Hơn nữa, nước ta lại đang trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội với mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng văn minh [12; 239], việc quan tâm làm thế nào để giảm sự p
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
-NGÔ THỊ ÁNH TUYẾT
GIẢM THIỂU SỰ PHÂN HÓA GIÀU NGHÈO
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Chuyên ngành: Triết học
Mã số: 60 22 03 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC TRIẾT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS Bùi Thị Hoàn
HÀ NỘI – 2015
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Em xin trân trọng cảm ơn TS Bùi Thị Hoàn - người hướng dẫn khoa học đã tận tình chỉ bảo, giúp đỡ em trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn.
Em cũng xin bày tỏ lòng biết ơn tới các thầy cô giáo khoa Triết học trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã nhiệt tình giảng dạy và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho chúng em trong thời gian học tập và nghiên cứu tại trường.
-Em xin chân thành cảm ơn phòng Sau Đại học, Thư viện trường, Thư viện khoa Triết học - trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã tạo điều kiện giúp
đỡ và cung cấp cho em nguồn tài liệu quý giá.
Em cũng xin gửi lời cảm ơn tới bạn bè, đồng nghiệp, người thân đã tạo điều kiện, động viên giúp đỡ em trong quá trình học tập và nghiên cứu.
Hà Nội, ngày 20 tháng 09 năm 2015
Tác giả luận văn
Ngô Thị Ánh Tuyết
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu 2
3 Mục đích nghiên cứu của lu n văn, đối tượng và phạm vi nghiên cứuậ 6
4 Tóm tắt các lu n điểm cơ bản và đóng góp mới của tác giảậ 7
5 Phương pháp nghiên cứu 7
6 Kết cấu của lu n vănậ 7
N I DUNG Ộ 8
Chương 1; CƠ SỞ CỦA VI C GIẢM THIỂU PHÂN HÓA GIÀU NGHÈOỆ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 8
1.1 Cơ sở lý lu n của việc giảm thiểu phân hóa giàu nghèo ậ 8
1.1.1 Khái ni m, tiêu chí đánh giá phân hóa giàu nghèo ệ 8
1.1.2 Quan điểm của Đảng ta về giảm thiểu phân hóa giàu nghèo 22
1.2 Cơ sở thực tiễn của vi c giảm thiểu phân hóa giàu nghèo ở Vi t ệ ệ Nam hi n nay ệ 29
1.2.1 Biểu hi n của sự phân hóa giàu nghèo ngày càng rõ và gia tăng ệ 29
1.2.2 Ảnh hưởng của sự phân hóa giàu nghèo trong nền kinh tế thị trường đối với sự phát triển của xã hội 43
1.2.3 Nguyên nhân của phân hóa giàu nghèo 46
Tiểu kết chương 1 55
Chương 2: GIẢM THIỂU PHÂN HÓA GIÀU NGHÈO Ở VIỆT NAM HIỆN NAY - THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP 56
2.1 Thực trạng việc giảm thiểu phân hóa giàu nghèo ở Việt Nam hiện nay 56
2.1.1 Những kết quả đã đạt được và hạn chế 56
Trang 42.1.2 Một số nhận xét 63
2.2 Một số giải pháp chủ yếu giảm thiểu phân hóa giàu nghèo ở Việt Nam hiện nay 67
2.2.1 Phát huy vai trò của các yếu tố trong lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa 68
2.2.2 Phát huy tối đa vai trò của nhà nước trong việc giảm thiểu phân hóa giàu nghèo 78
2.2.3 Phát huy vai trò của nhà nước trong việc hạn chế làm giàu phi pháp và tham nhũng 89
2.2.4 Khuyến khích sự tích cực chủ động của các cá nhân trong việc làm giàu 96
Tiểu kết chương 2 102
KẾT LUẬN 103
TÀI LI U THAM KHẢO Ệ 105
Trang 5DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 Bảng hệ số Gini thời kỳ 2002 - 2012 30
Bảng 1.2 Bảng chênh lệch thu nhập bình quân giữa thành thị và nông thôn
thời kỳ 2002 - 2012 31
Bảng 1.3 Bảng chênh lệch thu nhập bình quân giữa các nhóm xã hội ở
thành thị và nông thôn thời kỳ 2001 - 2012 32
Bảng 1.4 Bảng chênh thu nhập bình quân giữa 5 nhóm thu nhập trong cả
nước thời kỳ 2001 - 2012 33
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Thực tiễn cho thấy, sự phân hóa giàu nghèo là một hiện tượng kinh tế
-xã hội khách quan và hết sức phức tạp, nó xuất hiện ở hầu hết các nước trênthế giới trong đó có Việt Nam Bởi vậy, dù muốn hay không, thì trong điềukiện hiện nay chúng ta cũng khó có thể xóa bỏ được hiện tượng này Tuynhiên, nếu chúng ta có những giải pháp phù hợp, kịp thời thì vẫn có thể hạnchế nó ở mức độ nhất định, để tạo ra những động lực cho các cá nhân phấnđấu làm giàu cải thiện chất lượng cuộc sống và ngăn chặn những tác động tiêucực của nó đối với đời sống xã hội Hơn nữa, nước ta lại đang trong thời kì
quá độ lên chủ nghĩa xã hội với mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội dân
chủ, công bằng văn minh [12; 239], việc quan tâm làm thế nào để giảm sự
phân hóa giàu nghèo, giảm khoảng cách giàu nghèo giữa các tầng lớp dân cưđang ngày càng gia tăng chính là một việc cần thiết, cấp bách
Những năm gần đây, nền kinh tế thị trường ở nước ta một mặt đã mở ranhững cơ hội cho người dân làm giàu bằng năng lực của mình, nhưng mặtkhác, nó cũng tạo ra những điều kiện, môi trường cho một bộ phận nhữngngười làm giàu một cách không hợp pháp, không hợp lý Và chính sự tồn tạicủa những người giàu lên một cách không chính đáng như vậy tồn tại bêncạnh những người lao động và làm ăn chính đáng đã tạo ra một sự bất côngbằng xã hội Đặc biệt, một số người tham nhũng đã trở thành giàu có vàhưởng thụ một cuộc sống giàu sang Điều này đã gây ra những bức xúc cho
xã hội Hơn nữa, nếu để sự phân hóa giàu nghèo ở nước ta diễn ra một cách tựphát mà không có sự can thiệp của chính quyền các cấp và ý thức của bảnthân mỗi cá nhân trong xã hội, thì sự phân hóa đó có thể dẫn đến những nguy
cơ bất ổn, làm tăng sự bất bình đẳng xã hội, thậm chí, nó có thể dẫn đến nguy
Trang 7cơ chệch hướng xã hội chủ nghĩa Vì lẽ đó, sự phân hóa giàu nghèo ở ViệtNam hiện nay không chỉ thu hút được các nhà nghiên cứu mà còn là vấn đềđược cả xã hội quan tâm
Trong những công trình nghiên cứu về phân hóa giàu nghèo, sự quantâm đầu tiên mà đa số các tác giả đề xuất đó chính là làm thế nào để giảmthiểu được sự phân hóa giàu nghèo cả về quy mô và khoảng cách Tuy nhiên,trên thực tế, mặc dù chúng ta đã áp dụng nhiều giải pháp cho việc giảm thiểuphân hóa giàu nghèo, thì tình trạng chênh lệch về khoảng cách thu nhập,chênh lệch về mức sống và sự hưởng thụ các dịch vụ xã hội giữa các nhóm xãhội, giữa các tầng lớp xã hội vẫn ngày càng doãng ra Theo như số liệu củaNgân hàng Thế giới và Tổng cục Thống kê khảo sát vào năm 2012, chênhlệch thu nhập giàu nghèo ở nước ta đã ở mức 9,4 lần [59; 226] “Nhóm 20%những người giàu nhất hiện nay đang hưởng tới 40% các lợi ích từ nhữngchính sách an sinh xã hội của nhà nước còn nhóm 20% những người nghèonhất chỉ hưởng 7 % từ nguồn này” [55; 12] Theo số liệu của Tổng cục Thống
kê cả nước vẫn còn hơn 40 nghìn hộ thiếu đói [75] Trong kết quả khảo sát
“Cảm nhận của người dân về Nhà nước và thị trường Việt Nam” năm 2014 doPhòng Thương mại và công nghiệp Việt Nam (VCCI) cùng với Ngân hàngThế giới công bố ngày 23 - 7 có một con số đáng chú ý là 47% người dân, cán
bộ bức xúc trước khoảng cách giàu nghèo tăng lên ở Việt Nam
Vậy phân hóa giàu nghèo là gì? Thế nào là giảm thiểu phân hóa giàunghèo? Vì sao phải giảm thiểu phân hóa giàu nghèo? Làm thế nào để giảmthiểu nó? Với ý nghĩa đó, dưới góc nhìn của triết học Mác - Lênin, tác giả
chọn chủ đề “Giảm thiểu sự phân hóa giàu nghèo ở Việt Nam hiện nay”
làm đề tài luận văn thạc sĩ Triết học của mình
2 Lịch sử nghiên cứu
Những năm gần đây, khi mà sự phân hóa giàu nghèo đang ngày càng
Trang 8có những diễn biến phức tạp và kéo theo nhiều hệ lụy cho việc phát triển toàndiện kinh tế - xã hội, thì vấn đề phân hóa giàu nghèo đã thu hút nhiều nhànghiên cứu dưới nhiều góc độ và khía cạnh khác nhau Tuy nhiên, chúng ta cóthể nhận ra các công trình nghiên cứu thường tập trung nghiên cứu về kháiniệm, thực trạng sự phân hóa giàu nghèo; nghiên cứu về đói nghèo và giảipháp xóa đói giảm nghèo; nghiên cứu về nguyên nhân của sự phân hóa giàunghèo và từ đó tìm ra những giải pháp nhằm hạn chế sự phân hóa giàu nghèotrong xã hội.
Nghiên cứu về khái niệm, cơ sở xác định và thực trạng của sự phân hóa giàu nghèo: gồm những công trình nghiên cứu tiêu biểu như
cuốn sách của hai tác giả Dương Phú Hiệp, Vũ Văn Hà do nhà xuất bản
Khoa học Xã hội xuất bản năm 1998 với tựa đề Phân hóa giàu nghèo ở một
số quốc gia châu Á - Thái Bình Dương Ở cuốn sách này, các tác giả chủ
yếu tập trung vào tình hình phân hóa giàu nghèo ở một số quốc gia ở châu
Á - Thái Bình Dương trong đó có một số nước cụ thể như Việt Nam, TrungQuốc, Nhật Bản, Mỹ…
Một công trình nghiên cứu nữa cũng không thể không nhắc tới đó làcuốn sách của tác giả Lê Du Phong, Hoàng Văn Hoa đồng chủ biên là cuốn
Kinh tế thị trường và sự phân hóa giàu nghèo ở vùng dân tộc miền núi phía Bắc nước ta hiện nay, nhà xuất bản Chính trị quốc gia phát hành năm
1999.Ở cuốn sách này tác giả tập trung nghiên cứu những ảnh hưởng củanền kinh tế thị trường đến sự phân hóa giàu nghèo ở các tỉnh miền núi phía
bắc nước ta Cuốn sách Phân phối và phân hóa giàu nghèo sau 20 năm đổi
mới do Nguyễn Thị Hằng và Lê Duy Đồng đồng chủ biên, nhà xuất bản
Lao động - Xã hội năm 2005 Trong cuốn sách này, các tác giả đã nêu lên
hệ thống lý luận về phân hóa giàu nghèo và thực trạng phân hóa giàu nghèo
ở nước ta sau 20 năm đổi mới
Trang 9Bên cạnh các công trình nghiên cứu trên, còn có bài viết của tác giảTrịnh Trọng Nghĩa đăng trên Tạp chí Châu Mỹ số 2 năm 2006 với tựa đề
Nghèo và chênh lệch nghèo trên thế giới bài viết này đã tập trung vào những
biểu hiện sự chênh lệch giữa người giàu và người nghèo trên thế giới Quađây, tác giả đã cho chúng ta hiểu thêm về thực tế phân hóa giàu nghèo trên thếgiới để so sánh với sự chênh lệch giàu nghèo ở Việt Nam Ngoài ra, còn có
bài viết của tác giả Mai Ngọc Anh đăng trên tạp chí Kinh tế và Dự báo số 3 năm 2006 với nhan đề Đói nghèo và sự tách biệt xã hội ở Việt Nam Trong
bài viết này tác giả đã quan tâm đến thực trạng đói nghèo của người dân, đồngthời khẳng định đói nghèo chính là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến những táchbiệt xã hội và dẫn đến phân hóa giàu nghèo
Cuốn sách của tác giả Nguyễn Văn Tiêm xuất bản năm 1993 với tựa đề
Giàu nghèo trong nông thôn hiện nay nhà xuất bản Nông nghiệp, ở trong
cuốn sách này tác giả chủ yếu tập trung nghiên cứu giàu nghèo ở nông thônnước ta vào những năm 1993
Nghiên cứu về nguyên nhân và giải pháp nhằm hạn chế sự phân hóa giàu nghèo có các công trình tiêu biểu: bài viết của tác giả Nguyễn Thị Hằng
đăng trên Tạp chí Cộng sản số 5 - 2001 với nhan đề Bước tiến mới của sự
nghiệp xóa đói giảm nghèo Bài viết đã tổng hợp lại những thành tựu đạt được
của nước ta trong quá trình xóa đói giảm nghèo tiến gần đến giảm thiểu phânhóa giàu nghèo trong xã hội, đồng thời, tác giả cũng chỉ ra các giải pháp đểtiếp tục phát huy những thành tựu đã đạt được trong công tác xóa đói giảmnghèo ở nước ta
Bên cạnh đó là luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Thị Mai Hồng năm
2000 với tựa đề Phân hóa giàu nghèo trong quá trình chuyển sang kinh tế thị
trường ở nước ta: thực trạng, xu hướng biến động và giải pháp được bảo vệ tại
Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh Trong luận án của mình, tác giả đã đi
Trang 10sâu nghiên cứu mối quan hệ giữa phân hóa giàu nghèo và kinh tế thị trường thựctrạng xu hướng biến động, từ đó đưa ra những quan điểm giải pháp chủ yếu hạnchế việc phân hóa giàu nghèo Hay luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Văn Hoan
với đề tài Tác động của phân hóa giàu nghèo đến tiềm lực chính trị - tinh thần
nền quốc phòng toàn dân ở Việt Nam hiện nay, Học viện chính trị, 2013
Tiếp theo là bài viết đăng trên tạp chí Cộng sản số 2-3 năm 2006 với
tựa đề Xóa đói giảm nghèo ở nước ta - thành tựu thách thức và giải pháp của
tác giả Phạm Gia Khiêm Trong bài viết của mình, tác giả đã tổng kết lạinhững thành tựu trong quá trình xóa đói giảm nghèo của nước ta, đồng thờicũng dự báo những thách thức và đưa ra những giải pháp trong quá trình xóađói giảm nghèo để hạn chế tình trạng phân hóa giàu nghèo trong xã hội
Cuốn sách của tác giả Bùi Minh Đạo với tựa đề Thực trạng đói nghèo
và một số giải pháp xoá đói giảm nghèo đối với các dân tộc thiểu số tại chỗ Tây Nguyên do nhà xuất bản Khoa học Xã hội phát hành năm 2000 Ở đây tác
giả đã tập trung nghiên cứu nguyên nhân thực trạng đói nghèo của đồng bàoTây Nguyên, từ đó đưa ra những giải pháp hạn chế đói nghèo
Tác giả Đỗ Thiên Kính với cuốn sách Phân hóa giàu nghèo và tác động
của yếu tố học vấn đến nâng cao mức sống cho người dân Việt Nam, nhà xuất
bản Khoa học Xã hội phát hành năm 2011 Trong cuốn sách này, tác giả tậptrung làm rõ vai trò của yếu tố học vấn và ảnh hưởng của nó đến phân hóa giàunghèo từ đó tìm ra giải pháp để nâng cao mức sống cho người dân Việt Nam
Đặc biệt, cuốn sách Phân hóa giàu - nghèo ở Việt Nam hiện nay: một
số vấn đề lý luận và thực tiễn do nhà xuất bản Chính trị Hành chính phát hành
năm 2013 của tác giả Bùi Thị Hoàn Trong công trình nghiên cứu này, tác giả
đã tập trung nghiên cứu và làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn của sựphân hóa giàu nghèo trong nền kinh tế thị trường, từ đó, tác giả đưa ra một sốgiải pháp nhằm giảm thiểu sự phân hóa giàu nghèo ở Việt Nam hiện nay
Trang 11Tiếp theo, phải kể đến là đề tài nghiên cứu về phân hóa giàu nghèo vớinhững vấn đề liên quan của tác giả Đỗ Nguyên Phương với công trình KX 05 -
07 - 1995 về Phân tầng xã hội, phân hóa giàu nghèo và công bằng xã hội ở
nước ta hiện nay Bài tham luận của tác giả Nguyễn Ngọc Hùng với nhan đề Chênh lệch giàu nghèo và phân tầng xã hội ở Hà Nội hiện nay đăng trên Tạp
chí Cộng sản ngày 08/ 10/ 2010 Tác giả Hồ Sĩ Quý với bài viết Đói nghèo ở
Việt Nam trong ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế toàn cầu đăng trên tạp chí Thông tin khoa học xã hội số 337- 2011 Những bài viết này đều nghiên cứu
gắn sự phân hóa giàu nghèo đến những vấn đề liên quan hay những tác độngcủa phân hóa giàu nghèo đối với xã hội
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu trước đây đều đã nghiên cứuphân hóa giàu nghèo ở nhiều góc độ với những mức độ khác nhau Khinghiên cứu về phân hóa giàu nghèo, hầu hết các công trình đều đi đến mụcđích cuối cùng là làm thế nào để giảm tình trạng phân hóa giàu nghèo ở nước
ta Kết quả nghiên cứu của những công trình này cũng đã được vận dụng gópphần làm cơ sở lý luận vào thực tiễn công tác giảm phân hóa giàu nghèonhưng trên thực tế vẫn chưa đạt được kết quả mong muốn theo như chủtrương của Đảng và nguyện vọng nâng cao chất lượng cuộc sống của ngườidân Hơn nữa, một số công trình cũng đã đề cập một cách trực tiếp đến việcgiảm thiểu phân hóa giàu nghèo hiện nay, nhưng mới chỉ dừng lại ở một khuvực nhất định, hoặc là nếu có thì việc nghiên cứu lý luận và khảo sát số liệucũng đã không còn phù hợp, cập nhật Chính vì thế, đây là một khoảng trống
để tác giả có thể tiếp tục nghiên cứu nhằm góp phần giảm thiểu phân hóa giàunghèo ở nước ta trong giai đoạn hiện nay
3 Mục đích nghiên cứu của luận văn, đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu một số vấn đề lý luận và thực tiễn về sự phân hóagiàu nghèo và việc giảm thiểu phân hóa giàu nghèo ở nước ta hiện nay Trên
Trang 12cơ sở đó, đề xuất một số giải pháp góp phần giảm thiểu sự phân hóa giàunghèo đang ngày càng bộc lộ rõ và gia tăng ở nước ta hiện nay.
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu sự phân hóa giàu nghèo ở Việt Nam và những giải pháp đểgiảm thiểu sự phân hóa giàu nghèo ở Việt Nam hiện nay
3.3 Phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu một số vấn đề lý luận và thực tiễn về phânhóa giàu nghèo và thực trạng của việc giảm thiểu phân hóa giàu nghèo trongđiều kiện nền kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay Đồng thời, nghiên cứunhững giải pháp cơ bản, chủ yếu của việc giảm thiểu phân hóa giàu nghèo đó
4 Tóm tắt các luận điểm cơ bản và đóng góp mới của tác giả
Đề tài góp phần làm rõ hơn thế nào là phân hóa giàu nghèo, thực trạngbiểu hiện phân hóa giàu nghèo ở Việt Nam hiện nay
Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc giảm thiểu sự phân hóa giàu nghèo ởnước ta hiện nay
Thực trạng của việc giảm thiểu sự phân hóa giàu nghèo và các giảipháp cơ bản, chủ yếu cho việc giảm thiểu sự phân hóa giàu nghèo đang giatăng ở nước ta hiện nay
5 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở thế giới quan và phương phápluận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và dựa trên quanđiểm đường lối của Đảng cộng sản Việt Nam
Phương pháp nghiên cứu là phương pháp duy vật biện chứng vàphương pháp duy vật lịch sử Đồng thời, kết hợp một số phương pháp cụ thểnhư: phương pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp logic và lịch sử,phương pháp so sánh và đối chiếu, thống kê phương pháp phân tích số liệu
6 Kết cấu của luận văn
Luận văn gồm 3 phần, ngoài phần mở đầu và kết luận nội dung gồm 2chương và 4 tiết
Trang 13NỘI DUNG
Chương 1
CƠ SỞ CỦA VIỆC GIẢM THIỂU PHÂN HÓA GIÀU NGHÈO
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
1.1 Cơ sở lý luận của việc giảm thiểu phân hóa giàu nghèo
1.1.1 Khái niệm, tiêu chí đánh giá phân hóa giàu nghèo
1.1.1.1 Khái niệm phân hóa giàu nghèo
Để hiểu được khái niệm phân hóa giàu trước hết phải hiểu khái niệm giàu, nghèo.
Giàu và nghèo là hai phạm trù rất rộng lớn, nó không chỉ miêu tả sự sở
hữu của con người về vật chất mà còn bao gồm các yếu tố về tình cảm và tinhthần Tuy nhiên, trong khuôn khổ luận văn và cụ thể là khi tìm hiểu về giàunghèo trong khái niệm phân hóa giàu nghèo Chúng tôi muốn nhấn mạnh kháiniệm giàu nghèo ở góc độ vật chất, kinh tế
Nói tới nghèo là nói tới sự thiếu cơ hội để có thể sống một cuộc sốngtương ứng với các tiêu chuẩn tối thiểu nhất định Nhà kinh tế học Galbraithcho rằng: “Con người bị nghèo khổ khi mà thu nhập của họ dù thích đáng để
họ tồn tại rơi xuống rõ rệt dưới mức thu nhập của cộng đồng Khi mà họkhông thể có những gì mà đa số trong cộng đồng coi như cái cần thiết tốithiểu để sống một cách đúng mực” [4; 82]
Còn trong từ điển Tiếng Việt đã định nghĩa: “Nghèo là không đủ nhữngđiều kiện vật chất tối thiểu cho cho cuộc sống, thiếu những gì là tối thiểunhất” [67; 1192]
Định nghĩa chung nhất về người nghèo được Hội nghị chống nghèo đói
ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương tổ chức tại Băng Cốc, Thái Lan vàotháng 9 - 1993 đưa ra là: “Nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư không
Trang 14được hưởng và thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của con người, mà những nhucầu này đã được xã hội thừa nhận tuỳ theo trình độ phát triển kinh tế và phongtục tập quán của địa phương” [20; 22] Với cách xác định này, những nướckhác nhau sẽ xem xét ở mức độ thu nhập khác nhau.
Một khái niệm khác được đưa ra tại Hội nghị các nhà tư vấn tài trợcho Việt Nam tháng 12 năm 2003 là: “ Nghèo là tình trạng bị thiếu ở nhiềuphương diện: thu nhập bị hạn chế hoặc thiếu cơ hội tạo thu nhập, thiếu tài sản
để đảm bảo tiêu dùng trong những lúc khó khăn, dễ bị tổn thương trướcnhững diễn biến bất lợi, ít được tham gia trong quá trình quyết định cảm giác
bị sỉ nhục không được người khác tôn trọng…” [3; 17]
Các tiêu chí và chuẩn mực về sự đánh giá phân loại về nghèo phụ thuộcvào từng vùng, từng quốc gia, từng điều kiện lịch sử nhất định Để phân loạimột cách chi tiết hơn người ta còn phân chia thành hai loại là nghèo tương đối
và nghèo tuyệt đối Sự phân chia này giúp cho mỗi nước có những giải phápphù hợp hơn với điều kiện hoàn cảnh của nước mình Và trên thực tế thì cácnước chỉ có thể xóa bỏ được nghèo tuyệt đối chứ không xóa bỏ được nghèotương đối
Nghèo tuyệt đối là tình trạng một số bộ phận dân cư không có khả năng
thỏa mãn những nhu cầu tối thiêu trong cuộc sống Nó là tình trạng ngườikhông có ăn, không đủ những lượng dinh dưỡng tối thiểu cần thiết Theo quyđịnh của ngân hàng Thế giới hàm lượng dinh dưỡng tối thiểu cho một ngườiĐông Nam Á phải đạt 2.100calo/ ngày
Nghèo tương đối là tình trạng một bộ phận dân cư sống dưới mức trung
bình của một cộng đồng ở một thời kì nhất định Nghèo tương đối thay đổitùy thuộc vào mức sống chung của xã hội Cách phân chia nghèo tuyệt đối vànghèo tương đối của Việt Nam cũng tương tự như cách phân chia của cácnước theo chuẩn chung của thế giới
Trang 15Hội nghị Thượng đỉnh Thế giới họp tại Copenhaghen Đan Mạch tháng
3 năm 1995 đưa ra một khái niệm cụ thể: “ Người nghèo là tất cả những ai thunhập thấp hơn 1 USD/ ngày số tiền được coi như để mua các sản phẩm thiếtyếu để tồn tại” Trong tuyên bố Thiên niên kỉ đã xác định chuẩn nghèo chogiai đoạn 1990 - 2015 là mức thu nhập dưới 1 USD/ 1 người/ 1 ngày
Ở Việt Nam, các nhà nghiên cứu đã đưa ra những khái niệm về giàunghèo một trong số những khái niệm đó là: “Nghèo là tình trạng dân cư chỉ cóđiều kiện thỏa mãn một phần các nhu cầu tối thiểu cơ bản của con người cómức sống thấp hơn mức sống trung bình của cộng đồng xét trên mọi phươngdiện” [44; 49]
Trái ngược với nghèo là giàu, giàu thường được hiểu là sự sở hữu cácvật chất, tài sản có giá trị Khái niệm về giàu không có sự thống nhất trên thếgiới Vì những người giàu thường ít công khai tài sản, hơn nữa cũng có ítnhững cuộc khảo sát dựa trên tiêu chuẩn chuẩn mực chung về giàu Vì vậy, đa
số các nhà kinh tế học thường định nghĩa giàu hướng tới sự sở hữu bất cứ thứ
gì có giá trị về mặt kinh tế
Theo từ điển Tiếng Việt giải thích: “Giàu là có nhiều tiền hơn mức
bình thường, trái nghĩa với nghèo” [67; 735] Mặc dù không có những chuẩn
mực nhất định cho từng thời kì về người giàu nhưng nhìn chung người giàu lànhững người có đầy đủ các nguồn lực có cuộc sống vật chất tinh thần cao hơnmức khá của xã hội
Theo đó, trong điều kiện nền kinh tế thị trường của nước ta hiện nay
có thể khẳng định rằng: “Người giàu là những người có tài sản, thu nhập
bình quân đầu người cao gấp nhiều lần thu nhập bình quân đầu người của
cả nước; có khả năng thỏa mãn về mức sống, sự hưởng thụ và tiếp cận các dịch vụ xã hội ở mức cao hơn so với cộng đồng dân cư nơi họ sống và địa bàn khác; có tích lũy cho đầu tư phát triển mở rộng sản xuất và đảm bảo cho đời sống tuổi già bằng tài sản của riêng mình” [22;9].
Trang 16Còn người nghèo thì ngược lại: “ Người nghèo là người có mức thu nhập
bình quân đầu người thấp hơn nhiều lần so với mức thu nhập bình quân đầu người của cả nước; không đủ khả năng đảm bảo những nhu cầu về mức sống, sự hưởng thụ và tiếp cận các dịch vụ xã hội; không có tích lũy cho phát triển mở rộng sản xuất và đảm bảo khi tuổi già bằng tài sản riêng của mình” [22; 10].
Phân hóa là phân chia ra thành nhiều bộ phận khác hẳn nhau, hoặc từ
một chất biến đổi dần thành nhiều chất khác nhau Khái niệm phân hóa giàunghèo ở đây người ta chỉ xem xét phân hóa dưới dạng phân hóa xã hội
Khái niệm phân hóa xã hội được hiểu là sự phân chia xã hội thành từngnhóm, những tầng, những tập hợp người đa dạng dựa trên tiêu chí nào đó.Trong đó sự thống nhất thường bị phá vỡ trong quá trình phân hóa [53; 9].Theo cách hiểu này, người ta thường nói tới phân hóa giai cấp, phân hóa giàunghèo, phân tầng xã hội…
Trong thực tế khi nói tới phân hóa người ta thường gắn liền với phânhóa xã hội, tách biệt xã hội Nhiều người cho rằng, phân hóa giàu nghèo chính
là sự phân cực về kinh tế
Tách biệt xã hội được dùng để nhấn mạnh các vấn đề bất bình đẳng
diễn ra trong quá trình phát triển xã hội làm cho con người bị rời xa với cáchoạt động, kinh tế, chính trị và xã hội Hay nói cách khác, nó thể hiện vấn đềnghèo đói, vấn đề quyền con người và khả năng tham gia của từng thành viêntrong xã hội vào các hoạt động hàng ngày Xét về mặt kinh tế, những người bịcoi là tách biệt là những người có mức thu nhập thấp, thiếu việc làm…
Trong điều kiện nước ta những năm gần đây, các nhà nghiên cứu đã cónhững cách tiếp cận đa chiều khi đưa ra định nghĩa về phân hóa giàu nghèo
Có quan niệm coi phân hóa giàu nghèo là một hiện tượng kinh tế xã hội, phảnánh quá trình phân chia xã hội thành các nhóm xã hội có điều kiện kinh tếkhác biệt nhau Phân hóa giàu nghèo là phân tầng xã hội giữa nhóm giàu đỉnh
và nhóm nghèo tầng đáy
Trang 17Có khái niệm còn cho rằng: “ Phân hóa giàu nghèo tượng trưng chonhững biến thể hay trường hợp riêng của phân tầng xã hội Hay nói cách khácphân hóa giàu nghèo là phân tầng xã hội theo mức sống theo thu nhập” [43; 1].
Từ những khái niệm về giàu, nghèo và phân hóa giàu nghèo trên, cóthể khẳng định rằng, phân hóa giàu nghèo là sự phân cực về thu nhập, mức
sống Vì vậy có thể khẳng định:“Phân hóa giàu nghèo là một hiện tượng lịch
sử xã hội phản ánh quá trình phân chia xã hội thành các tầng nhóm xã hội có điều kiện kinh tế và chất lượng sống khác biệt thể hiện chênh lệch về tài sản, thu nhập, mức sống và sự hưởng thụ các dịch vụ xã hội giữa các nhóm xã hội đó” [22; 12]
Phân hóa giàu nghèo là một hiện tượng kinh tế xã hội mang tính kháchquan nó tồn tại như một hiện tượng tất yếu trong xã hội Khái niệm phân hóagiàu nghèo theo cách hiểu trên có thể coi là cơ sở lý luận cho việc nghiên cứugiảm thiểu phân hóa giàu nghèo trong luận văn
Như vậy, giảm thiểu phân hóa giàu nghèo ở đây được hiểu là: theo
sách từ điển Hán Việt của tác giả Đào Duy Anh thì giảm có nghĩa là bớt, thiểu
có nghĩa là ít Từ đó chúng ta có thể hiểu giảm thiểu là bớt đi, là làm cho ít đi,giảm thiểu phân hóa giàu nghèo chính là việc làm cho sự phân hóa giàu nghèođược giảm đi, bớt đi về quy mô về mức độ, là làm giảm khoảng cách về chấtlượng cuộc sống giữa các tầng, nhóm xã hội, giữa con người với con ngườiđây cũng là mục đích chính của luận văn
1.1.1.2 Tiêu chí đánh giá phân hóa giàu nghèo
Để đánh giá xem trong một xã hội có sự phân hóa giàu nghèo haykhông, sự phân hóa ở mức độ cao hay thấp cần có những tiêu chí đánh giá cụthể Trước khi tìm hiểu những tiêu chí đánh giá phân hóa giàu nghèo chúng ta
tìm hiểu tiêu chí xác định giàu và nghèo trong xã hội
Cách xác định giàu nghèo trên thế giới phổ biến nhất hiện nay là dựa vào
Trang 18thu nhập và mức sống Tuy nhiên sự xác định giàu nghèo chỉ là tương đối vìtrên thực tế đã có những thay đổi về cơ sở xác định giàu nghèo theo từng giaiđoạn cụ thể của mỗi quốc gia Nếu như giàu rất khó xác định và không có mộtchuẩn chung thì nghèo lại được xác định cụ thể qua các chỉ số về chi tiêu thunhập Tại Việt Nam chuẩn nghèo thường được các định theo hai tiêu chí là củaTổng cục Thống kê và của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội
Cách xác định nghèo của Tổng cục Thống kê là cách xác định nghèotheo cách tiếp cận của Ngân hàng Thế giới được phân chia thành nghèo lươngthực thực phẩm và nghèo chung Nghèo lương thực thực phẩm được xác địnhdựa trên chi phí cho một giỏ hàng hóa, tiêu dung bao gồm lương thực thựcphẩm làm sao để đảm bảo lượng dinh dưỡng tối thiểu cho một người là 2100kcal/ngày đêm Các hộ được coi là nghèo nếu mức thu nhập và chi tiêu không
đủ để đảm bảo giỏ tiêu dùng này Còn tỷ lệ nghèo chung được tính bao gồmtổng chi dùng cho cả giỏ hàng tiêu dùng tối thiểu, được xác định bằng cáchước lượng tỷ lệ: 70% chi dùng dành cho lương thực thực phẩm, 30% cho cáckhoản còn lại
Cách xác định chuẩn nghèo của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hộiđược xác định bằng cách làm tròn số và áp dụng cho từng khu vực và vùngmiền khác nhau (nông thôn miền núi, hải đảo, nông thôn đồng bằng, thànhthị) Ngày 30/01/2011Thủ tướng chính phủ ban hành Quyết định 09/2011/QĐ
- TTg về chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo áp dụng cho giai đoạn 2011 - 2015như sau: 1 Hộ nghèo ở nông thôn là hộ có mức thu nhập bình quân từ400.000 đồng/người/tháng (từ 4.800.000 đồng/người/năm) trở xuống 2 Hộnghèo ở thành thị là hộ có mức thu nhập bình quân từ 500.000đồng/người/tháng (từ 6.000.000 đồng/người/năm) trở xuống 3 Hộ cận nghèo
ở nông thôn là hộ có mức thu nhập bình quân từ 401.000 đồng đến 520.000đồng/người/tháng 4 Hộ cận nghèo ở thành thị là hộ có mức thu nhập bình
Trang 19quân từ 501.000 đồng đến 650.000 đồng/người/tháng Đây cũng chính là cáchxác định về ngưỡng nghèo được dùng phổ biến nhất ở nước ta hiện nay vàcũng là cơ sở để nghiên cứu thực trạng giàu nghèo trong luận văn.
Tìm hiểu tiêu chí phân hóa giàu nghèo chính là tìm hiểu về cách đo
khoảng cách chênh lệch giữa người giàu và người nghèo trong xã hội Trênthế giới người ta thường dùng 2 tiêu chí hay hai phương pháp để đánh giá cácmức độ cao thấp khác nhau của phân hoá giàu nghèo Đó là dựa vào hệ sốchênh lệch thu nhập và hệ số Gini
Cách thứ nhất chúng ta dựa vào hệ số chênh lệch thu nhập
Hệ số chênh lệch thu nhập được tính theo công thức sau:
H= Thu nhập bình quân của 20% cư dân giàu nhấtThu nhập bình quân 20% cư dân nghèo nhất
Trong đó H là hệ số chênh lệch thu nhập, được tính bằng số lần
Theo cách tính hệ số chênh lệch thu nhập người ta chia xã hội thành 5nhóm, được đánh số thứ tự từ 1 đến 5 theo mức độ thu nhập từ thấp đến cao ỞViệt Nam 5 nhóm thu nhập lần lượt là : nghèo, cận nghèo, trung bình, khá, giàu
Phương pháp tính hệ số chênh lệch về thu nhập giữa nhóm người thuộc
hộ giàu và nhóm người thuộc hộ nghèo được tính như sau: Điều tra ngẫunhiên một số lượng người nào đó, sau đó xếp 20% người có thu nhập cao nhấtvào một nhóm rồi tính bình quân thu nhập của một người sau đó sẽ cho ra thunhập bình quân của nhóm giàu nhất Tương tự như thế ta sẽ tính được thunhập bình quân của nhóm nghèo nhất Cuối cùng hệ số chênh lệch thu nhậpgiàu nghèo được tính bằng cách chia thu nhập bình quân của nhóm giàu nhấtcho nhóm nghèo nhất Nếu như chỉ số này nhỏ hơn hoặc bằng 5 là ở mức độ
an toàn về chênh lệch giàu nghèo Theo đó, nếu ở nước ta hệ số chênh lệchcao hơn 5 phản ánh mức chênh lệch giàu nghèo đáng báo động và cần phảigiảm xuống
Trang 20Cách thứ hai đánh giá dựa trên hệ số Gini.
Hệ số Gini dùng để biểu thị độ bất bình đẳng trong phân phối thu nhập
Nó có giá trị từ 0 đến 1 và bằng tỷ số giữa phần diện tích nằm giữa đườngcong Lorenz và đường bình đẳng tuyệt đối với phần diện tích nằm dướiđường bình đẳng tuyệt đối Hệ số này được phát triển bởi nhà thống kê họcngười Ý Corrado Gini và được chính thức công bố trong bài viếtnăm 1912 của ông mang tên “Variabilità e mutabilità”. Chỉ số Gini (GiniIndex) là hệ số Gini được thể hiện dưới dạng tỷ lệ phần trăm, được tính bằng
hệ số Gini nhân với 100 Hệ số Gini (hay còn gọi là hệ số Loren) là hệ số dựatrên đường cong Loren (Lorenz) chỉ ra mức bất bình đẳng của phân phối thunhập giữa cá nhân và hệ kinh tế trong một nền kinh tế Hệ số Gini thườngđược sử dụng để biểu thị mức độ bất bình đẳng trong phân phối thu nhập giữacác tầng lớp cư dân Số 0 tượng trưng cho sự bình đẳng thu nhập tuyệt đối(mọi người đều có cùng một mức thu nhập), số 1 tượng trưng cho sự bất bìnhđẳng thu nhập tuyệt đối (một người có toàn bộ thu nhập, trong khi tất cả mọingười khác không có thu nhập) Hệ số Gini được dùng để biểu thị mức độchênh lệch về giàu nghèo Khi sử dụng hệ số Gini trong trường hợp này, điềukiện yêu cầu phải thỏa mãn không tồn tại cá nhân nào có thu nhập ròng âm
Hệ số tập trung Gini là hệ số thay đổi từ 0 đến 1 cho biết mức độ côngbằng phân chia trong thu nhập thấp Nếu hệ số này càng thấp thì mức côngbằng càng cao Trong đó với mức cho phép tốt nhất là 0,3 Hệ số Gini cũng đãđược sử dụng để đánh giá mức độ phân tầng, phân hoá, phân cực giữa cácvùng, miền hay nhóm xã hội Theo nhà kinh tế học người Mỹ Kuznet trongthời kỳ nền kinh tế mới đi vào tăng trưởng: Sự bất bình đẳng sẽ tăng lên là tấtyếu Khi nền kinh tế tăng trưởng đến mức độ nhất định sẽ giải quyết được vấn
đề xã hội đó, công bằng sẽ được thực hiện
Tại Việt Nam hiện nay, những chỉ số chênh lệch giàu nghèo cũng đượctính theo hai cách như theo cách phổ biến trên thế giới Với cách tính hệ số
Trang 21chênh lệch thu nhập Việt Nam áp dụng phương pháp điều tra theo Quyết định
số 69 QĐ - TCTK - XHMT ngày 12/12/ 2003 của Tổng cục Thống kê Cácchỉ số Thống kê cho thấy hệ số chênh chệch giữa nhóm giàu và nhóm nghèocủa nước ta vào năm 2012 là 9,4 lần Còn theo phương pháp tính chênh lệchgiàu nghèo qua cách tính hệ số Gini thì theo số liệu của Ngân hàng Thế giới
và Tổng cục Thống kê công bố năm 2012 thì hệ số Gini của nước ta là: 0,424.Hiện nay chúng ta vẫn chưa có công bố chính thức về kết quả khảo sát nhữngnăm gần hơn nên số chỉ số Gini về phân hóa giàu nghèo của năm 2012 vẫnđược coi là con số làm cơ sở dữ liệu đánh giá thực trạng phân hóa giàu nghèotrong luận văn
1.1.1.3 Phân hóa giàu nghèo và những vấn đề liên quan.
Để hiểu rõ hơn về phân hóa giàu nghèo chúng ta cần đặt nó trong cácmối quan hệ với những vấn đề xã hội khác
Thứ nhất, phân hóa giàu nghèo và phân hóa giai cấp
Phân hóa giàu - nghèo và phân hóa giai cấp có những điểm giống nhaunhư: có cùng nguồn gốc từ bất bình đẳng xã hội, từ sự khác nhau về địa vị, tàisản, quan hệ với tư liệu sản xuất Nhưng bên cạnh đó, giữa chúng có điểmkhác nhau Quan hệ giữa phân hóa giàu nghèo và phân hóa giai cấp là mốiquan hệ phát sinh đơn chiều Phân hóa giàu nghèo là mầm mống dẫn tới phânhóa giai cấp, vì những người giàu dễ có điều kiện để trở thành tầng lớp thốngtrị, bóc lột người nghèo và làm cho xã hội phân hóa thành hai giai cấp đốikháng nhau Tuy nhiên, không phải bất kỳ sự phân hóa giàu nghèo nào cũngdẫn tới phân hóa giai cấp Trong mỗi giai cấp, tầng lớp xã hội cũng có sựphân hóa giàu nghèo, chẳng hạn ở nước ta, trong giai cấp nông dân, côngnhân hay đội ngũ trí thức cũng diễn ra sự phân hóa giàu nghèo, có nhóm xãhội giàu, nhóm nghèo, nhóm trung lưu, thậm chí, ngay trong một ngành nghềcũng có sự phân hóa này Do đó, chỉ khi sự phân hóa giàu nghèo ở mức độ
Trang 22quá lớn dẫn tới sự tách biệt giữa người giàu và người nghèo cả về mặt kinh tế,chính trị, xã hội mới dẫn tới phân hóa giai cấp,
Như vậy, trong lịch sử xã hội loài người có sự phân hóa giàu - nghèothì chưa hẳn đã có phân hóa giai cấp, còn trong xã hội có phân hóa giai cấpthì tất yếu trước đó đã phải có sự phân hóa giàu nghèo Sự phân hóa giàunghèo chỉ là sự phân chia xã hội thành những nhóm người giàu, người nghèo
do có sự chênh lệch về tài sản kinh tế, về thu nhập, sự hưởng thụ các dịch vụ
xã hội nhưng bản thân họ vẫn có những sự ràng buộc, chuyển hóa lẫn nhau,chứ chưa phải là phân chia thành các giai cấp đối lập nhau về lợi ích kinh tế
Theo quan niệm của VI Lênin: giai cấp là những tập đoàn người to lớn,khác nhau về địa vị của họ trong một hệ thống sản xuất xã hội nhất định tronglịch sử, khác nhau về quan hệ của họ (thường thì những quan hệ này đượcpháp luật quy định và thừa nhận) đối với tư liệu sản xuất, về vai trò của họtrong tổ chức lao động xã hội và như vậy khác nhau về cách thức hưởng thụ
và về phần của cải xã hội ít hoặc nhiều họ được hưởng Giai cấp là những tậpđoàn người, mà tập đoàn này có thể chiếm đoạt lao động của tập đoàn khác,
do chỗ các tập đoàn có địa vị khác nhau, trong một chế độ kinh tế xã hội nhấtđịnh [29; 483]
Phân hóa giàu nghèo và phân hóa giai cấp có nhiều đặc điểm chungnhư cùng có nguồn gốc từ bất bình đẳng xã hội và sự khác nhau giữa địa vị,
Trang 23tài sản và quan hệ đối với tư liệu sản xuất Phân hóa giàu nghèo là mầm mốngcủa sự phân hóa giai cấp bởi người giàu thì có điều kiện để trở thành tầng lớpthống trị, bóc lột người nghèo từ đó làm cho xã hội phân hóa thành hai giaicấp đối kháng nhau.
Tuy nhiên, phân hóa giàu nghèo và phân hóa giai cấp có sự khác biệtnhau, không phải bất kì sự phân hóa giàu nghèo nào cũng trở thành phân hóagiai cấp Trong cùng giai cấp thì cũng có sự phân hóa giàu nghèo Chính vìthế chỉ có sự phân hóa giàu nghèo cao thì mới dẫn tới sự tách biệt giữangười giàu và người nghèo về kinh tế mới gây nên sự phân hóa giai cấp Dovậy trong lịch sử xã hội loài người có phân hóa giàu nghèo thì chưa chắc đãdẫn tới phân hóa giai cấp, còn trong xã hội có phân hóa giai cấp tất yếu đã
có phân hóa giàu nghèo
Thứ hai, phân hóa giàu nghèo và công bằng xã hội, bất bình đẳng xã hội
Công bằng xã hội là một phạm trù mang tính lịch sử, chịu sự quy địnhcủa những điều kiện lịch sử cụ thể của mỗi quốc gia Khái niệm công bằng xãhội mang nghĩa tương đối và phụ thuộc vào hoàn cảnh lịch sử, cụ thể
Với mục đích lập lại sự công bằng xã hội, C Mác và Ph Ăngghen đãđưa ra nguyên tắc phân phối theo lao động và coi đó là cơ sở để thực hiệncông bằng dưới chủ nghĩa xã hội
Theo C Mác, công bằng xã hội và bình đẳng xã hội có sự khác nhau.Trong xã hội chủ nghĩa, quyền bình đẳng tức là quyền ngang nhau giữa mọingười lao động, chưa thể thực hiện được hoàn toàn, còn công bằng dưới chủnghĩa xã hội là có thể từng bước thực hiện được, vì giữa họ có sự khác nhau
về thể chất trí tuệ, về hoàn cảnh gia đình và hoàn cảnh khác nhau do lịch sử
để lại, vì mỗi người lao động sẽ nhận lại được từ xã hội một số lượng và chấtlượng lao động mà anh ta cung cấp cho xã hội, sau khi đã trừ đi các khoản đểtái sản xuất và để duy trì đời sống cộng đồng Đó chính là nguyên tắc phân
Trang 24phối công bằng chứ không phải là phân phối ngang nhau Tuy nhiên, nhữngngười, những người lao động không giống nhau hoàn toàn về mọi mặt nênvới một công việc ngang nhau và do đó, với một phần tham dự như nhau vàoquỹ tiêu dung của xã hội thì trên thực tế, người này vẫn liều lĩnh nhiều hơnngười kia, người này vẫn giàu hơn người kia… Muốn tránh khỏi tất cả nhữngthiếu sót ấy thì quyền là phải không bình đẳng chứ không phải bình đẳng.Theo Mác, đây chính là một nguyên tắc phân phối rất công bằng trong chủnghĩa xã hội, nhưng sự công bằng đó vẫn hàm chứa một tình trạng bất bìnhđẳng nhất định giữa các thành viên trong xã hội Đó vừa là ưu việt, vừa làthiếu sót của nguyên tắc phân phối theo lao động không thể tránh khỏi tronggiai đoạn đầu của cộng sản chủ nghĩa Như vậy, sự phân hóa giàu nghèo vẫn
là tất yếu trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta
Khi nói về công bằng xã hội, Hồ Chí Minh đã gắn với quan niệm bìnhđẳng xã hội nhằm nhấn mạnh quan hệ giữa nghĩa vụ và quyền lợi mà cụ thểchính là Người đã coi công bằng xã hội là bình đẳng về nghĩa vụ và quyền lợi
Vì vậy, để thực hiện công bằng xã hội, phải đặt việc hưởng thụ quyền lợi gắnvới thực hiện nghĩa vụ, hưởng thụ phải tương xứng với đóng góp, cống hiếncủa từng cá nhân cho nên chủ nghĩa xã hội phải công bằng hợp lý, làm đượcnhiều hưởng nhiều, làm ít hưởng ít, không làm không hưởng Sự bình đẳng ởđây không phải đảm bảo cho mỗi người đều phát huy mọi khả năng của mình
để cùng vươn tới mục tiêu ấm no, hạnh phúc Còn công bằng xã hội vừa làmục tiêu, vừa là động lực của chủ nghĩa xã hội, nên việc thực hiện công bằng
xã hộ là tất yếu, cấp thiết và sẽ rất khó khăn Cho nên, Người đã rất lo lắngrằng không sợ thiếu, chỉ sợ không công bằng; không sợ nghèo chỉ sợ lòng dânkhông yên Bên cạnh đó trong lúc hoàn cảnh đất nước còn khó khăn về kinh
tế, Hồ Chí Minh còn cho chúng ta thấy việc thực hiện công bằng xã hội vớinguyên tắc ngang bằng nhau, giữa người với người trong mối quan hệ giữa
Trang 25nghĩa vụ và quyền lợi, giữa cống hiến và hưởng thụ cùng làm việc cho nhândân no đủ là điều rất khó có thể làm ngay được Song không phải vì thế màcoi việc thực hiện công bằng là sự cào bằng trong nghèo khổ là bình quân aicũng như ai, trái với chủ nghĩa xã hội Người đưa ra quan điểm ai làm nhiềuthì ăn nhiều, ai làm ít thì ăn ít, ai không làm thì không ăn, tất nhiên trừ nhữngngười già cả, đau yếu và trẻ con.
Có thể nói, quan điểm của Hồ Chí Minh về công bằng xã hội và bìnhđẳng là sự bổ sung và cụ thể hóa quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin vềnguyên tắc đảm bảo công bằng trong chủ nghĩa xã hội Cùng với quan điểm
về công bằng xã hội, bình đẳng xã hội mà các nhà kinh điển đưa ra, Đảng ta
đã vận dụng vào chính sách kinh tế ngay từ khi đất nước đổi mới cho đến nay
Vì vậy, đây có thể xem là cơ sở lý luận liên quan với việc nghiên cứu phânhóa giàu nghèo ở nước ta hiện nay Đó là nghiên cứu phân hóa giàu nghèophải đặt nó trong mối quan hệ về thực hiện công bằng xã hội
Thực hiện được công bằng xã hội không có nghĩa là thực hiện đượcbình đẳng xã hội, nhất là thực hiện được bình đẳng xã hội hoàn toàn Vì theotác giả khi thực hiện nguyên tắc phân phối công bằng như trên, chúng ta cóthể loại trừ được cũng như phải chấp nhận một tình trạng bất bình đẳng xã hộinhất định vì các cá nhân khác nhau ( người này khỏe hơn, người kia yếu hơn,người này ít con hơn, người kia nhiều con hơn…) nên dù hoàn thành mộtcông việc ngang nhau, được hưởng thù lao ngang nhau nhưng thực tế ngườinày vẫn lĩnh nhiều hơn người kia, người này vẫn giàu hơn người kia, do vây,vẫn có phân hóa giàu nghèo
Với những quan điểm trên, chúng ta có thể nhận thấy, khi thực hiệncông bằng xã hội cũng là phải chấp nhận bất bình đẳng xã hội (phân hóa giàunghèo) Công bằng xã hội chính là một biểu hiện cơ bản của bình đẳng xã hội.Công bằng xã hội là một khái niệm mang tính tương đối và phụ thuộc vào
Trang 26hoàn cảnh lịch sử cụ thể Trong điều kiện kinh tế thị trường ở nước ta hiệnnay, chúng ta thực hiện nguyên tắc phân phối công bằng, nên tất yếu phân hóagiàu nghèo là không thể tránh khỏi
Như vậy, thực hiện công bằng xã hội chính là thực hiện công bằng vềnhững cơ hội, hoàn cảnh khác nhau ban đầu và kết quả của đầu ra Đó cũng lànhững vấn đề cơ bản để giảm phân hóa giàu nghèo, đặc biệt là khoảng cáchgiàu nghèo
Phân hóa giàu - nghèo và công bằng xã hội, bình đẳng xã hội có liênquan, giũa chúng có liên quan với nhau, giữa chúng có điểm chung nhưngkhông đồng nhất Về cơ bản, có thể xem phân hóa giàu nghèo là biểu hiệncủa bất bình đẳng xã hội Công bằng xã hội là biểu hiện của bình đẳng xãhội về một phương diện cụ thể được xác định Phân hóa giàu - nghèo là kếtquả của việc thực hiện công bằng xã hội (khi sự phân hóa giàu nghèo đóđược nảy sinh từ sự bình đẳng - những người có cùng các cơ hội, điều kiện
để cống hiến và hưởng thụ tương xứng với cống hiến đó chứ không phải làbình đẳng là mọi người có quyền tiếp cận ngang nhau với một cơ hội nàođó) Bởi vì, quyền của mọi người được tiếp cận ngang nhau với một cơ hộinào đó là không hoàn toàn đồng nhất với khả năng với những người ấy cóthể sử dụng cơ hội ấy một cách ngang nhau, để thỏa mãn mục đích củamình do khả năng ở mỗi cá nhân là khác nhau Các cá nhân trong xã hội lạivốn không ngang hàng nhau về năng lực, không có sự bình đẳng tất yếu cóthu nhập khác nhau khiến cho sự chênh lệch giàu nghèo vẫn diễn ra Sựkhông bình đẳng này giữa các nhóm xã hội càng lớn thì sự phân hóa giàunghèo với khoảng cách ngày càng doãng rộng Theo đó, muốn hạn chế sựphân hóa giàu nghèo ở nước ta hiện nay hay hạn chế khoảng cách chênhlệch giàu nghèo, cần tạo ra cơ hội bình đẳng cho tất cả mọi người được
Trang 27cống hiến, phải tập trung và hạn chế sự làm giàu không chính đáng nhằmđảm bảo công bằng xã hội để phát triển đất nước.
Thứ ba, phân hóa giàu nghèo và phân tầng xã hội
Về cơ bản, phân tầng xã hội là sự phân chia mang tính cấu trúc thành cáctầng lớp hay các giai tầng xã hội dựa trên những đặc trưng vị thế kinh tế xã hộicủa các cá nhân, trong đó, sử dụng đồng thời ba tiêu chí: về kinh tế, về chính trị
và về văn hóa Phân tầng xã hội căn cứ trên nhiều tiêu chí khác nhau, nhưngtiêu chí về địa vị kinh tế hay tài sản là cốt yếu nhất, quan trọng nhất Phân hóagiàu nghèo cũng là sự phân chia tài sản, cho nên, về điểm này có luận điểm chorằng phân hóa giàu nghèo là trục trung tâm của phân tầng xã hội
Phân hóa giàu nghèo và phân tầng xã hội có liên quan mật thiết vớinhau nhưng không đồng nhất Phân tầng xã hội rộng hơn phân hóa giàunghèo Nghiên cứu phân hóa giàu nghèo cũng chính là tìm hiểu một góc độcủa phân tầng xã hội Sự phân hóa giàu nghèo là cốt lõi của phân tầng xã hội.Trong phân tầng xã hội tất yếu có phân hóa giàu nghèo; trong chính mỗi tầngnhóm xã hội cũng có thể có người giàu người nghèo
Như vậy, phân hóa giàu nghèo, phân hóa giai cấp, bất bình đẳng xã hội
và phân tầng xã hội có mối liên hệ chặt chẽ với nhau Chính vì thế, khi nghiêncứu về cơ sở lý luận của việc giảm thiểu phân hóa giàu nghèo thì việc nghiêncứu phân hóa giàu nghèo và những vấn đề liên quan cũng là một việc hết sứccần thiết để chúng ta nhận thức rõ hơn sự ảnh hưởng của phân hóa giàu nghèo
và đề xuất những giải pháp phù hợp cho việc giảm thiểu phân hóa giàu nghèo
1.1.2 Quan điểm của Đảng ta về giảm thiểu phân hóa giàu nghèo
Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về giảm thiểu phân hóa giàu nghèo
Khi xây dựng học thuyết về chủ nghĩa xã hội C Mác, Ph Ăngghen
và VI Lênin đã hướng tới một xã hội công bằng và không có sự phân hóagiàu nghèo
Trang 28Khi lý giải về nguồn gốc của sự phân hóa giàu nghèo trong xã hội,C.Mác và Ph Ăngghen cho rằng, chính sự chiếm hữu tư nhân về tư liệu sảnxuất là nguồn gốc của sự phân hóa giàu nghèo trong lịch sử Ph Ăngghen đãtrình bày rất cụ thể và chi tiết về tiến trình phát triển của loài người từ thời
nguyên thuỷ đến thời văn minh trong tác phẩm Nguồn gốc của gia đình, của
chế độ tư hữu và của nhà nước Từ đó, ông đã đưa ra những phân tích, lý giải
về chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất, sự phân chia các xã hội thành các tầnglớp giai cấp khác nhau và sự phân hóa giàu nghèo Trong xã hội Công xãNguyên thuỷ, mọi hoạt động của con người đều mang tính cộng đồng nhưcùng ăn, cùng làm Nhờ đó mà mọi người đều có quyền lợi và nghĩa vụ nhưnhau và được hưởng phần của cải ngang nhau trong những sản phẩm thuđược Cho nên, ở xã hội lúc này chưa có sự phân hóa giàu nghèo Ph.Ăngghen viết: “ Với tất cả tính ngây thơ và giản dị của nó, chế độ thị tộc đóquả là một tổ chức tốt đẹp biết bao Tất cả đều bình đẳng tự do” [ 39;
147,148 ] Khi lực lượng sản xuất phát triển, công cụ lao động bằng sắt ra đời
đã tạo ra nhiều của cải hơn Những của cải này không chỉ đáp ứng nhu cầusinh hoạt của con người mà còn có số lượng của cải dư thừa trong xã hội.Điều đó đã làm nảy sinh những ham muốn vật chất của con người Ai cũngmuốn sở hữu số lượng của cải dư thừa cho riêng mình Đó chính là sự sở hữu
tư nhân về tư liệu sản xuất và là nguồn gốc dẫn tới tình trạng xã hội bị phânchia thành những nhóm người khác nhau có người giàu người nghèo Nhưvậy, nguồn gốc của sự phân hóa xã hội thành kẻ giàu người nghèo, thành kẻbóc lột và người bị bóc lột hay chính là sự phân hóa hóa giàu nghèo trong xãhội có nguồn gốc từ sự chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất
Từ việc xác định nguồn gốc của sự phân hóa giàu nghèo, C Mác và Ph.Ăngghen đã phân tích tính chất của chế độ tư hữu tư nhân về tư liệu sản xuấttrong các thời kỳ lịch sử Đặc biệt là trong thời kỳ tư bản chủ nghĩa, các ông
Trang 29cho rằng đây là một thời kỳ đặc biệt vì trong giai đoạn này xuất hiện một loạihàng hóa đặc biệt đó là hàng hóa sức lao động Do vậy, sự đối lập giữa kẻgiàu người nghèo, tầng lớp tư sản và tầng lớp vô sản diễn ra gay gắt Nhữngđiều này đã được C.Mác và Ph Ăngghen viết trong những tác phẩm nổi tiếng
của mình như: Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản (1847 - 1848)…C Mác và
Ph.Ăngghen chỉ rõ hậu quả của chế độ bóc lột tàn bạo này sẽ đẩy xã hội phânhóa thành hai thái cực đó là giai cấp tư sản với sự giàu có tột bậc và giai cấp
vô sản bị bần cùng hóa ngày càng lún sâu vào nghèo đói Điều này đã đẩy sựphân hóa giàu nghèo gắn liền với sự phân hóa giai cấp
Sau khi nghiên cứu về nguồn gốc và quá trình phát triển của sự phânhóa giàu nghèo, các nhà sáng lập ra chủ nghĩa Mác đã xây dựng một mô hình
xã hội mà trong đó không có sự phân hóa giàu nghèo Đó chính là mô hình xãhội cộng sản chủ nghĩa Xã hội cộng sản chủ nghĩa là một cấu trúc xã hội phigiai cấp phi nhà nước Một xã hội mà trong đó tất cả mọi người dân bình đẳngvới nhau, không có hiện tượng người bóc lột người và tiến tới xóa bỏ nhànước vì ở đó mọi người yêu thương đoàn kết lẫn nhau Và tại đó, năng suấtlao động tăng lên rất cao tới mức mọi người làm theo năng lực, hưởng theonhu cầu Theo các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác, muốn xây dựng được xãhội cộng sản chủ nghĩa, chúng ta phải trải qua giai đoạn đầu tiên đó chính làgiai đoạn xây dựng mô hình xã hội chủ nghĩa Mô hình xã hội chủ nghĩa là
mô hình xã hội mà trong đó người lao động làm theo lao động, hưởng theonăng lực Làm theo năng lực nghĩa là được làm đúng với khả năng, và đượchưởng theo đúng đóng góp cho xã hội Trong hoàn cảnh còn có sự chênh lệch
về khả năng và dân trí nên bất bình đẳng về của cải là tất yếu và những bấtbình đẳng này sẽ kéo theo sự phân hóa giàu nghèo Tuy nhiên, sự phân hóagiàu nghèo do bất bình đẳng của cải này sẽ sớm được xóa bỏ khi lực lượngsản xuất phát triển cao xóa bỏ ranh giới lao động trí óc - chân tay, chênh lệch
Trang 30kỹ năng, xã hội phát triển đến độ thỏa mãn mọi nhu cầu, và đạt được côngbằng về của cải trong xã hội cộng sản Nguyên tắc xã hội chủ nghĩa cũng cónghĩa là xây dựng con người có trách nhiệm với xã hội, với cộng đồng trêntinh thần thân ái, giúp đỡ lẫn nhau, với tư liệu sản xuất chung, chứ không phải
là đối lập lợi ích, sự giàu có của người này là sự nghèo khó của người khácnhư xã hội tư bản hay các xã hội trước đó, trái ngược với nguyên tắc tư bản làmọi người đều có thể chạy theo lợi ích cá nhân
Như vậy, chủ nghĩa Mác đã đề cập đến nguyên nhân của sự phân hóagiàu nghèo đó chính là sự sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất và con đường điđến một xã hội bình đẳng, không có sự phân hóa giàu nghèo, đó chính là xãhội cộng sản chủ nghĩa mà nếu chúng ta muốn tiến đến được xã hội cộng sảnchủ nghĩa thì phải trải qua giai đoạn quá độ lên xã hội chủ nghĩa Trong thời
kì quá độ lên xã hội chủ nghĩa thì sự phân hóa giàu nghèo tất yếu sẽ diễn ranhưng với mức độ kiểm soát được và sẽ dần dần xóa bỏ Như vậy, theo chủnghĩa Mác - Lênin để giảm thiểu sự phân hóa giàu nghèo chúng ta cần thủtiêu chế độ tư hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, xóa bỏ chế độ người bóc lộtngười là cơ sở
Quan điểm của Đảng ta về giảm thiểu phân hóa giàu nghèo
Đảng ta lấy chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm kim chỉnam cho mọi hoạt động của mình Mọi quan điểm, chủ trương, đường lối củaĐảng đều gắn liền với chủ nghĩa Mác - Lênin.Tuy nhiên, Đảng ta cũng đã vậndụng một cách linh hoạt sáng tạo cho phù hợp với tình hình thực tế của đấtnước ta Những quan điểm của Đảng về phân hóa giàu nghèo tập trung ở cáckhía cạnh đó chính là nhận thức của Đảng về sự phân hóa giàu nghèo và từ đóđưa ra những chủ trương giải pháp về việc giảm thiểu phân hóa giàu nghèotrong giai đoạn hiện nay
Trang 31Nhận thức của Đảng về phân hóa giàu nghèo được thay đổi dần chophù hợp với tình hình thực tế của đất nước Trước năm 1986, Đảng ta khôngchấp nhận xã hội có sự phân hóa giàu nghèo Coi đó là một trong những yếu
tố kìm hãm con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của đất nước
Từ năm 1986 trở lại đây trong điều kiện kinh tế thị trường Đảng ta đã
có cách nhìn nhận về vấn đề phân hóa giàu nghèo cởi mở hơn, thậm chí chấpnhận sự tồn tại của phân hóa giàu nghèo như một tất yếu khách quan Nhưchúng ta đã biết, nước ta đang ở trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội, vớimục tiêu phải xây dựng một nền tảng vững chắc về điều kiện cơ sở vật chất,kinh tế xã hội Để thực hiện được mục tiêu này chúng ta phải có một nền kinh
tế phát triển, để kinh tế phát triển Đảng và Nhà nước ta đã tiến hành chuyểnđổi từ mô hình kinh tế kế hoạch hóa tập trung, quan liêu, bao cấp sang môhình nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Đặc điểm của nềnkinh tế thị trường với tính cạnh tranh tự do của nó thì sự phân hóa giàu nghèodiễn ra là điều không thể tránh khỏi Tại đại hội lần thứ VIII, Đảng ta đã xácđịnh, thực hiện kinh tế thị trường phải “thừa nhận trên thực tế sự phân hoágiàu nghèo nhất định trong xã hội” [11; 72] Khi chấp nhận cho sự tồn tại của
sự phân hóa giàu nghèo tuy nhiên Đảng và Nhà nước ta cùng đồng thời đưa
ra những chính sách giảm tới mức thấp nhất tình trạng phân hóa giàu nghèo.Những quan điểm này của Ðảng được thể hiện rõ trong những chủ trươngchính sách về xóa đói, giảm nghèo và thực hiện công bằng xã hội
Trong những chủ trương giải pháp của Đảng nhằm giảm thiểu tới mứcthấp nhất sự phân hóa giàu nghèo, thì việc đẩy mạnh xoá đói, giảm nghèo,hạn chế phân hoá giàu nghèo được Đảng ta xác định là nhiệm vụ trọng điểmtrong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Nhiệm vụ đó đòi hỏiphải tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, quản lý và điều hành của Nhà nước,
sự vào cuộc của các đoàn thể chính trị, xã hội, sự nỗ lực của toàn dân, nhằm
Trang 32tăng giàu, bớt nghèo, hạn chế phân hoá giàu nghèo, góp phần thực hiện mụctiêu: dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
Xoá đói, giảm nghèo, hạn chế phân hoá giàu nghèo là nội dung được đềcập nhiều trong các văn kiện của Đảng Chủ trương “ khuyến khích làm giàuhợp pháp đi đôi với xoá đói, giảm nghèo, không để diễn ra chênh lệch quáđáng về mức sống và trình độ phát triển giữa các vùng, các tầng lớp dân cư”[11; 92] được cụ thể hoá thành các chính sách phát triển kinh tế - xã hội, thựchiện công bằng, bình đẳng, tiến bộ xã hội Thành công của Việt Nam sau gần
30 năm tấn công vào đói nghèo là đã đưa nước ta từ một nước nghèo trởthành quốc gia có thu nhập trung b́ình Ở nước ta hiện nay, việc xoá đói, giảmnghèo đang hướng mạnh tới thu hẹp khoảng cách giàu nghèo Đây là vấn đề
có liên quan tới công bằng, bình đẳng xã hội, ảnh hưởng tới sự ổn định chínhtrị Vấn đề này được nhấn mạnh trong nhiều văn kiện của Đảng, trở thành hệthống quan điểm lãnh đạo, chỉ đạo trong quá trình phát triển kinh tế - xã hộicoi đó là một hiện tượng xã hội đang hiện hữu, chi phối đời sống xã hội
Trong các văn kiện qua các thời kì đại hội Đảng đã chỉ rõ, khuyếnkhích các tầng lớp nhân dân vươn lên làm giàu, đẩy mạnh xoá đói, giảmnghèo, hạn chế phân hoá giàu nghèo gắn với mục tiêu “phải luôn luôn quantâm bảo vệ lợi ích người lao động, vừa khuyến khích làm giàu hợp pháp,chống làm giàu phi pháp, coi trọng xoá đói giảm nghèo, từng bước thực hiệncông bằng xã hội, tiến tới làm cho mọi người, mọi nhà đều khá giả” [11; 73].Đại hội lần thứ IX, đã có bước phát triển mới: “Khuyến khích làm giàu hợppháp, đồng thời ra sức xoá đói giảm nghèo, tạo điều kiện về cơ sở hạ tầng vànăng lực sản xuất để các vùng, các cộng đồng đều có thể tự phát triển, tiến tớithu hẹp khoảng cách về trình độ phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội”[12; 163].Đại hội lần thứ X của Đảng tiếp tục chỉ rõ và đề ra mục tiêu cụ thể: “Khuyếnkhích mọi người làm giàu theo pháp luật, thực hiện có hiệu quả các chính
Trang 33sách xoá đói, giảm nghèo”, “Kết hợp các mục tiêu kinh tế với các mục tiêu xãhội trong phạm vi cả nước ở từng lĩnh vực, địa phương; thực hiện tiến bộ vàcông bằng xã hội ngay trong từng bước phát triển”[13; 101]; phấn đấu đếnnăm 2010, tỉ lệ hộ nghèo theo chuẩn mới còn 10 - 11% (năm 2005, tỉ lệ hộnghèo cả nước còn khoảng 22%).
Dựa trên cơ sở sự định hướng chiến lược “Tạo môi trường và điều kiện
để mọi người lao động có việc làm và thu nhập tốt hơn Có chính sách tiềnlương và chế độ đãi ngộ tạo động lực để phát triển; điều tiết hợp lý thu nhậptrong xã hội Khuyến khích làm giàu hợp pháp đi đôi với xoá nghèo bềnvững; giảm dần tình trạng chênh lệch giàu nghèo giữa các vùng, miền, cáctầng lớp dân cư”[14; 79].
Đặc biệt, trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 - 2020, Đạihội lần thứ XI của Đảng đã đề ra định hướng cơ bản: “Nâng cao thu nhập vàchất lượng cuộc sống của nhân dân Tạo cơ hội bình đẳng tiếp cận các nguồnlực phát triển và hưởng thụ các dịch vụ cơ bản, các phúc lợi xã hội Thực hiện
có hiệu quả hơn chính sách giảm nghèo phù hợp với từng thời kỳ; đa dạnghoá các nguồn lực và phương thức để bảo đảm giảm nghèo bền vững, nhất làtại các huyện nghèo nhất và các vùng đặc biệt khó khăn Khuyến khích làmgiàu theo pháp luật, tăng nhanh số hộ có thu nhập trung bình khá trở lên Cóchính sách và các giải pháp phù hợp nhằm hạn chế phân hoá giàu nghèo, giảmchênh lệch về mức sống giữa nông thôn với đô thị” [14; 125]
Như vậy, Đảng ta đã có cách nhìn ngày càng toàn diện và đưa ra nhữngchủ trương, biện pháp thiết thực để xoá đói, giảm nghèo, hạn chế phân hoágiàu nghèo trên cơ sở tiến hành đồng bộ các giải pháp phát triển cơ sở hạ tầnggắn liền với phát triển văn hoá - xã hội; chú trọng đẩy mạnh việc thực hiệntiến bộ, công bằng xã hội, bảo đảm an sinh xã hội, tăng cường trợ giúp với đốitượng yếu thế; tập trung triển khai có hiệu quả các chương trình kinh tế - xã
Trang 34hội, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn Thực tiễn nhữngnăm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước đã có những chính sách, giảipháp tương đối đồng bộ, hiệu quả tập trung giải quyết vấn đề xoá đói, giảmnghèo và hạn chế phân hoá giàu nghèo mang tầm quốc gia được quốc tế ủng
hộ và đánh giá cao Thông qua các chương trình xoá đói giảm nghèo, hàngtriệu hộ gia đình, hàng chục triệu người thoát khỏi đói nghèo, vươn lên làmgiàu; góp phần hạn chế phân hoá giàu nghèo, thực hiện công bằng, bình đẳng
và tiến bộ xã hội
Trên chặng đường lâu dài đi đến mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dânchủ, công bằng, văn minh”, những quan điểm của Đảng về sự phân hóa giàunghèo ở Việt Nam cũng như chủ trương giải pháp giảm thiểu phân hóa giàunghèo sẽ ngày càng được Đảng ta bổ sung hoàn thiện hơn qua các kì đại hộiđặc biệt là đại hội Đảng lần thứ XII sắp tới việc thực hiện được mục tiêucông bằng xã hội sẽ góp phần quan trọng trong việc giảm thiểu phân hóagiàu nghèo
1.2 Cơ sở thực tiễn của việc giảm thiểu phân hóa giàu nghèo ở Việt Nam hiện nay
1.2.1 Biểu hiện của sự phân hóa giàu nghèo ngày càng rõ và gia tăng
1.2.1.1 Khoảng cách chênh lệch về tài sản thu nhập, mức sống và hưởng thụ các dịch vụ xã hội giữa các tầng, nhóm xã hội gia tăng
Ở Việt Nam phân hóa giàu nghèo được thể hiện rất rõ qua sự chênhlệch thu nhập cũng như chênh lệch về chất lượng cuộc sống của người dân.Công cuộc đổi mới của Việt Nam trong gần 30 năm qua đã trực tiếp cải thiệnđời sống của người dân ở cả thành thị và nông thôn Tuy mức sống của ngườidân đều được cải thiện nhưng chênh lệch giàu nghèo vẫn xảy ra và vẫn cònkhông ít người nghèo, hộ gia đình nghèo và các cụm dân cư nghèo ở cả thànhthị và nông thôn
Trang 35Sự phân hóa giàu nghèo được thể hiện ở nhiều mặt khác nhau trong đó
có sự chênh lệch về thu nhập giữa các tầng, nhóm dân.
Năm 2014 với quy mô dân số là 90,73 triệu người thu nhập bình quânđầu người của Việt Nam là 2028 USD một năm.Trong đó khoảng 6% dân số
là số lượng người thuộc hộ gia đình nghèo với mức thu nhập rất ít ỏi chênhlệch thu nhập khá nhiều so với thu nhập bình quân đầu người chúng ta đạtđược Như vậy, chỉ nhìn vào sự chênh lệch thu nhập bình quân đầu người củacác hộ gia đình nghèo và thu nhập bình quân đầu người cả nước đã có sựchênh lệch rất lớn Biểu hiện của phân hóa giàu nghèo chủ yếu thể hiện ở sựchênh lệch thu nhập giữa nhóm giàu nhất và nhóm nghèo nhất trong xã hội
Biểu hiện của sự phân hóa giàu nghèo của nước ta còn thể hiện qua sựchênh lệch về hệ số Gini qua bảng 1.1 dưới đây
Nguồn: Kết quả điều tra mức sống hộ gia đình 2012
Nhìn vào bảng 1.1 ta thấy từ năm 2002 đến năm 2010 hệ số Gini củathành thị luôn cao hơn nông thôn Tuy nhiên sự bất bình đẳng ở thành thị đãgiảm một cách đáng kể trong năm 2012 Trái lại, ở khu vực nông thôn, bấtbình đẳng thu nhập lại ngày càng gia tăng Qua đó ta có thể thấy nếu chỉ tính
sự phân hóa giàu nghèo giữa nội bộ các khu vực thì trong những năm gần đâyphân hóa giàu nghèo ở nông thôn cao hơn thành thị
Trang 36Bên cạnh chênh lệch về hệ số Gini chúng ta xem xét sự chênh lệch giữathu nhập bình đầu người hàng tháng giữa khu vực nông thôn và thành thịthông qua bảng 1.2
Bảng 1.2 Bảng chênh lệch thu nhập bình quân giữa thành thị và
nông thôn thời kỳ 2002 - 2012
TNBQ ở thành thị (1.000 đ) 622,1 815,4 1058,4 1605,2 2129,5 2989,1TNBQ ở nông thôn (1.000 đ) 275,1 378,1 505,7 762,2 1070,4 1579,4
Hệ số chênh lệch TT-NT (lần) 2,3 2,2 2,1 2,1 2,0 1,9Chệnh lệch tuyệt đối TT-NT
Nguồn:Kết quả điều tra mức sống hộ gia đình 2012
Bảng 1.2 đã cho ta thấy thu nhập bình quân đầu người một tháng củatừng khu vực thành thị, nông thôn ở giai đoạn 2002 - 2012 Nếu năm 2002 thunhập bình quân đầu người một tháng ở nông thôn là 275,1 nghìn đồng thì đếnnăm 2012 là 1579,4 nghìn đồng (gấp 5,74 lần so với năm 2002); còn ở khuvực thành thị thu nhập bình quân đầu người một tháng năm 2012 là 2989,1nghìn đồng gấp 4,80 lần so với năm 2002 (622,1 nghìn đồng) Mặc dù thunhập của thành thị vẫn cao hơn ở nông thôn nhưng tốc độ tăng trưởng thunhập bình quân đầu người qua các năm ở giai đoạn này của khu vực nôngthôn luôn cao hơn khu vực thành thị Tuy nhiên, mức chệnh lệch tuyệt đối vềthu nhập bình quân đầu người hàng tháng giữa hai khu vực lại đang ngàycàng tăng lên Nếu như năm 2002, chênh lệch này chỉ là 347 nghìn đồng, thìđến năm 2012, nó đã lên đến 1.4097 nghìn đồng
Bên cạnh thu nhập bình quân của một người trên 1 tháng ở khu vực nôngthôn và thành thị chúng ta cũng có thể nhận thấy sự phân hóa giàu nghèo thông
Trang 37qua việc so sánh thu nhập bình quân đầu người một tháng ở khu vực thành thị vànông thôn chia theo 5 nhóm thu nhập của thời kỳ 2002 -2012 ở bảng 1.3
Bảng 1.3 Bảng chênh lệch thu nhập bình quân giữa các nhóm xã hội
ở thành thị và nông thôn thời kỳ 2001 - 2012
Năm
Nhóm TN
Thu nhập BQĐN 1 tháng (nghìn đồng) So sánh
2012/2002 (lần)
2002 2004 2006 2008 2010 2012
Thành
thị
Nghèo 184,2 236,9 304 453,2 632,6 951,5 5,17Cận nghèo 324,1 437,3 575,4 867,8 1153,5 1672,2 5,16Trung bình 459,8 616,1 808,1 1229,9 1611,5 2332,9 5,07Khá 663,6 876,7 1116,1 1722,2 2268,4 3198,3 4,82Giàu 1479,2 1914,1 2488,3 3752,4 4983,4 6794,4 4,59Chênh lệch
Nông
Thôn
Nghèo 100,3 131,2 172,1 251,2 330,0 450,2 4,49Cận nghèo 159,8 215,1 287 415,4 568,4 817,8 5,12Trung bình 217,7 297,6 394,4 583,1 820,5 1227,7 5,64Khá 299,4 416,2 552,4 828,7 1174,6 1788,9 5,97Giàu 598,6 835,0 1122,5 1733,9 2461,8 3614,8 6,04Chênh lệch
Nghèo TT/Nghèo
Giàu TT/Giàu NT 2,47 2,29 2,22 2,16 2,02 1,88
Nguồn: Kết quả điều tra mức sống hộ gia đình 2012
Từ bảng 1.3 ta thấy sự chênh lệch giàu nghèo ở khu vực thành thị đang
có xu hướng giảm trong những năm gần đây Từ năm 2002 đến năm 2008 thunhập của người giàu luôn gấp hơn 8 lần thu nhập của người nghèo và mứcchênh lệch này tăng khá chậm Nhưng từ năm 2008 đến năm 2010 mức chênhlệch này mặc dù có giảm từ 8,3 lần xuống 7,9 lần và đến 2012 còn 7,1 lần.Song sự chênh lệch giàu nghèo ở nội bộ khu vực thành thị vẫn còn tương đối
Trang 38cao.Trong những năm đầu của giai đoạn 2002 - 2012, hệ số chênh lệch thunhập giữa 2 nhóm giàu - nghèo là hơn 6 lần, thấp hơn hệ số này ở nội bộ khuvực thành thị Tuy nhiên, trong những năm gần đây các nhóm khá và nhómgiàu ở khu vực nông thôn càng trở lên giàu hơn so với dân cư trong khu vựccủa mình, tốc độ tăng thu nhập của các nhóm này cũng nhanh hơn và cao hơncác nhóm nghèo khá nhiều Chính điều này đã làm cho hệ số chênh lệch giàunghèo tăng mạnh, từ gấp 6 lần (năm 2002) lên gấp 8 lần (năm 2012) cao hơn
cả ở khu vực thành thị Nghĩa là bất bình đẳng về thu nhập ở nội bộ khu vựcnông thôn ngày càng tăng và tăng nhanh
Để có cái nhìn tổng quát về sự phân hóa giàu nghèo ở nước ta thôngqua chênh lệch thu nhập, chúng ta cùng xem bảng 1.4 Bảng so sánh về chênhlệch thu nhập giữa 5 nhóm thu nhập trong cả nước trong những năm từ 2002đến 2012
Bảng 1.4 Bảng chênh thu nhập bình quân giữa 5 nhóm thu nhập trong
Nhóm 3
Nhóm 4
Nhóm 5
Chênh lệch giữa nhóm 1 và 5 (lần)
Trang 39Nhìn vào bảng 1.4 so sánh thu nhập giữa 5 nhóm thu nhập qua các năm
từ 2002 đến 2012 ta nhận thấy thu nhập của cả 5 nhóm đều tăng lên theo thờigian Tuy nhiên cùng với đó là chênh lệch thu nhập cũng tăng theo, đặc biệt làchênh lệch thu nhập giữa nhóm 1 và nhóm 5 đó là nhóm giàu nhất là nhómnghèo nhất Khoảng cách chênh lệch hiện nay đã là 9,4 lần cao gần gấp đôi sovới mức cho phép là 5 lần
Chỉ nhìn vào chênh lệch thu nhập bình quân của mọi người với thunhập của những người thuộc nhóm nghèo nhất chúng ta đã thấy có mộtkhoảng cách khá lớn Tuy nhiên những biểu hiện rõ nhất của phân hóa giàunghèo lại được thể hiện ở khoảng cách giữa người nghèo và những ngườithuộc nhóm siêu giàu trong xã hội Theo nghiên cứu của Knight Frank dướitiêu đề “Báo cáo Thịnh vượng 2014” công bố năm 2014 đưa ra nhận định tạichâu Á sẽ xuất hiện nhiều người siêu giàu trong 10 năm tới, trong đó ViệtNam có tốc độ tăng người siêu giàu dự đoán 166%, cao nhất thế giới, đạt 293người Không chỉ siêu giàu, lần đầu tiên Việt Nam cũng đã có tỉ phú đôla, thểhiện qua giá trị vốn hóa của các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứngkhoán tăng mạnh Ông Phạm Nhật Vượng, Chủ tịch hội đồng quản trị Tậpđoàn VinGroup, dẫn đầu danh sách 10 người giàu nhất trên thị trường chứngkhoán Việt Nam, có tài sản trị giá hơn 22.000 tỉ đồng tương đương trên 1 tỉUSD, được đánh giá là giàu gấp sáu lần những đại gia trung bình ở Việt Nam.Năm 2014 chỉ tính riêng tổng tài sản của 10 người giàu nhất trên thị trườngchứng khoán Việt Nam đã đạt hơn 56.000 tỉ đồng, tăng khoảng 30% so vớigiữa năm 2013 Ông Sandeep Mahajan, chuyên gia Kinh tế trưởng của Ngânhàng thế giới tại Việt Nam, nhận xét cứ khoảng 1 triệu người Việt Nam thì cómột người siêu giàu, hiện Việt Nam đứng thứ hai trong số các nước ĐôngNam Á có số người siêu giàu tăng mạnh trong vòng một năm qua Tất nhiên,khi những người giàu này hoàn toàn làm giàu bằng chính tài năng điều kiện
Trang 40của mình thì rất đáng khuyến khích và sự xuất hiện của họ của họ là tín hiệuđáng mừng cho của đất nước.
Sự phân hóa giàu nghèo ở nước ta hiện nay được thể hiện khá khi sosánh khoảng cách thu nhập giữa các nhóm lao động trong xã hội Bộ Laođộng - Thương binh và Xã hội cho biết, khoảng cách giữa mức thu nhập củacác nhóm lao động ngày càng có sự chênh lệch rõ nét, đặc biệt là ở các thànhphố lớn Tại Hà Nội, chênh lệch giữa người có tiền lương cao nhất so vớinhững người thu nhập thấp nhất là 42 lần ( khoảng 75,2 triệu đồng/tháng vớimức bình quân 1,8 triệu đồng/ tháng).Tại thành phố Hồ Chí Minh con sốchênh lệch còn lên đến 109 lần (240 triệu đồng/tháng so với 2,2 triệuđồng/tháng) Ở cấp độ đô thị lớn, TP Hồ Chí Minh được dự đoán sẽ là nơi có
số người giàu tăng mạnh nhất, lên đến 173% trong thập niên tới Năm 2013,TP.HCM có 90 người siêu giàu trên tổng số 9 triệu dân [77] Nhóm có thunhập cao là các giám đốc điều hành, trưởng đại diện, trưởng phòng, cán bộphụ trách kinh doanh… đang làm việc tại các doanh nghiệp có vốn đầu tưnước ngoài, công ty liên doanh, các công ty hoạt động trong lĩnh vực tàichính, ngân hàng, chứng khoán, bác sĩ tại một số bệnh viện, phòng khám.Ngược lại, nhóm có thu nhập thấp là công nhân lao động đang làm việc trongcác khu công nghiệp, doanh nghiệp nước ngoài
Như vậy qua một số những biểu hiện chênh lệch về thu nhập, hệ sốGini, chênh lệch thu nhập bình quân giữa người giàu người nghèo ởnông thôn hay giữa người giàu người nghèo ở nội bộ từng khu vực chúng
ta thấy sự phân hóa giàu nghèo vẫn ở mức cao và ngày càng gia tăng vềkhoảng cách
Biểu hiện của phân hóa giàu nghèo không chỉ thông qua những con số thống kê về những chênh lệch trong thu nhập giữa các người dân trong xã hội