1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

NGũ GIớI, THậP THIệN TRONG đạo PHậT và ý NGHĩA của nó đối với GIáO dục đạo đức CHO THANH NIÊN VIệT NAM HIệN NAY

113 591 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 113
Dung lượng 184,09 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chính vì vậy con người quay trở lại với những giá trị đạo đứctruyền thống tốt đẹp trong đó có những giáo lý sâu xa của đạo Phật, đặc biệt là tư tưởng về ngũ giới, thập thiện để giáo dục

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC TRIẾT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Phạm Văn Chín

HÀ NỘI - 2015 LỜI CẢM ƠN

Trang 2

Em xin trân trọng cảm ơn PGS.TS.Phạm Văn Chín - người hướng dẫn khoa học đã tận tình chỉ bảo, giúp đỡ em trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn.

Em cũng xin bày tỏ lòng biết ơn tới các thầy cô giáo khoa Triết học trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã nhiệt tình giảng dạy và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho chúng em trong thời gian học tập và nghiên cứu tại trường.

-Em xin chân thành cảm ơn phòng Sau Đại học, Thư viện trường, Thư viện khoa - trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã tạo điều kiện giúp đỡ và cung cấp cho em nguồn tài liệu quý giá.

Em cũng xin gửi lời cảm ơn tới bạn bè, đồng nghiệp, người thân

đã tạo điều kiện, động viên giúp đỡ em trong quá trình học tập và nghiên cứu.

Hà Nội, ngày 06 tháng 08 năm 2015

Tác giả luận văn

Từ Thị Mùi

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu 2

3 Mục đích, đối tượng, phạm vi nghiên cứu của luận văn 5

4 Tóm tắt những luận điểm cơ bản và đóng góp mới của luận văn 6

5 Phương pháp nghiên cứu 6

6 Kết cấu của đề tài 6

NỘI DUNG 7

Chương 1: NGŨ GIỚI, THẬP THIỆN - MỘT TRONG NHỮNG GIÁO LUẬT 7

CƠ BẢN CỦA ĐẠO PHẬT 7

1.1 Ngũ giới trong đạo Phật 7

1.1.1 Khái quát về “giới”, “luật”, “giới luật” 8

1.1.2 Nội dung của ngũ giới 9

1.2 Thập thiện trong đạo Phật 25

1.2.1 Khái quát về thập thiện 25

1.2.2 Nội dung của thập thiện 27

Tiểu kết chương 1 33

Chương 2 34

Ý NGHĨA CỦA NGŨ GIỚI, THẬP THIỆN ĐỐI VỚI GIÁO DỤC 34

ĐẠO ĐỨC CHO THANH NIÊN VIỆT NAM HIỆN NAY 34

2.1 Sự cần thiết phải giáo dục đạo đức cho thanh niên Việt Nam theo tinh thần ngũ giới, thập thiện 34

2.1.1 Đặc điểm của thanh niên Việt Nam 35

2.1.2 Thực trạng vấn đề đạo đức trong thanh niên Việt Nam 40

2.1.3 Nguyên nhân của thực trạng xuống cấp đạo đức trong thanh niên 46

Trang 5

2.2 Ý nghĩa đối với giáo dục đạo đức cho thanh niên Việt Nam của ngũ

giới, thập thiện 55

2.2.1 Ý nghĩa của thân nghiệp đối với giáo dục ý thức bảo vệ môi trường, chống bạo lực cho thế hệ thanh niên 55

2.2.2 Ý nghĩa của ý nghiệp đối với giáo dục lý tưởng sống cho thế hệ thanh niên 64

2.2.3 Ý nghĩa của khẩu nghiệp đối với giáo dục phong cách giao tiếp, ứng xử cho thế hệ thanh niên 78

2.3 Một số giải pháp kế thừa ngũ giới, thập thiện nhằm nâng cao hiệu quả trong việc giáo dục đạo đức cho thanh niên Việt Nam hiện nay 86

2.3.1 Đối với gia đình 86

2.3.2 Đối với nhà trường 91

2.3.3 Đối với xã hội 93

2.3.4 Đối với bản thân 97

Tiểu kết chương 2 100

KẾT LUẬN 101

TÀI LIỆU THAM KHẢO 103

Trang 6

Ở Việt Nam, đạo Phật từ khi được du nhập vẫn luôn đồng hànhcùng dân tộc trên con đường dựng nước và giữ nước Giáo lý nhà Phậtảnh hưởng sâu sắc tới đời sống văn hóa, tinh thần cũng như đạo đức củanhân dân Những lời dạy của đức Phật vẫn luôn là khuôn phép, chuẩn mực

để con người điều chỉnh hành vi, tu thân dưỡng tính và giáo dục con cháu

Ngày nay, cùng với công cuộc đổi mới, quá trình công nghiệp hóa, hiệnđại hóa và thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội đã đem lại cho đất

Trang 7

nước những biến đổi sâu sắc, đạt được những thành tựu to lớn và quan trọngtrên nhiều phương diện Song thời cơ và thách thức, thuận lợi và khó khăn,được và mất luôn đồng hành cùng nhau Bên cạnh những thành quả đạtđược, trong vòng xoáy của quá trình toàn cầu hóa cũng như những tác độngcủa làn sóng hội nhập, nhiều giá trị truyền thống bị đảo lộn, con người chịutác động của nhiều yếu tố tiêu cực dẫn đến sự tha hóa nhân cách, xuống cấp

về đạo đức

Làn sóng mở cửa ảnh hưởng đặc biệt tới thế hệ thanh niên Những biểuhiện của lối sống buông thả, thích hưởng thụ, vô cảm, phai nhạt lý tưởng,sống thiếu mục đích… những năm gần đây của bộ phận không nhỏ thanh niên

đã gióng lên hồi chuông cảnh báo về hiện tượng suy thoái đạo đức trong giớitrẻ Nó đặt ra yêu cầu với toàn xã hội cần phải có biện pháp, hướng đi tích cực

và cụ thể để giáo dục đạo đức cho toàn xã hội nói chung, cho thế hệ thanhniên nói riêng Chính vì vậy con người quay trở lại với những giá trị đạo đứctruyền thống tốt đẹp trong đó có những giáo lý sâu xa của đạo Phật, đặc biệt

là tư tưởng về ngũ giới, thập thiện để giáo dục thế hệ thanh niên – chủ nhântương lai của dân tộc, rường cột của đất nước

Với những suy nghĩ như trên, tác giả chọn đề tài: “Ngũ giới, thập thiện

trong đạo Phật và ý nghĩa của nó đối với giáo dục đạo đức cho thanh niên Việt Nam hiện nay” làm luận văn của mình.

2 Lịch sử nghiên cứu

Các tư liệu về đạo Phật

Ngũ giới, thập thiện là một trong những hạt nhân cơ bản của đạo Phật.Đây là một trong những giới luật cơ bản mà bất kì một môn đồ nào của Phậtcũng phải tu tập để đạt đến giải thoát và nó có ý nghĩa giáo dục to lớn đối vớimọi người Chính vì vậy khi nghiên cứu về đạo Phật không thể bỏ qua những

tư tưởng này

Trang 8

Đầu tiên chúng ta phải kể đến bộ sách “Phật học cơ bản”gồm 4 tập,

được biên soạn bởi nhiều tác giả do Ban Hoàng pháp Trung Ương, Giáo HộiPhật giáo Việt Nam biên soạn Tác giả đã trình bày theo thứ tự từ các vấn đềPhật học căn bản cho đến các chủ đề giáo lý chuyên sâu, tuy nhiên ngũ giới,thập thiện thì chỉ mới điểm qua những nội dung cơ bản mà chưa có sự đi sâuphân tích, chưa chỉ ra được giá trị của tư tưởng này với cuộc sống

Cuốn sách tiếp theo không thể bỏ qua là cuốn “An bình trong từng

bước đi - Con đường thức tỉnh trong cuộc sống hàng ngày” của Thích Nhất

Hạnh Tác giả đã trình bày một cách sâu sắc về sự vận động của cuộc sống vàchỉ ra cách để chúng ta tìm được an bình cho bản thân và thương yêu chúngsinh Tác giả cũng đã bàn về tư tưởng ngũ giới, thập thiện và chỉ ra đó là mộttrong những con đường đến với sự an bình trong cuộc sống, song mới chỉdừng lại ở bước khái quát sơ lược mà chưa đưa ra những phân tích đánh giá

về vai trò của tư tưởng này đối với thực tiễn cuộc sống

Trong giai đoạn hiện nay những nhận thức về đạo Phật đã có nhiều sựthay đổi Chính vì thế khi nghiên cứu về tư tưởng ngũ giới, thập thiện của đạoPhật với vấn đề giáo dục đạo đức cho thanh niên hiện nay, chúng ta không thể

bỏ qua một cuốn sách rất hay về Phật giáo mà những quan điểm nhận thứcmới về đạo Phật trong xã hội hiện nay đã được trình bày một cách sâu sắc

trong cuốn sách của Thạc Đức với tựa đề “Đạo Phật qua nhận thức mới” Tác

giả đã phân tích khá sâu sắc về tư tưởng ngũ giới, thập thiện và chỉ ra đượctinh thần nhập thế của nó trong nhịp sống hiện nay

Như vậy, có thể thấy rằng những nghiên cứu về ngũ giới, thập thiện củađạo Phật đã có rất nhiều công trình dưới nhiều hình thức khác nhau Tuynhiên, chúng ta cũng thấy rằng những công trình nghiên cứu về ngũ giới, thậpthiện vẫn còn thiếu tính hệ thống và hầu như chưa có sự gắn kết với việc giáodục đạo đức - một vấn đề bức xúc đặt ra cho xã hội Việt Nam hiện nay Đócũng là một khó khăn thử thách đối với công trình nghiên cứu này và đó cũng

Trang 9

chính là nhu cầu cần tìm hiểu hơn về ngũ giới, thập thiện và ý nghĩa của tưtưởng này đối với vấn đề giáo dục đạo đức cho thanh niên Việt Nam hiện nay.

Tư liệu về giáo dục đạo đức cho thanh niên Việt Nam

Trong cuốn sách “Về đạo đức” của lãnh tụ Hồ Chí Minh đã trình bày

quan điểm chung về đạo đức và lý tưởng đạo đức của chủ tịch Hồ Chí Minh.Một số nguyên tắc và chuẩn mực đạo đức mới đối với các tầng lớp nhân dântheo quan điểm của Người Con đường hình thành đạo đức mới

Trong cuốn “Thanh niên với đạo đức cộng sản” (1962) Tác giả Đào

Tùng đã bàn về các vấn đề như: Giáo dục đạo đức cộng sản cho thanh niên;giác ngộ tinh thần cách mạng, phát huy tính tự giác và nhiệt tình lao động,lòng yêu nước, tinh thần nhân đạo cộng sản đối với thanh niên Việt Nam,

Tác giả Văn Tùng trong tác phẩm “Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục

đạo đức cách mạng cho đoàn viên, thanh niên” đã khái quát về tình hình

thanh niên nước ta trong mấy năm đầu bước vào thế kỷ XXI; tính toàn diện và

hệ thống về giáo dục và bồi dưỡng đạo đức cách mạng trong tư tưởng của chủtịch Hồ Chí Minh; Hồ Chí Minh với vấn đề giáo dục đạo đức cách mạng chocán bộ, đoàn viên, thanh niên

“Đạo đức học”:dùng cho các trường đại học và cao đẳng Sư phạm của

tác giả Phạm Khắc Chương, Nguyễn Thị Yến Phương đã trình bày tổng quan

về đạo đức học; mối quan hệ giữa đạo đức và các hình thái ý thức xã hội; một

số phạm trù cơ bản của đạo đức học; trình bày những truyền thống đạo đức tốtđẹp của dân tộc ta và vấn đề giáo dục đạo đức cho học sinh phổ thông cũngnhư học tập, tu dưỡng đạo đức cách mạng của chủ tịch Hồ Chí Minh; giớithiệu một số phương pháp giảng dạy và giáo dục đạo đức cho học sinh trongnhà trường phổ thông

“Giáo dục đạo đức mới cho sinh viên trong điều kiện kinh tế thị trường

ở Việt Nam hiện nay” của tập thể tác giả Lương Gia Ban, Nguyễn Thế Kiệt

(chủ biên), Hoàng Anh đã phân tích tầm quan trọng và nội dung giáo dục đạo

Trang 10

đức mới cho sinh viên, khái quát thực trạng và những vấn đề đặt ra trong việcgiáo dục đạo đức mới cho sinh viên Đồng thời nhóm tác giả đã đề xuất một

số phương pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác giáo dục đạo đức mới chosinh viên trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam

Ngoài ra, còn nhiều công trình nghiên cứu khác Trong đó cần phải kể

đến là luận văn tiến sĩ của Trần Sỹ Phán với nhan đề“Giáo dục đạo đức đối

với sự hình thành và phát triển nhân cách sinh viên Việt Nam trong giai đoạn hiện nay” Trong công trình này, tác giả làm sáng tỏ những nhân tố tác động

đến sự hình thành, phát triển nhân cách của sinh viên Việt Nam hiện nay, từ

đó làm nổi bật vai trò của giáo dục đạo đức Tìm hiểu nét đặc thù của mốiquan hệ giữa giáo dục đạo đức với sự hình thành phát triển nhân cách sinhviên, đề xuất một số phương hướng, giải pháp nâng cao chất lượng hiệu quảcông tác giáo dục đạo đức cho sinh viên

Với đề tài này, tác giả muốn tiếp cận vấn đề giáo dục đạo đức cho thế

hệ thanh niên Việt Nam trong bối cảnh hiện nay từ góc độ triết học mà chủyếu là dưới góc nhìn của ngũ giới, thập thiện trong triết học đạo Phật Từ đó

đề xuất một số giải pháp góp phần giáo dục đạo đức cho thế hệ thanh niênmột cách hiệu quả và thiết thực

3 Mục đích, đối tượng, phạm vi nghiên cứu của luận văn

3.1 Mục đích nghiên cứu

Luận văn được nghiên cứu với mục đích chỉ ra những điểm tích cựccủa ngũ giới và thập thiện để từ đó vận dụng vào vấn đề giáo dục đạo đức chothanh niên Việt Nam trong bối cảnh hiện nay

3.2 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn gồm: những yếu tố của ngũ giới(không sát sinh, không trộm cắp, không tà dâm, không nói dối và không uốngrượu), thập thiện (thân nghiệp, khẩu nghiệp, ý nghiệp) trong đạo Phật vàthanh niên Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

Trang 11

3.3 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu của luận văn được khoanh vùng trong các yếu tốcủa ngũ giới, thập thiện trong đạo Phật với một số vấn đề nổi cộm trong thanhniên Việt Nam như vấn đề bảo vệ môi trường, phòng chống bạo lực, xây đắp

lý tưởng, văn hóa giao tiếp ứng xử

4 Tóm tắt những luận điểm cơ bản và đóng góp mới của luận văn

4.1 Tóm tắt những luận điểm cơ bản

Đề tài phân tích sâu sắc, làm rõ nội dung của ngũ giới, thập thiện trongđạo Phật

Làm rõ các vấn đề xoay quanh thực trạng đạo đức của thế hệ thanh niênViệt Nam hiện nay

Ý nghĩa của ngũ giới, thập thiện đối với giáo dục đạo đức cho thanhniên Việt Nam hiện nay

4.2 Đóng góp mới của luận văn

Luận văn đã khẳng định những giá trị kết tinh trong ngũ giới, thập thiện,đặc biệt là giá trị của nó với vấn đề giáo dục đạo đức thanh niên Việt Nam hiệnnay

Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo trong việc nghiên cứu,họctập và giảng dạy các môn lịch sử triết học, tôn giáo học hay các chuyên đềliên quan đến chuyên ngành tôn giáo

5 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp luận: Đề tài sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩaduy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử

- Phương pháp nghiên cứu khoa học cụ thể: Đề tài sử dụng các phươngpháp phân tích, tổng hợp, logic, lịch sử, thống kê, phương pháp liên ngành…

6 Kết cấu của đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, đề tàigồm 2 chương và 5 tiết

Trang 12

NỘI DUNG

Chương 1

NGŨ GIỚI, THẬP THIỆN - MỘT TRONG NHỮNG GIÁO LUẬT

CƠ BẢN CỦA ĐẠO PHẬT

1.1 Ngũ giới trong đạo Phật

Đạo Phật là một trào lưu triết học – tôn giáo xuất hiện vào khoảng cuốithế kỷ VI trước công nguyên Khi ấy, xã hội Ấn Độ đang diễn ra tình trạngphân chia đẳng cấp rất khắc nghiệt Chính trong bối cảnh đó, Phật giáo đã rađời nhằm chống lại sự bất bình đẳng trong xã hội Đạo Phật với triết lý đạođức nhân sinh sâu sắc đã trở thành một trong những ngọn cờ của phong tràođòi tự do và bình đẳng của xã hội Ấn Độ đương thời

Tư tưởng triết lý của đạo Phật được tập trung trong ba bộ kinh lớn gọi

là Tam tạng bao gồm: Kinh tạng, Luật tạng và Luận tạng

Về thế giới quan, đạo Phật đưa ra hệ thống quan niệm về thế giới, chorằng tất cả mọi sự vật hiện tượng xung quanh con người cũng như bản thâncon người là không có thực, chỉ là ảo, là giả, là vô minh của con người đemlại Thế giới được cấu tạo do sự nhóm hợp của các yếu tố vật chất (sắc) vàtinh thần (danh) Nhưng danh và sắc chỉ hội tụ với nhau trong một thời gianngắn rồi lại chuyển sang trạng thái khác Bản chất của sự tồn tại của thế giới

là một dòng biến đổi liên tục (vô thường), không thể tìm ra nguyên nhân đầutiên, do vậy không ai tạo ra thế giới và cũng không có cái gì là vĩnh hằng

Thế giới luôn ở trong một chu trình biến hóa không ngừng là sinh - trụ

- dị - diệt Đó là quá trình biến hóa theo quy luật nhân quả mãi mãi Một sựvật ra đời là do nguyên nhân trước nó, nhưng đồng thời nó lại trở thành củacái nguyên nhân sau nó Lý thuyết Duyên khởi của đạo Phật đã giải thích vềthực chất mối quan hệ nhân - quả trong sự vận động, biến hóa của thế giới

Trang 13

Về nhân sinh quan, đạo Phật đưa ra tư tưởng luân hồi, nghiệp báo.Luân hồi, nghiệp báo dựa trên luật nhân - quả Sự sống chết của con người là

sự hợp tan của ngũ uẩn Sau khi chết đi, con người có thể tái sinh trở lại trongcác kiếp khác, sự luân hồi giống như bánh xe quay tròn không dứt

Đạo Phật đã vạch ra nguồn gốc nỗi khổ của con người và con đườngdẫn đến sự diệt khổ nhằm giải thoát chúng sinh khỏi bể khổ của cuộc đờibằng “Tứ diệu đế”, “Thập nhị nhân duyên” và “Bát chính đạo” Đây là tưtưởng triết lý đạo đức nhân sinh cơ bản nhất của đạo Phật

Đạo Phật được du nhập vào Việt Nam từ rất sớm, khoảng thế kỷ thứ I,thứ II sau công nguyên Trải qua nhiều thăng trầm biến cố của lịch sử, đạoPhật vẫn ăn sâu bám rễ và có ảnh hưởng sâu sắc đến con người Việt Nam

1.1.1 Khái quát về “giới”, “luật”, “giới luật”

Cách đây hơn 2500 năm, đạo Phật đã ra đời cùng với các tôn giáo khác.Trong quá trình thuyết pháp, truyền đạo để giúp cho hàng đệ tử tại gia cũngnhư xuất gia ngăn ngừa các hành động xấu ác, làm mọi điều thiện để có đượccuộc sống an vui Đức Phật đã đưa ra giới luật Cho đến ngày nay, khi xã hộiloài người ngày càng phát triển thì những giới luật đó của đạo Phật khôngnhững không bị lỗi thời mà nó ngày càng tỏ ra thích ứng với xã hội hiện đại,đặc biệt là tư tưởng ngũ giới, thập thiện Ngũ giới, thập thiện không quánghiêm khắc như các giới luật khác của đạo Phật nhưng nó lại đem đến nhiềulợi ích cho cá nhân và cộng đồng Vì vậy, nếu chúng ta hiểu và áp dụng ngũgiới, thập thiện vào trong cuộc sống hàng ngày sẽ đem lại những điều tốt lànhkhông chỉ cho bản thân ta mà còn có ích cho gia đình và xã hội.Trước hết,chúng ta cần hiểu “Giới” là gì? “Luật” là gì? “Giới luật” là gì?

“Giới” theo tiếng Phạn là Sila, phiên âm là Thi-la, nghĩa là những điềungăn cấm do Đức Phật đặt ra khiến các đệ tử xuất gia và tín đồ tại gia giữ gìn

để ngăn ngừa tội lỗi

Trang 14

“Luật” theo tiếng Phạn là Vinaya, phiên âm là Tỳ-nại-gia, nghĩa là nhữngnguyên tắc, những quy phạm để sống hài hòa, hạnh phúc theo giáo pháp.

Giới cũng là luật nhưng phạm vi của luật lớn hơn giới, luật bao gồmnhiều lĩnh vực hơn giới Nói một cách khái quát, giới là tự phát tâm giữ quyluật, luật là bao hàm các phép tắc, luật lệ Giới luật là những quy định ngănngừa những điều sai trái, tà ác của các đệ tử Đức Phật nói riêng và của mọichúng sinh nói chung Giới luật của đạo Phật không phải xuất phát từ mệnhlệnh, từ ý chí của Thần Thánh như ở các tôn giáo khác Giới luật của đạo Phậtdựa vào yêu cầu của luân lý đạo đức xã hội và có tính chất đơn thuần lý tính

Như vậy, giới nói một cách ngắn gọn là “phòng phi chỉ ác” nghĩa làphòng ngừa điều phi pháp và ngăn cấm việc ác, xấu Giới còn là “chỉ ác tácthiện” nghĩa là đừng làm điều ác và phát triển điều thiện Giới là nếp sốngthanh tịnh, là nền tảng của sự giác ngộ giải thoát Do vậy, người học Phật đầutiên phải học giới luật để cho mọi hành động trong cuộc sống của chúng tađúng theo lời Phật dạy

Giới luật căn bản của đạo Phật gồm ngũ giới, thập thiện, bát giới vàthập giới của người xuất gia, giới luật của tỳ kheo, tỳ kheo ni, ngoài ra còn cógiới luật Bồ tát của đại thừa Nhưng tất cả đều lấy ngũ giới, thập thiện là nềntảng, các giới luật khác đều chỉ dựa vào ngũ giới, thập thiện mà nâng cao lênhay phân biệt chi tiết thêm mà thôi

1.1.2 Nội dung của ngũ giới

Sau khi quy y Tam bảo phải sống đúng theo giới luật mà Ðức Phật đã

đề ra, để tiến bước trên đường đạo Quy luật ấy là ngũ giới Nếu người theođạo Nho phải sống đúng theo “tam cương”, “ngũ thường”, thì người theo ÐạoPhật cũng không thể chỉ thọ tam quy mà không trì “ngũ giới”

Ngũ giới là năm điều ngăn cấm mà Phật đã đề xướng, để ngăn những

tưởng niệm ác, nói năng chẳng lành, hành động bất chính Năm điều răn ấy là:

Trang 15

Không sát sinh, không trộm cắp, không tà dâm, không nói dối, không uốngrượu.Về ngũ giới, nếu so sánh với ngũ thường của đạo Nho thì ta thấy có khánhiều nét tương đồng, không sát sinh là nhân, không trộm cướp là nghĩa,không tà dâm là lễ, không nói dối là tín, không uống rượu là trí Kẻ nho sĩ nếucương thường chẳng vẹn thì không đủ thành nhân; hàng Phật tử như quy giớichẳng tròn, không những đã hư phẩm cách, mà kiếp sau còn mất thân người(Ngũ giới bất toàn, nhân thiên lộ tuyệt).

Mỗi một điều răn được trình bày rất lôgic, bao gồm: luận giải về điềurăn, lý do vì sao Phật răn cấm và lợi ích của việc thực hiện điều răn cấm ấy

Giới cấm thứ nhất là Không sát sinh

Trong Sa di luật giới có viết : “Thượng chí chư Phật, thánh nhân, sưtăng, phụ mẫu, hạ chí quyên phi nhuyễn động, vi tế côn trùng, đản hữu mạnggiả bất đắc cố sát, hoặc giáo tha sát, hoặc kiến sát tùy hỷ” [46;131] Nghĩa là,trên chư Phật, thánh nhân, sư tăng, cha mẹ, dưới đến loài bò, bay, quậy cựa,

vi tế côn trùng, hễ có sinh mạng thì không được cố giết, hoặc thấy người giết

mà mình mừng theo

Không sát sinh là để cho mọi vật được sống trọn kiếp của nó từ loàingười cho đến loài vật Đã là con người ai chẳng muốn mưu cầu hạnh phúc, aicũng biết quý trọng thân thể, thân thể là tài sản quý giá nhất mà bất cứ ai cũngkhông có quyền xâm phạm Con người cũng như loài vật đều có hình thể, đều

có tâm thức, đều có hoạt động, có cảm giác, đều biết đau đớn, buồn vui Bởivậy, không nên xâm phạm, hủy diệt đời sống của những sinh linh, không giếthại hay gây tổn thương cho thân thể người khác Những hành động đó phảiđược lên án mạnh mẽ và ngăn chặn kịp thời Phật dạy:

“Mọi người sợ hình phạt, Mọi người sợ tử vong.

Lấy mình làm ví dụ, Không giết, không bảo giết.” [8;40].

Trang 16

Nếu tất cả nhân loại trên thế giới này đều giữ đúng giới thứ nhất củaPhật dạy, thì chiến tranh sẽ không có, mà các nghiệp sinh tử luân hồi cũngđươc giải thoát.

Phật cấm sát sinh bởi nhiều lý do

Thứ nhất, tôn trọng sự công bằng Chúng ta coi sinh mạng mình là quý,

là của báu tuyệt đối Nếu ai mưu hại, là mình chống trả triệt để bảo vệ sinhmạng Mình đã biết quý trọng thân mạng mình, tại sao lại muốn chà đạp sinhmạng người? Suy rộng ra, các loài vật cũng biết quý trọng mạng chúng Theo

lẽ công bằng, điều ta không muốn ai làm cho ta, thì cũng đừng làm cho ngườikhác hay loài khác

Thứ hai, tôn trọng Phật tính bình đẳng Chúng sinh mỗi loài tùy thânhình khác nhau, mà vẫn đồng một Phật tính Phật tính đã bình đẳng thì khôngthể viện một lý do gì để nói rằng Phật tính ở người có giá trị hơn ở vật, ở giaicấp này, màu da này có giá trị hơn ở giai cấp kia, màu da kia Sát hại một sinhvật là sát hại Phật tính

Thứ ba, nuôi dưỡng lòng từ bi Lòng từ bi của đức Phật xem mọi loàinhư con, nên Ngài không đồng ý cho Đệ tử của Ngài sát hại sinh vật bất cứtrong trường hợp nào Bởi vì đem tâm giết hại sinh mạng là lòng độc ác đãcực thịnh, tâm từ bi bị bóp chết Nhẫn tâm vô cớ giết một con vật, tính bạo áckhông kém giết một con người Nhẫn tâm làm cho kẻ khác hay vật khác phảigiẫy giụa, rên siết, quằn quại trong máu đào, trong lệ nóng trước khi trút hơithở cuối cùng, là tự giết lòng từ bi của mình, là bóp chết cái mầm thương yêurất quý báu trong tâm Như thế, khó mà tu hành để thành chính quả được ĐứcKhổng tử có dạy: Văn kỳ thanh bất nhẫn kiến kỳ thực, kiến kỳ sinh bất nhẫnkiến kỳ tử (Nghe tiếng kêu la của con vật, không nỡ ăn thịt nó; thấy nó sống,không đành thấy nó chết) Như vậy, người có tâm từ bi hay lòng nhân đềukhông nỡ sát hại người hay vật

Trang 17

Thứ tư, tránh nhân quả báo ứng oán thù Khi ta giết một người hay mộtcon vật thì sự oán hận của họ tràn trề khó dập tắt được Họ vì cô thế, vì yếusức nên bị ta giết hại Trong khi ấy, họ ôm lòng căm hận, chờ gặp dịp báo thùlại Cứ thế, mỗi ngày ta đều gieo căm hờn cho người và vật, tích lũy lâu ngày,khối oan gia ấy to hơn sức ta, ta sẽ bị nó sát hại lại Càng tạo nghiệp sát, cànglao mình vào vòng đau khổ, mãi xoay vần trong sinh tử, không có ngày ra khỏi.

Vì những lý do trên, đức Phật cấm Phật tử giết hại Không giết hại, sẽ

có những điều lợi sau đây:

Về phương diện cá nhân: một người không tàn nhẫn sát nhân, hại vật,không độc ác làm đổ máu, không lóc da, xẻ thịt, chặt đầu, thắt cổ, thì tronglòng không bứt rứt, hối hận, thân tâm được nhẹ nhàng, thanh thản, giấc ngủđược an lành, nét mặt được hiền hòa, trong sáng

Về phương diện xã hội: nếu tất cả nhân loại trên thế giới này đều giữđúng giới thứ nhất của Phật dạy đây, thì chiến tranh sẽ không có, mà cácnghiệp sinh tử luân hồi cũng được giải thoát Cho nên nếu người người khôngsát sinh, nhà nhà làm việc thiện thì sẽ chẳng bao giờ có giết chóc, chiến tranh;

xã hội luôn thái bình, thịnh trị

Trường hợp ngoại lệ: vẫn biết giết hại là tạo nhân khổ, nhưng người tạigia còn ăn mặn, còn làm công kia việc nọ, thì tránh sao khỏi phạm giới sát Ởđây không bắt buộc chúng ta phải giữ triệt để như thế, chỉ cần giữ phần quantrọng là không giết người Còn các con vật nếu tránh giết được bao nhiêu thìquý bấy nhiêu Nhất là không nên giết hại sinh vật một cách vô lý, giết đểthỏa lòng của kẻ sát sinh

Trong khi giữ giới sát, chúng ta nên đề phòng hai điều sau:

Một là, không nên để cho ác ý sinh khởi Giết một con vật lớn mà vì vô

ý hay vì tự vệ, thì cái quả của nó còn nhẹ hơn là giết một con chuồn chuồn vớicái ác ý muốn giết cho vui tay

Trang 18

Hai là, nên tránh sự huân tập trong hoàn cảnh giết hại: những đứa trẻ bélên 3, lên 5 ra sân gặp chuồn chuồn, bươm bướm chụp bắt rồi ngắt cánh, rứtđầu, nếu cha mẹ thấy mà không la rầy; đến 12, 13 tuổi, chúng sắm ná, giànthun bắt chim, đến 20, 25 tuổi, chúng đâm họng heo, giết chó, vẫn không bịngăn cấm thì sau này, quen với tính hung bạo, trong cơn giận dữ, chúng cóthể giết người không gớm tay Vậy không những chúng ta không nên để tự docho con cái quen với sự giết hại sinh vật, mà cũng không nên cho chúng mụckích những cảnh chém giết ở trong phim hay ở giữa đời.

Giới cấm thứ hai là Không trộm cắp

Không chỉ thân thể là tài sản quý giá mà những tài sản do con người tạo

ra bằng mồ hôi nước mắt cũng đáng quý, đáng trân trọng Những của cải vậtchất ấy, không ai được phép chiếm đoạt, cướp bóc Vì vậy Đức Phật đã đưa ra

giới cấm thứ hai là Không trộm cắp Tức là không làm những điều tàn ác, xấu

xa, gian dối, phi nhân nghĩa Trộm cướp là lấy những tài vật thuộc quyền sởhữu của người mà không có sự ưng thuận, hay cưỡng ép người ta ưng thuậnbằng vũ lực hay quyền hành Những vật quý giá như nhà cửa, ruộng vườn,tiền bạc, ngọc ngà cho đến vật hèn mọn như lá trầu, trái ớt người ta khôngcho mà mình tự lấy đều là trộm cướp Trộm cướp có nhiều hình thức: ỷ mạnh

bè đảng lấy của người là ăn cướp; cậy thế ỷ quyền làm tiền kẻ yếu là ăn cướp;bắt chẹt người ta trong lúc túng thiếu để cho vay nặng lãi, cầm bán giá rẻ mạt

là ăn cướp; tích trữ đầu cơ để bán giá chợ đen là ăn cướp Dùng mưu mẹo rìnhrập, lén lút lấy của người là ăn trộm; cân non, đong thiếu, lậu thuế lừa gạt,tham ô, tham nhũng, được của người ta mà không tìm cách trả lại là ăn trộm.Bất cứ hình thức nào, do lòng tham lam lấy của người bất chính đều là trộmcướp cả Những hiện tượng này trong xã hôi hiện nay vẫn còn khá phổ biến

và gây nên những bức xúc Ai cũng mong muốn giữ gìn của cải của mình, aicũng sợ mất mát thì không nên lấy của người khác Mình sợ mất của thì người

Trang 19

khác cũng sợ mất của, lấy tâm mình để suy ra tâm người và vì sự công bằngcủa cá nhân mình cũng như xã hội mà tôn trọng vật sở hữu của người khác.Muốn xã hội không có cảnh người lo sợ, nhà đề phòng thì mỗi người cần thựchiện lời khuyên này của Đức Phật.

Phật cấm trộm cướp vì những lý do sau đây:

Một là, tôn trọng sự công bằng: chúng ta không muốn ai lấy của mình,tại sao mình lại chăm chăm muốn đoạt của người? Quyền sở hữu cá nhân của

ta, ta biết tôn trọng, thì tại sao ta lại chà đạp lên quyền sở hữu của người?Làm như thế là trái lẽ công bằng Một xã hội mà thiếu công bằng thì khôngthể tồn tại lâu dài được

Hai là, tôn trọng sự bình đẳng: mỗi người đều có Phật tính như nhaunên không thể làm khổ người khác để bản thân được sung sướng Không thể

vì lợi ích của cá nhân mình mà làm mất hay lấy đi lợi ích của người khác

Ba là, nuôi dưỡng lòng từ bi: một khi vô ý đánh mất một vật gì hay một sốtiền, ta buồn khổ, ăn không ngon, ngủ không yên, vì vậy, không thể nỡ tâm lấycủa người để cho người phải khóc than, đau khổ Người ta thường nói: "Tiền tài

là huyết mạch" Như vậy, kẻ cướp đoạt của người tức là cướp đoạt xương máungười, sát hại sinh mạng người vậy Chỉ những người không có lòng thươngngười, tán tận lương tâm mới làm những việc đen tối như vậy

Bốn là, tránh nghiệp báo oán thù: trong xã hội có tổ chức, tôn trọng lẽcông bằng, thì tội trộm cướp bao giờ cũng bị trừng trị Ăn trộm thì bị đưa ratòa án tiểu hình, ăn cướp thì đưa ra tòa án đại hình Khi chưa bị bắt, kẻ trộmcướp phải tìm trăm phương ngàn kế để trốn tránh, sống chui rúc trong bóngtối Khi bị bắt, người trộm cướp phải bị trói buộc, tra khảo, ngồi tù, nhốtkhám Phận mình đã cực thân khổ trí, lại cho gia đình mình, cha mẹ, vợ concũng buồn rầu, xấu hổ, và mất hết cả hy vọng ở tương lai

Nhưng nếu luật pháp thế gian không trừng trị, thì người trộm cướp không

Trang 20

thoát khỏi luật nhân quả nghiệp báo Trộm cướp của người thì sẽ bị người trộmcướp lại, gây bao thù oán khổ đau Phật dạy: "Tài sắc đối với người, ngườikhông bỏ được, chẳng khác nào trên lưỡi dao có dính chút mật, không đủ mộtbữa ăn ngon, thế mà đứa bé liếm vào quyết sẽ bị cái họa đứt lưỡi" [44;100].Chính thế, vì tham tiền của, lắm người đã tự gieo mình vào khám đường, vào địangục Chúng ta hãy lắng nghe bài kệ cảnh tỉnh của vua Trần Thái Tông:

“Tạc bích xuyên tường ý bất hư,Thiên ban bách kế, khổ vinh cầu;

Kim sanh cầu đắc tha nhân vật,Bất giác chung thiên thọ mã ngưu

Vì những lý do trên, nên đức Phật cấm Đệ tử trộm cướp

Lợi ích của sự không trộm cướp

Về phương diện cá nhân: người không gian tham thì đời sống hiện tạiđược yên ổn, không bị đòi hỏi, giam cầm, tù tội, đi đâu cũng được người kháctin cậy, giao phó cho mình những địa vị quan trọng Người không gian thamthì đời sau được hưởng phước báu giàu sang, an vui, và con cháu nhiều đờicũng nhờ thừa hưởng âm chất của ông bà, cha mẹ mà được vinh hiển

Về phương diện xã hội: nếu một ngày nào trong xã hội không ai có tâmgian tham, trộm cướp thì nhà không cần đóng cửa, của khỏi giữ gìn, vật đánhrơi không mất, thật không còn gì sung sướng hơn Người ta khổ bởi không cócủa, nhưng kẻ có của nhiều cũng vẫn khổ, vì phải lo giữ gìn Người khôngtrộm cướp tức là đã âm thầm ban cho người khác sự an ổn rồi Dân gian cócâu: Nhân phi nghĩa bất giao, vật phi nghĩa bất thủ

Trang 21

Hành vi trộm cắp xét cho cùng là tâm tham đứng đầu, cũng có khi vìghanh ghét mà làm cho người bị tổn hại Hạn chế những hành vi, ý nghĩtrộm cướp không những không gây ra khổ đau cho người mà còn giữ chobản thân được an lành Cuộc sống nhờ vậy không bị xáo trộn và xã hội nhờvậy mà ổn định.

Nói một cách khách quan hơn, đã là con người ai cũng mưu cầu hạnhphúc Một hạnh phúc chân chính không thể xây dựng trên sự trộm cắp Tráilại, trộm cắp, bóc lột, cướp đoạt, lừa gạt dưới mọi hình thức khiến cho ngườikhác bị mất mát tiền bạc, của cải, công sức và thời gian đều đem lại nỗi khổđau cho người và cho bản thân Hạnh phúc hay khổ đau của mình và củangười luôn có sự gắn bó chặt chẽ với nhau Mình không thể hạnh phúc khingười khác đau thương và ngược lại Hạnh phúc thực sự mà chúng ta có đượcphải là kết quả của lao động chân chính chứ không thể lợi dụng hay bóc lộtsức lao động hoặc cướp đoạt tài sản của người khác Hiểu được điều đó nênĐức Phật khuyên chúng ta không trộm cướp Nếu ai cũng thực hiện được điềunày thì xã hội sẽ yên bình, tốt đẹp biết bao Xã hội không có trộm cắp thì tìnhlương thiện cần cù của con người sẽ phát triển Niềm tin giữa con người vàcon người ngày một vững chắc

Giới cấm thứ ba là Không tà dâm

Tà dâm ở đây là muốn nói về sự dâm dục phi lễ phi pháp Khi vợ chồng

có cưới hỏi đủ lễ gọi là chính; ngoài ra, lén lút lang chạ làm việc phi pháp gọi

là tà Nhưng nếu vợ chồng chính thức đi nữa, mà ăn nằm không phải chỗ, gầngũi nhau không chừng mực thì cũng thuộc về tà dâm cả Đó là nói về mặt thôthiển Nói một cách vi tế hơn, thì phàm những sự phóng tâm đắm sắc, nghĩngợi bất chính, chơi bời lả lơi, cũng thuộc về tà dâm cả Phật dạy: người tạigia phải tiết chế dục vọng, hạn chế tà dâm, người xuất gia phải đoạn tuyệthoàn toàn với dâm dục Phật pháp có câu: Sinh tử căn bổn, dục vi đệ nhất

Trang 22

(nghĩa là luân hồi sinh tử của con người do ái dục quyết định) Giới nàykhông những ngăn ngừa được những dục vọng thấp hèn mà còn giúp chúng tahướng đến một nếp sống lành mạnh Việc thực hành giới này sẽ giúp chochúng ta ngày một nỗ lực hơn trong việc ngăn ngừa và hạn chế dục vọng

trong giới hạn của luân lý xã hội cho phép Trong chương XXV kinh Tứ thập

nhị chương có ghi: “Người ái dục cũng như kẻ cầm đuốc nghịch gió mà đi, tất

không khỏi cái nạn cháy tay” [44;104]

Con người ai cũng mong muốn mình có một gia đình hạnh phúc.Nhưng có được hạnh phúc đâu phải là chuyện dễ dàng, giữ được hạnh phúclại là việc khó khăn Việc giữ hạnh phúc của gia đình mình có liên quan đếnhạnh phúc của gia đình nhà khác Mình không thể giữ hạnh phúc cho giađình mình khi đang tâm phá hoại hạnh phúc gia đình khác Trong thời đạingày nay, khi lối sống phương Tây đang có ảnh hưởng không nhỏ đến nước

ta, chủ nghĩa vật chất được ưa chuộng hơn triết lý về cuộc sống, nhiều bạntrẻ đã bước chân vào quan hệ nam nữ trong khi chuyện lập gia đình trongtương lai còn chưa chắc chắn, tình cảm còn chưa ổn định nên họ có khuynhhướng và hành động thiếu trách nhiệm đối với bản thân và gia đình, dẫn đếnchuyện hôn nhân bị hạ xuống hàng không quan trọng, làm ảnh hưởng đếnquá trình ràng buộc thiêng liêng của đời sống vợ chồng Mức độ chín chắn

và ổn định tình cảm là cần thiết để đảm bảo cho một quan hệ tình dục lànhmạnh và tốt đẹp cho cả đôi bên

Phật cấm tà dâm vì những lý do sau đây

Một là, tôn trọng sự công bằng Mỗi người ai cũng muốn gia đình mìnhđầm ấm yên vui, vợ con mình đoan chính, thì sao lại đi phá hại gia cương,làm nhục nhã tông môn người, đưa vợ con người vào con đường dâm loạn

Hai là, bảo vệ hạnh phúc gia đình Không gì đau khổ, đen tối hơn, khimột gia đình mà người chồng hoặc vợ có dạ riêng tư, tà vạy Hạnh phúc đâu

Trang 23

còn, khi chồng vợ không tin nhau Khi một gia đình lâm vào cảnh ấy, thì concái sẽ xấu hổ, bê tha, côi cút, bà con không đoái hoài đến, sự nghiệp tan tành,làng xóm chê bai, danh giá hoen ố Điều kiện thiết yếu để giữ vững hạnh phúcgia đình chính là lòng chung thủy của hai vợ chồng Người ta thường bảo:Thuận vợ thuận chồng, tát bể Đông cũng cạn Vì sự tà tâm của một trong haingười bạn đường mà trong gia đình thường xảy ra ghen tuông, cãi vã, đánh đập

có khi đến gây án mạng Có khi, để trả thù, người ta thường thấy xảy ra cáicảnh "ông ăn chả, bà ăn nem" Một người chồng đang tâm dò ngó vợ conngười, thì chính vợ con họ cũng lăm le vạch rào sang nhà kẻ khác rồi Họ pháhạnh phúc gia đình người, thì chính hạnh phúc gia đình họ cũng đã tan rã trước

Cho nên cấm tà dâm là một điều kiện cần thiết để xây dựng hạnh phúccho gia đình mình và gia đình người

Ba là, tránh oán thù và quả báo xấu xa Đức Phật dạy: “Người ái dục cũngnhư kẻ cầm đuốc nghịch gió mà đi, tất không khỏi cái nạn cháy tay”[44; 104]

Thật vậy, người nào có tâm xấu xa đắm mê sắc dục, không sớm thìmuộn quyết bị hại: nếu không tan nhà mất nước, thì cũng gãy chân mất mạngbởi mũi súng, ngọn gươm Xưa nay những kết quả thảm khốc đen tối do sựđắm mê sắc dục gây ra không thiếu gì; chúng ta chỉ cần giở những cuốn sáchlịch sử hay chồng báo hằng ngày, sẽ thấy đầy rẫy trong mỗi trang, mỗiđoạn.Trong các sự oán thù, không có sự oán thù nào mãnh liệt bằng sự oánthù do sự lừa dối phụ rẫy về tình ái gây ra Các cuộc án mạng xảy ra hằngngày, phần lớn là kết quả của tà dâm

Vì thế nên sự giữ giới cấm tà dâm sẽ có những lợi ích sau đây:

Về phương diện cá nhân Kinh Thập Thiện nói: "Người thế gian không

tà hạnh thì được hưởng bốn điều lợi như sau:

Các căn (tai, mắt, mũi, lưỡi, thân, ý) đều thuận

Trang 24

Xa lìa rộn ràng.

Được đời khen ngợi

Vợ (hay chồng) không bị xâm phạm"[69; 75]

Về phương diện xã hội Trong xã hội mà ai cũng không tà hạnh, thì giađình được yên vui hạnh phúc, những sự thương luân bại lý sẽ tiêu tan, nhữngcảnh thù hiềm, chém giết không xảy ra nữa; con cái được mạnh khỏe, nângniu, xã hội sẽ cường thịnh.Nói tóm lại, cõi Ta Bà ô trọc, đau khổ này sẽ biếnthành thế giới thanh tịnh, an vui

Như vậy, trong giới này, Đức Phật không những dạy riêng cho hàngPhật tử tại gia mà còn là lời khuyên đối với con người nói chung phải biết tựkiềm chế những hành vi dâm dục của mình Phật dạy con người cần phải biếtkính trọng vợ hoặc chồng của mình cũng như vợ hoặc chồng của người Đứcthủy chung có được là nhờ biết giữ giới không tà dâm mang lại Thực hiện lờidạy của Đức Phật giúp cho xã hội ổn định, truyền thống thuần phong mỹ tụccủa tổ tiên ta từ mấy ngàn năm được giữ gìn

Giới cấm thứ tư là Không nói dối

Không nói dối tức là không bịa đặt, không nói điều ác, điều xấu Nóidối là chuyện có nói không, chuyện không nói có, nói trái với sự thật để mưuquyền thế, danh lợi… cho mình Ngược lại, nói đúng với sự thật là không nóidối Phật dạy không nói dối mà phải biết nói lời chân thật Như tất cả các nhucầu khác để sinh sống, con người có nhu cầu giao tiếp và tư duy Họ tự hìnhthành cho mình một hệ thống ngôn ngữ và dùng nó để trao đổi, chia sẻ nhữngtâm tư nguyện vọng của mình Giới luật không nói dối dạy cho con người biếtnói những lời chân thật, biết nghe những lời nói bằng cả sự cảm thông đểtránh làm tổn thương tình cảm, gây mất hòa khí và hạ thấp nhân phẩm củamình lẫn người Con người muốn tạo niềm tin và giữ vững niềm tin của mìnhtrong các mối quan hệ xã hội, trước tiên họ cần phải biết nói lời chân thật

Trang 25

Không nói dối cũng là một yếu tố liên quan đến vấn đề tôn trọng sựthật Con người biết tôn trọng sự thật họ sẽ không nói dối Ngược lại, nếu conngười không biết tôn trọng sự thật thì không có một biện pháp nào để ngănchặn các hành vi sai trái của họ Ít có hành vi bất thiện nào mà một kẻ nói dốikhông làm được Ngăn ngừa việc nói dối cũng là cách giữ gìn uy tín, danh dự

và giá trị của bản thân Giới luật này của Phật không chỉ vun bồi lòng tôntrọng sự thật mà còn dạy cho con người biết sống chân thật

Phật cấm nói sai sự thật vì những lý do sau đây:

Thứ nhất, tôn trọng sự thật Người tu theo đạo Phật phải tôn trọng sựthật Người quen với dối trá, không thiết tìm sự thật thì khó có thể chứng quảđược Chúng ta đang sống trong vọng tưởng, công việc chính của người tuhành là cố gắng phá tan vọng tưởng ấy để thấy được bản nguyện; nếu khônglàm được như thế mà trái lại còn chồng chất thêm cái vọng tưởng ấy vớinhững sự dối trá lừa phỉnh nữa, thì thật là vô cùng trái đạo

Thứ hai, nuôi dưỡng lòng từ bi Cái động lực chính của sự dối trá làlòng ích kỷ, ác độc, muốn hại người để thỏa lòng dục vọng đen tối của mình.Người bị lừa dối, phỉnh gạt phải đau khổ vì mình, có khi phải mắc thù vươngoán, tan gia bại sản Người tu hành mà làm như thế là đã tán tận lương tâm, đãbóp chết tình thương trong lòng họ rồi Một khi lòng từ bi không có nữa,nghĩa là cái động lực chính đã mất, thì sự tu hành chỉ còn là giả dối, lừa bịpngười, và tất nhiên không bao giờ có kết quả tốt

Thứ ba, bảo tồn sự trung tín trong xã hội Trong một gia đình, một đoànthể, một xã hội mà không ai tin ai, thì mọi công cuộc từ nhỏ đến lớn đều thấtbại Trong đạo Nho, một trong 5 đức tính căn bản là lòng tin "Nhân vô tín bấtlập", đó là lời dạy của Khổng Tử Hạnh phúc gia đình và xã hội không thể cóđược trong sự dối trá nghi ngờ, đố kỵ

Thứ tư, tránh nghiệp báo khổ đau Lời nói tuy không phải là lưỡi kiếm,

Trang 26

nhưng nó nguy hiểm hơn lưỡi kiếm, vì nó có hai mũi nhọn, một mũi đâm vàongười khác và một mũi đâm vào chính người dùng nó Do đó, Phật dạy: Phàm

kẻ ở đời, lưỡi búa bén nằm sẵn trong miệng, sở dĩ trảm chém mình là do lờinói ác Đã đành nói ly gián, nói xuyên tạc là để hại người, nhưng khi đã làmhại người thì thế nào người cũng hại lại mình "Ác lai ác báo" là thế Để tránh

sự thù hằn, tránh nghiệp dữ, chúng ta không nên dối trá, điêu ngoa

Lợi ích của sự không dối trá

Về phương diện cá nhân Được người trọng nể, tin cậy, không ai oánhận thù hiềm; đi đâu cũng được người xung quanh dành cho một địa vị thântín, niềm nở đón tiếp Trong nghề nghiệp làm ăn, người chân thật được nhiềuthân chủ, và được giao phó cho nhiều trọng trách cao quý

Về phương diện xã hội Gia đình và xã hội được đoàn thể trong sự tincậy Mọi công cuộc chung được xúc tiến có kết quả tốt, mọi người thươngyêu, thông cảm nhau hơn

Nói dối là một tai họa lớn lao cho mình và xã hội Tuy nhiên, cũng cóvài trường hợp ngoại lệ nên nói dối Đó là những lời nói dối ngọt ngào xuấtphát từ lòng tử tế Trong những khi vì lòng từ bi mà phải nói dối để cứu ngườihay vật Nói dối phạm tội là trong trường hợp do lòng tham, sân làm động cơthúc đẩy Ngược lại, nếu do lòng từ bi thúc đẩy mà phải nói dối thì khôngphạm tội

Ngày nay, trước sự phát triển của các phương tiện truyền thông nhưđiện thoại, tin nhắn, thư báo điện tử, máy tính hòa mạng… đã phần nào đemlại sự gần gũi và thân thiện giữa người với người trên khắp năm châu Song,hơn lúc nào hết, con người cần phải biết tôn trọng sự thật, biết giữ gìn chữ tín

để tạo nên giá trị cho bản thân mình Niềm tin giữa con người với con người

là chất gắn kết các mối quan hệ xã hội Đúng như Cổ Đức đã dạy: Một lời nóichân thật thì được muôn người tin dùng, một lời nói không chân thật thì muôn

Trang 27

việc không thành tựu Nếu ai cũng thực hiện được giới luật này thì xã hội sẽđầy ắp những tiếng cười vì con người ai ai cũng mở lòng với nhau, sống chânthành, chan hòa trong niềm hạnh phúc.

Giới cấm thứ năm là Không uống rượu

Phật dạy: uống rượu là uống tất cả rượu có khả năng làm say con người…Người tham uống rượu khi chết rồi phải đọa vào địa ngục, đời đời ngu si, rượu làthuốc cuồng làm mê loại tâm hồn còn dữ hơn cả độc dược Rượu và các chấtmen say nói chung đều bị Đức Phật cấm Những chất men say này theo thời đại

đã phát triển tràn lan và rộng rãi dưới nhiều hình thức như bia, rượu, ma túy,thuốc lắc…có tính chất gây nghiện và nguy hại đến con người Đây là những thứđầu độc con người, khiến con người dấn sâu vào cõi u tối vô minh

Rượu bia là một thức uống thông dụng gần như không thể thiếu trongcác buổi gặp gỡ, trong các buổi tiệc của người Việt Nam Quan niệm “vô tửubất thành lễ” hay “nam vô tửu như cờ vô phong” đã trở thành nếp nghĩ truyền

từ thế hệ này sang thế hệ khác của mỗi người dân Việt Nam, họ dùng rượunhư một phương tiện mua vui Trước khi uống rượu, con người có phép tắc,

đi đứng, nói năng dè dặt; nhưng khi “rượu vào thì lời ra”, họ tự do ăn nói,cười đùa, ca hát Theo y học, khi nồng độ rượu trong người ở mức 0,05miligam/lít khí thở, người uống thấy bớt bị ức chế và tăng khả năng giao tiếp,khi nồng độ tăng lên 0,1- 0,4 miligam/lít khí thở người uống bắt đầu khôngkiểm soát được hành động, khi lên đến mức 0,5 miligam/lít khí thở ngườiuống bắt đầu rơi vào tình trạng hôn mê, nếu cao hơn nữa sẽ bị liệt cơ quan hôhấp và dễ dẫn đến tử vong Uống bia rượu không những đem lại cho conngười những bệnh tật nan y mà còn làm cho thần kinh của họ bị rối loạn, đạođức xuống cấp

Hiểu được những nguy hại này đối với những người uống bia rượu,cách đây hơn 2500 năm, Đức Phật đã chế tác giới không uống rượu để các

Trang 28

Phật tử nói riêng và mọi người nói chung giữ gìn nhằm bảo vệ nhân phẩm vàsức khỏe Việc uống bia rượu bản thân nó không có gì tội lỗi nhưng do ngườiưống bia rượu đã gây tạo ra tội lỗi Chính nó là nguyên nhân đưa đẩy conngười đến chỗ phạm phá các giới trên Trong Tỳ bà sa có câu chuyện: xưa cóông cận sự tính nhân hiền, thọ trì ngũ giới không bao giờ mắc phạm Trongmột lần đi xa, giữa đường khát nước, ông mới ghé lại nhà người Chủ nhà đivắng, ông ta khát nước quá, thấy chum đựng rượu tưởng là nước uống lầm, bịsay nên phạm phải giới rượu Vừa lúc đó có con gà nhà bên cạnh chạy đến, ôngtrộm giết mà ăn, phạm giới sát sinh và giới trộm cướp Cô gái nhà bên vàokiếm gà, ông cưỡng hiếp nên phạm phải giới tà dâm Lúc này nhà cô ta thưakiện, ông chối cãi không nhận tội, nên lại phạm thêm giới nói dối Như vậy,những hành động điên cuồng khiến ông ta liên tục phạm giới chỉ bắt đầu từviệc uống rượu.

Phật cấm uống rượu vì những lý do sau đây:

Một là, bảo toàn hạt giống trí tuệ Rượu rất nguy hiểm Nó làm cho conngười trở nên mất kiểm soát, trí tuệ mê mờ, không giữ được sự minh mẫnthường ngày Vì thế, để bảo toàn hạt giống trí tuệ quý báu Phật cấm uống rượu

Hai là, ngăn ngừa những nguyên nhân sinh ra tội lỗi Rượu chính nókhông phải là một tội lỗi như sát sinh, trộm cướp, tà dâm, nhưng nó có thểlàm nhân cho những tội lỗi kia sinh ra Khi đã uống rượu vào say sưa, thì tộinào cũng có thể phạm được

Tóm lại, rượu gây rất nhiều tội lỗi Sau đây 10 tai hại của việc uốngrượu: của cải rơi mất; tăng trưởng lòng giết hại; trí tuệ kém dần; sự nghiệpchẳng thành; thân tâm nhiều khổ; thân hay tật bệnh; tâm sân hận bồng bột, ưacãi lẫy; phúc đức tiêu mòn; tuổi thọ giảm bớt; mạng chung đọa vào địa ngục

Lợi ích của sự cấm rượu

Về phương diện cá nhân Người không uống rượu thì tránh được 10

Trang 29

điều hại vừa kể trên: không mất tiền của, thân ít bệnh tật, không sinh lòng ácđộc giết hại, bớt nóng giận, trí tuệ tăng trưởng, tuổi thọ càng cao v.v

Về phương diện xã hội Gia đình được yên vui, con cái ít bệnh tật, xãhội được hòa mục, nòi giống được hùng cường

Vậy nên khi biết được những khổ đau tàn hoại thân tâm do việc uốngrượu gây ra như vậy, con người trước hết cần phải thay đổi nếp nghĩ của mình

để dẫn dắt các lời nói và hành động theo hướng vừa có lợi cho bản thân vừa

có lợi cho mọi người Ý nghĩa dùng bia rượu để mua vui, để thể hiện, để giảisầu hay để lấp đầy những khoảng trống trong tâm hồn đã không những dẫnđến sự tàn phá sức khỏe con người mà còn tạo ra những hệ lụy và tệ nạn cho

xã hội Uống rượu bia nhiều sẽ có ảnh hưởng xấu đến tim mạch, dạ dày, gan,gây ra một số bệnh nghiêm trọng dẫn đến nhiều trường hợp tử vong như: xơ

mỡ động mạch, cơn đau thắt ngực, cao huyết áp, nhồi máu cơ tim, loét dạ dày

tá tràng, ung thư gan… Uống rượu là một thói quen xấu không chỉ ảnh hưởngđến sức khỏe bản thân mà còn là nguyên nhân gây ra những xung đột tronggia đình và xã hội Bia rượu chính là chất xúc tác khiến cho tiến trình xungđột đi đến giai đoạn cuối với kết quả là sự bạo hành Những xích mích nhỏkhi uống rượu vào sẽ trở thành mấu chốt của sự tranh chấp Nghiên cứu củacác nhà khoa học Anh cho thấy, khoảng 55% số vụ bạo hành trong gia đìnhxảy ra tại những gia đình có cha mẹ nghiện rượu và rượu cũng là nguyên nhândẫn tới 90% số trường hợp trẻ em bị lợi dụng tình dục (theo BBC) Theothống kê của tổ chức Y tế thế giới năm 2007, trên thế giới mỗi năm có khoảng1,8 triệu người chết do tai nạn vì uống rượu Trong tổng số những cái chếtliên quan tới rượu, 32% do những tai nạn khách quan như tai nạn giao thông,vấp ngã …; 17,3 % do tai nạn chủ quan như đánh nhau Việc tránh uống biarượu không những đem lại một giá trị cao về nhân cách, sự đầy đặn trong tâmhồn, mà còn đem đến niềm an vui cho gia đình và sức sống lành mạnh cho

Trang 30

cộng đồng xã hội.

Chúng ta đã thấy công dụng thiết thực và lợi ích của ngũ giới Nếu tamquy là nền tảng, thì ngũ giới là năm nấc thang của người Phật tử tại gia để bướcdần lên chính quả Cho nên người Phật tử phải cố gắng giữ giới để cho xứngđáng với danh phận của mình, để đem hạnh phúc đến cho mình và chúngsinh Người không theo đạo Phật cũng nên giữ ngũ giới Ngũ giới nói trên không

có gì là cao siêu, huyền bí Ðó là một bài học công dân thông thường mà bất cứmột xã hội nào, một quốc gia nào muốn phồn thịnh, hùng cường cũng không thể

bỏ sót được Cho nên năm điều luật ấy không phải chỉ để áp dụng riêng cho giớiPhật tử, mà còn chung cho tất cả những ai muốn sống một cuộc sống lành mạnh,

an vui, có lễ nghĩa và tiến bộ Một xã hội mà mọi phần tử đều thực hiện đượcnăm giới cấm ấy, thì đó là một xã hội văn minh, phồn thịnh

1.2 Thập thiện trong đạo Phật

1.2.1 Khái quát về thập thiện

Nếu ngũ giới là phép tu bước đầu của người xuất gia thì thập thiện

cũng là nấc thang đầu tiên trên cây thang giải thoát Cho nên bất cứ người tu

tại gia hay xuất gia, pháp Tiểu thừa hay Đại thừa cũng lấy thập thiện làm Bỏ pháp thập thiện thì mọi pháp tu khác đều không đứng vững Vì thế, người học

đạo buổi ban đầu phải thâm nhập pháp thập thiện, sau đó mới tiến lên tu cácpháp thiền định

“Thiện” theo định nghĩa của phái Nam tông là không bệnh hoạn, tốt đẹp,khôn khéo, không lỗi lầm và có quả an vui Theo định nghĩa truyền thống củaPhật giáo Bắc tông là hành vi tạo tác nào không dẫn đến chân lý tuyệt đối là bấtthiện hay còn gọi là ác Theo Thành Duy Thức Luận Thuật ký thì: Những hành

vi nào đem lại kết quả tốt, lợi ích an vui cho mình và cho người ngay trong hiệntại và tương lai về sau là thiện và ngược lại là bất thiện Dù hai định nghĩa củahai tông phái không giống nhau song tựu chung, cả hai tông phái đều xem thiện

Trang 31

là những hành vi mang tính đạo đức, có lợi cho cả người tạo tác và đối tượngđược tạo tác Quan niệm này cũng phù hợp với định nghĩa của kinh Thập thiện:không phù hợp với Thánh đạo nên gọi đó là ác Hành động phủ định trái ngượcvới ác này gọi là thiện Thập thiện nói đủ là thập thiện nghiệp đạo “Thập thiện”

là mười điều lành

“Nghiệp” là tác động của thân - khẩu - ý lặp đi lặp lại thành thói quen,

nó có sức mạnh dẫn người đi thọ quả báo hoặc vui hoặc khổ Phật dạy: chúngsinh người hạ liệt kẻ cao sang, người đẹp đẽ kẻ thô xấu, người vui sướng kẻ bấthạnh đều do hạnh nghiệp của chúng Những tác động từ nơi tâm gọi là ýnghiệp, từ nơi miệng gọi là khẩu nghiệp, từ nơi thân gọi là thân nghiệp Thân -khẩu - ý của con người tạo nên nghiệp Vì vậy, đau khổ hay hạnh phúc là domình tạo ra chứ không do ai khác, không phải do tạo hóa sắp định, cũng không

do số mệnh may rủi gây nên Nghiệp trong Phật giáo khác với số mệnh Sốmệnh đã định rồi thì bất lực, không chuyển đổi được còn nghiệp thì chuyển đổiđược vì nghiệp là hành vi do con người tạo ra

Như vậy, thập thiện là mười điều lành Phật dạy cho chúng sinh nên làm

để đạt đến hạnh phúc, sướng vui Thập thiện là mười điều lành mà người thếgian nếu muốn trở thành một người hoàn thiện thì ai cũng đều phải tuân theo,với người học Phật thì mười điều lành là khuôn phép đạo đức, hạnh tu cầnphải thực hành Người học Phật, xuất gia hay tại gia nên hiểu rằng thập thiện

là con đường tu học thực dụng trong các phần giới, đó cũng là ý nghĩa củachính đạo Thế nào là chính đạo? Đó là không sát sinh, không trộm cắp,không tà hạnh, không vọng ngữ, không nói lưỡi đôi chiều, không nói lời hung

ác, không ỷ ngữ, không tham lam, không sân hận, không tà kiến Đó là ýnghĩa thập thiện cũng là chính đạo, là con đường thành tựu Giới - Định - Tuệ

Vì muốn vĩnh viễn thoát khỏi khổ đau trong luân hồi sinh tử, thoát khỏi cảnh

Trang 32

địa ngục, ngã quỷ, súc sinh thì nên tu tập thập thiện.

1.2.2 Nội dung của thập thiện

Thập thiện gồm ba nghiệp là thân nghiệp, khẩu nghiệp và ý nghiệp vìvậy thập thiện còn được gọi là thập thiện nghiệp Trong đó, thân nghiệp gồm

ba điều: không sát sinh, không trộm cướp, không tà dâm; khẩu nghiệp gồmbốn điều: không vọng ngữ, không lưỡng thiệt, không ác khẩu, không ỷ ngữ; ýnghiệp gồm ba điều: không tham, không sân, không si Song cái chủ yếu và

quyết định hành vi là thiện hay ác chính là thuộc ý nghiệp Kinh Pháp Cú đã

Hay như kinh Tăng Chi cũng nói: Phàm những pháp nào là bất thiện,

thuộc thành phần bất thiện, đứng về phía bất thiện, tất cả các pháp ấy đềuđược ý đi trước, ý khởi trước rồi các pháp bất thiện mới theo sau Phàmnhững pháp nào là thiện, thuộc về thiện, đứng về phía thiện Tất cả nhữngpháp ấy đều được ý đi trước, ý khởi trước rồi các pháp thiện mới theo sau

Trong ngũ giới, tác giả đã trình bày những điều về thân nghiệp và mộtphần của khẩu nghiệp, trong phần thập thiện này tác giả tiếp tục nghiên cứunhững điều tiếp theo trong khẩu nghiệp và ý nghiệp Đó là:

Không lưỡng thiệt Lưỡng thiệt là nói lưỡi hai chiều, nói lời đòn xóc hai

đầu tức là nói lời chia rẽ, đến người kia nói xấu người này, đến người này nóixấu người kia, xúi giục hai bên bất hòa, thân tình thù oán Người Việt ta cócâu “đòn xóc hai đầu” hay là “đâm bị thóc, thọc bị gạo” Người nói lời đòn

Trang 33

xóc, đâm chọc, gây gổ sẽ bị quả báo câm ngọng, sứt môi, hay nhiều lưỡi ĐứcPhật cho biết rằng, kẻ nói lời đòn xóc tương lai phải sa đọa ba ác đạo và ngayhiện tại bị nhiều đổ vỡ trong tình hữu nghị.

Do đó, người tu thập thiện phải từ bỏ nói lời đòn xóc, khích lệ ngườikhác từ bỏ nói lời đòn xóc, chấp nhận từ bỏ nói lời đòn xóc.Người tu thậpthiện phải tránh nói lời đôi chiều dẫn đến kết quả oan trái giữa người vàngười, không chỉ riêng lời nói mà ngay cả hành động khiến chia rẽ cũngphạm tội này

Không ác khẩu Tức là không nói nói lời hung dữ, lời ác như nói thô

tục, mắng nhiếc, chửi bới, trù rủa người Do ác khẩu đưa đến đánh đậpchém giết lẫn nhau, gây đau khổ cho nhau từ gia đình đến xã hội Thường áckhẩu hay bắt đầu từ sự sân giận, bực tức Kinh sách có câu “một cơn sân giậnđốt cả rừng công đức” Vì vậy, Phật dạy phải nói lời hiền thiện, ôn hòa, xa rờilời nói ác Đức Phật dạy người không nói lời ác khẩu là người rất đáng quýtrọng Người nào có thể đoạn tận ác ngữ, từ bỏ lời nói ác ngữ thì lời nói củangười ấy không hại, tai ưa nghe, khả ái, đi thẳng đến tâm, lễ độ, được nhiềungười ưa thích, quý trọng, kính mến Những người nói lời như vậy là ngườinói lời như mật Người tu thập thiện không được nói những lời gây xúc não,thiêu đốt tâm thức người khác mà ngược lại phải nói lời “ái dưỡng tâm thức”

Không ỷ ngữ “Ỷ” theo Hán ngữ là thêu thùa, văn vẻ Ỷ ngữ là nói lời vô

nghĩa lý, nói lời trau chuốt, bóng bẩy không trung thực Đó là những lời nóithoáng qua như nhân từ, đạo đức, thiện chí nhưng thật ra là những lời nói vớimục đích xã giao để thực hiện những ý đồ, mục đích không tốt Ỷ ngữ đều ngữthường bắt đầu bằng lòng ghanh tị, tật đố kỵ, ý muốn hại người và sắp bài âmmưu bịp người khiến họ tự sa vào đường dữ Phật dạy không nên nói lời trautruốt mà nên nói lời ngay thật Quan điểm này rất gần với quan điểm của Khổng

Tử, đó là: “Xảo ngôn lệnh sắc, tiền hỹ nhân” (lời nói ba hoa không có đức nhân)

Không nói dối, không lưỡng thiệt, không ác khẩu, không ỷ ngữ là bốn

Trang 34

nghiệp lành của miệng (khẩu) mà Đức Phật khuyên nên thực hành.

Danh ngôn có câu “gieo suy nghĩ, gặt hành động” Câu nói đó thể hiệnvai trò kim chỉ nam dẫn đường của ý nghiệp đối với hành động Ý nghiệpđúng hay sa sẽ quyết định hành vi thiện hay ác Ý nghiệp gồm tham, sân, si

Không tham Tham ở đây nói đủ là tham dục Chữ dục chỉ cho các món

ngũ dục trong nhân gian gồm: tài, sắc, danh, thực, thùy (tài lợi, sắc ái, danhvọng, ăn uống, ngủ nghỉ) Khi hành giả đối diện với năm món dục trên, tâmcuốn hút theo, lòng muốn hưởng thụ nên tìm cách thủ lấy, vì muốn đạt đượcnhững gì mình yêu thích, đôi lúc không từ thủ đoạn, dẫn đến tội lỗi Do đó,đối với ngũ dục phải giữ tâm mình không được đắm trước vào Nói chung,tham là đam mê, chấp thủ tam giới và ngũ dục Nó là đầu mối mọi khổ đau,mọi triền miên sinh tử Tham còn được định nghĩa như là một lỗi lầm, mộtchướng ngại Và hậu quả của tham được Đức Phật giảng dạy như là đầu mốicủa sự tự hại và hại người khác Chính vì thế, Đức Phật dạy rằng, đoạn trừtham dục là đoạn trừ toàn bộ đầu não của khổ uẩn Ai đoạn trừ được tham,người ấy vượt qua biển khổ khó vượt qua Vượt trói buộc, thoát chết, khôngcòn có sinh y Đoạn tận mọi khổ đau Không còn phải tái sinh Sinh tử được

đoạn diệt Do vậy, mà Kinh Bốn Mươi Hai Chương này gọi tham là một trong

những hành vi không phù hợp với Thánh đạo

Không sân Cũng như tham, sân là một trong ba tác năng dẫn khởi các

nghiệp bất thiện Mục đích của sân là nhằm tiêu diệt đối tượng, thương tổnđối tượng Nó phát xuất từ tâm lý hiếu chiến, giận dữ, căm thù, ác độc, thôtục Định nghĩa rộng của sân là: Hiềm khích trong sự vô lý, thái độ phẫn nộ,phản kháng, chống đối, giận dữ, giận hờn, nóng nảy, hãm hại, sự hiềm hận,cách hiềm hận, thái độ hiềm hận, sự đối lập, phản đối, hung hăng, lỗ mãng, sựbất bình của tâm

Nguyên nhân dẫn khởi ra sân hận được kinh mô tả như là một sự chấp

Trang 35

ngã và nặng về ngã ái Chính xuất phát từ thái độ ích kỷ, nhỏ nhen, đố kỵ, chỉmuốn yêu chuộng người thân mà không nghĩ đến tha nhân, nên người sân hận

do nhân sân hận, nghĩ đến hại mình, hại người, hại cả hai Phật còn chỉ ra rằng

vì bị phẫn nộ chinh phục, chi phối nên người sân hận luôn bị bảy tai hại sauđây đeo đuổi, ám ảnh: dung sắc trở nên xấu xí; ngủ một cách khổ sở; khônghạnh phúc, đau khổ lâu dài; vua quan tịch thu tài sản; tư cách, uy tín, thanhdanh bị mai một; bạn bè, thân thuộc sẽ lánh xa; mạng chung mê loạn, đọa ácthú vì tam nghiệp do sân mà tạo bất thiện Người tu thập thiện phải kiểm soáttâm mình và thoát thân khỏi sân hận

Không si Si là trạng thái tâm lý u mê, tăm tối và không phân biệt được

đâu là chính nên theo, đâu là tà nên bỏ Nó được xem là nguyên nhân của sinh tửluân hồi và tạo nghiệp bất thiện Chữ "Si", theo như phái Nam tông là “tà kiến"

Si được hiểu theo nghĩa rất rộng và bao quát: si là không nhận chân Tứ thánh đế,không hiểu được tam thế, không hiểu các pháp duyên tính liên quan tương sinh

Si là không lĩnh hội, không liễu ngộ, không thực chứng, không thông suốt,không xét đoán, không phản tỉnh, thiếu trí, khờ khạo, si mê, vô minh… si là thenchốt, là căn bản bất thiện Cũng đồng tính chất với hai căn bản phiền não trước làtham và sân, si luôn nghĩ đến những gì có hại cho mình cho người khác và cho

cả hai Chính vì thế, mà “si” rất khó đoạn trừ và đoạn trừ được nó là thoát khỏikhổ đau, đạt đến trạng thái vô vi, đến được cõi Niết bàn

Như vậy, mười điều thiện nêu trên được chia ra ba phần tương ứng với

ba nghiệp thân, khẩu, ý Không sát sinh, không trộm cướp, không tà dâm là bađiều thiện thuộc thân nghiệp Không nói dối, không lưỡng thiệt, không áckhẩu, không ỷ ngữ thuộc về khẩu nghiệp Không tham, không sân, không sithuộc về ý nghiệp Luận về nghiệp báo, vô lượng tội lỗi đều nương nơi thânkhẩu ý mà tạo tác Do đó, tu thập thiện là pháp môn diệt tội lỗi nơi thân, khẩu,

ý Khi thành tựu pháp môn rồi lúc đó gọi là "Tam nghiệp thanh tịnh"

Trang 36

Ngũ giới, thập thiện là những phép tu tổng quát mà Phật đưa ra nhằmrăn dạy mọi người tránh những điều ác, thi hành những điều thiện Ngườixuất gia tu hành để được giải thoát thì tu pháp Tứ đế, hoặc quán Thập nhịnhân duyên hay hành Lục độ vạn hạnh đều xuất phát từ ngũ giới, thập thiện.Nếu không tu ngũ giới, thập thiện thì dù thực hành pháp gì cũng không giảithoát được Bởi vậy, ngũ giới, thập thiện đối với người xuất gia rất hệ trọng,chính là nền tảng đạo đức Nếu nền tảng cơ bản ở dưới thiếu, mà muốn tiếnlên quả vị Thanh văn, Duyên giác, hay cầu chứng quả từ Sơ địa đến Thập địa

Bồ tát, hoặc cầu quả Phật thì khó thành tựu Vì vậy, người xuất gia không nên

bỏ qua ngũ giới, thập thiện mà tu các pháp giải thoát được

Ngũ giới, thập thiện cũng có ý nghĩa quan trọng đối với mọi ngườitrong xã hội Trong xã hội, nếu mọi người biết ứng dụng tư tưởng ngũ giới,thập thiện của đạo Phật thì gia đình, xã hội sẽ được an vui

Ngũ giới và thập thiện mới nghe qua thì tưởng như giống nhau, songthực ra lại là những bước tu khác nhau Ngũ giới là ngăn chặn điều ác, thậpthiện là tu dưỡng điều thiện Ngũ giới là những điều Phật cấm, mang tínhràng buộc; còn thập thiện là sự mở rộng và nâng cao hơn, là sự tự giác củacon người Không những không sát sinh mà còn phải cứu người; khôngnhững không trộm cắp mà còn biết giúp đỡ người khác; không nhữngkhông dâm dục mà còn phải khuyên bảo mọi người tiết dục; không nhữngkhông vọng ngôn mà còn nói nhiều lời thành thật; không những không nóilời thêu dệt mà còn nói lời của bậc chính nhân quân tử để khuyên ngườikhác làm điều thiện; không những không “đâm bị thóc chọc bị gạo”, xúigiục, thị phi mà còn luôn luôn nói lời hòa ái để mọi người có sự đoàn kết;không những không nói lời thô ác, nhục mạ người khác mà còn che giấunhững điều xấu, nêu những điều tốt và khen ngợi người khác; không nhữngkhông tham lam mà còn bố thí; không những không sân hận mà còn nhẫn

Trang 37

nhục; không những không ngu si, tà kiến mà còn hiểu biết tột cùng sự lý,tin sâu luật nhân quả Do đó, là một người Phật tử không những không làmviệc ác mà còn tự mình trở thành một người tốt, cần phải nỗ lực làm việcthiện mang lại lợi ích cho tất cả chúng sinh, có như vậy mới xứng đáng là một

đệ tử Phật có đầy đủ chính tín, chính hạnh Do vậy, thực hành thâm sâu ngũgiới, thập thiện là giáo lý thứ ba của đạo Phật

Ngũ giới, thập thiện là những giới điều căn bản nhất trong đạo Phật.Không có một loại giới nào mà không căn cứ từ ngũ giới, thập thiện mà sinh

ra Ngũ giới, thập thiện giữ được thanh tịnh thì các giới khác giới khác giữđược dễ dàng

Trang 38

do ngũ giới, thập thiện mang lại Ðức Phật đề ra giới vốn y cứ trên tâm từ bi, tríhuệ, bình đẳng, mục đích đem lại an vui trật tự cho cá nhân, gia đình, xã hội, vàlàm lợi ích cho tất cả chúng sinh Ngài chỉ đưa ra lẽ phải cùng sự lợi hại, để mỗingười tự chọn lựa lấy, chứ không bắt buộc ai phải triệt để tuân theo Chỗ đặc biệtcủa đạo Phật, chính ở nơi Đức Phật không phải là một đấng uy quyền độc tôn, tự

ý giữ phần thưởng phạt Bởi theo đạo Phật, một hành động, lời nói hoặc ý nghĩtốt hay xấu, tự nó đã mang theo ảnh hưởng vui khổ, hay phần thưởng phạt rồi.Ðức Phật chỉ là một người hướng dẫn sáng suốt, còn kết quả vui khổ chính ở nơingười biết chọn đường Tuy nhiên, cho đến ngày nay do thấy được con đường

mà Ngài chỉ ra mang đến những quả tốt đẹp và đúng đắn nên không ít người tìm

về để tin và đi theo

Trước những thực trạng lệch thang, loạn chuẩn, xuống cấp đạo đức đã

và đang diễn ra trong xã hội hiện nay, con người đang loay hoay tìm về cácgiá trị đạo đức truyền thống để điều chỉnh hành vi thì không thể bỏ qua ngũgiới, thập thiện trong đạo Phật Ngũ giới, thập thiện mang lại giá trị toàn diệntrong cả suy nghĩ, hành động và lời nói (thân nghiệp, khẩu nghiệp, ý nghiệp).Dùng ngũ giới, thập thiện giáo dục thanh niên sẽ đem lại ý nghĩa to lớn đến ýthức bảo vệ môi trường, chống bạo lực xã hội; đến giáo dục lý tưởng sống vàgiúp định hình phong cách giao tiếp ứng xử đẹp cho thế hệ trẻ

Trang 39

Theo từ điển Tiếng Việt thì “đạo đức là những phép tắc căn cứ vào chế

độ chính trị mà đặt ra để quy định quan hệ giữa người với người, giữa cá nhân

và xã hội cốt để bảo vệ chế độ kinh tế và chế độ xã hội”[43; 270]

Theo Đào Duy Anh thì: “nguyên lý tự nhiên là đạo, được vào lòngngười là đức Cái pháp lý người ta nên noi theo”[2; 25]

Quan điểm của Socrate: Ông chủ trương rằng: “một nền đạo đức thựctiễn không thể tạo dựng trên nền xã hội hoàn toàn bị lệ thuộc thần học, mộtnền đạo đức có thể phù hợp với những người có tôn giáo và cho cả nhữngngười không có tôn giáo và như vậy nền đạo đức có thể ổn định được xã hộinày không cần thần học” [75; 18]

Tóm lại “Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, là tập hợp nhữngnguyên tắc, quy tắc chuẩn mực xã hội nhằm điều chỉnh và đánh giá cáchứng xử của con người trong quan hệ với nhau và quan hệ với xã hội, chúngđược thực hiện bởi niềm tin cá nhân, bởi truyền thống và sức mạnh của dưluận xã hội” [51; 6]

Ngũ giới, thập thiện thuộc về đạo đức nhà Phật Theo hòa thượng ThíchMinh Châu thì “đạo đức nhà Phật là nết sống đưa đến hạnh phúc và an lạcngay trong đời này và đời sau Đây chính là nết sống chứ không phải là lờidạy luân lý, hạnh kiểm cần phải theo một cách máy móc thụ động và nết sống

ấy phải đem ra hành trì thực hiện, không phải để lễ bái cầu xin [6; 19]

Trang 40

Như vậy, đạo đức của đạo Phật lấy ngũ giới, thập thiện làm nền tảngcăn bản là một phần không tách rời của đạo đức xã hội nói chung Thông quacác lời dạy của Đức Phật tựu trung vẫn để khẳng định giá trị của một conngười Trên cơ sở đó, đạo đức nhà Phật giúp con người phát huy hết nhữngđặc tính ưu việt, giảm thiểu những điều đưa đến bất lợi cho chính bản thân,gia đình và xã hội

Chính từ những điểm tương đồng trên nên việc mang đạo đức nhà Phật

để giáo dục thanh niên là việc làm hợp lý và thiết thực Tuy nhiên, muốn làm

rõ ý nghĩa của nó đối với việc giáo dục đạo đức cho thanh niên hay nói cáchkhác muốn nó thâm nhập vào tầng lớp thanh niên từ đó điều chỉnh hành viđạo đức, thì một điều cần thiết là phải hiểu được đặc điểm tầng lớp thanh niênViệt Nam cũng như thực trạng đạo đức đang diễn ra trong bối cảnh hiện nay

2.1.1 Đặc điểm của thanh niên Việt Nam

Thanh niên là một khái niệm có thể được hiểu và được định nghĩa theonhiều cách khác nhau Tùy thuộc vào nội dung tiếp cận, góc độ nhìn nhận hoặccấp độ đánh giá mà người ta đưa ra các định nghĩa khác nhau về thanh niên

Theo đề tài "Tình hình tư tưởng thanh niên và công tác giáo dục

của Đoàn thanh niên giai đoạn hiện nay” thì Thanh niên là nhóm nhân

khẩu - xã hội đặc thù, có độ tuổi nhất định được phân bố rộng khắp trongcác giai cấp, các tầng lớp xã hội; trong các ngành kinh tế - xã hội của đấtnước Thanh niên được phân chia theo lứa tuổi nên có những đặc điểmriêng biệt về trình độ học vấn, sức khỏe, tâm lý, sinh lý,… Với điều kiện

cụ thể của nước ta và tình hình phát triển thể chất, tâm sinh lý và sựtrưởng thành về mặt xã hội của thanh niên Việt Nam, chúng ta có thể nhậnthấy thanh niên có những đặc điểm cơ bản sau:

Thứ nhất, thanh niên Việt Nam là một nhân khẩu xã hội đặc thù có độ tuổi từ 16 đến 30 tuổi.

Ngày đăng: 25/02/2017, 17:49

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Abhidhammapitaka (Tịnh Sự dịch) (1988), Bộ Pháp Tụ, Nxb Tôn giáo, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ Pháp Tụ
Tác giả: Abhidhammapitaka (Tịnh Sự dịch)
Nhà XB: Nxb Tôngiáo
Năm: 1988
2. Đào Duy Anh (1998), Từ điển Hán Việt, Nxb Khoa Học Xã Hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Hán Việt
Tác giả: Đào Duy Anh
Nhà XB: Nxb Khoa Học Xã Hội
Năm: 1998
3. Ban Hoằng Pháp Trung ương - Giáo Hội Phật giáo Việt Nam, Phật học cơ bản, Nxb Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh, thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phật họccơ bản
Nhà XB: Nxb Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh
4. Ban tuyên giáo trung ương (2008), Tài liệu nghiên cứu các nghị quyết hội nghị Trung ương bảy, khóa X, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu nghiên cứu các nghị quyếthội nghị Trung ương bảy, khóa X
Tác giả: Ban tuyên giáo trung ương
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2008
5. C. Mác và Ph. Ăngghen toàn tập, tập 32 (2004), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: C. Mác và Ph. Ăngghen toàn tập
Tác giả: C. Mác và Ph. Ăngghen toàn tập, tập 32
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốcgia
Năm: 2004
6. Thích Minh Châu (1995), Đạo đức học Phật giáo, Viện nghiên cứu Phật học Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đạo đức học Phật giáo
Tác giả: Thích Minh Châu
Năm: 1995
7. Thích Minh Châu (2001), Chính pháp và hạnh phúc, Nxb. Tôn Giáo, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính pháp và hạnh phúc
Tác giả: Thích Minh Châu
Nhà XB: Nxb. Tôn Giáo
Năm: 2001
8. Thích Minh Châu (2006), Kinh Pháp Cú, Nxb Tôn giáo, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh Pháp Cú
Tác giả: Thích Minh Châu
Nhà XB: Nxb Tôn giáo
Năm: 2006
9. Minh Chi (2003), Truyền thống văn hóa và Phật giáo Việt Nam, Nxb Tôn giáo, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyền thống văn hóa và Phật giáo Việt Nam
Tác giả: Minh Chi
Nhà XB: NxbTôn giáo
Năm: 2003
10. Viên Chiến (2000), Tích truyện Pháp Cú, Nxb Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh, thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tích truyện Pháp Cú
Tác giả: Viên Chiến
Nhà XB: Nxb Tổng hợp thành phố HồChí Minh
Năm: 2000
11. Nguyễn Trọng Chuẩn (1995), “Đôi điều suy nghĩ về giá trị và biến đổi của các giá trị khi nước ta chuyển sang nền kinh tế thị trường”, Tạp chí Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đôi điều suy nghĩ về giá trị và biến đổicủa các giá trị khi nước ta chuyển sang nền kinh tế thị trường”
Tác giả: Nguyễn Trọng Chuẩn
Năm: 1995
12. Nguyễn Khắc Chung (2002), Chuyện tâm linh Việt Nam, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuyện tâm linh Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Khắc Chung
Nhà XB: Nxb Văn hóadân tộc
Năm: 2002
13. Đoàn Trung Còn (2007), Lịch sử nhà Phật, Nxb Tôn giáo, Hà Nội 14. Lê Duẩn (1976), Con đường tu dưỡng rèn luyện đạo đức thanh niên,Nxb. Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử nhà Phật", Nxb Tôn giáo, Hà Nội14. Lê Duẩn (1976), "Con đường tu dưỡng rèn luyện đạo đức thanh niên
Tác giả: Đoàn Trung Còn (2007), Lịch sử nhà Phật, Nxb Tôn giáo, Hà Nội 14. Lê Duẩn
Nhà XB: Nxb Tôn giáo
Năm: 1976
15. Giác Dũng (2003), Phật Việt Nam dân tộc Việt Nam, Nxb Tôn giáo, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phật Việt Nam dân tộc Việt Nam
Tác giả: Giác Dũng
Nhà XB: Nxb Tôn giáo
Năm: 2003
16. Nguyễn Đăng Duy (1999), Phật giáo với văn hóa Việt Nam, Nxb Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phật giáo với văn hóa Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Đăng Duy
Nhà XB: Nxb Hà Nội
Năm: 1999
17. Nguyễn Hồng Dương (2004), Tôn giáo trong mối quan hệ văn hoá và phát triển ở Việt Nam, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tôn giáo trong mối quan hệ văn hoá vàphát triển ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Hồng Dương
Nhà XB: Nxb. Khoa học xã hội
Năm: 2004
18. Đại Tạng kinh Việt Nam (Thích Minh Châu) (1993), Tương Ưng bộ kinh, Nxb Tôn giáo, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tương Ưng bộkinh
Tác giả: Đại Tạng kinh Việt Nam (Thích Minh Châu)
Nhà XB: Nxb Tôn giáo
Năm: 1993
19. Đại Tạng kinh Việt Nam (Thích Minh Châu) (1996), Tăng Chi Bộ kinh, Viện Phật học Vạn Hạnh phát hành, thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tăng Chi Bộkinh
Tác giả: Đại Tạng kinh Việt Nam (Thích Minh Châu)
Năm: 1996
20. Dương Tự Đam (2003), Thanh niên học tập và làm theo tư tưởng Hồ Chí Minh, Nxb. Thanh niên, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thanh niên học tập và làm theo tư tưởng HồChí Minh
Tác giả: Dương Tự Đam
Nhà XB: Nxb. Thanh niên
Năm: 2003
21. Dương Tự Đam (2008), Tuổi trẻ Việt Nam với chủ nghĩa yêu nước trong lịch sử, Nxb Thanh niên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuổi trẻ Việt Nam với chủ nghĩa yêu nướctrong lịch sử
Tác giả: Dương Tự Đam
Nhà XB: Nxb Thanh niên
Năm: 2008

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w