Khảo sát các công trình nghiên cứu về đạo Hiếu từ trướcđến nay, chúng tôi chia thành ba nhóm sau: Thứ nhất, nhóm các công trình nghiên cứu về đạo Hiếu ở Việt Nam Nghiên cứu về đạo Hiếu,
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC TRIẾT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS Hoàng Thúc Lân
Trang 2HÀ NỘI - 2015Lời cam đoan
Tôi xin cam đoan luận văn này là do chính tôi thực hiện dưới sựhướng dẫn khoa học của TS Hoàng Thúc Lân
Các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực Cácthông tin trích dẫn trong luận văn này đều đã được chỉ rõ nguồn gốc
Nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Nam Định, tháng 06 năm 2015
Học viên
Trần Thị Oanh
Trang 3Lời cảm ơn
Để hoàn thành luận văn này, tôi đã nhận được sự giúp đỡ tận tình của các thầy cô giáo và sự quan tâm giúp đỡ của các cơ quan, các đồng nghiệp và gia đình.
Với lòng kính trọng, khâm phục và tri ân sâu sắc, tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn tới TS Hoàng Thúc Lân đã nhiệt tình hướng dẫn, chỉ bảo tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và thực hiện luận văn.
Tôi xin trân trọng cảm ơn Quý thầy giáo, cô giáo khoa Triết học, trường Đại học Sư phạm Hà Nội, đã giảng dạy và chỉ bảo tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu tại trường.
Tôi xin chân thành cảm ơn phòng Quản lý khoa học, trường Đại học
Sư phạm Hà Nội đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thiện và bảo vệ luận văn trước hội đồng.
Tôi xin chân thành cảm ơn Lãnh đạo UBND tỉnh Nam Định, Cục Thống kê tỉnh Nam Định, Sở văn hóa thể thao và du lịch, Uỷ ban dân số và
kế hoạch hóa gia đình tỉnh Nam Định đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi nghiên cứu và hoàn thành luận văn.
Cảm ơn gia đình, bạn bè, đồng nghiệp, các bạn trong khoa Triết học, trường Đại học Sư Phạm Hà Nội đã luôn khuyến khích, động viên và giúp
đỡ tôi hoàn thành luận văn này.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Nam Định, tháng 06 năm 2015
Học viên Trần Thị Oanh
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
NỘI DUNG 12
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐẠO HIẾU TRONG GIA ĐÌNH Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 12
1.1.Gia đình và cơ sở hình thành đạo Hiếu trong gia đình ở Việt Nam 12
1.1.1 Gia đình và các hình thức gia đình 12
1.1.2 Cơ sở hình thành đạo Hiếu trong gia đình ở Việt Nam 18
1.2.Nội dung của đạo Hiếu trong gia đình Việt Nam 30
1.2.1 Nội dung đạo Hiếu trong gia đình Việt Nam truyền thống 30
1.2.2 Nội dung đạo Hiếu trong gia đình Việt Nam hiện nay 36
Tiểu kết chương 1 42
Chương 2: ĐẠO HIẾU TRONG GIA ĐÌNH Ở NAM ĐỊNH HIỆN NAY - THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP 43
2.1.Khái quát về gia đình ở Nam Định hiện nay 43
2.1.1 Một số nét khái quát về tỉnh Nam Định 43
2.1.2 Các hình thức gia đình cơ bản ở Nam Định hiện nay 53
2.2.Những xu hướng vận động của đạo Hiếu trong gia đình ở Nam Định hiện nay và nguyên nhân của nó 59
2.2.1 Xu hướng vận động tích cực của đạo Hiếu trong gia đình ở Nam Định hiện nay và nguyên nhân của nó 59
2.2.2 Xu hướng vận động tiêu cực của đạo Hiếu trong gia đình ở Nam Định hiện nay và nguyên nhân của nó 81
2.3.Một số giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đạo Hiếu trong gia đình ở Nam Định hiện nay 92
2.3.1 Nâng cao tri thức đạo đức truyền thống cho thế hệ trẻ ở Nam Định hiện nay 92
Trang 52.3.2 Phát huy vai trò giáo dục đạo Hiếu của gia đình ở Nam Định hiện nay
93
2.3.3 Phát huy vai trò giáo dục đạo Hiếu của nhà trường ở Nam Định hiện nay 95
2.3.4 Phát huy vai trò của các tổ chức xã hội và các phong trào quần chúng trong giáo dục đạo Hiếu 96
2.3.5 Khắc phục những mặt trái của nền kinh tế thị trường tác động đến đạo Hiếu trong gia đình Nam Định hiện nay 97
2.3.6 Hoàn thiện hệ thống pháp luật về hiếu đức trong gia đình 98
Tiểu kết chương 2 100
KẾT LUẬN 102
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 104
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Người phương Đông nói chung và người Việt Nam nói riêng rất đề caocác mối quan hệ trong gia đình Vì đó là nguồn gốc, là nền tảng cho các mốiquan hệ khác Trong gia đình, Hiếu hạnh đóng một vai trò vô cùng quan trọng.Hiếu là gốc của mọi đức tính, là tiêu chuẩn để đánh giá nhân cách của một con
người “Chữ hiếu niệm cho tròn một tiết/ Thời suy ra trăm nết đều nên”.
Đạo Hiếu dù xem xét theo lịch đại hay đồng đại, xưa cũng như nay đềuphát xuất từ tình yêu thương vô bờ bến của cha mẹ dành cho con cái Tìnhthương đó hình thành từ khi thai nghén đến lúc mang nặng đẻ đau và tiếp tụctừng ngày khó nhọc, tần tảo, hi sinh để nuôi dưỡng con cái trưởng thành.Tình thương đó chỉ kết thúc khi cha mẹ không còn trên thế gian này nữa Vìvậy, báo đáp ơn sâu nghĩa nặng của cha mẹ chính là Hiếu Biểu hiện của Hiếuchính là lòng thành kính, tri ân công lao dưỡng dục của cha mẹ, chăm sóc,phụng dưỡng cha mẹ khi già yếu, bệnh tật và tế tự chu đáo khi qua đời Hiếuthảo với cha mẹ là biểu hiện của một con người thực sự có đạo đức, có nhâncách Hiếu suy rộng ra chính là đạo lý uống nước nhớ nguồn, ăn quả nhớ kẻtrồng cây Hiếu là phạm trù thuộc ý thức đạo đức và bị quy định bởi tồn tại xãhội nhưng trong mọi không gian và thời gian, Hiếu vẫn chiếm một vị trí quantrọng, là cơ sở gìn giữ nề nếp gia đình, xây dựng đạo đức trong xã hội Vì thế,phong tục người Việt nói chung và người Nam Định nói riêng, từ đời trướcđến đời sau luôn răn dạy con cháu thực hiện Hiếu đạo
Thực tế ở tỉnh Nam Định hiện nay cho thấy, nền kinh tế thị trườngcùng với xu hướng hội nhập sâu rộng diễn ra trong những năm qua đã tạo ramột gương mặt mới về mọi mặt Đặc biệt là sự du nhập của những luồngvăn hóa mới tạo ra những xu hướng biến đổi khác nhau về giá trị đạo đứctrong xã hội, đạo đức trong gia đình Bên trong xã hội ngày càng văn minhhơn thì cũng ngày càng xuất hiện nhiều kiểu sống, lối sống kỳ quái, nhữnghành động man rợ, mất nhân tính Chữ Hiếu trong gia đình đang có phần bịxem nhẹ, xao lãng Quan hệ giữa con cái và cha mẹ trong gia đình cũng xuất
Trang 7hiện những thay đổi thậm chí những bất hòa hoặc do vô tình hoặc do hữu ý.Trên các trang báo điện tử, báo an ninh của tỉnh hay trang thông tin của toà
án nhân dân tỉnh v.v… những hiện tượng con cái bất hiếu với cha mẹ, ông
bà không còn là điều quá đỗi ngạc nhiên Cháu ruột giết bà, giết anh họ chỉ
để lấy 250 nghìn đi chơi điện tử Nhiều người con, cháu bỏ quên việc thămnom, chăm sóc với bậc sinh thành, có thái độ bất kính, thậm chí bạc đãi cha
mẹ Nhiều cụ già phải vất vả mưu sinh hay sống dặt dẹo nhờ vào lòng hảotâm của những người qua đường Không ít cụ ông, cụ bà bị bỏ rơi trong bệnhviện, trong các nhà tình nghĩa cùng với những căn bệnh của sinh lý tuổi già
và những buồn tủi, mặc cảm trong lòng Trong vòng một năm, trên địa bànthành phố có tới hàng nghìn vụ thanh thiếu niên vi phạm pháp luật Conngười hiện nay, bên cạnh sự hưởng thụ ngày càng cao về vật chất thì lại luônthấy bất an về tinh thần Ám ảnh về những con người có lối sống man rợ, mấtnhân tính luôn thường trực trong toàn xã hội Nhiều gia đình bất hạnh vì cócon cái bất hiếu Đó cũng chính là gánh nặng của toàn xã hội Có thể nói,thực trạng xã hội ở Nam Định hiện nay nảy sinh tính cấp thiết hơn bao giờhết về việc giáo dục Hiếu đức trong gia đình
Nghiên cứu về những giá trị đạo đức truyền thống ở Nam Định nóichung không phải là vấn đề mới Xong nghiên cứu một cách hệ thống vềđạo Hiếu trong gia đình ở Nam Định hiện nay chưa từng có công trìnhnghiên cứu khoa học nào đề cập đến Trên thực tế, ở Nam Định, các cơ quanchức năng, ban ngành đã có sự vào cuộc từ rất sớm, quan tâm đến các vấn
đề xây dựng gia đình văn hóa Tuy nhiên, những tác động của các cơ quanchức năng, ban ngành chưa đủ để tạo ra những biến chuyển rõ nét, rộng rãi,triệt để đối với việc giáo dục đạo Hiếu trong gia đình
Xuất phát từ tầm quan trọng của đạo Hiếu trong gia đình và nhu cầu,đòi hỏi của thực tiễn ở Nam Định hiện nay, tôi quyết định chọn nghiên cứu
vấn đề: Xu hướng vận động của đạo Hiếu trong gia đình ở Nam Định
hiện nay làm đề tài luận văn của mình.
Trang 82 Tình hình nghiên cứu
Nghiên cứu về giá trị truyền thống dân tộc nói chung và đạo Hiếu nóiriêng đến nay đã có rất nhiều công trình nghiên cứu bàn tới như luận án,luận văn, báo cáo khoa học các cấp, tạp chí khoa học,… Đặc biệt là cáccông trình nghiên cứu bàn về vấn đề đạo Hiếu trong gia đình nói chungngày càng nhiều Điều đó chứng tỏ tầm quan trọng cũng như tính bức thiếtcủa vấn đề này Khảo sát các công trình nghiên cứu về đạo Hiếu từ trướcđến nay, chúng tôi chia thành ba nhóm sau:
Thứ nhất, nhóm các công trình nghiên cứu về đạo Hiếu ở Việt Nam
Nghiên cứu về đạo Hiếu, nội dung của đạo Hiếu trong gia đình ViệtNam, trong phong tục, tập quán ở Việt Nam nói chung có thể kể đến:
Tác giả Trần Văn Giàu với công trình Giá trị tinh thần truyền thống
của dân tộc Việt Nam; Nxb khoa học xã hội; năm 1998 đã nêu lên cơ sởhình thành, nội dung và biểu hiện những giá trị tinh thần truyền thống ViệtNam trong đó chủ yếu là giá trị đạo đức, đặc biệt là quan hệ đạo đức tronggia đình Tác giả rất đề cao đạo Hiếu của con cái đối với cha mẹ
Công trình “Chữ hiếu và nếp sống dân tộc” của thiền sư Thích Giác
Hành (Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2006) cũng có rất nhiều nhữngluận bàn về chữ Hiếu thông qua quan niệm về nhân đạo và thiên đạo Hiếuhạnh khuyên bảo con người nhớ đến Tứ trọng ân Song trong công trình nàycủa thiền sư mang nhiều màu sắc tôn giáo
Tác giả Phạm Côn Sơn cũng có rất nhiều những công trình bàn vềvấn đề đạo đức trong gia đình nói chung Tác giả cũng đã đi sâu vào khaithác nội dung đạo Hiếu trong đời sống gia đình đặc biệt là gia đình truyềnthống Trong đó, đạo Hiếu được coi là chuẩn mực của nề nếp gia phong Nó
ăn sâu vào đời sống tinh thần trong gia đình người Việt truyền thống trởthành phong tục với những nghi lễ, cách thức riêng Điều đó được thể hiện
trong các tác phẩm Đạo nghĩa trong gia đình (Nxb Đồng Nai, năm 1999); tác phẩm Nề nếp gia phong (Nxb Thanh niên, năm 2008) Đặc biệt trong tác phẩm Gia lễ xưa và nay (Nxb Thanh niên, năm 2008), tác giả đã bàn rất sâu
Trang 9sắc, tỉ mỉ về những lễ giáo trong đình như quan niệm, cách thức tiến hànhcác nghi thức hôn nhân, tang lễ, thờ cúng tổ tiên Bên cạnh đó tác giả cũng
có những đề cập mang tính gợi mở đến chiều hướng phát triển của gia lễhiện nay Nhìn chung, các công trình này thiên về nghiên cứu lễ giáo tronggia đình truyền thống trong đó có rất nhiều phong tục, tập tục và cách thứctiến hành những tập tục đó mà hiện nay người ta không còn lưu giữ hoặckhông phổ biến Bởi những nghi lễ của các tập tục đó quá rườm rà trong khi
xu hướng ngày nay thường đơn giản hóa đi rất nhiều
Các công trình của tác giả Trần Đăng Sinh như bài “Bàn về chữ Hiếu
trong gia đình truyền thống” đăng trên tạp chí giáo dục, số 197 năm 2008,
đã nêu rất cụ thể quan niệm đạo làm con được gắn liền với bổn phận làmcon là giữ trọn đạo Hiếu Đồng thời bài báo cũng trình bày những nội dungcủa đạo Hiếu như Hiếu mang ý nghĩa tôn kính tổ tông, Hiếu là thận chung
chi viễn, là kế chí thuật sự, là sinh con nối dõi tông đường Trong bài “Sự
hình thành và tồn tại của đạo Hiếu trong gia đình truyền thống Việt Nam”
đăng trên tạp chí Giáo dục số 214 năm 2009, tác giả cũng đưa ra nhận định
sự tồn tại của cộng đồng gia đình, họ tộc, làng xã, nước là những cộng đồng
có ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp tới quá trình tồn tại và phát triển đạoHiếu ở Việt Nam trong xã hội truyền thống thông qua các hình thức giahuấn, hương ước, luật pháp Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên là hình thức thểhiện tập trung, có vai trò củng cố, duy trì sự tồn tại và phát triển của đạoHiếu trong gia đình truyền thống Việt Nam
Tác giả Hà Thúc Minh với các công trình nghiên cứu như “Chữ Hiếu
trong tín ngưỡng phồn thực cổ xưa đến đạo đức văn minh hiện đại” là bài
trích trong Tạp chí Nghiên cứu tôn giáo số 4 năm 2005; “Đầu xuân bàn về
gia đình và chữ Hiếu” đăng trên tạp chí xưa và nay, số 301 - 302 năm 2008;
Bài trích đầu tiên trong tạp chí Xưa và nay số 330, tháng 4/2009 có nhan đề
“Gia đình và chữ hiếu” Các công trình này đã luận giải nhiều vấn đề về
mối quan hệ giữa gia đình và hiếu đức của con cái trong gia đình và cảnhững luận giải rất “trần tục” (từ dùng của tác giả) về chữ Hiếu Hiếu đức
Trang 10cũng là điểm gặp nhau của nhiều vĩ nhân phương Đông và phương Tây.Đồng thời tác giả cũng khẳng định đạo Hiếu có vai trò quan trọng trong giađình của người phương Đông Chữ Hiếu là tế bào của gia đình phươngĐông, gắn với sự “còn”, “mất” của gia đình phương Đông.
Tác giả Nguyễn Mạnh Hùng có bài “Thờ cúng tổ tiên, biểu hiện của
lòng hiếu nghĩa” đăng trên tạp chí Xưa & nay, số 323 - 324, tháng 1/2009.
Tác giả cho rằng, chính bởi người đã khuất luôn sống trong kỷ niệm củangười sống nên việc thờ cúng tổ tiên của người Việt đã trở thành một tập tụclâu đời hay là một loại hình luật tục mang tính quy ước truyền thống tồn tạitrong cộng đồng dân cư Tuy chưa được quy định thành văn song việc thờcúng tổ tiên đã trở thành loại giáo lý có giá trị đạo đức xã hội làm nên nềntảng của mọi loại hình giáo dục khác
Một công trình mang tính học thuật cao của tác giả Trần Nguyên Việt
đăng trên tạp chí triết học số 254, tháng 7 năm 2012 là “Đạo Hiếu Việt Nam
qua cách nhìn lịch đại” Đây là một công trình khảo cứu rất công phu của
tác giả về chữ Hiếu, đạo Hiếu của người Việt với những nét đặc thù riêngtheo suốt tiến trình phát triển lịch sử tư tưởng dân tộc Từ đó, tác giả cũngrút ra những đặc điểm của đạo Hiếu ở Việt Nam Đồng thời khẳng định,trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, đạo Hiếu không chỉ là một trong nhữngthành tố quan trọng góp phần hình thành nên bản sắc văn hóa dân tộc ViệtNam mà còn đóng vai trò chủ đạo trong phạm vi quan hệ gia đình và là cơ
sở hình thành ý thức cộng đồng trong việc củng cố và phát triển các giá trịđạo đức truyền thống của dân tộc Việt Nam hàng ngàn năm nay
Bàn về giá trị của đạo Hiếu truyền thống còn có“Đạo Hiếu trong Gia
huấn ca” của Nguyễn Thị Thọ, Thân Thị Hạnh đăng trên tạp chí triết học, số
251, tháng 4/2012 Gia huấn ca là cuốn sách viết về giáo dục gia đình Đây làmột di sản văn hóa dân tộc kết tinh những kinh nghiệm ứng xử, tư tưởng giáodục của con người Việt Nam truyền thống, trong đó, hiếu là một nội dung cốtlõi của gia huấn ca Thông qua phân tích những nội dung căn bản của giáo
Trang 11dục đạo Hiếu trong gia huấn ca đối với từng đối tượng nam, nữ, các tác giả đãchỉ ra những giá trị tích cực của nó mà ngày nay, chúng ta có thể kế thừa.
Ngoài ra còn có bài trích của tác giả Nguyễn Thị Thọ đăng trên tạp
chí triết học số 10 năm 2014 với tiêu đề “Đạo Hiếu, một giá trị căn bản
trong đạo lý uống nước nhớ nguồn của người Việt” Trong bài viết này, tác
giả đã tập trung bàn đến phạm vi đầu tiên, căn bản của đạo lý uống nướcnhớ nguồn, đó là uống nước nhớ nguồn trong gia đình, là lòng kính trọng,
sự biết ơn của con cháu đối với ông bà, cha mẹ được cô đúc trong phạm trùHiếu hay còn gọi là đạo Hiếu
Thứ hai, nhóm những công trình bàn về giáo dục đạo Hiếu
Những công trình đề cập đến vấn đề đạo Hiếu và giáo dục đạo Hiếu,tiêu biểu nhất có thể kể đến các công trình sau:
Tác giả Hạnh Hương với cuốn “Chữ Hiếu”, Nxb Tp Hồ Chí Minh,
2006 bàn về bổn phận và trách nhiệm của con cái đối với cha mẹ, vấn đềchữ Hiếu và lễ giáo giữa cha mẹ và con cái Bên cạnh đó, tác giả cũng đưa
ra những phương pháp rèn luyện để trở thành người con hiếu thảo
Cuốn “Hiếu hạnh xưa và nay” là tác phẩm của các tác giả Cao Văn
Cang, Phạm Côn Sơn (đề tựa, chỉnh lý), Nxb Văn hóa dân tộc, 2006 Trongcuốn sách này, tác giả đã đưa ra khái niệm chung về Hiếu hạnh, đặc biệt rút
ra những bài học quả báo về sự xử tệ bạc đãi của con cái với cha mẹ, ông bà.Những gương về những người con hiếu thảo; quan niệm đạo Hiếu xưa củadân tộc Việt Nam và những việc cần thiết để giáo dục thế hệ trẻ ngày nay
Trình bày một cách hệ thống và đầy đủ về đạo Hiếu trong gia đình ViệtNam phải kể đến công trình báo cáo tổng kết đề tài nghiên cứu khoa học và
công nghệ cấp bộ “Đạo Hiếu và vấn đề giáo dục đạo Hiếu trong gia đình Việt
Nam hiện nay” do tác giả Trần Đăng Sinh chủ trì (năm 2009) Trong công
trình này, nhóm tác giả đã tập trung phân tích những giá trị của đạo Hiếu tronggia đình truyền thống Việt Nam, đồng thời phân tích những tác động của thờiđại ngày nay làm suy giảm giá trị của đạo Hiếu cũng như đưa ra những giảipháp nhằm giáo dục đạo Hiếu trong gia đình Việt Nam hiện nay
Trang 12Ngoài ra còn có các công trình khác bàn đến vấn đề đạo Hiếu và giáodục đạo Hiếu trong gia đình Việt Nam hiện nay hoặc là gợi lên tính cấp thiếtcủa việc giáo dục đạo Hiếu như:
Tác giả Lê Văn Hùng với “Sự biến đổi của đạo Hiếu trong gia đình
Việt Nam hiện nay” đăng trên tạp chí Giáo dục lý luận, số 1 năm 2013 Trong
bài trích này, tác giả đã khẳng định đạo Hiếu được coi là một trong nhữngnguyên tắc làm người của xã hội Việt Nam truyền thống và là cốt cách củacon người Tuy có một số nội dung cần điều chỉnh lại cho phù hợp với yêucầu của thời đại mới song về cơ bản đạo Hiếu vẫn được coi là chuẩn mực đạođức tốt đẹp cần tiếp tục được kế thừa và phát huy trong xây dựng đạo đức giađình ở nước ta hiện nay Tuy nhiên, đạo Hiếu ở Việt Nam hiện nay đang bịbiến dạng bởi ảnh hưởng của tồn tại xã hội Đó là sự phát triển kinh tế thịtrường và quá trình hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng với sự du nhập củavăn hóa phương Tây Với tầm quan trọng của đạo Hiếu thì đây là tiếngchuông cảnh báo của sự phát triển bền vững ở nước ta trong tương lai
Tác giả Nguyễn Tài Thư với “Chữ Hiếu và việc xây dựng đạo Hiếu
trong xã hội ta ngày nay” trên tạp chí Triết học số 8-2013 Trong công trình
này, tác giả khẳng định đạo Hiếu là một phạm trù đạo đức nên khi nền kinh
tế biến đổi thì nội dung của đạo Hiếu cũng biến đổi theo; tác giả cũng đưa ranhững đặc trưng của đạo Hiếu ngày nay với một số tình huống cụ thể củathực tiễn đặc trưng của người con hiếu thảo ngày nay là biết khắc phục khókhăn của bản thân cố gắng làm tốt nghĩa vụ chăm sóc bố mẹ, ông bà Theotác giả, khó khăn đối với người con hiện đại ngày nay là không hề ít Vìvậy, để giữ trọn đạo Hiếu đối với con người hiện đại ngày nay vẫn còn làthách thức, đòi hỏi phải nỗ lực vượt qua
Tác giả Hoàng Thúc Lân với các công trình: “Đạo Hiếu trong gia đình
Việt Nam hiện nay” đăng trên tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam, số 10 (83)
năm 2014 Trong công trình này, tác giả đã đưa ra khái niệm về đạo Hiếu đó
là những chuẩn mực đạo đức văn hóa ứng xử của con cháu đối với cha mẹ.Tác giả cũng cho rằng đạo Hiếu là gốc rễ của đạo làm người Tuy nhiên trong
Trang 13nền kinh tế thị trường hiện nay, đạo Hiếu đang có nguy cơ bị xói mòn Vìvậy, cần thiết phải tăng cường giáo dục đạo đức nói chung và giáo dục đạoHiếu nói riêng cho mọi người, trước hết là cho thanh thiếu niên Trong bài
viết “Từ đạo Hiếu trong Phật giáo suy nghĩ về đạo Hiếu trong gia đình Việt
Nam hiện nay” đăng trên tạp chí triết học số 3 năm 2015, tác giả đã phân tích
và nhận định đạo Hiếu là gốc rễ của đạo làm người, của cái thiện nên nó đượcngười Việt Nam coi trọng Bài viết cũng góp thêm cái nhìn mới về vai trò củađạo Hiếu đối với xã hội Việt Nam hiện nay Thông qua việc phân tích bảnchất của đạo Hiếu trong quan niệm Phật giáo, tác giả đã bước đầu chỉ ranhững biểu hiện vi phạm đạo Hiếu và đề xuất một số giải pháp cơ bản khắcphục những biểu hiện bất hiếu trong gia đình Việt Nam hiện nay
Thứ ba, nhóm những công trình bàn về vấn đề giáo dục đạo đức trong gia đình ở Nam Định
Bàn về vấn đề giáo dục đạo đức nói chung ở Nam Định cũng đã cómột số cuốn sách, công trình nghiên cứu bàn đến Tuy nhiên vấn đề này chỉđược đề cập trong một mục nhỏ của công trình đó chứ chưa có nghiên cứu
trọng tâm Chẳng hạn như trong “Xây dựng nếp sống văn minh gia đình văn
hóa mới ở thành phố Nam Định” của ủy ban nhân dân thành phố Nam định,
năm 1980 Ở đây đã có đề cập đến phương hướng, mục tiêu xây dựng nếpsống văn minh, gia đình văn hóa mới Đồng thời cũng đưa ra những quanđiểm cụ thể về nếp sống mới của cá nhân, gia đình, xã hội, nơi công cộng.Tuy nhiên vấn đề đạo Hiếu chỉ được nhắc đến một cách chung chung quanhững quan điểm của nếp sống mới, chủ trương về xây dựng gia đình vănhóa nói chung Mặt khác, tài liệu này được viết từ năm 1980, với điều kiệnkinh tế, xã hội khác quá nhiều so với hiện nay Vì vậy có đôi chỗ không cònphù hợp với thực tiễn hiện nay
Các công trình: “Văn hóa dòng họ một mảng văn hóa dân gian quan
trọng” của thư viện tỉnh Nam Định (1996) Cuốn Phủ Dầy và tín ngưỡng thờ mẫu Liễu Hạnh (Nxb Văn hóa dân tộc, 2004) của tác giả Bùi Văn Tam.
Trang 14Cuốn “Nam Định đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc” ( Nxb: Sở văn hóa
thông tin Nam Định, 2007) là những công trình bàn rất nhiều đến văn hóatruyền thống của người thành Nam xưa (ngày nay là Nam Định) như về lốisống, tư tưởng, phong tục, tập quán, tín ngưỡng v.v Song trong các côngtrình này, đạo Hiếu chỉ được điểm qua trong các bài viết khi nhắc đến phongtục, truyền thống, gia phong trong gia đình chứ chưa có một bài viết riêngnào về đạo Hiếu
Trong cuốn “Tục ngữ, ca dao Nam Định” của tác giả Trần Đặng Ngọc
Nxb Đại học quốc gia, năm 2011, cũng có bàn về đạo Hiếu thông qua các câu
ca dao về quan hệ gia đình ở Nam Định Song công trình này chỉ mang tính liệt
kê các câu ca dao, tục ngữ ở Nam Định nói chung, trong đó có các câu ca dao,tục ngữ viết về quan hệ gia đình hay nghĩa vụ của con cái đối với cha mẹ
Năm 2013, Nam Định kỷ niệm 750 năm Thiên Trường - Nam Định
với rất nhiều những hoạt động sôi nổi Trong đó, các công trình nghiên cứuviết về Thiên Trường xưa, Nam Định nay cũng được chú ý sưu tập, tuyển
chọn trưng bày Tiêu biểu như: “Thành Nam địa danh và giai thoại” của
thành ủy, hội đồng nhân dân, ủy ban nhân dân tỉnh Nam Định viết năm
2012 “Văn hiến Nam Định, khảo cứu, biên luận” của nhóm tác giả Bùi Văn
Tam, Đào Đình Tửu, Trần Xuân Mậu, Đỗ Đình Thọ, biên soạn năm 2013.Đây là một công trình biên soạn công phu với gần năm mươi chuyên khảoviết về Nam Định dưới các góc độ: địa chí, nhân vật chí, di tích, lễ hội,phong tục tập quán, di cảo Hán Nôm, các tác giả hiện đại qua thơ văn, giaithoại Tuy nhiên, đạo Hiếu chỉ được nhắc đến trong các bài viết về phongtục thờ cúng tổ tiên, hay các bài viết về văn hóa dòng họ
“Đạo làm người trong hoành phi câu đối ở Nam Định” là khóa luận
tốt nghiệp đại học của tác giả Trần Thị Thơm, năm 2013 Ở đây, tác giả đã
có những khảo sát thực tiễn những bức hoành phi câu đối tại các từ đườngdòng họ, các chùa, đền miếu thuộc ba dòng họ lớn ở Nam Định để chắt lọcnhững tinh túy trong quan niệm về đạo làm người mà các vị tiên tổ trên đất
Trang 15này đã dạy con cháu của họ Đạo Hiếu cũng là một trong những nội dungcủa đạo làm người trong hoành phi câu đối ở Nam Định được tác giả bànđến trong mục “2.2.2 Quan niệm về Hiếu trong hoành phi câu đối ở tỉnhNam Định” Mặc dù mới chỉ dừng lại ở việc liệt kê một số hoành phi câuđối của ba dòng họ lớn ở Nam Định, song những tư liệu của công trình nàycũng là một cơ sở để chúng tôi khảo sát nội dung đạo Hiếu trong gia đìnhtruyền thống ở Nam Định thông qua hệ thống hoành phi câu đối Đây vốn làlối chơi chữ rất tinh tế của người xưa.
Có thể nói, cho đến nay bàn về đạo Hiếu và giáo dục đạo Hiếu ở ViệtNam nói chung đã có rất nhiều công trình nghiên cứu, các sách chuyênkhảo Song, bàn về vấn đề đạo Hiếu ở tỉnh Nam Định thì chưa có một côngtrình nghiên cứu hệ thống nào Đặc biệt, đánh giá và nhìn nhận xu hướngbiến đổi của đạo Hiếu hiện nay theo quan điểm của triết học duy vật biệnchứng Những công trình nghiên cứu trước đây sẽ là những tài liệu tham
khảo rất hữu ích giúp tôi hoàn thiện đề tài luận văn: “Xu hướng vận động
của đạo Hiếu trong gia đình ở Nam Định hiện nay.
3 Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
3.1 Mục đích nghiên cứu
Một là, làm rõ khái niệm, nội hàm của Hiếu đạo trong gia đình Việt
Nam nói chung và trong gia đình ở Nam Định nói riêng
Hai là, khảo sát xu hướng vận động của đạo Hiếu trong các gia đình ở
Nam Định hiện nay dưới tác động của thời đại (nền kinh tế thị trường và hộinhập sâu rộng)
Hai là, trên cơ sở khảo sát những biến đổi của đạo Hiếu trong gia đình
Việt Nam hiện nay qua thực tiễn ở Nam Định, luận văn đưa ra những giải phápđịnh hướng cho việc giáo dục đạo Hiếu trong gia đình ở Nam Định hiện nay
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu nội dung đạo Hiếu và xu hướng vậnđộng của đạo Hiếu trong gia đình ở tỉnh Nam Định hiện nay
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Trang 16Luận văn thực hiện nghiên cứu vấn đề đạo Hiếu trong gia đình nôngthôn, đô thị ở tỉnh Nam Định hiện nay.
4 Những luận điểm cơ bản và đóng góp mới của luận văn
4.1 Những luận điểm cơ bản
Từ mục đích nghiên cứu đã trình bày ở trên, luận văn tập trung chủyếu vào một số luận điểm cơ bản sau:
Một là, đạo Hiếu là một giá trị đạo đức truyền thống tốt đẹp cần gìn
giữ và phát huy
Hai là, xu hướng vận động của đạo Hiếu trong gia đình ở Nam Định
là một tất yếu khách quan
Ba là, thực hiện tốt hệ thống các giải pháp nhằm định hướng giáo dục
đạo hiếu trong gia đình ở Nam Định, góp phần quan trọng vào việc giữ gìntruyền thống văn hóa tốt đẹp
4.2 Đóng góp mới của luận văn
Đóng góp mới của luận văn là đánh giá thực trạng và xu hướng vận
động của đạo Hiếu trong gia đình ở Nam Định hiện nay Đồng thời đưa ranhững giải pháp nhằm nâng cao chất lượng giáo dục đạo Hiếu trong giađình ở Nam Định hiện nay
Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể làm tài liệu tham khảo trongviệc giảng dạy, học tập các môn học đạo đức; nghiên cứu vấn đề đạo Hiếutrong gia đình
5 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa duy vậtbiện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, các phương pháp phân tích, tổnghợp, logic, lịch sử, khái quát hóa, thống kê, so sánh, điều tra xã hội học,…
6 Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận vănbao gồm 2 chương, 5 tiết
Trang 17NỘI DUNG Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐẠO HIẾU TRONG GIA ĐÌNH Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
1.1 Gia đình và cơ sở hình thành đạo Hiếu trong gia đình ở Việt Nam
1.1.1 Gia đình và các hình thức gia đình
1.1.1.1 Gia đình
- Khái niệm gia đình
Trong mỗi người chúng ta, từ trẻ thơ đến những cụ già thì gia đình làmột danh từ quen thuộc và rất gần gũi, thân thương Gia đình được sử dụngvới tất cả tấm lòng trân trọng nhất và ẩn sâu trong đó một tình cảm thiêngliêng Gia đình là tổ ấm mang lại hạnh phúc, là bến bờ bình yên của mỗingười khi đi xa Ở Việt Nam hiện nay đã có nhiều tác giả, nhiều công trìnhnghiên cứu bàn đến các vấn đề liên quan đến gia đình, nhiều tác giả địnhnghĩa về gia đình Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có sự thống nhất trongviệc tìm ra một định nghĩa chung về gia đình Theo PGS TS Lê Ngọc Văn
trong công trình “Gia đình và biến đổi gia đình ở Việt Nam” trang 33, cho rằng việc tìm một định nghĩa chuẩn xác về gia đình chỉ là một tham vọng.
Ông lý giải khó khăn trong việc xác định một khái niệm thống nhất về giađình do ba nguyên nhân Thứ nhất, gia đình là nơi sinh ra và lớn lên của mỗingười, cho nên nó rất gần gũi và thân thuộc Người ta có thể hình dung vềgia đình khi nhắc đến nó nhưng lại rất mơ hồ khi đưa ra những tiêu chí đểnhận diện gia đình Thứ hai, gia đình là một nhóm xã hội đặc thù trong đóhội tụ tất cả các yếu tố sinh học, tâm lý, văn hóa và cả kinh tế Thứ ba, giađình luôn biến đổi cùng với sự biến đổi của xã hội, của nền văn hóa mà giađình tồn tại trong đó Những kiểu gia đình ở thời kỳ lịch sử xã hội sau sovới thời kỳ trước có sự khác biệt về bản chất của nó Mặt khác, “ở hầu hếtcác nền văn hóa, gia đình được coi là giá trị nền tảng” [75; 8] và “sức mạnhtrường tồn của một quốc gia, dân tộc phụ thuộc rất nhiều vào sự tồn tại và
Trang 18phát triển của gia đình” [75; 7] Như vậy, gia đình là một môi trường quenthuộc với hầu hết mọi người Đó là lĩnh vực mà ai cũng có thể tham gia với
tư cách là người trong cuộc Mặt khác, đây cũng là lĩnh vực tinh tế, phongphú, phức tạp, đầy mâu thuẫn và cả những biến động
Khi bàn về định nghĩa gia đình, cho đến nay có nhiều quan niệm khác
nhau Chẳng hạn như trong Đại từ điển tiếng Việt định nghĩa “Gia đình là
đơn vị tế bào của xã hội, gồm những người có quan hệ hôn nhân và huyết thống sống chung trong cùng một nhà” [86; 611] Theo cách định nghĩa
này, các chức năng sinh học, tâm lý, văn hóa, kinh tế của gia đình chưađược nhắc đến Mặt khác, gia đình không chỉ có ảnh hưởng đến sự pháttriển của xã hội mà còn có vai trò quan trọng đối với quá trình hình thànhnhân cách của mỗi cá nhân
Theo tác giả Phạm Việt Long trong cuốn Tục ngữ, ca dao về quan hệ
gia đình thì “Gia đình là một thực thể vừa mang tính tự nhiên, vừa mang tính xã hội, gắn bó với nhau thông qua quan hệ hôn nhân, thân tình và dòng máu để đáp ứng nhu cầu về tình cảm, bảo tồn nòi giống, giữ gìn và phát huy những giá trị văn hóa của cộng đồng và tộc người, góp phần nuôi dưỡng nhân cách con người, phát triển kinh tế - xã hội, phản ánh sự vận động của cộng đồng và quốc gia trong tiến trình lịch sử” [40; 31] Cách
định nghĩa này của tác giả thể hiện được các chức năng của gia đình trong
đó Tuy nhiên, định nghĩa này của tác giả là một câu ghép tương đối dài
Các tác giả Nguyễn Thị Phương Thủy và Nguyễn Thị Thọ trong công
trình “Gia đình và giáo dục gia đình” định nghĩa “Gia đình là một thiết chế
xã hội cơ bản, là tế bào cấu thành xã hội, là hình thức tổ chức quan trọng nhất của đời sống cá nhân, dựa trên quan hệ hôn nhân và các quan hệ huyết thống, tức là quan hệ giữa chồng và vợ, giữa cha mẹ và con cái, giữa anh chị
em và những người thân thuộc khác” [75; tr 14] Định nghĩa này đã nhìn
nhận trên bình diện triết học nên tương đối bao quát các đặc trưng cơ bản củagia đình Thực tiễn hiện nay xuất hiện thêm nhiều loại hình gia đình Chẳnghạn như gia đình không có hôn thú, gia đình khuyết, kết hôn lại v.v… hiện
Trang 19nay cũng xuất hiện một số cá nhân sống độc thân và có xin con về nuôi nấng,dưỡng dục Loại hình gia đình này vẫn có đảm bảo các đặc trưng của một giađình song không hình thành dựa trên quan hệ huyết thống, quan hệ hôn nhân.
Theo giáo trình Chủ nghĩa xã hội khoa học (dùng trong các trường
đại học, cao đẳng) của Bộ giáo dục và đào tạo, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà
Nội năm 2006, trang 246 thì “Gia đình là một trong những hình thức tổ
chức cơ bản trong đời sống cộng đồng của con người, một thiết chế văn hóa-xã hội đặc thù, được hình thành, tồn tại và phát triển trên cơ sở của quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống, quan hệ nuôi dưỡng và giáo dục,… giữa các thành viên”.
Từ những luận chứng trên, theo chúng tôi, định nghĩa về gia đìnhtrong giáo trình chủ nghĩa xã hội khoa học nêu trên vừa đảm bảo những đặctrưng cơ bản của gia đình vừa bao quát được các loại hình gia đình hiện nay
Vì vậy, chúng tôi chọn định nghĩa này làm cơ sở để luận chứng, khảo sátnhững vấn đề liên quan của luận văn
- Những chức năng của gia đình
Một trong những vấn đề quan trọng khi nghiên cứu về gia đình là vấn
đề chức năng của gia đình, tức là “cách thức cơ bản để thỏa mãn những nhucầu sống, sinh hoạt và phát triển của gia đình trong quan hệ với xã hội” [75;37] Là một thiết chế xã hội, cho nên chức năng của gia đình cũng bị quyđịnh bởi những điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội, tư tưởng trong những thời
kỳ lịch sử nhất định Thậm chí những đặc trưng của chức năng gia đình quanhững thời kỳ khác nhau cũng có những sự khác nhau Song về cơ bản, ởmọi thời đại và mọi loại hình gia đình, chức năng của gia đình vẫn mangnhững đặc điểm cơ bản sau:
Một là, chức năng tái sản xuất ra con người Gia đình bắt đầu được
hình thành khi có sự kết hợp giữa người nam và người nữ thông qua quan hệhôn nhân Từ đó, gia đình thực hiện chức năng sinh đẻ, tái sản xuất ra conngười Tái sản xuất ra chính bản thân con người là một chức năng cơ bản vàriêng có của gia đình Hoạt động sinh con đẻ cái của con người một mặt đểđáp ứng nhu cầu duy trì nòi giống của xã hội Đây là một kiến tạo sự sống
Trang 20đảm bảo sự trường tồn của nòi giống theo quy luật Một mặt để đáp ứngchính nhu cầu về tâm sinh lý, tình cảm của những thành viên trong gia đình.Hoạt động sinh con, đẻ cái của con người như một nhiệm vụ thiêng liêng vàcao cả của tạo hóa song cũng đầy gian nan, thử thách bởi trong đó bao hàm
cả việc giáo dục và nuôi dưỡng con cái của cha mẹ Việc sinh nhiều con màkhông có khả năng chu toàn việc giáo dục và nuôi dưỡng con cái của cha mẹ
sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến trình độ dân trí, trình độ phát triển kinh tế của
xã hội nói chung Vì vậy, hoạt động sinh con không chỉ là việc riêng của mỗigia đình mà còn là nội dung quan trọng của mỗi quốc gia và toàn nhân loại
Hai là, chức năng kinh tế Chức năng này đảm bảo các nhu cầu sinh
hoạt của mỗi thành viên trong gia đình hay là mỗi cá nhân trong xã hội Sảnxuất ra của cải vật chất là một trong hai loại sản xuất quyết định đến sự tồn tại
và phát triển của xã hội loài người Việc tạo ra của cải là cơ sở vật chất đểduy trì hạnh phúc trong gia đình Ở mọi thời đại, gia đình đều được coi là đơn
vị kinh tế sản xuất và tiêu dùng trong xã hội theo những mức độ khác nhau.Gia đình là điểm xuất phát và đồng thời cũng là trở về của mọi chính sách xãhội Tuy nhiên, việc lạm dụng chức năng này cũng gây những hậu quả đángtiếc đến hạnh phúc gia đình Thực tiễn cho thấy nhiều gia đình, bố mẹ mải mêviệc kiếm tiền, làm giàu mà thiếu đi thời gian chăm sóc, nuôi dạy con cái,khiến chúng sa ngã vào các tệ nạn xã hội Hạnh phúc gia đình là động lực củaphát triển kinh tế và đồng thời cũng phải là mục tiêu của phát triển kinh tế
Ba là, chức năng tổ chức đời sống gia đình Tổ chức đời sống gia
đình bao gồm cả hai lĩnh vực đó là đời sống vật chất và đời sống tinh thần.Đây là chức năng thường xuyên của gia đình Gia đình được tổ chức tốt làđiều kiện quan trọng để mỗi thành viên trong gia đình yên tâm làm tốt côngviệc của mình trong gia đình và ngoài xã hội Chính vì vậy, gia đình được vínhư một tế bào xã hội Bởi đây là một nhóm xã hội cơ sở, góp phần kiến tạonên một xã hội rộng lớn Sự trường tồn của một quốc gia, dân tộc cũng phụthuộc rất nhiều vào sự tồn tại và phát triển của mỗi gia đình
Trang 21Bốn là, chức năng giáo dục Gia đình có nhiều chức năng, trong đó
chức năng giáo dục là một chức năng vô cùng quan trọng Bởi vì gia đình làcầu nối giữa cá nhân với xã hội, là trường học đầu tiên giáo dục, bồi dưỡngnhân cách cho đứa trẻ ngay khi chúng có khả năng nhận thức Những giá trịtinh thần truyền thống trong gia đình một cách tự nhiên có ảnh hưởng, chiphối sâu sắc đến cả cuộc đời mỗi con người Mặc dù nhân cách của mỗingười được hình thành trong suốt cả cuộc đời con người Tức là không chỉgia đình mà nhà trường hay các thiết chế xã hội khác cũng có chức nănggiáo dục con người Giáo dục ở nhà trường và giáo dục xã hội ngày càngđóng vai trò quan trọng đối với mỗi cá nhân trong thời đại ngày nay, song
dù giáo dục nhà trường và giáo dục xã hội có phát triển lên trình độ nào thìgiáo dục gia đình vẫn được coi là một thành tố quan trọng của nền giáo dục
xã hội nói chung Nội dung của giáo dục gia đình tương đối toàn diện, cảgiáo dục tri thức và kinh nghiệm, giáo dục đạo đức và lối sống, giáo dụcnhân cách, thẩm mỹ, ý thức cộng đồng Phương pháp giáo dục của gia đìnhcũng rất đa dạng như nêu gương, thuyết phục Nhân cách của đứa trẻ chịuảnh hưởng lớn và sâu sắc bởi tư tưởng, lối sống, tâm lý, gia phong của từnggia đình Mặt khác, chủ thể giáo dục trong gia đình chính là ông bà, cha mẹ.Đây là những người gần gũi thường xuyên và có tình cảm cũng như tráchnhiệm cao nhất đối với sự phát triển nhân cách của con cái Nói chung, giáodục của gia đình không chỉ có ảnh hưởng đầu tiên đến nhân cách con người
mà còn bổ xung, hoàn thiện thêm cho giáo dục nhà trường và xã hội Giáodục gia đình được coi là môi trường giáo dục đầu tiên, lâu dài, thườngxuyên, liên tục và cho đến nay chưa có thiết chế nào thay đổi được
Năm là, chức năng thỏa mãn nhu cầu tâm sinh lý tình cảm giữa các thành viên trong gia đình Đây là chức năng có ý nghĩa quan trọng trong việc
chia sẻ tình yêu thương gắn bó của mọi người trong gia đình Chức năng nàyvừa là điểm xuất phát và đồng thời là điểm tựa của mỗi thành viên trong giađình trước những rủi ro hoặc may mắn, những buồn vui của cuộc đời Songđây cũng là vấn đề nhạy cảm Gia đình là nơi che chở, chia sẻ buồn vui, là
Trang 22chốn bình yên, là nơi trở về của mỗi người nhưng đồng thời cũng thường là
nơi phát xuất những buồn, vui phức tạp Người Việt thường nói “tư tưởng
không thông vác bình tông không nổi” chính để nói về những lúc có chuyện
buồn phiền trong gia đình Nói chung, gia đình chi phối rất nhiều trong đời sống mỗi cá nhân Chính vì vậy mà đòi hỏi mỗi thành viên trong gia đình đều
cố gắng và sống có trách nhiệm với chính gia đình của mình Điều đó thực sựcần thiết đặc biệt là trong xã hội đầy biến động và phức tạp hiện nay
Có thể thấy, gia đình là một thiết chế đa chức năng Cơ sở của sự tồntại, phát triển của gia đình nói riêng và tiến bộ xã hội nói chung về cơ bảncũng chính thông qua việc thực hiện những chức năng này
1.1.1.2 Các hình thức gia đình ở Việt Nam
Hiện nay có nhiều cách phân chia các loại hình gia đình khác nhautùy thuộc vào các tiêu chí khác nhau
Căn cứ vào quy mô của gia đình có thể chia thành gia đình hạt nhân và
gia đình mở rộng Gia đình hạt nhân là đơn vị gia đình nhỏ nhất chỉ bao gồm
một cặp vợ chồng và con cái chưa kết hôn Gia đình này có hai thế hệ là thế
hệ cha mẹ và thế hệ con cái, vì vậy trong hình thái gia đình này có những mốiquan hệ cơ bản như quan hệ vợ chồng, quan hệ cha mẹ và con cái Đối vớinhững gia đình có hai con trở lên thì có thêm mối quan hệ anh, chị em vớinhau Gia đình hạt nhân cũng có biến thể Chẳng hạn như gia đình cha (hoặc
mẹ) đơn thân và con cái Gia đình mở rộng là những đơn vị gia đình lớn hơn
gia đình hạt nhân về số lượng các thế hệ sống chung với nhau Gia đình mởrộng có thể có ba, bốn, năm thế hệ (Tam, tứ, ngũ đại đồng đường) Loại hìnhgia đình này có nhiều ưu thế hơn so với gia đình hạt nhân về vấn đề nhân lựcsong cũng thường xuyên có những mẫu thuẫn do các thế hệ trong gia đình
mở rộng có sự chênh lệch lớn về tuổi tác, đặc điểm tâm sinh lý
Ở Việt Nam hiện nay, gia đình mở rộng tồn tại ít hơn so với gia đìnhhạt nhân Đặc biệt là ở các thành phố, các khu công nghiệp mới thường rất ítnhững gia đình tứ, ngũ đại đồng đường mà phổ biến là các gia đình hạt nhân.Điều này một phần do khu vực này tập trung nhiều những cặp vợ chồng trẻ từ
Trang 23khắp nơi đến sinh sống, lập nghiệp; một phần do các cặp vợ chồng trẻ có xuhướng thích một không gian sống riêng, tự do và thoải mái hơn.
Dựa trên việc xác định dòng dõi theo cha hay theo mẹ, có gia đình
đơn hệ và gia đình lưỡng hệ Gia đình đơn hệ là gia đình mà chỉ có một
trong hai bố mẹ đẻ thuộc cùng một nhóm dòng dõi với con cái Trong loạihình gia đình này cũng có hai biến thể là gia đình phụ hệ (con cái sinh rađược tính là dòng dõi của người bố) và gia đình mẫu hệ (con cái sinh ra
được tính là dòng dõi của người mẹ) Gia đình lưỡng hệ là gia đình mà con
cái được tính theo dòng dõi của cả bố và mẹ Loại hình gia đình này đangphổ biến ở Việt Nam hiện nay
Căn cứ vào người nắm quyền lực trong gia đình có gia đình phụ quyền và
gia đình mẫu quyền Gia đình phụ quyền là hình thức gia đình mà quyền lực,
tiếng nói cao nhất trong nhà thuộc về người cha hay người đàn ông nhiều tuổi
nhất Ngược lại, gia đình mẫu quyền là hình thức gia đình mà quyền lực, tiếng
nói cao nhất trong nhà thuộc về người cha hay người phụ nữ nhiều tuổi nhất
1.1.2 Cơ sở hình thành đạo Hiếu trong gia đình ở Việt Nam
1.1.2.1 Khái niệm Hiếu, đạo Hiếu
- Khái niệm Hiếu
Trong gia đình Việt Nam, dù là một gia đình có văn hóa truyền thốnghay theo văn hóa mới ngày nay đều coi hiếu hạnh vừa là đức tính vừa lànhân cách con người Hiếu hạnh là căn bản của giáo dục truyền thống, là cộinguồn của đạo lý, là cơ sở vững chắc của gia đình Hiếu không chỉ được tôntrọng, đề cao mà còn mang giá trị nhân bản sâu sắc
Theo chữ Hán, chữ Hiếu (孝) được cấu tạo từ chữ Khảo - cha (老) ở
trên (lược bớt phần dưới) và chữ Tử - con (子) Theo đó, Hiếu tức là mốiquan hệ cha trên, con dưới Suy rộng ra là đạo nghĩa của con cháu với cha
mẹ, ông bà, tổ tiên
Trong bài trích Gia đình và chữ Hiếu đăng trên tạp chí Xưa & nay,
tác giả Hà Thúc Minh đã có đoạn viết rằng: “Bản thân chữ “Hiếu” cũng có
Trang 24cả một pho lịch sử của nó Chu Dự Đồng gần nửa thế kỷ nghiên cứu kết cấuchữ “Hiếu” cổ đại, phát hiện chữ “Hiếu” là tượng trưng cho quan hệ phồnthực cổ xưa Đó là hình tượng quan hệ nam nữ ở bên trên và kết quả của nó
là “quý tử” bên dưới” [44; 7] Quan niệm “trần tục” (từ dùng của tác giả) đókhông phải không có lý Bởi theo tác giả ý thức huyết thống là cơ sở hìnhthành của chữ Hiếu và nó cũng quy định mức độ “đậm nhạt” của tìnhthương Theo đó thì rõ ràng, quan hệ cha mẹ và con cái là quan hệ huyếtthống gần gũi nhất Như thế, đương nhiên tình thương của cha mẹ dành chocon cái là tình thương “gốc” của mọi tình thương Bởi thế nên lễ giáo xưaquy định Hiếu là quan niệm ứng xử một chiều, đó là chiều từ dưới lên chứ
không phải từ trên xuống Vì vậy, Hiếu là tình thương và nghĩa vụ của con
cái đối với cha mẹ [44; 8].
Theo đại từ điển Tiếng Việt, Hiếu khi là một danh từ thì nó có hai
nghĩa Nghĩa thứ nhất, Hiếu là lòng biết ơn cha mẹ [86; 701] Nghĩa thứ hai
là lễ tang cha mẹ, cũng chỉ lễ tang nói chung [86; 701] Còn khi là tính từ,
Hiếu tức là có lòng kính yêu, hết lòng chăm sóc cha mẹ [86; 701] Như vậy,
Hiếu ở đây không chỉ thể hiện tấm lòng tri ân đối với cha mẹ, và nhữngngười hàng trên (bậc trên) trong gia đình khi còn sống và cả sau khi đã quađời Tức là lo việc an táng khi mất và hương hỏa sau này (việc tôn kính, thờcúng tổ tiên) Như vậy, chữ Hiếu không chỉ được thể hiện ở thái độ (yêukính) mà còn cả ở hành vi của con cái Người Việt thường dùng chữ Hiếu đi
kèm với một số từ khác thành những cụm từ có nghĩa tương đồng như: Hiếu
dưỡng là chăm sóc, nuôi dưỡng cha mẹ chu đáo, trọn lòng hiếu thảo [86;
701] Hiếu đễ là có lòng kính trọng cha mẹ và hòa thuận với anh chị em
trong gia đình [86; 701] Hiếu hạnh giống như hiếu thảo là có lòng kính yêu
chăm lo cho cha mẹ [86; 702] Hiếu kính là có lòng kính trọng cha mẹ [86;
701] Hiếu Nghĩa là có hiếu và có tình nghĩa [86; 702] Hiếu thuận là có
hiếu với cha mẹ và hòa thuận với anh chị em trong nhà [86; 702] Có thểthấy rằng, Hiếu trong tiếng Việt được diễn tả bằng nhiều cách khác nhausong tựu trung lại đều là lòng kính yêu, biết ơn, vâng lời cha mẹ Điều này
Trang 25khẳng định chắc chắn rằng, trong tâm thức người Việt, chữ Hiếu vô cùngquan trọng Nó đã đi vào đời sống, vào trong tiềm thức mỗi người, trở thành
nết đứng đầu trăm nết.
Phan Kế Bính trong Việt Nam phong tục đã cho rằng “Hiếu là kính
trọng thương mến cha mẹ, biết vâng lời cha mẹ, biết phụng dưỡng cha mẹ”
[4; 23] Ông cũng khẳng định, người xưa lấy hiếu với cha mẹ là mối luânthường rất lớn, làm đầu trăm nết hay của con người Chính vì vậy mà người
ta cũng hay lấy những câu chuyện trong Nhị thập tứ hiếu làm những tấmgương để kể, truyền tụng cho con cháu, lấy đó làm phương châm cho đạo làmcon Còn về cách phụng dưỡng với cha mẹ người con nào có điều kiện thì củangon vật lạ, cơm dâng, nước tiến Người con nào nhà nghèo cũng biết lưngcơm lành, bát canh ngon để phụng dưỡng cha mẹ Hoặc ở xa xôi cách biệt đôi
khi gởi đồng quà, tấm bánh về dâng cha mẹ Và ông kết luận rằng, nếu hiếu
vẫn là nết đứng đầu trong luân lý của người ta, nếu cha mẹ là người rất thân
mà cư xử đã chẳng ra gì thì ra xã hội còn tử tế với ai được nữa [4; 23].
Hiếu kính với cha mẹ - người đã có công sinh thành, dưỡng dục giúp tanên người là bổn phận của người làm con Công lao ấy ví tựa núi Thái Sơn;
tinh khiết, sâu thẳm như suối nguồn vô tận Công cha như núi Thái Sơn/
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra/ Một lòng thờ mẹ kính cha/ Cho tròn chữ Hiếu mới là đạo con Hiếu quý ở lòng thành và sự kính trọng nên
hiếu trước hết phải là sự hiếu kính Nó thể hiện ra ở sự biết ơn, hết lòng chămsóc, phụng dưỡng cha mẹ khi già yếu và khi mất thì lo tang ma, thờ cúng chuđáo Như thế không có nghĩa là báo hiếu cha mẹ khi họ qua đời bằng mâmcao, cỗ đầy, bằng phung phí xa hoa Điều quan trọng thể hiện đạo Hiếu ở đâychính là sự thương xót, đau buồn khi mất đi người cha, người mẹ
Tóm lại, Hiếu được bắt nguồn từ tấm lòng tri ân của con cái đối vớicông lao sinh thành, dưỡng dục trời bể của mẹ cha Nó được thể hiện ra ở sựkính trọng, vâng lời, phụng dưỡng, chăm sóc ông bà cha mẹ khi còn sống,thờ cúng chu đáo khi chết và biết nỗ lực vươn lên lập thân, lập nghiệp, làm
vẻ vang gia đình, dòng họ
Trang 26- Khái niệm đạo Hiếu
Từ xưa đến nay, chữ Hiếu được dạy rất nhiều trong các nền văn hóaphương Đông cũng như phương Tây Đối với người Việt, Hiếu có vai trò rấtquan trọng và được coi là nền tảng của đạo đức con người, là gốc rễ của đạo
làm người Do đó mà Hiếu được nâng lên thành Đạo Hiếu “Đạo” ở đây có
nghĩa là phép tắc đối xử trong xã hội, ai cũng phải biết và phải tuân thủ [86;479] Đạo Hiếu chính là đạo làm con của người Việt Nam, là nguyên tắc màcon người có bổn phận giữ gìn và tuân theo trong cuộc sống Tất nhiên nó phải
là tình cảm xuất phát trong tư tưởng, suy nghĩ, biểu hiện qua hành động đối vớicác bậc sinh thành Người Việt vô cùng trọng chữ Hiếu nên cũng thường gọi là
đức Hiếu (đức tính của con người) Đức Hiếu đó có tính phổ quát như một
chân lý sống, một lẽ sống cao đẹp ở đời nên mặc nhiên gọi là đạo Hiếu
Như vậy, trong công trình này, chúng tôi quan niệm Đạo Hiếu là
những chuẩn mực đạo đức, những nguyên tắc trong văn hóa ứng xử của con cháu đối với cha mẹ, ông bà, tổ tiên.
Hiếu là một phạm trù đạo đức, thuộc ý thức xã hội nên nó bị quy địnhbởi tồn tại xã hội Bởi vậy, những chuẩn mực, nguyên tắc ứng xử của concháu đối với cha mẹ, ông bà, tổ tiên mỗi thời cũng có những khác nhau nhấtđịnh Chẳng hạn, thời Phong Kiến ở Việt Nam, sinh con trai nối dõi tôngđường là một trong những nội dung của đạo Hiếu đối với người con traitrong gia đình Không có con trai nối dõi tông đường cũng được coi như bấthiếu với cha mẹ, với dòng tộc Ngày nay thì quan niệm đó không phải làmột chuẩn mực của đạo Hiếu
Quan niệm về Hiếu ở phương Đông và phương Tây cũng có nhữngđiểm khác nhau do sự khác nhau về đặc điểm văn hóa Nếu ở phương Tâycon người cá nhân, ý thức cá nhân được đề cao thì ở phương Đông conngười cá nhân phải trở nên bé nhỏ, mờ nhạt đi trong cái chung Kết cấu của
xã hội phương Tây là cá nhân-xã hội Còn phương Đông do ý thức về huyếtthống rất bền chặt nên kết cấu xã hội là cá nhân-gia đình-họ hàng-làng-nước Gia đình theo cách nhìn của phương Tây là một đơn vị sản xuất, là gia
Trang 27đình “kinh tế” Người Việt Nam có câu “một trăm cái lý không bằng một týcái tình” Thể chế chính trị ở phương Đông luật pháp còn gắn theo cả đạođức Còn ở phương tây thì “pháp luật là đạo đức không có tình cảm”(Platon, người Hy Lạp-La Mã cổ đại) Thậm chí có tư tưởng chính trị chủtrương lấy Đức trị dân Vậy nên, chữ Hiếu ở phương Đông nghiêng nhiềutheo tình cảm hơn là kinh tế, của cải vật chất
1.1.2.2 Cơ sở lý luận và thực tiễn của sự hình thành đạo Hiếu trong gia đình ở Việt Nam
Có thể nói, Hiếu hạnh được coi là nội dung căn bản của giáo dụctruyền thống trong gia đình Việt Nam Không một gia đình Việt Nam nàothờ ơ trong việc giáo huấn, khuyến khích con cháu ăn ở phải lẽ với nhữngngười trên Xem xét cơ sở hình thành của đạo Hiếu trong gia đình Việt Nam
có thể chia thành cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn
- Cơ sở lý luận của sự hình thành đạo Hiếu trong gia đình ở Việt Nam
Thứ nhất, những ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo, Phật giáo, Thiên Chúa giáo Nho giáo (Trung Quốc) và Phật Giáo (Ấn Độ) du nhập vào Việt
Nam từ rất sớm và có sức ảnh hưởng rất lớn trong tâm thức người Việt chođến tận ngày nay Đã có những thời kỳ khác nhau Nho giáo và Phật giáo cònđược coi là quốc giáo của đất nước Sở dĩ như vậy bởi xét trên một khía cạnhtích cực thì tư tưởng Nho giáo và Phật giáo cũng có nhiều nét tương đồng vớivăn hóa dân gian của người Việt, trong đó có tư tưởng về đạo Hiếu TrongNho giáo, mối quan hệ giữa cha và con được coi là mối quan hệ cơ bản nhất,
là rường cột trong ngũ luân Theo Khổng Tử thì “Phụ từ, tử hiếu” (Cha nhân
từ, con hiếu nghĩa) Cũng bởi coi mối quan hệ cha, con là mối quan hệ cơ bảnchi phối những mối quan hệ khác nên Nho giáo ở giai đoạn sau đã đẩy mốiquan hệ này lên mức tuyệt đối, trở thành “Phụ sử, tử sự” (cha quyết, con phụctùng) Điều đó cho thấy, Nho giáo rất đề cao chữ Hiếu, coi Hiếu là nguồn gốccủa mọi đức hạnh, là gốc rễ của Nhân, là cốt lõi của quan niệm giá trị trongcuộc sống, tạo ra cương thường đạo lý của xã hội Bởi ai không yêu bố mẹmình thì khó có thể yêu kính bố mẹ, anh chị người khác, khó “trung, thứ, từ,
Trang 28ái” với người ngoài được Đạo rộng lớn của Nghiêu, Thuấn xưa cũng là Hiếu
đễ mà thôi Khi Tăng Tử muốn biết nguyên do về Hiếu, Khổng Tử dạy rằngHiếu không phải là từ trên trời rơi xuống, không phải từ dưới đất chui lên, màhiếu từ thân ta Thân thể chúng ta được hình thành từ trong thai mẹ, do khícủa cha, huyết của mẹ phôi thành Vì vậy, chúng ta phải luôn giữ gìn thânthể, không được hủy hoại thân thể Theo Khổng Tử thì Hiếu đạo được gâydựng dựa trên gốc là “thành” và thể hiện ra bằng “kính” Có nghĩa là hiếu quý
ở lòng thành và sự kính trọng Bởi nếu nuôi cha mẹ mà chẳng kính trọng thìkhác gì nuôi loài chó ngựa Cũng thế, khi cha mẹ xế bóng thì việc tang cốt ở
sự thương xót chứ không phải thể hiện bằng mâm cao cỗ đầy, bằng phung phí
xa hoa Nho giáo cũng phân định ba tầng thứ của Hiếu gồm có tiểu Hiếu,trung Hiếu và đại Hiếu Đạt tiểu Hiếu là biết kính dưỡng, biết kính trọng,nuôi dưỡng cha mẹ Đạt trung Hiếu (Bất mục chi Hiếu) là làm con không làmđiều gì nhục nhã, xấu hổ cho cha mẹ Và đạt đại Hiếu (đại đạo chi Hiếu) làlàm người con phải lấy vợ, lấy chồng để có con nối dõi tông đường và biếtthuận ứng đạo lý, thuận ứng quy luật khách quan
Hỗn dung tôn giáo là một trong những đặc điểm của người Việt Bởithế mà Phật giáo khi du nhập vào Việt Nam, được người Việt cải biến phùhợp với nền văn hóa bản địa Trong các nghi lễ, các kinh báo ân của Phậtgiáo Việt Nam đều có thấp thoáng chữ “Hiếu” Chữ Hiếu ở đây cũng đượccoi là nền tảng của đạo làm người Người nào bất hiếu thì sẽ không thoátkhỏi vòng luân hồi Trong kinh điển Phật giáo dạy về đạo Hiếu có thể kểđến như: Kinh Vu Lan bồn nêu gương hiếu hạnh của đức Mục Kiền Liên;Kinh Báo ân cha mẹ; Kinh Thai cốt và kinh Huyết Bồn; Kinh Hiếu Tử dạy
về các phương thức báo hiếu; Kinh Địa Tạng; Sám Pháp Mục Kiền Liên;kinh Thiện Sanh… Tóm lại, chữ Hiếu được nói đến trong khắp các kinhđiển Phật giáo Phật dạy rằng, người con có hiếu là người con có nhiều hạnhlành khác vì hiếu là nền tảng của muôn hạnh lành, là cơ sở của nhân thừa, lànhịp cầu giải thoát
Thiên Chúa giáo du nhập vào Việt Nam từ khoảng thế kỷ XVI Thờigian đầu, người Công giáo Việt Nam gặp những ngăn trở của giáo hội trong
Trang 29việc thờ cúng tổ tiên Nhưng từ sau công đồng Vatican II (1962 - 1965), vấn
đề này đã được giáo hội Công giáo nhìn nhận lại Bởi việc thờ cúng tổ tiênmặc nhiên không hề ảnh hưởng đến niềm tin Ki-tô giáo Chúa Giê-su đãdạy, hãy yêu người bên cạnh như chính mình Người bên cạnh đầu tiêntrong đời sống chúng ta không ai khác ngoài cha mẹ, ông bà Bởi thế, điềurăn thứ bốn trong mười điều răn của Chúa chính là thảo kính cha mẹ Hộithánh công giáo cũng dành riêng tháng mười một để cầu nguyện cho nhữngngười đã khuất mà thiết thân nhất chính là tổ tiên, ông bà, cha mẹ mình.Trong kinh thánh Tân ước, sách Huấn ca (là sách răn dạy về đạo đức conngười) chương 7, câu 27, 28 cũng viết: “Cha con, con hãy hết lòng tôn kính,
và đừng quên ơn mẹ đã mang nặng đẻ đau Hãy luôn nhớ công ơn dưỡngdục sinh thành Công ơn ấy, con sẽ lấy chi đáp đền cho cân xứng?” Và “aitôn vinh cha sẽ được trường thọ, ai vâng lệnh đức Chúa sẽ làm cha mẹ anlòng” Trong thư gửi giáo dân ở Ê-phê-xô, thánh Phao-lô viết: “Hỡi các kẻlàm con, hãy vâng lời cha mẹ theo ý Chúa, vì đó là điều hợp lý” Nhữngngười con không vâng lời cha mẹ bị xem là một trong những người có hành
vi của kẻ tội đồ Kinh thánh cho rằng, trong một gia đình, người cha chính
là người gia trưởng Ông được xem như một ông chủ, là “chúa” của giađình Còn người mẹ là “mẹ của sự sống” Cha mẹ là những người thực hiệnlệnh truyền “hãy sản sinh” của Thiên Chúa Thiên Chúa đã tạo dựng nên cha
mẹ và từ đó mà có dân chúa Do vậy, con cái phải tôn thờ cha mẹ như tônthờ đấng sáng thế
Như vậy, các tôn giáo, triết thuyết khi du nhập vào đất Việt, thâmnhập được vào cõi tâm linh của người Việt cũng một phần nhờ đường lốiHiếu đạo sẵn có của người Việt Và rồi, các tư tưởng của các triết thuyết,các tôn giáo lại bổ xung, làm sâu sắc hơn truyền thống dân tộc Có khi hòaquyện lại, khó bóc tách được ở đâu, chỗ nào là tư tưởng của triết thuyết nào,bởi nó đã được cải biến thành tư tưởng mang dấu ấn riêng của người Việt
“Tu đâu cho bằng tu nhà/ Thờ cha kính mẹ mới là chân tu” Hay “Đêm đêmkhấn nguyện Phật, Trời/ Cầu cho cha mẹ ở đời với con”
Trang 30Cơ sở lý luận thứ hai góp phần hình thành nên đạo Hiếu trong gia
đình Việt Nam đó là ảnh hưởng của văn hóa dân gian Việt Nam Những câu
ca dao, tục ngữ, những câu truyện cổ tích, truyền thuyết được hình thànhtrong dân gian còn lưu truyền đến ngày nay chính là một minh chứng chosức sống của đạo Hiếu trong gia đình người Việt Những bài học về đạo làmcon được ông cha ta răn dạy thế hệ con cháu thông qua những câu chuyệntruyền thuyết, truyện cổ tích như Lâm Sanh Xuân Nương, Thoại Khanh-Châu Tuấn,… Đặc biệt, những câu tục ngữ, những vần ca dao là những lờirăn dạy vừa ngắn gọn, xúc tích, dễ nhớ, dễ thuộc, lời lẽ mộc mạc, dễ hiểu
mà hàm chứa nội dung thâm thúy sâu sắc Công cha nghĩa mẹ cao dày/ Cưu
mang trứng nước những ngày còn thơ/ Nuôi con khó nhọc đến già/ Trưởng thành con phải biết thờ song thân Hay là Công cha như núi Thái Sơn/ Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra/ Một lòng thờ mẹ kính cha/ Cho tròn chữ Hiếu mới là đạo con Chính vì vậy mà đạo làm con trước hết thể
hiện ở việc vâng lời cha mẹ: Mẹ cha là biển là trời/ Làm sao con dám
cưỡng lời mẹ cha Khi lớn hơn, con cái biết ý thức được công lao trời bể của
mẹ cha thì Nuôi con khó nhọc đến giờ/ Trưởng thành con phải biết thờ song
thân Và rồi khi cha mẹ già yếu thì phải biết phụng dưỡng, chăm sóc Mẹ già
ở túp lều tranh/ Sớm thăm tối viếng mới đành dạ con Đến khi cha mẹ khuất
núi thì Quyết lòng lập miếu chạm rồng/ Đền ơn phụ mẫu ẵm bồng ngày
xưa Không chỉ là những lời khuyên răn chí lý chí tình mà bên cạnh đó còn
có những câu ca dao mang tính châm biếm, mỉa mai những người không
tròn đạo làm con: Mẹ cha còn sống, thì chẳng cho ăn/ Đến khi thác xuống
lăm văn tế ruồi Hay Mẹ cha còn sống, chẳng chịu dưỡng nuôi/ Đến khi khuất núi ngậm ngùi khóc than Có thể thấy, thông qua một số ít dẫn chứng
trên đây trong kho tàng văn hóa dân gian Việt Nam đã cho thấy hiếu đạo là
một trong những nguyên tắc sống, là nết đứng đầu trăm nết của người Việt.
“Con có cha mẹ đẻ, chẳng ai từ lỗ nẻ mà lên” hay “Chim có tổ, người có
tông” Uống nước nhớ nguồn, ăn quả nhớ kẻ trồng cây chính là đạo lý xuất
phát của việc răn dạy con cháu hiếu kính với cha mẹ, ông bà, tổ tiên
Trang 31Thứ ba, tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt có thể nói là hình
thức thể hiện tập trung, có vai trò củng cố, phát triển đạo Hiếu một cáchthường xuyên và mạnh mẽ Trong mỗi gia đình Việt Nam truyền thống dùrộng rãi hay chật hẹp đều dành một chỗ trang trọng nhất để đặt một ban thờ,trên đó bày bát hương, đồ thờ, bài vị, ảnh hay chân dung các vị tổ tiên đểthờ cúng vào những ngày sóc vọng mồng một, hôm rằm các tháng âm lịch
và cả trong những ngày hội làng, lễ tết quanh năm Ngoài ra, vào tất cảnhững dịp quan trọng của gia đình, người Việt đều thắp nén nhang, dâng đồcúng tưởng nhớ, cầu khấn với tiên tổ Vào những dịp giỗ chạp, thanh minh,cháu con các đời lại nối tiếp nhau ra nghĩa trang có những phần mộ đã xâycất hoặc đắp nấm của các vị tiên tổ lâu đời để thắp hương, thăm viếng Đóchính là thể hiện một cách cụ thể nhất tâm thức nguồn cội của người Việttrong phạm vi một gia tộc Còn rộng hơn, trong phạm vi một đất nước thì
“Gần xa ta cũng một nhà/ Cùng dòng Hồng Lạc, cùng là Viêm bang” Chính vì vậy mà “Dù ai đi ngược về xuôi/ Nhớ ngày giỗ tổ mồng mười
tháng ba” Rõ ràng là phong tục thờ cúng tổ tiên của người Việt từ trong
phạm vi gia đình, gia tộc, dòng họ đã mở rộng đến phạm vi cả nước Đối vớingười Việt thì tổ tiên, ông bà dù đã khuất núi nhưng vẫn hàng ngày theo dõi,trợ giúp công việc ăn ở của con, cháu, chắt, chút,… Vì vậy, các thế hệ sauluôn luôn sống, làm việc tu nhân tích đức trong sự giám sát vô hình nhưngkhá nghiêm ngặt của các vị tổ tiên Nhờ thế, con người sống với nhau trởnên tốt đẹp hơn, thiện tâm hơn Như vậy, chính phong tục thờ cúng tổ tiên
đã làm gắn kết các thành viên trong gia đình, dòng tộc lại với nhau Ở đây,mối quan hệ hai chiều giữa gia đình và đạo hiếu trong gia đình được thểhiện một cách sâu sắc
Thứ tư, chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức.
Với việc phát hiện ra chủ nghĩa duy vật lịch sử, C.Mác không chỉ tạo rabước ngoặt cách mạng trong quan niệm về sự phát triển xã hội nói chung màcòn đặt cơ sở cho tất cả các lĩnh vực khoa học xã hội, trong đó có đạo đứchọc Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, đạo đức là một hình thái
Trang 32cơ bản của ý thức xã hội, xuất hiện từ rất sớm trong sự phát triển của lịch
sử Nó phản ánh và bị quy định bởi tồn tại xã hội, tức là các quan điểm, các
lý tưởng, niềm tin và tình cảm đạo đức v.v… xét đến cùng đều là biểu hiệncủa một trạng thái, một trình độ phát triển nhất định những điều kiện sinhhoạt vật chất của xã hội Như vậy, đạo đức mang bản chất xã hội nên nó cótính thời đại, tính dân tộc và tính giai cấp Các giá trị đạo đức phổ biến củanhân loại sẽ không ngừng được sáng tạo, phát triển qua mọi thời đại vàđược kế thừa trong đạo đức cộng sản chủ nghĩa tương lai, một nền đạo đứcđối lập về chất so với nền đạo đức phong kiến và đạo đức tư sản
Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh có nội dung phong phú, sâu sắc, kếttinh của đạo đức truyền thống dân tộc Việt Nam, sự chắt lọc đạo đức phươngĐông, tinh hoa đạo đức nhân loại, đặc biệt là tư tưởng đạo đức của chủ nghĩaMác - Lênin Hồ Chí Minh đã ví vai trò của đạo đức trong đời sống giốngnhư cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo Sự vĩ đại của đạo đức Hồ ChíMinh được toát ra từ sự nhuần nhuyễn giữa tư tưởng đạo đức với tấm gươngđạo đức trong cả cuộc đời của người Đến đạo đức Hồ Chí Minh, nền đạo đứcViệt Nam mới mang bản chất mới mà người gọi là đạo đức cách mạng - đạođức chiến đấu vì độc lập, tự do, vì hạnh phúc của nhân dân Người yêu cầu,Đảng phải “là đạo đức, là văn minh” và người cách mạng phải có đạo đức,không có đạo đức thì dù tài giỏi đến mấy cũng không lãnh đạo được nhândân Một trong những chuẩn mực đạo đức cách mạng mà người đặt lên hàngđầu đối với người cách mạng đó là “trung với nước, hiếu với dân” Có thểthấy, trong mối quan hệ đạo đức thì mối quan hệ giữa mỗi người với đấtnước, với nhân dân, với dân tộc là mối quan hệ lớn nhất Trung, Hiếu vốn làkhái niệm đã có trong tư tưởng đạo đức truyền thống song có nội dung hạnhẹp: “trung với vua, hiếu với cha mẹ”, phản ánh bổn phận của dân đối vớivua, con đối với cha mẹ Hồ Chí Minh đã đưa vào khái niệm cũ một nội dungmới là “Trung với nước, hiếu với dân” Nó thể hiện trách nhiệm với sựnghiệp dựng nước và giữ nước Nội dung của “Trung với nước” thể hiện ởchỗ, trong mối quan hệ giữa cá nhân với cộng đồng và xã hội, phải biết đặt
Trang 33lợi ích của Đảng, của Tổ quốc, của cách mạng lên trên hết Đồng thời quyếttâm thực hiện tốt mọi chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước Nộidung chủ yếu của “Hiếu với dân” là chăm lo đời sống vật chất và tinh thầncủa nhân dân Tin dân, học dân, lắng nghe ý kiến của dân, gắn bó mật thiếtvới dân, tổ chức, vận động nhân dân thực hiện tốt đường lối, chủ trương,chính sách của Đảng và Nhà nước Có thể nói, tư tưởng đạo đức Hồ ChíMinh đã trở thành một khoa học, mãi đóng góp vào tiến trình phát triển khoahọc đạo đức của nhân loại nói chung, của Việt Nam nói riêng.
- Cơ sở thực tiễn của sự hình thành đạo Hiếu trong gia đình ở Việt Nam
Xem xét cơ sở thực tiễn của sự hình thành đạo Hiếu ở Việt Nam cóthể kể đến những nhân tố cơ bản góp phần nuôi dưỡng sự tồn tại của đạoHiếu như vai trò của gia đình, dòng họ, làng xã, cộng đồng đất nước, đạo lýuống nước nhớ nguồn, những đòi hỏi xây dựng gia đình ấm no, hạnh phúc
Trước hết là nhu cầu tồn tại của gia đình đã góp phần hình thành và
phát triển đạo Hiếu ở Việt Nam một cách trực tiếp và gần gũi nhất Với đặctrưng là nền kinh tế tiểu nông nên các thành viên trong gia đình sống khágần gũi với nhau Gia đình truyền thống Việt Nam thường có tới ba đến bốnthế hệ cùng chung sống trong một không gian gia đình tam, tứ, ngũ đại đồngđường Vì vậy, người Việt Nam rất coi trọng việc xây dựng gia đình bềnvững, lâu dài, coi đó là trách nhiệm, một luân thường đạo đức Tất cả đềulấy hạnh phúc gia đình làm hạnh phúc bản thân, danh dự của mỗi thành viêngắn liền với danh dự của gia đình Tính phụ quyền trong gia đình truyềnthống Việt Nam được thể hiện khá rõ nét, người cha là người chủ gia đình
và có vai trò quyết định Vợ thuận chồng, con thuận theo cha là lẽ tự nhiên.Người cha có trách nhiệm, bổn phận với con và con cái cũng phải có tráchnhiệm và nghĩa vụ báo hiếu với cha Tuy vậy những người phụ nữ trong giađình như bà, mẹ, chị, em, cô dì,… có vai trò khá quan trọng “Nội ngoạitương tề” hay “tứ thân phụ mẫu” cũng là vì vậy Chính vì thế, con gái cũng
có quyền được thừa kế tài sản của cha mẹ và được pháp luật bảo hộ Điều
đó cũng có nghĩa là con trai hay con gái, con dâu cũng như con rể đều là
Trang 34những thành viên trong gia đình và đều phải có trách nhiệm chăm sóc,phụng dưỡng ông bà, cha mẹ.
Xuất phát từ yêu cầu của văn hóa dòng họ; đây cũng là nhân tố quan
trọng trong việc duy trì sự tồn tại và phát triển đạo Hiếu ở Việt Nam Dòng
họ là một cộng đồng gắn bó với nhau và được duy trì bởi quan hệ huyếtthống giữa các thành viên Trong các dòng tộc thường có nhà thờ tổ củadòng họ đó Gia phả (tộc phả) hoặc là tộc ước, tộc lệ chính là những phươngthức củng cố đạo Hiếu của dòng họ Trong các gia phả thường ghi danh vàcông lao của các thế hệ đi trước nhằm nhắc nhở con cháu đời sau có ý thức
về cội nguồn cũng như phải sống làm sao cho xứng đáng với dòng tộc giatiên, để làm rạng danh tổ tiên
Xuất phát từ yêu cầu, đòi hỏi của văn hóa làng xã cũng góp phần quan
trọng trong việc củng cố đạo Hiếu trong gia đình Việt Nam thông qua hươngước, lệ làng “Quê hương là chùm khế ngọt” chính vì vậy trong tâm thức củangười Việt, làng là cái nôi, là nơi duy trì và phát triển truyền thống “uốngnước nhớ nguồn; ăn quả nhớ kẻ trồng cây” Làng xã, nơi “chôn rau cắt rốn”
đó luôn trong tiềm thức của mỗi người nhất là những người con xa quê mộtlòng trắc ẩn về việc thực hiện đạo Hiếu Trong hương ước của làng QuỳnhĐôi, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An soạn vào năm 1636, điều 64 có quyđịnh về bổn phận làm con phải có hiếu với cha mẹ Không có hiếu thì chẳngkhác gì loài cầm thú Nếu một ai đó có điều lỗi thì chỉ cần có người cáo giácvới làng thì làng có quyền chiếu theo tội nặng nhẹ mà phạt Ngược lại, trongnhiều hương ước của các làng xã Việt Nam thời phong kiến cũng có điềukhen thưởng đối với người có hiếu
Xuất phát từ công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta hiện nay,
cần đến con người mới xã hội chủ nghĩa Vì vậy, cộng đồng đất nước (quốc gia) cũng có vai trò to lớn trong việc duy trì, phát triển đạo Hiếu thông qua
luật pháp Đạo Hiếu dưới triều Nguyễn còn được chính trị hóa, luật pháp hóa:
Trang 35“Đạo làm con phải hiếu kính với ông bà, cha mẹ, khi tuổi già phải thức khuyaphụng dưỡng, không được để thiếu thốn” (Luật Hồng Đức, điều 90).
Như vậy, cơ sở thực tiễn của sự hình thành và tồn tại của đạo Hiếu là
từ nhu cầu tồn tại của gia đình; yêu cầu, đòi hỏi của văn hóa dòng họ; vănhóa làng xã và công cuộc xây dựng cộng đồng đất nước
1.2 Nội dung của đạo Hiếu trong gia đình Việt Nam
1.2.1 Nội dung đạo Hiếu trong gia đình Việt Nam truyền thống
Người Việt Nam xưa rất đề cao chữ Hiếu, đặt Hiếu lên vị trí hàng đầutrong những phẩm giá của con người Pháp luật và dư luận xã hội đềukhuyến khích con người thực hiện đạo Hiếu với cha mẹ và thế hệ trước Trảiqua quá trình hình thành, tồn tại và phát triển rất lâu dài của lịch sử nên đạoHiếu trong gia đình người Việt xưa mang rất nhiều sắc thái khác nhau Tuynhiên, nội dung của đạo Hiếu có thể tóm tắt thành ba nội dung cơ bản Thứnhất là báo đáp công lao sinh thành dưỡng dục của cha mẹ và tế tự khi quađời Đây được coi là nội dung trọng tâm của đạo Hiếu Thứ hai là tôn kính
tổ tông, kế thừa và phát huy ý chí của tổ tiên, truyền thống của gia đình,dòng họ Thứ ba là sinh con, dạy con, nối dõi tông đường
1.2.1.1 Hiếu là báo đáp công lao sinh thành dưỡng dục của cha mẹ khi còn sống và tế tự khi qua đời
Từ xa xưa, văn hóa ứng xử trong gia đình đã được ông cha ta đặc biệtcoi trọng Từ những bài học ứng xử với những hành vi cụ thể như “học ăn,học nói, học gói, học mở” đến những bài học đạo lý sâu xa, thâm thúy nhưtrọng tình nghĩ, hiếu đức với cha mẹ, ông bà, tiên tổ Từ lúc sinh ra làmngười, dù ở bất kỳ hoàn cảnh nào, ai ai cũng được đặt trong sự gắn bóthiêng liêng của tình mẫu tử, phụ tử “Phụ tử tình thâm”, “Xương cha, damẹ”, “cá chuối đắm đuối vì con” Tình thương yêu, sự hi sinh của cha mẹdành cho con cái lớn như núi cao, mênh mông bao la như biển nước Sự hisinh đó bắt đầu ngay từ khi con cái bắt đầu có hình hài: “Người chửa, cửamả”, “Sinh được một con, mất một hòn máu” Rồi khi lọt lòng, nuôi con quanhững tháng ngày thơ dại, biết bao nhọc nhằn, hi sinh cho con từng giấc ngủ
Trang 36ngon, chăm chút cho con từng tháng ngày: “Chỗ ướt mẹ nằm, ráo xê conlại” Mỗi ngày con lớn khôn hơn là mỗi ngày con lấy đi tuổi xuân, sức khỏecủa cha mẹ: “Con biết nói, mẹ hói đầu”, “Con biết ngồi, mẹ rời tay”, “Conlên ba, mẹ sa xương sườn” Và rồi khi lớn khôn, ơn dưỡng dục của cha mẹvẫn theo suốt trên mỗi bước đường đời của con cái “Cha mẹ ngoảnh mặt đicon dại, cha mẹ ngoảnh mặt lại con khôn” Tình thương yêu vô bờ bến củacha mẹ dành cho con cái mọi thời đại không thay đổi Chính vì vậy, con cáiphải lấy đạo Hiếu để báo đáp công lao khó nhọc của cha mẹ.
Con cái báo hiếu với cha mẹ là trách nhiệm, là nghĩa vụ, là đền ơn vớingười đã sinh thành, nuôi dưỡng Báo Hiếu thể hiện ở việc quan tâm, chămsóc, dưỡng nuôi cha mẹ, đặc biệt là khi cha mẹ già yếu, không còn khả nănglao động Khi cha mẹ khuất núi người con có hiếu cũng phải lo ma chay, tế
tự cho thật chu đáo
Hiếu trong gia đình truyền thống ở Việt Nam còn được xếp thành babậc Hiếu hay còn gọi là Hiếu đại tam: gồm đại Hiếu, trung Hiếu và tiểu Hiếu
Thứ nhất, đại Hiếu tôn thân tức là mang lại niềm vui, niềm tự hào cho
cha mẹ Con cái thực hiện được điều này thì được coi là đại Hiếu Ngườicon có thể làm cho cha mẹ luôn đẹp lòng, vinh hiển với xóm làng, xã hộiđược coi là cách thể hiện tấm lòng hiếu thảo với cha mẹ một cách thiết thựcnhất và có giá trị nhất Tùy theo hoàn cảnh, điều kiện và lứa tuổi mà con cái
có thể làm cho cha mẹ vui lòng, vinh hiển bằng nhiều cách khác nhau Điềukhiến cha mẹ đẹp lòng và tự hào nhất là khi con cái biết tìm cách lập thânhoặc tạo dựng nên sự nghiệp mang lại lợi ích cho gia đình và xã hội, làmcho cha mẹ được vẻ vang Người con nào chăm chỉ học hành, đỗ đạt và ralàm quan cũng là một biểu hiện của đại Hiếu Một người đỗ đạt cao làmquan cũng đủ làm cho gia đình được vinh hiển Đó là một biểu hiện cụ thể
của lòng biết ơn, là kết quả của lòng hiếu kính với cha mẹ “Mai ngày treo
biển đề tên/ Khoa khôi lại gặp được thì thánh minh/ Lộc giời tước nước hiền vinh/ Báo đền đôi đức dưỡng sinh bấy chầy”.
Trang 37Thứ hai, thứ kỳ bất nhục (trung Hiếu) Tức là con cái không làm điều
gì khiến cha mẹ xấu hổ, lo lắng, phiền lòng Thực hiện được đại hiếu, làmcho cha mẹ được vinh hiển không phải ai cũng có thể làm được Người connào không thể làm cho cha mẹ được vinh hiển với xã hội nhưng không đểcho cha mẹ buồn phiền, lo lắng, nhất là mang tiếng xấu với xã hội thì cũngđược xếp vào trung Hiếu Trong xã hội xưa, nếu ai đó làm điều gì xấu thìkhông những mang tiếng xấu cho người đó mà còn mang tiếng xấu cho cảcha mẹ, gia đình, dòng họ Vì vậy, con cháu gây ra những điều mang tiếngxấu thì dù còn sống hay đã chết đều bị xem là bất hiếu
Thứ ba, hạ kỳ năng dưỡng (tiểu Hiếu) Tức là con cái phải thành kính,
nuôi dưỡng cha mẹ lúc về già Người xưa quan niệm rằng, con cái chỉ nuôiđược cha mẹ già yếu thì được coi là tiểu Hiếu mà thôi Người Việt rất trọngtình trọng nghĩa, chữ Hiếu quý nhất ở lòng thành Cho nên người con hiếuthảo phải biết phụng dưỡng cha mẹ già hết mực chu đáo bằng cả tấm lòngthành kính Con cái nuôi cha mẹ lúc cha mẹ già yếu mà “mặt nặng mày nhẹ”thì dù có sung sướng về vật chất đến đâu cha mẹ cũng không thấy vui vẻ,hạnh phúc Bởi thái độ, cách cư xử của con cái với cha mẹ mới là quantrọng Đó mới là thước đo của đạo Hiếu Vì vậy, con cái phụng dưỡng cha
mẹ cũng tùy vào hoàn cảnh của họ chứ không quá chú trọng hình thức vật
chất bên ngoài Nếu nghèo khó thì chỉ cần “đói lòng ăn bát cháo môn/ Để
cơm dâng mẹ, mẹ già yếu răng”; còn nếu như giàu có thì “Tôm càng lột vỏ
bỏ đuôi/ Giã gạo cho trắng mà nuôi mẹ già”.
Ngoài ra, trong quan niệm của người Việt truyền thống, những ngườicon bất hiếu là những người không vâng lời cha mẹ, không biết thông cảmvới những vất vả, khó nhọc của gia đình mà ngược lại chỉ biết tụ tập, đàn
đúm ăn chơi “Mẹ sớm chiều ngược xuôi vất vả/ Con đẫy ngày đám dưới
đám trên” Hoặc là con cái vô tâm, đua đòi với bạn bè mà bỏ quên gia cảnh
nghèo khó của gia đình mình “Mẹ già hết gạo treo niêu/ Mà anh khăn đỏ,
khăn điều vắt vai” Hoặc là phụng dưỡng cha mẹ mà mặt nặng, mặt nhẹ, kể
công khó nhọc: “mẹ nuôi con biển hồ lai láng/ Con nuôi mẹ kể tháng kể
Trang 38ngày” Nặng hơn nữa là con cái làm điều xằng bậy, làm ảnh hưởng, gây
điều tiếng xấu đến cha mẹ Những người con như vậy đều được xem là bấthiếu Trong Quốc triều hình luật, điều thứ hai cũng ghi rất rõ ràng rằng concái bất hiếu với cha mẹ là một trong thập ác Thậm chí cũng có cả nhữngquy định về xử phạt đối với tội bất hiếu như phạt roi, phạt tiền, bãi chức,nêu tên nơi công cộng, công khai tội trước dân chúng…
Việc báo hiếu với cha mẹ không chỉ là quan tâm, chăm sóc khi cha mẹ,ông bà còn sống mà còn là trách nhiệm mai táng, cúng tế cho đúng lễ (thậnchung chi viễn) khi ông bà, cha mẹ khuất núi Làm như vậy, không những làmột cách tri ân công lao sinh thành dưỡng dục của ông bà, cha mẹ mà còn làcách ứng xử với người đang sống, giáo dục cho họ phải luôn nhớ đến cônglao của người đã khuất đối với con cháu Người xưa cũng coi khinh và lên
án những đứa con cái đối xử tệ bạc hoặc vô tâm với cha mẹ khi sống nhưngkhi cha mẹ mất đi lại tổ chức tang ma linh đình Những người như vậy, dẫu
có khóc lóc thẳm thiết cũng chẳng ích gì, chỉ thêm điều tiếng khinh miệt của
làng xóm, họ hàng mà thôi “Lúc sống thì chẳng cho ăn/ Đến khi thác xuống
làm văn tế ruồi”.
1.2.1.2 Hiếu là tôn kính tổ tông, biết kế thừa và phát huy ý chí của
tổ tiên, truyền thống của gia đình, dòng họ
Tổ tiên là những người cùng dòng họ hiện không còn sống Hoặc lànhững ông tổ có công gây dựng thôn, làng Dù ở địa vị nào, dù ở bất kỳ nơiđâu, sống trong hoàn cảnh nào, ông cha ta luôn nhắc nhở con cháu đừngquên cội nguồn của mình
Con người có tổ có tôngNhư cây có cội, như sông có nguồnPhong tục người Việt luôn nhắc nhớ con cháu phải ghi khắc tình cha,nghĩa mẹ và đồng thời nhớ đến công đức của ông bà, tổ tiên Cha mẹ làngười sinh ra ta, ông bà là người sinh ra cha mẹ ta Có ông bà mới có cha
mẹ ta Bởi vậy, đạo Hiếu của người Việt không chỉ dừng lại ở thờ cha, kính
mẹ mà còn phải thờ kính ông bà, tổ tiên Đối với cha mẹ còn sống thì báo
Trang 39đáp công ơn dưỡng dục bằng cách chăm sóc, phụng dưỡng hay là tế tự khiqua đời Nhưng tổ tiên là những người đã từng sống trong quá khứ màchúng ta không thể biết mặt thì cách để thể hiện lòng tôn kính đó chính bằngviệc kế thừa, phát huy ý chí của tổ tiên, dòng họ Đó là thực hiện tốt di chúccủa tổ tiên, phát triển sự nghiệp của tổ tiên để lại chính là tinh thần, tráchnhiệm của những người con, cháu Để làm được điều đó, đòi hỏi mỗi ngườicũng phải cố gắng rèn luyện, hoàn thiện bản thân, phấn đấu thành công,thành danh Như vậy, động lực lớn để mỗi người Việt mang trong mình ýchí rèn luyện, hoàn thiện bản thân, thành công lại cũng chính bắt nguồn từđạo Hiếu Hiếu đạo của người Việt sâu sắc và thâm thúy là vì vậy.
1.2.1.3 Hiếu là sinh con, dạy con, nối dõi tông đường
Đối với các gia đình Việt truyền thống, không có gì hạnh phúc bằngsinh được đứa con vì đó là sự gắn bó giữa tình vợ chồng, là kế thừa dòng họ,
trước khi trở thành người con của đất nước Vì vậy mà tục ngữ có câu “Một
mặt con bằng mười mặt của”, và “Có vàng, vàng chẳng hay phô/ Có con, con nói trầm trồ mẹ nghe” Đó là biểu hiện của niềm vui, hạnh phúc và giá trị
không gì sánh nổi khi đứa con xuất hiện trong gia đình Đối với người con traitrong gia đình Việt Nam truyền thống thì việc lấy vợ, sinh con để phát triểndòng họ, kế thừa tổ nghiệp, làm rạng danh gia đình, dòng tộc còn là một tráchnhiệm, nghĩa vụ, một cách thức báo hiếu Gia đình nào đông con và con cháuđược nuôi dạy ngoan ngoãn thì được xem là có phúc Ngược lại nếu như ngườicon trai nào mà không lấy vợ, sinh con để nối dõi tông đường thì phạm tội bất
hiếu “Có con tội sống, không con tội chết” Người xưa cũng quan niệm rằng
chỉ có con trai mới làm nên nghiệp lớn, vì thế mà gia đình nào càng có nhiều
con trai càng được xem là gia đình có phúc bởi “con gái là con người ta”.
Cũng vì như vậy nên cháu trai cũng chính là niềm mong mỏi lớn của ông bà.Chuyện trai năm thê bảy thiếp để ông bà có cháu trai được coi là bình thườngtrong xã hội, được người ta dễ dàng chấp nhận Đây cũng chính là mảnh đất
màu mỡ nuôi dưỡng tư tưởng trọng nam khinh nữ, “Nhất nam viết hữu, thập
nữ viết vô” (có một người con trai cũng được gọi là có, còn dẫu có mười người
con gái thì cũng coi như không có gì)
Trang 40Tóm lại dù diễn đạt như thế nào đi nữa thì Hiếu đạo trong tâm thứcngười Việt vẫn đọng lại ở lòng thành kính biết ơn đối với cha mẹ, ông bà, tổtiên và thể hiện ra bằng hành động báo đáp công ơn đó
Trong cuốn Ca dao tục ngữ về quan hệ gia đình tác giả Phạm Việt
Long đã thống kê, tổng hợp được 730 câu tục ngữ nói về quan hệ gia đìnhtrong tổng số 7.040 câu tục ngữ mà tác giả đã tổng hợp được, chiếm 10, 36
% Còn trong số 11.825 câu ca dao thì có 1.179 câu nói về quan hệ gia đình,chiếm 9,97 % Điều này chứng tỏ người Việt Nam từ xa xưa rất quan tâmđến vấn đề gia đình Bởi ca dao, tục ngữ của người Việt chính là hình thứcbiểu hiện của phong tục Hiếu đạo trong gia đình Việt Nam truyền thống.Khác với Nho giáo, chữ Hiếu của người Việt không chỉ bó hẹp trong phạm
vi gia đình, trong mối quan hệ chính là cha mẹ và con cái, mà Hiếu được mởrộng hơn, thể hiện sự biết ơn đối với các thế hệ đi trước Cụ thể là sự kínhtrọng và biết ơn với ông bà, tổ tiên Ngay trong Luật Hồng Đức cũng có quyđịnh người cao tuổi không phải đóng thuế thân, nếu mắc tội thì được giảmnhẹ… Đó là một thuần phong mỹ tục “kính lão đắc thọ” của người Việtđược duy trì cho đến ngày nay
Từ đó có thể khẳng định rằng, trong gia phong của gia đình truyềnthống Việt Nam, đạo Hiếu là một nội dung quan trọng trong giáo dục đạođức Quan niệm đó được nhấn mạnh, đề cao và mang tính nhân bản sâu sắc
Nó nghiêng về giáo dục thái độ, lòng thành kính, biết ơn của con cái đối vớicha mẹ Từ đó dẫn đến tình cảm kính yêu và trách nhiệm phụng dưỡng cha
mẹ, ông bà, những bậc trên trong gia đình Đối với người Việt, thực hiệnđạo Hiếu với mỗi người không chỉ là thể hiện tấm lòng tri ân của bản thân
họ mà còn là để giáo dục con cái, giáo dục thế hệ sau nữa
Nếu mình hiếu với mẹ cha Thì con cũng hiếu với ta khác gì Nếu mình ăn ở vô nghì Đừng mong con hiếu làm gì hoài công!