1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

TỔ CHỨC dạy học KHÁM PHÁ TRONG môn địa lí lớp 12 –THPT THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG lực

189 926 12

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 189
Dung lượng 4,66 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để đạt được mục tiêu: “Phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học”, đổi mới phương pháp dạy học là một trong những nhiệm vụ quan trọng của cải cáchgiáo dục nói chung và cải các

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Đặng Văn Đức

Hà Nội – 2016

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất tới thầy giáo hướng dẫn khoahọc PGS.TS Đặng Văn Đức là người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ và tạođiều kiện để em thực hiện luận văn này

Em xin chân thành cảm ơn tập thể các thầy giáo, cô giáo trong khoaĐịa lí, phòng tư liệu khoa Địa lí cùng với các cán bộ thư viện trường Đại học

Sư Phạm Hà Nội đã giúp đỡ, tạo điều kiện cho em hoàn thành đề tài luận văn

Xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trường THPT Cầu Xe, THPTHưng Đạo, THPT Tứ Kỳ, THPT Kinh Môn đã tạo điền kiện và giúp đỡ em

trong quá trình điều tra và tiến hành thực nghiệm sư phạm để em có những

kết luận về cơ sở thực tiễn của đề tài

Xin chân thành cảm ơn tới gia đình, người thân và bạn bè đã giúp đỡ,động viên em hoàn thành luận văn

Em xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, tháng 8 năm 2016

Học viên

Nguyễn Thị Hạnh

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

4 Giả thuyết khoa học 3

5 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu 4

6 Quan điểm và phương pháp nghiên cứu 10

7 Đóng góp mới của đề tài 15

8 Cấu trúc của đề tài 15

NỘI DUNG 16

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC TỔ CHỨC DẠY HỌC KHÁM PHÁ TRONG MÔN ĐỊA LÝ LỚP 12 - THPT THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC 16

1.1 Những vấn đề đổi mới giáo dục phổ thông theo định hướng phát triển năng lực 16

1.1.1 Những quan điểm chỉ đạo đổi mới giáo dục phổ thông theo định hướng PT năng lực học sinh 16

1.1.2 Định hướng đổi mới chương trình giáo dục phổ thông theo định hướng PT năng lực học sinh 17

1.1.3 Định hướng đổi mới phương pháp dạy học theo định hướng PT năng lực học sinh 20

1.2 Dạy học khám phá 22

1.2.1 Khái niệm về dạy học khám phá 22

1.2.2 Bản chất của dạy học khám phá 27

1.2.3 Đặc điểm của dạy học khám phá 29

1.2.4 Những ưu điểm và nhược điểm của DHKP 35

Trang 5

1.2.5 Những điều kiện để tổ chức dạy học khám phá 39

1.2.6 Mối liên hệ giữa dạy học khám phá và dạy học định hướng PTNL cho HS 41

1.3 Đặc điểm tâm lý và trình độ nhận thức của học sinh cuối cấp THPT 44

1.4 Mục tiêu và nội dung chương trình Địa lý lớp 12 – THPT 46

1.4.1 Mục tiêu 46

1.4.2 Nội dung chương trình Địa lí 12 47

1.5 Thực trạng của việc vận dụng phương pháp dạy học khám phá trong môn Địa lí 12 ở trường THPT 49

1.5.1 Đối với GV 49

1.5.2 Đối với HS 53

1.5.3 Nguyên nhân 56

Tiểu kết chương 1 58

Chương 2 DẠY HỌC KHÁM PHÁ TRONG MÔN ĐỊA LÝ 12 – THPT THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC 59

2.1 Yêu cầu và nguyên tắc tổ chức dạy học khám phá trong môn Địa lý 12 theo định hướng phát triển năng lực 59

2.1.1 Yêu cầu 59

2.1.2 Nguyên tắc 66

2.2 Quy trình dạy học khám phá trong môn Địa lý 12 theo định hướng phát triển năng lực 70

2.2.1 Quy trình 5E 70

2.2.2 Tổ chức dạy học khám phá trong môn Địa lý lớp 12 theo quy trình 5E 72

2.3 Thiết kế và biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học khám phá trong môn Địa lý 12 theo định hướng phát triển năng lực 76

Trang 6

2.3.1 Thiết kế các nhiệm vụ khám phá ở các bài học Địa lí 12- THPT

76

2.3.2 Biện pháp nâng cao hiệu quả tổ chức dạy học khám phá trong môn Địa lý 12- THPT theo định hướng PT năng lực 90

2.4 Tổ chức dạy học khám phá một số bài học minh họa trong môn địa lí lớp 12 theo định hướng PT năng lực 109

Tiểu kết chương 2 110

Chương 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 111

3.1 Mục đích, nhiệm vụ, nguyên tắc thực nghiệm 111

3.1.1 Mục đích 111

3.1.2 Nhiệm vụ 111

3.1.3 Nguyên tắc 112

3.2 Tổ chức thực nghiệm 112

3.2.1 Đối tượng thực nghiệm 112

3.2.2 Nội dung thực nghiệm 113

3.2.3 Phương pháp thực nghiệm 113

3.3 Nhận xét kết quả thực nghiệm 114

3.3.1 Kết quả thực nghiệm 114

3.3.2 Nhận xét kết quả thực nghiệm 118

Tiểu kết chương 3 121

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 122

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 125 PHỤ LỤC

Trang 7

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1 Kết quả điều tra về đánh giá hứng thú học tập hiện nay của học sinh đối

với môn Địa lí ở trường THPT của GV 50

Bảng 1.2 Kết quả điều tra nhận thức về bản chất, vai trò của phương pháp DHKP trong môn Địa lí 12 THPT (câu 2,3,4,5,9) 50

Bảng 1.3 Hiện trạng mức độ sử dụng các biện pháp để tổ chức có hiệu quả DHKP trong môn Địa lí 12- THPT 51

Bảng 1.4 Kết quả điều tra thực trạng học tập môn Địa lí của HS lớp 12 53

Bảng 2.1 Các nhiệm vụ khám phá trong chương trình Địa lí 12- THPT 76

Bảng 3.1 Tên trường, lớp và các giáo viên tham gia thực nghiệm 113

Bảng 3.2 Kết quả kiểm tra sau bài thực nghiệm số 1 (Số HS đạt điểm) 115

Bảng 3.3 Kết quả xếp loại kiểm tra bài thực nghiệm số 1(%) 116

Bảng 3.4 Tổng hợp kết quả xếp loại kiểm tra HS sau khi học bài thực nghiệm số 1 của lớp TN và ĐC ở hai trường THPT (%) 116

Bảng 3.5 Kết quả kiểm tra sau bài thực nghiệm số 2 (Số HS đạt điểm) 117

Bảng 3.6 Kết quả xếp loại kiểm tra bài thực nghiệm số 2 (%) 117

Bảng 3.7 Tổng hợp kết quả xếp loại kiểm tra HS sau khi học bài thực nghiệm số 2 của lớp TN và ĐC ở hai trường THPT (%) 118

DANH MỤC HÌNH Hình 1.1 Sơ đồ mối quan hệ giữa các thành phần năng lực với các trụ cột giáo dục 19

Hình 2.1 Sơ đồ quy trình vận dụng tổ chức dạy học khám phá trong môn Địa lí 12-THPT 73

Hình 2.2 Sơ đồ kĩ thuật “Khăn trải bàn” 98

Hình 2.3 Bản đồ Hành chính, trang 4- 5, Át lát địa lí Việt Nam 103

Hình 3.1 Biểu đồ so sánh kết quả lớp thực nghiệm và lớp đối chứng sau bài thực nghiệm số 1 116

Hình 3.2 Biểu đồ so sánh kết quả lớp thực nghiệm và lớp đối chứng sau bài thực nghiệm số 2 118

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Bước sang thế kỷ 21, trong bối cảnh cuộc cách mạng khoa học kỹ thuậtphát triển như vũ bão và xu hướng toàn cầu hóa mạnh mẽ nền kinh tế thếgiới, đã đặt ra một yêu cầu cấp thiết đối với sự nghiệp giáo dục đào tạo là phảiđổi mới mục tiêu, nội dung và phương pháp giáo dục Để đạt được mục

tiêu: “Phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học”, đổi mới

phương pháp dạy học là một trong những nhiệm vụ quan trọng của cải cáchgiáo dục nói chung và cải cách giáo dục bậc trung học phổ thông nói riêng.Những năm trở lại đây, các trường trung học phổ thông đã có rất nhiều cốgắng và luôn đặc biệt coi trọng việc đổi mới phương pháp dạy học, phát huytính tích cực và phát triển năng lực cho học sinh

Một trong những hướng đổi mới phương pháp dạy học đó là tổ chứcdạy học khám phá Đây là một phương pháp dạy học tích cực, giúp học sinhphát huy được nội lực, tư duy chủ động, sáng tạo và khơi dậy hứng thú họctập trong các em Dạy học khám phá có vai trò nhằm xây dựng nên nhữngkiến thức mới từ những kiến thức, kinh nghiệm sẵn có của học sinh dưới sựhướng dẫn của giáo viên Từ đó, hình thành và phát triển các năng lực cầnthiết như năng lực hợp tác, giao tiếp, tự học, giải quyết vấn đề Chính vì vậy,dạy học khám phá được coi là một phương pháp có nhiều triển vọng trong bốicảnh hiện nay

Chương trình Địa lí 12 với đặc trưng là những nội dung kiến thức về tựnhiên, kinh tế- xã hội Việt Nam, sẽ rất thuận lợi trong việc áp dụng phươngpháp dạy học khám phá Bởi lẽ, đây là những kiến thức về chính đất nước -nơi các em đang sinh sống Điều này không chỉ giúp các em cảm thấy nhữngkiến thức đó gần gũi, có cơ hội để trải nghiệm mà còn rất thiết thực, làm tănghứng thú học Địa lí cho học sinh Ngoài những thuận lợi về nội dung, chương

Trang 9

trình môn học, còn có thuận lợi từ chính các em học sinh Lứa tuổi học sinhlớp 12 là lứa tuổi bắt đầu bước vào giai đoạn “người lớn”, rất thích được

“khám phá” kiến thức Quan trọng hơn, sau năm học lớp 12 này, các em họcsinh sẽ rời ghế nhà trường THPT, một bộ phận sẽ tiếp tục học lên các cấp caohơn, còn lại một bộ phận lớn sẽ trở thành người lao động, vì vậy rất cần thiếtphải có những năng lực để đáp ứng được yêu cầu của cuộc sống đưa ra

Thực tế, trong những năm gần đây, trong giáo dục đã có nhiều đổi mớitích cực về nội dung, trang thiết bị dạy học, nhiều giáo viên đã áp dụng nhữngphương pháp dạy học tích cực… Tuy nhiên, cũng vẫn còn nhiều giáo viên bộmôn Địa lí gặp nhiều khó khăn trong việc thiết kế và tổ chức dạy học khámphá, hoặc xây dựng được các tình huống thúc đẩy được sự hào hứng khámphá của học sinh….Về phía học sinh, bên cạnh những học sinh tích cực, vẫncòn một số học sinh còn ỷ lại vào bạn bè, chưa chủ động, tự giác tìm tòi, nắmbắt kiến thức… Từ đó, làm cho hiệu quả giờ học không cao Do vậy, việcnghiên cứu, tìm hiểu về dạy học khám phá trong dạy học Địa lí 12 là một việclàm cần thiết

Với tất cả những lí do trên và niềm tin vào hiệu quả của phương pháp

này nên tôi đã chọn đề tài: “ Tổ chức dạy học khám phá trong môn Địa lý 12- THPT theo định hướng phát triển năng lực”.

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

2.1 Mục đích nghiên cứu

Xây dựng các biện pháp tổ chức dạy học khám phá trong môn Địa Lý 12nhằm phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và phát triển năng lực của họcsinh Đồng thời, góp phần đổi mới phương pháp dạy học và nâng cao chất lượngdạy học môn Địa lý ở trường THPT

Trang 10

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích trên, đề tài cần hoàn thành nhiệm vụ cơ bản sau:

- Nghiên cứu cơ sở lí luận và thực tiễn của việc tổ chức dạy học khám phátrong môn Địa lí lớp 12 theo định hướng phát triển năng lực tại trường THPT

- Xây dựng quy trình DHKP trong môn Địa lí lớp 12

- Đưa ra các biện pháp tổ chức dạy học khám phá trong môn Địa lí 12theo định hướng phát triển năng lực

- Thiết kế và tổ chức dạy học khám phá trong môn Địa lí lớp 12 theođịnh hướng phát triển năng lực

- Thực nghiệm sư phạm nhằm kiểm chứng tính khả thi và hiệu quả của

đề tài nghiên cứu

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Các biện pháp tổ chức dạy học khám phá trong môn Địa lí lớp 12 THPTtheo định hướng phát triển năng lực

3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Tổ chức dạy học khám phá ở một số bài học trong môn Địa Lí 12 –THPT (ban cơ bản)

- Địa bàn thực nghiệm: tại một số trường THPT của tỉnh Hải Dương

4 Giả thuyết khoa học

Nếu xây dựng được các biện pháp tổ chức dạy học khám phá trong mônĐịa lí 12- THPT một cách hợp lí, đảm bảo các yêu cầu, nguyên tắc trong dạyhọc thì sẽ phát huy được tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo và pháttriển các năng lực của học sinh một cách có hiệu quả Đồng thời, góp phầnđổi mới phương pháp và nâng cao chất lượng dạy học Địa lí ở trường phổthông

Trang 11

5 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu

5.1 Trên thế giới

Có thể nói, những tư tưởng trong dạy học khám phá xuất hiện từ rất xa xưa Những tư tưởng này mặc dù trong giai đoạn đầu chưa rõ nét nhưng đó chính là cơ sở , nền tảng để kiến tạo nên phương pháp dạy học khám phá sau này Ví dụ như:

Khổng Tử (551-479 TCN)- bậc thầy vĩ đại của giáo dục phương Đông cổđại rất coi trọng vai trò của giáo dục, đòi hỏi người ta phải học và tự tìm tòi,suy nghĩ, đào sâu trong quá trình học Như vậy, về bản chất ông đã nhấnmạnh đến vai trò của sự tự khám phá của người học

Socrat, Hy Lạp (469-390 TCN) cho rằng phương pháp vấn đáp cũng thểhiện biểu hiện của phương pháp dạy học khám phá Phương pháp này cónghĩa là đi từ những gì trẻ biết để giúp trẻ vận dụng trực giác, tinh thần củamình để khám phá ra sự thật quá hiển nhiên Như vậy, theo ông dựa vào quansát thế giới bên ngoài giúp trẻ khám phá ra bản chất của những sự vật, hiệntượng được quan sát Ở đây chúng ta nhận thấy manh nha của khoa sư phạmhoạt động, sư phạm dựa vào sự quan sát thế giới bên ngoài giúp trẻ khám phá

ra cái bản chất của những hiện tượng, sự vật được quan sát Nói như cách củaSocrat, dựa vào sự quan sát thế giới bên ngoài đó để giúp trẻ đi vào thế giớinhững ý niệm

Thời Phục Hưng có rất nhiều các nhà giáo dục tiến bộ đã nêu lên những

tư tưởng quan tâm đến học sinh và chú ý đến việc phát huy khả năng tìm tòi,khám phá của học sinh trong việc chiếm lĩnh tri thức:

Rút xô J.J (1712-1778), nhà tư tưởng, nhà giáo dục Pháp cũng nói

“Đừng cho trẻ khoa học, mà phải để nó tự phát minh ra” Trên cơ sở đó, ông

đã đề ra trong giáo dục phải dựa vào tính tò mò tự nhiên, lòng khao khát hiểubiết của trẻ Ông nhấn mạnh điều quan trọng trong giáo dục không phải là dạy

Trang 12

cho trẻ chân lí mà là chỉ cho trẻ cách phải làm sao để lúc nào cũng có thểkhám phá ra chân lí Đây là một tư tưởng rất tiến bộ, đánh dấu bước ngoặt đốivới phương pháp dạy học khám phá Mặc dù ông không gọi tên là dạy họckhám phá nhưng chính là đề cập đến bản chất của phương pháp này.

Ta- lây-răng (1791) rất chú trọng đến việc phát huy óc sáng tạo và tính

độc lập suy nghĩ của học sinh Ông viết “ Người ta đã chứng minh hàng

nghìn lần rằng, chỉ khi nào người ta tự tìm tòi, tự phát minh điều gì thì người

ta mới thực sự là biết, thực sự nhìn rõ điều đó Nếu không, ý kiến có thể đến với ta mà không phải của ta ”

Đến cuối thế kỉ XIX nửa đầu thế kỉ XX, dạy học khám phá được các nhàgiáo dục chú ý hơn, tiêu biểu là các nhà giáo dục John Dewey, J.Piaget,Vygotsky, Bruner… Trong đó, John Dewey- một triết gia giáo dục nổi tiếng

đã đề ra những nguyên tắc giáo dục cho việc xây dựng “ nhà trường cho ngàymai” Ông nhấn mạnh khoa học phải được giảng dạy như một quá trình chứkhông phải chỉ là ghi nhớ sự kiện Theo ông, để giáo dục đạt kết quả tốt phảidựa vào kinh nghiệm thực tế của trẻ em Việc giảng dạy phải kích thích đượchứng thú, phải để trẻ độc lập tìm tòi, hành động bằng cách sáng kiến, khámphá, phát hiện Còn thầy giáo là người tổ chức, thiết kế, người cố vấn

Đặc biệt, người có công nghiên cứu và áp dụng thành công phương phápnày vào thực tiễn dạy học là Jerme Bruner (1915) với tác phẩm nổi tiếng

“Quá trình giáo dục” Trong tác phẩm này, ông đã chỉ ra những yếu tố cơ bản

của phương pháp dạy học này như giáo viên là người tìm kiếm các yếu tố tạotình huống, trên cơ sở thiết kế các hoạt động của học sinh mà xác định các

hoạt động chỉ đạo, tổ chức của giáo viên… Bruner cũng phát biểu “học tập

khám phá là lối tiếp cận mà qua đó học sinh được tương tác với môi trường

và phương pháp của họ bằng cách khảo sát và thực hiện các đối tượng giải đáp thắc mắc và tranh luận hay biểu diễn thí nghiệm…”

Trang 13

Vào những năm 20 của thế kỉ XX, ở Anh và Pháp đã ra đời những

“trường học mới”, “lớp học mới”, trong đó chú trọng vào việc phát triển nănglực trí tuệ cho học sinh, khuyến khích tổ chức các hoạt động học tập mà dochính học sinh tự lực khám phá kiến thức, chính học sinh tự quản trong họctập và phù hợp với lợi ích, nhu cầu của học sinh Xu hướng này nhnah chóngảnh hưởng sang Mỹ và các nước châu Âu khác

Trong cuốn “Dạy học ngày nay”của tác giả Geoffrey Petty được xuất

bản lần đầu năm 1993 bởi Nhà xuất bản Stanley Thornes, tác giả cũng đề cập

đến lối dạy học “khám phá có hướng dẫn” Ông đã chỉ ra rằng “Phương pháp

khám phá được nhiều giáo viên tiểu học và giáo viên khoa học sử dụng Tuy nhiên, khám phá có thể được sử dụng cho giáo viên của tất cả các môn”[12;

tr.278] Trong cuốn sách này, ông đã nêu ra những ưu điểm và nhược điểmcủa phương pháp dạy học khám phá Và khẳng định rằng dạy học khám phárất thú vị, thúc đẩy động cơ học tập và phát triển kĩ năng tư duy cho học sinh.Năm 1995, dựa trên cơ sở khoa học của sự tìm tòi - nghiên cứu giáo

sư Georger Charpak (người Pháp), đã sáng tạo và phát triển kĩ thuật dạyhọc bàn tay nặn bột nhằm kích thích tính tò mò, ham mê khám phá, say mêkhoa học và rèn luyện kĩ năng nói và viết cho học sinh Thực chất, kĩ thuậtnày thể hiện tư tưởng của phương pháp dạy học khám phá với những hoạtđộng dạy học như: học nhóm, giải quyết vấn đề, quan sát mô tả thí nghiệm,

mô hình, dự án

Như vậy, quan điểm về dạy học khám phá trên thế giới đã được xuấthiện từ rất lâu và theo thời gian, chúng cũng được hiểu và thực hiện khám phátrong học tập bằng những cách khác nhau Nhưng đều đề cập tới một đốitượng là học sinh, với cùng một mục đích đó là làm thế nào để học sinh nắmbắt, chiếm lĩnh được nhiều kiến thức nhất, và phát huy được năng lực mộtcách toàn vẹn nhất

Trang 14

5.2 Ở Việt Nam

Ở Việt Nam vào những năm 1960, nhiều nghiên cứu về các biện pháp tổchức học sinh hoạt động tự lực, chủ động, sáng tạo ra kiến thức mới đã đượcđặt ra Nhưng các nghiên cứu hạn chế ở mức lí thuyết

Từ năm 1970 trở đi, phương pháp dạy học khám phá được quan tâm vànghiên cứu đồng bộ hơn Đặc biệt, tháng 1/1979 trong nghị quyết của Bộchính trị về cải tổ giáo dục, vấn đề phát huy tính tích cực, tự lực khám phákiến thức của học sinh được quan tâm và chú trọng, tạo ra một bước ngoặt

mới cho ngành giáo dục Nghị quyết chỉ rõ: “Cần coi trọng bồi dưỡng hứng

thú, thói quen và phương pháp tự học của học sinh Hướng họ biết cách tự nghiên cứu sách giáo khoa, sách báo khoa học, thảo luận chuyên đề, tập làm thực nghiệm khoa học” Như vậy, theo tinh thần của nghị quyết, việc đổi mới

phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động của họcsinh đã được đặt ra hàng đầu Và nhiều phương pháp dạy học tích cực được

áp dụng, trong đó có dạy học khám phá

Trong cuốn Giáo Dục Học của Hà Thế Lữ - Đặng Vũ Hoạt đã nhấn

mạnh những phẩm chất quan trọng của hoạt động nhận thức tự giác, tính tíchcực, chủ động tìm tòi, sáng tạo và tác dụng của nó đối với kết quả học tập củahọc sinh

Các tác phẩm của Thái Duy Tuyên như “ Những vấn đề cơ bản của giáo

dục hiện đại”, “Một số vấn đề đổi mới phương pháp dạy học” (1996) và

trong cuốn “ Dạy học và phương pháp dạy học trong nhà trường” của tác giả

Phan Trọng Ngọ cũng nhấn mạnh nhiều đến các phương pháp để khơi dậytính tích cực “khám phá” của học sinh, vừa giúp sự lĩnh hội kiến thức đượchiệu quả, dễ dàng, vừa góp phần hình thành, phát triển những năng lực cầnthiết cho học sinh

Trang 15

Năm 1999, luận án tiến sĩ “ Áp dụng phương pháp tự phát hiện vào dạy

học Địa lý ở tiểu học” của Tiến sĩ Nguyễn Tuyết Nga cũng một lần nữa

khẳng định vai trò của phương pháp tự phát hiện trong dạy học Địa lí ở tiểuhọc Đây cũng là một dạng biểu hiện của phương pháp dạy học khám phá.Luận án cũng đưa ra những biện pháp để nâng cao sự tự phát hiện trong họctập của học sinh nhằm chiếm lĩnh tri thức Địa lí Tuy nhiên, mới chỉ dừng lại

ở cấp tiểu học, đặc biệt là lớp 4 và lớp 5

Năm 2010, Bộ Giáo Dục và Đào tạo đã xuất bản cuốn “ Dạy và học tích

cực” – Dự Án Việt Bỉ, cùng với cuốn “Lý luận dạy học hiện đại” của GS

Bernd Meier và TS Nguyễn Văn Cường do trường ĐHSP Hà Nội và ĐHPossdam ( Cộng hòa Liên bang Đức) phối hợp xuất bản năm 2009 đã nêu lênmột số phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực hiện nay Trong đó, có cáchình thức của phương pháp dạy học khám phá như dạy học giải quyết vấn đề,dạy học dự án…

Cuốn “Phương pháp dạy học Địa lí theo hướng tích cực” của tác giả

Đặng Văn Đức- Nguyễn Thu Hằng (2003), đã đưa ra những cơ sở lí luận quantrọng về phương pháp dạy học tích cực lấy học sinh làm trung tâm Đồngthời, tác giả cũng nêu ra những phương pháp dạy học tích cực được vận dụng

có hiệu quả trong dạy học Địa lí như: dạy học giải quyết vấn đề, phương pháphướng dẫn học sinh khai thác bản đồ, phương pháp thảo luận, phương phápkhảo sát điều tra trong dạy học địa lí, phương pháp dự án, phương pháp đóngvai Tất cả các phương pháp trên đều nhằm mục đích phát huy tính tích cực,chủ động trong học tập của học sinh Đồng thời mỗi phương pháp góp phầnphát triển được một số năng lực của học sinh thông qua quá trình học sinh tìmtòi, khám phá và lĩnh hội tri thức

Tiếp đến, năm 2011 Bộ GD&ĐT đã triển khai thử nghiệm và chính thứctriển khai ở các trường phổ thông từ năm học 2013-2014 kĩ thuật bàn tay nặn

Trang 16

bột Như đã nói ở trên, “ bàn tay nặn bột” mang bản chất của dạy học khám phá.Tài liệu tập huấn về Đổi mới Phương pháp dạy học và Kiểm tra đánh giátheo định hướng phát triển năng lực học sinh của Bộ GD&ĐT năm 2014 cũnghướng tới đổi mới công tác giáo dục đào tạo ở nước ta theo tinh thần trên.Vận dụng những quan điểm chỉ đạo trên, đã có một số các luận văn ở cácmôn học khác nhau có liên quan đến đề tài như “Vận dụng phương pháp dạy

học khám phá trong chương cảm ứng điện từ, vật lí 11 nâng cao” [14]; Vận

dụng phương pháp dạy học khám phá trong dạy học phần sinh thái học- sinh

học 12 THPT để nâng cao năng lực nhận thức cho học sinh [25]; … Mới đây nhất, luận văn “Tổ chức dạy học khám phá trong môn Địa lý lớp 11-

THPT theo định hướng phát triển năng lực học sinh” [17] của thạc sĩ Trần

Hồng Hạnh đã đưa ra những luận điểm về phương pháp dạy học khám phá ápdụng trong dạy học Địa lí 11- THPT Trên cơ sở kế thừa và phát triển nhữngluận điểm về phương pháp dạy học khám phá của luận văn này, tôi đã hoànthiện và áp dụng tổ chức dạy học khám phá trong môn Địa lí 12- THPT theođịnh hướng phát triển năng lực cho học sinh

Như vậy có thể nói phương pháp dạy học khám phá đã được nghiên cứu

và tìm hiểu ở cả các công trình trong và ngoài nước Nhìn chung, các tác giảđều khẳng định được vai trò và ý nghĩa quan trọng của phương pháp trongviệc phát triển năng lực cho học sinh Đồng thời, một số công trình còn đềxuất một số biện pháp tiến hành dạy học khám phá sao cho có hiệu quả Tuynhiên, cho đến nay chưa có một công trình nào trình bày một cách tập trung,trực tiếp, chuyên biệt và có hệ thống về việc áp dụng phương pháp dạy họckhám phá trong dạy học Địa lí 12 khối THPT Mặc dù vậy, trên đây là nhữngtài liệu quý giá, là cơ sở nền tảng để tôi tiếp tục đi sâu nghiên cứu và áp dụngphương pháp này một cách có hiệu quả nhất trong dạy học môn Địa Lí 12 ởtrường phổ thông

Trang 17

6 Quan điểm và phương pháp nghiên cứu

6.1 Quan điểm nghiên cứu

Đây là một luận điểm quan trọng khi nghiên cứu bất cứ một chủ đề nào.Thực hiện quan điểm này cho phép ta nhìn thấy rõ ràng hơn về phương phápdạy học khám phá và mức độ khả quan của phương pháp này khi áp dụng vàoviệc dạy học

Như đã trình bày ở “phần 5 Tổng quan về đề tài nghiên cứu”, dạy học

khám phá là một phương pháp được manh nha và phát triển từ rất sớm Dovậy, những tài liệu nghiên cứu về phương pháp này sẽ là nguồn tư liệu quýgiá cho đề tài Một khi đã hiểu rõ về phương pháp, chắc chắn sẽ cho phép thuđược những hiệu quả cao trong hoạt động dạy học nói chung và áp dụng tốthơn trong giảng dạy bộ môn Địa lí nói riêng Mặt khác, cũng giúp chỉ ranhững điểm mới, những điểm riêng của đề tài này so với các đề tài trước đó

6.1.3 Quan điểm thực tiễn

Quan điểm thực tiễn một quan điểm không thể thiếu khi nghiên cứu bất

kì đề tài nào Đề tài muốn thành công thì cũng phải xuất phát từ thực tiễn.Thực tiễn vừa là nguồn gốc, vừa là động lực, vừa là mục tiêu, vừa là tiêu

Trang 18

chuẩn để đánh giá sản phẩm nghiên cứu khoa học Khoa học chỉ là chân lí chỉkhi nào nó phù hợp với thực tiễn và có giá trị cải tạo thực tiễn.

Trong những năm gần đây, việc đổi mới phương pháp dạy học nhằmphát triển năng lực cho học sinh đang rất được chú trọng và trở thành xuhướng giáo dục quốc tế Với những đặc điểm ưu việt của phương pháp dạyhọc khám phá sẽ thúc đẩy việc hoàn thành được mục tiêu trên Đặc biệt, vớichủ trương thay đổi nội dung sách giáo khoa từ 2018 theo hướng mở, chú ývào việc học sinh vận dụng được gì từ những kiến thức đã học để giải quyếtvấn đề thực tiễn thì việc nghiên cứu và tiến hành dạy học khám phá là mộtviệc làm cần thiết

6.1.4 Quan điểm dạy học lấy học sinh làm trung tâm

Dạy học lấy HS làm trung tâm là một quan điểm dạy học tích cực Đây

là quan điểm đặt người học vào vị trí trung tâm của quá trình dạy học, xem cánhân người học – với những phẩm chất và năng lực riêng của mỗi người –vừa là chủ thể, vừa là mục đích của quá trình đó Theo quan điểm này, trongquá trình học tập HS chủ động tham gia các hoạt động nhận thức, tự tìm tòikhám phá tri thức và giải quyết vấn đề GV là người điều khiển, thúc đẩy, cốvấn và định hướng cho các hoạt động của HS Như vậy, DHKP cũng là mộtphương pháp dạy học lấy HS làm trung tâm của quá trình học, phát triển đượcnăng lực cho học sinh

cho học sinh

Dạy học theo quan điểm định hướng phát triển năng lực còn gọi là dạyhọc định hướng kết quả đầu ra, nhằm thực hiện được mục tiêu phát triển toàndiện các phẩm chất, nhân cách, chú trọng năng lực vận dụng tri thức trong cáctình huống thực tiễn, nhằm chuẩn bị cho con người năng lực giải quyết cáctình huống của cuộc sống và nghề nghiệp

Trang 19

Trên quan điểm này, ta thấy dạy học khám phá sẽ góp phần giúp hìnhthành và phát triển được các năng lực cần thiết cho HS thông qua việc các em

tự học, tự khám phá tri thức Khi tiến hành các hoạt động khám phá trong dạyhọc Địa lí 12 với nội dung là về địa lí tự nhiên, kinh tế xã hội Việt Nam sẽ tạođiều kiện để GV có thể dẫn dắt HS khám phá nhiều hơn những nội dung cótrong SGK Đặc biệt là có thể vận dụng những kiến thức đó để giải thíchnhững hiện tượng có liên quan xảy ra trong thực tiễn cuộc sống

6.1.6 Quan điểm công nghệ dạy học

Ứng dụng quan điểm công nghệ dạy học là một việc làm không thể thiếukhi đổi mới phương pháp dạy học, nhằm nâng cao chất lượng dạy và họctrong điều kiện hiện nay Quan điểm này chỉ đạo việc xây dựng và thiết kếcác bài học Địa lí theo các định hướng cơ bản sau:

 Chuẩn hóa : Đặc trưng này đòi hỏi mỗi hoạt động trong dạy học khámphá ngay từ khâu thiết kế phải chuẩn hóa về mục tiêu, xác lập các điều kiệntối ưu trong học tập cũng như sản phẩm cần đạt được Mỗi hoạt động học tậptheo phương pháp khám phá đều có những đặc điểm riêng về HS ( lứatuổi,tâm lí, trình độ, số lượng ) ; về thời gian, về các điều kiện khác như cơ

sở vật chất

 Quy trình hóa: theo quan điểm của công nghệ dạy học thì việc tổ chứcdạy học khám phá là một quy trình bao gồm các bước: thiết kế, thực hiện vàđánh giá Nhằm mục tiêu hướng dẫn cho trẻ bắt đầu từ những cái đã biết tiếnhành hoạt động khám phá để hình thành nên những tri thức mới

 Điện tử hóa : Ứng dụng công nghệ thông tin là một trong những đặcđiểm nổi bật của công nghệ dạy học Theo định hướng này, đề tài triệt để sửdụng công nghệ thông tin và ứng dụng của nó trong việc thực hiện các hoạtđộng khám phá phù hợp với trình độ HS lớp 12 Hiện nay, internet với nguồn

Trang 20

thông tin khổng lồ đa dạng về cả hình ảnh, màu sắc, âm thanh sẽ là thư việnkhổng lồ hỗ trợ đắc lực cho HS trong quá trình khám phá tri thức Đồng thời

nó cũng hỗ trợ việc phát triển năng lực sử dụng công nghệ thông tin và truyềnthông của HS

6.2 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình nghiên cứu, tôi đã vận dụng phối hợp các phương pháp,trong đó có các phương pháp chủ yếu sau:

- Phương pháp thu thập, phân tích và tổng hợp tài liệu

Để thực hiện đề tài này, tác giả đã thu thập, phân tích, tổng hợp, tìm hiểu,nghiên cứu những tài liệu cơ bản để xây dựng cơ sở lí luận, thực tiễn chặt chẽlàm tiền đề cho việc thiết kế và thực hiện các hoạt động khám phá của HS Nhưcác tài liệu cơ bản về Giáo dục học, Tâm lí học, Triết học, các công trìnhnghiên cứu về lí luận và phương pháp dạy học, các văn kiện của Đảng và Nhànước có liên quan đến đề tài

- Phương pháp phân loại, hệ thống hóa kiến thức

Để đảm bảo cho đề tài được mạch lạc, khoa học và logic, đem lạihiệu quả cao, tôi đã dùng phương pháp phân loại và hệ thống các tài liệutham khảo, phân loại đối tượng học sinh, phân loại các hệ thống câu hỏi,bài tập Do vậy, đây cũng là một phương pháp được dùng xuyên suốttrong quá trình làm Luận văn

- Phương pháp quan sát

Đây cũng là phương pháp được sử dụng trong suốt quá trình nghiên cứu

đề tài và tổ chức thực hiện dạy học khám phá GV quan sát HS trong quá trìnhlàm việc, quan sát quá trình dạy học thực nghiệm và đối chứng để rút ranhững ưu điểm của dạy học khám phá trong việc truyền đạt nội dung bài học

và định hướng phát triển năng lực cho học sinh Đồng thời, quan sát để rút ra

Trang 21

những hạn chế, những điều thực hiện chưa tốt để rút kinh nghiệm, làm bài họccho lần giảng dạy sau được tốt hơn và có những điều chỉnh cần thiết phù hợpvới thực tế dạy học.

- Phương pháp điều tra, khảo sát thực tế

Đề tài sử dụng phương pháp điều tra GV và HS ở một số trường THPT( gồm GV Địa lí và HS lớp 12 ) thông qua phiếu điều tra, trò chuyện… đểđiều tra tình hình áp dụng phương pháp dạy học khám phá, kết quả áp dụng,mức độ hứng thú của học sinh và khảo sát năng lực của giáo viên nhằm phục

vụ cho mục đích thiết kế và tổ chức các giáo án theo phương pháp này

- Phương pháp chuyên gia

Các vấn đề trong đề tài được tham khảo và trao đổi với một số chuyên giagiáo dục, giáo viên, những người quan tâm… để đưa ra một số định hướng cho

đề tài cũng như trong việc đánh giá khách quan kết quả nghiên cứu

- Phương pháp thống kê toán học

Giá trị của phương pháp này không chỉ giới hạn ở chỗ sử dụng phươngpháp thống kê toán học để xử lí kết quả thực nghiệm sư phạm và kiểm địnhgiả thiết thống kê về kết quả học tập của hai lớp đối chứng và thực nghiệm màcòn giải thích và làm rõ mối quan hệ có tính định hướng giữa tâm lí học sinh

và khả năng nhận thức, phát triển năng lực của học sinh

- Phương pháp thực nghiệm sư phạm

Đây là phương pháp thu thập và xử lí thông tin thực hiện bởi những quansát trong điều kiện có gây biến đổi đối tượng khảo sát một cách chủ định.Phương pháp này được trình bày kĩ trong chương III của luận văn với việc sửdụng lớp đối chứng và lớp thực nghiệm để kiểm chứng các kết quả nghiêncứu của đề tài, đánh giá khách quan những giả thuyết mà tác giả đã nêu ratrong đề tài Kết quả thực nghiệm sẽ được trực quan hóa bằng bảng thống kê,biểu đồ

Trang 22

7 Đóng góp mới của đề tài

- Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của việc tổ chức dạy học khám phátrong môn Địa lí 12 – THPT theo định hướng phát triển năng lực

- Xây dựng quy trình thiết kế và tổ chức dạy học khám phá trong mônĐịa Lí 12 – THPT

- Thiết kế và tổ chức dạy học khám phá trong môn Địa lí lớp 12- THPT

- Tiến hành thực nghiệm sư phạm để kiểm nghiệm tính khả thi và hiệuquả của đề tài

8 Cấu trúc của đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phầnphụ lục, nội dung của luận văn bao gồm ba chương:

Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc tổ chức dạy học

khám phá trong môn Địa lí lớp 12- THPT theo định hướng phát triển năng lực

Chương 2: Dạy học khám phá trong môn Địa lí 12- THPT theo

định hướng phát triển năng lực

Chương 3: Thực nghiệm sư phạm.

Trang 23

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC TỔ CHỨC DẠY HỌC KHÁM PHÁ TRONG MÔN ĐỊA LÝ LỚP 12 - THPT THEO ĐỊNH

HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC

1.1 Những vấn đề đổi mới giáo dục phổ thông theo định hướng phát triển năng lực

Bối cảnh thời đại mới của nhân loại đã làm phát triển tư duy mới về giáo

dục thế kỷ XXI đó là xây dựng một nền giáo dục “ Mọi người đều được học

và học tập suốt đời” Đặc biệt, sự phát triển nhanh chóng của CNTT đã làm

cho HS có thể học mọi lúc, mọi nơi, kiến thức cũng không chỉ giới hạn ở nộidung SGK mà có thể từ nhiều nguồn khác nhau Điều này đã đặt ra yêu cầucấp bách cho giáo dục là phải đổi mới cách dạy và cách học GV không chỉđơn thuần là người truyền thụ kiến thức mà cần là người hướng dẫn cho HScách tự tìm kiếm và chiếm lĩnh tri thức Đặc biệt, từ những tri thức chiếm lĩnhđược, học sinh phải phát triển được năng lực giải quyết vấn đề trong thực tiễncuộc sống Giáo dục phải khơi gợi phát triển được năng khiếu, bộc lộ được sởtrường và thể hiện được năng lực từng cá nhân Từ đó, giáo dục Việt Nam đãxác định mục tiêu đổi mới PPDH theo định hướng phát triển năng lực

1.1.1 Những quan điểm chỉ đạo đổi mới giáo dục phổ thông theo định hướng PT năng lực học sinh

Các quan điểm chỉ đạo đổi mới giáo dục theo tinh thần trên được thểhiện rõ qua luật giáo dục, hay các văn bản báo cáo chính trị Đại hội Đảng toàn

quốc… Luật giáo dục, Điều 28 quy định: “Phương pháp giáo dục phổ thông

phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh, phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn,

Trang 24

tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh” [5].

Tư tưởng đổi mới này tiếp tục được khẳng định tại các văn kiện Đại hội

Đảng, đặc biệt là tại Nghị quyết Hội nghị trung ương 8 khóa XI: “Tiếp tục

đổi mới nền giáo dục, tập trung phát triển trí tuệ, thể chất, hình thành phẩm chất năng lực công dân, phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu, định hướng nghề nghiệp cho học sinh… Phát triển khả năng sáng tạo, tự học, khuyến khích học tập suốt đời” Theo tinh thần đó, các yếu tố của quá trình dạy học như nội

dung giáo dục, phương pháp giáo dục và khâu kiểm tra, đánh giá được đổimới theo hướng phát triển năng lực người học

1.1.2 Định hướng đổi mới chương trình giáo dục phổ thông theo định hướng PT năng lực học sinh

Điều đáng quan tâm nhất trong đổi mới chương trình giáo dục phổ thônghiện nay đó là chuyển từ chương trình định hướng nội dung dạy học sangchương trình định hướng năng lực Nếu như chương trình giáo dục định

hướng nội dung (định hướng đầu vào) chú trọng việc truyền thụ hệ thống tri

thức khoa học đã được quy định sẵn trong chương trình dạy học, chưa chútrọng đến chủ thể người học và khả năng ứng dụng tri thức trong những tìnhhuống thực tiễn thì bản chất của chương trình định hướng năng lực lại hoàn

toàn khác Giáo dục định hướng năng lực (định hướng đầu ra) nhằm đảm bảo

chất lượng đầu ra của việc dạy học, thực hiện mục tiêu phát triển toàn diệncác phẩm chất nhân cách, chú trọng năng lực vận dụng tri thức trong nhữngtình huống thực tiễn nhằm chuẩn bị cho con người năng lực giải quyết cáctình huống của cuộc sống và nghề nghiệp Chương trình này nhấn mạnh vaitrò của người học với tư cách chủ thể của quá trình nhận thức

Khác với chương trình định hướng nội dung, chương trình dạy học địnhhướng năng lực tập trung vào việc mô tả chất lượng đầu ra, có thể coi là “sảnphẩm cuối cùng” của quá trình dạy học Việc quản lý chất lượng dạy học

Trang 25

chuyển từ việc “điều khiển đầu vào” sang “điều khiển đầu ra”, tức là kết quảhọc tập của học sinh.

Chương trình dạy học định hướng năng lực không quy định những nộidung dạy học chi tiết mà quy định những kết quả đầu ra mong muốn củaquá trình giáo dục, trên cở sở đó đưa ra những hướng dẫn chung về việc lựachọn nội dung, phương pháp, tổ chức và đánh giá kết quả dạy học nhằmđảm bảo thực hiện được mục tiêu dạy học tức là đạt được kết quả đầu ramong muốn Trong chương trình định hướng năng lực, mục tiêu học tập,tức là kết quả học tập mong muốn thường được mô tả thông qua hệ thốngcác năng lực Kết quả học tập mong muốn được mô tả chi tiết và có thểquan sát, đánh giá được Học sinh cần đạt được những kết quả yêu cầu đãquy định trong chương trình Việc đưa ra các chuẩn đào tạo cũng là nhằmđảm bảo quản lý chất lượng giáo dục theo định hướng kết quả đầu ra

Ưu điểm của chương trình giáo dục định hướng năng lực là tạo điềukiện quản lý chất lượng theo kết quả đầu ra đã quy định, nhấn mạnh nănglực vận dụng của học sinh Trong đó, năng lực là khả năng thực hiện cótrách nhiệm và hiệu quả các hành động, giải quyết các nhiệm vụ, vấn đềtrong tình huống thay đổi thuộc các lĩnh vực nghề nghiệp, xã hội hay cánhân trên cơ sở hiểu biết, kĩ năng, kĩ xảo và kinh nghiệm cũng như sự sẵn

sàng hành động [8].

Để hình thành và phát triển năng lực, cần xác định các thành phần vàcấu trúc của chúng Cấu trúc chung của năng lực được mô tả là sự kết hợpcủa bốn năng lực thành phần: Năng lực chuyên môn, năng lực phươngpháp, năng lực xã hội và năng lực cá thể Mô hình bốn thành phần năng lựctrên phù hợp với bốn trụ cột giáo dục theo UNESCO

Trang 26

Hình 1.1 Sơ đồ mối quan hệ giữa các thành phần năng lực với các trụ

cột giáo dục.

Từ mô hình năng lực trên, cho thấy giáo dục định hướng năng lực khôngchỉ nhằm mục tiêu phát triển năng lực chuyên môn mà còn phát triển năng lựcphương pháp, năng lực xã hội, và năng lực cá thể Những năng lực này khôngtách rời nhau mà có mối quan hệ chặt chẽ Năng lực hành động được hình

thành trên cơ sở có sự kết hợp các năng lực này [5].

Dựa vào kinh nghiệm của các nước phát triển, đối chiếu với yêu cầu vàđiều kiện giáo dục trong nước trong những năm sắp tới, các nhà khoa họcgiáo dục Việt Nam đã đề xuất định hướng chuẩn đầu ra về các năng lực cầnhình thành cho học sinh ở cấp THPT Trong đó, cần phải hình thành cho họcsinh các năng lực cốt lõi như:

Trang 27

- Năng lực giải quyết vấn đề

- Năng lực tư duy tổng hợp theo lãnh thổ

- Năng lực học tập tại thực địa

- Năng lực sử dụng bản đồ

- Năng lực sử dụng số liệu thống kê

- Năng lực sử dụng hình vẽ, tranh ảnh địa lí, mô hình, video clip….Như vậy, muốn cho học sinh phát triển được các năng lực trên, muốncho chương trình giáo dục phổ thông định hướng đầu ra thành công thì điềuquan trọng là phải đổi mới phương pháp đổi dạy học theo định hướng pháttriển năng lực

1.1.3 Định hướng đổi mới phương pháp dạy học theo định hướng

PT năng lực học sinh

PPDH theo quan điểm phát triển năng lực không chỉ chú ý tích cực hóahoạt động học sinh về hoạt động trí tuệ mà còn chú ý rèn luyện năng lực giảiquyết vấn đề gắn với những tình huống của cuộc sống và nghề nghiệp, đồngthời gắn hoạt động trí tuệ với hoạt động thực hành, thực tiễn

Trang 28

Mục tiêu của môn Địa lí trong nhà trường phổ thông hiện nay không chỉnhằm cung cấp cho học sinh những tri thức của khoa học Địa lí một cách có

hệ thống mà còn hướng tới việc phát triển những năng lực cần thiết của ngườilao động, đáp ứng những yêu cầu phát triển mới của đất nước Để đạt đượcmục tiêu trên, cần đổi mới PPDH môn Địa lí theo hướng:

- Phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động của người học, hình thành

và phát triển năng lực tự học Dạy học thông qua liên tiếp tổ chức các hoạtđộng học tập, từ đó giúp học sinh tự khám phá những điều chưa biết chứkhông phải thụ động tiếp thu những tri thức đã được sắp đặt sẵn Giáo viên

là người tổ chức, chỉ đạo học sinh tiến hành các hoạt động học tập như ghinhớ kiến thức, phát hiện kiến thức mới, vận dụng kiến thức vào các tìnhhuống thực tiễn…

- Lựa chọn linh hoạt những phương pháp chung và phương pháp đặc thùcủa môn học Đồng thời, đảm bảo nguyên tắc “Học sinh tự mình hoàn thànhnhiệm vụ nhận thức với sự tổ chức, hướng dẫn của giáo viên” Đây chính là cơ

sở cho phương pháp dạy học khám phá phát triển ngày càng sâu rộng

- Tăng cường phối hợp hoạt động học tập cá thể với học tập hợp táctheo phương châm “tạo điều kiện cho học sinh nghĩ nhiều hơn, làm nhiều hơn

và thảo luận nhiều hơn”

- Đổi mới PPDH nói chung và trong môn Địa lí nói riêng phải đi đôivới việc đổi mới cách thức kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh vàđổi mới trang thiết bị học tập Chú trọng phát triển kĩ năng tự đánh giá vàđánh giá lẫn nhau của học sinh dưới nhiều hình thức

Đổi mới PPDH ở trường phổ thông theo định hướng phát triển năng lựcnói chung, trong môn Địa lý nói riêng có rất nhiều vấn đề cần bàn luận Song,điều quan trọng là đổi mới như thế nào? Áp dụng PPDH nào phù hợp để pháttriển năng lực cho các em HS trong các môn học cụ thể? Trên tinh thần đó,

Trang 29

chúng tôi đã nghiên cứu việc áp dụng PPDH Khám phá trong dạy học Địa lýlớp 12, với mong muốn thông qua các hoạt động học tập có thể giúp các em

HS phát triển tốt nhất các năng lực của bản thân

1.2 Dạy học khám phá

1.2.1 Khái niệm về dạy học khám phá

Nội dung giáo dục rất phong phú và đa dạng Vì vậy, việc lựa chọnphương pháp nào để truyền tải nội dung đó sao cho có hiệu quả nhất là tùythuộc vào nội dung của từng mục, từng chương, bài…Nhưng mỗi phươngpháp lại có ưu điểm và khuyết điểm riêng của nó Trong đó, dạy học khámphá là một trong những phương pháp dạy học phát huy được tính tích cực,chủ động của học sinh Tuy nhiên để hiểu rõ về khái niệm cũng như bản chấtcủa dạy học khám phá, chúng ta cần hiểu được "khám phá " là gì?

Khái niệm khám phá (Inquiry)

Theo từ điển Tiếng Việt, “Khám phá” có nghĩa là “tìm ra” Đây là hoạt

động của con người tác động đến đối tượng nhằm tìm ra bản chất bên trongcủa đối tượng, những điều mà con người chưa từng biết trước đó Hiểu mộtcách cụ thể hơn, “Khám phá” (Inquiry) là một quá trình có mục đích, là cáchthức, con đường để chiếm lĩnh tri thức, giải quyết các vấn đề để từ đó nhậnbiết được thế giới khách quan Hoặc cũng có thể hiểu “khám phá” là một quátrình tìm kiếm và điều tra các vấn đề, phát triển các giả thuyết, thiết kế thínghiệm, thu thập dữ liệu và đưa ra các kết luận để giải quyết vấn đề Quátrình khám phá bắt đầu với việc thu thập thông tin qua thị giác, thính giác, xúcgiác, vị giác và khứu giác…

Theo định nghĩa của hội đồng nghiên cứu quốc gia Hoa Kì: “ Trongkhoa học, khám phá tức là đề cập đến các cách thức khác nhau trong đó cácnhà khoa học nghiên cứu thế giới tự nhiên và đề xuất các giải thích dựa trên

Trang 30

các bằng chứng thu được từ nghiên cứu của họ” Còn trong học tập, “ khámphá” tức là đề cập đến các hoạt động của người học, trong đó họ phát triểnkiến thức và hiểu biết về các vấn đề khoa học, cũng như hiểu biết về cáchthức mà các nhà khoa học nghiên cứu thế giới tự nhiên.

J.Richard Suchman, cha đẻ của chương trình dạy học khám phá được sử

dụng rộng rãi khắp nước Mỹ, đã từng nói rằng “ Khám phá là cách mọi người

học khi họ đơn độc” Đối với Suchman, khám phá là một cách tự nhiên mà

loài người tìm hiểu về môi trường quanh mình

Tóm lại, “ Khám phá là quá trình hoạt động và tư duy, có thể bao gồmquan sát, phân tích, nhận đinh, đánh giá, nêu giả thuyết, suy luận… nhằm đưa

ra những khái niệm, phát hiện ra những tính chất, quy luật… trong các sự vật,

hiện tượng và các mối liên hệ giữa chúng” [24].

Từ những khái niệm trên, ta có thể thấy hoạt động khám phá trong khoahọc tức là chỉ sự tìm tòi, phát hiện ra cái mới Còn “khám phá” trong học tậpchỉ là sự phát hiện lại, khám phá lại những điều mà loài người đã tìm kiếmbằng con đường nghiên cứu khoa học và đã để lại trong di sản văn hóa củaloài người, của dân tộc Trong dạy học, hoạt động khám phá không phải làhoạt động tự phát , mò mẫm mà có sự hướng dẫn của GV, trong đó giáo viênkhéo léo đặt học sinh vào vị trí người phát hiện lại, khám phá lại

Khái niệm về dạy học khám phá (DHKP)

Thuật ngữ dạy học khám phá ( Inquiry Teaching ) hay còn gọi là dạy học

dựa trên sự khám phá ( Inquiry – Based Teaching ) được sử dụng và xuất hiệnvới tư cách là một PPDH tích cực, chủ động và sáng tạo Tuy nhiên, xungquanh phương pháp dạy học này hiện vẫn còn nhiều ý kiến tranh luận khácnhau về nội hàm khái niệm của nó cũng như việc sử dụng phương pháp nàytrong các môn học ở nhà trường Dưới góc độ lí luận dạy học hiện nay, DHKPđược hiểu theo nghĩa rộng, bao hàm các PPDH tích cực khác nhau như : dạyhọc tự phát hiện, dạy học giải quyết vấn đề, dạy học dự án, dạy học kiến tạo

Trang 31

Khi nghiên cứu về DHKP nhóm tác giả Jackc Richards, John Platt andHeidi Platt đã quan tâm tới vai trò của cả người dạy và người học trong đó HS

là người tự đánh giá, là người tự đưa ra kết quả và GV là người chính xác hóacác sản phẩm đó Mặt khác, nhóm này còn chú ý tới nguồn thông tin đến với

HS nên cho rằng : DHKP ( Discovery Learning ) là phương pháp dạy và họcdựa trên những quy luật sau:

 Người học phát triển quá trình tư duy liên quan đến việc khám phá vàtìm tìm hiểu thông qua quá trình quan sát, phân loại, đánh giá, tiên đoán, mô

tả và suy luận

 Giáo viên sử dụng một phương pháp giảng dạy đặc trưng hỗ trợ quátrình khám phá và tìm hiểu

 Giáo trình giảng dạy không phải là nguồn duy nhất cho người học

 Kết luận được đưa ra với mục đích thảo luận chứ không phải là cuối cùng

 Người học phải lập kế hoạch, tiến hành và đánh giá quá trình học củamình với sự hỗ trợ của GV

Ferriere Jerome Bruner- người có công nghiên cứu để áp dụng thànhcông phương pháp này vào thực tiễn dạy học cho rằng : Dạy học khám phá là

“ lối tiếp cận dạy học mà qua đó, học sinh tương tác với môi trường của họ

bằng cách khảo sát, sử dụng các đối tượng giải đáp những thắc mắc bằng tranh luận hay biểu diễn thí nghiệm” Theo tác giả, việc học tập khám phá

xảy ra khi cá nhân phải sử dụng quá trình tư duy để phát hiện ra ý nghĩa củađiều gì đó trong bản thân họ Để có được điều này, người học phải kết hợpquan sát, rút ra kết luận, thực hiện so sánh, làm rõ ý nghĩa số liệu để tạo ramột sự hiểu biết mới mà học sinh chưa từng biết trước đó Giáo viên cần cốgắng và khuyến khích học sinh tự khám phá ra các nguyên lí, cả giáo viên vàhọc sinh cần phải thực sự hòa nhập trong quá trình dạy học Tuy nhiên, ôngcũng khẳng định : trong dạy học khám phá, không phải là học sinh tự khám

Trang 32

phá tất cả các dữ liệu thông tin mà họ khám phá ra sự liên quan giữa các ýtưởng và các khái niệm bằng cách sử dụng những cái đã học Trong tác phẩmnổi tiếng “Quá trình giáo dục”, tác giả đã chỉ ra những yếu tố cơ bản củaphương pháp dạy học này là:

+ Giáo viên nghiên cứu nội dung bài học đến mức độ sâu cần thiết, tìmkiếm những yếu tố tạo tình huống, tạo cơ hội cho hoạt động khám phá, tìm tòi.+ Thiết kế các hoạt động của học sinh trên cơ sở đó mà xác định các hoạtđộng chỉ đạo, tổ chức của giáo viên

+ Khéo léo đặt người học vào vị trí của người khám phá(khám phá ra cáimới của bản thân), tổ chức và điều khiển cho quá trình này được diến ra thuậnlợi để từ đó người học xây dựng được kiến thức cho bản thân

Trong DHKP, J.Bruner đã nhấn mạnh tới vai trò cá nhân người học, khidạy học phải chú ý tới việc khai thác động lực bên trong của HS và muốn vậy

HS phải có cơ hội được khám phá, tìm tòi, tự mình phát hiện và tìm ra vấn đề.Người học sau khi tham gia vào quá trình khám phá không chỉ lĩnh hội đượctri thức mà quan trọng hơn là nắm được cách tìm ra tri thức đó

Cùng đồng tình với quan điểm chú trọng tới người học khi bàn về

DHKP thì Geoffrey Petty cho rằng “ DHKP chỉ có thể được sử dụng nếu

người học có khả năng rút ra được bài học mới từ kiến thức và kinh nghiệm sẵn có của mình” Tác giả lưu ý rằng, tìm thông tin trong sách không phải là

cách học khám phá và nhấn mạnh các hoạt động khám phá thường được tiếnhành theo nhóm Chúng đòi hỏi phải có kĩ năng tư duy cao để tìm ra cái mới

và vì người học tự tìm tòi vấn đề cho nên việc học có chất lượng cao Mỗithành viên trong nhóm có thể cung cấp một phần “ bộ xếp hình” về nhữnghiểu biết đối với chủ thể đang nghiên cứu

Khi bàn về DHKP các tác giả trong nước cũng đã có những ý kiến như sau:

Trang 33

Theo tác giả Nguyễn Phú Lộc, để trả lời cho câu hỏi DHKP là gì? Tác

giả đã trả lời như sau “ Việc học tập khám phá xảy ra khi các cá nhân phải sử

dụng quá trình tư duy để phát hiện ra ý nghĩa của điều gì đó cho bản thân họ Nội dung cần được ẩn dấu Công việc của HS là tự khám phá Để có được điều này, HS phải kết hợp quan sát và rút ra kết luận, thực hiện sự so sánh, làm rõ ý nghĩa số liệu để tạo ra một sự hiểu biết mới mà họ chưa từng biết trước đó” Ta thấy, tác giả đã chú trọng tới vai trò của người học, chỉ khi nào

HS tự mình quan sát tìm tòi khám phá thì khi đó HS sẽ tự mình lĩnh hội đượckiến thức mới

Bàn về dạy học khám phá, tác giả Trần Bá Hoành đã chú trọng tới bàitoán nhận thức, tức là người học muốn giải quyết được nhiệm vụ lớn ( bàitoán ban đầu) thì người học phải tự mình đi giải quyết được những nhiệm vụnhỏ hơn thông qua những bài toán thành phần và khi giải quyết từng nhiệm

vụ nhỏ thì khi đó nhiệm vụ lớn sẽ được hoàn thành Ông viết, “ để sử dụng

cách khám phá trong dạy học, trước hết phải xây dựng được các bài toán có tính khám phá –là bài toán được cho gồm những câu hỏi, những bài toán thành phần dần thể hiện cách giải bài toán ban đầu Cách giải bài toán này thường là những quy tắc hoặc khái niệm mới”

Như vậy, mặc dù có nhiều cách phát biểu khác nhau về DHKP nhưng

nhưng hầu hết các tác giả đều nhấn mạnh đây là phương pháp dạy học trong

đó dưới sự hướng dẫn của giáo viên, thông qua các hoạt động, học sinh tự mình khám phá và lĩnh hội tri thức mới nào đó(đối với học sinh) trong chương trình môn học Tri thức của con người không ở dưới trạng thái tĩnh

mà luôn trong quá trình đang hình thành, chín muồi và phát triển Dạy họcchú trọng tới quá trình tư duy của học sinh tức là khơi dậy sức sống của cáctri thức đã hình thành trong học sinh, phát triển nó, biến tri thức mới thành tàisản bên trong của học sinh Theo phương pháp này, những gì người giáo viên

Trang 34

định thông báo cho học sinh một cách khiên cưỡng sẽ được học sinh tự khámphá ra Học sinh tự có được những tri thức, kĩ năng mới, chứ không phải thụđộng tiếp thu những tri thức, kĩ năng do thầy cô truyền thụ cho Kết quả là các

em vừa có được những tri thức, kĩ năng mới, vừa nắm được phương pháp cóđược những tri thức, kĩ năng đó Điều này không chỉ giúp cho học sinh họctập với sự hứng thú, với niềm vui của sự khám phá mà còn giúp cho học sinhphát triển những kĩ năng cần có trong cuộc sống như năng lực giải quyết vấn

đề, năng lực giao tiếp, phát triển tư duy phê phán, tư duy sáng tạo… Đâycũng chính là mục tiêu quan trọng nhất của dạy học ngày nay

1.2.2 Bản chất của dạy học khám phá

Muốn sử dụng một phương pháp được hiệu quả thì điều quan trọng đầutiên là chúng ta phải hiểu được bản chất của phương pháp đó là gì? Vậy bản

chất của “ phương pháp dạy học khám phá là gì?”- Đó chính là các hoạt

động học tập của HS, dựa trên những cơ sở những kinh nghiệm, kiến thức cũ

đã biết, để từ đó HS tự mình tìm kiếm, phát hiện ra cái mới đối với chính bảnthân HS dưới sự hỗ trợ của GV thông qua hoạt động khám phá Hoạt độngkhám phá là quá trình tư duy bao gồm quan sát, thử nghiệm, so sánh, đốichiếu, thu thập thông tin, phân tích xử lí thông tin, đánh giá… để đạt đến mụcđích cuối cùng đó là HS tự phát hiện ra kiến thức mới và con đường tìm rakiến thức đó

Như vậy, bản chất của phương pháp dạy học khám phá là một phươngpháp dạy học tích cực, đặt người học vào vị trí trung tâm và thể hiện rõ quanđiểm: Sản phẩm giáo dục là do người học tự tạo ra, không ai có thể làm thay

họ được, nếu không sản phẩm đó sẽ không còn là của họ, không thể biếnthành năng lực, sức mạnh, tinh thần và thể chất của chính họ Người dạy cóvai trò hướng dẫn chứ không phải là làm hộ học sinh, luôn “đi cùng” họcsinh, thậm chí “đi sau” học sinh để tạo cơ hội cho học sinh “khám phá”

Trang 35

Ở đây, chúng ta cũng cần nắm rõ hoạt động khám phá của học sinh là sựkhám phá có sự hướng dẫn, định hướng của GV Khám phá có hai kiểu chính.

Đó là khám phá theo kiểu phát hiện lại và khám phá theo kiểu phát minh.Trong đó, khám phá theo kiểu phát hiện lại là sự tự phát hiện những kiến thức

đã được người khác tìm ra của người học, để từ đó hình thành nên kiến thứccủa chính mình Còn khám phá theo kiểu phát minh là sự tự phát minh, tự tìmtòi, kiến tạo ra những kiến thức mới mà chưa ai tìm ra Rõ ràng, trong haitrường hợp này, xét ở phương diện nhà trường thì dạy học khám phá thường

là dạng khám phá theo kiểu phát hiện lại Nó khác với hoạt động khám phátrong nghiên cứu khoa học Khám phá trong học tập ở nhà trường, dành chohọc sinh không phải nhằm tìm ra điều gì “to tát” mà chỉ nhằm tìm thấy, pháthiện ra những tri thức mới đối với họ (có trong chương trình), giúp học sinhtích cực, chủ động, chiếm lĩnh được các tri thức đó dưới sự hướng dẫn củagiáo viên Người giáo viên sẽ giúp học trò của mình tự khám phá ra các sựkiện, khái niệm, quy tắc… mà người giáo viên muốn truyền đạt Đây là mộtphương pháp nhằm tích cực hóa hoạt động của học sinh, đặt người học vàothế chủ động, sáng tạo Người giáo viên tạo ra những tình huống hoạt động,những câu hỏi gợi mở, có thể bằng đàm thoại phát hiện, thảo luận nhóm, sửdụng phiếu học tập…để qua đó học sinh có thể khám phá được, nhận thứcđược những tri thức mới Và rõ ràng như vậy thì yếu tố quyết định hiệu quảhọc tập là những gì học sinh làm chứ không phải giáo viên làm Một khi họcsinh tự mình tham gia vào quá trình tìm hiểu và lĩnh hội kiến thức, tức là thựchiện các thao tác tư duy thì học sinh sẽ hiểu vấn đề tìm hiểu hơn, giống như

câu ngạn ngữ đã nêu: “Tôi nghe tôi quên, tôi nhìn tôi nhớ, tôi làm tôi hiểu”.

Như vậy, bản chất của hoạt động khám phá tri thức mới là một quá trình

nhận thức độc đáo của người học Bản chất của phương pháp này nhấn mạnh

Trang 36

đến quá trình hình thành kiến thức, đến các hoạt động xảy ra trong tư duy hơn

là việc yêu cầu học sinh chỉ cần trả lời được các câu hỏi Nó cũng chứng tỏthông qua dạy học khám phá sẽ giúp học sinh không chỉ có khả năng tiếpnhận tri thức mới mà còn có khả năng tự điều chỉnh nhận thức, góp phần tăngcường tính mềm dẻo trong tư duy và năng lực tự học, năng lực sáng tạo, Đồng thời tăng cường việc tham gia vào cộng đồng, cũng như học hỏi từngười khác trong giao tiếp xã hội, giúp các em tự tin hơn vào bản thân mình

Ðó chính là nhân tố quyết định sự phát triển bản thân người học Rõ ràng khi

áp dụng phương pháp khám phá trong học tập sẽ giúp hình thành và phát triểnnăng lực cho học sinh

1.2.3 Đặc điểm của dạy học khám phá

Chúng ta biết rằng, sản phẩm giáo dục là do người học tự tạo ra, không

ai có thể làm thay cho họ được Chính vì vậy, người dạy tổ chức cho ngườihọc chiếm lĩnh tri thức bằng cách tìm tòi và phát hiện là một trong những dấuhiệu dễ nhận thấy ở dạy học khám phá Mục tiêu của các nhà giáo dục khi ápdụng phương pháp này là giúp học sinh thực hiện bước nhảy vọt từ nhữnghiểu biết trực quan và tính tò mò để tạo ra tri thức mới, tạo ra sự hiểu biết củachính bản thân người học Đồng thời, luôn tạo cơ hội để học sinh có thể tiến

xa, chủ động nắm bắt kiến thức, đặt ra những câu hỏi mới, khám phá vấn đề

và giải quyết vấn đề một cách độc lập và sáng tạo hơn là thụ động tiếp nhậnkiến thức.Từ đó có thể trang bị cho học sinh những kiến thức, kĩ năng cầnthiết để giải quyết các vấn đề của cuộc sống sau này và của thời đại ngày nayđang đặt ra

Theo tác giả M.D Svinki (1998), DHKP thể hiện rõ ba đặc điểmchính sau đây:

+ Học tập tích cực: Người học tập là người tham gia tích cực trongquá trình học tập chứ không phải chiếc thuyền rỗng chứa những lời giảng

Trang 37

của thầy giáo.

+ Học tập có ý nghĩa: Dạy học khám phá có nhiều ý nghĩa vì nó tậndụng sự liên tưởng của bản thân học sinh như là cơ sở của sự hiểu biết

+ Thay đổi niềm tin và thái độ : DHKP đặt nhiều trách nhiệm học tậpnhiều hơn cho người học, HS thường phải vận dụng các quá trình tư duy đểgiải quyết các vấn đề và phát hiện các điều cần học, vì vậy các em phải cótrách nhiệm nhiều hơn cho sự học tập của mình

Dạy học khám phá là một phương pháp hướng dẫn, định hướng nhưngkhông phải là phương pháp duy nhất mà các nhà sư phạm sử dụng Khámphá là sự tìm tòi tích cực, bao gồm nhiều quá trình qua đó biến kinh nghiệmtrở thành kiến thức Trong dạy học ngày nay, chúng ta nên chú ý tới sáu kiểukhám phá sau:

- Khám phá quy nạp (Inductive Inquiry)

- Khám phá diễn dịch (Deductive Inquiry)

- Dạy học tự phát hiện hay Học tập khám phá (Discovery learning)

- Giải quyết vấn đề (Problem Solving)

- Dạy học dự án (Project base Learning)

Trang 38

Khám phá quy nạp có hai dạng: quy nạp có định hướng và quy nạpkhông định hướng Trong cả hai dạng khám phá quy nạp, người học đượctham gia vào quá trình tìm hiểu các khái niệm và hiện tượng bằng cách quansát, đo lường và tìm hiểu thông tin để rút ra kết luận Có thể nói rằng, ngườihọc đã đưa được những trường hợp cụ thể thành những khái niệm tổng quát.

Ở đây, kết quả học tập không chỉ kết thúc cùng với trải nghiệm của lớphọc trực tiếp hay đánh giá kết quả sau buổi học mà còn được ứng dụng saugiờ học, ngoài giờ học cũng như trong cuộc sống nói chung Mục đích chínhcủa việc học đó là sự quy nạp cả về kiến thức, kĩ năng và thái độ

Dạy học khám phá diễn dịch

Khám phá diễn dịch ngược với khám phá quy nạp Trong cách tiếp cậnvới khám phá này, giáo viên trình bày một ý khái quát, một nguyên lí hoặcmột khái niệm và sau đó thu hút học sinh tham gia vào một hoặc nhiều hơnmột hoạt động khám phá để giúp các em hiểu được khái niệm được đưa ra

Với phương pháp dạy học này, người học chủ động tham gia vào việctìm kiếm tri thức Tri thức do chính bản thân các em tìm ra trên cơ sở địnhhướng của giáo viên

Dạy học tự phát hiện hay học tập khám phá

Dạy học tự phát hiện là một khái niệm được khởi xướng bởi JeromeBruner nói về “ hành động phát hiện” như thể nó là một phần công việc của

người học Đối với Bruner, “ phát hiện về bản chất là việc tái sắp xếp hoặc

chuyển dịch các bằng chứng theo cách làm cho một người nào đó có thể từ những bằng chứng đã được sắp xếp lại đó, hình thành những hiểu biết mới”.

Trong quá trình học tập, học sinh không phải nhắc lại, ghi nhớ lời giáoviên giảng dạy hay những nội dung có sẵn trong SGK hoặc làm theo mẫu mộtcách máy móc mà tự mình tìm ra những điều mới lạ hay những tri thức khoahọc bổ ích, hấp dẫn dưới sự tổ chức, hướng dẫn một cách tài tình của GV Sảnphẩm của quá trình nhận thức ( kết quả học tập của HS ) mới đích thực là chủ

Trang 39

thể của học sinh Hay nói cách khác, bản chất của quá trình dạy học đã quyđịnh tính chất nhận thức của hoạt động học tập là học sinh tự mình tìm kiếm,phát hiện ra tri thức khoa học, những chuẩn mực xã hội trong môi trường sưphạm thuận lợi.

Dạy học giải quyết vấn đề

Giải quyết vấn đề là một phương pháp dạy học có thể dùng để dạy các

kĩ năng giải quyết vấn đề và giúp học sinh trong việc điều tra các vấn đề thực

tế Việc giải quyết vấn đề trong lớp học không chỉ đưa người học tiếp cận vớicác vấn đề của thế giới thực tại mà còn đánh giá cao quá trình khám phá củangười học Các vấn đề không cần thiết phải là các vấn đề mà HS nảy sinh( mặc dù cách tiếp cận này hiệu quả hơn cả) Chúng có thể là vấn đề mà GVđưa ra cho HS khám phá Đặc trưng của phương pháp này là GV sử dụng cáctình huống có vấn đề để cung cấp cho học sinh cơ hội tham gia vào các hoạtđộng tiếp theo Học sinh sẽ đề xuất cách giải quyết tình huống có vấn đề bằngnhiều cách thức và con đường khác nhau

Dạy học dự án

Dạy học dự án là một phương pháp dạy học trong đó người học thựchiện một nhiệm vụ học tập phức hợp, gắn với thực tiễn, kết hợp lí thuyết vớithực hành, tự lực lập kế hoạch, thực hiện và đánh giá kết quả Hình thức làmviệc chủ yếu là theo nhóm, kết quả dự án là những sản phẩm hành động có thểgiới thiệu được Vì vậy, áp dụng phương pháp này cho phép GV tạo ra cácnhiệm vụ, bài tập, yêu cầu có tính phức tạp, có tính mở và có tính thực tiễncao Những người học sẽ được tự do lựa chọn những cách tiếp cận khác nhau

Từ đó sẽ tham gia nhiều hơn vào quá trình học và phát huy được tính sángtạo, hợp tác với bạn bè, thầy cô

Trang 40

Webquest là một phương pháp dạy học mới, được xây dựng trên cơ sởphương tiện dạy học bằng công nghệ thông tin và internet Trong đó, học sinh

tự lực thực hiện về một nhiệm vụ nào đó gắn với tình huống thực tiễn Nhữngthông tin cơ bản về nhiệm vụ đó được truy cập từ những trang kiên kết (links)

do GV chọn lọc từ trước Ngày nay, với sự phát triển nhanh và mạnh củacông nghệ thông tin thì phương pháp này gây được nhiều hứng thú cho họcsinh, kích thích tính tò mò khám phá cho học sinh Việc tìm kiếm nhữngthông tin tự do trên mạng thường gây mất thời gian vì lượng thông tin trênmạng quá lớn, nhiều khi làm học sinh dễ bị chệch hướng khỏi nội dung họctập mà sa đà vào các thông tin không liên quan khác, hoặc không phát triểnđược tư duy phê phán cho học sinh…Học tập trên Webquest sẽ khắc phụcđược những hạn chế trên Đặc điểm của học tập với Webquest là:

- Chủ đề học tập gắn với tình huống thực tiễn Do vậy thường kíchthích học sinh thích “khám phá”

- Tạo tính tự lực cao cho học sinh Qua đó, phát triển khả năng tư duycho học sinh như so sánh, chứng minh, phân tích…

- Quá trình học tập là quá trình tích cực và kiến tạo

- Quá trình học tập mang tính xã hội và tương tác cao

Như vậy, dạy học khám phá có sáu dạng khác nhau, từ trình độ thấp lêntrình độ cao, tùy theo năng lực tư duy của người học và được tổ chức thực hiệntheo cá nhân, theo nhóm, tùy theo mức độ phức tạp của vấn đề cần khám phá.Mỗi dạng có những đặc điểm, yếu tố riêng nhưng chúng đều có những điểmchung là giúp học sinh khám phá tri thức của nhân loại để biến thành tri thứccủa riêng mình Dạy học khám phá là xu hướng của nền giáo dục hiện đại,không những giúp người học có được những tri thức cần thiết mà còn có vai tròrất lớn trong việc hình thành và phát triển năng lực, nhân cách học sinh

Ngày đăng: 25/02/2017, 17:43

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình các khu vực núi (Nhóm) - TỔ CHỨC dạy học KHÁM PHÁ TRONG môn địa lí lớp 12 –THPT THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG lực
Hình c ác khu vực núi (Nhóm) (Trang 141)
Hình 31.2- 138,  để thấy sự thay đổi cơ - TỔ CHỨC dạy học KHÁM PHÁ TRONG môn địa lí lớp 12 –THPT THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG lực
Hình 31.2 138, để thấy sự thay đổi cơ (Trang 161)
Sơ đồ định hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo ngành ở ĐBSH - TỔ CHỨC dạy học KHÁM PHÁ TRONG môn địa lí lớp 12 –THPT THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG lực
nh hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo ngành ở ĐBSH (Trang 180)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w