Thực hiện đề tài “Bút pháp tạo hình trong Vang bóng một thời và Chùa Đàn của Nguyễn Tuân”, người viết mong muốn làm rõ thêm cá tính sáng tạo ở nghệ thuật viết truyện của một nhà văn lớn
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
TRẦN THỊ THANH HUYỀN
BÚT PHÁP TẠO HÌNH TRONG VANG BÓNG MỘT THỜI
VÀ CHÙA ĐÀN CỦA NGUYỄN TUÂN
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam hiện đại
Mã số: 60.22.01.21
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN
Người hướng dẫn khoa học: TS Lê Hải Anh
HÀ NỘI – 2015
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Em xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc tới TS Lê Hải Anh – Người đã tận tâm, nhiệt tình chỉ bảo, hướng dẫn em trong suốt quá trình thực hiện luận văn.
Đồng thời, em gửi lời cảm ơn đến Ban chủ nhiệm Khoa, các thầy giáo, cô giáo trong Tổ bộ môn Văn học Việt Nam hiện đại, Trường Đại học
Sư phạm Hà Nội đã tạo điều kiện thuận lợi giúp đỡ em trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài.
Cảm ơn gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã luôn động viên, khích lệ, giúp
đỡ tôi trong suốt thời gian qua để tôi có thể hoàn thành tốt luận văn.
Hà Nội, tháng 10 năm 2015
Tác giả
Trần Thị Thanh Huyền
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 3
3 Nhiệm vụ nghiên cứu 5
4 Phạm vi nghiên cứu 5
5 Phương pháp nghiên cứu 6
6 Cấu trúc luận văn 6
NỘI DUNG 7
Chương 1: BÚT PHÁP TẠO HÌNH TRONG NGHỆ THUẬT NGÔN TỪ VÀ QUAN NIỆM CỦA NGUYỄN TUÂN 7
1.1 Bút pháp tạo hình trong nghệ thuật ngôn từ 7
1.2 Quan niệm của Nguyễn Tuân về bút pháp tạo hình 9
1.2.1 Những yếu tố khách quan 9
1.2.2 Những yếu tố chủ quan 10
Tiểu kết chương 1 16
Chương 2:BÚT PHÁP TẠO HÌNH CỦA NGUYỄN TUÂN, NHÌN TỪ YẾU TỐ MỸ THUẬT 17
2.1 Khái niệm mỹ thuật 17
2.1.1 Khái niệm và đặc trưng của hội hoạ 17
2.1.2 Khái niệm và đặc trưng của điêu khắc 18
2.2 Các yếu tố mỹ thuật trong Vang bóng một thời và Chùa Đàn của Nguyễn Tuân 19
2.2.1 Yếu tố hội họa trong Vang bóng một thời và Chùa Đàn của Nguyễn Tuân 20
2.2.2 Yếu tố điêu khắc trong Vang bóng một thời và Chùa Đàn 43
Tiểu kết chương 2 64
Trang 4Chương 3: BÚT PHÁP TẠO HÌNH CỦA NGUYỄN TUÂN, NHÌN
TỪ YẾU TỐ ĐIỆN ẢNH 65
3.1 Khái niệm và đặc trưng của điện ảnh 65
3.2 Các yếu tố điện ảnh trong “Vang bóng một thời” và “Chùa Đàn” của Nguyễn Tuân 66
3.2.1 Các yếu tố điện ảnh trong “Vang bóng một thời” 67
3.2.2 Các yếu tố điện ảnh trong “Chùa đàn” 88
Tiểu kết chương 3 99
KẾT LUẬN 100
TÀI LIỆU THAM KHẢO 103
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Nguyễn Tuân là một nhà văn độc đáo, tài hoa, uyên bác Cả cuộc đời ông
mang trong mình khát khao tìm kiếm và theo đuổi cái đẹp, “luôn muốn mỗi ngày sống, mỗi trang đời của mình cũng là một trang nghệ thuật…” Cái đẹp trong
văn chương của Nguyễn Tuân không chỉ đem lại cho người đọc giá trị thưởngthức, mà còn giúp con người biết trân trọng và nâng niu nó Điều đó thể hiện sâusắc nhất trong quan điểm về cái đẹp của Nguyễn Tuân cùng phong cách sáng táccủa ông Một trong những yếu tố làm nên phong cách sáng tác độc đáo ấy chính
là bút pháp tạo hình
Nguyễn Tuân là người am tường nhiều lĩnh vực nghệ thuật khác nhaunhư: hội họa, điêu khắc, điện ảnh…Khả năng quan sát của nhiều ngành nghệthuật đã làm nên bút pháp tạo hình – một biểu hiện của kỹ thuật hiện đại đượcNguyễn Tuân sử dụng với tần số không nhỏ trong sáng tác của mình
Trước cách mạng, Nguyễn Tuân vốn đi nhiều, ngắm nhìn nhiều song có lẽ
phải đến Vang bóng một thời, Nguyễn Tuân mới thực sự dừng chân lâu nhất bởi
đã gặp được bóng hình của chính mình trong những khung cảnh cổ xưa Vang bóng một thời vì thế giống như một bức họa tâm trạng của nhà văn họ Nguyễn
tài hoa Đó là tâm trạng của một con người luôn biết trân trọng, đề cao những nétđẹp văn hóa nhân văn của một thời quá vãng Tập truyện đầu tay đã đem lạinhiều thành công trong nghệ thuật dàn dựng cảnh của điện ảnh, vẽ người, vẽcảnh của hội họa và chạm khắc đến tinh vi những chân dung của điêu khắc Vì
vậy,“đọc Vang bóng một thời của Nguyễn Tuân người ta cũng có cảm tưởng giống như khi ngắm một bức họa cổ”[19;37] hay “Đọc Vang bóng một thời, ngày nay ta vẫn tìm được một cảm giác nhẹ nhàng êm dịu như xem một tập tranh cổ” [19;238] Vâng! Trong tập tranh cổ ấy, mỗi bức tranh cuộc sống hiện
lên với những góc độ, những đường nét chấm phá, những khoảng sắc …có khiđậm nét, có khi biến hóa mơ hồ, hư ảo và nhiều khi thì buồn buồn lắm…nhưng
Trang 6Nếu năm 1940, “Vang bóng một thời” ra đời, độc giả bắt gặp Báo oán, Trên đỉnh non Tản thì ngay sau đó, cũng theo mạch “yêu ngôn” năm 1946 Nguyễn Tuân cho ra đời Chùa Đàn - đoản thiên như một sự tiếp nối và dâng cao
không khí huyền bí đến ám ảnh Đúng theo ý định, cá tính sáng tạo của mình,
Nguyễn Tuân viết “yêu ngôn” để tìm đến “những cảm giác mới lạ và mãnh liệt, những hình tượng đập mạnh vào giác quan” Với những dòng cảm xúc không
ngừng thăng hoa, Nguyễn Tuân đã dựng lên những khung cảnh rùng rợn, ma
quái “Các nhân vật hiện ra sừng sững, gân guốc như điêu khắc bằng đá Mỗi chi tiết tạo ra cho người xem một sự kinh ngạc kỳ thú Mỗi nét chạm đục đều chứng tỏ một tay nghề thành thục tinh xảo”[19;268] Những góc quay tinh tế,
khiến nhiều trang văn như những cảnh phim sinh động của một đạo diễn tài ba
Có được điều đó là nhờ vào tài năng sáng tạo ngôn ngữ phong phú, giàu hìnhảnh, chất tạo hình của một năng khiếu ngôn ngữ bẩm sinh với sức lao động nghệthuật không ngừng để tạo nên một phong cách nghệ thuật độc đáo, riêng biệt
Vang bóng một thời và Chùa Đàn cùng hiện lên “góp những cơn gió mát mẻ thổi lộng phong trào”[7;230] “Trở về với dân tộc”, tưởng như rành rẽ
về nghệ thuật, song với góc nhìn tạo hình, hai tập truyện lại hiện lên với sựnhất quán, đồng bộ bởi cùng một phong cách sáng tác của nhà văn Đó là sựchuyển tiếp hợp lí để khẳng định khát khao vươn tới cái đẹp, khẳng định
“một Nguyễn Tuân toàn vẹn, tinh hoa tư tưởng, tài hoa văn chương”[21;265] Bởi Vang bóng một thời - “một văn phẩm gần tới sự toàn thiện, toàn mĩ” [7;180] và đến Chùa Đàn, “tài năng sáng tạo của nhà văn đã vươn tới thượng
đỉnh”[21;261] Người viết chọn hai tác phẩm này làm đối tượng khảo sát chomột đề tài là bởi sự thống nhất đó
Thực hiện đề tài “Bút pháp tạo hình trong Vang bóng một thời và Chùa Đàn của Nguyễn Tuân”, người viết mong muốn làm rõ thêm cá tính sáng tạo ở
nghệ thuật viết truyện của một nhà văn lớn trong văn học Việt Nam hiện đại, qua
đó thấu hiểu hơn tư tưởng gửi gắm trong tác phẩm
Trang 72 Lịch sử vấn đề
Về các tác phẩm Vang bóng một thời và Chùa Đàn của Nguyễn Tuân:
Nhìn chung các bài viết, công trình nghiên cứu về Nguyễn Tuân rất phong phú,
đa dạng về số lượng và chất lượng Khảo sát cho thấy có những kiểu bài viết vềNguyễn Tuân và tác phẩm của Nguyễn Tuân, về phong cách nghệ thuật qua cáctác phẩm, hồi ức và kỷ niệm về Nguyễn Tuân, thi pháp Nguyễn Tuân…
Phần này người viết xin được điểm lại những bài viết của người đi trước
có liên quan đến bút pháp tạo hình trong Vang bóng một thời và Chùa Đàn, tiếp
đến đánh giá và tổng kết lại những thành tựu của người đi trước, trên cơ sở đóđịnh hướng cho luận văn của mình
Vang bóng một thời là tác phẩm được đăng trên báo năm 1939, in thành
sách năm 1940 Sự xuất hiện của tác phẩm trên diễn đàn văn học Việt Nam đãlàm tốn khá nhiều giấy mực của các nhà phê bình, nghiên cứu như: Phan Cự Đệ,Nguyễn Đăng Mạnh, Vũ Ngọc Phan, Thạch Lam, Đỗ Đức Hiểu, Hà Văn Đức,Hoài Anh, Nguyễn Thị Thanh Minh, Trương Chính…
Phan Cự Đệ có bài “Đọc lại Vang bóng một thời” (in trong Cuộc sống và tiếng nói nghệ thuật, NXB Văn học, Hà Nội, 1971) có nhận xét: “Vang bóng một thời vẫn không phải là những bức tranh cổ thật sự trưng bày trong viện bảo tàng mà nó vẫn là một tác phẩm đang tác động đến người đọc Những “bức tranh” của Nguyễn Tuân đầy “những nét rầu rầu, những màu xam xám”, gợi lên trong lòng người đọc một cái gì ngậm ngùi, tiếc nuối một thời đã qua và đẩy người ta muốn quay về lối cũ.”
Vũ Ngọc Phan có bài “Một số nét sáng tác của Nguyễn Tuân trước cách mạng” (in trong cuốn “Nhà văn hiện đại”, NXB Khoa học xã hội, 1989), tác giả chú ý đến chất họa trong Vang bóng một thời và coi đó là một tập tranh cổ “Cái hay cái dở của tập tranh này của Nguyễn Tuân ở cả sự dàn xếp, ở cả những nét, những màu, rồi sau mới đến sự thú vị của những cảnh, những vật, tùy theo sự xét đoán và sở thích của từng người”
Bài viết của giáo sư Nguyễn Đăng Mạnh trong Lời giới thiệu tuyển tập Nguyễn Tuân (Tập 1, NXB Văn học, Hà Nội, 1996), tác giả đã đưa ra những kết
Trang 8luận đúng đắn về giá trị nội dung, tư tưởng và thành công trong sử dụng kĩ thuậthiện đại, đó là nghệ thuật dựng người, dựng cảnh, tạo dựng không khí cổ xưa như
nhận xét: “Khả năng phân tích tinh vi từ cảm giác, ý nghĩ của nhân vật, đến đường nét màu sắc của cảnh vật”.
Những nhận xét của các tác giả trên quả thực đã khơi gợi nhiều cho hướngtìm tòi tác phẩm của Nguyễn Tuân bằng bút pháp tạo hình
Các luận văn như: Không gian thời gian nghệ thuật Vang bóng một thời của Tô Hương Lan năm 2002, trường Đại học Sư phạm Hà Nội do giáo
sư Nguyễn Đăng Mạnh hướng dẫn, có nhắc đến tính không gian, sắc màukhông gian và sử dụng kĩ thuật hiện đại trong việc tổ chức không gian Luận
văn Hình tượng tác giả trong sáng tác của Nguyễn Tuân trước cách mạng của
Cao Thị Trâm năm 2007, trường Đại học Sư phạm Hà Nội do tiến sĩ NguyễnThị Thanh Minh hướng dẫn có nhắc tới câu văn giàu chất tạo hình Tác giả có
kết luận: “Câu văn giàu chất tạo hình, rực rỡ sắc màu, sống động âm thanh thể hiện nét tài hoa tài tử của một Nguyễn Tuân tài năng, cá tính.”
Truyện Chùa Đàn, có thể kể đến bài viết Tác phẩm Chùa Đàn của Nguyễn Tuân (Lời nói đầu trong Chùa Đàn, NXB Văn học, Hội nghiên cứu và giảng dạy
văn học, Thành phố Hồ Chí Minh, 1989) của Hoàng Như Mai Tác giả đã có một
cái nhìn toàn diện về giá trị tác phẩm, đó là việc giải mã luận đề triết lý của Chùa Đàn: “tự hủy diệt để tái sinh” Đặc biệt là nhận xét về tác phẩm: “Đó là một sức tưởng tượng sáng tạo giàu mạnh lạ thường Các nhân vật hiện ra sừng sững, gân guốc như điêu khắc bằng đá Mỗi chi tiết tạo ra cho người xem một sự kinh ngạc kỳ thú Mỗi nét chạm đục đều chứng tỏ một tay nghề thành thục tinh xảo.” Tác giả đã
chỉ ra được dấu ấn của nghệ thuật điêu khắc trong văn chương Nguyễn Tuân
“Đọc lại Chùa Đàn của Nguyễn Tuân” của giáo sư Nguyễn Đăng Mạnh Tác giả bài viết đã cho rằng “…Yêu ngôn hay Chùa Đàn …phải đánh giá lại cho đúng” và “Chùa Đàn là một hiện tượng độc đáo và phức tạp”.
Luận văn Cái đẹp trong “Yêu ngôn” (2007, trường Đại học Sư phạm Hà
Nội) của tác giả Nguyễn Thùy Dương do PGS.TS Lê Lưu Oanh hướng dẫn, cónhắc đến “kỳ cảnh” trong một số tác phẩm yêu ngôn
Trang 9Đặng Tiến có bài Từ Chùa Đàn của Nguyễn Tuân đến Mê Thảo của Việt Linh (Chim Việt cành Nam, số 18/1, tháng 9 năm 2007) so sánh sự khác nhau trong Chùa Đàn và kịch bản phim của đạo diễn Việt Linh, qua đó tác giả có nhận xét: “Ở Việt Nam, do hoàn cảnh kinh tế và xã hội, tác phẩm điện ảnh còn thưa thớt và non trẻ, nên từ đó, chưa có "văn chương điện ảnh, văn học điện ảnh" thực sự như Nguyễn Tuân
nên thế giới nghệ thuật Vang bóng một thời, Chùa Đàn Song, chính các bài viết,
các công trình nghiên cứu đó đã mở ra cánh cửa cho việc nghiên cứu bút pháp
tạo hình trong Vang bóng một thời và Chùa Đàn.
Bên cạnh đó, công trình nghiên cứu về bút pháp tạo hình, chúng tôi có được
biết đến bài Nhớ rừng và ngòi bút tạo hình của Thế Lữ của Chu Văn Sơn Hướng
khai thác của tác giả về bộ tứ bình sắc nét và hấp dẫn, càng tạo niềm tin và mởrộng hơn cánh cửa cho việc thực hiện công trình nghiên cứu của chúng tôi
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
Tìm ra đặc trưng của bút pháp tạo hình trong hai tập truyện Vang bóng một thời và Chùa Đàn Từ đó, thấy được vị trí của các tác phẩm này trong sự
nghiệp sáng tác nghệ thuật của nhà văn Nguyễn Tuân Đồng thời, tài năng độcđáo trong sáng tạo nghệ thuật của văn tài họ Nguyễn sẽ được nhìn nhận đầy đủhơn, toàn diện hơn nữa
4 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi khảo sát của chúng tôi là mười hai truyện ngắn trong Vang bóng một thời – nhà xuất bản Hội Nhà Văn, Hà Nội, 2014 và tác phẩm Chùa Đàn được in trong cuốn Nguyễn Tuân tác phẩm và lời bình – nhà xuất bản Văn Học,
Trang 105 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp phân tích tác phẩm theo đặc trưng thể loại
Vang bóng một thời và Chùa Đàn đều là những tác phẩm văn xuôi Để có
thể triển khai thật sâu và nắm bắt thật chuẩn xác các khía cạnh của bút pháp tạohình Nguyễn Tuân, không thể không vận dụng việc phân tích tác phẩm theo đặctrưng thể loại Ở đây là văn xuôi tự sự, cụ thể là truyện ngắn và truyện dài
5.2 Phương pháp tiếp cận hệ thống
Bút pháp tạo hình nói chung và mỗi phương diện của bút pháp tạo hình nóiriêng đều thể hiện trong sáng tạo của nghệ sĩ như là hệ thống các dấu hiệu Vì thế,
không thể tái lập được tính hệ thống của chúng nếu thiếu phương pháp này.
5.3 Phương pháp thống kê phân loại
Mỗi khía cạnh của bút pháp tạo hình đều thể hiện ra trong những dấu hiệusống động Thống kê các dấu hiệu để làm căn cứ cho các nhận định và khái quát
5.4 Phương pháp so sánh
Để làm nổi bật các khía cạnh tạo hình của Nguyễn Tuân không thể không
so sánh với bút pháp tạo hình của một số cây bút khác
6 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm có 3 chương:
Chương 1: Bút pháp tạo hình trong nghệ thuật ngôn từ và quan niệm của
Nguyễn Tuân
Chương 2: Bút pháp tạo hình của Nguyễn Tuân trong Vang bóng một
thời và Chùa Đàn, nhìn từ yếu tố mỹ thuật
Chương 3: Bút pháp tạo hình của Nguyễn Tuân trong Vang bóng một
thời và Chùa Đàn, nhìn từ yếu tố điện ảnh
Trang 11NỘI DUNG
Chương 1
BÚT PHÁP TẠO HÌNH TRONG NGHỆ THUẬT NGÔN TỪ
VÀ QUAN NIỆM CỦA NGUYỄN TUÂN
1.1 Bút pháp tạo hình trong nghệ thuật ngôn từ
Bút pháp là cách dùng ngôn ngữ hoặc đường nét, màu sắc, hình khối, ánhsáng để biểu hiện hiện thực, thể hiện tư tưởng trong tác phẩm nghệ thuật
Theo Từ điển Thuật ngữ Văn học: “Bút pháp là cách thức hành văn, dùng chữ, bố cục, cách sử dụng phương tiện biểu hiện để tạo thành một hình thức nghệ thuật nào đó Ở đây bút pháp cũng tức là cách viết, lối viết.”[9;29]
Tạo hình: Tạo ra các hình thể bằng đường nét, màu sắc, hình khối
Từ điển Bách khoa toàn thư: Tạo hình là thủ pháp sáng tạo nghệ thuật bằng ngôn ngữ, hình khối, màu sắc, chất cảm, không gian, bố cục.
Trong Tiếng nói của hình và sắc, tác giả Nguyễn Quân có viết: “Tác phẩm nghệ thuật tạo hình: một bức tranh, một pho tượng, một công trình kiến trúc, một tác phẩm mỹ thuật thủ công được thực hiện bởi bàn tay - như một thứ lao động chân tay thuần túy, song nó chủ yếu lại là sản phẩm thẩm mỹ của con mắt Nó bộc lộ nội giới, thể hiện ngoại giới Nó tái hiện thế giới tình cảm tinh thần phức tạp của cá nhân và quan hệ cá nhân với quần thể xung quanh qua kênh thị giác Mặt khác, tác phẩm nghệ thuật tạo hình được tiếp thu bởi tâm hồn con người song luôn luôn bằng con mắt Con mắt là kênh đối thoại của người xem với tác phẩm Vì vậy thông tin thị giác, thông tin thẩm mỹ thị giác, ngôn ngữ thị giác và cụ thể hơn là ngôn ngữ nghệ thuật tạo hình xây dựng trên cơ sở
cơ cấu hoạt động và đặc trưng về chức năng của con mắt” [28;6] Chính vì vậy,
người ta còn hay gọi nghệ thuật tạo hình là “nghệ thuật thị giác” Trong lược đồdòng chảy các quan niệm tư duy sáng tạo của nghệ thuật thị giác cho thấy:
“Ngoài cơ sở của tư duy thị giác, thì khái niệm không gian ba chiều và môi trường trưng bày tác phẩm là những yếu tố cơ bản trong tư duy tạo hình của
Trang 12nghệ thuật này”[42] Nghệ thuật tạo hình biểu thị và truyền đạt những cảm xúc
thẩm mĩ trước hiện thực thông qua ngôn ngữ riêng Các yếu tố của ngôn ngữ tạohình là đường nét, màu sắc, ánh sáng - bóng tối, hình khối, mảng đặc, mảngtrống, mức độ, bố cục, Cuộc cách mạng tạo hình diễn ra từ cuối thế kỉ XII đếnnay, ngoài việc mở rộng không gian nghệ thuật còn mở rộng sự hiểu biết về nghệthuật tạo hình Có nhiều điều trước kia bị coi là cấm kị thì nay được phép, màusắc được giải phóng khỏi vai trò phù trợ cho hình hoạ, phát huy sức mạnh tạohình và sức mạnh biểu cảm, góp phần làm thay đổi diện mạo của hội hoạ thờinay
Như trên đã nói, nghệ thuật tạo hình bao gồm các ngành nghệ thuật như: điêu khắc, hội họa, điện ảnh…Trong khi đó, văn học được coi là một
loại hình nghệ thuật khá đặc biệt: nghệ thuật ngôn từ Chính vì vậy, văn học cókhả năng chuyển dịch hình tượng của mọi loại hình nghệ thuật khác sang hìnhtượng văn học hay khả năng tổng hợp linh hoạt các loại hình nghệ thuật khác củavăn học Điều đáng nói ở đây là các nghệ sĩ ngôn từ không hề sử dụng nhữngcây cọ, những màu vẽ hay những chiếc búa, đục, những đá đồng, những máyquay với cả một ê-kíp làm phim…mà chỉ một mình nhà nghệ sĩ ấy, với thứ chấtliệu ngôn từ đa dạng, phong phú dưới bàn tay đã được sự chỉ huy của bộ óc mẫntiệp, của một thứ tư duy được gọi là tư duy nghệ thuật Thế nhưng ngòi bút ấyvẫn cứ tung tẩy, cứ phóng khoáng mà phác ra bao nét hình, tô màu lên, khắcdựng các chân dung, tạo nhịp điệu cho các cảnh…bằng ngôn ngữ khiến cho độcgiả theo dõi tác phẩm văn học mà như thấy mình được chiêm ngưỡng những bứctranh thiên nhiên, những bức họa về con người và nhiều khi giữa trang văn, giữanhững ngôn từ văn học hiện lên sừng sững một bức phù điêu về con người, sựvật Theo dõi cả một câu chuyện, hay chỉ là một sự kiện, người đọc cũng có lúccảm nhận được như mình đang theo dõi một bộ phim, một đoạn phim Xin đượctrích ra đây những dòng bình luận của Văn Ngọc trong một bài viết có nhan đề
Ma lực của hình ảnh trong văn học và nghệ thuật đăng trên báo Tia sáng.com ngày 16/4/2009 để người đọc rõ hơn: “… trong văn, thơ, ngoài cái đẹp tự thân của ngôn
Trang 13ngữ (câu chữ, nhạc điệu, nhịp điệu, ), ngoài cái đẹp của nội dung (cốt truyện, chủ đề tư tưởng, tình cảm các nhân vật) mà tác phẩm chuyên chở ra, còn có cái đẹp của những hình ảnh mà tác giả tạo nên trong óc tưởng tượng của người đọc thông qua ngôn ngữ Ta gọi loại hình ảnh này là hình ảnh “mở”, vì nó cho phép người đọc tha hồ tưởng tượng, không như cái đẹp được thể hiện một cách quá
cụ thể, cố định, bằng vật liệu, chất liệu, màu sắc, v.v của một bức họa, một bức tượng, một công trình kiến trúc, hoặc một tác phẩm điện ảnh, mặc dầu điện ảnh
là một trường hợp đặc biệt, vì nó vừa là văn chương, lại vừa là nghệ thuật tạo hình Nó là một sáng tạo tập thể của nhiều ngành văn học và nghệ thuật tập hợp lại.
Cái khả năng tạo ra những hình ảnh mở của ngôn ngữ văn chương, chính là một trong những yếu tố có sức quyến rũ không thể nào thay thế được của văn, thơ.”
Tóm lại, bút pháp tạo hình là việc sử dụng các thủ pháp, cách thức,
nguyên tắc tạo hình trong việc miêu tả thế giới với các yếu tố như màu sắc, hìnhkhối, đường nét, không gian góp phần thể hiện chiều sâu thi phẩm
1.2 Quan niệm của Nguyễn Tuân về bút pháp tạo hình
1.2.1 Những yếu tố khách quan
Nguyễn Tuân (1910-1987), là một trí thức yêu nước giàu tinh thần dân tộc,sống và sáng tạo nghệ thuật dưới ảnh hưởng lớn của lớp nhà nho cuối mùa đầytâm trạng bắt đắc chí như Tú Xương, Tản Đà…và trực tiếp tác động tới nhà văn là
cụ Tú Nguyễn An Lan - thân sinh Nguyễn Tuân Nguyễn Tuân luôn trân trọng,yêu mến những con người đó - những nhà nho tài tử, có tài nhưng bất mãn với xãhội đương thời Chính vì vậy, trong tác phẩm của mình, Nguyễn Tuân thường đặtchữ “tài” và chữ “tình” lên trên tất cả và những nhân vật được nhà văn họ Nguyễndựng lên luôn mang dáng dấp, cốt cách của những bậc tài hoa tài tử
Cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX, ở phương Tây chủ nghĩa cá nhân được đềcao mạnh mẽ, ảnh hưởng lớn đến quan niệm sáng tạo nghệ thuật độc đáo, khátkhao kiếm tìm cái mới, cái tuyệt đích của các thanh niên trí thức Tây học, trong
đó có Nguyễn Tuân Điều này thể hiện khá rõ trong tuyên ngôn của nhà văn
Trang 14trước cách mạng: “ta thích chơi 1 lối độc tấu” Vì lẽ đó, những gì hiện ra dưới
ngòi bút Nguyễn Tuân thật “độc quyền”, không có phiên bản hai
Đặc biệt, tiếp nhận văn hóa, văn học phương Tây, Nguyễn Tuân ảnh hưởng
từ trường phái nghệ thuật vị nghệ thuật của chủ nghĩa lãng mạn phương Tây.Nguyễn Tuân đến với Kant và Nietzsche với quan niệm về cái đẹp Yêu đến say
mê cái đẹp, Nguyễn Tuân đã dành cả cuộc đời cho hành trình đi tìm cái đẹp Cáinhìn nghiêng về góc độ thẩm mĩ đó, thế giới luôn được Nguyễn Tuân nhìn từphương diện mỹ thuật, thể hiện rõ qua những khám phá sâu sắc vẻ đẹp những bứctranh thiên nhiên, chân dung con người Thậm chí với Nguyễn Tuân, cái đẹp dướingòi bút tài hoa của ông, đôi khi nó phải là những khung cảnh được coi là kỳcảnh, những con người phải được gọi là kỳ nhân Có như thế, cái đẹp ấy mới tạcdựng ngay trước mắt người đọc, đập mạnh vào giác quan khiến người ta nhớ mãi
1.2.2 Những yếu tố chủ quan
Nguyễn Tuân là một nhà nghệ sĩ uyên bác, tài hoa Mặt khác, giáo sư Trần
Đăng Suyền cũng đã nhận xét: “Ở Nguyễn Tuân, ý thức cá nhân phát triển rất cao Viết văn, đối với ông là một cách để khẳng định cá tính độc đáo của
mình”[7;179] Với chất trí tuệ phong phú, đa dạng ở nhiều lĩnh vực, đông tây
kim cổ, Nguyễn Tuân vừa am hiểu văn hóa cổ truyền dân tộc, nhưng cũng sànhvăn hóa học phương Đông, phương Tây Những thú chơi tao nhã của những ôngNghè, ông Cửu…được Nguyễn Tuân nâng lên thành những nghệ thuật như:thưởng trà, thưởng rượu Thạch lan hương hay đánh thơ, thả thơ, thư pháp…Trong những nghệ thuật ấy, người ta thấy hiện lên cái am tường của NguyễnTuân về thứ gọi là “trà đạo” nổi tiếng của Nhật, hay cái điệu nghệ của “ngón”công bút trong hội họa Trung Hoa và nhiều khi còn là cái chất liêu trai của một
Bồ Tùng Linh ở xứ sở phương Tây kia Tất cả đã được thanh lọc cho đẹp đẽ đểlàm nên màu sắc riêng trong văn chương Nguyễn Tuân
Nguyễn Tuân không chỉ là một nhà văn mà còn là một diễn viên, một nhàphê bình sắc sảo về hội họa, âm nhạc Nhà nghệ sĩ ấy am hiểu sâu sắc nhiềungành nghệ thuật như: điện ảnh, sân khấu, hội họa, âm nhạc, điêu khắc…Vì vậy,
Trang 15trong rất nhiều sáng tác của mình, Nguyễn Tuân cùng một lúc kết hợp nhiềuđiểm nhìn của văn học và các ngành nghệ thuật đó để tổ chức không gian Song
có được điều đó, cần nói đến năng lực tư duy thị giác của Nguyễn Tuân Khi
xem tranh Bùi Xuân Phái, Nguyễn Tuân đã có nhận xét: “Vâng, thưa các anh, họa sĩ Bùi Xuân Phái đúng là một người Hà Nội “ngàn năm văn hiến” của chúng ta Và, mặc dầu không ở Hội Âm nhạc (không ở Hội Sân khấu, không ở Hội Nhà văn) Bùi Xuân Phái có cái giọng đầy âm sắc của Hà Nội Màu sắc khối hình, trong cái tương phản và hài hòa của cấu trúc bức tranh, nhiều khi cứ lẳng lặng mà “nói lên” át cả giọng nhạc giọng thơ, có phải thế không khi nói chung
về hội họa?”[38;494] Rõ ràng, ta đã thấy con mắt tinh tường của Nguyễn Tuân
khi kết hợp nhiều điểm nhìn của các ngành nghệ thuật để thấy được cái hay, cáitài trong tranh Bùi Xuân Phái Còn nữa, những lời bình tinh tế đầy chất thơ, đầychất tạo hình về đặc trưng tạo hình mang phong cách tranh Bùi Xuân Phái:
“Tranh Bùi Xuân Phái nhất là phố cũ Hà Nội có một giai đoạn dùng những màu
ấm nóng, nâu đặm nâu nhạt Màu gạch tường kinh niên, màu ngói già, trăm năm mưa nắng Gần đây tranh Bùi Xuân Phái, màu nhẹ nhõm Nó chắc nịch cái màu
đá, xanh xanh cái màu cựu thạch khí, lờn lợn cái màu tân thạch khí và thanh thoát cũng vô cùng Phải chăng nét bút xuống tay càng già thì màu càng bay lên.” [38;496] Hay khi khi viết về tranh lụa Nguyễn Phan Chánh, Nguyễn Tuân
cũng cảm nhận được nét riêng, bản sắc riêng của người họa sĩ tài năng này bởi
những bức tranh mang cái chất “hoàn toàn Việt Nam”: “Cũng như mọi kỳ trước,
kỳ này trong phòng triển lãm, Nguyễn Phan Chánh đều bày toàn tranh vẽ lụa Môn
sở trường của Đông Phương Và của ông nữa.
Nhưng khác với lần trước, bây giờ trong tác phẩm mới đều nhuộm màu tươi sáng, nhẹ nhõm Cái nặng nề của màu thuốc trong các tác phẩm đầu tiên
đã nhường chỗ cho cái tươi tỉnh ngày nay trong sự ghép màu và dàn dề Những bức họa ngày trước, nhiều người không ưa thích vì màu thuốc nghiêm nghị Nghiêm nghị ở chỗ tối.
Bây giờ, cái không khí trịnh trọng, già nua phảng phất ở lớp tác phẩm cũ
Trang 16đã tan mất.”.
Nguyễn Tuân cũng đưa ra quan niệm của chính mình về hội họa: “Cấu tạo nên bức tranh, công việc dàn màu thuốc nhiều khi quan hệ hơn cách dàn đề, với những cảnh vật vẽ lên Vậy thì trong số đông những tác phẩm bày kì này, Phan Chánh đã làm cho màu thuốc mất trọng lực Chúng nó bay bổng”
[16;350]
Ảnh hưởng từ hội họa Trung Quốc Đó là những lần “xê dịch” vượt biên
và bị bắt Nguyễn Tuân khám phá kho tàng tranh cổ Trung Quốc Trong “Lửa nến trong tranh”, nhà văn cho người đọc thấy được vốn hiểu biết và niềm đam
mê hội họa Qua lời kể của nhân vật Lê Bích Xa với nhân vật Dăng ta biết thêm
về nghệ thuật cổ quái từ xuất xứ đến cái kì quái trong tranh: “Con có biết tác phẩm này là của ai không? À của Lỗ Hường Diên, người tỉnh Mận Cái, tỉnh Trung Quốc nổi tiếng về môn hội họa quái ảo, hẳn con đã tường! như con trông thấy đó tranh vẽ một ông tướng và một ngọn nến cháy soi xuống một cuốn sách
mở của ông lão tướng Tất cả giá trị huyền ảo của tranh là thu vào ngọn nến, ngọn nến ấy nếu cha đánh diêm châm vào thì nến sẽ cháy sáng như một ngọn nến của cuộc đời thực tại chúng ta” Dưới ngòi bút của con người am tường bộ
môn nghệ thuật tạo hình ấy, người đọc còn hấp dẫn bởi cái kì lạ của chất liệu
tranh: “Cứ chỗ thầy biết thì lúc tạo nên bức tranh này Lỗ Hoa đã phải đi hành hương mãi mãi vào vùng Mạ Thiên Nhẫn vốn là đất cổ chiến trường và chất thạch nhung ở đáy lòng sông Bộc Lý Con cũng thừa biết công dụng hóa học của mấy loại khoáng này, lân và diêm sinh thì cháy sáng và thạch nhung thì cháy mặt dầu bỏ thẳng vào lửa, lụa vẽ tranh dệt bằng tơ loại Sơn Tâm đánh săn lại với Thạch Nhung cán nhỏ ra Vẽ đến ngọn nến họa sĩ dùng chất lân và diêm Ma Thiên Nhẫn trộn lẫn với thuốc vẽ Vẽ xong họa sĩ thôi miên vào đầu ngọn nến Đấy là ruột tranh Cái lần trong, lần lụa vẽ ngoài chỉ là cái lượt họa mĩ của màu sắc và hình vẽ phủ lên để giữ vững cái cốt kì diệu ở trong tranh cổ lâu ngày, lượt lụa ngoài cũng hấp thụ được cái thần diệu của cốt trong Và thắp vào ngọn nến ngoài cũng có cháy nhưng chỉ trong khoảnh khắc thôi” Rõ ràng ở đây, lối
vẽ của môn “hội họa quái ảo” mà Lỗ Hường Diên sử dụng đã bàng bạc khắp các
Trang 17trang văn “yêu ngôn” của Nguyễn Tuân Nhà văn quan niệm hội họa là “tranh
vẽ đẹp phải là bức cổ họa theo môn phái quái ảo Nó sẽ đem đến cho người xem một cảm giác kinh ngạc, kinh sợ, rùng rợn bởi chất ma quái.”
Lối vẽ mà Nguyễn Tuân tâm đắc và sử dụng triệt để trong sáng tác củamình là lối công bút – một kỹ pháp của nghệ thuật tạo hình dùng những nét vẽchính xác, công phu, tỉ mỉ, tinh vi, hoàn hảo, diễn đạt hình thể tinh tế
Tác phẩm tạo hình được miêu tả, được bình luận qua những dòng chữ.Song đó phải là những dòng chữ độc đáo của một “Nguyễn Tuân họa sĩ” vớihiểu biết sâu rộng về hội họa, với năng lực tư duy thị giác, với sự vận động tâmhồn, suy tư và quan niệm đúng đắn khi dùng ngôn ngữ để vẽ tranh đã làm nên
“chất cảm” mạnh mẽ lan truyền sang người đọc để rồi khi gấp sách lại, nhữngbức tranh, những nhân vật như vẫn hiện ra trước mắt
Không chỉ say mê và là một “chuyên gia” với hội họa, Nguyễn Tuân còntừng là một trong các diễn viên có tài, am hiểu sâu sắc âm nhạc, điện ảnh
Nguyễn Tuân tự nhận mình là “một người hay la cà đắm đuối với tất cả những gì là đàn ca sáo hát Hát bộ, hát chèo, hát gõ Ca Huế và cải lương Nam Kỳ” và “để một phần đời văn sĩ của tôi mà đặt vốn vào đàn hát”.[19;117] Chính
vì tài năng này nên độc giả của Nguyễn Tuân nào có thể quên được “âm thanhmột thứ nhạc khí” bên cạnh những âm thanh xô bồ của buổi hòa nhạc Hương
Cảng, hay những khoảnh khắc “ốp đồng”, một màn tam tấu trong Chùa Đàn.
Nguyễn Tuân từng đóng bộ phim đầu tay của điện ảnh Việt Nam “Cánh đồng ma” và được khen là “có khiếu” Bộ phim “Chị Dậu” Nguyễn Tuân đảm nhận vai chánh tổng và được khẳng định là “đóng hay”…Khi nhớ lại những ngày đóng phim, tự Nguyễn Tuân viết: “Cái màn nhung huyết dụ Nhà Hát Lớn mỗi tháng mở lên một vài lần cho tôi nói cười đi lại, cho tôi cách điệu hóa từng câu nói, từng cử động, với những mẹo những thuật đường thẳng đường cong đường gẫy của hình kỷ hà học luôn luôn chuyển biến với không khí vở diễn Tôi
là một con bi gỗ tiện của một ván bi-a va đụng tế nhị nhịp nhàng với những con
bi diễn viên khác, dưới ánh chói của lửa biên, lửa rèm tạo cho cá tính mình một
Trang 18hoàn cảnh thuận lợi để bốc đồng.”[37;486] Những dòng cảm xúc chân thật
mang đầy chất tạo hình khiến ta hiểu rõ vì sao trong văn chương Nguyễn Tuânlại có những cảnh hấp dẫn bởi màu sắc, đường nét, nhịp điệu…thậm chí là cảnhnhập đồng đầy kịch tính khiến người đọc như đang được theo dõi cảnh phim hay
đầy ấn tượng Còn nhớ, khi nhà văn đọc truyện Chúc phúc (Lỗ Tấn) và so sánh với bộ phim được chuyển thể từ truyện ngắn đó đã tinh tế phát hiện: “Phim đã làm mất đi cái ý vị sâu sắc của văn chương”, “ở trong truyện phim và phim truyện trên màn ảnh màu, cái ống thu hình camera (phối hợp chốc lát với phần thuyết minh) đã thay thế cho vai trò nhân vật - tác giả” Nguyễn Tuân cho người
đọc thấy văn chương ám ảnh, tạo dư vị nhiều hơn so với phim truyện
Mang trong mình vốn hiểu biết phong phú về điện ảnh đã khiến cho ngòibút văn chương trở thành chiếc camera đắc lực của “nhà làm phim NguyễnTuân” có được những khuôn hình, cảnh tượng thật sinh động Có những truyệnđọc xong mà độc giả ngỡ như vừa được thưởng thức một bộ phim
Như đã nói ở trên, Nguyễn Tuân nắm giữ tri thức phong phú của nhiềungành nghề Song, cái tài hoa của người nghệ sĩ này chính là ở cách sử dụng vốntri thức uyên bác đó vào văn chương Điều này đã được khẳng định bằng ý kiến
của nhà phê bình Phan Ngọc: “Nguyễn Tuân là nhà văn đầu tiên tạo ra kĩ thuật viết văn trong văn học” Và chúng ta thật đồng tình với nhận xét của Phan Ngọc,
bởi Nguyễn Tuân – con người ý thức cao độ trong “nghề lao động đến khổ hạnh”của mình, luôn say mê kiếm tìm cái đẹp, luôn làm mới cho “thực đơn” của mìnhnên người nghệ sĩ “đam mê thanh sắc” ấy đã tạo cho văn chương mình một cái tôiuyên bác, tài hoa trong phương thức thể hiện
Nhà văn luôn tiếp cận và khám phá đối tượng ở nhiều góc độ Phối hợpđồng bộ và thật hài hòa từ quan sát, ghi chép, phác họa, pha màu và dậm tô haytạo những đường nét, hình khối, chuyển động…để khắc họa, tạo điểm nhấn vàthổi hồn cho đối tượng mà mình miêu tả Nguyễn Tuân chọn một điểm nhìn và
từ điểm nhìn đó ông xoáy vào đối tượng rồi hướng ra đa chiều Nói như giáo sư
Nguyễn Đăng Mạnh: “Ông lật mặt này ông trở mặt khác, xoay ngang, xoay dọc,
Trang 19nhìn xa, nhìn gần, khi thì bằng con mắt hội họa, khi thì bằng con mắt văn học, điêu khắc, âm nhạc, vũ đạo hay điện ảnh khi thì lại soi bằng cặp kính nhà sử học, nhà địa lý học…”
Vũ Ngọc Phan từng nhận xét: “Chỉ người ưa suy xét đọc Nguyễn Tuân mới thấy thú vị, vì văn Nguyễn Tuân không phải thứ văn để người nông nổi thưởng thức”[19; 52] Quả thật đúng Không dễ gì hiểu được văn chương
Nguyễn Tuân nếu chỉ nhìn ở bề ngoài và thưởng thức kiểu “biết chuyện” Nhà
văn họ Nguyễn có hai lối viết: “Có hai lối viết, tôi gọi là lối nóng và lối lạnh Cũng như tạng người, có tạng hàn, tạng nhiệt Tôi thích lối viết lạnh” [19;716].
Cũng quan niệm đó, Nguyễn Tuân đưa ra hai khái niệm “tung” và “hoành” Nhàvăn đã chọn lối viết “tung”, bởi cách viết này phá cách, diễn đạt được cảm xúcdâng trào đến độ mãnh liệt Rõ ràng, tư tưởng sâu kín của nhà văn cũng nhưthông điệp của các sáng tác Nguyễn Tuân đâu phải dễ thấy Đặc biệt, với bútpháp tạo hình của ngòi bút Nguyễn Tuân, người đọc có thể thấy cái thâm trầmsâu kín ấy nằm ở các khoảng trống giống như khoảng trống của các bức họa vậy.Lấn sân sang lĩnh vực hội họa, điêu khắc, điện ảnh… song Nguyễn Tuân lợi thếhơn nhiều so với các tác giả ấy bởi nhà văn dùng ngôn ngữ để vẽ, để chạm khắc,
để làm nên những thước phim màu Ngôn ngữ nghệ thuật “bậc thầy” vốn đượcgia công trau chuốt, tỉ mỉ nên các gam màu, các khối mảng cũng được pha thậtnhịp nhàng, được khắc thật khéo léo để tạo được những liên tưởng, cảm xúc, ýnghĩa cho người đọc Đó có thể là màu tự nhiên nhưng cũng có thể là thứ màuđặc biệt của người nghệ sĩ Nguyễn Tuân pha chế bằng ngôn ngữ - thứ “màu tâmtưởng”, là thứ hình khối chạm khắc thô sơ hay là thứ hình khối tinh vi độc đáoriêng nhà văn họ Nguyễn mới có bàn tay khéo léo ấy Có được điều đó là nhờ trítuệ uyên bác, tài năng độc đáo, liên tưởng đa giác quan của một con người ngoàiđời say mê hết mình với các ngành nghệ thuật, sống và tham gia diễn kịch, đóngphim, đánh trống chầu cự phách…và đem những thứ mình yêu mến ấy vào vănchương một cách tinh tế, sinh động và nghệ thuật nhất, từ đó truyền tới ngườiđọc những triết lí nhân sinh sâu sắc
Trang 21Tiểu kết chương 1
Tóm lại, tư tưởng, quan niệm về nghệ thuật của Nguyễn Tuân hình thànhnên từ những nguyên nhân khách quan: ảnh hưởng của gia đình, quê hương, thờiđại,… và những nguyên nhân chủ quan: sự trải nghiệm cuộc sống trong trườngđời của một nghệ sĩ cá tính, uyên bác, đa tài, đam mê “xê dịch”, đam mê “thanhsắc” và ham mê sáng tạo Cái nhìn nhiều chiều, kết hợp giữa văn học và đangành độc đáo “chất Nguyễn Tuân” đã làm nên sự thăng hoa trong bút pháp tạo
hình Vang bóng một thời – tập truyện đầu tay đầy độc đáo, hấp dẫn và Chùa Đàn – đỉnh cao của sự tài hoa Nguyễn Tuân là hai tuyệt tác có thể minh chứng
cho điều đó
Trang 22Chương 2
BÚT PHÁP TẠO HÌNH CỦA NGUYỄN TUÂN, NHÌN TỪ YẾU TỐ MỸ THUẬT
2.1 Khái niệm mỹ thuật
Nghệ thuật là một danh từ chỉ: Hội hoạ, âm nhạc, điện ảnh, sân khấu, nhiếp ảnh là một hình thái đặc biệt của ý thức xã hội Nghệ thuật bắt nguồn từ lao động, do đó luôn gắn liền với cuộc sống.
Các môn nghệ thuật đến với con người thông qua "cửa ngõ" thị giác và cùng chung một hệ thống ngôn ngữ là: đường nét, hình khối, màu sắc như: kiến trúc, điêu khắc, hội hoạ, đồ hoạ gọi là nghệ thuật tạo hình hay được quen gọi
là mỹ thuật.
Khái niệm chung về mỹ thuật: Mỹ thuật là từ chỉ những loại hình nghệ thuật có quan hệ đến sự thụ cảm bằng mắt và sự tạo thành các hình tượng lấy từ thế giới vật chất bên ngoài để đưa lên mặt phẳng (gỗ, giấy, vải, trần nhà, tường ) hoặc một không gian (ngoài trời hoặc trong phòng) nào đấy Ngôn ngữ
Mỹ thuật bao gồm các yếu tố như: Hình khối, đường nét, màu sắc, sự sắp xếp bố cục, nhịp điệu
Theo Từ điển tiếng Việt: Mỹ thuật là ngành nghệ thuật nghiên cứu quy luật và phương pháp để thể hiện cái đẹp bằng đường nét, màu sắc, hình khối.
[24;631]
2.1.1 Khái niệm và đặc trưng của hội hoạ
“Hội họa là nghệ thuật dùng đường nét, màu sắc để phản ánh thế giới hình thể lên trên mặt phẳng”.[28;460]
Hội họa là loại hình nghệ thuật đặc trưng bởi sự biểu hiện không gian trên
bề mặt, đó là một không gian ảo chỉ có thể cảm nhận được bằng thị giác Nói đến
hội hoạ là nói đến tính không gian Mặt khác mỗi vật thể tồn tại trong khônggian để có một hình dạng, màu sắc nhất định Ánh sáng giúp ta nhận ra hìnhdáng, kích thước và màu sắc của chúng Như vậy, đặc trưng nữa đó là tính tạohình trực tiếp bằng các yếu tố ngôn ngữ tạo hình như đường nét, màu sắc, sáng
Trang 23tối, xa gần Hình và màu là hai yếu tố cơ bản trong hội hoạ Hình là yếu tố quan
trọng đóng vai trò chủ yếu “Nét có khả năng tạo hình ở hai mặt Một là nó mô
tả đặc thù các đồ vật thị giác, hai là nó mô tả đường chuyển động của hình nhờ chuyển động của bản thân nét – tức sự định hướng của nét.”[28;70] Màu sắc giúp biểu hiện tình cảm và làm cho hội hoạ phong phú, hấp dẫn: “Chính sự huyền ảo của màu sắc là niềm vui vô tận của con người, là phương tiện kỳ diệu của họa sĩ – là vẻ đẹp thị giác thực sự của thế giới vật chất và tâm hồn con người chúng ta”…“Theo đĩa màu của Niu-tơn, ta có ba màu gốc là đỏ - vàng – lam với hai nóng, một lạnh Ba màu nhị hợp là xanh lục – da cam – tím với hai lạnh một nóng Như vậy trên vòng tròn màu có hai nửa nóng lạnh với ba màu nóng và ba màu lạnh”.[28;80] Vì vậy, hội họa có ưu thế đặc biệt trong việc phản
ánh thế giới với mọi màu sắc phong phú, tinh tế của nó và hòa sắc của tác phẩmlàm cho nó có sức biểu hiện sâu sắc, tế nhị về tình cảm Ánh sáng, bóng tối và sựkết hợp uyển chuyển giữa các đường nét, màu sắc với các thủ pháp xa – gần củahội họa tạo ra cảm giác không gian Không gian đó được pha trộn tạo nên hòasắc, nhịp điệu, tương phản trong các hình thái và kết cấu tĩnh hoặc động dướingọn bút và lối vẽ phù hợp của người họa sĩ Bức tranh – tác phẩm hội họa giữlại một khoảnh khắc của cuộc sống và nhờ khả năng tạo hình ấy, người nghệ sĩbộc lộ được những cảm xúc, nói lên được tư tưởng và tình cảm con người trênmọi cung bậc và sắc thái khác nhau
2.1.2 Khái niệm và đặc trưng của điêu khắc
Điêu khắc là nghệ thuật chiếm chỗ trong không gian.[28;51]
Theo Từ điển Tiếng Việt: “Điêu khắc là loại hình nghệ thuật thể hiện hoặc gợi tả sự vật trong không gian bằng cách sử dụng những chất liệu như đất,
Trang 24điêu khắc hầu như không thể hiện bối cảnh, hoàn cảnh hoạt động của nhân vật, việcthể hiện hình tượng hầu như hoàn toàn dựa vào cách thể hiện diện mạo bên ngoàicủa con người nhưng nó còn phát hiện bản chất bên trong của đối tượng, thể hiệnnhững phẩm chất tiêu biểu của đối tượng Tác phẩm điêu khắc chủ yếu mang giá trịtinh thần, dùng để trang trí, xem ngắm, để tưởng nhớ, tưởng niệm người, vật đãmất Tác phẩm điêu khắc còn thể hiện một niềm tin hướng về như tượng thần linh
và những hình ảnh thiên nhiên kì thú, bí ẩn hoặc bộc lộ một khát vọng sống
Hội họa và điêu khắc ở ngoài văn chương thì khác biệt rành rẽ nhưng khi đivào văn chương thì lại khó phân biệt rành rẽ, vì chúng thường chuyển hóa sang nhau
Tả cùng một hình tượng, nhà văn vừa dùng bút pháp này vừa dùng bút pháp kia,chúng trộn lẫn và chuyển hóa nhau để làm nên ấn tượng mạnh và sự sống động củamỗi hình tượng Văn chương nhờ đó mà ám ảnh, sâu sắc và hấp dẫn hơn biết bao
2.2 Các yếu tố mỹ thuật trong Vang bóng một thời và Chùa Đàn
của Nguyễn Tuân
Vang bóng một thời - tập truyện đầu tay, ra đời khi những giá trị văn hóa tinh thần của cả giống nòi đang “trên dòng phai bạc thời gian miên viễn đời người” Có lẽ vì vậy mà nhà văn đã “gọt giũa tỉ mỉ có khi tỉ mẩn những đường nét, hình bóng, động thái của những cái đẹp đang tàn phai mất biến đó, cơ hồ như muốn khắc chạm lại, chụp ảnh lại chúng cho mai hậu những ai có lòng đọc trên con chữ mà có thể hình dung lại, phục dựng, và giữ lấy.”[35;6] Ngòi bút độc đáo này trong Vang bóng một thời tiếp tục được phát huy mạnh mẽ ở tác phẩm kế tiếp vào năm 1946 – tác phẩm Chùa Đàn Cũng từ những am hiểu uyên
bác về văn hóa cổ truyền dân tộc, cũng từ cái chủ đề “Trở về với dân tộc” như
Vang bóng một thời, song Chùa Đàn được Nguyễn Tuân viết với ngòi bút cao
tay để phóng khoáng, rằn mạnh những nét điểm, chạm khắc tinh vi hơn, gai góchơn Người đọc như được chứng kiến những khoảnh khắc thăng hoa, “nhập
đồng” hay như đang bước vào những khung cảnh của thực, của ảo và thậm chí
quái đản, ma quái Độc giả vì đó mà cũng bật lên niềm ái mộ một tài năng tạo
hình sáng tạo đã “vươn tới thượng đỉnh”[19;266].
Trang 252.2.1 Yếu tố hội họa trong Vang bóng một thời và Chùa Đàn của Nguyễn Tuân
2.2.1.1 Yếu tố hội họa trong Vang bóng một thời của Nguyễn Tuân
Nguyễn Tuân ảnh hưởng nhiều của hội họa Trung Hoa
“Người Châu Âu bảo người Trung Hoa vẽ được mùi hương của đóa hoa, cái chập chờn của cánh bướm, cái mờ tỏ của sương mai ven núi vì họ đã sử dụng tối – sáng để làm mọi chuyện như diễn tả xa gần (xa thì nhạt, gần thì đậm), nặng, nhẹ (đậm thì nặng, nhạt thì nhẹ)…”[28;67]
Trong tranh của các bậc thầy hội họa Trung Hoa xưa, mật độ các nét được
xử lý tạo hình chỉ bằng một số nét chấm phá tưởng như ngẫu nhiên nhưng đãlàm nên thiên nhiên sơn thủy vô cùng vô tận Ít nét, kiệm phương tiện tạo hìnhsong lại làm cho tranh của họ có cái vô cùng trong cái hữu hạn, cái không nắmbắt được trong cái cụ thể Nghệ thuật đó được mệnh danh là nghệ thuật “bỏtrống” Cách vẽ đó theo tinh thần vận động của cái không, cái tĩnh tuyệt đối
Trong hội họa, nét vốn mang tính chất đại diện cho vận động cụ thể của bàn
tay người vẽ, cái mà người Trung Quốc xưa gọi là “cốt pháp dụng bút” “Nói cốt pháp dụng bút là nói kỹ thuật điêu luyện khi sử dụng sự phong phú của ngọn bút lông, làm sao cho nét trên tranh là hình ảnh thị giác của vận động bàn tay Cốt pháp dụng bút cũng là cốt cách con người Nét bút ghi dấu vận động bàn tay người không phải là sự điểm chỉ, mà ghi dấu cả trạng thái tâm hồn, suy tư và cảm xúc người vẽ lúc bấy giờ.”[28;74]
“Đối lập tối sáng là một đối lập căn bản của nghệ thuật tạo hình Các bậc thầy
vẽ mực nho đã triệt để sử dụng đối lập này để thể hiện mọi sự vật và trạng thái.” [28;66]
Mười hai truyện ngắn trong Vang bóng một thời được viết dưới “con mắt của một nghệ sĩ đam mê thanh sắc”, vì vậy “…đọc “Vang bóng một thời” của Nguyễn Tuân ta có cảm tưởng như ngắm những bức tranh cổ Như một nhà văn theo chủ nghĩa tả thực mỹ thuật, Nguyễn Tuân chú ý chắt chiu gạn lọc cho được những nét đẹp khi biểu hiện cuộc sống” [19;159] Vũ Ngọc Phan nhận xét thật
đắc địa Người đọc sớm nhận ra ngay từ nhan đề của tập truyện và nhiều truyện
Trang 26trong Vang bóng một thời qua nghệ thuật sử dụng, kết hợp từ độc đáo - rất Nguyễn Tuân, tự bản thân nó đã mang chất tạo hình – gợi nhắc hình và bóng của
một thời đã xa Dường như Nguyễn Tuân đã dùng sắc màu, nét khối, âm thanh
để tô vẽ bức tranh cổ Đặc trưng của bức tranh ấy là kiệm nét, bởi Nguyễn Tuân
đã lựa chọn nghệ thuật chấm phá là một dụng công chính Đặc trưng nữa của bứctranh đó còn là nhẹ màu thanh và nặng màu trầm Phải chăng nó không chỉ là nétmàu của cảnh mà còn là nét màu tâm lí – nét màu của lòng người, bởi nhà văn đãdùng tình cảm để pha màu cho không gian Vâng! Tâm hồn ấy được đắm mìnhtrong mảnh đất cổ xưa mang vẻ đẹp hoàn mỹ - đó là những bóng trầm nhưngthanh và đẹp đã làm nên những đường nét, khung cảnh hợp với một con ngườiđang úa sầu
Bức họa cổ Vang bóng một thời có biết bao mảng tranh, bao gam màu.
Trong đó, có những mảng tranh với những gam màu trong sáng, thuần khiết dành
riêng cho những nét đẹp văn hóa như trà đạo trong Những chiếc ấm đất, Chén trà trong sương sớm hay thú Thả thơ, Đánh thơ, uống rượu Thạch lan hương và bình thơ trong Hương Cuội…
Truyện ngắn Những chiếc ấm đất nói về thú thưởng thức trà đạo Để làm
nên nhã thú này, người ta cầu kì từ cách chọn nước pha trà Đó là thứ nước phảiđược lấy từ giếng nhà chùa Bức họa khung cảnh người gánh nước từ chùa vềmang những nét thanh khiết, bình yên:
“Bọn xin nước vái chào nhà sư Trên con đường đất cát khô, nồi nước tròng trành theo bước chân mau của người đầy tớ già đánh rỏ xuống mặt đường những hình ngôi sao ướt và thẫm màu Những hình sao ướt nối nhau trên một quãng đường dài ngoằn ngoèo như lối đi của loài bò sát Ví buổi trưa hè này là một đêm bóng trăng dãi, và ví cổng chùa Đồi Mai là một cửa non đào thì những giọt sao kia có đủ cái thi vị một cuộc đánh dấu con đường về của khách tục trở lại trần.
Ánh nắng già dặn buổi trưa nung đốt mặt cánh đồng dưới chân đồi, làm rung rinh lớp không khí bốc từ mặt đất Giống như vệt khói nhờ, nắng vờn qua
Trang 27những màu xanh bóng loáng của một dãy xóm làng cây cối im lìm Bọn người xin nước chỉ còn là mấy cái chấm đen, mỗi chuyển động lại làm tung lại phía sau mình một chùm cát bụi mờ mờ” [35;27]
Khung cảnh được nhìn từ gần ra xa và bao quát rộng Một bức tranh sơnthủy đậm chất tạo hình của hội họa qua một lối công bút thành công Đó là những
đường nét của hình ảnh con đường dài “ngoằn ngoèo như lối đi của loài bò sát”,
những giọt nước từ nồi nước của người đầy tớ già rỏ xuống mặt đường đã tự vẽlên mặt con đường đầy cát bụi ấy hình những ngôi sao thẫm màu nối nhau Hìnhảnh của cái nắng già hiện lên qua lớp không khí, qua cái áo bóng loáng nó khoác
cho cây lá im lìm, qua cái sáng lòa của không gian…Chắc hẳn người họa sĩ này
đã dùng chiếc bút lông mềm mại, nhẹ nhàng vẽ lên hình ảnh con đường dài ngoằn ngoèo nhỏ dần theo những bước chân người gánh nước Trong hội họa đường nét
cong nhẹ đó tạo sự thoải mái nhẹ nhàng Theo ý này có thể thấy con đường trở vềcủa những người lấy nước nó giống như con đường từ cõi thoát tục trở về vớichốn bụi trần Hơn thế bức tranh người gánh nước đó qua con mắt sư cụ chùa ĐồiMai còn điểm xuyết những gam màu thẫm của những ngôi sao nước, xanh của câycối và nhiều nhất là màu vàng phủ lên không gian của nắng Cảnh có sự kết hợpuyển chuyển giữa đường nét và màu sắc qua cái nhìn liên tưởng so sánh đầy thi vị.Thủ pháp tạo khoảng cách xa gần, cao thấp đã tạo nên cảm giác của không gian bachiều mang nhịp điệu nhẹ nhàng giàu chất thơ Trong khoảnh khắc này của cuộcsống, người chiêm ngưỡng nó thấy được có gam màu trội của cái nắng sáng lòa,
già dặn buổi trưa chiếu thẳng mà soi tỏ thấy “một kiếp chúng sinh còn vướng mãi vòng nghiệp chướng” [35;28] Đúng như thế, chính gam màu nóng ấy nó đã biểu
hiện tâm sự luôn sục sôi trong nhà sư ngộ đạo Khuôn mặt vị sư già ấy đã được
ngòi bút nhà văn vẽ nhanh những nét cơ bản: “Trên khuôn mặt khô xác, nụ cười không có gì là ấm áp thiết tha Nó chỉ đủ hiền lành thôi.” Và cũng đủ để người
đọc hiểu được tấm lòng một con người nhìn thấu cõi chúng sinh mà lo lắng, thởdài Và cũng đủ để hiểu thêm cảnh chay tịnh, thanh khiết, có sự vật, có conngười… thi vị mà sao vẫn u buồn đến thế
Trang 28Khung cảnh gặp gỡ giữa cụ Sáu và sư cụ chùa Đồi Mai càng bộc lộ rõ nét
hơn nữa cái thanh tịnh đến hư huyền của chốn sơn thủy hữu tình: “Nhà sư ít nhời, trầm tĩnh ngắm bóng cụ Sáu trong lòng đáy giếng sâu Cái bóng nhà sư già ít khi được đậu hình cho lâu trên phiến gương nước giếng mát lạnh; chốc chốc một vài giọt nước ngọt lại rời mạch đá tổ ong, thánh thót rớt xuống, tiếng kêu bì bõm ngọn đồi này cao mà thủy lại tụ Địa thế chùa này, xem ra còn dụng võ được…”.[35;29]
Tiểu cảnh “thủy tụ” này càng làm tôn cao thêm cái không gian thanh khiết
“vô nhiễm” của ngôi chùa Và đó cũng là cái thanh, cái tĩnh, cái đức ngự trị vĩnhhằng nơi đây Bức tranh quả là kiệm nét, kiệm màu Nó gợi tranh của các bậcthầy Trung Hoa cổ tạo nên sơn thủy vô cùng vô tận mà rất ít phương tiện tạo
hình Một nghệ thuật được mệnh danh là nghệ thuật “bỏ trống” “Cách vẽ đó theo tinh thần vận động của cái không, cái tĩnh tuyệt đối Cái quan hệ phức tạp giữa đạo là cái tuyệt đối – tĩnh, vĩnh hằng – với cái đức như là biểu hiện của đạo vẫn luôn ở đâu đó trong mỗi thân phận con người cụ thể.”[35;69] Đó là cái
thanh tĩnh đến mát lành như nước giếng chùa Đồi Mai Thứ nước tinh túy đượcchắt lọc từ sâu thẳm trong lòng đất mẹ Thứ nước giếng làm nên cái quãng đời
“khoáng hoạt” của một con người có tài uống trà đạt tới độ tuyệt kĩ, tuyệt mĩ.
Nghệ thuật tạo bóng trong hội họa được sử dụng thật hợp lí và đắt Lòng giếngsâu, nước giếng trong như phiến gương soi bóng hai con người song thứ nướctinh túy, mát lành và quyến rũ con người ta kia chỉ có thể “nhốt” cái bóng của cụ
Sáu như một định mệnh Bởi “Phật dạy rằng hễ muốn là khổ”.[35;30]
Khung cảnh của chùa chiền thanh tịnh đóng kín với thế tục được ngòi bútphóng khoáng của Nguyễn Tuân vẽ lên với mật độ nét không dày Chỉ là nétngoằn ngoèo của con đường, là những chiếc bóng trong lòng giếng sâu, là những
giọt nước rời mạch đá tổ ong rớt thánh thót theo hướng thẳng xuống gợi lực đè nén và tiếng bì bõm gợi những vòng tròn lan tỏa kia chẳng đã mang lại giá trị tạo
hình cho trí tưởng tượng của độc giả được chắp cánh để khám phá cái huyền thoại
về cuộc đời cụ Sáu, huyền thoại với thú thưởng trà đã nâng lên thành nghệ thuật
Trang 29Chén trà trong sương sớm cũng nói về nghệ thuật uống đẹp Trong cảnh
trời đất lờ mờ ấy, khung hình bức tranh đã đóng kín không gian nhà cụ Ấm, màtrọng tâm là hình ảnh cụ Ấm bên hỏa lò với công việc pha trà Điểm xuyết bằngnhững nét chấm phá cho bức tranh có người có cảnh, tác giả vẽ thêm hình ảnhngọn đèn dầu với ánh sáng yếu ớt, làn khói thuốc, những nét lửa ngang dọc ngoằnngoèo, những hòn than tàu và không quên những chiếc ấm, nhất là chiếc độc ẩmcủa cụ Ấm Tất cả những nét vẽ kia thật nghệ thuật nhưng đều mờ ảo và mang sốphận mong manh Chỉ có con người với cái “kỳ vật” là rõ nét của sự tồn tại nhưngvẫn được bao phủ bởi lớp sương mờ mờ Bức tranh hiện lên với gam màu trắngchủ đạo Màu của sương sớm, màu của áng khói trắng, màu mái tóc trắng của cụ
Ấm Pha thêm những gam màu xanh, đỏ của lửa, của than Đỏ ửng, đỏ tươi, xanhlè…song những màu sắc ấy chẳng thể tồn tại lâu, chúng nhanh chóng “hấp hối” để
trở về là cái “tàn tro dày và trắng xốp”.
Cảnh được vẽ gần, ánh sáng có mà không xua tan được cái tranh tối củakhoảnh khắc chuyển đêm sang ngày Bức tranh vì thế vừa tĩnh lặng, vừa mongmanh mà thuần khiết đến độ tưởng đó là cảnh ảo, cảnh trong mộng
Không chỉ trong không gian Chén trà trong sương sớm, khung hình mới khép kín Bức tranh Hương cuội cũng được gắn chặt bởi một khung hình và
trong đó là không gian nhà cụ Kép Có lẽ nếu không làm thế, e sợ thứ hươngthanh quý của món Thạch lan hương kia sẽ vô tình bay đi ít nhiều thì sẽ giảmmất cái nồng nàn trong thú vui tao nhã “nhắm đẹp” của cụ Kép Đó là một bứctranh cổ, có đủ phong, hoa, tuyết, nguyệt Có những tao nhân mặc khách ưa nhàntản, thích bình yên Có những lễ nghĩa của gia đình Nho giáo nền nếp Bức tranh
dựng lại cả nghệ thuật cổ xưa qua kỳ thú thưởng xuân bằng uống rượu, nhắm kẹo
Thạch lan hương, làm thơ… nhưng cũng dựng lại cả một bức tranh sinh hoạt giađình trọng lễ nghĩa, đầy gắn bó yêu thương, mang nét đẹp trong lối sống văn hóa
của người Việt Kỳ thú này thật ấn tượng… nhưng có lẽ đã theo cánh hạc bay về một miền cổ tích xa xăm từ bao giờ Chỉ mỗi khi ai đó đọc đến Hương cuội với những đoạn như: “Một mùi hương lan bị bỏ tù trong bầu không khí lồng bàn
Trang 30giấy phất từ đêm qua, đến bây giờ vội tản bay khắp vườn cây Bốn cụ và bõ già đánh hơi mũi: những cặp mắt kém cỏi đăm đăm nhìn kỹ vào khoảng không trong vắt như có ý theo dõi luồng hương thơm đang thấm nhập dần vào các lớp khí trời Cơn gió nhẹ pha loãng hương thơm đặc vào không gian.”[35;96] Chợt giật
mình thốt lên: Thi vị quá Hay quá Đẹp quá Và luyến tiếc quá!
Đến với Thả thơ, ta cũng bắt gặp bức tranh thu hẹp trong không gian tư thất
gia đình cụ Phủ tịch lặng đến hư huyền qua vài nét chấm phá bằng ngôn từ: một cụPhủ ngồi nhà giữa thâu canh làm bạn với thánh hiền bên cây đèn, một cô Tú ngồi
âm thầm bên bóng Có những khi, khung cảnh ấy được điểm thêm một cây lư trầmvào những đêm mưa gió Song cảnh vật và con người ở đây không phải dễ mà vẽ,nhất là hình ảnh tương phản giữa ánh sáng leo lét của ngọn đèn và cái bóng của cô
Tú in trên lá màn vải sô Gam màu và đường nét gợi cô đơn, gợi lạnh lẽo và gợi cái
nhòe mờ trong nỗi u hoài của “một gia đình đang lúng túng vì sự hiu quạnh”[35;39] Đằng sau bức tranh đó tác giả muốn gửi gắm sự trân trọng một nền
nếp nho nhã, đạo đức của gia đình xưa
Bức vẽ bằng ngôn từ về cuộc “chơi đẹp” – Thả thơ lại mang những gam
màu dịu dàng, nhẹ nhàng của ánh trăng mười bốn – “vầng trăng đi tới chỗ toàn
thịnh”: “Vầng trăng mười bốn lúc chếch về đoài đã in một cục bóng thẫm và dài lên mặt con sông trắng và lạnh như thỏi thiếc vừa nguội Đấy là bóng chiếc nhà
bè lợp lá gồi mà trong đó, cụ Nghè Móm đang ngồi làm nhà cái, thả thơ cho hàng chục người con đánh Người ta đang sát phạt nhau bằng tiền, đem cái may rủi cả vào đến cõi văn thơ và trên mặt nước sông thu, tiếng ngâm một câu thơ được cuộc, tiếng ngâm một câu thơ thua cuộc mất ăn tiền, những tiếng đó đều
âm hưởng trên làn nước lạnh, thanh âm nghe trong trẻo, du dương và thái bình như tiếng vang của một hội tao đàn nào.”[35;47] Cảnh hiện lên dưới cây bút
lông mềm mại và phóng túng, có nét dài của con sông, nét tạo khối của bóngchiếc nhà bè Thủ pháp đối lập trong sử dụng gam màu càng tăng nghệ thuật tạohình trong dựng cảnh Nếu cái “bóng thẫm” kia gợi cho thị giác độ gần thì hìnhảnh con sông với gam màu “trắng như thỏi thiếc” lại gợi cái xa xăm mộng ảo
Trang 31Hai gam màu tối sáng hay đen trắng của cảnh, nó như muốn nói lên canh bạc đỏđen, may rủi của “cõi văn thơ”, của những kẻ trên cái nhà bè lợp lá gồi kia Kếthợp với những gam màu và đường nét ấy dưới ánh sáng dịu nhẹ của trăng cànglàm khung cảnh mênh mông, tịnh lặng, xa xăm mà huyền ảo nhưng cũng khôngkém phần thanh bình.
Cũng vẫn cái “kỳ thú” giống như Thả thơ, trong Đánh thơ ta bắt gặp
không gian sông nước gắn với cuộc đời giang hồ “xê dịch” của Phó Sứ và Mộng
Liên: “Nước một con sông hiền lành đẩy nhẹ cánh hoa vô định lừ đừ trôi một mình, theo những cái xoáy nước yếu đuối.”[35;53] Đường nét của dòng sông,
của những xoáy nước Gam màu trắng của nước Nhẹ nhàng Êm đềm Trong
khung cảnh hiền hòa ấy vẫn vang lên tiếng hát, tiếng đàn: “Tiếng đàn hát trên mặt nước một con sông nông lòng và không gợn chút tăm cá, đã vẳng đưa rất rộng”.[35;51] Cảnh thi vị trên sông nước ấy đã khiến bao người nhớ nhung, nuối tiếc và chờ đợi khi họ không còn quay trở lại như “chờ một cái bóng chim, đợi một cái tăm cá” Bức tranh sông nước thơ mộng càng tô lên cái nghệ thuật sống
thuần khiết, cao sang và tài tử của con người Bức tranh còn có một gam màu ẩntàng của sự luyến tiếc xa xăm Bức tranh sông nước ấy cũng chỉ còn là nơi lưu
giữ những kỉ niệm, những vẻ đẹp một thời vang bóng, bởi Mộng Liên và Phó Sứ
“trăng gió đuề huề thơ một túi / mây mưa đánh đổ cuộc trăm năm”.[35;65]
Và cũng vẫn như Thả thơ, ta lại được “ngắm” khung cảnh “chiếu bạc bằng thơ” trong truyện Đánh thơ Nguyễn Tuân sử dụng nhiều màu đặt cạnh nhau cho
chúng chuyển hóa trên một nền hình thống nhất của không gian bức tranh như
trong hội họa: “Ông Kinh Lịch châm thêm dăm bảy cây sáp nữa đã gắn sẵn vào
đế đèn đồng Tất cả thành thử đến hơn mười cây nến, chung nhiệt độ lại để tăng bốc cái mùi thơm gắt ngát của một bình hoa rộng miệng chứa gần trăm gốc huệ trắng Hoa huệ mãn khai cuộn cong đầu cánh trắng lại như những râu rồng và gặp tiết đêm, gặp sức nóng của nến cháy, của người thở mạnh, của hơi thở dồn vang càng hết sức nhả mùi hương Không khí đều là huệ hết cả, có người rít mạnh mồi thuốc lào, đã lầm rằng thuốc của mình là ướp ủ bằng hoa huệ Hơi huệ ngùn
Trang 32ngụt bốc lên, quyện lấy mùi dầu dừa nơi mái tóc Mộng Liên Mộng Liên mặc chiếc áo màu hỏa hoàng ngồi ép sát vào chồng, mặc một chiếc áo lụa năm thân nhuộm màu khói nhang đột chỉ trứng rận.”[35;60] Giống như một bức tranh pha
sắc cổ điển và hiện đại Không gian cảnh khép kín trong tư thất nhà ông KinhLịch Phác họa mười cây nến, một bình hoa huệ lớn và có thêm con người nhưngnổi bật là Mộng Liên và Phó Sứ Màu sắc nổi bật là hai gam màu trắng của hoahuệ, hỏa hoàng trên áo Mộng Liên Màu vàng vốn là gam màu nóng, gợi cảm giácrực rỡ, chói gắt nhưng lại được pha với gam màu trắng tinh khiết của hàng trămbông huệ có cánh cuộn cong gợi cảm giác nhẹ nhàng, thoải mái Đối lập nhưng lạihòa vào nhau, tôn nhau lên bởi cả hai gam màu này lại được phủ một lớp ánh sángnến lung linh trùm lên những cảnh huệ và tràn sang cả Mộng Liên để kịp tôn lênmàu áo hỏa hoàng của cô ca nữ Đúng như quan niệm của Nguyễn Tuân về hội
họa: “Cấu tạo nên bức tranh, công việc dàn màu thuốc nhiều khi quan hệ hơn cách dàn đề, với những cảnh vật vẽ lên”.
Không gian mang không khí, sắc màu cổ xưa song nhìn kĩ lại thấy nó hội
tụ đủ cả hương hoa, sắc hình, ánh sáng được sắp đặt thật hài hòa như trên sânkhấu hiện đại Với quan năng đa chiều, độc đáo của ngòi bút đậm chất tạo hìnhNguyễn Tuân, cảnh “chiếu bạc bằng thơ” hiện lên gợi cái thơ mộng của cảnh “ca
kỹ bên hoa huệ” nào đó Lãng mạn Lung linh Và mờ ảo hóa đi cái “canh bạc
đỏ đen rất tri thức” này.
Đánh thơ và Thả thơ - hai câu chuyện đẹp như hai bài thơ nâng tâm hồn
người đến với tình yêu những giá trị tinh hoa dân tộc
Bức tranh ngôn từ đẹp lóng lánh về không gian thiên nhiên trong sáng, dịu
dàng và tươi mới trong truyện Ngôi mả cũ đã đem lại những cảm giác “thanh lọc” cho tâm hồn người: “Giàn bầu nậm ở ngoài sân, dây leo và lá chằng chịt lấp chật ô giàn nứa, đã làm dịu hẳn cái nắng tháng tư ở trước mặt nhà Ánh nắng đổ xuống giàn, khi lọt xuống sàn bị cái cốt xanh ngắt của cây lá lọc qua một lượt, rồi đổ dồn vờn vào áo vải trắng dài, cậu Chiêu đang hấp háy mắt, ngửng đầu ngắm những quả bầu nậm buông thõng xuống ngang mặt Cái áo vải
Trang 33trắng cậu Chiêu đã biến thành một áo lụa màu xanh của người phong lưu và đa tình Đấy là cái màu dịu mát của chất ngọc bích; đấy là cái thứ áo xanh của ông quan tư mã đất Giang Châu dùng lau nước mắt khi thương đến một người con hát giữ một khoang thuyền trống trải trôi trong đám lau sậy ven sông Hoặc là
vì màu đó là màu xanh ở những cánh đồng lúa non ngút ngàn của những xứ yên
ổn không bao giờ có nạn binh lửa cũng vẫn cứ là đúng”.[35;75]
Người họa sĩ vẽ tranh bằng ngôn từ, nhưng thể hiện rõ quan năng cảm thụcủa nghệ thuật thị giác…Nắng được miêu tả thật sinh động Nắng mang vẻ đẹptinh khiết và tươi mới Qua liên tưởng và nghệ thuật nhân hóa độc đáo, nắng như
có hồn Ánh nắng tháng tư vốn gay gắt nhưng đã được “thanh lọc” bởi những sắcxanh dịu mát của giàn bầu nậm, chắc chắn nắng sẽ bớt đi cái chói chang Hòatrộn hai gam màu nóng lạnh đối lập để tả cái dung nhan của nắng đạt được ấntượng đẹp nhất khi cái sắc nắng được thanh lọc ấy còn tinh nghịch “đổ vờn” lên
cái áo và biến cái áo vải trắng của cậu Chiêu “thành một áo lụa màu xanh của người phong lưu và đa tình” Một màu ngọc bích Màu xanh của chiếc áo đẫm
nước mắt thương nhớ Một màu xanh lúa non ngút ngàn trên cánh đồng khôngbinh lửa Hay chính là màu xanh non Xanh nhạt Xanh dịu mát Xanh thanhbình Xanh hoài vọng Đọc đoạn văn, trước mắt người đọc không còn là câu chữnữa, mà là một thế giới ảo ảnh của màu xanh mê dụ người ta lạc về chốn làngquê với nếp sống thanh bạch Nơi sẽ khiến người ta thêm nhớ, thêm yêu và cũng
hi vọng vào một cái gì đó dù biết là đã xa xăm lắm
Bên cạnh những khung cảnh thanh lãng, trong sáng, thuần khiết trong Vang bóng một thời còn có những bức tranh về “cảnh đặc biệt”, về những chân dung đầy
huyền bí, bất thường, nhiều khi gây cảm giác rùng rợn, mang chất “yêu ngôn”
Vũ Ngọc Phan cho rằng: “Nhiều đoạn trong Chữ người tử tù có thể làm đầu
đề cho những họa sĩ nào ưa vẽ cảnh đặc biệt Việt Nam Đó là chòi canh và những người tử tù ở đầu truyện, cảnh cho chữ ở cuối truyện…Cảnh có đủ đường nét, hình khối, màu sắc, độ tương phản đậm nhạt.”[21;244] Quả đúng như vậy, hãy đọc lại những đoạn văn đó để cảm nhận những “cảnh đặc biệt” trong Chữ người tử tù của
Trang 34Cảnh chòi canh được nhìn toàn cảnh gần xa, thấp cao Các từ láy thăm thẳm, văng vẳng, lốm đốm, nhấp nháy mang đậm tính gợi hình Không gian có
gì đấy vừa thinh lặng, vừa ớn lạnh nhưng cũng phi thường Dưới thấp tác giả sửdụng gam màu “tối mịt” bao phủ không gian rộng và đồng điệu với nó còn là cái
màu đen của những con song Đối lập với gam màu ấy là ánh sáng “nhấp nháy”
của những vì tinh tú ở trên cao, mà nổi nhất là ngôi sao Hôm Hình khối của bốn
cái chòi canh, của “khung cửa sổ có nhiều con song kẻ những nét đen và thẳng lên nền trời”[29;101] và cả nét hình được vẽ bằng tâm tưởng của những “thanh
âm phức tạp” bay lên cao “nâng đỡ lấy một ngôi sao chính vị muốn từ biệt vũ trụ” Những đường nét của cảnh vật như muốn hướng lên với bầu trời kia Và ngay chính những “thanh âm phức tạp” cũng muốn bay lên “nâng đỡ lấy một ngôi sao chính vị muốn từ biệt vũ trụ” Trừu tượng hóa âm thanh thành những
nét, điểm, hòa cùng sắc độ của không gian tạo nên nhịp điệu cho bức tranh vềđêm mang tính huyền bí như dự báo điều gì đó bất thường Và cái bất thường ấychính là sự “từ biệt” một con người “văn võ song toàn”, viết chữ đẹp nổi tiếng –
“ngôi sao chính vị” đó đang khiến vị quản ngục kia phải nghĩ suy, phải bănkhoăn, trăm mối tơ vò ngổn ngang
Cảnh những người tử tù trước cổng đề lao cũng thật “đặc biệt” Với những
mảng màu ít ỏi nhưng đủ rõ thấy được sự đối lập: màu bóng nhoáng và màu xỉn đen sánh của chiếc gông dài; màu nền đá xanh nhạt và màu nâu đen của rệp Con
mắt tinh tế trong nhìn nhận sự việc hiện tượng đã đem lại sự phối màu ít mà hợp
lí Màu bóng đẹp trên gông là nơi có bàn tay người tù cầm vào Và chỉ có cáithiện, lẽ phải mới làm nên những gam màu đẹp trên cái gông dài đến tám thướcvới bản chất đen sánh của kẻ thù, kẻ bán nước Những nét vẽ bằng ngôn từ củaNguyễn Tuân không có nét đau khổ, sợ sệt, yếu đuối mà dành trọn những nétmang sức mạnh, uy vũ, phi thường cho những chân dung trong những ngày cuốicùng Bức họa góp phần tô đậm thêm màu sắc huyền thoại ở nhân vật Huấn Cao,
ở những người tử tù và ẩn tàng một sắc màu yêu nước của ngòi bút Nguyễn Tuân
Phần cuối truyện Chữ người tử tù, người đọc gặp “cảnh cho chữ”– “một
Trang 35cảnh tượng xưa nay chưa từng có”: “Đêm hôm ấy, lúc trại giam tỉnh Sơn chỉ còn vẳng tiếng mõ trên vọng canh, một cảnh tượng xưa nay chưa từng có đã bày
ra trong buồng tối chật hẹp, ẩm ướt, tường đầy mạng nhện, tổ rệp, đất bừa bãi phân chuột và gián.
Trong một không khí tỏa như đám cháy, ánh sáng đỏ ngòm của một bó đuốc tẩm dầu rọi lên trên ba cái đầu người đang chăm chú trên một tấm lụa bạch còn nguyên vẹn lần hồ Khói bốc tỏa cay mắt làm họ dụi mắt lia lịa Một tên tù cổ đeo gông, chân vướng xiềng đang đậm tô nét chữ trên tấm lụa trắng tinh căng phẳng trên mảnh ván Tên tù viết xong một chữ, tên quản ngục lại khúm núm cất những đồng tiền kẽm đánh dấu ô chữ đặt trên phiến lụa óng Và cái thầy thơ lại gầy gò thì run run bưng chậu mực.” [35;109]
Giữa cái gam nền của đêm đen, diễn ra một “cảnh tượng xưa nay chưa từng có” nơi buồng gian kẻ tử tù Huấn Cao – người sẽ cho chữ Địa điểm không
phải trong căn phòng ở của viên quản ngục Phải chăng nếu thế khung cảnh sẽ
không còn là “một cảnh tượng xưa nay chưa từng có” nữa, mà có thể sẽ chỉ là cảnh bên cạnh hai người, có một người viết chữ “nơi góc án thư vàng đã nhợt, son đã mờ, đĩa dầu sở trên cây đèn nến vợi dần mực tầu Hai ngọn bấc lép bép
nổ, làm rụng tàn đèn xuống…” Đơn giản hơn rất nhiều.
Cảnh buồng giam được điểm tô bằng những nét vẽ, những gam màu đối
lập Vuông lụa bạch trắng và bóng đêm Bóng đêm đen và ngọn đuốc “ánh sáng
đỏ ngòm” Chậu mực thơm và mùi hôi hám của “mạng nhện, tổ rệp, đất bừa bãi phân chuột và gián” Khung cảnh gợi nhớ những dòng văn tạo hình của Nguyên Hồng: “… những bức vách nứt nét, loang lổ, những kèo cột xộc xệch, chằng chịt mạng nhện…dưới ánh đèn treo vàng cặn, tất cả những vật ấy úp súp, tồi tàn thêm.” Cả Nguyên Hồng và Nguyễn Tuân đều sử dụng nghệ thuật đối lập và từ
láy để tạo hình Song, ở Nguyễn Tuân sự tạo hình rõ nét hơn, gợi cảm giác lạ màvẫn giữ được cái nhìn khách quan, tạo khoảng trống cho độc giả suy nghĩ
Chân dung mỗi nhân vật chấm phá bằng một từ láy Người quản ngục
“khúm núm”, viên thơ lại “run run” Còn Huấn Cao – vị chủ ngục tù “cổ đeo
Trang 36gông, chân vướng xiềng đang đậm tô nét chữ” Viên quản ngục và thầy thơ lại tự
do về thân thể nhưng tâm hồn lại bị tử tù trói buộc Huấn Cao thân thể bị trói buộcbởi gông xiềng nhưng nhân cách lại tự do Bức tranh thu lại trong căn buồng tử tùtối và ẩm ướt nhưng đó lại không phải gam màu nổi bật của nó Mà hơn thế nữa,gam màu ấy đã bị nhòe đi, mờ đi, át đi nhường chỗ cho gam màu nổi bật của ánh
sáng ngọn đuốc, của “vuông lụa bạch còn nguyên vẹn lần hồ” Trên cái phông nền
của đêm đen u tối đề lao (ẩn dụ cho cái không gian xã hội đương thời), ba conngười Huấn Cao – quản ngục – thầy thơ lại hiện lên như ba đốm sáng hiếm hoi
Dù lẻ loi, nhỏ bé so với cái không gian rộng lớn kia nhưng ba đốm sáng ấy đủ sứcmạnh để gom tụ thành ngọn lửa soi sáng phòng giam, tỏa sáng cả nhà ngục Vớibút pháp hội họa, chân dung Huấn Cao được tô vẽ đẹp hơn, sáng hơn và trở thànhtâm điểm của bức tranh cùng với vuông lụa kia, nét chữ kia Bức lụa với chữ Hánđẹp ấy do Huấn Cao sáng tạo nên, tự nó cũng chính là một bức thi họa Trongtranh có bức châm Lồng ghép này đã xóa đi khoảng cách xã hội của các nhân vật,xóa đi lằn ranh đối lập giữa thiện và ác
Sự phối hợp của ánh sáng, hình ảnh, màu sắc…bức tranh cận cảnh “chochữ” với ba con người xung quanh tâm điểm là bức châm qua ngòi bút lãng mạncủa Nguyễn Tuân mang không khí cổ kính, trang trọng, gợi nhắc ta một nét đẹpvăn hóa của dân tộc nhưng ngay thời của nhà văn cũng đã là “vang bóng” rồi
“Cảnh cho chữ” nổi bật với thủ pháp đối lập còn là “một thiên anh hùng ca” về
sự chiến thắng của ánh sáng đối với bóng tối, của cái đẹp đối với cái xấu xa, củacái thiện đối với cái ác
Chém treo ngành thách đố một lối viết riêng, ngòi bút vừa lạnh vừa sắc,
phác họa thật kiệm nét nhưng nét nào ra nét ấy sắc cạnh đến ám ảnh, nhiều cảnh
mang “một không khí rùng rợn, quyến rũ, khác thường”[44].
Bút pháp hội họa với những mảng tối, mảng chói, với những nét rầu rầu,
lẫn nét táo bạo Mở đầu Chém treo ngành là khung cảnh khoảnh đất mà Bát Lê
tập rượt lối “chém treo ngành” Nó giống như một bức họa thiên nhiên nơi tử
địa: “Phía tây thành Bắc Ninh, trên một nền đất rộng đổ sát vào chân thành cho
Trang 37lần gạch ngoài thành được thêm vững chãi Lũ cây chuối mật tha hồ mặc sức mà mọc Nó um tùm, tàu lá rộng và không bị gió đánh rách, che kín cả bóng mặt trời Trên áng cỏ bốn mùa ẩm ướt, loài nấm dại sinh nở hết sức bừa bộn.
Khoảng đất ấy ở phía sau kho lúa xây trong thành quanh năm không có vết chân người.
Mỗi buổi chiều mặt trời lặn, mấy con chim không tổ mỏi cánh định tìm vào vườn chuối âm u này để ngủ Những thân chuối cao vút và tàu lá chuối trống trải không đủ là nơi làm tổ, loài chim kêu mấy tiếng thưa thớt rồi lại bay qua ngọn thành Vào tiết mưa dầm, những trận mưa Ngâu đổ lên vườn chuối một khúc nhạc suông nghe buồn thỉu buồn thiu.” [35;11] Cảnh chia làm hai phần
trên dưới rõ rệt Nó được ngăn cách bởi một “kẻ trung gian” – những tàu chuối
Kẻ thực vật ngăn cản mối tương giao giữa đất và mặt trời này (che kín cả bóngmặt trời) khiến cho bên dưới nó là bóng tối, trên nó là ánh sáng và chẳng giúpnhững áng cỏ có cơ hội đón nắng khiến chúng ẩm ướt hoài Kẻ thực vật nàycũng chẳng chịu làm bến đậu cho những cánh chim mỏi mệt, bởi sinh mệnh của
nó chỉ là những thân cao vút, tàu lá trống trải Và cái sinh mệnh ấy chỉ chịu đón
nhận những trận mưa Ngâu đổ kèm theo “khúc nhạc suông nghe buồn thỉu buồn thiu” Với không gian thật rộng, có đủ các hình ảnh của cỏ cây, thoáng bóng chim mỏi cánh bay vào…có vẻ đẹp đấy nhưng “không có vết chân người”.
Những từ láy gợi giá trị biểu đạt và tạo hình cao gợi không gian âm u,vắng lạnh đến ghê người Màu sắc phủ kín “pháp trường thử nghiệm” của Bát Lê
là cái màu âm u, cái màu “buồn thỉu buồn thiu”, lạnh lẽo, rờn rợn Dường như sựsống lành mạnh đang bị nơi này từ chối Nó như nơi tử địa Nó cũng như dự báocho số phận của kẻ thực vật kia dưới lưỡi gươm tập lại lối chém “treo ngành” vàrồi đây số phận của những con người bị coi là xấu số cũng không khác gì
Cũng vẫn tiểu cảnh thiên nhiên trời chiều đầy bất thường trong Chém treo ngành nhưng lại xuất hiện ở pháp trường: “Trời chiều có một vẻ dữ dội Mặt đất thì sáng hơn nền trời Nền trời vẩn những đám mây tím và đỏ vẽ đủ mọi hình quái
lạ Bức tranh mây chó màu thẫm hạ thấp thêm mãi và đè nặng xuống pháp trường
oi bức và sáng gắt.”[35;20] Màu sắc thực được tả nhiều hơn Đó là những gam
Trang 38màu đỏ, tím, thẫm gợi cảm giác gần Đặc biệt màu đỏ gợi cảm giác nóng Tất cảnhững sắc màu ấy kết hợp với nhau tạo cảm giác nặng nề đè nặng xuống khungcảnh pháp trường gây nên cái oi bức của cả không gian và lòng người Ngòi bút
lạnh đến tuyệt đối của Nguyễn Tuân đã vẽ lên cái cảnh huống ngược đời “mặt đất thì sáng hơn nền trời” Tương phản giữa cái sáng của mặt đất và cái tối thẫm của
nền trời đã soi rõ dường nét bất thường của bức tranh Những nét vẽ mây trên nềntrời bằng gam màu đậm đã làm thành “đủ mọi hình quái lạ” Phải chăng nó đangmang nặng những u uất của con người trước giờ hành quyết
Cảnh tương hợp với con người Bức họa về tên đao phủ được phác họalướt qua trong từng tiểu cảnh mà hiện lên thật sống động trong tâm thức người
đọc Khi thì “mảnh khăn vuông vải trắng bịt tóc” đã xuống màu, tay hoa thanh
quất, khi “y hồi hộp chống gươm xuống mặt đất ẩm ngổn ngang sự tàn phá” và
có khi y múa lượn bên hai hàng tử tù với những cái đầu chẻ gục, “những tia máu phun kêu phì phì, vọt lên nền trời chiều Trên áng cỏ hoen ố không một chiếc thủ cấp nào rụng xuống.”[35;23]
Và cảnh đó là cảnh kì dị, rùng rợn chất “yêu ngôn”, nó cảnh báo sự chếtchóc đang đe dọa
Kết thúc Chém treo ngành, cảnh u uất, bất thường đó lại tiếp tục tạo dư ba cho câu chuyện…ám ảnh người đọc: “Trận gió xoắn giật, hút cát bụi lên, xoay vòng quanh đám tử thi và đuổi theo các quan đang về Cái mũ trắng ở trên đầu quan Công sứ bị cơn lốc dữ dội lật rơi xuống bãi cỏ lăn lộn mấy vòng…”[35;24] Những đường nét miêu tả con đường đi của gió: xoắn, hút, xoay vòng rồi đột ngột đổi sang đuổi theo chiều đi của các quan Thiên nhiên lộ
rõ sự căm hờn nên bất thường mà thay đổi (trước đó không gian rất tĩnh lặng, oibức) dữ dội hất cái mũ trên đầu quan Công sứ xuống như một lời cảnh báo cácngươi hãy chờ đến lượt thủ cấp của mình cũng sẽ được chém nghệ thuật nhưvậy
Nếu Chém treo ngành mang hơi hướng “yêu ngôn” thì đến Báo oán màu
sắc “yêu ngôn” ấy hiện ra rõ nét
Trang 39Nó hiện lên như một bức tranh ngôn từ mà hội tụ đủ đường nét, màu sắc đậm
nhạt được vẽ lên bằng nghệ thuật tương phản Cái đàn tế mang sự đối lập giữa
“con dê đen thui” và “con lợn cạo trắng mở to cặp mắt chết”[35;160] đầy cảm giác ghê sợ Đàn tế ấy lại tương phản với nền trời: “mặt đất sáng hơn nền trời” Mấy chục ngọn nến sáng đối lập với “màu mây đục đùn lên những hình Quỷ Ðông” và “màu xanh đỏ rực rỡ và rờn rợn” của cái cầu vồng cụt một chân ở
phía Tây Có thể thấy tần số tương phản dày đặc làm cho không gian trường thimang sắc độ âm u đậm đặc gây cảm giác ớn lạnh, ma quái Những cảnh huống
ngược đời chưa từng thấy: mặt đất sáng hơn nền trời, gió cũng không muốn thổi, mấy ngọn sáp không lung lay, vệt khói xám nơi bình hương bốc lên thẳng thắn nơi bàn tam sinh…Tất cả cho thấy trạng thái dị thường, nó hướng đến chiêu dương, dự báo những điềm dữ đang đến với họ Cuộc tế tiến trường “đang lắng chờ một tai biến gì” mà sáng tối chưa phân tách, âm dương hỗn loạn không chia
biệt Phông màn nhập nhoạng đó thật phù hợp để những hồn ma trở về báo oán
Bên cạnh đoạn tả cảnh trường thi, Báo oán cũng có đoạn văn đọc lên mà khiến người ta cảm tưởng như đang ngắm tranh: “Gió thổi vào đống lửa vàng hóa bùng bùng, lửa kêu vù vù và trong tiếng ngọn lửa reo, lại có tiếng người nói cười lanh lảnh Khói bốc lên, tỏa xuống soai soải, như những vệt nước thời gian trượt trên đầu ngọn tường xuống lần vách gạch những đền chùa xưa cũ có mốc vẽ hình,
có rêu phong dấu Những vờn khói nhẹ đã đổ xuống nhanh, đổi màu rất mau chóng.”[35;178] Cảnh được vẽ bằng những ngôn từ mang liên tưởng thi vị trong
sự đối lập của gam màu đậm nhạt, đường nét của sự vật hoạt động Cảnh báo hiệucuộc báo oán dành cho ông Đầu Xứ Em
Bức chân dung về hồn ma báo oán được phác họa trong nhập nhằngsương khói trường thi Ấn tượng nhất là cách vẽ chồng hình bằng ngôn từ củaNguyễn Tuân Nhấp nhoáng sau khuôn mặt cô Phương là diện mạo người đàn bà
ẵm con, xõa tóc, báo oán anh em ông Đầu Xứ
Còn nhớ Báo oán mở đầu bằng một màu vàng của bìa cuốn lịch nhòe nét son dấu kim ấn và tiếp đên là bức tranh đậm màu vàng: “Bên bờ đường cái quan,
Trang 40cánh, màu vàng úa tối mãi xuống” Nhưng đó là bức tranh với những màu vàng
của hoa hòe rầu cánh, úa tối mãi xuống…Tiếp đến chuyển sang khung cảnh âm umưa gió mùa thu dầm dề, ảm đạm nơi trường thi…Còn có cả khung cảnh hiện lêntrong giấc mơ với những âm oán u hiển…Và cảnh cuối cùng là bữa rượu ba bìnhvào một cái đêm dài nhất trong một đời của người sĩ tử hỏng thi Tất cả nhữngkhung cảnh ấy như hòa trộn vào nhau làm nên một bức tranh lớn đầy kì dị, ma
quái là Báo oán Bức tranh muốn gửi đến thông điệp về số phận của tài hoa Phải
chăng tất cả được tạo tác lên trong một ám ảnh văn hóa của tâm thức “tài mệnhtương đố” Sẽ còn những ám ảnh khôn khuây về bi kịch của một lớp người tài hoa
bị lịch sử dồn vào chân tường Ngòi bút tài hoa Nguyễn Tuân “hoài cổ” tìm lại cáitài hoa mạt vận như một sự lên án buổi giao thời đã làm cho những giá trị xưa cũkhông còn đất sống Người họa sĩ nào muốn vẽ về khung cảnh đặc biệt của thời
quá vãng này, hãy tìm đến với Khoa thi cuối cùng - với Báo oán.
Rõ ràng, Vang bóng một thời hiện lên qua bút pháp hội họa mang thật
nhiều vẻ u trầm Thống kê những từ ngữ đã cho thấy điều đó, đồng thời phongcách độc đáo trong sử dụng gam màu của nhà văn họ Nguyễn cũng được bật lên
rõ nét Cụ thể về những từ ngữ độc đáo diễn đạt sắc màu u trầm: Lác đác được sử
dụng ở Những chiếc ấm đất (nước rỏ xuống đường: hình sao ướt và thẫm màu), Thả thơ (Vầng trăng…in một cục bóng thẫm), Một cảnh thu muộn (cụ Thượng mặc chiếc áo…màu tím than đã bợt); và tần số tăng nhiều ở Chữ người tử tù (Nơi
góc án thư cũ đã nhợt màu vàng son, nơi góc án thư vàng đã nhợt, son đã mờ, màu
nâu đen của đám rệt…), Chém treo ngành (những dòng nhựa thẫm, chất nhựa xám, những đám mây chó màu thẫm), Báo oán (hoa hòe màu vàng úa, tối mãi
xuống, màu mây đục, những vờn khói bỗng sẫm lại thành một mớ tóc xõa)
Trước khi gập trang sách Vang bóng một thời, độc giả kịp chiêm ngưỡng Trên đỉnh non Tản - chốn Bồng Lai thơ mộng, một thế giới bí mật, huyền ảo
khiến người ta mộng ước Truyện dựng lên khung cảnh đền Tản Viên – nơi màtheo truyền thuyết, Sơn Tinh đã đưa nàng công chúa xinh đẹp về chung sống Mỗi
năm khi cuộc đánh ghen của “hai kẻ tình địch muôn năm trong cái mơ hồ vô tận của một thiên tình sử” xảy ra, tốp thợ trần gian được gọi lên để sửa đền thượng.