1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

DIỄN NGÔN PHỐ TRONG TIỂU THUYẾT TRẦN dần

113 562 14

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 113
Dung lượng 675 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vương Trí Nhàn, người đã đề cập việc xuất bản đầy đủ thơ ca Trần Dần coi “Trần Dần là nhà thơ có nhiều hơn những nhà thơ đương thời.” Như vậy về vị trí văn học sử, Trần Dần ít nhiều hiện

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

 PHÙNG THỊ BÍCH HẠNH

DIÔN NG¤N PHè TRONG TIÓU THUYÕT TRÇN DÇN

Chuyên ngành: Văn học Việt Nam hiện đại

Mã số: 60.22.01.21

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN

Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Phượng

HÀ NỘI - 2015

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Xin đặc biệt cảm ơn sự gợi ý, hướng dẫn quý báu của thầy giáo - tiến sĩ Nguyễn Phượng cùng sự góp ý tận tình của các Thầy Cô trong Hội đồng đã giúp tôi hoàn thành luận văn.

Xin chân thành cảm ơn các Thầy Cô khoa Ngữ văn – Trường Đại học

Sư phạm Hà Nội đã hết lòng dạy dỗ, giúp đỡ tôi trong suốt khóa học

Cảm ơn những người thân thiết đã luôn ở bên.

Hà Nội, tháng 10 năm 2015

Tác giả

Phùng Thị Bích Hạnh

Trang 3

MỤC LỤC

8 George Dutton, Hí họa Lý Toét : Cuộc hôn nhân bắt buộc với nền văn minh, https://vietpress2012.wordpress.com 105

9 Nam Dao, Xổ bụi, www.talawas.org 105

10 Nguyễn Văn Dân,(2013) Chủ nghĩa hiện đại trong văn học nghệ thuật, Nxb KHXH, Hà Nội 105

Trang 4

MỞ ĐẦU 1.Lí do chọn đề tài

1.1.Trần Dần là một nhà văn tự lĩnh nhận sứ mạng là nhà sáng tạo, nhà cách tân nghệ thuật Nếu trong địa hạt thơ ca, Trần Dần là người tuyên ngôn cho một quan niệm thơ thuần túy “làm thơ là làm chữ”, thì trong tiểu thuyết ông cũng là nhà văn nỗ lực đưa ra những thể nghiệm mới để “kể cái không thể kể” Bao trùm lên sự nghiệp sáng tác Trần Dần là một “văn cách” của một nhà văn, nhà thơ muốn đề xuất những giá trị mĩ học mới khi văn học nước nhà vẫn chủ yếu chịu ảnh hưởng của thi pháp sử thi Tuy nhiên đằng sau đó vẫn còn đó những khen chê, những vấn đề bỏ ngỏ là tiềm năng cho nghiên cứu

1.2 Phố là một kiến tạo của con người thể hiện ý thức cải tạo, kháng cự

tự nhiên, nơi đối lập lại trật tự tự nhiên Trong lịch sử thành văn của nó, phố luôn được kiến tạo lại, được viết lại liên tục bởi những khung tri thức nhất định Phố không chỉ là một thưc thể vật chất mà đi vào văn học như một kí hiệu chồng lấp những ý nghĩa biểu tượng Trong mỗi một lĩnh vực sáng tạo, mỗi thời đoạn và mỗi suy tư nghệ thuật của người nghệ sĩ Phố lại được “mã hóa” lại, lên tiếng cho tư tưởng và cảm quan của người kiến tạo đồng thời chi phối nhận thức của người đọc Phố thoát dần ý niệm vật chất ban đầu và mang nhiều ý niệm mới: hiện thân cho văn minh, thể hiện ý thức ngưỡng vọng về thánh thần, quyền lực gắn liền với những thành phố trên cao như thành phố như nước Chúa Jerusalem, thành phố của Thánh Augustine Phố trong tiểu thuyết Trần Dần là một ám ảnh khôn nguôi Nó trở đi trở lại trang viết của ông, đặc biệt ở tiểu thuyết như một thông điệp riêng của người nghệ sĩ Không phải một phố xa lạ trong cái nhìn của người thôn quê lạc giữa thị thành, cũng không hẳn là phố với tất cả những thực tại tha hoá, hay ánh sáng kinh kì ứa đọng bản sắc riêng của kẻ thị dân sinh ra từ phố coi phố là cả một

Trang 5

niềm thơ, là cả thân phận mình Phố trong tiểu thuyết Trần Dần được viết lại dưới cảm quan của chủ nghĩa hiện đại, huyên náo mà buồn bã.

1.3 Xem phố trong tiểu thuyết Trần Dần như một diễn ngôn là đặt văn bản vào trường giao tiếp, luôn có đích và có chiến lược Hướng nghiên cứu này có khả năng tìm hiểu những quy tắc mã hóa hình tượng của nó, giúp khám phá, giải mã những thông điệp khuất lấp của văn bản, trả lời cho những câu hỏi còn bỏ ngỏ về giá trị thực sự của tiểu thuyết Trần Dần Đó cũng là một cách định giá lại những sáng tác của Trần Dần, để hiểu rằng dấn thân kiến tạo nghệ thuật với một mĩ cảm, ý niệm khác biệt là một hành trình đơn độc nhưng không bao giờ là vô nghĩa

2 Lịch sử vấn đề

2.1 Nghiên cứu về đô thị trong khoa học nhân văn đã trở thành một chủ điểm cơ bản Những nghiên cứu này thường được đề cập từ giác độ: Cảm quan đô thị, cảm hứng thành thị Cũng có khi đối tượng đô thị được xác định

rõ ràng: Hà Nội hay Huế Có nghiên cứu tiếp cận vấn đề từ điểm nhìn văn hóa có nghiên cứu tiếp cận từ góc nhìn của lí thuyết kí hiệu, biểu tượng Tiếp cận Phố trong tiểu thuyết Trần Dần từ điểm nhìn của lí thuyết diễn ngôn cho phép tìm kiếm quy luật, cơ chế cũng như áp lực tạo nghĩa hình tượng trong sáng tác của cá nhân nhà văn

2.2 Về sáng tác Trần Dần đã có nhiều nghiên cứu, phong phú và nhiều màu sắc từ thơ ca đến tiểu thuyết Tựu trung lại có hai luồng ý kiến trái ngược nhau Luồng ý kiến từ các nhà phê bình chính thống như Tố Hữu, Hữu Mai, Huy Vân chủ yếu cho rằng những sáng tác của Trần Dần chạy theo chủ nghĩa hình thức không có nội dung và thể hiện tinh thần không tích cực đối với chế

độ Nhưng những ý kiến này chủ yếu ở giai đoạn trước 1988 Chẳng hạn tác

giả Huy Vân có bài viết “Trần Dần một tâm hồn đồi trụy”, đăng trên báo

Nhân Dân năm 1958 Trong bài viết này, tác giả kịch liệt phê phán Trần Dần:

Trang 6

“Trần Dần cũng đi vào kháng chiến nhưng không chịu từ bỏ những quan

điểm nghệ thuật sa đọa ” Tố Hữu trong một số bài viết của mình cũng bày tỏ

thái độ phê phán quyết liệt đối với những cách tân văn nghệ của Trần Dần và nhóm Nhân văn Ngay kể cả sau khi hiện tượng Trần Dần được “cởi trói”, những nhìn nhận phủ định, đánh giá thấp về Trần Dần vẫn chưa hẳn kết thúc Nhiều nhà phê bình, thậm chí đồng nghiệp của Trần Dần đã bày tỏ thái độ

“hẫng hụt” khi tác phẩm của Trần Dần được công bố sau nhiều năm chìm

khuất Nguyễn Ly cho rằng, giai thoại của Trần Dần khiến người ta thán phục

hơn là do chính văn bản của ông: “Ông được kính trọng vì nhân cách và bị

khước từ vì văn cách” Lê Dã Thảo cũng cảm thấy không thỏa mãn với tác

phẩm của Trần Dần

Song song với ý kiến phủ định hiện tượng Trần Dần, một luồng ý kiến khác, nhất là ở những nhà phê bình trẻ lại khẳng định sáng tác của Trần Dần như những thể nghiệm mang tính hiện đại với những nỗ lực cách tân từ quan

niệm thi ca “làm thơ là làm chữ” đến những dấn thân mở lối cho một kiểu

tiểu thuyết thơ, tiểu thuyết với hương vị trinh thám Những nhà phê bình như

Thụy Khuê, Phạm Thị Hoài khẳng định Trần Dần ở vị trí “thủ lĩnh trong

bóng tối” Nguyễn Trọng Tạo trong một bài viết gọi Trần Dần là “nhà cách

tân số một”, “người mở đường đi trước một thế kỉ” Vương Trí Nhàn, người

đã đề cập việc xuất bản đầy đủ thơ ca Trần Dần coi “Trần Dần là nhà thơ có nhiều hơn những nhà thơ đương thời.”

Như vậy về vị trí văn học sử, Trần Dần ít nhiều hiện nay đã được đánh giá trở lại nhất là ở vai trò của người tiên phong trong sáng tạo để làm mới, làm hiện đại hóa thơ ca Đó là việc làm mà các nhà văn hiện đại Việt Nam vẫn đang tiếp tục

Tuy nhiên, từ góc độ tiếp cận của đề tài luận văn, chúng tôi chủ yếu quan tâm đến những nghiên cứu có liên quan đến lí thuyết diễn ngôn, và

Trang 7

những ý kiến quan tâm đến biểu tượng Phố trong sáng tác của Trần Dần đặc

biệt là hai thể nghiệm tiểu thuyết: Cổng Tỉnh, Những ngã tư và những cột

đèn.

2.3 Tiểu thuyết Trần Dần chủ yếu được nghiên cứu từ những thể nghiệm, cách tân về mặt thể loại, trong đó có một số bài viết có nhắc đến biểu tượng phố

Với bài tiểu luận nhỏ “Trần Dần và bài thơ Phố”, nhà văn Thuận thực

hiện một thao tác lịch sử, điểm lại tất cả các sáng tác của Trần Dần để nhận thức Phố là cả một thế giới với Trần Dần, một nguồn thi hứng chưa bao giờ

dứt Bắt đầu từ bài thơ “Nhất định Thắng” phố gắn với thân phận cô gái Hà Nội nhẫn nhục, đến Cổng tỉnh Thuận nhận ra đây là “những khám phá mới

của Trần Dần về đề tài Phố.” “Phố ở đây giống như một ám ảnh thường trực, chạy suốt một trăm bảy mươi trang, mỗi lần xuất hiện mỗi khác” [70;1]

Mùa Sạch, được công chúng đón nhận dè dặt và bị phê phán kịch liệt bởi một

số nhà phê bình Tuy nhiên, tập thơ dài 117 trang này được mở đầu bằng một

câu thơ hai chữ: “phố trong”, “Hà Nội hiện ra ngỡ ngàng đèn đường và

Phố” [70;5] Còn ở, tập thơ 63 – 64, sáng tác trước đó một năm, câu đầu tiên

cũng là Phố “Phố mới – nước sơn tươi/ Người đi dùng dằng cửa sổ” Và Jờ joạcx, “mở toang một thế giới khác của thơ ca, thế giới của nhục dục”[70;8] Nhưng trong tác phẩm “thơ – tiểu thuyết một bè đệm này,” [70;8] Phố được

chọn làm một trong bốn địa điểm chính, đặc biệt có mặt ở hai thiên X và XV

Thuận cũng cho rằng, “Những ngã tư và những cột đèn” được viết một năm sau, cũng lànơi gặp gỡ của Phố “Ám ảnh của Phố sẽ chẳng bao giờ chấm dứt

trong ông, giống như một món nợ truyền kiếp, giống như khao khát, về một tuổi thơ chẳng bao giờ quay lại, về một vẻ đẹp chẳng bao giờ với tới mà từ

“Cổng tỉnh” nhà thơ đã nghiệm trước cho mình” Sổ bụi 1989 gồm những ghi

chép cuối cùng của Trần Dần Có thể đọc được ở đây những dòng xúc động

Trang 8

của con người đã gần về “ga cuối” của đời vẫn dành những dòng xao xuyến nhất cho Phố: “Hoa soi ? hoa sói Hoa sòi Hoa khói? ga cuối của lòng? tim

cuối? hai bàn chân cuối? đây rồi phố cuối? – khóc đi thôi?”

Từ việc điểm lại những sáng tác của Trần Dần, Thuận kết luận “Nỗi

niềm Phố của Trần Dần chỉ có thể ví với sự tận tâm mà Bùi Xuân Phái trong công cuộc tìm kiếm hội họa đã dành cho Phố” [70;11] Trong đó đáng kể đến

là kết luận: Với Trần Dần, “Phố chính là Thơ” Phố là sự lên tiếng của con

người hoài nghi

Nhà phê bình Thụy Khuê, ở tiểu luận “Trần Dần – mỹ học đau khổ”

cũng dành khá nhiều trang viết khám phá hình ảnh phố trong tác phẩm

“Cổng Tỉnh” Trên nền tảng khẳng định có một mỹ học khổ đau trong sáng

tác Trần Dần, Thụy Khuê coi Cổng Tỉnh là “một liên khúc bi đát: đói, đau,

cùm, xích vượt thời gian theo đuổi mãi con người”[38; 17] “Cổng tỉnh” là

những chân dung hôm qua và hôm nay, chập vào nhau như hai giọt nước: chân dung người, chân dung chó, chân dung phố, chân dung gió, chân dung mưa, chân dung bom, chân dung thành phố, chân dung lãnh tụ Từ đó, ông đặc biệt nhận diện, lí giải thành phố trong “Cổng Tỉnh” như một thân phận,

như một thế giới khổ đau, hỗn loạn: “Thành Nam trong Cổng tỉnh, được

dựng nên bằng những chân dung hôm qua và hôm nay như thế: những chân dung hò hét của bom đạn chiến tranh; những chân dung rên la, đói rét, chết lịm, của con người; những chân dung anh hùng, đồng chí; những chân dung nhà lao, cùm xích; những chân dung im lìm rũ xuống, những chân dung gậy gộc đứng lên; những chân dung hoan hô, đả đảo trên một bản đồ chằng

chịt phố: những con phố Dần ” [38] Người viết cho rằng “nếu có một phố

Phái trong hội hoạ thì cũng có phố Dần trong Cổng tỉnh - những con phố

sinh ra, lớn lên, đứng dậy mà đi như người, những con phố vàng úa, chết già, những con phố thanh xuân chết yểu, những con phố trúng đạn, bị

Trang 9

thương, những con phố què quặt, những “con phố hoang có ngọn đèn thắt

cổ.” [38;19] Nhận diện này đã bước đầu chỉ ra Trần Dần đã kiến tạo một

thành phố theo ý niệm mỹ học khổ đau: “Phố Dần cũng sinh ra, lớn lên,

trưởng thành”, yêu đương, tàn tạ, đổ nát Phố Dần cưu mang cả một thời

trong Cổng tỉnh Phố Dần muôn mặt, đầy hình sắc, đầy tâm sự, đổ ngược đi

xuôi, phổ phận vào những sinh linh như ta phổ nhạc

Đồng thời trong tiểu luận này, nhà phê bình Thụy Khuê cũng chỉ ra

những phương thức mà Trần Dần sử dụng để tạo nên “chuyển động Phố”, gương mặt phố trong tiểu thuyết này: “Để lập chuyển động phố, Cổng tỉnh

chôn vùi chữ cũ, ăn mừng chữ mới, tạo những chữ sơ sinh, trần truồng, chưa mặc áo lọt lòng, chưa ô nhiễm bụi bậm Cổng tỉnh mở ra, về phía tỉnh, đánh thức kho ngôn từ bất tận đang ngủ yên trong mỗi con đường, mỗi hàng cây, mỗi phố, mỗi nhà, của một cõi nhân sinh chưa ai tìm đến.” [38; 21] Ông

cũng nhận thấy vai trò của nhân vật trữ tình trong việc kiến tạo một không

gian đầy ẩn ức thân phận: “Nhà thơ đi trong Cổng tỉnh, vừa đi vừa kể chuyện

đời người, đời phố, kể những cô đơn, bất hạnh, trong chiến tranh, đói khát, trong cách mạng vùng lên, trong con người đổ xuống, dầm trong mưa máu Phố Dần cũng chuyển động theo người.” [38;23]

Trong luận văn “Thơ Trần Dần – nhìn từ lí thuyết diễn ngôn của Michel

Foucaul”, Đinh Thị Minh Hằng khám phá những cách thức tạo diễn ngôn trong

thơ Trần Dần Từ góc nhìn của lí thuyết diễn ngôn, tác giả này đi tìm kiếm những diễn ngôn khuất lấp trong thơ Trần Dần đồng thời tìm kiếm những thủ pháp kiến tạo nên những diễn ngôn đó Luận văn chỉ ra một trong những giải pháp tạo hình

trong thơ Trần Dần là “nghệ thuật sắp đặt” Về mặt bản chất đó là cách sáng tạo

lại bản thân hình tượng trong những kết hợp mới để tạo ra những ý nghĩa tạo sinh, khả nhận cho chính hình tượng Tác giả luận văn đặc biệt lí giải sâu về cách thức tạo hình thực thể nghệ thuật Phố, hình tượng xuyên suốt sáng tác thơ của Trần

Trang 10

Dần Phố luôn được sắp đặt trong những kết hợp lạ hóa Trên cơ sở phân tích những kết hợp, sắp đặt mới lạ giữa thực thể Phố và những kiến trúc ngôn từ khác, người viết tìm kiếm những ý nghĩa sáng tạo mới của hình tượng phố: Phố là

không gian, Phố là cả đời sống tâm trạng “Phố là kí ức, là tâm trạng, là Tôi trong

trạng thái nguyên bản nhất, sâu kín nhất” [26; 93] Kết luận quan trọng nhất của

luận văn khi khám phá Phố từ góc nhìn nghệ thuật sắp đặt đó là: “minh chứng

cho quan niệm sáng tạo thơ, không lặp lại mình của Trần Dần”,“Những cách kết hợp ấy đã xóa đi ý nghĩa, tính chất mặc định ban đầu của sự vật, chỉ còn lại hình ảnh trong kết hợp tự thân của nó, vào thời thời điểm đó, được hiểu với ý nghĩa như thế Với ý nghĩa này hoàn toàn có thể thay đổi khi tái kết hợp hình ảnh với các sự vật khác, hoặc đọc nó trong một tâm thức, một hoàn cảnh khác ”

[ 26;97]

Luận văn Tiểu thuyết Trần Dần (Khảo sát qua Cổng tỉnh, Những ngã

tư và những cột đèn) của Nguyễn Thị Thúy lại nhận diện những đặc trưng và

cách tân tiểu thuyết Trần Dần trên cả hai phương diện nội dung và nghệ thuật với một gương mặt hiện đại Trên cơ sở lí giải về hệ thống những biểu tượng hòa kết tạo nên cấu trúc tiểu thuyết đa thanh của Trần Dần, luận văn khẳng

định Phố là một trong những “biểu tượng đầy chất thơ”, giàu sức ám gợi

nhất Người viết chủ yếu vận dụng thao tác lịch sử để đánh giá tần số xuất hiện của biểu tượng này trong tiểu thuyết Trần Dần Song bước đầu đã nhận

diện ý nghĩa cụ thể của biểu tượng Phố trong từng tác phẩm Nếu “Phố trong

Cổng Tỉnh không phải là những con phố vô hồn, không chỉ đơn thuần là những kí hiệu ngôn ngữ, phố đã trở thành những sinh linh, có tim, óc, đột biến, dung nhan, tâm sự khác nhau” [66;83] thì trong “Những ngã tư và những cột đèn” Phố “là không gian giải thoát, không gian sinh tồn của cái tôi hiện đại”, cái tôi tự do, đa ngã của tác giả [66 ,84]

Tất cả những khám phá này đã chạm đến, nhận diện Phố là ám ảnh khôn nguôi của thơ văn Trần Dần Phố là biểu tượng đầy chất thơ Tuy nhiên

Trang 11

chủ yếu vẫn là khám phá rải rác và trên cơ sở những cảm niệm thuần túy chưa thực sự lí giải từ những căn cứ khoa học.

3 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là Phố trong tiểu thuyết Trần Dần dưới lí thuyết diễn ngôn của M.Foucault Từ góc độ này chúng tôi tìm hiểu Phố như một diễn ngôn, một văn bản được thiết lập với một chiến lược giao tiếp trong một khung tri thức văn hóa có tính cá biệt của nhà văn và nhằm kiến tạo một hệ giá trị riêng, đối thoại với đương thời

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Luận văn khảo sát 2 tác phẩm chính của Trần Dần giai đoạn:

- Cổng tỉnh (Thơ – tiểu thuyết (Dạ khúc trường thiên)- 1959) NXB Hội

nhà văn, Hà Nội, 1994

- Những ngã tư và những cột đèn (tiểu thuyết), NXB Hội nhà văn, 2010.

Ngoài ra, chúng tôi còn mở rộng khảo sát thêm một số sáng tác khác của nhà văn – nhà thơ Trần Dần và một số sáng tác của nhà văn khác cùng thời

- Trần Dần ghi (1954 - 1960), Biên tập và hiệu đính Phạm Thị Hoài,

Xuất bản tdmémoire, Paris 2001

- Trần Dần Thơ, NXB Đà Nẵng, Đà Nẵng, 2008.

- Đi, Đây Việt Bắc (Hùng ca – lụa - 1957), NXB Hội nhà văn, 2009

- Người người lớp lớp (Tiểu thuyết- 1954), NXB Kim Đồng, 2009

4 Phương pháp nghiên cứu

Ngoài các phuơng pháp phổ biến trong nghiên cứu khoa học, luận văn sử dụng tổng hợp các phương pháp, trong đó chú trọng đến các phương pháp sau:

- Phương pháp thống kê: Đây là phương pháp quan trọng, dựa vào những khảo sát cụ thể để chứng minh cho những nhận định, đánh giá Chúng tôi xác

định và thống kê các kí hiệu, tín hiệu Phố trong hai tập tiểu thuyết Cổng tỉnh,

Những ngã tư và những cột đèn cùng với tần số xuất hiện.

- So sánh đối chiếu: Phương pháp so sánh được chúng tôi vận dụng trong quá trình xác lập dòng mạch diễn ngôn Phố để làm rõ tính chất kiến tạo

Trang 12

của những diễn ngôn này đồng thời thấy được sự song song tồn tại, liên tục tương tranh của những ý thức hệ ngầm ẩn đằng sau các diễn ngôn Đồng thời soi chiếu, đối sánh hình tượng Phố qua các diễn ngôn chính thống và bên lề

để tìm hiểu những trật tự thay đổi; đối chiếu con người thị dân trong kiến tạo diễn ngôn phố của Trần Dần với các diễn ngôn lãng mạn hoặc diễn ngôn sử thi để tìm ra sự tương đồng và khác biệt giữa các đối tượng

- Liên ngành: Từ việc ý thức được những tác động của văn hóa, lịch sử đối với sáng tác của một nhà văn, chúng tôi vận dụng phương pháp liên ngành Theo đó, tác phẩm của Trần Dần được đặt trong tương quan với nhiều ngành nghiên cứu để tìm ra đặc trưng của đối tượng: Tìm hiểu bối cảnh văn hóa lịch sử để thấy được những tác động của hoàn cảnh lên nhãn quan của tác giả; tìm hiểu khái niệm về Phố từ góc nhìn lịch sử văn minh, kiến trúc, đô thị học, xã hội học để xác định vấn đề cơ bản của Phố; tìm hiểu văn học, hội họa,

âm nhạc, báo chí để khám phá những kiến tạo về Phố trong tương tác với những sáng tác của tác giả… Đây là phương pháp được sử dụng khá thường xuyên do luận văn đi theo hướng nghiên cứu văn hóa – văn học

- Phương pháp tổng hợp: Phương pháp này được sử dụng để hình thành những xu hướng chung trong diễn ngôn phố cùng thời kì cũng như định hình diện mạo phố trong tiểu thuyết của nhà văn

- Phương pháp thi pháp học: Do luận văn sử dụng lí thuyết diễn ngôn của Foucault làm điểm tựa để nghiên cứu, một lí thuyết tiếp cận văn bản từ cái nhìn bên ngoài vì thế việc sử dụng phương pháp thi pháp học, phương pháp phân tích văn bản từ góc độ cấu trúc nhằm có những bổ trợ cho quá trình bóc tách văn bản được thấu đáo hơn

5 Đóng góp của luận văn

- Trên cơ sở phân tích diễn ngôn phố ở tiểu thuyết Trần Dần, chỉ ra

Trang 13

những cơ chế, quy luật kiến tạo ý niệm hiện đại về thành phố cũng như về con người thị dân, chúng tôi muốn khẳng định vị trí cũng như đóng góp của Trần Dần đến đối với quá trình hiện đại hóa văn học Trần Dần là người đã giữ vai trò nối tiếp một dòng văn chương đô thị tưởng chừng đứt đoạn từ tiền chiến trong suốt thời đại sử thi.

- Lí giải những khung tri thức – quyền lực hình thành diễn ngôn phố ở tiểu thuyết Trần Dần nhằm thấu hiểu bi kịch của nhà văn và những đóng góp cũng như tư tưởng của nhà văn

6 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Các khái niệm chính và lược sử về diễn ngôn Phố trong văn học

Việt Nam hiện đại

Chương 2: Kiến tạo những ý niệm hiện đại về thành phố

Chương 3: Ý niệm về thị dân

Trang 14

NỘI DUNG

Chương 1

CÁC KHÁI NIỆM CHÍNH VÀ LƯỢC SỬ VỀ DIỄN NGÔN PHỐ

TRONG VĂN HỌC VIỆT NAM HIỆN ĐẠI

1.1 Nhận thức khái niệm

1.1.1 Khái niệm diễn ngôn của M.Foucault

Diễn ngôn là thuật ngữ được sử dụng thường xuyên nhất trong công trình nghiên cứu của M.Foucault Thuật ngữ này được Foucault hiểu không đồng nhất Với quan niệm chân lí không phải số ít, M Foucault không chủ trương giới

hạn khái niệm trong một trường nghĩa duy nhất: “Thay vì giảm dần các nét

nghĩa đã khá mơ hồ của từ diễn ngôn, tôi tin rằng thực tế tôi đã bổ sung thêm ý nghĩa của nó: lúc thì tôi coi nó như khu vực chung của tất cả cả lời phát biểu, lúc thì coi nó như một nhóm các lời phát biểu cá thể hóa, và đôi khi lại xem nó như một thực tế được quy ước tạo nên vô số các lời phát biểu” [82] Dựa vào

phát biểu này có thể thấy M Foucault đưa ra ba cách hiểu về diễn ngôn

Theo nghĩa rộng nhất, ông hiểu diễn ngôn (discourse) là “một tập hợp

các nhận định, đánh giá nói chung, hoặc nhóm nhận định đánh giá đã được

cá thể hóa, hoặc thực tiễn các đánh giá, nhận định nói chung được tạo ra mang một ý nghĩa và có hiệu lực nào đó đối với thế giới hiện thực” [82] Cách

hiểu này của Foucault phản ánh nhận thức của ông về mối quan hệ hai chiều giữa diễn ngôn và hiện thực Foucault không phủ nhận thực tế khách quan nhưng khẳng định ý nghĩa của thực tế khách quan ấy chỉ có được thông qua diễn ngôn Đồng thời nó đặt ra vấn đề: liệu con người có tư duy không hay bị chính các diễn ngôn dẫn dắt Mặc dù ở định nghĩa này, Foucault chưa có gì đột phá nhưng rõ ràng đã đặt ra được vấn đề diễn ngôn có quyền lực nhất định trong việc dẫn dắt tri thức, tư duy của con người Nó không thuần túy là cái

vỏ phản ánh hiện thực, phản ánh nhận thức

Trang 15

Cách hiểu thứ hai, ông hiểu diễn ngôn “là một nhóm các nhận định,

đánh giá được cá thể hóa, nghĩa là các phát ngôn có thể được phân loại vào một nhóm, ví dụ diễn ngôn về nữ tính, diễn ngôn về phân biệt chủng tộc”

[82] Cách hiểu diễn ngôn này lại chỉ ra một thực tế trong quá trình lưu thông,

có diễn ngôn được khẳng định, được trợ giúp phổ biến nhưng có những nhóm diễn ngôn không được phổ biến cũng như lựa chọn Có sự bất cần bằng trong việc sản sinh cũng như lưu thông các diễn ngôn Nơi nào có trấn áp nơi đó có diễn ngôn Chẳng hạn diễn ngôn nữ quyền sinh ra khi xã hội có vấn đề bạo lực nam quyền Mặt khác, định nghĩa này cũng đặt ra một vấn đề: mỗi diễn ngôn luôn đòi hỏi được thừa nhận trong một tinh thần đối thoại Có diễn ngôn chủ lưu và có diễn ngôn bên lề Chúng ta thừa nhận sự tồn tại các diễn ngôn đối lập đương nhiên chúng ta sẽ chấp nhận việc có nhiều chân lý Đồng thời

nó chỉ ra một nguyên tắc đọc diễn ngôn phải nhận thấy tinh thần đối thoại trong đó Diễn ngôn tính dục sinh ra trên cơ sở khoa học nhưng nó nhằm hướng tới đối thoại với diễn ngôn đạo đức đã cấm kị nó

M Foucault còn đưa ra cách hiểu thứ ba về diễn ngôn:“Diễn ngôn

được xem như một hành động có tính quy ước nhằm tạo nên các statement – nhận định.” Hay nói cách khác diễn ngôn là “cách mà các phát ngôn, nhận định, đánh giá nhất định được tạo nên trong thực tế.” [82] Định nghĩa thứ ba

cho thấy Faucault nhận ra luôn có một quy tắc, cơ chế tạo sinh, điều chỉnh, phân phối, lưu thông diễn ngôn Diễn ngôn không đơn thuần là phát biểu, là ngôn ngữ dù ở dạng tĩnh hay động Nó là một kiến tạo Ông đặc biệt quan tâm đến cái cách mà diễn ngôn ấy được hình thành, lựa chọn và phát tán Rộng hơn ông quan tâm đến thời điểm, phương thức nào mà diễn ngôn đó được phổ biến còn diễn ngôn khác thì không Như vậy, định nghĩa này chính là một định hướng trong việc nghiên cứu những tác phẩm văn học ở những thời điểm lịch sử có vấn đề và quan tâm tới việc lí giải vì sao văn bản trở thành tác

Trang 16

phẩm văn học Lý giải sự tồn tại bất bình đẳng của việc lưu thông diễn ngôn, tại sao những diễn ngôn được lưu thông rộng rãi và có những diễn ngôn thì bị hạn chế, M Foucault đưa ra một bằng chứng về sự phát tán, truyền bá của Kinh thánh ở phương Tây Nhà bình luận chính trị có trích dẫn kinh thánh để minh họa cho quan điểm, luận điểm của họ Các trường đại học có chuyên khoa nghiên cứu Kinh thánh Các tạp chí chú ý đăng tải những ý kiến về kinh thánh Đó chính là dung môi, là cách thức hỗ trợ để diễn ngôn Kinh thánh được phổ biến, lưu truyền trong phạm vi toàn xã hội và tạo ra một quyền lực nhất định đến đời sống tinh thần phương Tây Trong khi đó nhiều diễn ngôn tôn giáo khác không được lưu hành và cũng không được hỗ trợ có tính hệ thống như Kinh Thánh Một ví dụ khác, trong giai đoạn 1945 - 1975 diễn ngôn sử thi đóng vai trò chính thống, các vấn đề cộng đồng được đặt lên hàng đầu, đương nhiên nó đẩy những vấn đề cá nhân sang diễn ngôn dòng ngầm Trong bối cảnh này, các vấn đề nông thôn, người nông dân được đặt ra như một nhu cầu cách mạng, báo chí, văn học nghệ thuật đều hướng tới tụng ca, khẳng định sức mạnh của người nông dân Đường lối văn nghệ của Đảng với

tiêu chí “đại chúng hóa” văn nghệ, đến sự hỗ trợ của báo chí, từ báo Nhân

Dân, báo Cứu Quốc, đã hợp thành một cơ chế tạo nên một diễn ngôn về thôn dân, làng quê trong suốt thời đại Nó được thể hiện ra ở ngôn ngữ biểu tượng, ngôn ngữ lời nói Những biểu tượng búa liềm, những panô, áp phích cổ động luôn khắc tạo hình ảnh của người nông dân vùng dậy Văn chương cũng kiến tạo hình tượng quần chúng lao động một cách sôi nổi, nhiệt thành Trong môi trường đó, các vấn đề của giai tầng tư sản, tiểu tư sản, đi đôi với nó là đời sống đô thị trở thành tiếng nói bên lề yếu ớt hoặc tắt dần

Như vậy, cách hiểu trên cho chúng ta nhận thấy diễn ngôn luôn có một mối quan hệ nhất định với quyền lực nó được hình thành từ quyền lực và có

khả năng sinh tạo quyền lực Theo Sara Mill, trong tác phẩm “lịch sử tính

dục”, Foucault đã tuyên bố:“diễn ngôn lúc là công cụ quyền lực lúc chống

Trang 17

đối lại quyền lực” [82] Diễn ngôn chuyển tải và sản sinh quyền lực Trong

“Cấu trúc diễn ngôn”(1981), Foucault nhấn mạnh việc không nên coi diễn

ngôn đơn thuần chỉ là một tập hợp các nhận định, phát ngôn có tính mạch lạc

mà nên nhìn nhận nó một cách sống động qua các cách mà các nhận định, phát ngôn được đưa vào đời sống, hoặc các quy tắc phân biệt phát ngôn này

Ở “Khảo cổ học tri thức”(1972), Foucault cũng nhấn mạnh rằng diễn ngôn

có liên hệ nhất định với sức mạnh quyền lực Tuy nhiên cần lưu ý, Foucault

chỉ ra cái cơ chế chi phối diễn ngôn khác với khái niệm “hệ tư tưởng” của

nhiều nhà lí luận Mác xít Bởi lẽ, theo Foucault diễn ngôn không đơn thuần là

sự áp đặt một hệ thống tư tưởng lên các cá nhân Đôi lúc diễn ngôn là công cụ của quyền lực, lúc lại chống đối quyền lực Nó chuyển tải và cũng đồng thời sinh sản quyền lực Điều này có nghĩa là diễn ngôn vừa là công cụ áp bức vừa

là công cụ phản kháng Trong tác phẩm “cấu trúc diễn ngôn”, Foucault mô tả

quy trình hình thành diễn ngôn - khung tri thức và quyền lực trong quá trình bao gồm các bước: loại trừ ngoại vi; loại trừ bên trong Trên cơ sở đó, nhà nghiên cứu này chỉ ra mối quan hệ giữa tri thức và quyền lực trong việc kiến tạo nên các diễn ngôn

Tóm lại, quan điểm của Foucaut về diễn ngôn linh hoạt song từ góc nhìn nào cũng thấy cách hiểu của ông rộng mở, có tính đối lập so với cách hiểu nghiêng về cấu trúc học của F.Saussure về ngôn ngữ Với Foucault, diễn ngôn không chỉ là ngôn ngữ Nó được hiểu như một phát ngôn Chỉ có thể hiểu được đầy đủ ý nghĩa của khi đặt nó và hoàn cảnh, chiến lược giao tiếp trong mối quan hệ tương tác với người phát ngôn và người tiếp nhận Nếu chỉ dừng ở ngôn ngữ nghĩa là chỉ quan tâm đến nghĩa và cái biểu nghĩa Tách rời ngôn ngữ ra khỏi trường phát ngôn không thể có thể thấy hết bản thân đời sống Nói cách khác, nếu F.Saussure nhìn ngôn ngữ từ bên trong thì Foucault

đề xuất một cách nhìn từ bên ngoài vào bản thân ngôn ngữ Khi hướng ngoại

Trang 18

là phương pháp sẽ thấy sự hình thành, lưu thông, phát tán của diễn ngôn không hoàn toàn tự nhiên Nó là sản phẩm của lịch sử, trước sau nó là một kiến tạo Và ngôn ngữ chỉ là một phần của diễn ngôn Do đó, quan niệm của Foucault về diễn ngôn đưa ra nhiều gợi ý cho nghiên cứu khoa học xã hội Văn bản không phải là căn cứ duy nhất để hiểu các thông điệp Nó đòi hỏi chúng ta phải nhìn văn bản rộng hơn trong một trường diễn ngôn có người nói người nghe, có chiến lược phát ngôn để kiến tạo những thông điệp với một ý thức phát tán quyền lực.

Hướng nghiên cứu diễn ngôn của M Foucault có sự gặp gỡ với hướng nghiên cứu diễn ngôn của M Bakhtin Trong một số công trình nghiên cứu của Bakhtin như: Diễn ngôn sinh hoạt và diễn ngôn nghệ thuật, Thi pháp tiểu thuyết ta thấy ông rất linh hoạt khi gọi tên đối tượng nghiên cứu liên quan đến ngôn ngữ Khi thì ông quan tâm đến hoạt động nói/ viết thực tiễn Khi thì ông gọi là văn bản Hay trong Bakhtin trong công trình mấy vấn đề về thi pháp

Dostoievxki ông sử dụng thuật ngữ ngôn từ/ lời văn, trong công trình “Mĩ học

sáng tạo ngôn từ”, ông đặt ra vấn đề thể loại lời nói Cách sử dụng thuật ngữ

của Bakhtin đã cho thấy không đồng nhất diễn ngôn với ngôn ngữ Theo ông ý nghĩa của diễn ngôn, phương thức diễn ngôn không chỉ do cấu trúc ngôn ngữ hay do cá tính người phát ngôn quy định mà còn do ngữ cảnh, các quan hệ lời nói quy định Như vậy, vì là nhà tư tưởng, nhà triết học nên quan niệm, phương thức nghiên cứu về diễn ngôn của M.Bakhtin hay của M.Foucaul đều ở góc độ quan hệ xã hội, nhận thấy ngôn ngữ là sản phẩm của tư tưởng hệ, hoàn cảnh lịch sử, khung tri thức của con người, thiết chế quyền lực

Tóm lại, diễn ngôn được nhìn nhận là một thuật ngữ tổng thể bao gồm các biểu đạt, quy tắc hình thành nên những biểu đạt đó cũng như quá trình truyền đạt chúng và loại trừ những biểu đạt khác Luận văn vận dụng linh hoạt khái niệm diễn ngôn của M Foucaut Song đặc biệt chú ý sử dụng cách hiểu thứ ba

Trang 19

của Foucaut để tìm hiểu Phố vừa như một diễn ngôn được cá thể hóa Đó là một diễn ngôn văn học nhưng nó là sản phẩm của một sinh thái xã hội, lịch sử văn hóa và đầy ắp tư tưởng hệ Chúng tôi chú ý tìm hiểu lí giải, tìm hiểu khung tri thức, hệ tư tưởng đã tác động, dẫn lối góp phần kiến tạo nên diễn ngôn phố của Trần Dần Đó cũng là hành trình tìm kiếm câu trả lời về sự hạn chế lưu thông của diễn ngôn Trần Dần trong lịch sử Với mục đích đó chúng tôi hi vọng có được những nhận xét đúng đắn về giá trị văn học của Trần Dần.

1.1.2 “Thành phố như một văn bản”

- Phố/ đô thị

Theo định nghĩa từ điển đô thị “Thành phố là khái niệm được dùng để

chỉ một khu định cư đô thị có số dân lớn Thành phố đòi hỏi có một cơ chế hành chính, pháp lí và vị thế lịch sử Những vấn đề của thành phố gồm có: nhà

ở, vệ sinh, đường xá giao thông công cộng, đất đai, cư dân đô thị.” [83] Thành

phố thường liên quan đến vùng đô thị Sự phân biệt giữa thành phố và đô thị có

tính chất tương đối Thành phố là điểm xác định còn đô thị chỉ cả một khu vực song tính chất giống nhau Một thành phố bao giờ cũng là một đô thị Đôi khi vùng đô thị có thể có hơn một thành phố Khi một thành phố mở rộng đủ xa để đến một thành phố khác, khu vực này có thể được coi là một siêu đô thị Trong

từ điển tiếng Việt thành phố, thành thị, đô thành, thành thị gần như trùng khớp

với nhau về nghĩa, đều chỉ khu vực tập trung dân cư quy mô lớn, là trung tâm

thương nghiệp và có thể cả công nghiệp Riêng chữ đô thành là cách gọi cũ

hơn giành cho thành phố được lựa chọn làm kinh đô, thủ đô

Triết giải những khái niệm này cho phép chúng tôi dùng khái niệm phố khái niệm đô thị linh hoạt trong luận văn

- “Thành phố như một văn bản.”[78]

Hiện nay, nhiều nhà nghiên cứu hiện nay xem phố như là một văn bản được cấu thành bởi một cấu trúc vật chất và một thông điệp xã hội Trong đó

Trang 20

việc viết nên ý nghĩa của các thành phố chủ yếu là các diễn ngôn nghệ thuật, thi ca Trong tiểu luận thành phố và thơ ca, tác giả Anneli Mihkelev đã lược thuật lại các ý kiến suy tư về thành phố Đáng kể là một số ý kiến sau:

-Marie Klapp cho rằng “kí hiệu đô thị là sự sáp nhập của một thông

điệp xã hội vào cấu trúc vật chất của đô thị” [78;2].

-Vladimir Toporov thì chỉ ra hai văn bản cơ sở của “văn bản thành

phố”: “cái thứ nhất được định hình bởi những văn bản văn học cụ thể viết về

thành phố, cái thứ hai dựa trên vật liệu và văn hóa tinh thần, những vật liệu

tự nhiên và lịch sử.” [78;2]

Những cách hiểu này đều chỉ ra một thành phố không chỉ tồn tại trên dạng thức vật chất với các công trình kiến trúc cụ thể, hay biểu hiện ra ở đời sống đô thị mà còn là những ý niệm về thành phố được kiến tạo bằng ngôn từ, tồn tại như một tri thức, một quyền lực trong tâm thức người đọc Ví như có một Hà Nội đã thay da đổi thịt quay cuồng theo đời sống kinh tế thị trường nhưng cũng đồng thời có một Hà Nội như mảnh đất kinh kì, hào hoa thanh lịch còn tồn tại nguyên vẹn gần như chưa bao giờ phôi phai trong tâm thức những người yêu Hà Nội Hay ý niệm một Paris mục ruỗng, trụy lạc trong cảm quan hiện thực của những người như Banzac, Standal chưa bao giờ có thể phế truất một Paris hoa lệ, gợi tình được tạo sinh bởi các diễn ngôn lãng mạn trong lòng người yêu mến Paris

Do đó, từ khi có thành phố thì cũng có một dòng văn học về đô thị Và khái niệm thành phố, đô thị liên tục được viết lại, tái tạo dịch chuyển theo thời gian và không gian Thành phố được hình thành với nhu cầu định cư chống lại

du cư, do đó khởi thủy nó đã mang nghĩa là một trật tự nhân tạo, ổn định, kháng cự lại trật tự tự nhiên Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới, thành phố,

đô thành thường “được kiến tạo ở điểm trung tâm của thế giới, chúng phản

ánh trật tự trên trời và tiếp nhận ảnh hưởng của trật tự đó” [8; 307] Nên

Trang 21

thành phố có thể là biểu tượng của quyền lực trung tâm Ý niệm này gắn với hình ảnh thành Heliopolis nguyên thủy - thành phố mặt trời, Salem - thành quốc hòa bình Nhưng phân tâm học hiện đại lại cho rằng thành thị là một trong những biểu tượng của người mẹ, với hai khuôn mặt chở che và giới hạn Thành thị quan hệ thân thuộc với giới nữ Cũng như phụ nữ có những đứa con, đô thị có những cư dân của mình Sách Tân Ước, thư gửi những người

dân thành Galatie có ghi: “thành Jerusalem ở trên cao là tự do và đấy là mẹ

của chúng ta; vì đã có lời chép: Hãy vui mừng lên, hỡi kẻ vô sinh, chưa hề biết sinh hạ, hãy thét lên vì sướng vui ” [37 ] Nhưng cũng có thành phố lại

tượng trưng cho một thực thể tôn giáo chứ không phải thực thể chính trị Sách khải huyền của Tân ước nhìn nhận Ba-by-lon lớn như một người đàn bà ác tà

Một trong bảy thiên sứ có bảy cái chén đến nói với tôi Hãy đi cùng tôi, tôi sẽ cho anh thấy ả kỹ nữ lừng danh ngồi trên nhiều dòng nước bị phán xét như thế nào Người đàn bà mà anh thấy tượng trưng cho thành lớn cai trị các vua trên đất”.[37] Cứ thế trải qua nhiều giai đoạn lịch sử ý niệm về thành phố đã

biến chuyển rất nhiều, không thuần nguyên mang tính vật chất nữa

Như vậy, thành phố liên tục được kiến tạo lại trong các diễn ngôn dưới

áp lực của tri thức- quyền lực nhất định

1.2 Diễn ngôn phố trong văn học Việt Nam hiện đại

Hiểu thành phố là một ý niệm được kiến tạo dưới một khung lịch sử, tư tưởng hệ nhất định, cho nên chúng tôi nhận thấy cần thiết phải khảo sát tìm hiểu dòng chảy diễn ngôn phố trong lịch sử văn học hiện đại để tìm hiểu hành trình, quy luật nó được vận hành Tuy nhiên luận văn chỉ tập trung khảo cứu dòng chảy diễn ngôn đô thị, phố từ đầu thế kỉ XX Vì thực sự Phố mang tính hiện đại có lẽ chỉ thực sự xuất hiện ở giai đoạn thế kỉ XX gắn liền với sự xác lập của văn minh phương Tây trên đất Việt Đồng thời đây mới là trường lực

có ảnh hưởng, tương tranh và liên hệ ở mức độ nhất định đến diễn ngôn phố của Trần Dần

Trang 22

1.2.1 Chặng nửa đầu thế kỉ XX

- Hoài niệm kẻ chợ, kinh kì

Trong văn học truyền thống, thành phố hiếm khi là một sự lựa chọn hàng đầu cho sáng tác của các nhà văn Việt Nam cho đến đầu thế kỷ 20 Đây

là một đặc điểm rất trái ngược với văn học Phương Tây Ở các nước Phương Tây, hành trình đô thị hóa diễn ra nhanh chóng, văn minh đô thị đã trở thành lịch sử của chính bản thân đất nước Do đó diễn ngôn phố trở thành một dòng chảy trung tâm của văn học phương Tây Chẳng hạn nói về văn học đô thị Hoa Kì, có thể điểm qua những gương mặt hiện đại từ Francis Scott Fitzgerald của New York, đến Nathaniel West của Los Angeles, và hai đại diện hậu hiện đại là Thomas Pynchon, Paul Auster Trong khi đó, ở Việt Nam, không gian văn học Việt Nam đã có xu hướng đồng quê hóa Dòng chủ lưu trong văn chương Việt Nam khởi nguồn từ ca dao dân ca đến nay là khung cảnh làng quê gắn với hình ảnh con người thôn dân Điều này là một tất yếu vì Việt Nam vốn là đất nước nông nghiệp, cuộc sống hình thành gắn với bờ bãi của những dòng sông Điều kiện địa lí này không cho phép sự xuất hiện của những đô thị Trần Đình Hượu lí giải không gian văn hóa làng bám chặt ở người Việt Nam là một căn nguyên để đô thị xuất hiện muộn Khi dân

di chuyển cư, ngay kể cả ngày nay trong việc hình thành kinh tế mới “bao

giờ cái làng cũ cũng đi theo bà con và cuối cùng đến nơi thì người ta cũng lặp lại cái làng y như cũ”, “đến vùng đất mới họ sẽ lập lại toàn bộ cái cũ và tên gọi đúng như vậy”.[ 35; 254] Do đó, trong quá khứ đã hình thành thành

thị Nhưng Thành không đồ sộ và kiên cố Thị thường chỉ là những dãy phố

Và thị dân, hôm trước còn là thôn dân, dựng nhà sát kề để làm hàng và bán hàng, chung sống trong hình thái cư dân đặc thù là sự chuyển tiếp từ thiết chế làng sang thiết chế đô thị Thị rèn đúc nếp sống của thị dân, đa phần là tiểu thương Thị thành ấy đổ bóng trong văn chương qua hình ảnh của một kinh đô

Trang 23

Thăng Long ám ảnh trong thơ Hồ Xuân Hương, trong thơ ca Nguyễn Du Nhưng đó chưa thực sự là Phố.

Đô thị chỉ thực sự đặt dấu ấn rõ ràng ở Việt Nam ở đầu thế kỉ XX, cùng với cuộc khai thác thuộc địa của thực dân Pháp Đô thị hình thành từ Bắc chí Nam: Thành Nam - Nam Định, Hà Nội, Phố Hiến, Hội An Kéo theo sau sự hình thành của đô thị, là sự biến đổi của cơ cấu các giai tầng trong đời sống

xã hội Xã hội Việt Nam xuất hiện tầng lớp thị dân, tư sản, tiểu tư sản thành thị - chủ thể làm nên những diễn ngôn đô thị Đó là thời điểm người dân thành thị Việt Nam nhận thức rõ mình đang sống trong một thời đại của những đổi thay to lớn, một thời đại trong đó quá khứ và “truyền thống” tương phản rõ rệt

với hiện tại và “hiện đại”, một thời đại phương tiện liên lạc và giao thông, cơ

sở hạ tầng, cách biểu đạt đều đang thay đổi chóng vánh

Ở ngoài Bắc, việc người Pháp hoàn toàn giành được quyền bảo hộ đối

với Bắc kì và xây dựng Hà Nội thành “nơi đặt trụ sở của chính quyền bảo

hộ” (từ năm 1885) và chính quyền thành phố thuộc Pháp (từ năm 1888), biến

Hà Nội trở thành thủ phủ của toàn Đông Dương (Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ, Lào, Campuchia) từ 1922 Người Pháp đầu tư xây dựng hàng loạt công trình kiến trúc, trong đó có nhiều công trình công cộng lớn Qua không gian đó, đằng sau sự khuếch trương quyền lực của chế độ thuộc địa người ta thấy thấp thoáng có bóng ảnh của Paris trong lòng Hà Nội Ít nhiều công trình kiến trúc

có tính mô phỏng những công trình ở Paris như nhà hát lớn hay Phố Tràng Tiền Đất Thăng Long từ đó giũ bỏ diện mạo kinh đô lột xác trở thành một thành phố theo đúng nghĩa Cùng với Hà Nội, Nam Định cũng được công nhận thành thành Phố năm 1921, quy mô nội thành nhỏ hơn Hà Nội, Hải Phòng nhưng một không gian đô thị đã thực sự được xác lập rõ ràng Pháp cho xây dựng trung tâm nghiên cứu tơ lụa – nhà máy Dệt lớn nhất Đông Dương (1898) tại đây cùng nhiều công trình với lối kiến trúc Pháp, khiến

Trang 24

thành Nam thay da đổi thịt: có quán hoa, nhà Kèn, nhà thờ Lớn cùng với các khu phố cổ xưa từ thế kỷ 18-19.

Gắn với sự hình thành của văn minh đô thị đời sống xã hội cũng biến đổi mạnh mẽ Con người hôm trước là thôn dân hôm nay hóa thành thị dân cũng không khỏi ngỡ ngàng Nếp sống, đạo đức, trật tự nghìn năm nay đóng băng nay bị phá vỡ Con người sống lâu trong nếp cũ bỗng thấy mình lạc loài, thấy u hoài về cái xưa, thảng thốt trước cái mới Dòng diễn ngôn hoài niệm được xác lập trong ý thức đó, nó viết về phố nhưng bằng cái nhìn xa lạ với Phố, bằng cảm thức khước từ những giá trị hiện đại Có lẽ dòng cảm thức hoài cổ, xa lạ với văn minh phố xá đã bắt đầu từ khi Tú Xương thảng thốt nhận ra Phố đã lấp sông:

Sông kia rày đã nên đồng Chỗ làm nhà cửa chỗ trồng ngô khoai Vẳng nghe tiếng ếch bên tai Giật mình còn tưởng tiếng ai gọi đò.

(Sông lấp)

Cho đến thời hiện đại, khi đô thị đặt dấu ấn rõ ràng và mạnh mẽ, diễn ngôn hoài cổ mới đã nổi lên như một chủ lưu cự lại đô thị với những tác giả

tiêu biểu: Nguyễn Tuân với “Vang bóng một thời”, Thạch Lam với “Hà nội

băm sáu phố phường”.

Với “Vang bóng một thời”, Nguyễn Tuân “phục cổ” lại một không

gian văn hóa kinh kì gắn với lớp người tinh anh thuở vàng son nay chỉ còn là

dư tàn trong kí ức Trở về với những giá trị cổ truyền, gợi lại những cái đẹp khuất lấp, ẩn chìm thuở trước thực chất là cách Nguyễn tạo lập một diễn ngôn

“cưỡng chống lại làn sóng” văn minh vật chất phương Tây đang có nguy cơ

trùm lấp và đè bẹp bản sắc văn hóa dân tộc dưới chế độ nửa thửa dân phong kiến Đi qua mười hai truyện ngắn là lội dòng theo dấu chân một người nặng

Trang 25

lòng với cái đẹp thoát khỏi không khí đô thị “ối a ba phèng” trở về với một

Hà Nội xưa trầm mặc, cổ kính không thể bị xâm lấn bởi vàng son, gặp lại ngày xưa, người xưa Đó là thuở những ông đồ, cụ Kép lạc thời nhàn nhã chơi lan thưởng cúc, ẩm tửu với hương cuội, thả thơ, đánh thơ, cho chữ Đó là thuở người ta còn thong thả nhâm nhi một chén trà trong sương sớm Kẻ giang hồ

về dấu mình dềnh dàng trong một ván cờ chiều Ông đồ thất thế tìm thú vui nơi chiếu thơ Họ kiêu hãnh giữ lấy nếp nhà, đắm mình trong những thú chơi

văn hóa xưa để kháng cự lại một cách yếu đuối cả thực tại “Tây tàu nhố

nhăng” Nghe trong nỗi lòng của cụ Kép trong truyện Hương Cuội bao ý vị

của kẻ sĩ hiện đại Nguyễn Tuân đang hoài cổ, bảo lưu lại một Hà Nội rất xưa:

“Xưa kia, cụ cũng muốn có một vườn cảnh để sớm chiều ra đấy tự tình Nhưng nghĩ rằng mình chỉ là một anh nhà nho vào giữa buổi Tây Tàu nhố nhăng làm lạc mất cả quan niệm cũ, làm tiêu hao mất bao nhiêu giá trị tinh thần; nhưng nghĩ mình chỉ là một kẻ chọn nhầm thế kỷ với hai bàn tay không không có lợi khí mới, thì riêng lo cho thân thế, lo cho sự mất còn của mình cũng chưa xong, nói chi đến chuyện chơi hoa” [74] Tùy bút “Chiếc lư đồng mắt cua” viết về những ngày tháng phóng túng hình hài của Nguyễn Tuân

giữa năm tháng, không gian tù đọng Nhưng vượt lên trên một câu chuyện cá nhân là cả đời sống phố thị trong cuộc chuyển giao Á – Âu, cũ – mới Vẳng lên trong không khí uế tạp của đời sống phồn hoa vẫn là tiếng gọi của cái đẹp

về với quá vãng với một “tiếng còi tàu hụ, một tiếng trống chầu, một thoáng

giao mùa, một thời khắc chuyển năm” [73] Tất cả đều thức dậy một Hà Nội

rất xưa trong tình yêu tha thiết cháy bỏng của nhà Nguyễn khi mà tình người tình đời đang bị lung lạc, phôi pha cùng với cơn biến thiên của đất nước

Với “Hà Nội Ba sau phố phường”, Thạch Lam lại kiến tạo một “làng

trong phố” Điều đó có nghĩa là diễn ngôn của Thạch Lam không hoàn toàn

quay lưng lại với văn minh đô thị nhưng rõ ràng ông cũng đã nhìn thấy sự mất đi

Trang 26

dần những dáng nét cũ của Hà Nội kẻ chợ Mấy chữ phố phường trong ý niệm của Thạch Lam không hoàn toàn mang nghĩa hiện đại Nó gần như là làng hóa phố Thế nên, không hoàn toàn như Nguyễn Tuân đặt diễn ngôn của mình trong không khí thuở trước, cũng không cự lại đô thị bằng ý thức chân quê như Nguyễn Bính, diễn ngôn phố của Thạch Lam lưu giữ những vẻ đẹp thuở xưa của đất kẻ chợ giữa Phố Viết về Hà Nội Thạch Lam nhạy cảm với những đổi thay

của phố phường đúng như lời tựa của ông cho tác phẩm: “Chúng ta cũng có Hà

Nội, một thành phố có nhiều vẻ đẹp, vì Hà Nội đẹp thật, và cũng vì chúng ta yêu mến Yêu mến Hà Nội với tâm hồn người Hà Nội, cũng như người Parisien chính hiệu yêu mến Paris Trong những cuộc phiếm du – phiếm du ngoài các phố Hà Nội là cái thú vô song chỉ người Hà Nội có – ta nên chú ý đến những nét đổi thay của thành phố, nên nhận xét những vẻ đẹp cũng như vẻ xấu của phố phường, thân mật với những thú vui chơi hay những cảnh lầm than, với những người Hà Nội cũng như ta” [54;417] Có lẽ thế mà trong diễn ngôn của mình,

sự xuất hiện của những biển hàng, người ta viết chữ Tây thay cho chữ Ta, những

cái bốt trấn giữa lòng Hà Nội khiến ông bận lòng, ưu tư đến thế Giữa sự ồ ạt của biển hàng chữ Tây trưng ra ngoài Phố, Thạch Lam nâng niu vẻ đẹp còn vương

sót lại gợi “dấu vết của Hà Nội cũ”, dựng lại một không gian trầm mặc đã xa rồi

“Ngày ấy đường hẹp, chắc hàng xóm láng giềng ăn ở với nhau thân mật hơn Người cùng hàng phố tự coi mình như có một liên lạc cùng nhau Bên này một cửa hàng tạp hóa có đầy đủ quả sơn đen, có chồng giấy bản và ống bút nho, có

cô hàng thùy mị mà hàng phố vẫn khen là gái đảm đang Bên kia, nhà một ông

cụ Tú, có tiếng trẻ học vang, có cậu học trò xinh trai đứng hầu chè thầy bên tràng kỉ [54.,423] Để rồi, day dứt đau đáu khi thấy “không còn gì của Hà Nội ngoài năm sáu mươi năm trở về trước” Trước nguy cơ lạc mất những vẻ đẹp

xưa, Thạch Lam kiến tạo một thành phố đời thường qua những cuộc phiếm du,

một kẻ chợ với “quà Hà Nội” qua những gánh hàng rong: bánh cuốn ăn với chả

Trang 27

lợn béo, “cháo hoa quánh mùi gạo thơm”, “xôi nồng mùi gạo nếp”, cốm non – thứ quà của Người Hà Nội thong thả, “Phở bã của anh hàng phở áo trắng,

gilet đen, tóc rẽ mượt” Ông dẫn dụ người ta đến “những chốn ăn chơi” rất Hà

Nội, chợ Đồng Xuân, những hiệu cao lâu sang trọng Và hơn hết trong diễn ngôn của mình, ông tái hiện lại một tầng lớp thị dân – bình dân của Hà Nội kẻ chợ: cô hàng xén, cô hàng vải, cô hàng cau, bà cụ bán xôi, cô Dần hàng nước, những bác phu xe, anh bán phở dựng nghiệp nhờ phở, vướng vào chiếu bạc, rồi lại trở về với Phở Và Thạch Lam hình như ưu ái hơn với những người phụ nữ với gánh hàng rong rong ruổi khắp Hà Nội, suốt cuộc đời Với Thạch Lam đó là lớp người

lưu giữ cái đẹp của “làng trong phố”, “là nhân vật biểu hiện nhất của sự sinh

hoạt Việt Nam – dù dưới bóng đa, bên ruộng lúa, hay ở dưới mái hiên thành phố ” “Họ là người kĩu kịt đi chợ Đông, chợ Đoài kéo dài mãi phong vị bình dân và mộc mạc”[54; 459] của ba sáu phố phường, của người Việt Nam từ xửa

xưa đến giờ

- Cổ súy những giá trị văn minh

Ngay khi không gian đô thị hình thành với những tầng lớp thị dân mới, đón nhận luồng gió thời đại, những diễn ngôn được sản sinh Đó là diễn ngôn được tạo sinh trên nền không gian văn hóa đô thị, không quay lưng lại mà thừa nhận tính chất đô thị, cổ súy văn minh đô thị Chủ thể của những diễn ngôn đô thị, họ là những trí thức Tây học trên dưới hai mươi tuổi Phần lớn đều là những người học tập bài bản trong hệ thống trường Tây Họ tiếp thu một cách có hệ thống tư tưởng, mĩ học phương Tây Nếu có xuất thân Nho học thì họ cũng có tư tưởng canh tân, tiếp thu và chịu ảnh hưởng sâu sắc của văn minh, văn hóa phương Tây

Tiêu biểu cho dòng diễn ngôn này chính là những nhà văn Tự lực văn đoàn Là những người trí thức Tây học thực thụ, diễn ngôn của họ là tiếng nói say mê ánh sáng kinh thành Các nhà lãng mạn của Tự lực văn đoàn, các nhà

Trang 28

thơ Mới cùng với báo chí đương thời, nhất là qua tờ Phong Hóa – cơ quan ngôn luận của họ - đồng loạt xây dựng, phát tán những ý niệm hiện đại tiêu biểu cho đời sống đô thị: Âu hóa, văn minh, nữ quyền Tất cả hướng tới kiến tạo không gian đô thị với vẻ đẹp văn minh nhằm đối thoại lại những giá trị truyền thống, nông thôn mà chủ yếu là tàn dư của Nho học Do đó có thể tìm thấy hình ảnh một Hà Nội văn minh, thanh lịch, hào hoa đối lập với nông thôn

truyền thống ngàn đời trong sáng tác của họ Phố mà tiêu biểu là Hà Nội hiện

lên với một loạt hình ảnh chưa từng có trong nền văn học trung đại trước đây với một cảnh quan mang bản sắc đô thị hiện đại: đại lộ, những nhà ga, bến tàu, nhà hát, vườn hoa, công viên… Đó là dấu hiệu đặc trưng, đại diện cho cái gọi là văn mình đô thị Nó phản ánh chính diện mạo thực của Hà Nội đầu thế

kỉ XX với hàng loạt công trình kiến trúc mang hơi hướng phương Tây Trong

những diễn ngôn này, Hà Nội là nơi hẹn ước một cuộc sống “huyên náo và

rực rỡ ánh sáng”, là “mong ước kinh kì” (chữ của Thạch Lam) của biết bao

nhiêu người dân tỉnh lẻ Chẳng phải chính Thạch Lam trong “Hà Nội ba sáu

phố phường” đã từng khẳng định sự hấp dẫn đô thị ấy của phố phường Hà

Nội: “Hà Nội có sức quyến rũ đối với người ở nơi khác Ở những hang cùng

ngõ hẻm của làng xa hay ở những nương mật thẳm trong rừng núi, ban chiều vẫn có nhiều người ngóng về một phương trời để cố trông cái ánh sáng mờ của Hà Nội chiếu lên nền mây” (54).

Phố trong ý thức của những nhà lãng mạn như Nhất Linh, Hoàng Đạo còn là không gian tự do, dân chủ gắn với sự xuất hiện của lớp người thị dân

mới với tư tưởng mới nó đối lập quyết liệt với mảnh đất quê đầy “lề thói”

khắc nghiệt Diễn ngôn phố thị của những nhà văn lãng mạn thường kiến tạo chân dung của những cô gái tân thời, những người đàn ông lãng tử đi tìm

kiếm lí tưởng hòa hợp với không gian đô thị Tiểu thuyết “Đoạn tuyệt” của

Nhất Linh là một ví dụ tiêu biểu Tuy không dựng lên một không gian phố Hà

Trang 29

Nội rõ ràng nhưng Hà Nội luôn xuất hiện trong niềm khao khát rỡ bỏ, thoát khỏi không gian ngột ngạt bị phong tỏa bởi những cương thường nghiệt ngã

của Loan Theo suy nghĩ của Loan Hà Nội mới là nơi “lập thân” của kẻ sĩ có

tinh thần tự do Nó đối nghịch với không gian ba gian nhà chật chội nơi người đàn ông an phận thủ thường nhất nhất nghe theo lời người mẹ Và đó cũng là nơi dung thứ cho tình yêu mới như Loan và Dũng Hơn một lần Nhất Linh để cho nhân vật Loan – hiện thân của người con gái kiểu mới được ăn học tử tế

hối thúc ra đi, hướng về Hà Nội (với người chồng) “Cậu đã nghĩ kĩ chưa ?

Nghĩ đến việc ra Hà Nội buôn bán như tôi đã nhiều lần nói với cậu” [55 ]

Và mỗi lần Loan cảm thấy bế tắc Loan cũng chỉ còn biết ra phố để tìm thấy một chút tự do, thanh thản của chính mình

Nguyễn Huệ Chi có khái quát điểm mấu chốt trong tôn chỉ nghệ thuật của Tự Lực văn đoàn trên ba phương diện: văn học, tư tưởng, xã hội, con người Trong đó ông nhấn mạnh những tôn chỉ về văn học và con người như

sau: “Tiếp thu phương pháp sáng tác của châu Âu hiện đại để hiện đại hóa

văn học dân tộc”; “Lấy việc giải phóng cá nhân làm trung tâm điểm của mọi sáng tác” [84] Thiết nghĩ, chỉ căn cứ vào đó có thể lí giải việc hiện tồn một

diễn ngôn phố, diễn ngôn đô thị với ý thức cổ súy là hoàn toàn hợp lẽ ở Tự lực văn đoàn

- Cưỡng chống lại đô thị

Chạy song song trong diễn ngôn cổ súy đô thị, phố phường như một giá trị văn minh còn có một diễn ngôn phản lãng mãn được kiến tạo ngay trong lòng của các nhà lãng mạn Có thể nói, ngay những nhà văn lãng mạn như Nguyễn Tuân, Xuân Diệu, Văn Cao họ đã thoáng nhìn ra cái u ẩn tù đọng của

đô thị Đô thị hiện lên trong tâm thức họ không phải chốn phù hoa mà còn là không gian trụy lạc của kiếp sống bế tắc, trôi nổi Nó na ná với ý niệm về một

“vùng không gian trung tính” của Patrick Modiano, nơi thân phận con người

Trang 30

“trôi dạt” hư vô lang thang nơi các đại lộ, đốt thời gian và ngồi ngậm ngùi về

cuộc đời trong các quán cà phê Xuân Diệu với “Tỏa nhị Kiều ” đã gợi lại một

không gian phố hiu hắt, cá tính con người hòa loãng vào không gian phố tẻ

nhạt ấy Phan “chỉ nhíu chút da” đủ “một phần sáu nụ cười, hai nàng Kiều

ngây ngây thơ thơ, không buồn không vui “Con đường sắc xanh không rải nhựa, dãy phố lặng lẽ, gian nhà không chút đặc biệt”,“cái gì cũng lỡ cỡ”,

“mọi vật buồn lưng chừng” [55] Nguyễn Tuân và một số thi sĩ Thơ mới thì

dựng lại Phố như không gian đọa đầy kiếp người với những quán cô đầu, những tiệm hút Có phải hình ảnh nổi bật trong nhiều tùy bút của Nguyễn là

những đường phố hiu hắt, là kẻ lãng tử lang thang vô định trong đêm:“vừa đi

vừa lắng nghe rượu của mình thấm vào máu mình, vừa nghe tiếng chân mình dẫn đường cho cái bóng bẹp lép của mình, tất cả bấy nhiêu đều nhòe trong cái nặc danh của đêm.” [73] Không gian phố không hiện thân cho những gì

sáng láng, mới mẻ nhiều hứa hẹn Trái lại nó ứ lại trong mùi cũ kỹ, mục ruỗng gắn với sự lụi tàn của bao thân xác phấn hương trong cõi phù sinh Sau Xuân Diệu, Nguyễn Tuân, với một góc nhìn hoang hoải về Phố, Văn Cao cũng rót một cái nhìn về phố trống trải và mênh mang, uể oải và đầy ám ảnh cái chết Bài thơ “Chiếc xe xác đi qua phường Dạ Lạc” là một góc nhìn về phố như thế: mòn mỏi rền rĩ lăn theo từng bánh xe chở xác người chết đói qua phố

Nhưng chỉ có một diễn ngôn phản đô thị thực sự xuất hiện trong sáng tác của Vũ Trọng Phụng, Trọng Lang, Nguyễn Công Hoan Đánh giá về diễn

ngôn Hà Nội của Trọng Lang, Mai Anh Tuấn viết: “Hà Nội lầm than mà sự

khác biệt ngay từ nhan đề, cho đến hôm nay, sẽ vẫn nằm trong số những diễn ngôn đáng chú ý nhất về mảnh đất này ở giai đoạn nó được tắm đẫm không khí thực dân đa sắc thái.” [41;4] Đó là Hà Nội của những người dưới đáy,

trong những không gian nhập nhoạng ánh đèn ăn chơi Đó là Hà Nội với một

Trang 31

thực tế tha nhân, biến đổi văn hóa, chú mục vào ăn chơi hưởng lạc đang trương phình khi nỗ lực đến với văn minh Để rồi cùng với tiệm nhảy nghề

gái nhảy cũng mọc lên, kinh doanh nhà thổ không thể kiểm soát, hát cô đầu –

một cái thú nên thơ cũng trở thành trò mua vui giả dối Tam Lang bằng tâm

thế của kẻ “trần truồng đi ra phố, đang kéo xe bò trên cái bảng có dựng tấm

bảng đề rõ tên họ mình ” [40; 22] tái hiện cả một bức tranh đô thị thuộc địa

với những sự thực chua chát nhất: mánh khóe, lừa lọc đen bạc, nhẫn tâm, đểu giả, đĩ điếm nhiều mà trưởng giả cũng lắm Nguyễn Công Hoan thấy cả bức tranh đô thị thuộc địa đầu thế kỉ XX như một sân khấu toàn những trò hề với những diễn viên hề Còn Vũ Trọng Phụng, với cái nhìn phê phán quyết liệt,

phanh phui hiện thực dựa trên một nhãn quan yếm thế lại “bóc mẽ” một bức

tranh đô thị Tây Tàu như một tấn trò đời phi lí nhất Các tác phẩm của ông

“Số đỏ”, “Cạm bẫy người”, “Cơm thầy cơm cô”, “Kĩ nghệ lấy Tây” đã

hợp thành một thứ diễn ngôn phản thị dân quyết liệt nhất, lột trần một đô thị xuống cấp, đảo lộn về văn hóa, đạo đức khi văn minh rởm đời lên ngôi Nó trưng ra ngoài ánh sáng của lớp phù hoa phố thị là những hè phố trần trụi, nhơ

nhuốc Đúng như Peter Zinoman trong bài viết “Số đỏ của Vũ Trọng Phụng

và chủ nghĩa hiện đại Việt Nam” đã nhận xét:“tác phẩm của Vũ Trọng Phụng

là thứ ra đời trên hè phố, mang âm vang của hè phố” Rõ ràng, là con người

thị dân nhưng diễn ngôn của Vũ Trọng Phụng lại chống lại mọi giá trị văn minh Điều gì đã góp phần tạo nên một diễn ngôn phản thị dân trong sáng tác

của Vũ Trọng Phụng? Nguyễn Đăng Mạnh có lí giải: “Sự bất lực của ý thức

triết học trước thực tế xã hội (thực tế có tính chất cục bộ gắn với hoàn cảnh giai cấp) và hoàn cảnh sinh hoạt hàng ngày của cá nhân, nhưng tầm mắt và cách nhìn của Vũ Trọng Phụng gán cho nó tính chất phổ biến trong không gian và thời gian”[47; 378] Điều này là hệ quả của tình trạng bế tắc của thế

hệ trí thức tiểu tư sản vừa trưởng thành vào đúng thời gian khủng hoảng kinh

Trang 32

tế 1929 – 1933, những năm thoái trào của cách mạng năm 1930 – 1931, những cuộc khủng bố cách mạng tàn bạo của đế quốc Hoàn cảnh đó tạo nên cái nhìn bế tắc về cuộc đời trong khi đó thế lực đồng tiền lại đang hung hãn

đè bẹp ý chí của con người Tuy nhiên giải thích cho thấu đáo về nhãn quan phố của Vũ Trọng Phụng phải tính đến hoàn cảnh đặc biệt của Vũ Trọng Phụng Sinh ra trong một gia đình nghèo gia truyền, Vũ Trọng Phụng lại chỉ sống ở Hà Nội, lại ở đúng phố Hàng Bạc – nơi trung tâm buôn bán và ăn chơi Nhãn quan của nhà văn nghèo bị bóp nghẹt ở phố xá chật chội lại phải chỉ nhìn thấy những tiệm ăn, tiệm hút, nhà thổ và sự phất lên nhanh chóng của

những hạng người như những “me Tây thượng lưu”, công tử bột ăn chơi, ma

cô, gái điếm với biết bao “chuyện trái đời”, phi lí nhất Vũ Trọng Phụng nhận

thấy đô thị chính là nơi sản sinh ra những nghề nghiệp phi đạo đức nhất, mạt

hạng nhất: “cạm bẫy người”, “kĩ nghệ lấy Tây”, “làm đĩ” Chính đô thị nhào

nặn những kẻ ma cà bông trưởng thành từ văn hóa vỉa hẻ như Xuân Tóc Đỏ

thành “anh hùng cứu quốc”, thành “trí thức”, một mụ me Tây dâm ô thành

“tiết hạnh khả phong”, cô gái mới lẳng lơ đội lốt ngây thơ Và cũng chính đô

thị kiến tạo nên một lớp người ối a ba phèng, văn minh nửa mùa như: mụ me Tây đi thõa, cô gái mới, bọn lang băm, ông Văn Minh, TYPN Có thể nói không ở đâu mà mặt trái đô thị được mô tả trần trụi như diễn ngôn phố của

Vũ Trọng Phụng Tất cả những ý niệm văn minh mà diễn ngôn đô thị lãng mạn ra sức kiến tạo: Âu hóa, vui vẻ trẻ trung, bình dân giờ đây bị lật đổ một cách không thương tiếc trong diễn ngôn của Vũ Trọng Phụng

1.2.2 Giai đoạn 1945 – 1975

- Thành phố như một không gian chính trị

Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công đã tạo nên một bước ngoặt lớn trong lịch sử dân tộc nói chung và lịch sử văn học nói riêng Gắn liền với sự vận động của công cuộc cách mạng dân tộc, nền văn học Việt Nam

Trang 33

chính thức bước sang một thời đoạn mới Với chủ trương xây dựng một nền văn học mới, nền văn học được hiện đại hóa đầu thế kỉ XX đến đây rẽ sang ngả đường văn học cách mạng: Văn học trở thành một một mặt trận, theo sát từng nhiệm vụ của cách mạng dân tộc Một lần nữa phố lại được kiến tạo lại trong các diễn ngôn của thời đại.

Đây là giai đoạn diễn ngôn sử thi lên ngôi, phụng sự cách mạng hướng hẳn về sống của người nông dân, nông thôn Thế nên có thể nói phố thị gần như vắng bóng trong văn chương Nói cách khác, trong diễn ngôn sử thi không có phố, chỉ có mảnh đất trung tâm như tư cách là một không gian gắn với ý thức chính trị, đồng nhất với đất nước, dân tộc Luận văn dừng lại kiến giải chủ yếu

về không gian Hà Nội được nhận thức lại trong dòng diễn ngôn này

Nếu trong diễn ngôn lãng mạn hay diễn ngôn phản thị dân Hà Nội chủ yếu là không gian gắn với những trải nghiệm cá nhân, Hà Nội hiện lên với nhiều khuôn mặt (trầm mặc, cổ kính, u hoài, lãng mạn, hay hỗn tạp…) thì sau cách mạng tháng Tám, Hà Nội trở thành không gian rộng lớn, không gian

“quảng trường”, vừa hòa nhập vừa hiện thân cho những ý niệm cao đẹp: Tổ

Quốc, Dân tộc Những ý niệm về bản sắc, tính chất đô thị của Hà Nội được kiến tạo trong diễn ngôn của những giai đoạn trước đều bị xóa mờ trong những diễn ngôn này Đó là sự biến đổi mang tính tất yếu dưới sự tác động,

dẫn dắt của Đảng kể từ tháng 8 năm 1945 Bản Đề cương văn hóa Việt Nam của Đảng năm 1943 đề xuất ba tiêu chí cho một nền văn nghệ mới: “dân tộc-

khoa học- đại chúng” đã trở thành khung tri thức kiến tạo diễn ngôn sử thi,

hợp nhất các diễn ngôn cá thể Trong tư tưởng hướng về đại chúng, hướng về tầng lớp công- nông- binh, diễn ngôn phố khuất dần Trái lại Hà Nội được

nhìn nhận như một trung tâm chính trị của cả nước Hà Nội là “lũy hoa”

chiến đấu oanh liệt, mang linh hồn của tổ quốc Có thể thấy đặc điểm này rất đậm trong các diễn ngôn tiểu thuyết ba mươi năm kháng chiến như tiểu thuyết

Trang 34

“Vỡ bờ” của Nguyễn Đình Thi, “Sống mãi với thủ đô” của Nguyễn Huy

Tưởng, trong các ca khúc cách mạng đương thời Nói về các sáng tác về Hà Nội của Nguyễn Huy Tưởng, nhà văn Nguyễn Minh Châu đã nhận định:

“Những cái tên sách gợi lên hình ảnh một cái đài tưởng niệm bằng ngôn ngữ, một vòng nguyệt quế từ bàn tay nhà văn Nguyễn Huy Tưởng đặt lên trán những trai thanh, gái lịch của Hà Nội rất giàu lòng yêu nước.” Mặc dù nhiều người cho rằng viết về Thăng Long xưa hay Hà Nội thì Nguyễn Huy Tưởng vẫn làm toát lên hồn vía của vùng đất kinh kì, trai thanh gái lịch Tuy nhiên,

thực sự phải thừa nhận từ “Đêm hội Long Trì” đến “Sống mãi với thủ đô”,

Thăng Long - Hà Nội đã trở thành trái tim của Tổ quốc Hà Nội đã vượt qua

biên độ của chính nó, hòa nhập vào hồn thiêng của dân tộc “những buổi ngày

xưa vọng nói về” và trở thành “không gian quảng trường” là thủ đô thiêng

liêng Khi ấp ủ dự định viết một trường thiên tiểu thuyết về Liên khu I,

Nguyễn Huy Tưởng đã nghĩ đến cái tên: Thề với phố phường, rồi Sống mãi

với phố phường và cuối cùng mới là Sống mãi với Thủ đô Sự thay đổi nhan

đề đó đã thể hiện một sự dịch chuyển ý thức của nhà văn về phố: từ một không gian Hà Nội mang đậm dấu ấn lịch lãm, hào hoa của chủ thể sáng tạo, của một cái tôi nghệ sĩ chuyển sang một không gian sử thi của ý thức công dân và thiên chức của người trí thức - nhà văn Nguyễn Huy Tưởng Trong tùy

bút “Hà Nội ta đánh Mĩ giỏi” của Nguyễn Tuân, Hà Nội thanh lịch chỉ còn là

dấu vết lưu luyến trong tâm ý của nhà văn Hà Nội cổ kính rêu phong những

kí ức văn hóa đã mờ nhạt lặng lẽ hơn trong một Hà Nội như một chính quyền,

Hà Nội anh hùng, dũng cảm kiên cường trong đấu tranh xứng đáng là trái tim của cả nước

- Đô thị hào hoa lãng mạn

Cùng với diễn ngôn thủ đô mang tính chính thống, còn có những diễn ngôn Phố gắn với ý niệm về vẻ đẹp lãng mạn, phôi pha theo năm tháng Đa số

Trang 35

chủ thể của dòng diễn ngôn này là một lớp người di cư vào Nam sau 1954 Họ mang theo kí ức về Hà Nội từ trước 1945, toàn bộ những gì họ nhớ và thể hiện trong sáng tác của mình đều thuộc về vùng kí ức trước 1945 Thế nên phố là một kí ức mộng mơ, bình yên lãng mạn Một nhà văn từng tâm sự

“Viết về Hà Nội, viết về đất nước quê hương, không ai có thể hơn Vũ Bằng Bởi Vũ Bằng yêu Hà Nội, yêu đất nước quê hương khi mà ông đang sống ở Sài Gòn, cách Hà Nội chưa đầy hai giờ máy bay mà vời vợi ngàn trùng” Hà Nội được gọi về trong kí ức của Vũ Bằng đẹp như một áng thơ, sự sống lên thân, lên tim, lên cành Là tháng giêng Hà Nội - mùa xuân có mưa riêu riêu, gió lành lạnh, có tiếng nhạn kêu trong đêm xanh, có tiếng trống chèo vọng lại

từ những thôn xóm xa xăm, có câu hát huê tình của cô gái đẹp như thơ mộng

Tháng hai rạo rực mùa lễ hội, tương tư bông đào nở muộn, thấy thời gian thấm thoắt thoi đưa: “Vừa hôm nào đi lễ ở Đống Đa, hôm nay đã là hội chùa

Vua; rồi xem tế thần ở Láng, đi về qua Giảng Võ, rẽ vào xem rước vía ở miếu Hai Cô”[5;47]

Cũng có khi chủ thể của diễn ngôn là những người ở lại Hà Nội hoặc rút ra bên lề của cuộc chiến, hoặc vào chiến trường nhưng vẫn còn giữ trong tâm một Hà Nội rất xưa Đây là những diễn ngôn không phổ biến nhưng có giá trị riêng Nó tiếp tục kiến tạo một Hà Nội Phố bằng cảm quan, kí ức cá nhân, nối tiếp những diễn ngôn lãng mạn trước 1945 để lưu giữ một phố hào hoa, thanh lịch Kể cả trong những diễn ngôn cách mạng đôi khi vẫn sót lại, giữ lại những cảm nhận thấm thía về một mảnh đất kinh kì Quang Dũng

mang theo vào chiến trường nguyên vẹn một kí ức Hà Nội hào hoa “đêm mơ

Hà Nội dáng kiều thơm” Trần Đăng trong bút kí “Một lần tới thủ đô”, qua

con mắt của những người lính ở rừng trở về vẫn cảm nhận tinh tế được hương

sắc của “kinh thành hoa lệ” Đó là “thành phố đầy ánh sáng và len dạ”, “vội

vàng sống với lại đêm nay, những đêm của một thời đã qua”: “Một phòng trà

Trang 36

góc phố bàng bạc một ánh sáng đều nhạt, dịu dàng Những thanh niên tuấn

tú ngồi bên những màu áo hoa thêu Một tiếng đàn rền rĩ ở những cung trầm

Xa chút nữa, cánh cửa một tiệm nhảy hé mở chợt thoáng bay ra một tiếng đàn lả lướt” [63;202]

Và Hà Nội rêu phong, thâm nghiêm nổi bật hơn cả trong diễn ngôn của những người nghệ sĩ ở vị trí cá biệt, những người có ý thức sâu sắc về giá trị

cá nhân Tác giả tiêu biểu cho dòng này là Lưu Quang Vũ, là Bùi Xuân Phái

Trong diễn ngôn của Lưu Quang Vũ, Phố mang cảm thức hiện đại, không gian trì trệ, lạc loài của con người Đó còn là phố nghèo bình yên, nhịp sống lặng lẽ trôi như một hơi thở, nơi cái đẹp mong manh như hy vọng, gắn với những con người bình dị: chị thợ may đi lấy chồng, bác đưa thư, bác thợ mộc già buồn bã, anh thợ điện trên mái nhà mắc dây, bà giáo về hưu ngồi dịch

sách: Phố của ta/ Phố nghèo của ta/Những giọt nước sa/ Trên cành thánh

thót/ Lũ trẻ trên gác thượng/ Thổi bay cao bao bong bóng xà phòng (Phố ta)

Cái nhìn thẳng của kẻ chiêm ngẫm về những khuất lấp của một thời đại

máu lửa đã “viết lại một bài thơ về Hà Nội” (Tên một bài thơ của Lưu Quang

Vũ) với hình ảnh thành phố đẹp mà buồn trong chiến tranh:

Thành phố lớn lao bí mật tựa cuộc đời

Tốt đẹp mà dang dở.

Đó là đô thị rệu rã với những quán cà phê ngoại ô ọp ẹp ngoại ô,

“dưới gầm cầu xe lửa” , nơi “chiếc máy hát rè rè” bài hát buồn về cuộc

chiến, về kiếp người mòn mỏi, ứ đọng chết mòn theo thời gian (Ông chủ quán

đã già/ Mặt vàng vọt và tay xương run rẩy; Cô con gái “ngồi trong bóng tối”

Cô danh ca đã chết ) Nếu diễn ngôn phố của Lưu Quang Vũ kiến tạo phố

bằng cái nhìn u buồn của con người sống với tâm lí phản chiến thì diễn ngôn của Bùi Xuân Phái mang màu sắc hoài niệm, được khơi nguồn từ những diễn ngôn hoài cổ về một Hà Nội trầm mặc, cổ kính, rêu phong Bùi Xuân Phái vẽ

Trang 37

không gian mà như vẽ thời gian trôi qua từng mái ngói, từng góc phố, từ mảng tường Hà Nội Thành phố hiện lên với một nhịp sống chậm rãi và lặng

lẽ, yên bình, cũ kĩ

Tóm lại, từ đầu thế kỉ XX cho đến năm 1975, Phố luôn được tái tạo lại dưới những khung tri thức - quyền lực khác nhau, khả năng phát tán cũng khác nhau Có những diễn ngôn tồn tại giới hạn trong thời khắc lịch sử như diễn ngôn thủ đô, diễn ngôn phản thị dân Nhưng cũng có những diễn ngôn sau khi được sản sinh đã vượt lên trên khung thời gian ngụy tạo được một quyền lực mạnh mẽ trong tâm thức mọi người Một trong những diễn ngôn dường như có quyền lực chi phố nhận thức của người đọc là diễn ngôn về một thành phố với hơi thở lãng mạn, đậm chất thi ca

Trong dòng chảy này, diễn ngôn phố của Trần Dần thuộc dòng ngầm

và cũng một nhánh rẽ độc lập có những bí ẩn riêng trong cơ chế và ý thức kiến tạo Nó vừa tương tác vừa đối thoại với tất cả các diễn ngôn trên

Trang 38

Tiểu kết chương 1

Coi diễn ngôn là chìa khóa để khám phá về cách kiến tạo mô hình đô thị, thành phố phố trong lịch sử văn học và trong tiểu thuyết Trần Dần, chúng tôi khảo lược được những diễn ngôn phố cơ bản trong lịch sử văn học Việt Nam hiện đại Phố liên tục được kiến tạo lại dưới một hệ tư tưởng mới, một khung tri thức mới suốt từ khi có sự hiện diện một đô thị thực sự ở Việt Nam (Tính từ thời điểm xuất hiện văn minh phương Tây) Trong mỗi thời kì, dưới mỗi một khung tri thức- quyền lực diễn ngôn phố lại được tạo lập, và có sự phân hóa Từ chỗ được thể hiện như một thực thể xa lạ với văn hóa Á Đông, Phố trong diễn ngôn của các nhà lãng mạn như Nhất Linh được nhìn nhận như một mô hình hiện thân cho những giá trị văn minh chống lại một nếp sống sinh hoạt nông thôn đang có khả năng đóng băng đời sống người Việt Nam, cản trở những gì tiến bộ hiện đại Và khi đô thị đặt dấu ấn mỗi lúc một sâu đậm thì diễn ngôn phố lại đổi dòng đi từ cổ súy đến phản pháo Giữa sự khẳng định của một diễn ngôn sử thi, gương mặt phố bị chỉ còn sự hiện diện hình ảnh phố như những trung tâm chính trị thì vẫn có những diễn ngôn hoài niệm lãng mạn nhằm lưu giữ những cái đẹp có nguy cơ phôi pha của phố thị Tất cả đều có những tương tác, đối thoại với nhau Dòng chảy diễn ngôn phố trong văn học Việt Nam hiện đại là khung tri thức đã có, là từ trường có tác động nhất định tới diễn ngôn phố của Trần Dần Trần Dần vừa kế thừa vừa đối thoại và viết lại phố Không thể kiến giải một cách đầy đủ diễn ngôn phố của Trần Dần nếu không đặt nó vào dòng chảy này

Trang 39

Chương 2

KIẾN TẠO NHỮNG Ý NIỆM HIỆN ĐẠI VỀ THÀNH PHỐ

2.1 Những thẩm quyền kiến tạo

Trong mạch chảy của diễn ngôn phố tồn tại từ đầu thế kỉ XX, diễn ngôn phố của Trần Dần được hình thành trên cảm thức của chủ nghĩa hiện đại Đồng thời cũng là kết quả của một tiểu sử, một nhãn quan thị dân thực sự cũng như những tác động của thời đại Trần Dần chối từ một cái nhìn của chủ nghĩa lãng mạn về phố và cũng không hòa vào diễn ngôn sử thi để đồng nhất

nó với đất nước

2.1.1 Một nhãn quan thị dân

Trần Dần là một thị dân Ông xuất thân trong một gia đình khá giả tại phố Năng Tĩnh, thành phố Nam Định Ông học tiểu học, cao đẳng tiểu học và đậu thành chung tại thành phố Nam Định Sau đó, học trung học tại Hà Nội, đậu tú tài Pháp Cuộc đời và con người Trần Dần ít nhiều được nhào nặn, được kiến tạo chính bởi hai không gian đô thị đó, Nam Định và Hà Nội

Những năm đầu, Trần Dần chứng kiến sự đô thị hóa của quê hương Nam Định Nam Định vốn là nơi phát tích của nhà Trần, nhà Trần coi nó là kinh đô thứ hai, sau Thăng Long của Đại Việt – còn gọi là phủ Thiên Trường, địa linh nhân kiệt Dưới thời pháp thuộc, mảnh đất văn hiến Nam Định có nhiều thay đổi, và phố hóa Sông Vị Hoàng bị lấp để mở rộng đô thị Năm

1889, nhà máy dệt Nam Định được thành lập và là nhà máy dệt lớn nhất Đông Dương lúc bấy giờ càng thúc đẩy quá trình phố hóa của mảnh đất này Phố

bắt đầu nhô ra, lối sống thị dân hình thành Sự thay đổi đó ít nhiều đã được

ghi lại với cái nhìn kì thị văn minh từ thời Tú Xương: Có đất nào như đất ấy không /Phố phường tiếp giáp với bờ sông/Nhà kia lỗi đạo con khinh bố/Mụ

nọ chanh chua vợ chửi chồng (Đất Vị Hoàng) Lớn lên trên chính mảnh đất đang vào độ đô thị hóa mạnh, nhãn quan thị dân đã sớm định hình ở Trần

Trang 40

Tuy nhiên, phần lớn cuộc đời của Trần Dần, chủ yếu sống, nếm trải ở

Hà Nội nên Hà Nội tác động nhiều hơn và cũng là đô thị tiêu biểu hơn cả trong diễn ngôn của ông Tình yêu, bi kịch của nhà văn đều gắn liền với mảnh đất này Hà Nội tác động tới Trần Dần mạnh ở hai thời điểm: Một là, Hà Nội với không khí sinh hoạt văn chương, sinh hoạt đậm chất đô thị vào đầu những năm XX - thời Trần Dần tham gia nhóm Dạ Đài; Hai là, Hà Nội trong quá trình thủ đô hóa sau giải phóng Tuy nhiên Trần Dần sống nhiều hơn với tâm thế, cách nhìn của kẻ thị dân với đô thị trong không khí đậm hơi hướng văn minh Pháp Thời điểm Hà Nội thủ đô hóa như một trung tâm chính trị của nhà nước Việt Nam, Trần Dần lại rơi vào bi kịch chữ nghĩa cho nên ông sống với

Hà Nội chủ yếu trong thân phận của kẻ bên lề: Hà Nội của người bình thường Do đó Phố trở thành mục trường, nhãn quan để Trần Dần cảm nhận thế giới và trở thành cả thế giới nghệ thuật của văn thơ Trần Dần Trong

“Trần Dần ghi”, hơn một lần ông trăn trở về Hà Nội: “Tôi sống thiểu não, có phút nào không gió lốc cơn giông? Những lúc đi trên vỉa hè là những lúc tôi nhìn Hà Nội bằng con mắt sauvage Nhưng những lúc tôi ngồi một mình trong phòng, mới là những lúc sauvage nhất Tôi biết rằng không có gì ghê gớm hơn tôi trong những lúc tôi ngồi im lặng Đó tôi biết về Hà Nội nhiều nhất, thấm thía nhất là như vậy ”;“Hôm nay tôi muốn viết gì về Hà Nội? Tôi biết một số người Hà Nội Tại sao có những thi sĩ nông dân không biết Hà Nội cũng thích Hà Nội? Tại sao có những “anh em không yêu Hà Nội.” [13;

17] Và nói về sự gắn bó giữa Trần Dần với phố, Thuận kể một câu chuyện:

“Những người thân trong gia đình Trần Dần kể lại, sau này, khi đã luống

tuổi, bị dày vò bởi bệnh tật, ông thường chống gậy ra Phố và chọn một góc dưới cột đèn đường để ngồi một mình nhiều giờ liền ” [70;12] Những trăn

trở ấy hay câu chuyện này như một dẫn liệu khẳng định rõ hơn cuộc đời Trần

Ngày đăng: 25/02/2017, 17:52

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Phan Tuấn Anh (2010), Văn học dưới những thiết chế http://vanthotre.sfi.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học dưới những thiết chế
Tác giả: Phan Tuấn Anh
Năm: 2010
2. Lại Nguyên Ân, Một số vấn đề xung quanh phạm trù chủ nghĩa hiện đại, www.vanhoahoc.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề xung quanh phạm trù chủ nghĩa hiện đại
3. Diệp Quang Ban (2002), Giao tiếp, Văn bản, Mạch lạc, Liên kết, Đoạn văn, Nxb Khoa học ( in tại thành phố Hồ Chí Minh) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giao tiếp, Văn bản, Mạch lạc, Liên kết, Đoạn văn
Tác giả: Diệp Quang Ban
Nhà XB: Nxb Khoa học ( in tại thành phố Hồ Chí Minh)
Năm: 2002
4. M.Bakhtin (1998), Những vấn đề thi pháp Đôtxtôiepxki (Trần Đình Sử, Lại Nguyên Ân, Vương Trí Nhàn dich), Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề thi pháp Đôtxtôiepxki
Tác giả: M.Bakhtin
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1998
7. Jean Chevaller/Alain Gheerbrant, (1997), Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới, Nxb Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Jean Chevaller/Alain Gheerbrant, (1997), "Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới
Tác giả: Jean Chevaller/Alain Gheerbrant
Nhà XB: Nxb Đà Nẵng
Năm: 1997
8. George Dutton, Hí họa Lý Toét : Cuộc hôn nhân bắt buộc với nền văn minh, https://vietpress2012.wordpress.com Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hí họa Lý Toét : Cuộc hôn nhân bắt buộc với nền văn minh
10. Nguyễn Văn Dân,(2013) Chủ nghĩa hiện đại trong văn học nghệ thuật, Nxb KHXH, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chủ nghĩa hiện đại trong văn học nghệ thuật
Nhà XB: Nxb KHXH
11. Trần Dần, (2009), Đi đây Việt Bắc Nxb, hội nhà văn, Hà Nội 12 Trần Dần, (1994), Cổng tỉnh, Nxb hội nhà văn Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đi đây Việt Bắc "Nxb, hội nhà văn, Hà Nội12 Trần Dần, (1994), " Cổng tỉnh
Tác giả: Trần Dần, (2009), Đi đây Việt Bắc Nxb, hội nhà văn, Hà Nội 12 Trần Dần
Nhà XB: Nxb hội nhà văn Hà Nội
Năm: 1994
16. Trần Dần, (1997), Mùa sạch, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mùa sạch
Tác giả: Trần Dần
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 1997
17. Trần Dần, (2010), Những ngã tư và những cột đèn, Nxb Hội Nhà văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những ngã tư và những cột đèn
Tác giả: Trần Dần
Nhà XB: Nxb Hội Nhà văn
Năm: 2010
18. Trần Dần, (2009), Người người lớp lớp, Nxb Kim Đồng 19. Trần Dần, Sổ Bụi, www.tienve.org Sách, tạp chí
Tiêu đề: Người người lớp lớp, "Nxb Kim Đồng19. Trần Dần, "Sổ Bụi
Tác giả: Trần Dần
Nhà XB: Nxb Kim Đồng19. Trần Dần
Năm: 2009
20. Trần Dần, (2008), Thơ, Nxb Đà Nẵng, Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ
Tác giả: Trần Dần
Nhà XB: Nxb Đà Nẵng
Năm: 2008
21. Trần Dần, Tiểu sử và tác phầm, www.tienve.org Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiểu sử và tác phầm
22. Lê Đạt, (1989), Dương Tường, 36 bài tình, Nxb trẻ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 36 bài tình
Tác giả: Lê Đạt
Nhà XB: Nxb trẻ
Năm: 1989
23. Hồ Thế Hà, Quan niệm về thơ của nhóm Dạ Đài – nhìn sự tiếp biến lý luận văn học phương Tây, www.vienvanhoc.org.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan niệm về thơ của nhóm Dạ Đài – nhìn sự tiếp biến lý luận văn học phương Tây
24. Lê Bá Hán (cb), Lê Quang Hưng, Chu Văn Sơn ( 2003), Tinh hoa Thơ mới thẩm bình và suy ngẫm, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tinh hoa Thơ mới thẩm bình và suy ngẫm
Nhà XB: Nxb Giáo dục
25. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi, ( đồng chủ biên) ( 2006), Từ điển thuật ngữ Văn Học, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ Văn Học
Nhà XB: Nxb Giáo dục
26. Đinh Thị Hằng, Thơ Trần Dần từ góc nhìn lí thuyết diễn ngôn của M.Foucalt, luận văn thạc sĩ, ĐHSP Hà Nội, 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ Trần Dần từ góc nhìn lí thuyết diễn ngôn của M.Foucalt
6. Hamvas Besla, Xã hội học của sự cô đơn (Hồng Nhung dịch), http://vanhoanghean.com.vn/ Link
81. Nancyburke, Cityscapes – Canadian Urban Spaces as Portrayed in Selected Fiction and Non- Fiction, (Kohtja paik/ Place and Location III), http://www.eki.ee/km/place/koht_3.htm Link

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w