Lí do chọn đề tài Trên hành trình đổi mới và hội nhập quốc tế, để thực hiện mục tiêu xâydựng một nước Việt Nam “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng và vănminh” vấn đề dân số, lao động
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
NGUYỄN THỊ THU HƯƠNG
THỰC TRẠNG SỬ DỤNG LAO ĐỘNG
Ở HUYỆN LẬP THẠCH, TỈNH VĨNH PHÚC
Chuyên ngành: Địa lí học
Mã số: 60.31.05.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC ĐỊA LÍ
Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Tường Huy
HÀ NỘI - 2016
Trang 2Trên thực tế không có sự thành công nào mà không gắn liền với những sự hỗ trợ,giúp đỡ dù ít hay nhiều, dù trực tiếp hay gián tiếp của người khác Trong suốt thời gian từkhi bắt đầu học tập tại trường đến nay, em đã nhận được rất nhiều sự quan tâm, giúp đỡcủa quý Thầy Cô, gia đình và bạn bè.
Với tất cả tình cảm chân thành của mình, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất
tới TS Nguyễn Tường Huy, người đã trực tiếp hướng dẫn em bằng tất cả những tri thức
và tâm huyết của mình để em có thể hoàn thành luận văn này
Đồng thời em cũng xin được bày tỏ lòng biết ơn tới quý Thầy Cô tổ bộ môn Địa líkinh tế, quý Thầy Cô trong Khoa Địa lí, phòng Sau Đại học, ban Giám hiệu Trường Đạihọc Sư phạm Hà Nội đã tạo điều kiện giúp đỡ em trong quá trình học tập và nghiên cứu
Nhân dịp này, em xin chân thành cảm ơn tới ban Giám hiệu trường Cao đẳng nghềVĩnh Phúc, Ủy ban nhân dân huyện Lập Thạch, Chi cục thống kê huyện Lập Thạch,Phòng Lao động thương binh và Xã hội huyện Lập Thạch, Cục thống kê tỉnh Vĩnh Phúc,bạn bè, đồng nghiệp, những người thân trong gia đình đã cổ vũ động viên và tạo điều kiệngiúp đỡ em trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành bản luận văn này
Do hạn chế về thời gian và nguồn tư liệu cũng như kinh nghiệm nghiên cứu nênkhông thể tránh khỏi những thiếu sót, bản thân em rất mong nhận được sự góp ý của quýThầy Cô và các bạn đọc để luận văn được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 10 năm 2016
Tác giả
Nguyễn Thị Thu Hương DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Từ viết tắt Nghĩa Tiếng Việt
CMKT : Chuyên môn kỹ thuật
CN-XD : Công nghiệp – xây dựng
Trang 3ILO : Tổ chức lao động quốc tế
KHHGĐ : Kế hoạch hóa gia đình
LĐTB & XH : Lao động Thương binh và xã hội
LLLĐ : Lực lượng lao động
NN & PTNT : Nông nghiệp và phát triển Nông thôn
N-L-NN : Nông – lâm – ngư nghiệp
ODA : Hỗ trợ phát triển chính thức (Official Development Assistance)
TTCN : Tiểu thủ công nghiệp
WTO : Tổ chức Thương mại Thế giới (World Trade Organization)
Trang 4MỤC LỤC
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Trên hành trình đổi mới và hội nhập quốc tế, để thực hiện mục tiêu xâydựng một nước Việt Nam “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng và vănminh” vấn đề dân số, lao động và việc làm luôn được Đảng và Nhà nước ta đặtlên vị trí ưu tiên hàng đầu trong các chính sách phát triển kinh tế - xã hội củaquốc gia Trong tiến trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, yếu tố conngười và vấn đề giải quyết được công ăn, việc làm cho người lao động luôn làvấn đề cần được quan tâm giải quyết hàng đầu bởi lẽ con người luôn là điểmxuất phát của mọi chương trình, kế hoạc phát triển Tại Đại hội IX (2001) Đảng
ta cũng chỉ ra rằng “đáp ứng yêu cầu về con người và nguồn nhân lực là nhân tố
quyết định sự phát triển đất nước thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa”[58].
Hiện nay, không chỉ ở Việt Nam mà ở nhiều nước đang phát triển trên thế giớitình trạng thừa lao động, thiếu việc làm hiện đang trở thành một vấn đề hết sứcphổ biển Điều này đã ảnh hưởng không nhỏ tới sự phát triển kinh tế - xã hộichung của đất nước Chính vì vậy lao động và việc làm là một trong những vấn
đề cần phải giải quyết kịp thời ở nước ta hiện nay
Lập Thạch là huyện miền núi nằm ở phía Tây Bắc của tỉnh Vĩnh Phúcvới diện tích tự nhiên 173,10 km2, dân số năm 2014 của toàn huyện trên là128.676 người Trong đó, số người trong độ tuổi lao động trên địa bàn huyện
là 68.590 người, chiếm 53,3% tổng dân số toàn huyện [12] Đây là một tiềmnăng to lớn cho sự phát triển kinh tế - xã hội của huyện nói riêng và toàn tỉnhVĩnh Phúc nói chung Mặc dù lực lượng lao động trên địa bàn huyện là khádồi dào nhưng chất lượng lao động nhìn chung còn thấp, tỷ lệ lao động từ 15tuổi trở lên chưa qua đào tạo của huyện chiếm tới 83,3% Lực lượng lao động
có chuyên môn kỹ thuật chỉ chiếm khoảng 16,7% [8] Hệ số sử dụng thời gianlao động ở nông thôn mới đạt 85 - 87,5% [48] Hiệu quả lao động nhìn chungcòn thấp Điều đó đã làm lãng phí nguồn lao động của huyện đồng thời cũnggây ảnh hưởng không nhỏ tới các vấn đề xã hội khác cần giải quyết và ảnhhưởng tới quá trình phát triển kinh tế của huyện
Trang 7Việc sử dụng lao động hợp lí và nâng cao chất lượng nguồn lao độngcủa huyện sẽ góp phần thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế của toàn huyện, mặtkhác cũng từng bước nâng cao mức sống của dân cư góp phần quan trọng vào
sự nghiệp CNH – HĐH đất nước Xuất phát từ những vấn đề nêu trên tôi lựa
chọn đề tài “Thực trạng sử dụng lao động ở huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc” làm đề tài tốt nghiệp của mình với mong muốn được đóng góp một
phần nhỏ bé kiến thức của mình vào sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội củahuyện Lập Thạch nói riêng và của tỉnh nhà nói chung
2 Lịch sử nghiên cứu đề tài
Trong sự phát triển kinh tế - xã hội của từng quốc gia, trong từng khuvực cũng như trên toàn thế giới, việc nghiên cứu thực trạng sử dụng lao động
là một trong những nhiệm vụ trọng tâm hàng đầu của mỗi quốc gia nhằm mụcđích đẩy mạnh tốc độ phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia cũng như củakhu vực
Ở nước ta việc nghiên cứu về thực trạng sử dụng lao động từ đó đưa racác giải pháp nhằm sử dụng hợp lý nguồn lao động chủ yếu được tiến hànhbởi Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội cùng với Ủy ban nhân dân cáccấp, các ngành liên quan thực hiện Hiện nay việc nghiên cứu thực trạng sửdụng lao động đã được mở rộng sang nhiều ngành khoa học trong đó có khoahọc địa lí Có thể nói sự phát triển mạnh mẽ của khoa học địa lí trong nhữngnăm gần đây đặc biệt là sự phát triển của Địa lí Kinh tế - Xã hội đã có nhữngđóng góp quan trọng vào công tác nghiên cứu, định hướng cho việc sử dụngnguồn nhân lực quốc gia có hiệu quả
Cho đến nay nước ta đã có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề laođộng và nguồn lao động Trong “Giáo trình Nguồn nhân lực” của tác giảNguyễn Tiệp đã đề cập tới những vấn đề cơ bản nhất về nguồn nhân lực ởchương 1 [28] Chương 5 trong “Giáo trình Kinh tế phát triển” tác giảPhạm Ngọc Linh đã đưa ra những khái niệm về lao động và nguồn laođộng, đồng thời nhấn mạnh tới vai trò của nguồn lao động ở các nước đangphát triển trên thế giới và các yếu tố ảnh hưởng tới nguồn lao động [20].Trên khía cạnh Địa lí kinh tế - xã hội, các tác giả Nguyễn Minh Tuệ,
Trang 8Nguyễn Viết Thịnh, Lê Thông cũng đề cập tới những vấn đề lí luận vềnguồn lao động trong giáo trình “Địa lí Kinh tế - Xã hội Đại cương” [42].
Đề cập tới vấn đề nguồn lao động ở nước ta, tác giả Lê Thông (chủbiên) trong giáo trình Địa lí Kinh tế - Xã hội Việt Nam không chỉ khái quátđược tình hình lao động chung của cả nước mà còn đưa ra được những nét
cơ bản nhất về nguồn lao động ở các vùng kinh tế nước ta [33] Ngoài racũng phải kể tới Giáo trình Địa lí Kinh tế - Xã hội Việt Nam (tập 1) của tácgiả Nguyễn Viết Thịnh và Đỗ Thị Minh Đức [36]
Trong “Đánh giá tổng thể tình hình kinh tế - xã hội Việt Nam sau 5năm gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới” của Viện Nghiên cứu Quản lýKinh tế Trung ương đã cho thấy bức tranh khái quát về sự thay đổi lực lượnglao động, chất lượng lao động, tình hình xuất khẩu lao động cũng như nhữnghạn chế trong chất lượng lao động ở nước ta sau khi gia nhập Tổ chứcThương mại Thế giới (WTO) [60] Bên cạnh đó, trong “Bản tin cập nhật thịtrường lao động Việt Nam” của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội thựchiện với sự phối hợp của Tổng cục Thống kê và hỗ trợ tài chính - kỹ thuật của
Tổ chức Lao động Quốc tế cũng đề cập tới những biến động của thị trườnglao động, nguồn cung lao động và vấn đề việc làm ở nước ta năm 2013 và quý
I năm 2014 [41]
Về mối quan hệ giữa dân số và lao động, việc làm ở nước ta cũng đãđược Tổng cục Dân số - Kế hoạch hóa Gia đình phối hợp cùng với các nhàkhoa học, các chuyên gia đề cập tới trong báo cáo chuyên đề “Dân số là mộttrong những yếu tố quyết định sự phát triển bền vững của đất nước” [5]
Để đánh giá được đúng và đủ nguồn lao động và sử dụng nguồn laođộng, ngày 5 tháng 2 năm 2013 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành“Quyếtđịnh số 291/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ” [27] Trên cơ sở đó, các cơquan ban ngành cũng như các cá nhân có thể nghiên cứu, đánh giá việc pháttriển nguồn nhân lực và sử dụng nguồn nhân lực có hiệu quả
Nghiên cứu về vấn đề lao động và việc làm ở nước ta cũng có nhiềubáo cáo, bài báo, tạp chí viết về vấn đề này Tiêu biểu như “Lao động và tiếpcận việc làm” [18], “Những hạn chế về lao động việc làm trên thị trường lao
Trang 9động ở Việt nam hiện nay” [14], “Giải quyết vấn đề lao động và việc làmtrong quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa nông nghiệp nông thôn” [13].
Bên cạnh đó, vấn đề lao động việc làm còn là đề tài thu hút sự quan tâmcủa nhiều tác giả khi tiến hành nghiên cứu và thực hiện những luận văn tốt nghiệpthạc sĩ như đề tài “Nguồn lao động và sử dụng nguồn lao động ở huyện Hoài Đức– Hà Nội” [32], “Nguồn lao động và sử dụng nguồn lao động ở tỉnh Bắc Ninh”[30], “Thực trạng và định hướng sử dụng lao động ở tỉnh Bến Tre” [57]
Các nghiên cứu về nguồn lao động và sử dụng lao động trên địa bàntỉnh Vĩnh Phúc nói chung và huyện Lập Thạch nói riêng hiện còn hạn chế Ởcấp tỉnh, công trình “Những biến đổi kinh tế - xã hội ở Vĩnh Phúc từ khi táilập tỉnh đến nay (1997 – 2005) [43] đã khái quát thực trạng và những thay đổi
về nguồn lao động và chất lượng nguồn lao động của tỉnh Vĩnh Phúc từ khitái lập tỉnh Chi tiết hơn, “Báo cáo kết quả điều tra thực trạng lao động thờiđiểm 1/10/2014 – Tỉnh Vĩnh Phúc” đã thống kê các kết quả điều tra lao độngviệc làm trên địa bàn toàn tỉnh đến thời điểm 1/10/2014 [9]
Ở cấp huyện, “Báo cáo tổng kết, đánh giá kết quả thực hiện Chươngtrình mục tiêu giảm nghèo, dạy nghề và giải quyết việc làm giai đoạn 2011 –2015” của UBND huyện Lập Thạch đã tổng kết và đánh giá được công tácnâng cao chất lượng nguồn lao động và giải quyết việc làm cho người laođộng trên địa bàn huyện trong vòng 5 năm trở lại đây, từ năm 2011 đến hếtnăm 2015 [48] Tuy nhiên, dưới góc độ địa lí học, hiện chưa có công trìnhnghiên cứu cụ thể nào về nguồn lao động và sử dụng lao động ở huyện LậpThạch Trên cơ sở nghiên cứu, tìm hiểu tại địa phương kết hợp với việc thamkhảo tổng quan các tài liệu, tác giả đã tổng hợp và phân tích để hoàn thiện đề
tài “Thực trạng sử dụng lao động ở huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc”.
3 Mục tiêu, nhiệm vụ, giới hạn của đề tài
3.1 Mục tiêu nghiên cứu
Trên cơ sở vận dụng lý luận về nguồn lao động và sử dụng lao động, đềtài có mục tiêu phân tích các nhân tố ảnh hưởng và thực trạng sử dụng laođộng ở huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc, từ đó đề ra các giải pháp nhằm sửdụng hợp lí lực lượng lao động trên địa bàn huyện
Trang 103.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu trên, đề tài cần phải giải quyết các nhiệm vụchủ yếu sau:
- Tổng quan có chọn lọc cơ sở lý luận và thực tiễn về nguồn lao động
và sử dụng lao động để vận dụng vào địa bàn nghiên cứu là huyện Lập Thạch
- Phân tích các nhân tố ảnh hưởng tới nguồn lao động và sử dụng laođộng của huyện Lập Thạch
- Phân tích thực trạng nguồn lao động và sử dụng lao động của huyệnLập Thạch từ năm 2009 đến năm 2014
- Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng nguồn lao động và
sử dụng hợp lí nguồn lao động của huyện Lập Thạch đến năm 2020
3.3 Giới hạn nghiên cứu
- Về nội dung nghiên cứu: Đề tài tập trung phân tích thực trạng sửdụng lao động trên địa bàn huyện Lập Thạch với các nội dung chủ yếu sau:
+ Đánh giá các nhân tố ảnh hưởng tới nguồn lao động và sử dụng laođộng của huyện Lập Thạch;
+ Phân tích thực trạng nguồn lao động ở huyện Lập Thạch, tỉnh VĩnhPhúc thông qua các chỉ tiêu như số lượng và chất lượng nguồn lao động, cơcấu lao động và sự phân bố lao động trên địa bàn huyện
+ Phân tích thực trạng sử dụng lao động ở huyện Lập Thạch, tỉnh VĩnhPhúc thông qua các tiêu chí như sử dụng lao động theo ngành kinh tế, theothành phần kinh tế và theo lãnh thổ
- Về lãnh thổ nghiên cứu: Địa bàn nghiên cứu là huyện Lập Thạch cóchú ý tới sự phân hóa tới cấp xã, thị trấn Bên cạnh đó, đề tài còn chú ý tớiviệc so sánh với các huyện khác trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc
- Về thời gian nghiên cứu: Đề tài chủ yếu sử dụng, phân tích các sốliệu, tư liệu chính thống của Cục thống kê Vĩnh Phúc và các cơ quan chứcnăng có liên quan trong thời gian từ năm 2009 đến năm 2014
4 Quan điểm và phương pháp nghiên cứu.
4.1 Quan điểm nghiên cứu
4.1.1 Quan điểm hệ thống
Nguồn lực lao động được coi là động lực cho sự phát triên kinh tế nói
Trang 11riêng và là động lực phát triển xã hội loài người nói chung Trong sự pháttriển chung của xã hội loài người, sự gia tăng về số lượng, chất lượng cũngnhư vấn đề việc làm của người lao động chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tốkhác nhau như các nhân tố về điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế - xã hộihay lịch sử hình thành và khai thác lãnh thổ Vì vậy, để nghiên cứu và nắm rõđược vấn đề lao động và việc làm cần phải đặt chúng trong sự tác động của cả
hệ thống tự nhiên, kinh tế - xã hội và đặt trong sự vần động phát triển không ngừng
4.1.2 Quan điểm tổng hợp lãnh thổ
Mọi sự vật, hiện tượng địa lý trên một lãnh thổ nhất định đều có nhữngnét đặc trưng riêng cho lãnh thổ đó đồng thời cũng mang những nét chung củađối tượng địa lí đó trên một lãnh thổ ở cấp lớn hơn Nguyên nhân là do chúngkhông chỉ chịu sự tác động của các nhân tố có trong lãnh thổ nghiên cứu màcòn chịu sự tác động của các nhân tố ở bên ngoài lãnh thổ Vì vậy, để nghiêncứu nguồn lao động và sử dụng lao động ở huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúckhông thể không nghiên cứu vấn đề lao động và việc làm trên toàn tỉnh Vĩnh Phúccũng như khu vực Đồng bằng sông Hồng
4.1.3 Quan điểm lịch sử - viễn cảnh
Mọi sự vật hiện tượng địa lý đều có quá trình phát sinh, phát triển theoquy luật riêng của nó Lao động và việc làm là kết quả tất yếu của sự pháttriển dân số, phát triển kinh tế - xã hội trong quá khứ và đồng thời cũng làđiều kiện để phát triển kinh tế - xã hội trong tương lai Vì vậy, khi nghiên cứu
về vấn đề lao động – việc làm trong thời điểm hiện tại cần phải xem xét nótrong mối quan hệ với quá khứ, từ đó tạo cơ sở cho dự báo trong tương lai
4.1.4 Quan điểm phát triển bền vững
Trong nghiên cứu địa lí kinh tế - xã hội, quan điểm phát triển bền vữngvừa là quan điểm, vừa là mục tiêu nghiên cứu Do đó, khi đề ra các giải phápgiải quyết việc làm cho người lao động và sử dụng có hiệu quả nguồn laođộng cần phải dựa trên quan điểm phát triển bền vững Vấn đề giải quyết tốtviêc làm cho người lao động phải gắn với vấn đề sử dụng hợp lí và bảo vệ tàinguyên thiên nhiên, chống ô nhiễm môi trường đồng thời phải hướng tới mụctiêu công bằng xã hội và nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân
Trang 124.1.5 Quan điểm động lực
Quan điểm này xem lực lượng lao động là một yếu tố kinh tế - xã hội,một yếu tố cơ ban làm động lực cho sự phát triển của nền sản xuất xã hội, laođộng vừa là lực lượng sản xuất đồng thời cũng là lực lượng tiêu thụ sản phẩm
Do vậy, cần có những chính sách phù hợp nhằm sử dụng hợp lí, phát huy hiệuquả sử dụng nguồn lao động
4.2 Phương pháp nghiên cứu
4.2.1 Phương pháp thu thập tài liệu
Để phân tích rõ thực trạng nguồn lao động và sử dụng lao động trên địabàn huyện Lập Thạch cũng như có thể so sánh với các huyện khác trong toàntỉnh, tác giải đã tiến hành thu thập, xử lí số liệu từ nhiều nguồn khácnhau, trong đó có một số nguồn thứ cấp chủ yếu sau:
- Số liệu từ Niên Giám thống kê tỉnh Vĩnh Phúc các năm 2010, 2011,
4.2.2 Phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệ đã có
Các nghiên cứu trong lĩnh vực kinh tế, xã hội thường bắt đầu từ nghiêncứu lý thuyết Thông qua phương pháp này sẽ giúp cho người nghiên cứu tổnghợp và định hình nên khung lý thuyết cho nghiên cứu của mình bao gồm các cơ
sở lí thuyết và cơ sở thực tiễn về sử dụng lao động trên địa bàn huyện LậpThach Trên cơ sở những tài liệu, số liệu đã thu thập được từ các cuộc điều tra,các báo cáo về công tác Lao động – TB&XH của huyện, tác giả đã tiến hànhtổng hợp tài liệu, xử lí, phân tích, so sánh từ đó đưa ra những nhận xét cơ bảnnhất về nguồn lao động và sử dụng lao động trên địa bàn huyện Lập Thạch
Trang 134.2.3 Phương pháp bản đồ và GIS
Phương pháp bản đồ và GIS là phương pháp quan trọng không thểthiếu trong khoa học địa lí Với việc thành lập nên các bản đồ chuyên đề chophép người nghiên cứu nhìn nhận được sự vật, hiện tượng địa lí theo cả chiềukhông gian và thời gian Trong khi triển khai thực hiện luận văn, dựa trênnhững số liệu thống kê và xử lí, tác giả đã thành lập các bản đồ hành chínhhuyện Lập Thạch, bản đồ dân cư và bản đồ thực trạng sử dụng lao độnghuyện Lập Thạch năm 2014.Thông qua các bản đồ thành lập, tác giả đã cốgắng phản ánh khía cạnh không gian cũng như hiện trạng sử dụng lao độngtrên địa bàn huyện trong năm 2014
4.2.5 Phương pháp chuyên gia
Phương pháp chuyên gia rất đa dạng tùy thuộc vào mức độ phức tạpcủa vấn đề nghiên cứu Trong nghiên cứu này, tác giả đã tiến hành nghiên cứudựa trên cơ sở tham vấn ý kiến của các thầy cô, của các cán bộ huyện, xã ởđịa phương nghiên cứu nhằm có được những ý kiến chính xác, những kết luậnsát với thực tế
5 Những đóng góp chính của luận văn
- Tổng quan có chọn lọc cơ sở lý luận và thực tiễn về nguồn lao động và sửdụng lao động để vận dụng vào địa bàn nghiên cứu là huyện Lập Thạch
- Đánh giá được các nhân tố ảnh hưởng tới nguồn lao động và sử dụnglao động của huyện Lập Thạch
- Phân tích thực trạng nguồn lao động và sử dụng lao động trên địa bànhuyện Lập Thạch
- Bước đầu đề xuất được một sốgiải pháp nâng cao chất lượng nguồnlao động và sử dụng hợp lí lao động của huyện Lập Thạch
Trang 146 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo, phần nộidung của đề tài gồm có 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn về sử dụng lao động
Chương 2: Các nhân tố ảnh hưởng và thực trạng sử dụng lao động ở
huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc
Chương 3: Một số giải pháp nhằmsử dụng hợp lí lao động ở huyện Lập
Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc
Trang 15Theo Tổng cục thống kê Việt Nam, nguồn lao động bao gồm nhữngngười từ đủ 15 tuổi trở lên có việc làm và những người trong độ tuổi lao động
có khả năng tham gia lao động nhưng đang thất nghiệp, đang đi học, đang làmnội trợ trong gia đình, không có nhu cầu làm việc, những người thuộc tìnhtrạng khác (bao gồm cả những người nghỉ hưu trước tuổi theo quy định củaLuật lao động).[1]
Nguyễn Minh Tuệ và những người khác đưa ra khái niệm “Nguồn laođộng là toàn bộ những người từ đủ 15 tuổi trở lên có việc làm và những ngườitrong độ tuổi lao động có khả năng lao động nhưng đang thất nghiệp, đang đihọc, đang làm nội trợ trong gia đình hoặc chưa có nhu cầu làm việc” [42]
Trong nhiều tài liệu, khái niệm nguồn lao động cũng đồng nghĩa vớikhái niệm dân số hoạt động kinh tế Thực tế cho thấy không phải tất cả nhữngngười trong độ tuổi lao động đều tham gia hoạt động kinh tế và ngược lại,không phải người nào ngoài độ tuổi lao động thì không tham gia hoạt độngkinh tế Theo khuyến nghị của Liên Hợp Quốc nguồn lao động được chia
thành hai bộ phận: dân số hoạt động kinh tế và dân số không hoạt động
kinh tế [42].
- Dân số hoạt động kinh tế bao gồm những người có việc làm và
những người không có việc làm (thất nghiệp) nhưng đang tích cực tìm kiếmviệc làm trong một ngành nào đó của nền kinh tế trong một khoảng thời gianxác định
Trang 16Phần lớn số người trong lực lượng lao động là những người đang làmviệc trong nền kinh tế, đó là phần dân số đảm bảo nguồn cung cấp sức laođộng cho sản xuất hàng hóa và dịch vụ bao gồm cả những người đang laođộng và những người thất nghiệp, đang tích cực tìm kiếm việc làm và luônsẵn sàng làm việc Trong nền kinh tế của quốc gia, lực lượng lao động đanglàm việc trong nền kinh tế có ý nghĩa quan trọng đối với việc xây dựng, triểnkhai, đánh giá kết quả thực hiện các kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội cả ở
tầm vĩ mô và tầm vi mô Theo đó, Tổng cục thống kê đưa ra khái niệm dân số
đang làm việc là những người có việc làm/làm việc bao gồm những người từ
15 tuổi trở lên trong khoảng thời gian tham chiếu (một tuần) đang làm việc,được trả lương, tự làm hoặc làm chủ
- Dân số không hoạt động kinh tế bao gồm toàn bộ những người từ đủ
15 tuổi trở lên nhưng không tham gia hoạt động kinh tế do đang đi học, đanglàm nội trợ cho bản thân và gia đình, không có khả năng lao động (mất sức,
ốm đau) và những người không có nhu cầu làm việc (được hưởng lợi tức,hưởng thu nhập mà không phải làm việc)
Trong báo cáo tổng điều tra dân số và nhà ở Việt Nam năm 2009 củaBan chỉ đạo tổng điều tra dân số và nhà ở Trung ương cũng đưa ra khái niệmdân số hoạt động kinh tế là bộ phận dân số cung cấp hoặc sẵn sàng cung cấpsức lao động cho sản xuất của cải vật chất và dịch vụ Hay nói cách khác, dân
số hoạt động kinh tế bao gồm những người đang làm việc và thất nghiệp trongthời gian nghiên cứu [1]
Khi khái niệm “hoạt động kinh tế hiện tại” được sử dụng để xác địnhtình trạng hoạt động, thì “dân số hoạt động kinh tế” còn có tên gọi khác đượcdùng rất phổ biến là “lực lượng lao động”[1]
Khái niệm lực lượng lao động được sử dụng trong thống kê ở nước ta
đó là những người từ 15 tuổi trở lên có việc làm (đang làm việc) và nhữngngười thất nghiệp trong thời kỳ tham chiếu (7 ngày trước thời điểm quan sát)
Như vậy, từ những quan niệm nêu trên có thể định nghĩa nguồn lao
động như sau: “Nguồn lao động là bộ phận dân số trong độ tuổi lao động
Trang 17theo quy định của pháp luật, có khả năng lao động và những người ngoài độ tuổi lao động (trên độ tuổi lao động) đang làm việc trong các ngành kinh tế quốc dân”[20].
Trong khái niệm nguồn lao động có thể thấy phần cơ bản của nguồn laođộng là dân số trong độ tuổi lao động, có khả năng tham gia lao động và đượcxác định bởi luật pháp của mỗi quốc gia Tuy nhiên, quy định độ tuổi bắt đầucủa nhóm tuổi lao động và ngoài độ tuổi lao động không giống nhau ở cácquốc gia Do đó, tỉ trọng dân số trong độ tuổi lao động ở mỗi nước có sự khácbiệt nhất định
1.1.1.2 Cơ cấu lao động
Cơ cấu lao động có thể hiểu là một phạm trù kinh tế tổng hợp, thể hiện
tỷ lệ của từng bộ phận lao động nào đó chiếm trong tổng số lao động, hoặc thểhiện sự so sánh của bộ phận lao động này so với bộ phận lao động khác Cơcấu lao động thường được dùng phổ biến là:
a Cơ cấu lao động theo tuổi
Cơ cấu lao động theo tuổi ở các quốc gia, các khu vực có sự khác nhau
và thay đổi theo thời gian tùy thuộc vào các yếu tố sinh, tử và việc chuyển cư.Nếu một quốc gia có tỉ lệ sinh cao và duy trì trong một thời gian dài thì lựclượng lao động đông, đặc biệt nguồn lao động dự trữ cho tương lai Ngượclại, nếu mức sinh thấp và liên tục giảm trong nhiều năm thì nguồn lao độnghiện tại của quốc gia đó rất đông nhưng nguồn lao động dự trữ sẽ khan hiếm
Có thể thấy, số người trong độ tuổi lao động là nguồn lực quan trọng, là vốnquý của một quốc gia do đó cần phải sử dụng số người trong độ tuổi này mộtcách tối ưu để đạt được năng xuất lao động cao nhất cho toàn xã hội
Ở Việt Nam, nhóm người dưới và trong độ tuổi lao động chiếm ưu thế
với 89,8% dân số cả nước [31] Trong báo cáo điều tra lao động việc làm của
Tổng cục thống kê chia nguồn lao động nước ta thành 10 nhóm tuổi [1]
Xét theo khả năng tham gia vào các hoạt động kinh tế của lực lượng laođộng, tác giả thia thành 3 nhóm như sau:
- Nhóm lao động có độ tuổi từ 15 – 34 tuổi có khả năng tham gia nhiềunhất vào tất cả các hoạt động kinh tế
Trang 18- Nhóm lao động có độ tuổi từ 35 – 54 tuổi Nhóm tuổi này tương đối
ổn định trong các hoạt động kinh tế
- Nhóm lao động có độ tuổi trên từ 55 tuổi trở lên.Nhóm tuổi lao độngchuẩn bị bước vào tuổi nghỉ hưu
Hiện nay cơ cấu lao động nước ta đang bước vào “thời kì vàng” và dựbáo sẽ kéo dài tới khoảng năm 2040 do đó việc sử dụng lao động hợp lí trêntất cả các lĩnh vực kinh tế cũng như nâng cao chất lượng người lao động trongthời kì mới là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu
b Cơ cấu lao động theo khu vực kinh tế
* Cơ cấu lao động theo khu vực kinh tế
Trong lí thuyết “Ba khu vực hoạt động kinh tế - xã hội”, Jean
Fourastier đã chỉ ra rằng tất cả các hoạt động của cộng đồng đều được chiathành 3 khu vực hoạt động cơ bản và do đó lao động cũng được chia thành 3khu vực [42]:
- Khu vực I bao gồm lao động tập trung trong các ngành nông – lâm –ngư nghiệp
- Khu vực II bao gồm lao động tập trung trong các ngành công nghiệp –xây dựng
- Khu vực III bao gồm lao động tập trung trong ngành dịch vụ
Sự phân chia cơ cấu lao động theo nghề nghiệp ở 3 khu vực kinh tế nhưtrên có ý nghĩa rất quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội củamột quốc gia, đồng thời nó cũng phản ánh tình hình phát triển kinh tế - xã hộicủa quốc gia đó
Hiện nay trên thế giới đang phổ biến cách phân chia hoạt động lao độngthành bốn khu vực, trong đó khu vực IV (lao động trí óc) đang được định hình
và được quan tâm một cách đặc biệt
Cùng với sự thay đổi của cơ cấu nền kinh tế chung hiện nay trên toàn thếgiới, cơ cấu lao động cũng có xu hướng chuyển dịch theo hướng giảm tỉ trọnglao động trong khu vực I, tăng tỉ trọng lao động trong khu vực II và III Ở cácnước đang phát triển lao động tập trung chủ yếu trong các khu vực I và II.Ngược lại, ở các nước phát triển, lao động tập trung chủ yếu trong khu vực III
Trang 19* Cơ cấu lao động trong nội bộ ngành kinh tế
Cơ cấu lao động trong nội bộ ngành kinh tế là sự phân chia lao độngthành những bộ phận theo ngành hẹp hơn
- Trong nhóm ngành nông - lâm - ngư nghiệp, cơ cấu lao động đượcphân chia trong các ngành nhỏ hơn bao gồm lao động trong ngành nôngnghiệp, lao động trong ngành lâm nghiệp, lao động trong ngành ngư nghiệp;
- Trong công nghiệp - xây dựng lao động được chia ra gồm lao độngtrong ngành công nghiệp, lao động trong ngành xây dựng;
- Trong ngành dịch vụ gồm có cơ cấu lao động trong ngành giao thôngvận tải, lao động trong ngành thương mại…
Trong từng phân ngành nhỏ sự phân chia lực lượng lao động cũng diễn
ra Có thể nói từ các ngành kinh tế, lao động được phân chia thành nghềchuyên môn sâu hơn, tạo nên một cơ cấu lao động theo ngành nghề đa dạng,phù hợp với trình độ chuyên môn kỹ thuật của từng đối tượng lao động, từ đógóp phần nâng cao năng suất lao động
c Cơ cấu lao động theo giới tính
Trong hoạt động sản xuất và hoạt động kinh tế - xã hội của bất kì mộtquốc gia nào sự phân chia cơ cấu lao động theo giới nam và giới nữ có tầmquan trọng nhất định Cơ cấu lao động theo giới phản ánh đến sự phân bố sảnxuất, tổ chức đời sống xã hội và sự hoạch định chiến lược phát triển kinh tế -
xã hội của các quốc gia, đồng thời nói lên vị thế, vai trò của mỗi giới đối với
xã hội
Cơ cấu lao động theo giới được phản ánh qua tương quan giữa số laođộng nam (nữ) trên 100 lao động nữ (nam) hoặc tương quan giữa số lao độngnam (nữ) so với tổng số dân, đơn vị tính bằng %
Nhìn chung, cơ cấu lao động theo giới có sự khác nhau giữa các nhómnước trên thế giới Tại các nước phát triển thường có số lao động nữ nhiềuhơn nam, ở các nước đang phát triển có chiều hướng diễn ra ngược lại.Nguyên nhân dẫn tới tình trạng trên ngoài các yếu tố xã hội còn có yếu tốchăm sóc sức khỏe bà mẹ và trẻ em dẫn tới sự khác nhau về cơ cấu lao độngtheo giới giữa các nhóm nước này
Trang 20Bên cạnh đó, kết cấu lao động theo giới còn có sự khác biệt giữa khuvực thành thị và nông thôn do hàng loạt các yếu tố như văn hóa, xã hội ở từngnơi và trong từng thời gian cụ thể và đặc biệt do tính chất và nhu cầu lao động
có ảnh hưởng tới kết cấu lao động theo giới tính
d Cơ cấu lao động theo trình độ học vấn và trình độ chuyên môn kỹ thuật
Cơ cấu lao động theo trình độ học vấn (hay theo trình độ văn hóa) và trình
độ chuyên môn kỹ thuật phản ánh trình độ học vấn của người dân cũng như tìnhhình và khả năng phát triển kinh tế của quốc gia Trong sự phát triển kinh tế, đểnâng cao năng suất lao động và chất lượng sản phẩm ở mỗi quốc gia thì chấtlượng của người lao động đóng vai trò quan trọng Trình độ của người lao độngcàng cao thì nền kinh tế quốc gia càng có cơ hội thúc đẩy phát triển
Khi nghiên cứu về cơ cấu lao động theo trình độ văn hóa và trình độchuyên môn kỹ thuật, người ta thường quan tâm tới số lượng lao động đượcđào tạo các cấp, số lượng cán bộ khoa học kĩ thuật, công nhân lành nghề vìđây là lực lượng lao động quý, có tác dụng thúc đẩy nhanh tốc độ phát triểnkinh tế - xã hội của đất nước
Nhìn chung cơ cấu lao động theo trình độ văn hóa và trình độ chuyênmôn kỹ thuật có sự khác biệt giữa các nhóm nước, giữa các khu vự trên thếgiới, giữa thành thị và nông thôn, giữa giới nam và giới nữ Ở các nước pháttriển, tỉ lệ lao động có trình độ chuyên môn kĩ thuật cao hơn rất nhiều so vớinhóm các nước đang phát triển, đặc biệt đối với lao động nữ
1.1.1.3 Phân bố nguồn lao động
Phân bố nguồn lao động là một hiện tượng xã hội phụ thuộc vào nhiềuyếu tố khác nhau như điều kiện tự nhiên, điều kiện tinh tế - xã hội, lịch sửkhai thác và phát triển lãnh thổ… Tùy vào từng nhân tố ảnh hưởng khác nhau
mà nguồn lao động có sự thay đổi theo thời gian và không gian
a Phân bố nguồn lao động thay đổi theo thời gian
Sự thay đổi nguồn lao động theo thời gian gắn liền với sự thay đổi sốlượng dân cư theo thời gian Dưới sự tác động của các nhân tố tự nhiên, nhân
tố kinh tế - xã hội mà đặc biệt sự thay đổi về trình độ phát triển của lực lượngsản xuất trong nhưng thời kì khác nhau đã dân tới những biến đổi về lực
Trang 21lượng lao động theo thời gian Trên thế giới trước đây có những khu vực dân
cư và lực lượng lao động rất thưa thớt nhưng sau đó nhờ các chính sách đổimới, thu hút dân cư và lao động thúc đẩy phát triển kinh tế đã khiến lực lượngdân cư và nguồn lao động ở khu vực đó tăng lên đáng kể Ngược lại, cónhững vùng trước đây dân cư và lao động tập trung rất đông đúc nhưng khinền kinh tế có sự biến đổi không còn phát triển như trước nữa đã khiến chodân cư và lực lượng lao động tại khu vực đó suy giảm
b Phân bố nguồn lao động thay đổi theo lãnh thổ
Sự phân bố dân cư không đồng đều ở các khu vực khác trên thế giới tùythuộc vào từng điều kiện cụ thể dẫn tới sự phân bố lực lượng lao động cũng
có sự phân bố không đồng đều Thực tế cho thấy, những nơi có điều kiệnthuận lợi cho sự quần cư và cư trú của con người thì dân cư sẽ tập trung đôngđúc và ngược lại
c Phân bố nguồn lao động không đều giữa các ngành kinh tế
Tùy thuộc vào trình độ phát triển kinh tế của các nước khác nhau dẫntới sự phân bố lao động giữa các ngành kinh tế cũng khác nhau Tại nhómcác nước đang phát, lao động tập trung chủ yếu trong nông nghiệp, lao độngtrong công nghiệp và dịch vụ còn chiếm tỉ lệ thấp Ngược lại, tại các nướcphát triển, lao động tập trung chủ yếu trong công nghiệp và dịch vụ, laođộng trong nông nghiệp chiếm tỉ lệ không đáng kể trong co cấu ngành kinh
tế Chính sự khác biệt trong sự phân bố nguồn lao động theo ngành kinh tếgiữa các nhóm nước này đã tạo nên bức tranh kinh tế tương phản giữa nhómcác nước phát triển và đang phát triển
1.1.2 Sử dụng lao động và cơ cấu sử dụng lao động
1.1.2.1 Sử dụng lao động
a Khái niệm sử dụng lao động
Tiềm năng lao động mới chỉ là cơ sở ban đầu và nếu người lao động chỉtham gia lao động một cách tự phát thì hiệu quả lao động đạt được là khôngcao Do đó, để phát huy hết khả năng của người lao động, tạo động lực thúcđẩy quá trình sản xuất phát triển cần phải có các biện pháp sử dụng nguồn laođộng một cách có hiệu quả
Trang 22Việc sử dụng lao động có thể hiểu một cách đơn giản đó là hình thứcphân công lao động vào từng công việc cụ thể với những đặc tính khác nhau
về chuyên môn, hình thái Sử dụng nguồn lao động thực chất là việc phân bổnguồn lao động vào các ngành kinh tế, các thành phần kinh tế, các vùng kinh
tế theo những tỉ lệ nhất định nhằm sử dụng có hiệu quả cao và đầy đủ nguồnlao động của một quốc gia hay vùng lãnh thổ
Như vậy khái niệm sử dụng lao động được hiểu như sau:
Sử dụng nguồn lao động là sự phân công lao động dựa trên cơ sở kết hợp khả năng của người lao động với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội sao cho người lao động có thể phát huy được những phẩm chất của mình để tạo
ra những hiệu quả phát triển kinh tế - xã hội cao nhất [10].
Theo cách hiểu trên, hiệu quả sử dụng lao động được đánh giá thôngqua năng suất lao động, mức độ an toàn của người tham gia lao động, hao phítrong sản xuất… cũng như tỷ suất sử dụng lao động trong một năm, qua cácnăm, giữa các ngành kinh tế hay các vùng kinh tế khác nhau
b Các khái niệm liên quan
- Việc làm:
Việc làm là một phạm trù tồn tại khách quan trong nền sản xuất xã hội,phụ thuộc vào các điều kiện hiện có của nền sản xuất Người lao động đượccoi là có việc làm khi chiếm giữ một vị trí nhất định trong hệ thống sản xuấtcủa xã hội Nhờ có việc làm mà người lao động mới thực hiện được quá trìnhlao động tạo ra sản phẩm cho xã hội, cho bản thân
Đứng trên các góc độ nghiên cứu khác nhau, người ta đã đưa ra rấtnhiều định nghĩa nhằm làm sáng tỏ khái niệm việc làm Và ở các quốc giakhác nhau, do ảnh hưởng của nhiều yếu tố như điều kiện kinh tế, chính trị,luật pháp… người ta quan niệm về việc làm cũng khác nhau Chính vì thế,không có một định nghĩa chung và khái quát nhất về việc làm
Trên thực tế, việc làm được thừa nhận dưới 3 hình thức:
- Làm công việc để nhận được tiền lương, tiền công hoặc hiện vật chocông việc đó
- Làm công việc để thu lợi cho bản thân, mà bản thân lại có quyền sử
Trang 23dụng hoặc quyền sở hữu một phần hoặc toàn bộ tư liệu sản xuất để tiến hànhcông việc đó
- Làm các công việc cho hộ gia đình mình nhưng không được trả thùlao dưới hình thức tiền lương, tiền công cho công việc đó Hình thức này baogồm sản xuất nông nghiệp, hoạt động kinh tế phi nông nghiệp do chủ hộ hoặcmột thành viên khác trong gia đình có quyền sử dụng, sở hữu hoặc quản lý
Ở Việt Nam, khái niệm việc làm đã được quy định tại Điều 13 của Bộluật lao động: “Mọi hoạt động lao động tạo ra nguồn thu nhập không bị phápluật cấm đều được thừa nhận là việc làm” [21]
Theo tổ chức lao động quốc tế ILO việc làm là hoạt động lao độngđược trả công bằng tiền hoặc hiện vật
Trong các báo cáo điều tra lao động việc làm của Tổng cục thống kêhiện nay thường sử dụng quan niệm việc làm là mọi hoạt động lao động từ 1giờ trở lên tạo ra nguồn thu nhập không bị pháp luật cấm
Như vậy, các vấn đề cơ bản được đề cập trong quan niệm về việc làmbao gồm vị thế của việc làm (việc làm thỏa thuận hay tự làm), mục đích củaviệc làm (được trả công bằng tiền và hiện vật, hoặc mang lại lợi ích cho giađình và bản thân, đối công, tự làm để tạo ra lợi nhuận…) và tính hợp pháptheo quy định của pháp luật về việc làm (nhiều việc làm tự làm và mang lạithu nhập thậm chí rất cao nhưng vi phạm pháp luật thì không được xem làviệc làm)
Trang 24Ở nước ta, một số nhà nghiên cứu khoa học đã đưa ra những khái niệm
về thất nghiệp như: “Thất nghiệp là hiện tượng mà người có sức lao động, cónghề, muốn đi làm việc, không có việc làm và đã đăng ký ở cơ quan có thẩmquyền” (Kỷ yếu hội thảo khoa học 1988 Bộ Lao động –Thương binh và Xãhội), hay trong những quy định điều tra thực trạng lao động – việc làm được
áp dụng từ năm 1996 do Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội tiến hành đãxác định người thất nghiệp là người từ đủ 15 tuổi trở lên trong nhóm dân sốhoạt động kinh tế trong thười điểm điều tra không có việc làm nhưng có nhucầu làm việc Ở đây, giới hạn độ tuổi của người thất nghiệp bao gồm cảnhững người trên độ tuổi lao động Điều này hoàn toàn phù hợp với thực tếcủa Việt Nam trong khi xã hội còn một tỷ lệ người trên độ tuổi lao động đanglàm việc trong nền kinh tế quốc dân và đi liền với nó là một tỷ lệ không nhỏngười đang rơi vào tình trạng không có việc làm
Hiện nay, trong báo cáo tổng điều tra lao động - việc làm hàng năm, đểxác định tình trạng thất nghiệp của người lao động, Tổng cục thống kê đã chỉ
ra rằng: “Thất nghiệp bao gồm những người từ 15 tuổi trở lên mà trong tuầnnghiên cứu thoả mãn đồng thời ba điều kiện: không làm việc, nhưng sẵn sànglàm việc và đã có những bước đi cụ thể để tìm việc làm” Nhóm này bao gồm
cả những người hiện không làm việc nhưng đang chuẩn bị khai trương cáchoạt động kinh doanh của mình hoặc nhận một công việc mới sau thời kỳtham chiếu; hoặc những người trong tuần nghiên cứu luôn sẵn sàng làm việcnhưng không tìm kiếm việc làm do ốm đau tạm thời, bận việc riêng (lo hiếu,
hỷ, con nhỏ), do thời tiết xấu, đang chờ thời vụ
Thất nghiệp là vấn đề kinh tế - xã hội phổ biến đối với hầu hết các quốcgia Nghiên cứu mức độ thất nghiệp giúp đánh giá chính xác mức sống và tìnhhình ổn định kinh tế, xã hội… của một quốc gia
- Thiếu việc làm:
Số người thiếu việc làm phản ánh tình trạng sử dụng lãng phí năng lực sảnxuất và dịch vụ của lực lượng lao động Hiện nay, ở nước ta quan niệm về thiếuviệc làm bao gồm những người có việc làm mà trong thời gian tham chiếu (7ngày trước thời điểm điều tra) mong muốn làm thêm giờ, sẵn sàng làm thêm giờ
và trên thực tế họ đã làm việc dưới 35 giờ trong tuần tham chiếu
Trang 251.1.2.2 Cơ cấu sử dụng lao động
a Cơ cấu sử dụng lao động theo ngành
Cơ sở của việc phân chia lao động theo ngành chủ yếu dựa vào tínhchất và nội dung của hoạt động sản xuất Nền kinh tế quốc dân của một quốcgia được chia thành ba khu vực hoạt động kinh tế cơ bản, mỗi một khu vực cónhững đặc trưng riêng về tính chất sản xuất, phản ánh sức sản xuất và trình độsản xuất nhất định của xã hội loài người Do đó, nguồn lao động của một quốcgia được cũng được phân bổ ở ba khu vực kinh tế:
- Khu vực I bao gồm lao động tập trung trong lĩnh vực nông – lâm –ngư nghiệp;
- Khu vực II bao gồm lao động tập trung trong ngành công nghiệp –xây dựng;
- Khu vực III bao gồm lao động tập trung trong ngành dịch vụ
Hiện nay trên thế giới đang có xu hướng phân biệt thêm khu vực thứ tư
là khu vực kinh tế tri thức
b Cơ cấu sử dụng lao động theo lãnh thổ
Việc sử dụng lao động theo lãnh thổ thể hiện sự tương quan phân bốlao động ở các đơn vị lãnh thổ chủ yếu, có thể xem xét trên phạm vi rộng lớnnhư một quốc gia hay phạm vi vùng của một quốc gia, các tỉnh, các huyệnhay trong phạm vi các đơn vị lãnh thổ hỏ hơn huyện Các đơn vị lãnh thổ này
có thể là những khu vực có những đặc điểm tự nhiên riêng biệt, gắn với cácđơn vị hành chính và có những hoạt động sản xuất đặc trưng quy định việc sửdụng lao động theo lãnh thổ
c Cơ cấu sử dụng lao động theo thành phần kinh tế
Cách phân chia cơ cấu sử dụng lao động theo thành phần kinh tế dựatrên cơ sở tính chất của quan hệ sản xuất, phân chia nền kinh tế thành nhữngkhu vực khác nhau Tỷ lệ lao động tham gia trong mỗi thành phần kinh tế là
cơ sở để xác định vai trò, tầm quan trọng của thành phần đó trong nền kinh tế quốc dân
Tùy thuộc vào tình hình phát triển các thành phần kinh tế ở từng quốcgia, từng khu vực khác nhau, tỷ lệ sử dụng lao động theo thành phần kinh tế
có sự khác biệt nhất định Hiện nay ở nước ta lao động tập trung trong các
Trang 26thành phần kinh tế như kinh tế Nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân(gồm kinh tế cá thể và kinh tế tiểu chủ), kinh tế tư bản Nhà nước và kinh tế cóvốn đầu tư nước ngoài.
1.1.3 Các nhân tố ảnh hưởng tới sử dụng lao động
1.1.3.1 Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên
Nhân tố vị trí địa lý ảnh hưởng tới việc sử dụng lao động trên một đơn
vị lãnh thổ nhất định thông qua việc chi phối đặc điểm tự nhiên (như khí hậu,nước, khoáng sản…) của địa phương đó cũng như mối quan hệ với các địaphương lân cận để từ đó có thể xác định việc phát triển các hoạt động kinh tếchủ lực (nông nghiệp, công nghiệp hay dịch vụ) cũng như có hướng chuyểndịch cơ cấu kinh tế cho phù hợp
Các điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên là cơ sở để hình thành
và phát triển các ngành nghề sản xuất của xã hội Vì vậy, các nhân tố tự nhiên
có ảnh hưởng tới cơ cấu sử dụng lao động tại địa phương Mức độ đa dạngphong phú của nguồn tài nguyên thiên nhiên quy định sức hút nguồn nhân lựcbên trong và bên ngoài lãnh thổ tham gia vào các hoạt động kinh tế
1.1.3.2 Các nhân tố kinh tế - xã hội
a Đặc điểm dân cư và nguồn lao động
- Quy mô dân số:
Quy mô dân số đông có tác động hai chiều tới sự phát triển kinh tế - xãhội của quốc gia Một mặt tạo ra nguồn lao động đông phục vụ cho sự pháttriển kinh tế - xã hội dồi dào, mặt khác gây sức ép không nhỏ tới hàng loạt cácvấn đề như giải quyết việc làm cho người lao động, các vấn đề y tế, giáo dục,môi trường và nhiều vấn đề xã hội có liên quan khác, đặc biệt đối với cácnước đang phát triển
Ngược lại, quy mô dân số nhỏ góp phần làm giảm đi áp lực về các vấn
đề giải quyết việc làm cho người lao động, các vấn đề y tế, giáo dục, môitrường và các vấn đề xã hội có liên quan khác nhưng lại gây nguy cơ thiếu hụtnguồn lao động trong tương lai
- Tỷ lệ gia tăng dân số:
Trang 27Tỷ lệ gia tăng dân số bao gồm tỷ lệ gia tăng dân số tự nhiên và tỷ lệgia tăng cơ học Nếu tỷ lệ gia tăng dân số tự nhiên cao kết hợp với dân sốđông sẽ đảm bảo được nguồn lao động trong hiện tại cho các ngành kinh tếquốc dân song sẽ là trở ngại không nhỏ trong tương lai khi phải giải quyếtmột lực lượng lao động quá lớn Tình trạng này chủ yếu diễn ra tại các quốcgia có nền kinh tế đang phát triển Do đó ở hầu hết các nước đang phát triểntrong vấn đề giải quyết việc làm cho người lao động hiện nay thường hướngtới xuất khẩu lao động sang các thị trường ở các quốc gia phát triển nhằmgiảm bớt sức ép việc làm trong nước Đối với các nước phát triển tình trạngdiễn ra ngược lại Các quốc gia này có tỷ lệ gia tăng dân số tự nhiên rất thấp(Liên Bang Nga < 0%) nên trong vấn đề sử dụng lao động gặp không ít cáckhó khăn, chủ yếu nguồn lao động sử dụng trong các ngành kinh tế là laođộng nhập cư.
Tỷ lệ tăng dân số đối lập ở hai nhóm nước đang phát triển và nhómnước phát triển đặt ra vấn đề cốt yếu là cần phải kiểm soát dân số trong pháttriển kinh tế của một đất nước
- Kết cấu dân số theo giới tính:
Dựa vào sự khác biệt về thể trạng và các đặc điểm khác biệt cơ bảngiữa giới nam và giới nữ mà việc sử dụng lao động cũng chịu sự chi phối củakết cấu dân số theo giới Theo đó, các ngành kinh tế có yêu cầu về sức khỏetốt, những công việc nặng nhọc thường lao động là nam giới Đối với nữ giớilại tập trung chủ yếu trong các ngành đòi hỏi sự tỉ mỉ, khéo léo và dẻo dai
- Kết cấu dân số theo tuổi:
Sự phát triển kinh tế - xã hội của một quốc gia phụ thuộc rất nhiều vào kếtcấu tuổi của dân số Nếu số người trong độ tuổi lao động chiếm tỷ lệ cao thìnguồn cung cấp lao động cho các ngành kinh tế dồi dào và ngược lại, nếu sốngười trong độ tuổi lao động ít sẽ dẫn tới tình trạng nhu cầu về lao động lớn hơnkhả năng cung ứng lao động cho nền kinh tế Điều đó tất yếu sẽ dẫn tới tìnhtrạng thiếu hụt lao động cho sự phát triển của các ngành kinh tế quốc dân và gâykhó khăn không nhỏ đối với sự phát triển kinh tế - xã hội nói chung
Trang 28- Sự phân bố dân cư:
Sự phân bố dân cư có ảnh hưởng tới sự phân bố lao động, cơ cấu laođộng theo lãnh thổ cũng như việc sử dụng lao động trên một lãnh thổ nhấtđịnh Những nơi tập trung đông dân cư thì nguồn lao động sẽ dồi dào, việckhai thác lãnh thổ sẽ tốt hơn những nơi thưa dân Tuy nhiên, dân cư đông,nguồn lao động dồi dào cũng là trở ngại cho vấn đề giải quyết việc làm chongười lao động Do đó, phân bố dân cư hợp lí là yêu cầu không thể thiếutrong quá trình phát triển kinh tế - xã hội
- Đặc điểm nguồn lao động:
Đặc điểm nguồn lao động là yếu tố cơ bản để tiến hành phân bố, sửdụng lao động Đặc điểm nguồn lao động với các yếu tố có liên quan như chấtlượng nguồn lao động và cơ cấu lao động là cơ sở quan trọng để xác định môhình phân bố và sử dụng lao động Để sử dụng lao động trên một đơn vị lãnhthổ đạt được hiệu quả cao nhất điều quan trọng là cần phải xác định nhữngđặc điểm cơ bản của nguồn lao động, phát hiện được số lượng lao động dưthừa hoặc thiếu hụt trên lãnh thổ đó
b Tăng trưởng kinh tế và cơ cấu nền kinh tế
- Tăng trưởng kinh tế:
Tốc độ tăng trưởng kinh tế của một quốc gia cao hay thấp phản ánhtình hình sử dụng lao động vào quá trình sản xuất của xã hội Khi một nềnkinh tế có tốc độ tăng trưởng cao thì một trong những nguyên nhân đóng gópcho sự tăng trưởng đó là việc sử dụng tốt nguồn nhân lực quốc gia Như vậy,tăng trưởng kinh tế nhanh thì tình trạng thất nghiệp và thiếu việc làm sẽ giảm
đi và ngược lại
- Cơ cấu nền kinh tế:
Dựa theo ngành kinh tế, mỗi ngành kinh tế có những yêu cầu khác nhau
vè số lượng cũng như về chất lượng người lao động Mức độ tập trung và khảnăng thu hút lao động phản ánh qua tỷ trọng đóng góp vào nền kinh tế củatừng ngành Theo đó, ngành nào có sự đóng góp tỷ trọng vào GDP cao thìmức độ tập trung, khả năng thu hút và sử dụng lao động trong ngành đó càngnhiều và ngược lại Ngày nay, với sự đa dạng của các ngành nghề kinh tếkhác nhau cho phép việc sử dụng lao động theo nhiều ngành nghề khác nhau
Trang 29phù hợp hơn với trình độ của người lao động, người lao động sẽ có nhiều hơn
cơ hội tìm kiếm việc làm, góp phần giảm áp lực việc làm đối với nền kinh tế
Theo lãnh thổ, cơ cấu kinh tế theo lãnh thổ ảnh hưởng tới sự phân bốlao động theo lãnh thổ và đặc trưng nghề nghiệp của từng địa phương Thôngqua cơ cấu kinh tế theo lãnh thổ có thể cân đối, điều chỉnh lao động giữa cáclãnh thổ sao cho phù hợp hơn, tạo điều kiện phân bố hợp lí và sử dụng có hiệu quảnguồn lao động, từ đó khai thác có thể khai thác tối đa tiềm năng trên mỗi lãnh thổ
Cơ cấu thành phần kinh tế có ảnh hưởng tới điều kiện làm việc của người laođộng Ngày nay thành phần kinh tế của nhiều nước trên thế giới rất đa dạng điều đótạo cho người lao động có thể phát huy hết khả năng tham gia lao động của mình,thúc đẩy quá trình tăng trưởng kinh tế của quốc gia
c Các chính sách liên quan tới sử dụng lao động
Chính sách của Nhà nước đối với phát triển kinh tế - xã hội nói chung vàchính sách đối với người lao động nói riêng có tác động rất lớn tới việc sử dụng laođộng có hiệu quả
Các chính sách phát triển kinh tế giữ vai trò quan trọng trong việc địnhhướng phát triển kinh tế, thu hẹp hay mở rộng, đa dạng các ngành nghề sản xuất từ
đó có thể giải quyết việc làm cho người lao động một cách hợp lí hơn Các chươngtrình phát triển kinh tế quốc gia thường gắn với mục tiêu giải quyết việc làm chongười lao động trong một giai đoạn nhất định
Các chính sách đối với lao động bao gồm các chính sách hỗ trợ đào tạo nghề,
hỗ trợ vốn để sản xuất, các chính sách dịch vụ liên quan tới tìm kiếm việc làm,chính sách khuyến khích ưu đãi khi di chuyển dân cư nhằm giải quyết việc làm chongười lao động và khai thác có hiệu quả các tiềm năng của lãnh thổ đó, chính sáchhợp tác quốc tế giúp người lao động tham gia vào thị trường lao động quốc tế…
Bên cạnh đó, các chính sách về giáo dục, y tế cũng có tác động tới việc sửdụng lao động thông qua việc nâng cao hiểu biết, chất lượng và sức khỏe cho ngườilao động
d Kết cấu hạ tầng
Với tính chất đa dạng và thiết thực, kết cấu hạ tầng là nền tảng vật chất
có vai trò đặc biệt quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội củamỗi quốc gia, mỗi vùng lãnh thổ hay từng đại phương
Trang 30Toàn bộ kết cấu hạ tầng có thể được phân chia thành nhiều loại khácnhau dựa trên các tiêu chí khác nhau như:
- Nếu căn cứ theo lĩnh vực kinh tế - xã hội thì kết cấu hạ tầng có thểđược chia thành kết cấu hạ tầng phục vụ kinh tế, kết cấu hạ tầng phục vụ hoạtđộng xã hội và kết cấu hạ tầng phục vụ an ninh quốc phòng Tuy nhiên, trênthực tế ít có loại kết cấu hạ tầng nào hoàn toàn chỉ phục vụ kinh tế mà khôngphục vụ các hoạt động xã hội và ngược lại
- Nếu phân chia theo sự phân chia của nền kinh tế quốc dân thì kết cấu
hạ tầng có thể được phân chia thành kết cấu hạ tầng trong công nghiệp, kétcấu hạ tầng trong nông nghiệp, giao thông vận tải, bưu chính viễn thông, xâydựng, tài chính, y tế, giáo dục…
- Nếu căn cứ theo khu vực dân cư có kết cấu hạ tầng đô thị và kết cấu
hạ tầng nông thôn…
Theo cách phân chia phổ biến, kết cấu hạ tầng gồm 2 loại:
- Kết cấu hạ tầng kinh tế gồm các công trình hạ tầng kỹ thuật như: nănglượng (điện, than, dầu khí) phục vụ sản xuất và đời sống, các công trình giaothông vận tải (đường bộ, đường sắt, đường biển, đường sông, đường hàngkhông, đường ống), bưu chính- viễn thông, các công trình thuỷ lợi phục vụsản xuất nông- lâm- ngư nghiệp… Kết cấu hạ tầng kinh tế là bộ phận quantrọng trong hệ thống kinh tế, đảm bảo cho nền kinh tế phát triển nhanh, ổnđịnh, bền vững và là động lực thúc đẩy phát triển nhanh hơn, tạo điều kiện cảithiện cuộc sống dân cư
- Kết cấu hạ tầng xã hội gồm nhà ở, các cơ sở khoa học, trường học,bệnh viện, các công trình văn hoá, thể thao… và các trang, thiết bị đồng bộvới chúng Đây là điều kiện thiết yếu để phục vụ, nâng cao mức sống củacộng đồng dân cư, bồi dưỡng, phát triển nguồn nhân lực phù hợp với tiếntrình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Như vậy, kết cấu hạ tầng xã hội
là tập hợp một số ngành có tính chất dịch vụ xã hội; sản phẩm do chúng tạo rathể hiện dưới hình thức dịch vụ và thường mang tính chất công cộng, liên hệvới sự phát triển con người cả về thể chất lẫn tinh thần
Kết cấu hạ tầng đóng vai trò nền tảng cho các hoạt động kinh tế - xã hội
Trang 31được diễn ra một cách bình thường, đóng vai trò đặc biệt quan trọng đối với
sự phát triển kinh tế- xã hội của một quốc gia, tạo động lực cho sự phát triển
Hệ thống kết cấu hạ tầng phát triển đồng bộ, hiện đại sẽ thúc đẩy tăng trưởngkinh tế, nâng cao năng suất, hiệu quả của nền kinh tế và góp phần giải quyếtcác vấn đề xã hội Ngược lại, một hệ thống kết cấu hạ tầng kém phát triển làmột trở lực lớn đối với sự phát triển
e Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới
Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới là mộtchương trình tổng thể về phát triển kinh tế - xã hội, chính trị và an ninh quốcphòng Với mục tiêu toàn diện: xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hộinông thôn từng bước hiện đại; xây dựng cơ cấu kinh tế và các hình thức tổchức sản xuất hợp lý; gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp,dịch vụ; gắn phát triển nông thôn với đô thị theo quy hoạch; xây dựng xã hộinông thôn dân chủ, ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; bảo vệ môi trườngsinh thái; giữ vững an ninh - trật tự; tăng cường hệ thống chính trị ở nôngthôn dưới sự lãnh đạo của Đảng; nâng cao đời sống vật chất và tinh thần củanhân dân
Các tiêu chí về xây dựng nông thôn mới có ảnh hưởng trực tiếp vàgián tiếp tới việc sử dụng lao động, nhất là lao động ở khu vực nông thôn.Trong tổng số 19 tiêu chí xây dựng nông thôn mới mà Đảng và Nhà nước ta
đề ra, 2 tiêu chí thứ 12 (Tỷ lệ lao động trong độ tuổi làm việc trong lĩnh vực
nông, lâm, ngư nghiệp) và 13 (Hình thức tổ chức sản xuất) có ảnh hưởng
trực tiếp tới tỷ lệ lao động ở nông thôn có việc làm và cơ cấu ngành nghềcủa lao động nông thôn Ngoài ra, các tiêu chí khác cũng tác động gián tiếptới việc sử dụng lao động nông thôn như các tiêu chí về giao thông, điện,trường học,… Do vậy, xây dựng nông thôn mới là một tiêu chí quan trọngảnh hưởng tới việc sử dụng lao động nông thôn ở các địa phương trên phạm
vi cả nước
g Di chuyển lao động
Di chuyển lao động về cơ bản là sự di chuyển của con người từ nơi nàytới nơi khác nhằm tận dụng những lợi thế về điều kiện tự nhiên, tài nguyên
Trang 32thiên nhiên để có được nguồn thu nhập cao hơn, có nhiều việc làm hơn hoặc
để thoát khỏi sự phân biệt đối xử Trong điều kiện của nền kinh tế thị trường,
di chuyển lao động vừa là động lực thúc đẩy lại vừa là kết quả của sự pháttriển kinh tế xã hội của mỗi quốc gia
Dưới tác động của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đô thịhóa đất nước, việc di chuyển lao động có thể diễn ra trong phạm vi quốc giahoặc vùng lãnh thổ, giữa các quốc gia với nhau Quá trình này có những tácđộng sâu sắc đến sự phát triển kinh tế - xã hội của cả ở nơi đến và nơi đi Mộtmặt, sự di chuyển lao động góp phần tạo ra sự cân bằng về lực lượng lao độnggiữa các địa phương, giúp cho người lao động có thêm nguồn thu nhập đểnâng cao mức sống của bản thân và gia đình, có thêm nhiều cơ hội để học tập
và phát triển; mặt khác cũng gây ra tình trạng thiếu hụt lao động ở nơi đi, nhất
là ở những khu vực nông thôn vào những thời điểm thu hoạch mùa màngcũng như tạo nên sức ép đối với những khu vực người lao động đến nhập cư.Trong trường hợp người lao động di cư theo hình thức xuất khẩu cũng gópphần quan trọng vào việc làm giảm tình trạng thất nghiệp ở các quốc gia đangphát triển nhưng cũng gây ra tình trạng chảy máu chất xám ở các quốc gia nàycũng như ảnh hưởng tới lực lượng lao động tại các nước bản địa, tạo nên sựcạnh tranh trên thị trường lao động tại các nước đó
1.1.3.3 Mối quan hệ giữa nguồn lao động và sử dụng lao động
Lao động là dạng hoạt động quan trọng nhất của con người nhằm tạo racủa cải vật chất và tinh thần cho toàn xã hội cũng như cho chính bản thânngười tham gia lao động Giữa nguồn lao động và việc sử dụng lao động cómối quan hệ chặt chẽ, tác động qua lại lẫn nhau
Quy mô nguồn lao động có ảnh hưởng trực tiếp tới việc sắp xếp, bố tríviệc làm cho người lao động nhằm đạt được hiệu quả sử dụng lao động mộtcách tối ưu nhất, phát huy được tối đa khă năng tham gia lao động của ngườilao động Cũng với số lượng lao động ấy, nếu được sử dụng một cách hợp lí
sẽ tạo ra những tác động tích cực cho quá trình phát triển của nền kinh tế quốcdân, góp phần thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế và đẩy nhanhquá trình phân công lao động Đồng thời, việc sử dụng lao động hợp lí cũng
Trang 33góp phần quan trọng vào việc tạo công ăn việc làm cho người lao động, tăngthu nhập cho người dân, giúp người lao động ổn định cuộc sống của mình, từ
đó sẽ yên tâm phát huy hết các khả năng tham gia vào quá trình sản xuất, thúcđẩy nền kinh tế và giảm thiểu các hiện tượng tiêu cực trong xã hội Ngược lạinếu số lượng nguồn lao động đó không được sử dụng hợp lí sẽ tạo ra những
áp lực rất lớn đối với sự phát triển của nền kinh tế - xã hội quốc gia Vì vậy,trong sự phát triển kinh tế - xã hội nói chung cần phải xem xét mối quan hệgiữa nguồn lao động và sử dụng nguồn lao động sao cho hợp lí
1.1.4 Các tiêu chí xem xét và đánh giá sử dụng lao động
Phần lớn số người trong lực lượng lao động là những người đang làmviệc Lực lượng đông đảo này trực tiếp cung cấp sức lao động cho sản xuấthàng hoá và dịch vụ, là lực lượng chủ yếu quyết định sự tồn tại và phát triểncủa mỗi quốc gia Do vậy, để đánh giá tình hình sử dụng lao động cần căn cứvào các chỉ tiêu sau:
1.1.4.1 Sử dụng lao động theo ngành
Cơ cấu kinh tế theo ngành của một quốc gia bao gồm nhiều ngành khácnhau, trên nhiều lĩnh vực khác nhau Các ngành, các lĩnh vực kinh tế đó gắnliền với sự phát triển của sự phân công lao động xã hội Ở mỗi một quốc giakhác nhau cơ cấu ngành kinh tế có sự phân chia khác nhau do đó nguồn laođộng cũng được phân chia thành lao động theo các ngành kinh tế khác nhau.Việc sử dụng tiêu chí đánh giá sử dụng lao động theo ngành kinh tế sẽ cho thấy
sự phân bố lực lượng lao động cũng như tỉ trọng lao động đang làm việc trongcác ngành kinh tế và trong nội bộ từng ngành kinh tế ở những thời điểm nhấtđịnh, thông qua đó có những điều chỉnh lực lượng lao động giữa các ngànhkinh tế sao cho phù hợp với những điều kiện phát triển ngành kinh tế của địaphương Việc sử dụng lao động theo ngành kinh tế của địa phương hay của mộtquốc gia cần chú ý tới các khía cạnh sau:
- Quy mô lao động trong ngành kinh tế: Chỉ tiêu này phản ánh số lượnglao động được phân bố và sử dụng trong các ngành kinh tế khác nhau của nềnkinh tế quốc dân cũng như lãnh thổ của địa bàn nghiên cứu, qua đó thấy rõđược các nhân tố ảnh hưởng tới sự phân bố cũng như sử dụng lao động ở các
Trang 34đươn vị lãnh thổ khác nhau Chỉ tiêu này được tính bằng tổng số lao động trongcác ngành kinh tế và các đơn vị lãnh thổ trên địa bàn nghiên cứu.
- Tỷ lệ lao động trong các nhóm ngành và trong nội bộ các ngành kinh tế
là chỉ tiêu phản ánh cơ cấu sử dụng lao động ở các nhóm ngành và trong nội bộcác ngành kinh tế cụ thể Việc nghiên cứu và xem xét tỷ trọng lao động giữacác nhóm ngành cũng như trong nội bộ từng ngành kinh tế cho thấy việc sửdụng lao động giữa các nhóm ngành và trong nội bộ từng ngành kinh tế đã phùhợp hay chưa từ đó xây dựng các định hướng và đưa ra các giải pháp nhằm sửdụng hợp lí hơn nguồn lao động ở các địa phương cụ thể Tỷ lệ lao động trongcác nhóm ngành và trong nội bộ từng ngành kinh tế được tính bằng tương quangiữa số lao động của các nhóm ngành cũng như nội bộ từng ngành so với tổng
số lao động trong toàn nền kinh tế quốc dân
- Chỉ tiêu về tốc độ chuyển dịch lao động giữa các nhóm ngành vàtrong nội bộ từng ngành Chỉ tiêu này phản ánh sức hút lao động của cácngành cũng như xu hướng chuyển dịch lao động của các ngành kinh tế Tuynhiên, việc đánh giá sự chuyển dịch cơ cấu lao động giữa các nhóm ngành vànội bộ các ngành kinh tế chỉ mang tính chất tương đối vì sự thay đổi này còn tùythuộc vào trình độ phát triển kinh tế cũng như đặc điểm nền kinh tế trong từng giaiđoạn nhất định Trong sự chuyển dịch cơ cấu lao động trong một tổng thể, nếu tỷtrọng lao động của một bộ phận ngành kinh tế nào đó tăng lên bao nhiêu % thì cácngành kinh tế còn lại của toàn nền kinh tế sẽ giảm đi số % tương ứng
- Cơ cấu sử dụng lao động theo trình độ văn hóa và trình độ chuyên môn kỹthuật Trong quá trình phát triển sản xuất, lao động giữa các ngành kinh tế và trongnội bộ từng ngành có sự thay đổi cơ cấu theo trình độ nói chung Quá trình này gắnliền với sự phát triển của nền sản xuất do yêu cầu của các ngành nghề cũng như sựdịch chuyển lao động; do người lao động tự đào tạo hoặc được đào tạo nhằm nângcao trình độ của bản thân Xu hướng chuyển dịch hiện nay trong nền kinh tế củahầu hết các quốc gia trên thế giới đều dịch chuyển tăng tỷ trọng lao động có trình độchuyên môn và tay nghề Chỉ tiêu này phản ảnh chất lượng cũng như sự dịchchuyển chất lượng lao động của địa bàn nghiên cứu Đây là một chỉ tiêu quan trọng
Trang 35nhất trong việc nâng cao chất lượng tay nghề của người lao động Do vậy việc xemxét các tỷ lệ liên quan đến chỉ tiêu này là một khía cạnh quan trọng trong đánh giátình hình sử dụng lao động.
1.1.4.2 Sử dụng lao động theo thành phần kinh tế
Việc đánh giá tình hình sử dụng lao động theo thành phần kinh tế dựa trêncác chỉ tiêu về phân bổ quy mô, tỉ trọng, tốc độ chuyển dịch tỉ trọng lao động nôngthôn giữa các thành phần kinh tế Việc phân chia các thành phần kinh tế có sự khácnhau giữa các quốc gia dựa trên cơ chế chính trị - xã hội của quốc gia đó Ở nước
ta, trước quá trình Đổi mới nền kinh tế tồn tại hai thành phần kinh tế là thành phầnkinh tế quốc doanh và thành phần kinh tế tập thể Từ sau năm 1986, sau khi nước tatiến hành Đổi mới, nền kinh tế nước ta phát triển theo định hướng nền kinh tế thịtrường nhiều thành phần và duy trì tới ngày nay với 5 thành phần kinh tế đó là kinh
tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân, kinh tế cá thể và kinh tế có vốn đầu tưnước ngoài Trên thực tế, cơ cấu thành phần kinh tế ở Việt Nam thường được phânchia theo ba khu vực: kinh tế nhà nước, kinh tế ngoài nhà nước và khu vực có vốnđầu tư nước ngoài, do đó trong CCLĐ theo thành phần cũng thường được gắn với
ba bộ phận trên Riêng khu vực ngoài nhà nước lại được phân chia ra kinh tế tậpthể, kinh tế tư nhân, kinh tế cá thể
Trong từng giai đoạn phát triển, tùy vào điều kiện cụ thể về đặc điểm cũngnhư tốc độ phát triển kinh tế mà các thành phần kinh tế có mức độ sử dụng lao độngkhác nhau Trong những năm qua quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động giữa cácthành phần kinh tế ở nước ta diễn ra theo hướng tăng tỉ trọng lao động các khu vựckinh tế ngoài nhà nước, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài và giảm tỉ trọng lao độngtrong khu vực kinh tế nhà nước quản lý Qua việc đánh giá sử dụng lao động giữacác thành phần kinh tế sẽ cho thấy rõ hơn việc phân bổ và chuyển dịch lao độnggiữa các thành phần kinh tế, đó là cơ sở quan trọng để nâng cao hiệu quả sử dụnglao động bằng các giải pháp khuyến khích, hỗ trợ các thành phần kinh tế chủ lựctrong quản lý nguồn lao động ở các địa phương hiện nay
1.1.4.3 Sử dụng lao động theo lãnh thổ
Trong cơ cấu sử dụng lao động phân theo lãnh thổ cho thấy tính hợp lý hay
Trang 36bất hợp lý trên cơ sở dựa vào mối quan hệ giữa quy mô nguồn lao động với các yếu
tố điều kiện phát triển kinh tế
Cơ sở và các chỉ tiêu cụ thể để đánh giá vấn đề phân hóa theo lãnh thổ trong
sử dụng lao động nông thôn chính là việc xác định các tiểu vùng của lãnh thổnghiên cứu Các khía cạnh để dùng làm chỉ tiêu đánh giá là quy mô, tỉ trọng laođộng của các tiểu vùng thông qua lao động các ngành, các thành phần kinh tế Việc
so sánh, đối chiếu giữa các tiểu vùng sẽ cho thấy rõ hơn sự phân hóa, cho thấymức độ tác động của các nhân tố ảnh hưởng đến sử dụng lao động trong việctạo ra sự phân hóa
Đánh giá và phân tích tình hình sử dụng lao động việc làm về mặt lãnhthổ sẽ là cơ sở để điều chỉnh các chính sách phân bố lại lao động và chínhsách tạo việc làm, đào tạo nghề cho người lao động tại các vùng, tiểu vùngsinh thái trên lãnh thổ một cách phù hợp nhất, hướng đến khai thác tốt hơncác lợi thế về tiềm năng phát triển của từng vùng
1.1.4.4 Tình trạng thất nghiệp và thiếu việc làm
Tiêu chí này vừa phản ánh hiệu quả sử dụng lao động đồngthời cũng
phản ánh được mức độ làm việc của lao động Các chỉ tiêu cụ thể trong tiêu
chí đánh giá này là thống kê về tình trạng thất nghiệp, tình trạng thiếu việclàm, thống kê về thời gian làm việc trong ngày, trong tháng hoặc theo nămcủa lao động nông thôn Các quy định cụ thể của Bộ LĐTB & XH, Tổng cụcthống kê về thất nghiệp, thiếu việc làm là cơ sở của việc xác định tình trạngthất nghiệp và thiếu việc làm hiện nay
Trong đánh giá tình hình sử dụng lao động dựa trên tiêu chí này tìnhtrạng thất nghiệp và thiếu việc làm là các chỉ số mang tính thời điểm, do vậy
nó sẽ có những biến động theo sự vận động của nền sản xuất kinh tế dưới tácđộng của các chính sách liên quan Vì vậy, trong đánh giá về thất nghiệp vàthiếu việc làm cần phân tích rõ tác động của các yếu tố kinh tế - xã hội đối vớithất nghiệp, thiếu việc làm và ảnh hưởng của thất nghiệp, thiếu việc làm đến
sự phát triển kinh tế, xã hội của địa bàn nghiên cứu, từ đó đề xuất các giảipháp để điều tiết và kiểm soát được những vấn đề này
Trang 371.2 Cở sở thực tiễn
1.2.1 Khái quát tình hình sử dụng lao động ở Việt Nam
Theo Tổng cục thống kê Việt Nam, dân số trung bình năm 2015 của cảnước ước tính 91,70 triệu người, tăng 974,9 nghìn người, tương đương tăng1,07% so với năm 2014 Hiện Việt Nam là quốc gia đông dân đứng thứ 14trên thế giới, đứng thứ 8 ở châu Á và đứng thứ 3 trong khu vực Đông Nam Á
Số người trong độ tuổi lao động của nước ta đông và không ngừng tăng quacác năm Đến thời điểm ngày 01.01.2016, lực lượng lao động trong độ tuổilao động ước tính đạt 48,19 triệu người, tăng 506,1 nghìn người so với cùngthời điểm năm trước chiếm 52,3% dân số của cả nước cho thấy Việt Namđang ở thời kì “dân số vàng” với tiềm năng nguồn nhân lực có thể tham gia
thị trường lao động và đóng góp cho sự tăng trưởng kinh tế [40].
Cùng với quá trình đô thị hóa, tốc độ tăng dân thành thị ở nước ta trongnhững năm gần đây rất cao dẫn tới tỷ lệ lao động trong khu vực thành thị có
xu hướng tăng lên qua các năm Lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc
năm 2015 khu vực thành thị chiếm 31,2% (năm 2014 là 30,4%); khu vực
nông thôn chiếm 68,8% (Năm 2014 là 69,6%) [40].
Do dân số nam nhiều hơn dân số nữ trong tổng số dân nên tỷ trọng laođộng nam cao hơn tỷ trọng lao động nữ (51,7% so với 48,3% năm 2015)
[40].
Trình độ văn hóa, trình độ chuyên môn kỹ thuật của người lao độngkhông ngừng được nâng cao, thu nhập và đời sống của người dân khôngngừng được cải thiện, nhất là sau khi nước ta gia nhập WTO Tỷ trọng laođộng tốt nghiệp THCS và THPT tăng tương ứng từ gần 27% và 24% năm
2006 lên trên 33% và gần 26% năm 2011 Năm 2011 cả nước có gần 21,8triệu lao động kỹ thuật, chiếm 42% tổng LLLĐ (cuối năm 2006 là 31,5%) Sốlao động đã qua đào tạo nghề của nước ta trong năm 2011 đạt 8,6 triệu laođộng, chiếm 27% trong tổng LLLĐ Lao động có trình độ ĐH - CĐ chiếm
8,1% LLLĐ vào năm 2011 [59].
Trong những năm qua cùng với sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theohướng CHN – HĐH , tình hình sử dụng lao động ở nước ta có một số đặc
Trang 38điểm cơ bản như sau:
- Cơ cấu lao động theo ngành kinh tế nước ta có sự chuyển dịch theohướng tích cực:
Bất chấp những khó khăn trong nền kinh tế nhất là sau khi nước ta gianhập WTO, sự chuyển dịch của cơ cấu lao động theo ngành ở nước ta vẫn đitheo chiều hướng tích cực thể hiện ở việc giảm tỷ trọng lao động trong khuvực nông – lâm – ngư nghiệp, tăng tỷ trọng lao động trong khu vực côngnghiệp – xây dựng và dịch vụ
Biểu đồ 1.1: Biểu đồ thể hiện cơ cấu lao động phân theo ngành kinh tế
của nước ta giai đoạn 2005 - 2014
[Nguồn 3 và 60]
Tỷ trọng lao động trong khu vực nông – lâm – ngư nghiệp giảm từ 55,1%(2005) xuống còn 46,3% (2014); tỷ trọng lao động trong khu vực công nghiệp xâydựng tăng nhanh từ 17,6% (2005) lên 21,4% (2014); tỷ trọng lao động trong lĩnhvực dịch vụ tăng nhanh nhất, từ 27,3% (2005) lên 32,3% (2014)
- Việc sử dụng lao động theo thành phần kinh tế có sự chuyển biến rõ nét:Với việc nước ta tiến hành đổi mới nền kinh tế (1986) và đa dạng hóacác loại hình sản xuất kinh doanh đã tạo điều kiện cho sự hình thành và pháttriển một nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần
Năm
Trang 39Nhìn chung trong những năm gần đây, tỷ trọng lao động trong khu vựcNhà nước ở nước ta duy trì ở mức khá ổn định, dao động khoảng 10,4% Do
sự đổi mới cơ chế quản lý đã khiến cho lao động ở khu vực ngoài Nhà nước ởnước ta giảm từ 86,8% (2010) xuống còn 85,7% (2014) Cùng với sự gia tăngcủa luồng vốn FDI vào nước ta trong những năm gần đây là sự gia tăng nhanhlực lượng lao động trong khu vực có vốn đầu tư nước ngoài, năm 2014 tỷtrọng lao động tập trung trong khu vực này chiếm 3,9% (năm 2001 là 1,1%;năm 2011 là 3,3%)
- Số người có việc làm trong tổng số dân ngày càng tăng, tỷ lệ thấtnghiệp và thiếu việc làm ngày càng giảm, đặc biệt ở khu vực thành thị:
Mặc dù trong những năm gần đây tình hình kinh tế nước ta thườngxuyên biến động thất thường và có những tác động không nhỏ tới thị trườnglao động nước ta Theo báo cáo điều tra lao động việc làm năm 2014 củaTổng cục thống kê cả nước có khoảng 52,7 triệu người có việc làm (tăng gần3,3 triệu người có việc làm so với năm 2010), chiếm khoảng 98,1% tổng sốlực lượng lao động của cả nước Cùng với đó, tỷ lệ thất nghiệp và thiếu việclàm ở nước ta cũn có xu hướng giảm xuống Năm 2010, tỷ lệ thất nghiệp vàthiếu việc làm trong độ tuổi lao động ở nước ta tương ứng là 2,88% và 3,57%đến năm 2014 tỷ lệ này đã giảm tương ứng là 2,1% và 2,4%
Tỷ lệ lao động thất nghiệp và thiếu việc làm ở khu vực thành thị và khuvực nông thôn ở nước ta có sự khác biệt khá rõ nét và đối lập nhau Tỷ lệ laođộng thất nghiệp ở nước ta tập trung chủ yếu ở khu vực thành thị và có xuhướng giảm qua các năm Từ năm 2010 đến năm 2014 tỷ lệ lao động thấtnghiệp trong độ tuổi lao động ở khu vực thành thị giảm, từ 4,29% xuống còn3,4%, ở nông thôn giảm từ 2,3% xuống còn 1,49% Tỷ lệ thiếu việc àm ở nước
ta lại tập trung chủ yếu ở khu vực nông thôn do đặc điểm công việc có quỹ thờigian nông nhàn tương đối dài Năm 2010 tỷ lệ lao động thiếu việc làm trong độtuổi lao động ở nông thôn nước ta ở mức cao, 4,26% đến năm 2014 tỷ lệ nàygiảm xuống còn 2,96%, ở thành thị giảm từ 1,82% xuống 1,2% [2,3]
Xuất phát từ đặc điểm nguồn lao động nước ta đông trong khi nhu cầu
Trang 40giải quyết việc làm chưa đáp ứng được hết các yêu cầu chung của người laođộng, tỷ lệ lao động phổ thông vẫn chiếm tỷ lệ cao trong cơ cấu lao động của
cả nước do đó xuất khẩu lao động là một chủ trương lớn của Đảng và Nhànước ta trong những năm gần đây Hoạt động xuất khẩu lao động ở nước tangày càng phát triển về số lượng và đa dạng về thị trường xuất khẩu Năm
2011, số lao động xuất khẩu nước ta đạt 88,3 nghìn người, nâng tổng số laođộng Việt Nam tham gia vào thị trường lao động ở nước ngoài vào khoảng500.000 lao động làm vệc tại hơn 40 nước và vùng lãnh thổ với hơn 30 nhómngành nghề Các thị trường xuất khẩu quan trọng của nước ta gồm Đài Loan,Hàn Quốc, Nhật Bản và Mai-lai-xi-a, trong đó thị trường Đài Loan chiếm thịphần cao nhất, với 43,94% lao động xuất khẩu của nước ta
Bên cạnh những mặt tích cực trong vấn đề quản lí và sử dụng lao động
ở nước ta đã nêu trên, nguồn lao động và việc sử dụng lao động ở nước ta cònbộc lộ một số điểm hạn chế như sau:
- Thứ nhất, chất lượng nguồn lao động của nước ta trong những năm
gần đây mặc dù đã được cải thiện song còn thấp so với yêu cầu chung
Năm 2014, tỷ lệ lao động không có CMKT của nước ta chiếm gần81,4% tổng số lao động của cả nước Khoảng cách giới về trình độ CMKTvẫn còn tồn tại Trình độ CMKT của LLLĐ nữ thấp hơn nam cả về số lượng
và chất lượng Chất lượng lao động ở nông thôn thấp hơn so với thành thịcùng với đó là tỷ lệ lao động có CMKT có sự chênh lệch lớn giữa các vùngmiền trên cả nước Những hạn chế này đã trở thành “nút thắt” về nguồn nhânlực và đồng tời cũng là một thách thức lớn đối với nước ta trong vấn đề sửdụng nguồn lao động hợp lí và hiệu quả
- Thứ hai, sự chuyển dịch cơ cấu lao động theo ngành ở nước ta mặc dù
đã diễn ra theo chiều hướng tích cực song còn chậm, nhất là sau khi nước tagia nhập WTO
- Thứ ba, tỷ lệ thất nghiệp và thiếu việc làm ở nước ta nhìn chung còn
cao Đáng chú ý là một bộ phận lao động có trình độ CMKT bị thất nghiệp.Điều này phản ánh những đặc điểm việc làm ở nước ta, khi phần lớn lao độngvẫn tập trung trong lĩnh vực nông nghiệp hoặc tự làm với năng suất thấp dẫn