1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

CẢM HỨNG NHẬN THỨC lại TRONG TIỂU THUYẾT CHU LAI SAU 1975

101 336 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 101
Dung lượng 578 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Họ cũng không ngần ngại giã từ những niềm tin một thời thật mãnh liệt, chân thành từng là cảm hứng cháybỏng trong tâm hồn họ nhưng giờ đây đã trở nên ngây thơ, thậm chí ấu trĩ đểchấp nhậ

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

TRƯƠNG HỒNG DUYÊN

CẢM HỨNG NHẬN THỨC LẠI

TRONG TIỂU THUYẾT CHU LAI SAU 1975

(Qua hai tiểu thuyết Nắng đồng bằng và Ăn mày dĩ vãng)

Chuyên ngành: Văn học Việt Nam hiện đại

Mã số: 60 22 01 21

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Lưu Khánh Thơ

HÀ NỘI - 2015

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Trước tiên, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới Phó giáo sư, Tiến sĩ LưuKhánh Thơ và Tiến sĩ Nguyễn Phượng đã giúp đỡ tôi trong suốt quá trìnhthực hiện luận văn Sự hiểu biết sâu sắc, kinh nghiệm cũng như sự động viêncủa thầy, cô chính là tiền đề giúp tôi đạt được những hiểu biết và thành tựuquý báu

Xin cảm ơn các thầy cô bộ môn Văn học Việt Nam hiện đại, Khoa NgữVăn, Phòng Sau Đại học Trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã tạo mọi điềukiện thuận lợi cho tôi học tập và nghiên cứu, hoàn thành tốt luận văn

Xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, Tổ Ngữ văn Trường THPT CaoLộc, Lạng Sơn đã tạo điều kiện cho tôi học tập và công tác đạt kết quả tốt

Xin cảm ơn gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã luôn động viên, khích lệ

để tôi vượt qua mọi khó khăn hoàn thành tốt khóa học và luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, tháng 10 năm 2015

Trương Hồng Duyên

Trang 3

MỤC LỤC

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1 Nhận thức và nhận thức lại là một hoạt động thực tiễn không thểthiếu trong đời sống tinh thần của con người Nhờ hoạt động này mà conngười không ngừng nâng cao hiểu biết về thế giới bên ngoài cũng như vềchính bản thân mình Trong hoạt động nghệ thuật, nhận thức lại càng trở nênquan trọng bởi nó kích thích sự tìm tòi, sáng tạo của nhà văn Những nhà văntài năng và bản lĩnh không bao giờ chịu dừng hành trình đào sâu vào hiệnthực và thân phận con người để đi tìm sự thật Họ cũng không ngần ngại giã

từ những niềm tin một thời thật mãnh liệt, chân thành từng là cảm hứng cháybỏng trong tâm hồn họ nhưng giờ đây đã trở nên ngây thơ, thậm chí ấu trĩ đểchấp nhận một hành trình khác nhiều thử thách và khó khăn hơn được gọi là

“nhận thức lại” nhằm đổi mới tư duy nghệ thuật và đem lại cho người đọc

một tri giác mới về các giá trị của đời sống

2 Sau Đại hội VI các nhà văn đã mạnh dạn và thẳng thắn nhìn nhận lạicác vấn đề của đời sống và của nghệ thuật Với cảm hứng nhìn nhận lại hiện

thực, nhiều tác phẩm văn xuôi đã ra đời và thành công như: Mùa lá rụng

trong vườn (1985) của Ma Văn Kháng, Thời xa vắng (1986) của Lê Lựu, Nỗi buồn chiến tranh (1990) của Bảo Ninh, Ăn mày dĩ vãng (1994) của Chu

Lai Nhiều vấn đề được nhìn nhận bằng cái nhìn phản tỉnh được các nhà vănnêu ra và thể hiện trong tác phẩm đã đem lại bất ngờ cho công chúng và giớiphê bình Nhìn chung, việc nhận thức lại các giá trị là hiện tượng có tính phổquát, đặc thù của một thời kỳ văn học Đó cũng là xu thế phát triển tất yếu củavăn học theo quy luật của nó

3 Chu Lai, một nhà văn mặc áo lính trưởng thành trong cuộc khángchiến chống Mỹ Người đọc từng biết đến ông qua vai trò là một nhà biên

Trang 5

kịch và biên tập viên của một số tờ báo Thế nhưng thành công hơn cả là vaitrò một nhà văn và thể loại thành công hơn cả là ở tiểu thuyết và tiểu thuyết

của ông đều viết sau chiến tranh, từ “Nắng đồng bằng” (1977) cho đến

“Người im lặng”(2005) Với hơn 20 năm cầm bút ông đã cho ra đời một số

lượng tác phẩm tương đối lớn, với 11 cuốn tiểu thuyết Bao trùm lên sáng táccủa Chu Lai là sự trăn trở, day dứt của tác giả về số phận con người, mà tiêubiểu là người lính trong và sau cuộc chiến tranh Hay nói cách khác, các sángtác của ông thể hiện nhận thức nghệ thuật mới của tác giả về hiện thực chiếntranh để độc giả trẻ hôm nay, thế hệ chưa từng trải qua cuộc chiến tranh đónhận thức sâu sắc hơn về nó, để quý trọng nâng niu những gì đang có và nângniu quý trọng quá khứ đau thương mà oai hùng của dân tộc

Vì những lí do trên, người viết chọn đề tài “Cảm hứng nhận thức lại trong

tiểu thuyết Chu Lai sau 1975” (Qua hai tác phẩm: Nắng đồng bằng và Ăn mày

dĩ vãng)

2 Lịch sử vấn đề

2.1 Nghiên cứu về khuynh hướng “Nhận thức lại” của văn học Việt Nam thời kì đổi mới

Vấn đề nhận thức lại trong văn học Việt Nam thời kỳ đổi mới là một

vấn đề được quan tâm tìm hiểu, nghiên cứu rất chuyên sâu Đã có rất nhiềucông trình nghiên cứu, bài viết về khuynh hướng này

Phó giáo sư Tiến sĩ Nguyễn Thị Bình trong công trình Những đổi mới

của văn xuôi nghệ thuật Việt Nam từ 1986 đến nay đã đối sánh văn xuôi Việt

Nam giai đoạn 1975 đến nay với văn xuôi giai đoạn 1945- 1975 trên baphương diện: Đổi mới quan niệm về nhà văn, đổi mới quan niệm về conngười và đổi mới thể loại Với cái nhìn tổng quát trên mỗi phương diện Tiến

sĩ Nguyễn Thị Bình đã đưa ra được những nét chung nhất, làm nổi bật nhữngvấn đề bản chất của văn xuôi Việt Nam giai đoạn 1975 đến nay Quan niệm

Trang 6

nghệ thuật về con người là phương diện được luận án đặc biệt quan tâm Đây

là một yếu tố quy định khả năng chiếm lĩnh đời sống của văn học, trực tiếpchi phối những yếu tố khác như đề tài, cốt truyện, nhân vật, giọng điệu

Giáo sư Nguyễn Văn Long trong Một số vấn đề cơ bản trong nghiên

cứu lịch sử văn học Việt Nam giai đoạn sau 1975 in trong Văn học Việt Nam sau 1975 những vấn đề nghiên cứu và giảng dạy đã có những phát hiện, đánh

giá rất chính xác và khái quát: “vào nửa cuối những năm 80 và đầu những

năm 90 đã phát triển mạnh khuynh hướng nhận thức lại hiện thực với cảm hứng phê phán mạnh mẽ trên tinh thần nhân bản” Tác giả cũng đề cập đến

xu hướng biến đổi của văn học là xu hướng dân chủ hoá, văn học giai đoạnnày không từ bỏ vũ khí tinh thần, tư tưởng của nó nhưng yếu tố được nhấn

mạnh trước hết là ở “Sức mạnh khám phá thực tại và thức tỉnh ý thức về sự

thật ở vai trò dự báo, dự cảm” Một điều quan trọng nữa là tác giả cho rằng sự

thức tỉnh ý thức cá nhân trên cơ sở bao trùm tinh thần nhân bản là nền tảng tưtưởng trong cảm hứng chủ đạo bao trùm của nền văn học sau 1975

Gần đây, trong Những cách tân nghệ thuật trong tiểu thuyết Việt Nam

đương đại, NXB hội nhà văn 2009, tác giả Mai Hải Oanh có bàn đến vấn đề

này khi nói về tiểu thuyết tự vấn

Nguyễn Minh Châu cũng có cái nhìn mới mẻ về người nông dân: Họ cóthể là người nông dân chất phác với nhiều phẩm chất tốt đẹp nhưng cũng cóthể trở thành những hung thần ác ôn Nguyễn Minh Châu không chỉ là nhàvăn nhận thức lại đời sống qua các sáng tác của mình mà ông còn thể hiện

cảm hứng này qua các tiểu luận mà nổi bật là: Hãy đọc lời ai điếu cho một

giai đoạn văn nghệ minh hoạ Đây là tiểu luận thể hiện tinh thần đổi mới triệt

để trong văn học

Trang 7

Năm 1986, khi cuốn tiểu thuyết Thời xa vắng của Lê Lựu ra đời, các

nhà phê bình văn học như Trần Đình Sử, Hoàng Ngọc Hiến, Vương TríNhàn đã có những ý kiến đánh giá, nhận xét và những phát hiện thú vị vềtinh thần nhận thức lại trong tác phẩm

Tôn Phương Lan trong Phong cách nghệ thuật Nguyễn Minh Châu cũng

đã có những nhận định, đánh giá tương đối toàn diện, khái quát những đónggóp của Nguyễn Minh Châu trong việc đổi mới văn học Việt Nam Tác giả đãphát hiện ngay từ những năm 70 Nguyễn Minh Châu đã băn khoăn, trăn trở vềmột điều gì đó bất ổn trong đời sống văn học, Nguyễn Minh Châu đã chủ

trương đưa “văn học trở về với quy luật vĩnh hằng của đời sống con người Coi

tính chân thật là một phẩm chất quan trọng của văn học, những sáng tác của Nguyễn Minh Châu ngày càng xa lánh lối văn chương chỉ ca ngợi một chiều”.

Ngoài ra, có một số luận văn đã nghiên cứu về khuynh hướng nhận thức

lại như: Những cách tân nghệ thuật trong tiểu thuyết Việt Nam từ 1986 đến

nay, Luận án Thạc sĩ Ngữ văn, Đại học Vinh (2005); Khuynh hướng nhận thức lại trong sáng tác của Nguyễn Minh Châu sau 1975, Lê Thị Xuân Đào

(2010), Đại học Đà Nẵng; Khuynh hướng nhận thức lại trong tiểu thuyết Việt

Nam thời kì đổi mới, Trịnh Thị Bích (2010), Đại học Vinh…

Còn rất nhiều bài viết về xu hướng nhìn nhận một số hiện tượng vănchương thời kỳ đầu đổi mới của các tác giả được đăng trên báo, tạp chí hoặctrên mạng, nhưng do thời gian và trình độ có hạn mà người làm luận văn chưathể bao quát hết tất cả các công trình, bài viết đó Tuy vậy, có thể khẳng định

đến nay chưa có luận văn nào nghiên cứu chuyên biệt về khuynh hướng nhận

thức lại trong tác phẩm của Chu Lai sau 1975, đặc biệt là sự chuyển biến từ

tác phẩm Nắng đồng bằng đến tác phẩm Ăn mày dĩ vãng.

2.2 Nghiên cứu về Chu Lai

Trong giới nghiên cứu phê bình văn học, Chu Lai là một gương mặtmới so với những cây bút kì cựu như: Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Trung

Trang 8

Thành…Song những năm gần đây khi người ta bắt đầu quan tâm nhiều hơn

về một nền văn học hậu chiến thì Chu Lai là cây bút được đề cập khá nhiều

- Bài báo: “Bản chất của cuộc đời là bi tráng” (Phỏng vấn Chu Lai, báo

Thanh niên 12/2013) do Thu Hồng và Hương Lan thực hiện đã có cuộc traođổi về cuộc đời binh nghiệp cũng như những sáng tác viết về đề tài chiếntranh của ông, tạo nên một “thương hiệu” Chu Lai không lẫn vào đâuđược.Tác giả khẳng định: sự lãng mạn của chàng trai Hà Nội lẫn sự lì lợm của

một tay lính đặc công, cộng với tính cách cực đoan của dòng họ Chu “đã phả

vào văn Chu Lai một cái chất riêng Nó khiến những cuộc chiến tranh của anh không thể đi đến một kết thúc tròn trịa mà day dứt người ta mãi ngay cả khi trang cuối cùng khép lại” Các tác giả đã khái quát được sự nghiệp văn

học của Chu Lai với một “đề tài không cạn kiệt”, đó là đề tài về cuộc chiếntranh, qua đó thể hiện được cái tâm, cái tình của người cầm bút

- Bài phê bình về Tập truyện ngắn Phố nhà binh đăng trên Văn nghệ

quận đội tháng 7-1993 của Lý Hoài Thu: “… Dù trực tiếp viết về thời dĩ vãng

mịt mùng bom đạn hay chuyển dịch sang tiếp nhận những kênh thông tin mới

xô bồ của hiện tại, bao giờ Chu Lai cũng nghiền ngẫm suy tư về hiện thực với

sự nhiệt tâm và lòng trung thực của người lính” Có được sự chiêm nghiệm,

suy tư một cách sâu sắc đó, theo tác giả bài báo, Chu Lai với tư cách là nhàvăn từng tham chiến, từng lăn lộn trên chiến trường giúp ngòi bút của ông thảsức tung hoành trên biện độ ít giới hạn của đề tài chiến tranh.Tác giả bài báocũng đã khái quát lên một vấn đề không riêng gì trong văn Chu Lai mà cảtrong một giai đoạn văn học thời hậu chiến: “Chu Lai đã tập trung khai thácquãng đời thứ hai, quãng đời tồn tại phía sau của người lính”- họ chỉ biết langthang với súng ống cả đời, có biết mỗi nghề là súng đạn, trở về biết sinh sốngthế nào, chính vì thế mà họ gặp bi kịch giữa đời thường

- Tôn Phương Lan trong bài “Một vài suy nghĩ về con người trong vănxuôi thời kỳ đổi mới” đăng trên tạp chí văn học số 9-2005 đề cập đến nhà văn

Trang 9

Chu Lai với việc điểm qua một loạt các tác phẩm Vòng tròn bội bạc, Ăn mày dĩ

vãng, Ba lần và một lần “đã tập trung khảo sát và xây dựng hình tượng người lính sau chiến tranh”, những người lính ấy đã bước ra khỏi cuộc chiến tranh

tàn khốc và bắt đầu một cuộc sống mới- cuộc sống của sự hòa trộn

- Cũng đề cập đến sự thay đổi quan niệm nghệ thuật về con người, tácgiả Nguyễn Hà có bài viết “Cảm hứng bi kịch nhân văn trong tiểu thuyết vănhọc nửa sau thập niên 80” đăng trên tạp chí văn học số 4-2000 Tác giả bài

báo đã đề cập nhân vật Hai Hùng trong Ăn mày dĩ vãng bị chiến tranh vắt kiệt

tuổi thanh xuân và hiện tại anh chỉ là một kẻ đơn độc Và bi kịch của HaiHùng là bi kịch của kẻ bị đánh lừa, bị phản bội

- Cũng với Ăn mày dĩ vãng” Xuân Thiều có bài viết: “Điểm qua các tác

phẩm được giải thưởng văn học về đề tài chiến tranh cách mạng và lực lượng

vũ trang của Hội nhà văn Việt Nam” đăng trên Văn Nghệ Quân Đội số

5-1994 Bài báo viết: “có thể gọi tác phẩm đầy chất lính , giọng văn băm bỗ, sôiđộng các thứ tình cảm suy tư đều đẩy đến tận cùng Cốt truyện có pha chút li

kỳ bí hiểm, kiểu kiếm hiệp đọc rất cuốn hút Có những chương, những đoạnanh viết về chiến trường hết sức linh động nếu không là người trong cuộckhông dựng lại được không chỉ một trận bàn chiến đấu khá đặc biệt này ” Và

tác giả còn khẳng định thêm “để viết tác phẩm này, dường như Chu Lai vật

vã quặn đau như người trở dạ.Cái tâm huyết của tác giả được phơi bày ra y như người đọc có thể nghe thấy tiếng kêu tha thiết và đau đớn”.

Nhìn chung, tiểu thuyết Ăn mày dĩ vãng là cuốn tiểu thuyết gây được

sự chú ý đặc biệt nhất đối với người đọc trong toàn bộ sáng tác của Chu Lai

Bên cạnh những bài nghiên cứu phê bình mang tính chất tương đối quy

mô đó còn có các bài nói chuyện, trả lời phỏng vấn của nhà văn Chu Lai xuấthiện rất nhiều trên các phương tiện thông tin đại chúng như báo viết, truyềnhình, internet

Trang 10

Các tác phẩm của Chu Lai cũng là đề tài được khai thác trong nhiều luận

văn Trong đó có một số luận văn tiêu biểu: Thế giới nhân vật trong tiểu thuyết

Chu Lai (2005) của Tạ Thị Thanh Thùy, Đại học Sư phạm Hà Nội; Đặc điểm tiểu thuyết Chu Lai (2007) của Nguyễn Đình Toàn, Đại học Sư phạm Hà Nội; Hình tượng người lính thời hậu chiến trong tiểu thuyết Chu Lai (2010) của Vũ

Thị Hải Yến, Đại học Sư phạm Hà Nội; Nghệ thuật kết cấu trong tiểu thuyết

Chu Lai (2012) của Trịnh Thị Hải, Đại học Sư phạm Hà Nội…

Nhìn chung nghiên cứu về tiểu thuyết Chu Lai vẫn chưa có luận văn

độc lập nghiên cứu về khuynh hướng nhận thức lại Chúng tôi thực hiện luận

văn với đề tài “Cảm hứng nhận thức lại trong tiểu thuyết Chu Lai sau 1975

(Từ Nắng đồng bằng đến Ăn mày dĩ vãng)” với mong muốn tiếp tục khám

phá tiểu thuyết của Chu Lai, góp phần nhỏ vào việc tìm hiểu tiểu thuyết hậuchiến nói chung

3 Mục đích, đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài

3.1 Mục đích của đề tài

- Chỉ ra được những biểu hiện của cảm hứng nhận thức lại trong một sốsáng tác tiêu biểu của Chu Lai sau 1975

- Chỉ ra được sự vận động, thay đổi trong cảm hứng nhận thức lại qua

hai tác phẩm Nắng đồng bằng và Ăn mày dĩ vãng của Chu Lai.

3.2 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

Do khuôn khổ của đề tài luận văn chúng tôi chỉ chọn những tác phẩm

tiêu biểu Nắng đồng bằng và Ăn mày dĩ vãng cùng một số tiểu thuyết khác của Chu Lai: Sông xa (1986); Vòng tròn bội bạc (1987); Phố (1992); Ba

lần và một lần (1999); Cuộc đời dài lắm (2001) Ngoài ra, luận văn cũng so

sánh, đối chiếu với một số tiểu thuyết cùng thời Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh, Thời xa vắng của Lê Lựu, Bến không chồng của Dương

Hướng…

Trang 11

4 Phương pháp nghiên cứu

Đây là một đề tài nghiên cứu về tác giả, tác phẩm, chúng tôi sử dụng

phương pháp phân tích – tổng hợp để làm sáng tỏ cảm hứng nhận thức lại

trong hai tác phẩm cụ thể của Chu Lai là Nắng đồng bằng và Ăn mày dĩ vãng

Tiếp đến chúng tôi sử dụng phương pháp so sánh Không chỉ so sánh hai tác phẩm Nắng đồng bằng và Ăn mày dĩ vãng mà còn so sánh tác phẩm

của Chu Lai với một số tác phẩm khác của văn xuôi Việt Nam sau 1975 đểthấy được điểm giống và khác nhau trong cách thể hiện của tác giả trong quátrình sáng tác cũng như những đóng góp mới mẻ, tiêu biểu của Chu Lai trongkhuynh hướng nhận thức lại của văn xuôi Việt Nam sau 1975

Trong luận văn, chúng tôi còn sử dụng phương pháp cấu trúc – hệthống để xem xét một cách toàn diện, khách quan để từ đó thấy được mốiquan hệ, trạng thái vận động và phát triển của đề tài trong dòng chảy văn họccũng như nghiên cứu văn học sau 1975

5 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, nội dung chính củaluận văn được trình bày trong ba chương như sau:

Chương 1: Cảm hứng nhận thức lại trong văn xuôi Việt Nam sau 1975.

Chu Lai trong sự đổi mới văn xuôi viết về chiến tranh

Chương 2: Cảm hứng nhận thức lại trong tiểu thuyết Chu Lai qua hai

tiểu thuyết “Nắng đồng bằng” và “Ăn mày dĩ vãng”

Chương 3: Một số đổi mới về nghệ thuật biểu hiện cảm hứng nhận thức lại

qua hai tiểu thuyết “Nắng đồng bằng” và “Ăn mày dĩ vãng”

Trang 12

Chương 1 CẢM HỨNG NHẬN THỨC LẠI TRONG VĂN XUÔI SAU 1975 CHU LAI VÀ SỰ ĐỔI MỚI TIỂU THUYẾT VIẾT VỀ CHIẾN TRANH.

1.1 Bối cảnh lịch sử - văn hóa xã hội của khuynh hướng nhận thức lại trong văn xuôi Việt Nam sau 1975

1.1.1 Bối cảnh lịch sử

Sau ngày 30/4/1975, đất nước hoàn toàn thống nhất, non sông thu về mộtmối, bên cạnh niềm vui đoàn tụ dân tộc là nhiệm vụ nặng nề: khắc phục hậu quảchiến tranh, tái thiết đất nước 40 năm sau ngày giải phóng, di chứng nặng nề của

nó vẫn chưa được khắc phục hoàn toàn Không chỉ là những thiệt hại vật chấtđơn thuần, những tổn thất lớn lao về mặt tinh thần là không gì có thể đo đếmđược Cùng với những khó khăn, phức tạp của thời hậu chiến mà bất kì nước nàovừa trải qua chiến tranh đều phải gánh chịu, chúng ta còn bị chính sách cấmvận, cô lập về kinh tế, chính trị đến từ những lực lượng thù địch Thêm vào đó,những chủ trương, chính sách kinh tế - xã hội chủ quan, duy ý chí, nóng vội đềkìm hãm sự vực dậy của đất nước Cuộc chiến tranh giải phóng tuy đã kết thúcnhưng súng vẫn nổ, máu vẫn rơi ở biên giới phía Bắc và phía Tây Nam… Tất cả

đã đẩy đất nước đến khủng hoảng kinh tế - xã hội nửa đầu những năm 80 của thế

kỉ XX và ngày càng trầm trọng vài giữa thập kỉ đó

Đại hội Đảng lần thứ VI (1986) đã thực sự thay máu cho đất nước.Những manh nha đổi mới xuất hiện từ trước đó được nhân rộng, sự suy thoái

bị chặn lại, tốc độ phát triển kinh tế dần ổn định, nền kinh tế thị trường đượchình thành Đổi mới đi kèm với mở cửa, tăng cường giao lưu trên mọi phươngdiện: kinh tế, tư tưởng, văn hóa….Gần 30 năm sau đổi mới, đất nước đã thayđổi toàn diện, đi cùng với lợi thế là nhiều thách thức, khó khăn cần giải quyếtmột cách hài hòa, hợp lý

Trang 13

1.1.2 Bối cảnh văn hóa – xã hội

Kinh tế thay đổi tất yếu dẫn tới sự thay đổi của văn hóa – tư tưởng.Nền kinh tế thị trường đòi hỏi những yêu cầu khác với nền kinh tế bao cấp:

đề cao vai trò của doanh nhân bên cạnh vai trò của công nhân, nông dân;thành thị với nếp sống công nghiệp được duy trì tập trung thay vì xé lẻ vềcác vùng nông thôn như trước Từ cuộc sống không bình thường của chiếntranh, con người trở về cuộc sống bình thường với nỗi lo cơm áo gạo tiền,những lo toan thường nhật, những mối quan hệ phức tạp Trước đây dohoàn cảnh lịch sử, ý thức cá nhân phải nhường chỗ cho ý thức cộng đồng,đời sống riêng tư của mỗi người phải thu hẹp lại tối thiểu nhường chỗ chođời sống chung của cả dân tộc Tương tự, không gian văn hóa, văn học bịthu hẹp, nhà văn phải mài giũa ngọn bút để nhiệt tình “ngợi ca, cổ vũ”,sáng tạo nghệ thuật bị đóng khung trong những motif quen thuộc… Saungày đất nước thống nhất, xã hội có sự thay đổi trên mọi mặt của đời sống,các giá trị nhân cách, đạo đức trước đây tưởng vững bền bắt đầu lung lay

và đổ vỡ Thực ra trong lịch sử phát triển, sự thay đổi về chính trị bao giờcũng kéo theo những biến thiên vĩ đại của xã hội, thời kì đầu giao thoa giữa

cũ và mới luôn có những loay hoay, hoang mang khi mà giá trị cũ chưathực sự biến mất, giá trị mới chưa đủ vững chãi để trở thành những chuẩnmực mới Đời sống xã hội – tư tưởng của nước ta những năm đầu sau giảiphóng cũng diễn biến đầy mâu thuẫn và phức tạp như vậy

Sau 1975 và đặc biệt sau Đại hội Đảng VI, các nhà văn đã có sự nhận

thức lại trong cảm hứng và cách thức sáng tác Với những tác phẩm tiếp tục

viết về chiến tranh, các nhà văn đặc biệt là những nhà văn – chiến sĩ viết như

một sự tri ân dành cho đồng đội mình Nguyễn Minh Châu đã từng nói “Viết

về hai cuộc kháng chiến, viết về chiến tranh, nhiều đồng chí cầm bút viết văn trong quân đội đã đứng tuổi nhiều lần nói tới công việc đó như một trách

Trang 14

nhiệm, một món nợ chưa trả được Một món nợ chưa trả và không thể nào quên” [7;12]

Vẫn coi trọng mục đích phản ánh cuộc kháng chiến vĩ đại, khẳng địnhchính nghĩa, khẳng định phẩm giá dân tộc, nhưng sau 1975, nhà văn nhấnmạnh hơn vào yêu cầu “chân thực” Không bằng lòng với cái hiện thực được

lí tưởng hóa một chiều, họ xác định “không chỉ nói đến thắng lợi mà còn cầnnói đến tổn thất, hi sinh, không chỉ nói đến niềm vui mà còn nói đến nỗi đaukhổ do quân thù gây nên” Chu Lai là một trong những nhà văn Việt Nam đầu

tiên nói về bản chất của chiến tranh khác với quan niệm truyền thống: “Bằng

những kiểm nghiệm bản thân, tôi hiểu ra rằng chiến tranh quả thật không vui

vẻ gì, đối với bất cứ dân tộc nào, dù là tự vệ hay xâm lược, chiến tranh đều mang ý nghĩa bi kịch” Nhà phê bình Hồng Diệu dứt khoát cho rằng, nhà văn

cần “viết về thân phận con người trong cuộc chiến, còn các sự kiện thì hãy

dành phần cho các nhà sử học và các nhà quân sự” Thực tế sáng tác từ

khoảng giữa thập kỉ 80 diễn biến đúng như dự đoán và mong muốn của cácnhà văn Khi lấy con người làm hệ quy chiếu, chiến tranh sẽ là nỗi đau, là hisinh, mất mát Nó để lại những hậu quả khó bề đo đếm bằng cái nhìn bênngoài Với nhiều nhà văn, việc đề cao tính người và tình người là mục tiêu vôcùng quan trọng

1.2 Môi trường văn học và một số biểu hiện của khuynh hướng nhận thức lại trong văn xuôi Việt Nam sau 1975

Không phải đợi đến những năm sau 1975, tư tưởng đổi mới văn họcmới bắt đầu manh nha hình thành Ngay từ dòng chảy mạnh mẽ của văn học

cách mạng trước đó đã có “những bậc kì tài xuất đầu lộ diện”: Nguyễn Đình

Thi, Trần Dần, Lê Đạt… Đến sau 1975 nhu cầu đổi mới nghệ thuật càng trởnên cấp thiết hơn bao giờ hết đối với cả người sáng tác và người tiếp nhận.Nhờ đường lối mở cửa giao lưu mở rộng văn hóa của Đảng, nhiều luồng tư

Trang 15

tưởng nghệ thuật của phương Tây du nhập và ảnh hưởng không nhỏ tới sự tìmtòi, sáng tạo của nhà văn mà thay đổi cả thị hiếu của công chúng Người đọcngày càng đòi hỏi văn chương không được đứng ngoài rìa cuộc sống mà phảimang hơi thở của cuộc sống đời thường.

Sự biến đổi mạnh mẽ về chính trị kinh tế, văn hoá, xã hội là cơ sở cho

sự xuất hiện của khuynh hướng tiểu thuyết nhận thức lại Mọi người thấy cầnthiết phải nhìn nhận lại các giá trị của quá khứ với một cái nhìn toàn diện, sâusắc và tinh nhạy Đây cũng là khuynh hướng biểu thị tinh thần dân chủ trongđời sống nói riêng và văn học nói chung

Môi trường văn học sau 1975 chỉ thực sự sôi động từ sau 1986 Giaiđoạn 10 năm sau giải phóng (1975 – 1985) văn học nghệ thuật vẫn vận độngtheo quán tính của văn học thời chiến Đề tài về chiến tranh và người lính vẫn

là đề tài cơ bản của nhiều sáng tác văn học Các sáng tác ấy vẫn thể hiện nhãnquan giá trị và nguyên tắc tư duy nghệ thuật của nền văn học sử thi viết theophương pháp hiện thực xã hội chủ nghĩa Từ sau năm 1986, tiếng nói sử thitrong văn học lắng xuống nhường chỗ cho tiếng nói thế sự vang lên Tuy

nhiên tiếng nói thế sự ấy “không vang lên giữa cánh đồng bát ngát của hợp

tác xã hay giữa đồi rừng mênh mông của công trường… mà thường cất lên giữa chốn công quyền và phần lớn là ở nơi hội họp” (Lã Nguyên) Đổi mới

văn học suy cho cùng là đổi mới quan niệm: quan niệm về con người, về đờisống và quan niệm về bản thân văn học nghệ thuật Tiếng nói của văn học thế

sự trở về với hiện thực trong muôn vàn những sinh hoạt đời thường đang bầy

ra trước mắt Nó nói thật to những gì văn học sử thi vẫn giấu kín, không đượcnói và không dám nói Điều đó đã mở đường cho khuynh hướng nhận thức lạiphát triển mạnh mẽ trong giai đoạn văn học này

Tư duy nghệ thuật của các nhà văn thời hiện đại cũng có rất nhiều điểm

khác biệt với tư duy nghệ thuật truyền thống Trong Gặp gỡ cuối năm, nhà

Trang 16

văn Nguyễn Khải đã khẳng định: “tôi thích cái hôm nay, cái hôm nay ngổn

ngang, bề bộn, bóng tối và ánh sáng, màu đỏ với màu đen đầy rẫy những biến đổi, những bất ngờ mới thật là một mảnh đất phì nhiêu cho các cây bút thả sức khai vỡ” “Cái hôm nay” của nhà văn Nguyễn Khải là hiện thực đa tầng,

thứ hiện thực “chưa hoàn thành” Với cảm hứng phê phán mạnh mẽ trên tinhthần nhân bản, nhà văn đã xem xét lại tất cả các giá trị, các hiện tượng củamột giai đoạn lịch sử đầy biến động của dân tộc Khuynh hướng nhận thức lại

đã nhìn lại lịch sử, chiến tranh, các quan hệ trong xã hội, bi kịch của con

người trong xã hội đó Thời xa vắng của Lê Lựu được xem là tác phẩm khơi

dòng trong khuynh hướng này

Có thể nói khuynh hướng nhận thức lại đã nhận xét, đánh giá lại xã hộivới tất cả những yếu tố cấu thành nên nó Nhà văn nhìn nhận lại tất cả bằng conmắt tỉnh táo của ngày hôm nay với tính dân chủ và tinh thần nhân bản Nhậnthức lại trở thành một khuynh hướng tiểu thuyết nổi bật của thời kỳ đổi mới

1.2.1 Nhận thức lại lịch sử

Trước đổi mới, lịch sử được nhìn nhận một chiều theo đúng quanđiểm, cách đánh giá ghi chép của các sử quan trong chính sử Tuy nhiên,trước sự đổi thay của tất cả các yếu tố trong xã hội và đặc biệt là tính dânchủ trong xã hội nói chung và trong sáng tác văn học nói riêng, nhà văn đãmạnh dạn viết, mạnh dạn bày tỏ quan điểm, chính kiến của cá nhân mình.Lịch sử và các giá trị của nó đã được soi rọi từ mọi góc cạnh nhằm tái hiệnlịch sử một cách sống động trên tinh thần mới một cách nhân bản Một số

tác phẩm xuất sắc ra đời và được độc giả đón nhận nồng nhiệt: Sông Côn

mùa lũ (Nguyễn Mộng Giác), Hồ Quý Ly, Mẫu thượng ngàn (Nguyễn Xuân

Khánh), Giàn thiêu (Võ Thị Hảo)…

Nhà văn có thể công khai bày tỏ sự nhận thức của mình trước nhữnggiá trị của một thời đã qua, mạnh dạn đề cập đến các đề tài một thời mang

Trang 17

tính nhạy cảm như cải cách ruộng đất, phê phán bệnh cuồng tín và những ngộnhận, bệnh tả khuynh, giáo điều…

Ba người khác của Tô Hoài viết về cải cách ruộng đất Đây là chủ

trương đúng đắn nhưng, thái độ tả khuynh trong quá trình tiến hành cải cách

đã làm cho nông dân tiêu điều, nhiều số phận bị vì dập một cách oan ức, baocảnh ngộ bi hài, bao gia đình điêu đứng, khổ sở, li tán Bức tranh hiện thựcthời kì cải cách hiện lên sinh động, chân thực, đầy xót xa qua đôi mắt tinhquái và hài hước của người kể chuyện mang bóng dáng của tác giả Do có độlùi thời gian, tác giả đã phơi bày những nét bản năng, ấu trĩ, những sai lầm vàtội lỗi của những con người trong đội công tác

Với những sáng tác viết về thời kỳ cải cách ruộng đất, hiện thực mới

mẻ của nông thôn trong thời kì đó với những mảng sáng tối khác nhau hiệnlên rõ nét, chân thực, sống động Đó là những bức tranh góp phần khôi phụclại diện mạo của một thời đã qua một cách trung thực Với cảm hứng nhậnthức lại quá khứ, các nhà văn đã lật xới vấn đề một cách dứt khoát với cáinhìn không khoan nhượng trước sự thật, nhìn thẳng vào sự thật để phản ánh,phân tích, đánh giá

Không chỉ đánh giá, nhìn nhận lại các sự kiện lịch sử bằng cái nhìnnghiêm khắc, tỉnh táo, các tác giả thời kì đổi mới còn nhìn nhận lại cả mộtthời kì, cái thời chưa xa lắm, để nhận ra những hạn chế của cái thời đã qua, sự

ấu trĩ của một thời và của chính mình trong cái thời đã qua ấy

Thời xa vắng của Lê Lựu lại mang đến cái nhìn về một thời mà con

người phải sống vô cùng khốn khổ Tác phẩm là câu chuyện về Giang MinhSài với những bi kịch của anh Sau biết bao sai lầm, vấp ngã, Sài mới ngộ rasai lầm dẫn đời mình đến bi kịch là không dám cất lên tiếng nói cá nhân, luônchấp hành mệnh lệnh và mong muốn của người khác mà không dám đấu tranhbảo vệ hạnh phúc của mình Con người nhân danh tập thể, cộng đồng đã nghĩ

Trang 18

hộ, giải quyết hộ cho từng cá nhân mà không quan tâm đến mong muốn vànhu cầu, tâm tư và nguyện vọng của họ Tập thể đã quyết định thay Sài, ngay

cả những chuyện riêng tư thầm kín nhất Rốt cuộc, cuộc đời Sài chìm trongmột chuỗi bi hài kịch đầy đau đớn, xót xa Qua tác phẩm có thể nhận ra mộtđiều, lòng tốt đặt không đúng chỗ và mang tính áp đặt sẽ đẩy con người vàovòng bi kịch mà cái giá phải trả là không hề rẻ Sự ấu trĩ, trói buộc của hoàncảnh là trở lực ngăn cản con người trên bước đường kiếm tìm hạnh phúc

Nhìn nhận lại thời kì lịch sử với các sự kiện lịch sử đã thể hiện tinhthần tự vấn trên cơ sở nhận thức lại quá khứ Đây cũng chính là tín hiệukhẳng định tiểu thuyết Việt Nam thời kì đổi mới đã có những cách tân trong

tư duy tiểu thuyết

1.2.2 Nhận thức lại chiến tranh

Các tác phẩm viết về đề tài chiến tranh của khuynh hướng này đã xemxét cuộc chiến dưới góc độ sự khốc liệt của nó, những mất mát hy sinh trongchiến tranh ngay cả khi nó đã đi qua Sức ám ảnh của nó với những người đã

đi qua cuộc chiến là mãi mãi Những sáng tác này đã đi ngược lại khuynh

hướng sử thi trước năm 1975 Tiêu biểu là Miền cháy (Nguyễn Minh Châu),

Đất trắng (Nguyễn Trọng Oánh), Nỗi buồn chiến tranh (Bảo Ninh), Ăn mày

dĩ vãng (Chu Lai)…

Chiến tranh đã đi qua nhưng nó không phải là một giấc mơ mà thật sự

là một cơn ác mộng khủng khiếp Cơn ác mộng đó đã để lại những vết thươngkhông bao giờ kín miệng được Các nhà văn thời kỳ đổi mới đã khai thác đềtài này theo một tư duy mới với bao điều còn khuất lấp, chưa được phơi bày,phanh phui Trong thời kỳ kháng chiến, lý tưởng cách mạng, lòng yêu nướcsục sôi và tinh thần đoàn kết dân tộc trong cuộc trường chinh vĩ đại và cũngđầy khốc liệt Nhà văn viết về đề tài này chủ yếu là ngợi ca những tấm gươnganh hùng cách mạng Nhưng sang thời kỳ đổi mới, nhà văn không thể cứ giữ

Trang 19

cái nhìn đậm chất sử thi mãi được Chu Lai bày tỏ ý kiến: “Nên miêu tả chiến

tranh như nó vẫn có Chiến tranh là bi kịch và chiến tranh cũng là bi tráng”.

Đất nước bước vào hoà bình là dịp để người cầm bút và người đọc có điều kiệntĩnh tâm, soi chiếu bằng sự trải nghiệm tất cả những giá trị trong quá khứ để có

một cái nhìn công bằng với tất cả “Văn học viết về chiến tranh cách mạng là

một cánh đồng không bao giờ bạc màu, càng lật xới càng màu mỡ”.

Trong Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh, vô số cái chết của những

người vô danh lẫn hữu danh ám ảnh người đọc Qua những hồi ức, nhữnggiấc mơ của nhân vật Kiên, những cái chết đó đầy sự kinh hoàng, ám ảnh.Đồng đội của Kiên lần lượt ra đi, không cái chết nào giống cái chết nào, cóchăng chỉ giống nhau ở một điểm là đều kinh hoàng và đau xót Như cái chếtcủa những người lính tiểu đoàn 27 độc lập mà Kiên là 1 trong 10 người may

mắn sống sót: “một trận đánh ghê rợn, độc ác, bạo tàn…Máu tung xối, chảy

toé ồng ộc, nhoe nhoét… thân thể giập vỡ, tanh bành, phì phụt bốc hơi nóng”.

Kết qủa của trận huỷ diệt ấy là “Bãi chiến trường biến thành đầm lầy, mặt

nước màu nâu thẫm nổi váng đỏ lòm, lềnh bềnh xác người sấp ngửa, xác muông thú cháy trui, trương sình trôi lẫn với cành lá và thân cây to nhỏ bị mảnh pháo băm” [29;72] Chiến tranh đã dồn con người vào những nơi rừng

thiêng nước độc, chim chóc khóc than như người, măng rừng đỏ như tảng thịtròng ròng máu, người sống biệt lập hoá vượn… khiến người ta “không chết vì

đạn giặc thì cũng chết vì khiếp sợ” Chiến tranh là “Cõi không nhà, không

cửa, lang thang khốn khổ phiêu bạt vĩ đại, là cõi không đàn ông, không đàn

bà, là thế giới bạt sầu vô cảm và tuyệt tự khủng khiếp nhất của dòng, giống con người” Bước vào chiến tranh là bước vào cõi một sống một chết, chân

trời chết chóc mở ra mênh mang, vô tận, những nấm mồ bộ đội mọc lên nhấpnhô tựa sóng cồn… thật khốc liệt, thảm thương

Sau cuộc càn, trung đoàn của Sáu Nguyện (Ba lần và một lần – Chu

Lai) rơi vào tình trạng hết sức nan giải: “Cả cánh rừng chìm trong cái đói rã

Trang 20

rời Củ sắp hết Măng cũng được đào đến nhưng mục cuối cùng Tóc trên đầu con gái đã bắt đầu rụng dần rồi rụng từng đám Mặt con trai đã vêu vao hơn, không sinh khí, không chuyển động, đến nỗi có cậu xuống suối nhìn con chim nhăn nhúm, teo tóp như lặn vào trong của mình đã phải thốt lên: giá bây giờ

có đứa con gái nào cởi truồng nằm úp mặt lên bụng cả ngày thì thằng nhỏ vẫn không nhúc nhích! Nghe được câu nói này, các cô gái chỉ cười nhưng nước mắt lặng lẽ chảy ra Chao ôi ! Thì chúng tôi cũng đâu có khác gì Ngay

cả đến căn bệnh đang không lăn ra sùi bọt mép cũng tự dưng biến mất kia kìa

! khổ! Còn gì trong người nữa mà khát khao, còn cái gì trong tim nữa mà mộng mơ! Giọt tinh chất cuối cùng đã được chiết ra để nắm giữ cây súng mất rồi” [18;124] Những con chữ nhảy nhót trước mắt ta khiến ta như cảm nhận

được sức tàn phá, bước chuyển động ghê ghớm của cái đói trên từng khuônmặt con trai, trên mái tóc từng người con gái Cái đói hủy diệt mọi ham muốn,mọi khát khao của tuổi trẻ Và như một nỗi đau, cái đói làm biến mất căn

bệnh “không đâu lại lăn ra sùi bọt mép”- đó là sự thiếu thốn của đời sống

riêng tư hạnh phúc lứa đôi, khát khao tuổi trẻ… Tất cả sự thiếu hụt ấy, sự lụitàn ấy được cắt nghĩa bởi một lý tưởng đẹp “để nắm giữ cây súng”

Suy cho cùng, cho dù chết vì mục đích gì, chết vô nghĩa hay có nghĩathì chiến tranh cũng là nơi nồi da nấu thịt, kẻ ngã xuống dù ở tuyến này haytuyến kia đều là con dân của một vùng, đất nào đó, có ai xót ruột giùmkhông? Câu hỏi nhức nhối này không biết ai sẽ trả lời và trả lời thế nào! Đâycũng là nét mới trong cái nhìn nhận thức lại mang đậm chất nhân văn và thấmđẫm tình người

1.2.3 Đổi mới cách nhìn về thực tại

Bước vào thời kỳ đổi mới, xã hội đầy những biến động Con người chịu

sự tác động của những biến đổi đó nên cũng thay đổi, trước đây con ngườiđược đánh giá qua ý thức cộng đồng, ý thức tập thể Đến nay, con người cánhân với những nhu cầu, khát vọng, ước mơ, hoài bão đươc đề cập, được

Trang 21

quan tâm Nhiều tác phẩm của khuynh hướng nhận thức lại đã xem xét, đánhgiá các quan hệ đạo đức – xã hội và những bi kịch của sự được mất trongcuộc sống Tức là nhìn nhận con người trong sự va đập với các yếu tố kháctrong xã hội, nhìn nhận con người trong “tổng hoà các mối quan hệ xã hộitrong tính hiện thực của nó”, quan hệ giữa các cá nhân trong gia đình, quan hệgiữa cá nhân với cá nhân trong xã hội, những bi kịch và mất mát trong cuộc

sống… Bến không chồng (Dương Hướng) nhận thức lại xã hội qua hình ảnh

nông thôn Việt Nam với những hủ tục lạc hậu và ấu trĩ khiến cho đời sốngcon người trở nên bất hạnh, con người không được sống cho mình, mọi ước

mơ, hoài bão đều không thể thực hiện được Tất cả những điều ấy đã đẩy conngười rơi vào bi kịch

Mùa lá rụng trong vườn (Ma Văn Kháng) rung hồi chuông báo động

cho mọi người nguy cơ rạn vỡ của nhiều giá trị trước cơn bão của đời sốngkinh tế thị trường Gia đình là nhân tố quan trọng của xã hội nhưng cũng lànhân tố đầu tiên chịu sự tác động của cơn bão đó Xã hội hiện đại mang đếncho con người nhiều cơ hội để phát triển song cũng có vô số cạm bẫy khiếncon người có thể mắc vào và rơi xuống vực thẳm của sự tha hoá

Trong tác phẩm Mùa lá rụng trong vườn, Lý là nhân vật phức tạp, đa

diện, chịu sự tác động rất lớn của môi trường sống của xã hội hiện đại Đây làmôi trường thử thách khiến bản tính của con người bộc lộ một cách rõ rệt vàtoàn diện nhất Ma Văn Kháng đã thông qua nhân vật Lý để gióng lên hồichuông báo động về tác động của môi trường xã hội đến từng cá nhân trongmỗi gia đình và cả những vấn đề bức thiết của đời sống gia đình trước nhữngđổi thay của bối cảnh xã hội Trước sự tác động của mặt trái nền kinh tế thịtrường, mỗi thành viên trong gia đình phải tự mình lựa chọn cách chống cự lạivới sự thực nghiệt ngã Ông Bằng đã chọn cách chống cự lại bằng việc dùngcái đẹp để lấn át cái xấu, lẩn tránh và tự tăng cường đức tin, nhưng rồi vẫn

Trang 22

không che dấu được sự thật phũ phàng Cừ - con thứ của ông, sau những sailầm nối tiếp nhau đã vượt biên trốn ra nước ngoài Cừ tôn sùng chủ nghĩa vậtchất và lối sống vị kỷ Anh ta trượt mãi trên con đường lầm lạc rồi cuối cùngnổi loạn và bế tắc, kết thúc đời sống của mình nơi xứ người Đến phút cuối

Cừ mới nhận ra ý nghĩa thiêng liêng của gia đình và dân tộc Nhân vậtPhượng lựa chọn cách đem tình thương yêu, sự chia sẻ và cảm thông sâu sắcđến với mọi người như là một cách thức chống lại tác động độc hại của mặttrái xã hội Lựa chọn thế nào là tuỳ thuộc vào cách nghĩ, cách sống của mỗingười Trong xã hội hiện đại đầy rẫy những Lý, những Cừ Cái xấu, cái vô lý

là sản phẩm của cuộc sống hiện thực Muốn biến cải nó thì cái giá phải trảkhông hề rẻ

Hiện thực khốc liệt của cuộc sống là liều thuốc thử nhân cách của conngười Có nhiều người không gục ngã dưới bom đạn của kẻ thù mà lại gụcngã trước những cám dỗ của cuộc sống vì không thắng được dục vọng của

bản thân Trong Ăn mày dĩ vãng, Ba Sương là mẫu người lý tưởng, đẹp cả

ngoại hình và nội tâm Trong chiến tranh, cô mang vẻ ngoài mềm mại, dịudàng, nhân hậu, dũng cảm, yêu và chiến đấu hết mình Ra khỏi cuộc chiến, cô

du kích đáng trân trọng ngày nào giờ “đầu thai” thành Tư Lan – một bà giámđốc xa lạ, uy quyền và sang trong nhưng lạnh lùng và khắc nghiệt Ba Sươngphủ nhận quá khứ, lãng quên những giá trị tốt đẹp của quá khứ để chạy theotham vọng, địa vị quyền lực Do một sự nhầm lẫn mà mọi người tưởng BaSương đã hy sinh và coi cô như một anh hùng Tên tuổi cô được ghi vào sửsách và được phủ một vầng hào quang sáng chói Ban đầu là do không muốnmang đến những rắc rối cho mọi người nếu sự thật được phơi bày Nhưng rồi

tệ hơn, dần dà, chính Ba Sương lại ngây ngất với vầng hào quang giả dối ấy,bắt đầu sinh tật ngắm nghía, thưởng thức bản thân mình như chính mình lànhân vật anh hùng lưu truyền trong sử sách thật Hiện thực ấy đặt ra cho Ba

Trang 23

Sương sự lựa chọn: “can đảm, đứng ra rũ tuột vinh quang để được bạn bè,

được yên tĩnh suốt đời, hoặc tiếp tục im lặng để có tất cả, cả cuộc sống và cả niềm vinh quang của người chết” [17;325] Cuối cùng, Sương “đã hèn nhát chọn nhẽ thứ hai bằng cách giạt hẳn về quê cũ, về cái nơi không hề một người nào biết tôi là ai, để đầu thai làm một người khác” [17;325] Quá khứ

được Ba Sương sử dụng làm bệ phóng cho bước đường danh vọng của mình,chối bỏ đồng đội, và xoá sạch quá khứ Từ một người lính cách mạng vớinhững phẩm chất tốt đẹp, Sương trở thành một kẻ đồng lõa và tạo đà cho cái

ác phát triển mình Sự tha hóa của Ba Sương thật đau xót, cay đắng vì mộtngười dũng cảm đối mặt với cái chết lại có thể gục ngã trước sự cám dỗ của

hư danh và quyền lực

Viết về những cái tha hóa trong thời đại đầy tha hóa, các nhà văn thời

kỳ đổi mới đã và đang thực hiện tốt thiên chức của mình là khơi gợi niềm tincủa con người đối với cái Chân - Thiện - Mĩ

1.3 Chu Lai trong khuynh hướng nhận thức lại của tiểu thuyết Việt Nam sau 1975

Chu Lai tên khai sinh là Chu Ân Lai, khi đi học đổi thành Chu Văn Lai

và khi vào bộ đội gọi tắt là Chu Lai Ông sinh ngày 5/2/1946 quê gốc ở thônTam Nông, xã Hưng Đạo, huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên Cha ông là nhà viếtkịch nổi tiếng Học Phi Gia đình Chu Lai chuyển lên Hà Nội sinh sống từ lâu.Bởi vậy đã hun đúc lên trong nhà văn Chu Lai cái hương vị ngọt ngào dung dịcủa quê hương, làng mạc cộng với cốt cách lịch lãm, lãng mạn của một conngười đất kinh thành

Tốt nghiệp phổ thông, năm 16 tuổi ông bắt đầu vào bộ đội Cuộc đờibinh nghiệp của ông bắt đầu từ đó và ông khởi sự văn nghiệp cũng từ nhữngnăm khói lửa chiến tranh Và như một duyên nợ, những trang văn của ông đềumang vóc dáng của cuộc chiến tranh Cho đến nay số lượng tác phẩm của

Trang 24

ông khá nhiều: 11 cuốn tiểu thuyết, tập truyện ngắn “Phố nhà binh”, ký sự

“Nhà lao cây dừa”, … Bao trùm lên sáng tác của Chu Lai là cái nhìn mới về

hiện thực cuộc chiến tranh và sự day dứt, trăn trở về số phận con người lính trong cuộc chiến tranh và thời hậu chiến Dưới ngòi bút của ông,hiện thực về một cuộc chiến tranh và hình ảnh những người lính hiện lênkhông chỉ bằng sự quan sát, mà bằng cả sự chiêm nghiệm, suy tư của chínhngười lính ấy trước cuộc đời hôm nay Vẫn đề tài ấy nhưng những nhà vănsau 1975 nói chung và Chu Lai nói riêng đã có cách cảm, cách nghĩ, cách viếtchân thực hơn, giàu chất sống hơn Và cũng vì vậy, sẽ đau đớn hơn, rùng rợnhơn và kinh hoàng hơn Hơn ai hết là người trong cuộc, là người “chịu trận”,Chu Lai thấm thía những tàn khốc hủy hoại của cuộc chiến Và sự hủy hoạighê gớm của nó còn dai dẳng cả thời bình để đến nỗi ai đã từng trải qua cuộcchiến đó thì không thể sống bình thường được

người-1.3.1 Cảm hứng sáng tạo trong tiểu thuyết Chu Lai: chiến tranh và hiện thực hậu chiến

1.3.1.1 Cảm hứng chiến tranh

Từ tác phẩm đầu tay cho đến những tác phẩm gần đây nhất, đề tài chiếntranh cách mạng và người lính là mạch chảy không ngừng trong các sáng táccủa Chu Lai Nhưng cho dù đứng từ góc độ nào, trực tiếp hay gián tiếp thì vẫnhiện lên sau những con chữ, những trang viết của ông “bộ mặt gớm ghiếc củachiến tranh với những móng vuốt sắc nhọn của nó” Nhà văn đã từng định

nghĩa “chiến tranh là ngày nào cũng chôn người chết mà vẫn chưa đến lượt

mình” (Ăn mày dĩ vãng) và “chiến tranh thực sự là một kỷ niệm đẹp và buồn Tất cả những kỷ niệm có liên quan đến máu và nước mắt không bao giờ vui

cả Thế nên người ta không thể không bị ám ảnh… nếu anh đi qua dù chỉ một ngày trong chiến tranh, tự tay chôn dù chỉ một đồng đội thôi nó cũng nằm lại dấu vết cho đến suốt đời” (Ăn mày dĩ vãng) Sự “hằn lại dấu vết đến suốt đời”

Trang 25

trong văn Chu Lai đã biến thành những tác phẩm viết về chính đề tài đó bằngtất cả tâm huyết và sự chiêm nghiệm, như là một món nợ tinh thần mà ông đã

ấp ủ bấy lâu Và cũng bởi Chu Lai trước đề tài chiến tranh “không chỉ viết,tiếp cận mà là sống, day dứt, vật vã bằng tâm linh và máu thịt của chínhmình” nên cuộc chiến đó hiện lên với tất cả hình hài đường nét: có cả phầnanh dũng lẫn mất mát đau thương; có niềm vui, nỗi buồn có tình thương lòngdũng cảm; tính nhu nhược đớn hèn, có lòng trung thành và cả những giâyphút dao động… Nói chung là nó mang hai gam màu: dữ dội đến tận cùngnhưng cũng lãng mạn đến tận cùng Như nhà văn tâm sự: “nếu viết về chiếntranh mà chỉ là những trận đánh kinh hoàng và chết chóc thì không ai đọccả… nó phải dựa trên nền tảng của tình thương yêu”

1.3.1.2 Cảm hứng thời hậu chiến

“Hào quang choáng ngợp buổi đầu sau chiến tranh đã chóng vánh mai

một trong từng số phận Những người chết đã chết cả rồi, những người được sống tiếp tục sống trong khát vọng nồng cháy từng là cứu cánh của một thời, từng soi rọi cho chúng tôi một nội dung lịch sử, một thiên chức và vận hội của thế hệ mình, rủi thay đã không thể thành hiện ngay thực cùng thời với thắng lợi của cuộc kháng chiến như chúng tôi hằng tưởng” Đó là lời tâm sự,

là bi kịch của nhân vật Kiên (Nỗi buồn chiến tranh - Bảo Ninh) cũng là lời

tâm sự, là bi kịch của tất cả những người lính bước ra khỏi cuộc chiến tranh,cảm nhận một cuộc sống đời thường thô bạo của thời hậu chiến Người línhtrở nên bơ vơ, lạc lõng trước guồng quay của cơ chế thị trường, họ không biếtxoay sở như thế nào Để bước vào cuộc sống ấy người lính cũng cần phải cóđầy đủ trí tuệ và nghị lực như bước vào một cuộc chiến tranh vậy

Trở về từ chốn rừng xanh Hai Hùng, Ba Thành, Tám Tính (Ăn mày dĩ

vãng) thoát khỏi cái chết nhưng bao nhiêu sức lực, tuổi trẻ họ đã dốc vào

cuộc chiến Hành trang mang theo vào cuộc sống hòa bình hôm nay là một ba

lô con cóc, bộ quân phục bạc màu và những kí ức cả hạnh phúc cả đau đớn về

Trang 26

đồng đội, về những người đã ngã xuống trên chiến trường Với những cốnghiến cho đất nước, đáng lẽ họ phải được xã hội trân trọng, được bù đắp.Nhưng một thực tế là: họ cảm thấy lạc lõng giữa xã hội xô bồ, một xã hộiđang hỗn loạn bởi tiếng đập trống rỗng của chiếc dạ dày đã lấn át tiếng động

hào hùng của quá khứ” Do đó họ mang bi kịch đời thừa, họ thấy mình thừa

thãi giữa cuộc đời và rồi như một điều tất yếu họ tìm về quá khứ như một cứucánh cho linh hồn

Cảm hứng hậu chiến trong sáng tác của Chu Lai vẫn lấy hình ảnh ngườilính làm trung tâm Nếu trong chiến tranh, họ đối mặt với hiểm nguy, giankhổ thì ra khỏi cuộc chiến họ lại phải đối mặt với những mất mát, tổn thương

theo một cách khác Linh (Vòng tròn bội bạc) sau ngày giải phóng rơi vào bi

kịch của kẻ dư thừa, sống ngoài lề gia đình, xã hội Anh tự nhận mình làngười “thần kinh quá tải” do mười năm đánh đấm, lại đang quá tải lần thứ hai

do mấy năm nhức nhối thời bình Dẫu thực sự cố gắng nhưng anh vẫn khôngthể hòa nhập một cách bình thường với cuộc sống hiện tại Bi kịch của Linh là

bi kịch của buổi giao thời Bi kịch ấy lại được đẩy lên cao hơn khi nghe

những dòng suy nghĩ của anh khi đứng trước một người đàn bà điên: “Cô độc

đến như thế thì không còn cái cô độc nào hơn được nữa.Thật may con người kia không ý thức được cái cơ cực của mình Vì thế mà bà ấy hạnh phúc, hạnh phúc hơn chúng ta [19;152] Giá con người ta cũng rèn được cái tính khí bản

năng, vô hồn vô cảm ấy” Mang một tâm sự u uất như vậy nên anh sống mộtcuộc đời lạc lõng cả trong gia đình và xã hội

Không chỉ riêng Linh, có thể thấy rằng, tương lai của Hai Hùng “đã

nằm lại ở phía xa kia rồi Không phải là cuộc sống mới, thời đại mới, không phải là những hy vọng về tương lai tốt đẹp đã cứu rỗi tâm hồn mà trái lại, những tấn bi kịch của quá khứ đã nâng đỡ tâm hồn, và chút lòng ham sống còn lại không phải do ảo tưởng mà là nhờ sức mạnh của những hồi tưởng”

Trang 27

[17;254] Nhưng anh và thế hệ lính chiến của anh đã lầm, quá khứ không đủsức nhiệm màu để đem lại cho anh sự an bằng Anh càng núi kéo thì sự giãn

nỡ về khoảng cách giữa hôm qua và hôm nay càng lớn

Tuy nhiên, một khía cạnh khác trong sáng tác hậu chiến của Chu Lai là:

số phận người lính sau chiến tranh không phải ai cũng gặp trắc trở cả, có rấtnhiều số phận thăng hoa được khẳng định thêm một lần nữa, được xuôi chiềumát mái và được tiếp tục đóng góp năng lực dồi dào hơn trong cuộc sống mới

Đó là Tuấn xạ thủ, là Quân (Ăn mày dĩ vãng); Út Thêm, Hai Tính (Ba lần và

một lần)…Nhưng dường như số đó còn ít Bên cạnh đó cũng có những con

người đã tha hóa biến chất, sẵn sàng hy sinh đồng bào, đồng đội để chạy theo

danh vọng cá nhân như Năm Thành (Ba lần và một lần), hoặc chối bỏ quá

khứ để yên thân với những “vinh quang” trên con đường tìm kiếm quyền lực

và địa vị như Ba Sương (Ăn mày dĩ vãng) …Có thể gọi đó là sự tha hóa xói

thấy được “chất Chu Lai” có gì đó bùi bụi, ngang tàng nhưng đầy triết lý, trải

nghiệm về cuộc đời, con người một cách sâu lắng Sau ngày giải phóng, ChuLai viết nhiều hơn, vẫn là đề tài chiến tranh nhưng cách khai thác và thể hiệnmới mẻ hơn Đa số những tác phẩm ngay sau 1975 của Chu Lai vẫn theo đàquán tính của văn học Cách mạng: đậm tính sử thi Những tiểu thuyết như

Nắng đồng bằng (1978), Út Teng (1983), Gió không thổi từ biển (1985)… vẫn

được viết theo dòng thời gian tuyến tính, lịch sử - sự kiện; hiện thực chia ra

Trang 28

hai mảng rõ rệt: sáng – tối, ta – địch; nhân vật phân tuyến: chính diện – phảndiện; diễn biến nội tâm phức tạp, mâu thuẫn của nhân vật chưa nhiều Hìnhtượng người lính hay người phụ nữ trong sáng tác ở giai đoạn này của Chu

Lai vẫn mang một vẻ đẹp toàn vẹn, lí tưởng Cậu bé Teng (Út Teng) vẫn

mang dáng dấp của Tnú lúc còn nhỏ: nhanh nhẹn, dũng cảm, nóng tính Cô

thợ may Thanh Nhàn (Gió không thổi từ biển) vẫn đẹp, dịu dàng, kiên trung như cô Nguyệt của Mảnh trăng cuối rừng… Người lính cụ Hồ vẫn một lòng

vì lí tưởng cao cả hi sinh cho dân tộc như Sáu Việt (Út Teng), Ba Xuân (Gió

không thổi từ biển)… Tình yêu đôi lứa vẫn bắt nguồn từ tình cảm đồng đội,

nảy nở trong quá trình giác ngộ và hoạt động Cách mạng: Ba Xuân – Hai

Thanh (Gió không thổi từ biển)…

Sáng tác ở giai đoạn sau 1986 của Chu Lai bắt đầu bắt nhịp với cuộcsống đương đại, mang đậm hơi thở của cuộc sống sau đổi mới Nhân vật trungtâm là người lính hậu chiến đầy ám ảnh: họ - người tiếc nuối quá khứ, ngườiloay hoay với hiện tại, người quyết tâm thay đổi và thậm chí là tha hóa… Với

một loạt những tác phẩm Bãi bờ hoang lạnh (1990), Phố (1993), Ăn mày dĩ

vãng (1994), Ba lần và một lần (2000), Cuộc đời dài lắm (2002)… Chu Lai đã

đào xới vào mọi ngõ ngách của đời sống, mang đến những cái nhìn mới mẻ vềhiện thực hậu chiến, về người lính trong thời bình Người lính không xuấthiện trong những sự kiện đạn bom ác liệt mà chủ yếu trong trạng thái suy tư,

chiêm nghiệm, “sống với thời gian hai chiều”, họ vừa là con người của thời

hiện tại, của cuộc sống thường ngày vừa là con người của quá khứ trong nhucầu nhận thức lại quá khứ ấy Và thường là thế này: họ cô đơn, lạc lõng trongcuộc sống hiện tại, còn quá khứ tuy đã thành ký ức nhưng luôn là nỗi ám ảnhkhôn nguôi, đeo đẳng suốt cuộc đời họ Hệ quả của nhận thức mới về lịch sử,

về hiện thực và con người đã khiến Chu Lai tập trung hướng vào việc khám phá người lính dưới góc độ cá nhân, đời tư Khi được hiện lên với tất cả

Trang 29

những tính chất đa diện của con người đời thường, hình tượng người línhchân thực, gần gũi và ám ảnh hơn trong chân dung của những nhân vật bikịch, người lính đã được nhìn nhận như một “cá thể người” chứ không phải làhình ảnh biểu trưng cho tập thể, cho cộng đồng.

Cảm hứng nhận thức lại trong sáng tác của Chu Lai thể hiện ở giai đoạnnày đã có những đóng góp nhất định cho sự đổi mới văn xuôi Việt Nam sau

1975 Sự đổi mới không thể hiện ở đề tài bởi Chu Lai vẫn trung thành ở mảngthế mạnh của mình là chiến tranh và người lính Sự đổi mới rõ rệt nhất là ở sự

nhận thức lại về nội dung cũng như cách thể hiện đề tài quen thuộc đó Vẫn là

hình ảnh người lính nhưng là người lính giữa đời thường với những bất hạnh

và nỗi đau chẳng kém thời kì chiến tranh Hiện thực xã hội đất nước thời hậuchiến hiện lên chân thực với những biến thiên dữ dội cả về kinh tế, chính trị

và các giá trị đạo đức Với một loạt các tác phẩm như Ăn mày dĩ vãng, Phố,

Vòng tròn bội bạc, Ba lần và một lần… Chu Lai đã cho thấy được sự đổi mới

toàn diện về nội dung, cảm hứng, nhân vật, cốt truyện… góp phần đổi mớicho nền tiểu thuyết hậu chiến nói riêng, văn xuôi Việt Nam nói chung Dướigóc nhìn số phận của một nhà văn từng trải trận mạc và một tâm hồn nhạy cảm,người lính trong văn ông hiện lên “hết màu hết nét”, từ sự giả dối thấp hèn đến

sự cao thượng, thánh thiện, từ những lúc xông pha quên mình đến cả nhữnggiây phút yếu mềm rất con người…Và trong thời bình, người lính cũng đượcnhìn dưới góc độ hết màu hết nét như thế: họ mang nặng vết thương lòng vĩnhviễn không bao giờ lành, quay về quá khứ nhưng bị đánh bật trở lại với nỗi đaunhân đôi; cũng có những con người bị cuốn vào vòng xoáy của sự xói mòn đạođức… Nói chung là mỗi người lính là mỗi mảnh đời góp thành bộ mặt đa dạng,phức tạp của đời sống thời mở cửa.Và thông qua những nhận thức nghệ thuậtmới mẻ đó, Chu Lai muốn gửi đến thế hệ hôm nay bức thông điệp: con người

Trang 30

đương đại và cả mai sau, hãy tĩnh tâm lại, không được bỏ quên quá khứ hàohùng chứa đầy máu và nước mắt của cả một dân tộc.

Chương 2 CẢM HỨNG NHẬN THỨC LẠI TRONG TIỂU THUYẾT CHU LAI

(Qua hai tiểu thuyết “Nắng đồng bằng” và “Ăn mày dĩ vãng”)

2.1 Nhận thức lại về hiện thực

Quan niệm nghệ thuật của nhà văn đã có sự vận động từ quan niệmnhất phiến đến quan niệm đa chiều trên bình diện phản ánh hiện thực Hiện

thực trong tiểu thuyết Chu Lai ở “Nắng đồng bằng” là hiện thực trong cái

nhìn nguyên phiến, một chiều với quan niệm phân tuyến – đối lập địch – tacủa mô hình tiểu thuyết sử thi và cảm hứng lãng mạn như được “tráng lên mộtlớp men trữ tình” Sau 1986, Chu Lai đã thể hiện sự đổi mới trong quan niệmnghệ thuật về hiện thực, hướng đến phản ánh hiện thực đa diện, nhiều chiềukích Chiến tranh hiện lên như một bức tranh đa sắc màu, vừa bi tráng nhưngđầy bi kịch Trang văn Chu Lai đã thể hiện thấm thía sự tác động ghê gớmcủa chiến tranh đến tính cách, số phận con người Nhà văn không chú ý viết

để tái hiện chiến tranh đã xảy ra như thế nào, mà quan tâm hơn đến những sốphận cá nhân đã sống ra sao trong cuộc chiến đó và khi họ bước ra nó để vềvới đời thường

2.1.1 Chiến tranh với những mất mát, hi sinh

Chu Lai đã đi qua nhiều năm trận mạc và ám ảnh về chiến tranh trởthành nguồn cảm hứng chính như chảy tràn qua tất cả các tiểu thuyết của nhàvăn Cảm hứng này in đậm trên trang viết Chu Lai, biểu hiện ở những dạngthức đa dạng của hệ chủ đề Đó là hình ảnh cuộc chiến mang đậm chất sử thi

(Nắng đồng bằng) nhưng cũng là thời hậu chiến mang bi kịch lạc thời, cô đơn (Ăn mày dĩ vãng) Từ tác phẩm “Nắng đồng bằng” cho tới “Ăn mày dĩ vãng”,

Trang 31

ta thấy sự chuyển biến rõ rệt trong nhận thức về chiến tranh của tác giả Nếu

Nắng đồng bằng vẫn mang đậm dấu ấn của thời kháng chiến oanh liệt, với

niềm vui chiến thắng phơi phới, với “chất men” lạc quan yêu đời ngây ngất

thì ở Ăn mày dĩ vãng, “chất men” đó đột ngột tan biến mất, chỉ còn lại hiện thực đầy mất mát, hi sinh sau chiến tranh Hai tác phẩm là hai tiểu thuyết xuất

sắc viết theo hai gam màu khác nhau, ở hai thời điểm khác nhau Hai gammàu lãng mạn và trần trụi bổ sung cho nhau

Nắng đồng bằng ra đời năm 1977, không lâu sau chiến thắng giải

phóng miền Nam Khi đó vốn sống còn tràn ngập và tươi nguyên cộng vớiniềm đam mê của sức trẻ, Chu Lai viết cuốn tiểu thuyết đầu đời này chỉ trongvòng hai tháng ở Đà Lạt, trước khi vào trường viết văn Nguyễn Du Trong tácphẩm còn rất rõ, rất mới dấu ấn của một nhà văn – người lính vừa từ chiếntrường bước ra Hơi văn còn nguyên mùi thuốc súng Tác phẩm in đậm màusắc sử thi Gam màu lãng mạn nhiều hơn cái trần trụi của chiến tranh Niềmvui và niềm tin vào cuộc chiến cũng như tương lai đất nước thành cảm hứngquán xuyến tác phẩm Cuộc chiến ở đây tuy có gian khổ song vẫn tràn ngậpniềm vui Cảm hứng chính của nó vẫn là suy ngẫm về chiến tranh trong hoàncảnh vừa bước ra khỏi cuộc chiến tranh, còn bị chi phối bởi quán tính cuộcchiến Linh, nhân vật chính của truyện sau bao nhiêu tháng ngày ở rừng, saumột cuộc hành quân rồi bị lạc đường quá lâu, Linh vui sướng vì tìm được lại

đơn vị Anh tận hưởng cái Nắng đồng bằng một cách háo hức, đam mê Dù

chiến tranh không xóa đi sự khắc nghiệt nhưng nổi bật vẫn là niềm vui, niềm

tin: “Sau một thân cây to, một nòng súng AK và một quả đạn B40, tròn trùng

trục trong bóng đêm đều giàn về một hướng.” …Thật xa nữa, những mái tôn trăng trắng, hàng tre, con đường, cụm cao su, cái chuồng cu cao ngất nghểu…Bây giờ gặp chắc chả ai nhận ra… cái thằng Linh bò rào không biết mệt, cành thức đêm càng tươi hơn hớn.” [19;61] Cảm hứng lãng mạn đã làm

Trang 32

nhiều trang viết về chiến tranh mà lại đậm màu sắc trữ tình, như cảnh nhân

vật Linh tả trên con đường trở về đồng bằng: “Trời hưng hửng sáng Những

vệt nắng nhạt bị dứt đứt giữa chừng, không xuống nổi tới mặt đất Bình minh trong rừng cứ ngỡ hoàng hôn Một con sóc chuyền cành kêu gù gù trong cổ Tiếng chim hót buổi sớm nghe thanh thoát và trong trẻo quá! Linh đu lên một cành bứa, làm mấy động tác kéo tay Tiện đà, anh trèo luôn lên ngọn Con sông, nước đang lớn, ăm ắp đôi bờ một màu trắng sữa Bên kia sông, liên hoàn một dải rừng chồi lá thấp Và thật xa dưới nữa, cả màu xanh hiện ra bao la Đồng bằng đó ư?” [19;141] Chu Lai cũng đã tự đánh giá: Nắng đồng bằng tôi viết khi vừa bước qua cuộc chiến tranh nên cảm xúc còn tươi xanh,

vì thế thiếu đi mảng trần trụi mất mát”

Tới Ăn mày dĩ vãng, cảm hứng về chiến tranh đã khác hẳn Tác phẩm ra đời sau đó mười lăm năm (1992), nó đã lấy lại được cái mà Nắng đồng bằng

chưa phản ánh hết: đó là mảng trần trụi và mất mát nhưng tác phẩm vẫn

không đánh mất cảm xúc của “Nắng đồng bằng” đã có Chu Lai đã nhận định: “Cho đến bây giờ nhiều người nói rằng: Nắng đồng bằng là tác phẩm hay nhất của tôi, nhưng Ăn mày dĩ vãng làm tôi hài lòng hơn vì nó miêu tả được hai mặt của cuộc chiến” Ăn mày dĩ vãng, cùng với độ lùi của thời gian

cho phép sự chiêm nghiệm suy tư, chín chắn thể hiện rất rõ trong cách viếtcủa ông Trong tác phẩm này, cuộc chiến được soi ngắm qua nhiều góc độkhác nhau Sau bao tháng năm, niềm vui rạo rực của chiến thắng 1975 đã lùi

đi, chỉ còn lại những lo âu của thời hậu chiến Vì vậy, con người có cơ hộinhìn lại cuộc chiến một cách khách quan hơn Cũng như các tiểu thuyết viết

về chiến tranh thời kì này, “Ăn mày dĩ vãng” của Chu Lai cũng tái hiện chiến

tranh trong cái nhìn đa chiều, góc cạnh Chính Chu Lai đã từng phát biểu:

“Chiến tranh là bi kịch và chiến tranh cũng là bi tráng Nếu chỉ tô hồng đậm

chất hoan ca thì lại không phải là nó Nhưng chỉ tô đen toàn màu bi thảm, oán thán thì cũng càng không phải nó Chiến tranh có cả mất mát tận cùng và cả

Trang 33

hào hùng tột độ, có trần trụi và cũng có cả những khoảnh khắc lãng mạn, chân lâng.” Vẫn coi trọng mục đích phản ánh cuộc kháng chiến vĩ đại, khẳng định

chính nghĩa, khẳng định phẩm giá dân tộc, nhưng sau 1975, nhà văn nhấnmạnh hơn vào yêu cầu “chân thực” Không bằng lòng với cái hiện thực được

lí tưởng hóa một chiều, tác giả xác định không chỉ nói đến thắng lợi mà còncần nói đến tổn thất, hi sinh, không chỉ nói đến niềm vui mà còn nói đến nỗiđau khổ do quân thù gây nên Chính cái nhìn đa chiều đã làm tác giả nhận thấy

dư âm tàn khốc và ác liệt của chiến tranh Trong bất cứ cuộc chiến nào, nếuchỉ ca ngợi, tô hồng chiến thắng thì cũng là tội ác đối với những người đã ngãxuống cho chiến thắng đó Phải nhìn chiến tranh ở mọi góc độ thì mới nhận rabản chất của chiến tranh, để những thế hệ kế tiếp thấy được, sự khủng khiếpkhốc liệt của chiến tranh, hiểu được cái giá của nền độc lập, tự do và sự hysinh của bao thế hệ đi trước không là vô nghĩa Chiến tranh không chỉ đượcnhìn nhận ở chiều hướng ca ngợi những chiến thắng mà còn ở những mất mát,

hy sinh Chiến tranh không phải là thế giới đẹp đẽ, kỳ vĩ mà là thế giới của sựtàn phá, huỷ diệt, sầu thảm và buồn đau Nó trở thành chủ đề ám ảnh mãikhôn nguôi trong tác phẩm của ông Hai tiểu thuyết của Chu Lai nói riêng đãxuất hiện sự nhấn mạnh vào nỗi đau, sự mất mát, những tổn thất mà không sựthống kê nào có thể diễn tả của chiến tranh Tác giả dường như đang cùng suyngẫm lại hiện thực, đánh giá khách quan cả chiến công lẫn mất mát cùng vớinhân dân Hiện thực của chiến tranh là gì? Đâu chỉ là cờ hoa mà còn là máu,nước mắt, là sự hi sinh của triệu triệu lớp người cả hữu danh và vô danh.Chiến công là gì? Đâu chỉ là giành độc lập tự do mà còn là nghị lực vươn lênchiến thắng nỗi đau, mất mát mà chiến tranh để lại Tác phẩm đã góp phần soichiếu lại hiện thực quá khứ, hiện thực chiến tranh với tất cả các mặt phong

phú, đa chiều và chân thực nhất Nếu “Nắng đồng bằng”, nỗi đau đó còn phảng phất thì “Ăn mày dĩ vãng” đã thể hiện trực diện, không hề che giấu.

Trang 34

Sự ghê gớm của chiến tranh đầu tiên ở sự hi sinh của biết bao con

người Trong “Ăn mày dĩ vãng” của Chu Lai, người lính Hai Hùng cũng đã từng thốt lên “Chiến tranh không là cái gì khác ngoài chuyện ngày nào cũng

phải chôn nhau mà chưa đến lượt chôn mình” Cái chết có thể ập đến từ bất

cứ đâu, bất cứ lúc nào Chiến tranh đó cuốn con người vào quỹ đạo tối tămcủa nó Để đi đến được chiến thắng cuối cùng, biết bao người con ưu tú của

dân tộc đó ngã xuống Hai Hùng (Ăn mày dĩ vãng) đã nhận ra: “Cuộc chiến

tranh có thể là trò đùa nhưng sự mất mát là có thật Cuộc đời có thể là tấn tuồng nhưng sự đau khổ không bao giờ là màn kịch cả” [17,339] Khi đất

nước lâm nguy, cả dân tộc phải đứng lên bảo vệ mảnh đất thân yêu mà chaông bao đời đó đổ bao xương máu để gìn giữ, thà hy sinh tất cả để bảo vệ nềnđộc lập tự do Những người lính ngày nay, phải đối mặt với cái chết, có khichỉ cách cái chết trong gang tấc Cái chết cũng xuất hiện với tần xuất dày đặcvới tính chất kinh hoàng và ám ảnh cực độ Những câu hỏi, câu thông báo về

người hi sinh, người chết đã trở nên quen thuộc: “Thằng Xầm đã nhập vào

bọn lính Tiếng nói hỏi nhỏ :

- Thấy gì không ?

- Báo cáo anh Hai, có một chiếc nón bị thủng nằm bên cạnh vết máu,

chắc có thằng bị thương rồi! – Tiếng một thằng trả lời lưu loát” [17; 212]

- “Có làm sao không anh?”

“Thoáng thấy bộ cánh bà ba biểu tượng của dân địa phương, Hùng đãcau mặt

- “Chết chứ còn làm sao nữa!

- Có ai bị thương không?

Ngay trong lúc tự tình của đôi lứa, cái tàn bạo của chiến tranh vẫn ken

đặc: “Đó là Sương và Hùng Một người đứng và một người ngồi bập thuốc

trên võng Cả hai đều lặng thầm, chỉ đôi lúc nhìn sâu vào mắt nhau qua ánh

Trang 35

sáng tàn lửa đầu thuốc Hồi tối, khi trườn qua hàng rào chốt Mỹ, anh đã bị một cái lưỡi lam khứa vào bả vai sâu đến nửa phân Bây giờ, sợ anh đau nhức, lo anh nhiễm trùng, cô sang coi lại vết thương” [17;172].

Đó là những cái chết vì bàn tay tàn bạo của kẻ thù Thu – cô gái giaoliên bị tên biệt kích Mỹ mai phục trên đường, dẫn về hậu cứ giết chết Khiđồng đội tìm được đến nơi thì Thu chỉ còn là một cái xác lõa lồ, chân tay dẹo

dọ nằm trong một tư thế kỳ dị và “một chiếc cọc sần sùi, vạt nhọn cắm sâu

vào, xuyên tới đất… máu đỏ như sơn nhểu xuống tận bắp chân, bắn từng giọt lên bụng, lên ngực vẫn còn sự sống mới nứt, tạo thành những cánh bằng lăng

ma quái vừa ở đâu đó trên cao rụng xuống” [17;154] Hay Viên, cậu liên lạc

của Hai Hùng, trong trận đột ấp chiến lược đó bị mìn hất văng xa ba mét,mình mẩy nát tươm Kết cục của cuộc đột ấp đấy là “mười chín bồng gạo đổilấy một mạng người mười chín tuổi! Đau quá! Vô nghĩa quá!” Hai Hùng đó

phải thốt lên tự hỏi: “Chiến tranh… nó là cái gì nếu không phải là ngày nào

cũng có người chết mà vẫn chưa đến lượt mình” [17,39].

Có những cái chết do sự sơ suất vô trách nhiệm của chính đồng đội,những cái chết vô nghĩa lý Tuấn xạ thủ B41, đánh giặc như trò đùa và chưa

hề biết sợ là gì, lần đầu được phân công đảm trách cây hoả lực nặng thay choBảo đang bị sốt sét Táy máy thế nào mà để súng cướp cò, bắn nhằm bụng

Bảo khi cậu đang loay hoay chuẩn bị cơm chiều: “Bảo vẫn chưa chết, cái

miệng vẫn há ra ngáp ngáp, để lộ cả hàm răng nhuộm máu Máu đang phì bọt ở đằng mũ, máu ướt đẫm hai vạt áo, máu chảy loang xuống đùi…”

[17,78] Bảo chết mà chưa kịp hiểu chuyện gì xảy ra, chưa kịp hiểu vì sao

mình chết: “Thi thể Bảo, vẫn còn nguyên cái chuôi đạn trong bụng, được

quýnh quáng khênh đến một hố pháo ở gần cửa rừng Khi gượng nhẹ đặt được Bảo vào cái đáy hố méo mó, nham nhở, hai con mắt cậu ta vẫn còn mở nhưng là một thứ mở trống trải, vô hồn, nước da đã chuyển sang màu sáp

Trang 36

trắng.” [17;80] Hay có người chết vì sự lãng quên của đồng đội: “Trái tạc đạn tròn ủng, bóng láng, màu xanh cứt ngựa lắc qua lắc lại ngồ ngộ như con lật đật một chút rồi dừng…

Đúng lúc ấy, Hùng thét giật giọng:

- Chết!… Nằm xuống…

Mọi người chưa hiểu gì nhưng cũng đã kịp quăng nhanh người áp sát mặt đất, chỉ trừ có Khiển Cho đến tận khoảnh khắc cuối cùng ấy, Khiển vẫn không hiểu cái gì đang xảy ra với mình, giống một đứa bé còn đang ở trạng thái tiền vô thức sẵn sàng nhét đầu rắn độc vào mồm mút, anh ngơ ngẩn đưa tay ra cầm trở lại trái tạc đạn không hiểu với mục đích gì… Một thoáng cười lạnh lẽo chạy qua môi Cặp mắt mở to ngỡ ngàng… Mọi người chỉ còn kịp nghe tiếng Khiển vang lên ú ớ: “Ơ!… Nóng! Sao nóng thế?… Nóng quá anh Hùng…” rồi tiếp liền là một tia chớp nhoáng lên cùng một tiếng nổ chát chúa… Và sau đó là hết Là không còn gì cả Mọi vật lại trở về vẻ tĩnh lặng ban đầu Lác đác đó đây trong thinh không rờn rợn, nghe có tiếng lá, tiếng mùn đất rơi tinh tang… Tại chỗ Khiển ngồi, khi màn khói vàng tan ra, người

ta chỉ còn nhìn thấy một vết lõm hình học bằng miệng nón ở dưới đất Cả người, cả bàn ghế đã biến đi nhanh và gọn như vừa rồi ở đó chẳng có vật thể nào hiện diện cả.” [17;106] Chiến tranh là vậy, sinh mạng của con người

trong chiến tranh sao mà nhỏ nhoi, yếu ớt Tất cả họ đều chết một cáchthương tâm, đau xót, hầu hết đều ở tuổi thanh xuân, chưa biết đến hạnh phúccủa cuộc đời Có những cái chết đơn lẻ nhưng cũng có những cái chết tập thểvới hố chôn chung máu trộn bùn lẫn cùng xương thịt, thân xác họ hoà lẫn vàođất, trở thành nguồn dinh dưỡng cho cỏ cây

Chứng kiến những cái chết đầy ám ảnh, kinh hoàng của đồng độinhững người lính dù kiên gan đến mấy, dũng cảm đến mấy cũng phải có lúc

sợ chết nản lòng Tuấn (Ăn mày dĩ vãng) định tự thương để “được là thương

Trang 37

binh, được cáng ra bắc, được trở về nhà… ăn mày, bơm xe, bới rác, trông kho, sao cũng được miễn là được sống Nhà em chết hết rồi, còn mỗi mình em” [17;104] Hùng, một đại đội trưởng đặc nhiệm tài ba, dũng cảm cũng đã

từng “chúi sọ xuống hầm, chân giơ lên để tự thương vì tự sát thì sợ chết, đàongũ thì sợ nhục, chỉ dám tự thương để níu giữ chút danh dự Cái chết hiểnhiện ở khắp mọi nơi, có thể ập đến bất cứ lúc nào Cho nên người lính cũng

có thể có những phút giây yếu mềm, nghĩ đến cái chết như là một sự giảithoát Cuộc chiến dài dằng dặc mà chiến thắng không hẹn ngày Đứng trướcbiết bao cái chết kinh hoàng của đồng đội, sự dao động, sợ chết của ngườilính trong một tình huống nào đó là lẽ thường tình Sức người có hạn màchiến tranh thì mờ mịt, khủng khiếp Người lính cũng chỉ là những con ngườibình thường, mang trong mình những ước mơ nhỏ bé, những mong muốngiản dị Họ lao vào cuộc chiến vì mục đích cao cả, lớn lao và giấu đi nhữngước vọng đó trong lòng để tiếp tục chiến đấu cho mục đích đó Nhưng trướcnhững mất mát, hy sinh quá lớn vượt quá sức chịu đựng đến nỗi lý trí khôngthể thắng được nỗi sợ hãi thông thường của con người thì người lính hiện lênrất hiện thực, rất đời thường Họ cũng là những con người có những khát khaothầm kín, bản năng, thậm chí đôi lúc còn là hèn nhát ích kỷ, cứng nhắc

Trong chiến tranh người lính còn phải đối mặt với bao nhiêu khó khăn,gian khổ cả chục năm luôn đói ăn, đói muối, thậm chí còn phải nhận nhữngđắng cay từ chính phe mình với những án kỷ luật, khiển trách Người línhphải chấp nhận những mệnh lệnh, những nhiệm vụ cấp trên giao cho một cáchtuyệt đối cho dù đó có thể là những mệnh lệnh không hợp lí Hùng phải chấp

nhận đưa đơn vị chỉ còn lại “chín mống, mống nào cũng chỉ còn nửa sức lực,

phải đánh vào một vật rắn hàng trăm quân có dư thừa phương tiện phòng thủ” [17;183] dù biết rằng như thế có nghĩa là tự sát Kết cục của cuộc tập

kích không thành ấy là cái chết tức tưởi của đồng đội Do lạnh quá, yếu quá

Trang 38

mà người lính ấy đã bật lên một tiếng ho Sợ tiếng ho thú hai lại phụt ra khỏihọng sẽ kéo theo cái chết của bạ bè, anh đã tự nhét đất, nhét cỏ vào đầy cổhọng mình cho đến tắc thở Vì đã tha cho tên tù binh ngụy và phản đối cáimệnh lệnh vô nhân đạo mà Hai Hùng đã trở thành nạn nhân của thứ chủ nghĩađịa phương hẹp hòi - Thứ chủ nghĩa có mặt khắp nơi, làm thuyên giảm nhuệkhí chiến đấu, làm chậm tiến trình đi đến thắng lợi của cuộc kháng chiến, làmrệu rã lòng người, và có nguy cơ tan nát cơ đồ ngày mai Có thể thấy trongchiến tranh, người lính không chỉ đối mặt với hiểm nguy, khó khăn gia khổ,cái chết rình rập, đối diện với kẻ thù… mà còn gặp những bất lợi, những sưchủ quan duy ý chí từ chính hàng ngũ của mình.

Sự nhận thức lại về bản chất chiến tranh ấy gắn liền với những trăn trở,day dứt của người lính về vấn đề nhân tính Ít đề cập đến vấn đề ý thức hệ,người lính trong tiểu thuyết hậu chiến được soi chiếu dưới cái nhìn mang tính

nhân loại phổ quát Thông qua nhân vật Tuấn khi lý giải về căn bệnh “ vồ

gái” – một thứ bệnh bản năng của con người ở nhân vật Tám Tính, tác giả rút

ra sự thay đổi về nhân phẩm của con người trong chiến tranh: “Rút cục căn

bệnh của anh Tám thực chất là căn bệnh của chiến tranh, đáng yêu thôi Cũng như thói trầm uất là căn bệnh của tất cả những ai đã một lần cầm súng, chả đáng yêu chút nào Chả phải tình yêu và lòng biết ơn như anh nói chỉ là một phần thôi Đúng ra, thái bình, không chết chóc mới làm cho bệnh anh tiêu tán.” [17;300] Thông qua ngôn ngữ nhân vật, Chu Lai muốn thể hiện

tiếng nói lên án tố cáo hậu quả chiến tranh, chiến tranh gây nên sự chết chóc

và những căn bệnh quái gở ở con người…Đây là những triết lý từ nhân vậtnhưng cũng là triết lý mà tác giả muốn nói nhưng không trực tiếp nói ra màthông qua ngôn ngữ nhân vật của mình để thể hiện Đây không chỉ là cáchriêng Chu Lai sử dụng mà đa số nhà văn đều thể hiện tư tưởng của mình quatác phẩm thông qua hình tượng nhân vật mình dựng lên

Trang 39

Những người lính là những con người đi qua chiến tranh, phải buộc trởthành những “cỗ máy giết người”, phải giết chóc để tồn tại dù đó là nhiệm vụ.

Sự cảm thương không có chỗ trong cõi một sống một chết như chiến tranh.Bởi khi người lính trong một khoảnh khắc đánh mất lý trí vì lòng thương cóthể bị trả giá bằng chính mạng sống của mình Nhưng có những hoàn cảnh,lòng thương trỗi dậy mạnh mẽ như một thứ bản năng trong mỗi người lính,khiến giữa những con người cầm súng bên hai đầu chiến tuyến không còn sựphân biệt địch – ta mà chỉ còn niềm thương xót cho số kiếp làm người

Chiến tranh tàn phá nhân tính trong cuộc chiến hẳn là một lẽ, nhưngchưa thôi, chiến tranh bịt chặt cả con đường trở lại với bản thể sáng trong củatâm hồn con người Những mối tình trong chiến tranh, cái sợi chỉ mỏng manhníu kéo con người bền bỉ vượt qua chiến tranh ác liệt, cái ngọn lửa nuôi nấngkhát vọng được sống trong hạnh phúc thời bình nhiều lúc đã phụt đứt tronglửa đạn Giống tâm trạng của Hai Hùng khi hồi tưởng về mối tình với Ba

Sương trong Ăn mày dĩ vãng, trên hành trình tìm lại chính mình, kí ức đã rất

nhiều lần vò xé vào một nỗi đau khôn nguôi trong lòng Nghịch lý của chiếntranh là ở đấy, trong sự thức nhận đớn đau: trong cuộc chiến ấy “chính nghĩa

đã thắng, lòng nhân đã thắng, nhưng cái ác và cả bạo lực phi nhân cũng

thắng” Hai Hùng thấm thía rằng: “Chiến tranh càng phải giữ gìn nhân tính

chứ chiến tranh đâu có phải miếng đất cho thú tính tràn vào” [17;223] Lớn

hơn thế, đó là bức thông điệp đối với toàn nhân loại: chiến tranh chính là kẻthù gây nên những mất mát, đau thương và để lại những vết sẹo trên tâm hồnkhông bao giờ có thể hàn gắn lại được đối với bất kì ai đã từng đi qua nó; nhớ

về chiến tranh, nhớ về những năm tháng gian khổ không bao giờ quên ấycũng chính là đặt ra cho mình một mục tiêu, một hướng sống tốt đẹp hơn, ýnghĩa hơn để xứng đáng với nền hòa bình mà ta đang được chung sống

Từ hiện thực của chiến tranh ấy, Chu Lai đã khái quát được ý nghĩa,những giá trị đích thực của cuộc chiến mình vừa đi qua Đó là: không có

Trang 40

hạnh phúc nào tự dưng đến, nó đều phải được đổi bằng sự hi sinh Quantrọng không kém: chiến tranh cũng là mất mát, nó để lại tổn thất lớn với cảphe chính nghĩa và phi nghĩa.

2.1.2 Đời sống hậu chiến với những xung đột

Đời sống hậu chiến cũng được tái hiện với sự thay đổi lớn từ Nắng

đồng bằng cho tới Ăn mày dĩ vãng Ở Nắng đồng bằng, ta vẫn gặp cảm hứng

lãng mạn khi tái hiện hiện thực Cảm hứng ấy bắt nguồn từ lòng yêu nước,tinh thần xả thân vì nghĩa lớn, khát vọng độc lập tự do và lý tưởng xã hội chủnghĩa là kim chỉ nam

Bối cảnh xã hội thay đổi, con người cũng phải đối mặt với vô vànnhững vấn đề mà đời sống đặt ra Sự biến đổi mạnh mẽ về chính trị, kinh tế,văn hóa, xã hội buộc các nhà văn thời đổi mới phải có những thay đổi tư duynghệ thuật của mình Họ không còn nhìn cuộc sống bằng cái nhìn lãng mạnnữa mà nhìn cuộc sống trong tính toàn vẹn của nó, tức là nhà văn đã giã biệtcái nhìn sử thi để nhìn đời sống bằng cái nhìn thế sự - đời tư với cách tư duynhìn thẳng vào sự thật Vì thế, nhà văn phát hiện ra những bi kịch tiềm ẩn

trong cuộc sống Tiểu thuyết Ăn mày dĩ vãng của Chu Lai đã thể hiện rõ

những bi kịch này

Đầu tiên, đó là bi kịch trong gia đình Gia đình là hạt nhân, là tế bào xãhội Xã hội có ổn định hay không phụ thuộc vào rất nhiều vào sự ổn định bềnvững của gia đình Sự ổn định bền vững của gia đình lại phụ thuộc vào mỗi cánhân trong gia đình và nhiều yếu tố khác nữa Trong văn học trước 1975, đề tàigia đình ít xuất hiện, nhưng khi bước lên trang giấy nó đều mang vẻ đẹp lunglinh của sự chung thủy Vậy trong xã hội hiện đại, gia đình lại có vẻ lung laytrước những biến động của xã hội Không phải thành viên nào trong gia đìnhcũng có đủ tình yêu thương với nhau Điều đó đương nhiên dẫn tới sự tan nát,

chia cắt trong cái tế bào nhỏ bé này Gia đình của nhân vật Hai Hùng trong Ăn

Ngày đăng: 25/02/2017, 17:51

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
3. Nguyễn Thị Bình (1996), Những đổi mới của văn xuôi nghệ thuật Việt Nam sau 1975 (khảo sát trên những nét lớn), Luận án PTS Ngữ văn, Đại học Sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Thị Bình (1996), "Những đổi mới của văn xuôi nghệ thuật ViệtNam sau 1975 (khảo sát trên những nét lớn)
Tác giả: Nguyễn Thị Bình
Năm: 1996
4. Nguyễn Thị Bình (2012), Giáo trình Văn xuôi Việt Nam sau 1975, NXB Đại học Sư pham, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Thị Bình (2012), Giáo trình "Văn xuôi Việt Nam sau 1975
Tác giả: Nguyễn Thị Bình
Nhà XB: NXB Đại học Sư pham
Năm: 2012
5. Nguyễn Minh Châu (1978), Dấu chân người lính, NXB Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Minh Châu (1978), "Dấu chân người lính
Tác giả: Nguyễn Minh Châu
Nhà XB: NXB Văn học
Năm: 1978
6. Nguyễn Minh Châu (1987), Hãy đọc lời ai điếu cho một giai đoạn văn nghệ minh họa, Báo Văn nghệ, số 49-50 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Minh Châu (1987), "Hãy đọc lời ai điếu cho một giai đoạn vănnghệ minh họa
Tác giả: Nguyễn Minh Châu
Năm: 1987
7. Đinh Xuân Dũng ( 2001), Văn học Việt Nam về chiến tranh hai giai đoạn của sự phát triển, Tạp chí VN Quân đội, số 4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đinh Xuân Dũng ( 2001), "Văn học Việt Nam về chiến tranh hai giaiđoạn của sự phát triển
8. Đặng Anh Đào (1994), Tính chất hiện đại của tiểu thuyết, Tạp chí Văn học, số 1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặng Anh Đào (1994), "Tính chất hiện đại của tiểu thuyết
Tác giả: Đặng Anh Đào
Năm: 1994
9. Phan Cự Đệ (2003), Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phan Cự Đệ (2003), "Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại
Tác giả: Phan Cự Đệ
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2003
10. Nguyễn Đăng Điệp (2004), Kỹ thuật dòng ý thức trong Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh, trong Tự sự học, NXB Đại học sư phạm, Hà Nội 11. Hà Minh Đức (1998), Lý luận văn học, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Đăng Điệp (2004), "Kỹ thuật dòng ý thức trong Nỗi buồn chiếntranh của Bảo Ninh", trong Tự sự học, NXB Đại học sư phạm, Hà Nội"11." Hà Minh Đức (1998), "Lý luận văn học
Tác giả: Nguyễn Đăng Điệp (2004), Kỹ thuật dòng ý thức trong Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh, trong Tự sự học, NXB Đại học sư phạm, Hà Nội 11. Hà Minh Đức
Nhà XB: NXB Đại học sư phạm
Năm: 1998
12. Hà Minh Đức (2002), Thành tựu của văn học Việt Nam thời kì đổi mới, Tạp chí Văn học, số 7 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hà Minh Đức (2002), "Thành tựu của văn học Việt Nam thời kì đổi mới
Tác giả: Hà Minh Đức
Năm: 2002
13. Nguyễn Hải Hà - Nguyễn Thị Bình (1995), Quan niệm nghệ thuật về con người trong văn xuôi từ sau Cách mạng tháng Tám đến nay, NXB Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Hải Hà - Nguyễn Thị Bình (1995), "Quan niệm nghệ thuật về conngười trong văn xuôi từ sau Cách mạng tháng Tám đến nay
Tác giả: Nguyễn Hải Hà - Nguyễn Thị Bình
Nhà XB: NXB Hà Nội
Năm: 1995
14. Lê Bá Hán- Trần Đình Sử- Nguyễn Khắc Phi ( đồng chủ biên), 2004, Từ điển thuật ngữ văn học, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lê Bá Hán- Trần Đình Sử- Nguyễn Khắc Phi ( đồng chủ biên), 2004,"Từ điển thuật ngữ văn học
Nhà XB: NXB Giáo dục
15. Đỗ Đức Hiểu (2000), Thi pháp hiện đại, NXB Hội nhà văn, Hà Nội 16. Dương Hướng (1990), Bến không chồng, NXB Hội nhà văn, Hà Nội 17. Chu Lai (1992), Ăn mày dĩ vãng, NXB Hội nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đỗ Đức Hiểu (2000), "Thi pháp hiện đại", NXB Hội nhà văn, Hà Nội"16." Dương Hướng (1990), "Bến không chồng", NXB Hội nhà văn, Hà Nội"17." Chu Lai (1992), "Ăn mày dĩ vãng
Tác giả: Đỗ Đức Hiểu (2000), Thi pháp hiện đại, NXB Hội nhà văn, Hà Nội 16. Dương Hướng (1990), Bến không chồng, NXB Hội nhà văn, Hà Nội 17. Chu Lai
Nhà XB: NXB Hội nhà văn
Năm: 1992
22. Chu Lai (2001), Cuộc đời dài lắm, NXB Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chu Lai (2001), "Cuộc đời dài lắm
Tác giả: Chu Lai
Nhà XB: NXB Văn học
Năm: 2001
23. Chu Lai (1998), Nhân vật người lính trong văn học, Tạp chí VN Quân đội, số 6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chu Lai (1998), "Nhân vật người lính trong văn học
Tác giả: Chu Lai
Năm: 1998
24. Tôn Phương Lan (2001), Một vài suy nghĩ về con người trong văn xuôi thời kỳ đổi mới, Tạp chí Văn học, số 9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tôn Phương Lan (2001), "Một vài suy nghĩ về con người trong văn xuôithời kỳ đổi mớ
Tác giả: Tôn Phương Lan
Năm: 2001
25. Tôn Phương Lan (1994), Phong cách nghệ thuật Nguyễn Minh Châu, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tôn Phương Lan (1994), "Phong cách nghệ thuật Nguyễn Minh Châu
Tác giả: Tôn Phương Lan
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 1994
27. Lê Thành Nghị (2001), Tiểu thuyết về chiến tranh, mấy ý kiến góp bàn, Tạp chí VN Quân đội, số 4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lê Thành Nghị (2001), "Tiểu thuyết về chiến tranh, mấy ý kiến góp bàn
Tác giả: Lê Thành Nghị
Năm: 2001
28. Đặng Quốc Nhật (1980), Mấy nét về đề tài chiến tranh trong tiểu thuyết “ Đất trắng”, Tạp chí VN Quân đội, số 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặng Quốc Nhật (1980), "Mấy nét về đề tài chiến tranh trong tiểuthuyết “ Đất trắng”
Tác giả: Đặng Quốc Nhật
Năm: 1980
29. Bảo Ninh (2003), Nỗi buồn chiến tranh, NXB Hội nhà văn, Hà Nội 30. Nguyên Ngọc (1991), Văn xuôi sau 1975, thử thăm dò đôi nét về quyluật phát triển, Tạp chí Văn học số 4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo Ninh (2003), "Nỗi buồn chiến tranh", NXB Hội nhà văn, Hà Nội"30." Nguyên Ngọc (1991), "Văn xuôi sau 1975, thử thăm dò đôi nét về quy"luật phát triển
Tác giả: Bảo Ninh (2003), Nỗi buồn chiến tranh, NXB Hội nhà văn, Hà Nội 30. Nguyên Ngọc
Nhà XB: NXB Hội nhà văn
Năm: 1991
31. Nhiều tác giả (1984) Góp mặt và trao đổi về đề tài chiến tranh trong văn học, Tạp chí VN Quân đội, số 3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhiều tác giả (1984) "Góp mặt và trao đổi về đề tài chiến tranh trongvăn học

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w