn Đạo ở huyện Tiên Lữ ( Hưng Yên).…”
Năm Thành Thái thứ 11, tức là năm Kỉ Hợi (1899), ông làm Giáo thụ14
12 Cử nhân: người đỗ kì thi hương
13 Huấn đạo: là chức quan chuyên coi sóc việc học hành thì cử của một phủ, huyện Thời Nguyễn, chức quan này được gọi là quan Huấn đạo hay quan trợ giáo Nho học Huấn đao, được xếp vào hàng quan văn theo bậc Chánh Bát Phẩm, hưởng lương: tiền 20 quan, gạo 18 phương, tiền xuân phục 5 quan ( phần Quan chế nhà Nguyễn, nguồn Wikimedia, https://vi.wikipedia.org)
14 Giáo thụ: Thời Nguyễn phủ nào có Tri phủ thì đặt Giáo thụ, có đồng Tri phủ thì đặt Huấn đạo, 2 chức này tương đương nhau
Trang 19phủ Khoái Châu- Hưng Yên15 (nay là huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên) vàlàm chức quan này hơn 10 năm nữa thì về hưu.
Thời kì làm quan ở Hương Yên, cuộc sống gia đình ông vẫn rất nghèokhó vì chức quan của ông nhỏ, lương bổng ít Chính vì vậy mà cái nghèo nhưmột nỗi ám ảnh trong cuộc đời ông, điều này được ông thể hiện rõ qua bài :
Bần cư cảm ngâm ( 貧居感吟), Tự thuật (自述) Tuy vậy, so với ngày trước,
cuộc sống hiện tại cũng đã tốt đẹp hơn nhiều Ông có thêm lương bổng đểphụng dưỡng mẹ già và có thời gian đi thăm thú xung quanh Trong tác phẩm
Đỗ An nhân sự trạng tịnh tương sự đối liễn, ông viết: “縣莅興吾鄉,只一水耳,
周亦喜其探省近便且有升斗以奉養晨昏吾母亦免市肆奔馳,得以居家静養(Huyện lị hứng ngô hương, chỉ thủy nhĩ, Chu diệc hỉ kì tham tỉnh cận tiện thả
hữu, thăng đẩu dĩ phụng dưỡng thần hôn, ngô mẫu diệc miễn thị tứ bôn trì (Ở) huyện này chỉ cách quê ta một con sông mà thôi Ta rất vui mừng được xem xét các tỉnh gần đây, lại được thêm mấy đấu để phụng dưỡng mẹ già sớm hôm, mẹ ta cũng tránh được việc bôn tẩu nơi chợ búa, để ở nhà tĩnh dưỡng”
-Ông làm quan cho nhà Nguyễn hơn 10 năm thì cáo quan về hưu Sự kiệnnày là một dấu mốc quan trọng trong cuộc đời ông Ông đã ghi lại cảm xúc của
mình khi về hưu trong bài: Khoái bác thì cáo hưu tự xướng (快博辰16告休自唱)
1.3.3 Chức quan của Lê Thành Chu
Trong tiểu mục này, chúng tôi muốn làm rõ vấn đề về chức quan của LêThành Chu vì trong các tác phẩm được sao chép lại của ông có sự sao chép sai
về chúc vụ của tác giả Trong văn bản Lê Thành Chu thi tập(黎成舟詩集),trang 1 của phần chính văn, người chép có ghi: 侍讀學士峩溪黎成周詩集
(Thị Độc học sĩ, Nga Khê Lê Thành Chu thi tập - tập thơ của Thị Độc học sĩ
15 Phủ Khoái Châu cai quản 5 huyện là: Đông An còn gọi là Đông Yên; Kim Động; Thiên Thi (nay là Ân Thi); Tiên Lữ; Phù Dung (nay là Phù Cừ)
16 Chữ thần (辰) : xem chú thích 11
Trang 20Lê Thành Chu ở Nga Khê) Trong văn bản chép tay Tống bần án khúc”(送貧
案曲), trang 1 của phần chính văn, người chép có ghi: 送貧案曲, 快州博士黎
大人著 (Tống bần án khúc, Khoái Châu Bác sĩ Lê đại nhân trứ - Bác sĩ Lê
Thành Chu ở Khoái Châu trứ - Tống bần án khúc – Bác sĩ Lê đại nhân ở Khoái Châu (Hưng Yên) soạn) Trong văn bản chép tay Đỗ An Nhân sự trạng tịnh tương đối liên ( 杜安人事狀並襄事對聯), ở phần trang đầu của chính văn
người chép ghi là: 峩溪翰林侍講黎大人親母喪事 (Nga Khê, Hàn lâm
Thị giảng Lê đại nhân thân mẫu tang sự - Lễ tang mẹ của Hàn lâm Thị giảng Lê đại nhân ở Nga khê) Trong văn bản Hạc Đình thi tập( 鶴亭詩集) và văn bản Tỉnh thần chúc hỗ ca văn (省臣祝嘏歌文),
người chép đều ghi ông là 教職黎大人 (Giáo chức Lê đại nhân) Thứ nhất,những người giữ các chứ quan Bác sĩ, Thị độc học sĩ, Thị giảng đều là nhữngchức quan lớn - quan trọng, phải là những người đỗ Tiến sĩ trở lên mới đượclàm và làm việc tại Hàm lâm viện của triều đình Chẳng hạn như chức quan
Thị độc Trong cuốn Trung Quốc lịch đại quan xưng từ điển - Đoàn kết xuất bản xã, Triệu Đức Nghĩa và Uông Hưng Minh chủ biên, 2000, Mục từ Thi độc,
trang 343: “Thị độc thuộc Hàn lâm viện còn được gọi là thị độc học sĩ hay thị độc bác sĩ Thuộc hàng Ngũ phẩm đến Thất phẩm Đời nhà Thanh tăng lên Tòng tứ phẩm Có nhiệm vụ giúp nhà vua hay thái tử đọc sách” Thứ hai, Lê
Thành Chu chỉ đỗ Cử nhân Sau khi đỗ, ông được bổ chức Huấn đạo ở huyệnTiên Lữ - Hưng Yên Sau đó, ông được thăng lên làm Giáo thụ (Giáo chức) ởphủ Khoái Châu – Hưng Yên và làm việc ở đây hơn 10 năm nữa thì về hưu.Như vậy những chức vụ như Bác sĩ, Thị độc học sĩ hay Hàn lâm Thị giảng đềukhông phải chức vụ của Lê Thành Chu Rất có thể những chức vụ này là dongười sao chép tự ý thêm vào
1.4 Sự nghiệp sáng tác
Theo như cuốn sách Tên tự tên hiệu các tác gia Hán Nôm Việt Nam
Trang 21-Viên KHXHVN, Viện nghiên cứu Hán Nôm, Trịnh Khắc Mạnh chủ biên,
trong mục 263 trang 114 viết thì tác phẩm của ông gồm có: Đỗ An Nhân sự trạng tịnh tương đối liên ( 杜安人事狀並襄事對聯), Lê Thành Chu thi tập (黎成舟詩集), Hạc Đình thi tập (鶴亭詩集), Quan liêu phong tặng đối liên (官僚封贈對聯), Tống bần án khúc(送貧案曲) Ngoài ra còn có thơ văn in trong sách: Tỉnh thần chúc hỗ ca văn (省臣祝嘏歌文) Tất cả những sáng tác
này hiện vẫn còn và đang được lưu trữ tại Viện nghiên cứu Hán Nôm Hà Nội
Chúng tôi đã tiến hành khảo sát thực tế về những tác phẩm của ông như sau:
- Tác phẩm “Đỗ An Nhân sự trạng tịnh tươngsự đối liên”(杜安人事狀 並襄事對聯), mã kí hiệu A.1865, 1 bản chép tay 18 trang, chia làm 2 phần.
Phần 1: ghi lại cuộc đời bà Đỗ An Nhân tức Đỗ Thị Cừ mẹ của tác giả LêThành Chu; Phần 2: gồm 42 câu đối của quan lại, thân thích, môn nhân đếnviếng đám ma của bà Đỗ An Nhân
- Tác phẩm “Lê Thành Chu thi tập”(黎成舟詩集) mã kí hiệu A.2162, 1
bản chép tay 40 trang gômg 72 bài thơ thù tặng, mừng thọ, mừng thi đỗ,
mừng thăng quan, vịnh sự vật, cảm hoài, xướng họa với bạn bè: Qua núi Tam Điệp; Đi đường gặp mưa; Thất thủ Hà Nội; Than nghèo; Lo loạn; Con cua; Hoa thủy tiên, Cây trúc v.v.
- Tác phẩm Hạc Đình thi tập (鶴亭詩集), mã kí hiệu A.1891, 1 bản chép
tay 42 trang gồm 75 bài thơ mừng tặng, họa đáp, thuật hoài như: Mừng Trần
Đại Nhân ở Xuân Khê thọ 70 tuổi, tặng cử nhân Chu thi đỗ, mừng Đoàn Chân thăng án sát Nhiều bài nói về nỗi lo buồn của tác giả trước cảnh loạn lạc như: Huyện thành thất thủ, Nghĩ về loạn lạc, lo về kinh thành thất thủ, Cảm hoài…
- Tác phẩm Quan liêu phong tặng đối liên ( 官僚封贈對聯), mã kí hiệu A1890, 1 bản chép tay 42 trang gồm 151 câu đối mừng thi đỗ, mừng ra làm
quan được thăng chức, trang trí ở vườn hoa, trong học đường phủ Khoái Châu
- Những bài thơ của ông được chép trong “Tỉnh thần chúc hỗ ca văn(省
Trang 22臣祝嘏歌文), mã kí hiệu A.1122: Ở trang 27a, 27b và 28a của tác phẩm này
có chép 03 bài thơ tác giả xướng họa của với bạn là: 快州博官黎成舟告休自唱( Khoái Châu bác thần Lê Thành Chu cáo hưu tự xướng), 陶舍舉人周有耀
和 (Đào Xá cử nhân Chu Hữu Diệu họa) và 大關秀才阮敦 和 (Đại quan tútài Nguyễn Đôn họa)
- Tác phẩm Tống bần án khúc (送貧案曲), mã kí hiệu AB 413, 1 bản
chép tay 24 trang, gồm 01 ca khúc thể 6-8, nói về việc xua đuổi cái nghèokhổ; văn của hai chú tiểu tế nhà sư bị chết đuối; văn bà vãi khóc ông sư; bài
ca thiếp khuyên chàng đừng ăn thuốc phiện; lời răn đừng đánh tổ tôm…
Như vậy, nhìn tổng thể, tác giả Lê Thành Chu sáng tác nhiều thể loại gồm
cả văn, thơ, câu đối, ca khúc nhưng thành tựu nổi bật nhất của ông vẫn là thơ
Trong đó, đáng chú ý là hai tập thơ Hạc Đình thi tập( 鶴亭詩集)75 bài và Lê Thành Chu thi tập(黎成舟詩集) 72 bài17, gồm những bài thơ ông sáng tác từ khicòn là Nho sinh cho tới khi ra làm quan cho nhà Nguyễn và khi về hưu Phần lớncác bài thơ ông viết là thơ họa đáp, mừng tặng bạn, các quan, bên cạnh đó còn cónhững bài ngâm vịnh sự vật, một số bài thể hiện lòng yêu nước căm thù giặc vàmột số bài trữ tình tự viết về cuộc đời mình Giá trị thơ ca của ông sẽ đượcchúng tôi tìm hiểu và trình bày cụ thể ở chương III của Luận văn
*Tóm tắt cuộc đời sự nghiệp của Lê Thành Chu
Sau quá trình nghiên cứu, phục dựng lại cuộc đời, sự nghiệp của tác giả
Lê Thành Chu, chúng tôi tóm tắt lại một cách ngắn gọn trong bảng niên biểu
về cuộc đời của ông như sau:
Bảng 1.1 Niên biểu Lê Thành Chu
Thời gian Về tác giả Lê Thành
Chu
Các sự kiện có liên quan
17 Hầu hết những bài thơ trong tập Lê Thành Chu thi tập đêu giống với các bài thơi trong Hạc Đình thi tập, chúng tôi sẽ tiến hành khảo sát hai tập thơ này và kết quả sẽ được trình bày cụ thể ở chương II của Luận văn
Trang 23(năm Ất Mùi)
Sinh ở làng Nga Khê,Nga Thượng, Hà Nội cũ(nay là làng Nga Khê, xãNguyên Lý, huyện LýNhân, tỉnh Hà Nam)
Thời vua Thiệu Trị ( 1847)
1841-1853
(năm Quý Sửu)
Cha mất, lúc này ông 12tuổi, gia đình rơi vàocảnh nghèo khó
Thời vua Tự Đức (1848- 1883).Thực dân pháp đánh chiếm ĐàNẵng (1858) và 3 tỉnh miềnĐông Nam Kì (1862)
1873
(năm Quý Dậu)
Gia đình ông tản cư lên
Hà Nội, Lê Thành Chuđược mẹ gửi vào nhàmột người quen tiếp tục
ăn học
Thực dân Pháp đánh chiếmthành Hà Nội lần 1, thành HàNội thất thủ, 20 ngày sauchúng chiếm nốt 4 tỉnh là HàNam, Hải Dương, Nam Định
và Ninh Bình1888
(năm Mậu Tý)
Lê Thành Chu đỗ cử nhântại khoa thi MậuTý(1888), thời vua ĐồngKhánh, tại trường thi HàNội
Đồng Khánh lên 1888)
Thời vua Thành Thái
Tiểu kết chương 1
Sau khi tìm hiểu về cuộc đời và sự nghiệp của tác giả Lê Thành Chu
Trang 24chúng tôi rút ra được một số kết luận như sau:
- Lê Thành Chu (1853 - ?) tên tự là Hạc Đình, ông sinh ra trong mộtgia đình nhà Nho tại phủ Nga Khê, Nga Thượng, Hà Nội cũ nay là làng NgaKhê, xã Nguyên Lý, huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam Thuở nhỏ sống trong cảnhgia đình nghèo khó, sớm phải trải qua bi kịch mất người thân Lớn lên gặpcảnh nước mất nhà tan, phải chứng kiến và trải qua những biến động lớn củalịch sử Ông là người ham học và hiếu thuận Con đường thi cử của ông cũngkhông được hanh thông, mãi đến năm 46 tuổi ông mới đỗ và chỉ đỗ đến Cửnhân tại khoa thi Mậu Tý (1888), đời vua Nguyễn Cảnh Tông, tại trường thi
Hà Nội Mặc dù kết quả đỗ đạt không cao nhưng cũng đủ để khẳng định ông
là người có chí và có tài Ông cũng là người có tư tưởng nhập thế tiến bộ, tốtđẹp muốn đem sức mình phò vua giúp nước
- Con đường quan trường của ông không có nhiều biến động, ông chỉlàm tới Huấn đạo - Giáo thụ, một chức quan nhỏ chuyên coi sóc việc họchành thi cử ở một huyện, một phủ Suốt quá trình làm quan ông luôn đem hếtsức mình để phục vụ sự nghiệp giáo dục
- Trong sự nghiệp trước tác, Lê Thành Chu cũng có những thành tựu
nhất định mà đáng kể nhất là hai tập thơ Hạc Đình thi tập( 鶴亭詩集) và Lê Thành Chu thi tập( 黎成舟詩集) Hai tập thơ thể hiện rõ những suy nghĩ và
chiêm nghiệm của tác giả về con người và thời cuộc Đáng trân trọng nhất lànhững bài thơ ông viết về cảnh loạn li, nước mất nhà tan, thể hiện một tấmlòng căm thù giặc, yêu nước nồng nàn
Trang 25Chương 2
KHẢO SÁT VĂN BẢN LÊ THÀNH CHU THI TẬP
Trong quá trình khảo sát, thu thập thông tin, chúng tôi tìm được duy
nhất một văn bản chép tay Lê Thành chu thi tập(黎成舟詩集) kí hiệu A.2126,
đang được lưu trữ ở kho thư Viện nghiên cứu Hán Nôm Như vậy, hiện tại,
văn bản Lê Thành Chu thi tập (黎成舟詩集) là trường hợp độc bản.
Tuy nhiên, khi khảo cứu các văn bản khác, nhất là văn bản chép tay
Hạc Đình thi tập ( 鶴亭詩集) kí hiệu A.1891, chúng tôi nhận thấy một điều rất thú vị là hầu hết các bài thơ trong tập thơ này đều giống với thơ trong Lê thành Chu thi tập (黎成舟詩集) Như vậy, chúng ta có thể xem văn bản này
như là một trường hơp dị bản.Về tình trang của văn bản này, tại kho lưu trữcủa Viện nghiên cứu Hán Nôm- Hà Nội còn lưu trữ 1 bản chép tay tập thơ 鶴
亭詩集 (Lê thành Chu thi tập)Hạc Đình thi tập), mã kí hiệu là A1891với những đặc điểm như sau:
Tình trạng sách: cũ, rách gáy, phần chữ vẫn tốt và nguyên vẹn
- Khổ sách: 27cm x 16cm
- Sách đóng gáy phải kiểu hồ điệp
- Loại giấy: giấy dó
- Về hình thức trình bày:
+ Trang bìa: màu hồng nhạt, không có chữ, không có trang trí Phầnchính giữ trang thứ 2 ghi dòng chữ 鶴亭詩集(Lê thành Chu thi tập)Hạc Đình thi tập).Trang thứ 3
dòng đầu tiên trước phần chính văn ghi dòng chữ鶴亭詩集,諱黎成舟大人手
撰(Hạc Đình thi tập, húy Lê Thành Chu đại nhân thủ soạn- tập thơ của HạcĐình, tác giả Lê Thành Chu soạn)
+ Trong phần chính văn ở bên dưới mép trái của mỗi trang đều đượcđánh số lần lượt từ 1 cho tới 31, ở bên trên giữa các trang là hang chữ 鶴亭詩
集 (Lê thành Chu thi tập)Hạc Đình thi tập) Phần chính văn được chép từ phải qua trái, từ trên
xuống dưới theo lối chữ chân Mỗi trang có 8 dòng, mỗi dòng tối đa là 20
Trang 26chữ Trang thứ 2 có hiện tượng khuyết nhan đề và người chép đã sửa bằngcách viết chèn lên trên đầu bài thơ nhìn giống như hiện tượng viết đài nhưngkhông phải, phần chú có hiện tượng chú lưỡng cước, chấm câu khoanh tròngbằng mực đỏ, địa danh, nhân danh được đánh dấu bằng một gạch xổ thẳngbằng mực đỏ Hiện tượng chép sai được đánh dấu bằng 3 chấm son và viết lạibên phải bằng mực đỏ, trường hợp khuyết chữ viết bổ xung bằng mực đỏ18.Phần cuối của chính văn có ghi dòng chữ 名快州教職黎成舟大人撰 (DanhKhoái Châu giáo chức Lê Thành Chu đại nhân soạn- Đại nhân Lê ThànhChu, Giáo chức phủ Khoái Châu soạn) Căn cứ vào chức vụ của tác giả đượcghi ở cuối văn bản có thể văn bản này được sao chép vào khoảng thời gian tácgiả làm Giáo Thụ ở phủ Khoái Châu, tức là sau năm 1899.
Như vậy, trường hợp văn bản Lê Thành Chu thi tập (黎 成舟 詩集 ) không phải là độc bản và văn bản Hạc Đình thi tập ( 鶴 亭 詩 集 ) kí hiệu
A.1891 có thể được xem như một dị bản của tập thơ Chính vì vậy trongchương này, chúng tôi tiến hành giải quyết những vấn đề văn bản học của tập
thơ Lê Thành Chu thi tập (黎成舟詩集), nhằm hai mục đích chính là xác lập
tính chân ngụy của văn bản và khảo sát văn bản đã được xác lập là bản cơ sở.Bản cơ sở được xác lập trên cơ sở khảo sát, so sánh và đối chiếu hai tâp thơ
Lê Thành Chu thi tập (黎成舟詩集) và Hạc Đình thi tập(鶴亭詩集) trên các
phương diện số lượng bài thơ, câu chữ trong các bài thơ giống nhau…
2.1 Hiện trạng văn bản Lê Thành Chu Thi tập (黎成舟詩集)
Hiện kho lưu trữ của Viện nghiên cứu Hán Nôm còn lưu giữ 1 bản chéptay về tập thơ黎成舟詩集 mã kí hiệu là A2126 với những đặc điểm sau:
- Tình trạng sách: tốt, còn nguyên vẹn
- Sách đóng gáy phải kiểu hồ điêp
18 Thống kê văn bản Hạc Đình thi tập có 05 trường hợp chép sai trong các bài: 3; 5; 7; 64; 68 và 08 trường hợp chép bổ xung trong các bài: 1; 27; 59; 63; 65;68; 73; 75
Trang 27dòng chữ 黎成舟詩集 (Lê Thành Chu thi tập) ghi bằng mực xanh và trang
thứ 3 dòng chữ 黎成舟詩集 (Lê Thành Chu thi tập) ghi bằng mực đen ngay
bên dưới dòng chữ có kèm thêm con dấu của thư viện Viễn Đông Bác Cổ củaPháp, không có lời tựa hay lời đề từ Dòng thứ nhất trang 1 của phần chínhvăn ghi 侍讀學士峩溪黎成周詩集(Thị Độc học sĩ, Nga Khê Lê Thành Chu thi tập - tập thơ của Thị Độc học sĩ Lê Thành Chu ở Nga Khê)
+ Trong phần chính văn, ở phần dưới mép trái các trang được đánh sốbằng chữ Hán lần lượt từ 1 tới 30 Chữ được viết tay từ trên xuống dưới, từphải qua trái theo lối chữ chân, mỗi trang có 8 dòng, mỗi dòng tối đa là 22chữ, không có hiện tương viết đài, viết khiêm Có một vài chú thích bằng hìnhthức chú lưỡng cước rất rõ ràng ở phần cuối của một số bài thơ19 Chấm câuđược khoanh bằng mực đỏ (khả năng do người sau thêm vào trong quá trìnhđọc) Các địa danh, nhân danh đều được đánh dấu bằng một gạch xổ thẳngmàu đỏ Các trường hợp chép sai được đánh dấu bằng 3 chấm son bên trái củachữ viết sai và viết lại ở bên phải hoặc viết chèn lên chữ viết sai bằng mực
đỏ, trường hợp chép khuyết chữ được chép bổ xung bên cạnh vị trí khuyết20.Phần cuối của chính văn có ghi dòng chữ 黎成舟詩集卷終, 大人慣河南峩
溪 (Lê Thành Chu thi tập quyển chung, đại nhân quán Hà Nam, Nga Phần kết tập thơ của Lê Thành Chu đại nhân, quê ở Nga Khê, Hà Nam)
Khê-19 Các bài có chú lưỡng cước: bài 2: 擬讀書譜賀(1); bài 3: 擬讀書譜賀(2); bài 7: 贈舟舉 人登第; bài 8: 即席和清化解元棃兌澤
20 Thống kê văn bản Lê Thành Chu thi tập có 03 trường hợp chép sai trong các bài(5; 7; 12)
và 01 trường hợp chép bổ xung trong bài 71
Trang 282.2 So sánh 黎 成 舟 詩 集 (Lê thành Chu thi tập)Lê thành Chu thi tập)) và 鶴 亭 詩 集
(Lê thành Chu thi tập)Hạc Đình thi tập))
Chúng tôi đã tiến hành so sánh, đối chiếu hai tập thơ với nhau và thuđược kết quả như sau:
- Về nhan đề có sự khác nhau: 黎成舟詩集 (Lê thành Chu thi tập)Lê thành Chu thi tập) là
lấy tên húy để đặt tên cho tập thơ còn鶴亭詩集 (Lê thành Chu thi tập)Hạc Đình thi tập) thì lấy tên
hiệu để đặt Trong thời kì văn học trung đại có hiện tượng kiêng dùng tên húy,
vì vậy việc lấy tên húy để đặt tên cho tập thơ là rất hiếm Thông thường, saukhi sáng tác ra nhiều bài thơ, tác giả sẽ tập hợp lại thành một quyển rồi lấy tênhiệu của mình để đặt tên cho tập thơ đó Hơn nữa như chúng tôi được biết tạikho tư liệu của viện Hán Nôm, các tài liệu có kí hiệu bắt đầu bằng chữ A…thường là những tài liệu sao chép lại Cả hai văn bản trên đều có kí hiệu bắtđầu bằng chữ A- là tài liệu sao chép từ những văn bản khác hoặc hai văn bản
là bản sao của nhau Rất có thể tên 鶴亭詩集(Lê thành Chu thi tập)Hạc Đình thi tập) là do tác giả
đặt còn tên黎成舟詩集 (Lê thành Chu thi tập)Lê thành Chu thi tập) là do người đời sau sao chép
lại và đặt tên theo tên húy của tác giả Như vậy trong trường hợp phải lựachọn nhan đề chân xác hơn cho tập thơ chúng tôi chọn tên tập thơ của LêThành Chu là Hạc Đình thi tập (鶴亭詩集)
- Về văn tự: cả hai tập thơ đều có hiện tượng viết húy, đều có chữ tụcthể, dị thể và dị văn
- Về thứ tự các bài thơ: để thuận lợi cho việc so sánh, chúng tôi đánh sốthứ tự các bái thơ trong hai tập thơ từ 1 cho đến hết Kết quả chúng tôi thấy thứ
tự chép các bài thơ của hai tập thơ là không giống nhau Có hiện tượng này là dongười chép không tuân theo thứ tự các bài hoặc vì một lí do nào đó trong quátrình sưu tầm không đầy đủ nên có hiện tượng chép trước và chép sau
- Về số lượng bài thơ: văn bản 黎成舟詩集(Lê thành Chu thi tập)Lê thành Chu thi tập) có
72 bài trong đó có 01 bài thơ không phải của tác giả mà là thơ họa lại của một
Trang 29người bạn được tác giả chép vào21 Văn bản 鶴亭詩集(Lê thành Chu thi tập)Hạc Đình thi tập) có
75 bài , trong đó có 2 trường hợp người chép đã chém gộp 2 bài vào làm 122,vậy nên tổng số bài của tập thơ này phải là 77 bài, trong đó có 02 bài thơkhông phải của tác giả (01 bài giống bài trong văn bản Lê Thành Chu thi tập
và 01 khác cũng là thơ của 1 người bạn họa lại thơ của tác giả23) Chúng tôiphỏng đoán có hiện tượng chép gộp 2 bài thơ vào 1 bài như thế này là dongười chép nhầm lẫn hoặc chép từ một văn bản khác đã bị lỗi từ trước dẫn tớichép nhầm Như vậy, so với 黎成舟詩集 ( Lê Thành Chu thi tập) thì 鶴亭詩
集(Lê thành Chu thi tập)Hạc Đình thi tập) nhiều hơn 05 bài và có khác 0724 bài Văn bản黎成舟詩
集(Lê thành Chu thi tập)Lê thành Chu thi tập) có 03 bài25 khác Số bài thơ giống nhau giữa hai tậpthơ là 69 bài Như chúng tôi đã trình bày ở trên, căn cứ vào chức vụ của tácgiả được ghi ở phần cuối cuối của tập thơ thì 鶴亭詩集(Lê thành Chu thi tập)Hạc Đình thi tập)
được chép vào khoảng sau năm 1899, lúc này tác giả đang làm Giáo thụ ở phủKhoái Châu Như vậy, số bài thơ nhiều hơn có trong tập thơ này rất có thể làphần thơ được tác giả hoặc người đời sau chép bổ xung vào
- Đi vào đối chiếu từng bài thơ trong hai tập thơ chúng tôi thấy giữa cácbài thơ có sự khác nhau Chúng tôi tạm xếp những sự khác giữa các bài thơnày làm hai trường hợp:
+ Trường hợp khác nhau về nhan đề, giống nhau về nội dung có 07 bài+ Trường hợp giống nhau về nhan đề, nội dung nhưng khác nhau về từ,cụm từ có 21 bài
Để tiện cho đọc giả tham khảo, chúng tôi đã tổng kết lại kết quả đối
21 Bài thơ không phải là của tác giả: Bài 71: 陶舍舉人舟有耀奉和原韻 (Đào Xá cử nhân Chu Hữu Diệu phụng- hoa nguyên vận)
22 Hai trường hợp 2 bài chép gộp vào làm 1 bài là: bài 25: 和下亭李才阮大道意吟 với bài
27 : 下亭李才吟; bài 26: 附原韻 với bài 28: 和原韻
23 Bài thơ họa lại thơ của tác giả là bài: Bài 74: 本府小開秀才阮敦 和
24 Xem phần phụ lục: Bảng đối chiếu 2 văn bản, trang…
25 Các bài khác nhau là: bài 68遇雨見蟹出因吟; bài 69: 咏水仙; bài 72: 陶舍舉人舟有耀奉和原韻
Trang 30chiếu trong một bảng thống kê và đính kèm trong phần phụ lục(tên bảng phụlục).
2.3 Lựa chọn bản cơ sở 26
Trong quá trình nghiên cứu, khảo sát văn bản Hán Nôm, việc xác địnhbản cơ sở là một khâu quan trọng Bản cơ sở được xác định trên cơ sở đốichiếu giữa các dị bản để chọn ra văn bản phù hợp nhất làm cơ sở phục cụ choviệc khảo sát, dịch thuật cũng như việc tìm hiểu nội dung và nghệ thuật củatoàn bộ tác phẩm Tất nhiên, bản cơ sở ở đây cũng không phải là bản hoàntoàn chính xác và không mắc lỗi sai Sở dĩ, gọi là bản cơ sở là do nó là bảnđược người nghiên cứu chọn làm bản làm việc - bản đối chiếu, cũng vì nóđảm bảo các tiêu chí về tính cổ, tính điển hình, tính đầy đủ so với các dị bảnkhác Tuy nhiên, việc đáp ứng những tiêu chí đó cũng chỉ là lý thuyết vì trênthực tế có nhiều văn bản được chọn làm bản cơ sở không đáp ứng được hếtcác tiêu chí mà chỉ đáp ứng được một phần nào các tiêu chí đó Vì vậy, ngườinghiên cứu cũng không nên áp dụng các tiêu chí trên một cách rập khuân máymóc mà phải căn cứ vào từng trường hợp cụ thể của văn bản mà mình đangnghiên cứu để chọn ra bản tối ưu nhất làm bản cơ sở Từ đó, người nghiêncứu có thể dựa vào bản cơ sở để nghiên cứu toàn bộ tác phẩm
Sau khi mô tả, đối chiếu hai bản chép tay của hai tập thơ Lê Thành Chuthi tập (黎成舟詩集) kí hiệu A 2126 và Hạc Đình thi tập (鶴亭詩集) mã kíhiệu A.1891, chúng tôi rút ra được một số kết luận sau:
- Về tình trạng văn bản: cả hai tập thơ đều tốt, nguyên vẹn
- Về hình thức trình bày: cả hai văn bản đề viết bằng lối chữ chân dễđọc, đều có hiện tượng viết tục thể, dị thể, và kiêng húy
Tuy văn bản Hạc Đình thi tập (鶴亭詩集) có số lượng thơ nhiều hơn,
26 Bản cơ sở hay còn gọi là Bản làm việc là bản được người nghiên cứu chọn làm bản đối
chiếu với các dị bản khác(xem mục B Bản cơ sở và các dị bản, trang 221- 222, Cơ sở văn bản học Hán Nôm, Ngô Đức Thọ- Trịnh Khắc Mạnh, Nxb KHXH- HN, 2006)
Trang 31đầy đủ hơn so với văn bản Lê Thành Chu thi tập (黎成舟詩集) nhưng thứthứ tự sao chép, sắp xếp các bài thơ trong tập thơ này không được nhất quán,
có hiện tượng nhầm lẫn giữa các bài thơ dẫn đến sao chép cộng gộp các bàithơ vào với nhau Thêm vào đó số lỗi do chép khuyết chữ và chép sai chữtrong văn bản này cũng nhiều hơn so với văn bản Lê Thành Chu thi tập (黎成舟詩集) Như vậy, nhìn tổng thể thì văn bản Lê Thành Chu thi tập (黎成舟詩集) mã kí hiệu A.2126 có tính chuẩn mực cao hơn Và để thống nhất vớinội dung đề tài chúng tôi nghiên cưu, chúng tôi chọn văn bản này làm bản cơ
sở để thuận lợi cho việc nghiên cứu văn bản về mặt văn bản học cũng như tìmhiểu giá trị nội dung và nghệ thuật của tập thơ
2.4 Một số vấn đề văn bản học của bản cơ sở
2.4.1 Khảo sát p)hần chính văn Lê Thành Chu thi tập) (Lê thành Chu thi tập) 黎成舟詩集)
Trong nghiên cứu Hán Nôm, việc khảo sát những chữ dị biệt (khảo dị) làmột việc quan trọng nhất là đối với những văn bản Hán văn cổ được trình bàybằng nhiều hình thức chữ Công việc khảo dị đòi hỏi sự trung thực, cẩn trọng, tỉ
mỉ của người nghiên cức Khảo dị giúp người nghiên cứu phát hiện ra những chỗkhác biệt trong các bản sao, dị bản hay trong cùng một bản, để từ đó rút ranhững kiến giải hợp lí cho những sai khác của văn bản, tạo điều kiện cho ngườiđọc tiếp cận văn bản một cách thuận lợi hơn Khi khảo sát phần chính văn của
Lê Thành Chu thi tập (黎成舟詩集), chúng tôi thấy xuất hiện vấn đề về di văn27
và chữ dị biệt Chữ dị biệt ở đây được chúng tôi chia ra làm 3 loại: chữ húy, chữtục thể, chữ dị thể.28Khi khảo dị, chúng tôi cố gắng tổng hợp kết qủa trong
27 Dị văn là những trường hợp sử dụng khác nhau về từ hoặc một cụm từ trong
một câu, một đoạn trong cùng một hệ thống các bản sao chép
28 Chữ húy: chữ viết kiêng tên húy của vua, chúa hay thần linh; chữ tục thể:
là chữ viết theo thói quen không được đưa vào các tự điển, từ điển, thường xuất hiện trong
phạm vi từng nước hoặc theo thời đại khác nhau: chữ dị thể: một cách viết khác nhưng ít
thông dụng hơn
Trang 32những bảng đối chiếu để người đọc tiếp cận văn bản một cách dễ dàng.
2.4.2 Khảo sát dị văn trong văn bản Lê Thành Chu thi tập)(Lê thành Chu thi tập) 黎成舟詩集)
Dị văn là những trường hợp sử dụng khác nhau về từ hoặc một cụm từtrong một câu, một đoạn trong cùng một hệ thống các bản sao chép Người xưakhi lưu trữ văn bản thường làm thủ công sao chép bằng tay Trong quá trìnhsao chép ấy vì nguyên nhân nào đó mà dẫn tới việc chép nhầm, chép sai dẫn tớihiện tượng “tam sao thất bản” thành các dị văn, dị bản làm thay đổi nội dungcủa văn bản dẫn tới việc người đọc gặp khó khăn trong quá trình tìm hiểu vănbản, hiểu sai về nội dung của tác phẩm Công việc khảo cứu các trường hợp dịvăn đòi hỏi người nghiên cứu phải tiến hành một cách thật cẩn trọng, tỉ mỉ vàtuân thủ các nguyên tắc: 1- đọc kĩ các bản sao, cú đậu ngắt câu, xác định vàđánh dấu vị trí của từ hay cụm từ được coi là dị văn (đối với những văn bảnđược người sao chép chấm câu rõ ràng thì công việc này được tiến hành rấtthuận lợi, tuy nhiên cũng có nhiều trường hợp trong các dị bản vì người chépkhông được cẩn thận hoặc theo thời gian mà chấm câu không còn rõ dẫn tớiviệc ngắt câu, phân đoạn không đươc rành mạch làm thay đổi nội dung của câuvăn, đoạn văn); 2 - xem xét hình thể, tự dạng của từ hoặc cụm từ được coi là dịvăn (những trường hợp chép sai về chữ như thiếu, thừa nét thì được xếp vàonhững trường hợp sai về chính tả, đối với những trường hợp này việc hiệuchỉnh tương đối dẽ dàng thuận lợi); 3- luôn bám sát nội dung, và ngữ cảnh củavăn bản để đối chiếu và so sánh những trường hợp dị văn, biện luận và chọn ranhững từ ngữ thích hợp nhất Trong trường hợp cần thiết người nghiên cứu cònphải vận dụng tới những tri thứ về thể loại (ví dụ như các trường hợp dị văntrong thơ cổ, ngoài việc tuân thủ các nguyên tắc trên thì người nghiên cứu còn
có thể căn cứ vào thể thơ, luật thơ để tìm ra từ ngữ thíc hợp)
Trong quá trình khảo sát phần thơ chính văn của văn bản 黎成舟詩集
(Lê Thành Chu thi tập) mã kí hiệu A.2126, chúng tôi đã phát hiện ra những
Trang 33trường hợp dị văn so với văn bản 鶴亭詩集 (Hạc Đình thi tập) mã kí hiệu
A.1891 Khi đối chiếu những trường hợp dị văn giữa hai văn bản này, chúngtôi đã thu được 28 trường hợp, trong đó có những trường hợp: khác biệt về từ(dùng từ khác nhau); khác biệt về vị trí trong môt cụm từ Trong 28 trườnghợp dị văn đó có 05 trường hợp dị văn xuất hiện ở nhan đề, 23 trường hợp di
văn xuất hiên trong bài thơ Khi đối chiếu, chúng tôi đã cố gắng biện giải và
lựa chọn ra những từ và cụm từ thích hợp nhất để phục vụ cho việc nghiêncứu dịch thuật văn bản Nhìn chung số lượng dị văn trong tập thơ này cũngkhông nhiều và cũng không làm ảnh hưởng nhiều tới nội dung của các bài thơtrong tập thơ Để bạn đọc tiện tham khảo, chúng tôi cũng đã tổng hợp lại kếtquả khảo sát của 28 trường hợp dị văn trong một bảng thống kê Bảng này,chúng tôi đính kèm trong phần phụ lục cuối luận văn Dưới đây chúng tôi tiếnhành mô tả, so sánh và biện giải về một số trường hợp dị văn tiêu biểu trong
28 trường hợp kể trên:
Trường hợp 1: Bài: 擬讀書譜賀(2)( Nghĩ độc thư phổ hạ- bài 2) - một
bài thơ tác giả viết tặng Bùi Thức quan Tuần phủ Thuận Khánh ở Châu Cầu
-Hà Nam Trong văn bản黎成舟詩集 (Lê Thành Chu thi tập), theo số thứ tự,
bài này là bài thứ 3 nằm ở trang 1b Trong khi đó ở văn bản鶴亭詩集 (Hạc Đình thi tập), theo số thứ tự, thì bài này là bài 6 nằm ở trang 2a Khi so sánh
hai bài thơ này chúng tôi phát hiện tại vị trí từ thứ 2 trong câu thơ thứ 6 có dịvăn Cụ thể như sau, trong văn bản黎成舟詩集 (Lê Thành Chu thi tập) câu
thơ thứ 6 được chép là: 氈席吟成月尚窻 (Chiên tịch ngâm thành nguyệt thượng song), nghĩa của câu thơ này được hiểu là: Dưới chiếu giạ ngâm ngợi, trên cửa sổ trăng sáng soi Trong văn bản 鶴亭詩集(Hạc Đình thi tập), câu
thơ này được chép là: 氈 室 吟 成 月 尚 窻 (Chiên thất ngâm thành nguyệt thượng song), nghĩa của câu thơ này được hiểu là: Trong nhà giạ ngâm ngợi, trên cửa sổ trăng sáng soi Như vậy sự khác nhau của hai câu thơ này nằm ở
Trang 34chữ 席 (tịch) - cái chiếu và 室 (thất) - ngôi nhà Cả hai từ này đều hợp nghĩa,đều đáp ứng được luật B- T của bài thơ Tuy nhiên, căn cứ vào những câu thơđứng trước nó, nhất là câu thơ số 5: 錦堂春往花生院 (Cẩm đường xuân vãng
hoa sinh viện), nghĩa là: Trước nhà gấm xuân qua, hoa nở khắp tường, chúng
tôi thấy từ 席 (tịch) - cái chiếu là hợp lí hơn vì nó không bị lặp với từ 堂
(đường) - gian nhà Hơn nữa dựa vào phép đối trong thơ Thân ngôn Luật thì
câu 5 và câu 6 phải đối nha, 錦堂 (cẩm đường) - gian nhà gấm đối với 氈席
(chiên tịch) - chiếu giạ Hai câu thơ đối nhau tạo thành một cặp câu tả quang
cảnh đẹp đẽ hữu tình nhà quan Tuần phủ Như vậy trong trường hợp nàychúng tôi chọn từ席(tịch)- cái chiếu.
Trường hợp hai: bài 18: 竹林教舘寄蘭亭 (Trúc Lâm giáo quán kí Lan
Đình - Giáo quán Trúc Lâm gửi Lan Đình) Trong cả hai văn bản黎成舟詩集
(Lê Thành Chu thi tập) và 鶴亭詩集 (Hạc Đình thi tập) thì bài thơ này đều
là bài thứ 18 và cùng nằm ở trang 5b Tại vị trí từ thứ 5 trong câu thơ thứ 4 cóxuất hiện dị văn Cụ thể như sau, trong văn bản văn bản 黎成舟詩集 (Lê
Thành Chu thi tập), câu thơ thứ 4 được chép là: 關懷當日雀巢林 (Quan hoài đương nhật, tước sào lâm), nghĩa của câu thơ được hiểu là: Nỗi nhớ hang ngày của chim sẻ về tổ nó ở trong rưng Trong văn bản 鶴亭詩集 (Hạc Đình
thi tập), câu thơ này được chép là: 關懷當日鶴巢林 (Quan hoài đương nhật hạc sào lâm), nghĩa của câu thơ được hiểu là: Nỗi nhớ hang ngày của chim hạc về tổ nó ở trong rưng Như vậy, sự khác nhau trong hai câu thơ này nằm
ở hai từ 雀 (tước)- chim sẻ và 鶴 (hạc) – chim hạc Cả hai từ 雀 và 鶴 đều đápứng được những yêu cầu về ngữ pháp và luật B- T Tuy nhiên, xét về nộidung, đây là một bài thơ thể hiện tình bạn đẹp với tư tưởng cầu nhàn của mộtnhà Nho Mà trong thơ cổ để diễn tả cảnh sống ẩn dật của nhà Nho nơi núirừng, các tác giả thường dùng hình ảnh chim hạc chứ ít ai dùng hình ảnh chim
sẻ Trong thơ Nguyễn Trãi có câu: Rùa nằm hạc lẩn nên bầy bạn/ Ủ ấp cùng
Trang 35ta làm cái con (Ngôn chi bài 20) Như vậy trong trường hợp này chúng tôi
chọn鶴(hạc) – chim hạc
Trường hợp 3: Bài 步柳下趙台餞律(Bộ liễu hạ triệu di tiễn luật-).
Trong văn bản黎成舟詩集 (Lê Thành Chu thi tập), theo số thứ tự, bài này là
bài thứ 37 nằm ở trang 10b Trong khi đó ở văn bản鶴亭詩集 (Hạc Đình thi tập), theo số thứ tự, thì bài này là bài 35 nằm ở trang 11a Khi so sánh hai bài
thơ này chúng tôi phát hiện 02 trường hợp dị văn tại vị trí từ thứ 3 trong câuthơ thứ nhất và vị trí từ thứ 4 trong câu 5 Cụ thể như sau:
+ Câu thơ thứ nhất trong văn bản 黎成舟詩集 (Lê Thành Chu thi tập) được chép là: 山川雲樹欎相謬 (Sơn xuyên vân thụ uất tương mậu), nghĩa của câu thơ này được hiểu là: Sông núi mây ngàn cùng nhau tụ họp.
Trong văn bản 鶴亭詩集(Hạc Đình thi tập), câu thơ này được chép là: 山
川風樹欎相謬 (Sơn xuyên phong thụ uất tương mậu), nghĩa của câu thơ này được hiểu là: Sông núi gió ngàn cùng nhau tụ họp Như vậy, sự khác
nhau của hai câu thơ này nằm ở chữ 雲(vân) - mây và 風 (phong) - gió.
Trong trường hợp này chúng tôi trộn dùng từ 雲 (vân) – mây vì như vậy
câu thơ sẽ hay hơn, mang tính hình tượng nhiều hơn, gợi tả được vẻ đẹp
của bức tranh thiên nhiên nơi núi rừng.
+ Câu thơ thứ 4 trong văn bản 黎成舟詩集 (Lê Thành Chu thi tập)
được chép là: 鰲頭自覺非高手(Nghiêu đầu tự giác phi cao thủ), nghĩa của
câu thơ này được hiểu là: Con ngao lớn tự biết mình không phải là kẻ cao tay.
Trong văn bản鶴亭詩集(Hạc Đình thi tập), câu thơ này được chép là: 鰲頭
自信非高手(Ngao đầu tự tín phi cao thủ), nghĩa của câu thơ này được hiểu là: Con ngao lớn tự tin mình không phải là kẻ cao tay Như vậy, sự khác nhau
của hai câu thơ này nằm ở chữ 覺(giác)- hiểu biết và 信(tín)- lòng tin Rõ
ràng trong trường hợp này, nếu chúng tôi trọn dùng từ 信(tín)- lòng tin thì sẽ
không hợp nghĩa của câu thơ Câu thơ trở nên rất ngang và khó hiểu Bởi vậy
Trang 36trong trường hợp này chúng tôi chọn dùng từ 覺(giác)- hiểu biết.
Trường hợp 4: bài南城返步囬貴(Nam thành phản bộ hồi quý) Trong
văn bản黎成舟詩集(Lê Thành Chu thi tập), theo thứ tự bài này là bài thứ 38
nằm ở trang 11a Trong văn bản鶴亭詩集(Hạc Đình thi tập), theo thứ tự bài
này là bài thứ 36 và cũng nằm ở trang 11a Tại vị trí từ thứ 2 trong câu thơ thứ
5 của bài thơ này xuất hiện dị văn Cụ thể như sau, trong văn bản黎成舟詩集
(Lê Thành Chu thi tập), câu thơ thứ 5 được chép là: 匊松秋後霜花放 ( Cúc tùng thu hậu sương hoa phóng), nghĩa là: Cúc tùng mùa thu buông nở sau sương Còn trong văn bản 鶴亭詩集(Hạc Đình thi tập), thì câu thơ này được
chép là: 匊從秋後霜花放 (Cúc tòng thu hậu sương hoa phóng), nghĩa là: Hoa cúc theo mùa thu, buông nở sau sương Sự khác biệt trong hai câu thơ
này nằm ở hai từ松 (chất) – cây tùng và 從 (tòng)- đi theo Căn cứ vào nghĩa
của hai từ, mối liên hệ của câu thơ này với các câu thơ khác trong bài nhất làcâu thơ thứ 6 và luật đối trong thơ Thất ngôn luật, chúng tôi thấy từ從(tòng)-
đi theo là hợp nghĩa Câu 5- 6 bài này tạo thành một cặp câu thơ tả hoa cúc
trong mùa thu và hoa mai trong mùa xuân rất đăng đối: 匊從秋後霜花放/梅
向春先雪蕋鋪( Cúc tòng thu hậu sương hoa phóng/ Mai hướng xuân tiên tuyết nhị phô), nghĩa là: Hoa cúc theo thu buông nở sau sương/ Hoa mai đón xuân khoe nhị trước tuyết.
Trường hợp 5: Bài 南浦發步之凊(Nam phố phát bộ chi sảnh - Đi bộhóng mát ở bến nam) Trong văn bản 黎成舟詩集(Lê Thành Chu thi tập),
theo thứ tự bài này là bài thứ 32 nằm ở trang 9b Trong văn bản 鶴亭詩集
(Hạc Đình thi tập), theo thứ tự bài này là bài thứ 30 và cũng nằm ở trang 9b.
Tại vị trí từ thứ 5 trong câu thơ thứ 3 của bài thơ này xuất hiện dị văn Cụ thểnhư sau, trong văn bản 黎成舟詩集(Lê Thành Chu thi tập), câu thơ thứ 3
được chép là: 叔曰好哉侄 ( Thúc viết hảo tai chất Còn trong văn bản 鶴亭詩
集 (Hạc Đình thi tập), thì câu thơ này được chép là: 叔曰好哉姪 (Thúc viết
Trang 37hảo tai điệt) ) Sự khác biệt trong hai câu thơ này nằm ở hai từ 侄 (chất) –
bền chắc và 姪 (điệt) - cháu Song trong cách dung từ của người xưa có hiện
tượng dùng thông chữ và ở trường hợp này từ 侄 (chất) cũng được dùng với
nghĩa là cháu Từ điển Thiều Chửu cũng có ghi ở mục từ 侄 (chất) như sau: 1.
Nghĩa là: Bền, chắc; 2: Tục mượn làm chữ điệt ( 姪) nghĩa là cháu Vậy
nghĩa của câu thơ được hiểu là: Thúc nói cháu tốt vậy thay? Như vậy, trong
trường chọn một trong hai từ trên đều được vì từ chất ( 侄 )cũng được đọc là
điệt (姪) và cùng có nghĩa là: cháu
Trường hợp 6: Bài 歸程过三曡感叔自慰 (Quy trình quá Tam Điệpcảm thúc tự úy - Hành trình qua Tam Điệp thương em tự an ủi) Trong vănbản黎成舟詩集 (Lê Thành Chu thi tập), theo thứ tự bài này là bài thứ 34 nằm
ở trang 10a Trong văn bản鶴亭詩集 (Hạc Đình thi tập), theo thứ tự bài này
là bài thứ 32 và cũng nằm ở trang 10a Tại vị trí từ thứ 4 trong câu thơ thứ 5của bài thơ này xuất hiện dị văn Cụ thể như sau, trong văn bản黎成舟詩集
(Lê Thành Chu thi tập), câu thơ thứ 5 được chép là: 僮認前縱寬步起 (Đồng nhận tiền túng khoan bộ tẩu) Còn trong văn bản 鶴亭詩集 (Hạc Đình thi
tập), thì câu thơ này được chép là: 僮認前從寬步走 (Đồng nhận tiền tòng khoan bộ tẩu) Sự khác biệt của hai câu thơ này nằm ở hai từ 縱 (túng) - buông thả và 從 (tòng) - đi theo Trong trường hợp này, căn cứ vào ý nghĩa
của câu thơ, chúng tôi nhận thấy từ從 (tòng)- đi theo là phù hợp và làm cho câu thơ rõ nghĩa Câu thơ được hiểu là: Đứa trẻ bằng lòng theo người đi trước, chậm rãi mà đi.
Trường hợp 7: Bài 感懷 (Cảm hoài) Trong văn bản 黎成舟詩集 (Lê Thành Chu thi tập), theo số thứ tự, bài dnày là bài thứ 48 nằm ở trang 13b.
Trong khi đó ở văn bản鶴亭詩集(Hạc Đình thi tập), theo số thứ tự, thì bài
này là bài 46 và cũng nằm ở trang 13b Khi so sánh hai bài thơ này chúng tôiphát hiện 04 trường hợp dị văn xuất hiện tại các vị trí: nhan đề; từ thứ 6 trong
Trang 38câu thơ thứ nhất; từ thứ 2 trong câu 2; từ thứ 3, 4 trong câu 5 Cụ thể từngtrương hợp như như sau:
+ Nhan đề: Trong văn bản 黎成舟詩集 (Lê Thành Chu thi tập), nhan
đề bài này được chép là 感懷 (Cảm hoài) Còn trong văn bản 鶴亭詩集 (Hạc
Đình thi tập) thì được chép là 懷感 (Hoài cảm) Trong trương hợp này thì cả
感懷 (Cảm hoài) và 懷感 (Hoài cảm) đều có nghĩa chỉ cảm xúc và nỗi nhớ
vậy nên chọn một trong hai nhan đề trên đều được
+ Câu thơ thơ nhất trong văn bản黎成舟詩集(Lê Thành Chu thi tập)
được chép là : 古今萬事總埃排 (Cổ kim hận sự tổng ai bài) Còn trong văn
bản 鶴亭詩集 (Hạc Đình thi tập) thì câu thơ này được chép là: 古今萬事總
安排 (Cổ kim hận sự tổng an bài) Như vậy sự khác biệt trong câu thơ này
nằm ở hai từ: 埃 (ai) - hạt bụi và từ 安 (an) - yên ổn Căn cứ ý nghĩa của câu
thơ chúng tôi chọn từ 安 (an) - yên ổn Nghĩa của câu thơ trên được hiểu là:
Từ xưa tới nay mọi việc đều đã có sự sắp đặp yên ổn sẵn rồi.
+ Câu thơ thơ 2 trong văn bản 黎成舟詩集 (Lê Thành Chu thi tập)
được chép là : 須聴蒼蒼自篤栽 (Tu thính thương thương tự đốc tài) Còn
trong văn bản 鶴亭詩集 (Hạc Đình thi tập) thì câu thơ này được chép là: 須
咱蒼蒼自篤栽(Tu gia thương thương tự đốc tài) Như vậy sự khác biệt trong
câu thơ này nằm ở hai từ: 聴 (thính)- nghe và 咱 (cha/gia) – tục tự xưng mình
là cha Tuy nhiên từ 咱 (cha/gia) là một trường hợp viết tục thể của chữ 聴).
Như vậy 咱 (cha/gia) cũng được đọc là thính và có nghĩa là nghe Trong
trường hợp này chúng tôi chọn dùng chữ chính thể là 聴 (thính)- nghe :Tự
thấy mình như cây cỏ non mà hổ thẹn với trời xanh.
+ Câu thơ thơ 5 trong văn bản黎成舟詩集 (Lê Thành Chu thi tập) được
chép là : 風輕經撓幹弥堅竹(Phong khinh kinh nạo can di kiên trúc) Còn trongvăn bản鶴亭詩集(Hạc Đình thi tập) thì câu thơ này được chép là: 風輕繞幹弥 堅竹(Phong khinh nhiễu nạo di kiên trúc) Trong trường hợp này có hai vấn đề
Trang 39cần xem xét Một, hai câu thơ có sự khác nhau về số chữ: Câu thơ này trong vănbản黎成舟詩集 (Lê Thành Chu thi tập) là 8 chữ còn trong văn bản 鶴亭詩集
(Hạc Đình thi tập) thì lai có 7 chữ Trường hợp này chúng tôi chọn câu thơ 7
chữ vì bài thơ này là thơ Thất ngôn luật Hai, hai câu thơ này còn khác nhau ởcụm từ 經撓 (khinh nạo) và từ 繞 (nạo) Xét về hình thể chữ chúng tôi thấy từ
繞 (nạo) gồm bộ mịch: 糸 và chữ nghiêu: 堯.Chữ này có sự tương đồng với bộ
mịnh:糸 trong chữ 經 (kinh) và chữ nghiêu: 堯 trong chữ 撓 (khinh) Như vậy
trong trường hợp này, có thể cụm từ 經撓 (khinh nạo) là một trường hợp chép
sai của chữ 撓 (khinh) Chúng tôi chọn dùng chữ 撓 (khinh) Nghã của câu thơ
là: Gió thổi nhẹ khắp khu vườn làm bền thêm khóm trúc
Trường hợp 8: Bài貧居感吟 (Bần cư cảm ngâm) - Cảm ngâm về cảnh sống nghèo Trong văn bản 黎成舟詩集 (Lê Thành Chu thi tập), theo thứ tự
bài này là bài thứ 50 nằm ở trang 14a Trong văn bản鶴亭詩集 (Hạc Đình thi
tập), theo thứ tự bài này là bài thứ 48 và cũng nằm ở trang 14a Tại vị trí từ
thứ 4 trong câu thơ thứ 8 của bài thơ này xuất hiện dị văn Cụ thể như sau,trong văn bản黎成舟詩集(Lê Thành Chu thi tập), câu thơ thứ 8 được chép là: 未免當年有送窮 (Vị miễn đương niên hữu tống cùng) Còn trong văn bản 鶴 亭詩集(Hạc Đình thi tập), thì câu thơ này được chép là: 未免當初有送窮(Vị miễn đương sơ hữu tống cùng) Sự khác nhau trong hai câu thơ này nằm ở hai
từ 年 (niên )- năm và 初 (sơ) - ban đầu Căn cứ vào văn cảnh và ý nghĩa của
từ ngữ chúng tô chọn từ 年 (niên) – năm vì nó làm cho câu thơ trở nên rõ nghĩa và hợp lý hơn Nghĩa của câu thơ này được hiểu là: Mà sao chưa tránh khỏi nỗi khốn cùng năm nay?
Trường hợp 8: Bài 龍城失守憂乱 (Long thành thất thủ tư loạn - Nỗi lòng lo lắng khi thành Thăng Long thất thủ) Trong văn bản 黎成舟詩集 (Lê
Thành Chu thi tập), theo thứ tự bài này là bài thứ 52 nằm ở trang 14b Trong
văn bản 鶴亭詩集(Hạc Đình thi tập), theo thứ tự bài này là bài thứ 50 và
Trang 40cũng nằm ở trang 14b Tại vị trí từ thứ 3, 4 trong câu thơ thứ 5 của bài thơ nàyxuất hiện dị văn Cụ thể như sau, trong văn bản黎成舟詩集 (Lê Thành Chu
thi tập), câu thơ thứ 5 được chép là: 自我元卢容足地 (Tự ngã nguyên lư dong túc địa) Còn trong văn bản 鶴亭詩集 (Hạc Đình thi tập), thì câu thơ
này được chép là: 自我豈虞容足地 (Tụ ngã khởi ngu dong thị địa) Sự khácnhau trong hai câu thơ này nằm ở hai cụm từ 元卢(nguyên thanh)- từ trong bóng tối và 豈虞 (khởi ngu)- há lo lắng sao Căn cứ vào văn cảnh và ý nghĩa
của từ ngữ, trong trường hợp này, chúng tôi chọn từ元卢(nguyên thanh)- từ trong bóng tối Nghĩa của câu thơ này được hiểu là: Tự ta từ trong tăm tối mà
mở rộng đất đai.
Trường hợp 9: Bài 思乱三首(其三) (Tư loạn tam thủ- Ba bài thơ lo
loạn - bài 3) Trong văn bản黎成舟詩集(Lê Thành Chu thi tập), theo thứ tự
bài này là bài thứ 55 nằm ở trang 15a Trong văn bản鶴亭詩集 (Hạc Đình thi
tập), theo thứ tự bài này là bài thứ 53 và cũng nằm ở trang 15b Tại vị trí từ
thứ 5, 6 trong câu thơ thứ 4 của bài thơ này xuất hiện dị văn Cụ thể như sau,trong văn bản黎成舟詩集(Lê Thành Chu thi tập), câu thơ thứ 5 được chép là: 夷虜縱橫此一遭 (Di lỗ tung hoành thử nhất tao) Còn trong văn bản 鶴亭詩 集(Hạc Đình thi tập), thì câu thơ này được chép là: 夷虜縱橫一此遭 (Di lỗ tung hoành nhất thử tao) Sự khác nhau trong hai câu thơ này nằm ở hai cụm
từ 此一 (thử nhất)- lần ấy và 一此 (nhất thử)- một lần Căn cứ vào ngữ
pháp, đại từ chỉ thị đứng trước số từ, trong trường hợp này chúng tôi chọn từ
一此 (nhất thử)- một lần Nghĩa của câu thơ này được hiểu là: Bọn giặc mọi
tung hoành đã gặp một lần ở nơi đây.
Trường hợp 10: Bài 縣城失守 (Huyện thành thất thủ- Huyện thành bị
chiếm) Trong văn bản 黎成舟詩集(Lê Thành Chu thi tập), theo thứ tự bài
này là bài thứ 56 nằm ở trang 15b Trong văn bản 鶴亭詩集(Hạc Đình thi tập), theo thứ tự bài này là bài thứ 54 và cũng nằm ở trang 15b Tại vị trí từ