1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

VẤN đề địa lý – LỊCH sử TRONG tác PHẨM GIA ĐỊNH THÀNH THÔNG CHÍ và sử học bị KHẢO

108 309 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 108
Dung lượng 752,03 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một loạt các sách địa lý, địa lý - lịch sử có quy mô lớn ra đời.: Hoàng Việt nhất thống dư địa chí của Lê Quang Định; Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức; Bắc Thành dư địa ch

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LỊCH SỬ

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Đào Tố Uyên

HÀ NỘI - 2016

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành đề tài cùng với sự nỗ lực của bản thân, tôi đã nhận được

sự quan tâm của nhiều đơn vị, thầy cô, gia đình và bạn bè Tôi xin chân thànhcảm ơn Ban giám hiệu trường Đại học Sư phạm Hà Nội, Phòng sau đại học,Ban chủ nhiệm khoa Lịch sử và tổ bộ môn Lịch sử Việt Nam cùng quý thầy

cô tham gia giảng dạy lớp Cao học khóa 24 Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng cảm

ơn sâu sắc tới PGS.TS Đào Tố Uyên đã trực tiếp quan tâm, hướng dẫn, giúp

đỡ tác giả trong suốt quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài với tất cả sựnhiệt tình và tinh thần trách nhiệm

Tôi cũng xin trân trọng cảm ơn Phòng Tư liệu khoa Lịch sử trường Đạihọc Sư phạm Hà Nội, Thư viện trường Đại học Sư phạm Hà Nội, Thư việnQuốc gia, đã tạo điều kiện giúp tôi tìm kiếm nguồn tư liệu hoàn thành đề tài

Xin gửi lời tri ân đến gia đình, bạn bè đã động viên, khích lệ tôi trongthời gian tôi thực hiện đề tài

Hà Nội, ngày tháng năm 2016

Tác giả

Đỗ Thị Thu Hương

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài 4

4 Mục đích nghiên cứu 4

5 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu 5

6 Đóng góp của luận văn 6

7 Cấu trúc của luận văn 6

NỘI DUNG 7

Chương 1: KHÁI QUÁT VỀ TÁC PHẨM GIA ĐỊNH THÀNH THÔNG CHÍ VÀ SỬ HỌC BỊ KHẢO 7

1.1 Khái quát về tác phẩm Gia Định thành thông chí 7

1.1.1 Tác giả Trịnh Hoài Đức 7

1.1.2 Tác phẩm Gia Định thành thông chí 9

1.2 Khái quát về tác phẩm Sử học bị khảo 13

1.2.1 Tác giả Đặng Xuân Bảng 13

1.2.2 Tác phẩm Sử học bị khảo 16

Chương 2: VẤN ĐỀ ĐỊA LÝ – LỊCH SỬTRONG TÁC PHẨM GIA ĐỊNH THÀNH THÔNG CHÍ 20

2.1 Về địa thế của vùng đất Nam Bộ, đất nước Việt Nam 20

2.2 Quá trình hình thành và phát triển của vùng đất Nam Bộ 23

2.3 Nguồn gốc tên gọi núi sông, dinh, trấn 26

2.4 Kinh tế, đời sống, văn hóa của cư dân trên vùng đất Nam Bộ từ cuối thế kỷ XVIII – đầu thế kỷ XIX 30

2.5 Vấn đề giao thoa văn hóa giữa những tộc người sống trên vùng đất Nam Bộ 39

Trang 4

Chương 3: VẤN ĐỀ ĐỊA LÝ – LỊCH SỬTRONG TÁC PHẨM SỬ

HỌC BỊ KHẢO 44

3.1 Về vị trí địa lý đất nước Việt Nam 44

3.2 Nguồn gốc núi, sông, đầm, hồ 49

3.3 Sự hình thành hệ thống giao thông đường bộ, đường thủy 64

3.4 Diên cách tên đất nước xưa nay 68

KẾT LUẬN 81

TÀI LIỆU THAM KHẢO 88

PHỤ LỤC ……… 96

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Đầu thế kỷ XIX, đất nước được thống nhất, nội chiến chấm dứt, cươngvực và lãnh thổ nước ta rộng lớn hơn bao giờ hết Vấn đề biên cương và vấn đềquan hệ với các nước láng giềng phức tạp hơn các thời kỳ trước đó Trong bốicảnh như vậy, môn địa lý nói chung và địa lý hành chính nói riêng phát triểnmạnh mẽ như là sự đòi hỏi của công cuộc trị nước Một loạt các sách địa lý, địa

lý - lịch sử có quy mô lớn ra đời.: Hoàng Việt nhất thống dư địa chí của Lê Quang Định; Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức; Bắc Thành dư địa

chí, sách vốn do Lê Chất, tổng trấn Bắc Thành và nhiều người cùng tham gia

biên soạn dưới thời Minh Mạng, về sau năm 1845, Nguyễn Văn Lý hiệu đính và

bổ sung; Đại Nam nhất thống chí, do Quốc sử quán triều Nguyễn biên soạn,

Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú - ra đời vào năm 1819; Đại Việt địa dư toàn biên của Nguyễn Văn Siêu và Bùi Quỹ; Sử học bị khảo của

Đặng Xuân Bảng …

Trong những bộ sách địa lý và địa lý – lịch sử tiêu biểu ra đời dưới thời

Nguyễn thì tác phẩm Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức và Sử

học bị khảo của Đặng Xuân Bảng là hai bộ sách ghi chép công phu về địa lý,

lịch sử, về thiên văn của Việt Nam Trong đó chứa đựng một nguồn sử liệuphong phú, đa dạng và rất đáng quý về nhiều phương diện: từ diên cách địa

lý, thành trì, khí hậu tới văn hóa dân gian, kinh tế, chính trị, quân sự, xã hội,quan chế… của Việt Nam thời trung đại Việc nghiên cứu những vấn đề địa

lý – lịch sử của hai bộ sử này góp phần làm rõ tính toàn diện về giá trị địa lýcũng như giá trị sử học của các tác phẩm và giúp cho bạn đọc thấy được mộtkhối tri thức lớn về các lĩnh vực địa lý, chính trị, quân sự, kinh tế, xã hội, vănhóa, phong tục, tập quán… mà ông bà ta đã xây dựng, phát triển liên tục trongnhiều thế kỷ qua

Trang 6

Từ khi ra đời, Gia Định thành thông chí và Sử học bị khảo được người

đương thời và người đời sau đánh giá cao bởi độ tin cậy vào sử liệu củanó.Nội dung hai bộ sách đề cập đến nhiều vấn đề, viện dẫn nhiều sách cổTrung Quốc, lại xen lẫn không ít chữ Nôm, thêm vào đó là nói đến nhiều tênriêng, thổ ngữ, tập tục của các địa phương Đó là một trong những lý do thôi

thúc chúng tôi tìm hiểu đề tài “Vấn đề địa lý – lịch sử trong tác phẩm Gia

Định thành thông chí và Sử học bị khảo”.

Gia Định thành thông chí và Sử học bị khảo có giá trị sử học và địa lý

học rất lớn; nhất là trong bối cảnh hiện nay khi vấn đề cương vực của ViệtNam đang trở thành vấn đề nóng, được sự quan tâm của nhiều ngành, nhiềulĩnh vực Đó cũng là lý do thôi thúc tôi, với tư cách là một giáo viên dạy Lịch

sử trong tương lai đi tìm giá trị lịch sử - địa lý của Gia Định thành thông chí

và Sử học bị khảo.

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Những “vấn đề địa lý – lịch sử trong tác phẩm Gia Định thành thông

chí và Sử học bị khảo” tuy hiện nay chưa cómột tác phẩm riêng biệt hoặc các

bài viết chuyên sâu, song cũng có được đề cập đến một mức nhất định trongmột số công trình nghiên cứu:

Năm 1994, tác giả Đinh Xuân Lâm viết bàiTrịnh Hoài Đức với “Gia

Định thành thông chí”một hiện tượng hội nhập văn hóa Việt – Hoa tiêu biểu,

Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 6 Bài viết đề cập đến nhiều nội dung trong

tác phẩm Gia Định thành thông chí, từ đó làm nổi bật tình yêu đất nước Việt

Nam của Trịnh Hoài Đức – một người Việt gốc Hoa

Tác giả Dương Bảo Vận công bố bài viếtMột vài nghiên cứu về sách

Gia Định thành thông chí, Tạp chí Xưa và Nay, số 53B/1998 Bài viết cung

cấp các tư liệu về thời điểm biên soạn của sách Gia Định thành thông chí.

Bài viết Trịnh Hoài Đức và tác phẩm “Gia Định thành thông chí” của

Trang 7

Nguyễn Minh Tường in trên Tạp chí Xưa và Nay, số chuyên đề tháng 4, năm

2002 Tác giả đã giới thiệu khá chi tiết về tác giả Trịnh Hoài Đức và nội dung

của Gia Định thành thông chí.

Vào cuối năm 2010, nhân dịp Kỷ niệm 100 năm ngày mất của nhà sửhọc Đặng Xuân Bảng (1910 - 2010), Hội Sử học Hà Nội, phối hợp với Trungtâm bảo tồn khu di tích Cổ Loa – thành cổ Hà Nội, Trung tâm khoa học VănMiếu Quốc Tử Giám Hà Nội, Ban liên lạc dòng họ Đặng Xuân (Hành Thiện,Xuân Trường, Nam Định) đã tổ chức Hội thảo khoa học tại nhà Bái ĐườngVăn miếu Quốc Tử Giám Hội thảo đã tập trung được 21 bài viết của các Giáo

sư, Tiến sĩ, các nhà khoa học và con cháu dòng họ Đặng Trong đó có cụm bàiviết liên quan đến đóng góp trên lĩnh vực sử học, địa lý của Đặng Xuân Bảng

Chúng tôi xin được liệt kê những bài viết phản ánh nội dung đó: Cuộc đời và

sự nghiệp của nhà nho Đặng Xuân Bảng (1828 - 1910) của Nhà giáo Nhân dân

Đặng Xuân Đĩnh Tiễn sĩ Đặng Xuân Bảng vị học giả uyên bác, nhà sử học

xuất sắc của Việt Nam cuối thế kỷ XIX của PGS TS Nguyễn Minh Tường Những đóng góp của Đặng Xuân Bảng về quan chế qua sách Sử học bị khảo

của TS Đặng Kim Ngọc Tuyên Quang tỉnh phú – một chuẩn mực về nghiên

cứu địa phương của Đặng Xuân Bảng của PGS TS Nguyễn Đức Nhuệ….

Nhìn chung, các nhà nghiên cứu kể trên ở những mức độ khác nhau vẫn

chưa đặt vấn đề xem xét một cách cụ thể nội dung địa lý và lịch sử của Gia

Định thành thông chí và Sử học bị khảo và việc rút ra từ đó các nguồn sử liệu.

Rất có thể do đối tượng nghiên cứu của họ trên một bình diện rộng hơn, baotrùm và khái quát, nên chưa có điều kiện khảo cứu kỹ vấn đề này

Có thể nói rằng cho đến nay, dạng đề tài nghiên cứu về vấn đề địa lý –lịch sử qua các bộ sử còn chưa được nghiên cứu đầy đủ và phổ biến, đây làmột khó khăn không nhỏ cho việc nghiên cứu Luận văn của chúng tôi Tuyvậy, chúng tôi vẫn tiếp thu được nhiều nội dung kiến thức, phương pháp tiếp

Trang 8

cận hoặc những gợi mở của các tác giả đi trước về đề tài địa lý – lịch sử quacác tác phẩm lịch sử, để tiếp tục mở rộng suy nghĩ, tập trung giải quyết vấn đềcủa Luận văn đặt ra Một điều khá thuận lợi cho chúng tôi là một số nhà sửhọc như Đào Duy Anh, Đinh Xuân Lâm, Nguyễn Quang Ngọc, Hà Văn Tấn,

Nguyễn Minh Tường, Chương Thâu khi nghiên cứu về Gia Định thành thông

chí và Sử học bị khảo cũng có đề cập đến các vấn đề địa lý, lịch sử cũng như

đánh giá về giá trị sử học cũng như địa lý học trong Gia Định thành thông chí

và Sử học bị khảo Các tác giả đều khẳng định rằng trong hai bộ sử này có

nguồn sử liệu về địa lý và lịch sử vô cùng quý báu Dù mới chỉ dừng lại ởviệc nêu vấn đề, chưa đi sâu chứng minh và lý giải về nguồn sử liệu này, cũngnhư đặc trưng của chúng, cũng giúp chúng tôi có cơ sở nhận thức tương đốiđầy đủ vấn đề của Luận văn và cách giải quyết vấn đề

Trên đây chúng tôi chỉ nêu lên những công trình của các nhà nghiên

cứu đi trước chuyên sâu hoặc không chuyên sâu nghiên cứu về Gia Định

thành thông chí và Sử học bị khảo đã cung cấp cho chúng tôi những tài liệu

tham khảo có giá trị để sử dụng cho việc hoàn thành luận văn của mình

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài

3.1 Đối tượng nghiên cứu: Gia Định thành thông chí và Sử học bị khảo với

tư cách là một nguồn sử liệu, hai cuốn địa lý – lịch sử ở hai thời kỳ khác nhau

Gia Định thành thông chí ra đời ở đầu thế kỷ XIX, đất nước thống

nhất, lãnh thổ được mở rộng hơn rất nhiều so với các triều đại trước đó

Sử học bị khảo ra đời vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX khi đất nước

ta đã trở thành một nước thuộc địa nửa phong kiến Vì vậy, vị trí địa lý, diêncách có rất nhiều thay đổi

3.2 Phạm vi nghiên cứu: tìm hiểu vấn đề địa lý – lịch sử trong tác

phẩm Gia Định thành thông chí và Sử học bị khảo.

4 Mục đích nghiên cứu

Trang 9

Góp phần tìm hiểu những vấn đề về địa lý và lịch sử vùng đất Nam Bộnói riêng và đất nước Việt Nam nói chung được đề cập đến trong tác phẩm

Gia Định thành thông chí và Sử học bị khảo Đánh giá giá trị sử liệu của hai

bộ sách, đặc biệt đối với việc nghiên cứu về địa lý và lịch sử vùng đất phíaNam của đất nước ta

5 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu

5.1 Nguồn tư liệu

Để hoàn thành đề tài này chúng tôi đã sử dụng những nguồn tư liệu sau:

Trước hết là:Bản dịch bộ Gia Định thành thông chí– bản dịch của Viện

Sử học hợp tác với Nhà xuất bản Giáo dục xuất bản năm 1998; bộ Sử học bị

khảo– bản dịch của Viện Sử học hợp tác với Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin

Hà Nôi xuất bản năm 2014

Để đối chiếu, so sánh các sự kiện lịch sử trong Gia Định thành thông

chí và Sử học bị khảo, chúng tôi có tham khảo các bộ địa lý – lịch sử ở những

thời kỳ trước: Dư địa chí của Nguyễn Trãi, Thiên Nam dư hạ tập của Thân Nhân Trung, Đỗ Nhuận, Kiến Văn tiểu lục của Lê Quý Đôn, Đại Nam nhất

thống chí của Quốc Sử quán triều Nguyễn.

Một số công trìnhđề cập đến nhiều khía cạnh trong hai bộ sử của cáctác giả trong lĩnh vực sử học trên Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, Tạp chí Xưa vàNay và một số tạp chí khoa học chuyên ngành khác

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Vấn đề địa lý – lịch sử trong tác phẩm Gia Định thành thông chí và Sử

học bị khảo, trên cơ sở nguồn tư liệu đã thu thập được, chúng tôi dựa trên

quan điểm phương pháp luận Mác –xít trong nghiên cứu lịch sử và sử dụngphương pháp lịch sử kết hợp với phương pháp logic là chủ yếu

Ngoài ra chúng tôi còn sử dụng phương pháp thu thập tài liệu, phương phápphân tích tổng hợp, phương pháp so sánh, phương pháp phân tích sử liệu

Trang 10

6 Đóng góp của luận văn

Thứ nhất: Lần đầu tiên nghiên cứu có hệ thống những vấn đề địa lý –

lịch sử trong hai bộ sử Gia Định thành thông chí và Sử học bị khảo.

Thứ hai: Góp phần nhận thức đầy đủ, toàn diện và sâu sắc hơn về giá trị địa

lý và giá trị sử học của hai tác phẩm Gia Định thành thông chí và Sử học bị khảo.

Thứ ba: Nhìn nhận, đánh giá những đóng góp của Trịnh Hoài Đức và

Đặng Xuân Bảng trong lĩnh vực địa lý và lịch sử

Thứ tư: Đóng góp thêm nguồn tư liệu bổ sung cho việc dạy, học Lịch

sử Việt Nam trong các trường đại học và cao đẳng Đặc biệt trong việc đổimới nội dung, phương pháp dạy học Lịch sử mới hiện nay

7 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, luậnvăngồm có ba chương:

Chương 1: Khái quát về tác phẩm Gia Định thành thông chí và Sử học bị

khảo.

Chương 2: Vấn đề địa lý – lịch sử trong tác phẩm Gia Định thành thông chí Chương 3: Vấn đề địa lý – lịch sử trong tác phẩm Sử học bị khảo.

Trang 11

NỘI DUNG

Chương 1

KHÁI QUÁT VỀ TÁC PHẨM

GIA ĐỊNH THÀNH THÔNG CHÍ VÀSỬ HỌC BỊ KHẢO

1.1 Khái quát về tác phẩm Gia Định thành thông chí

1.1.1 Tác giả Trịnh Hoài Đức

Trịnh Hoài Đức (1765 - 1825) có tên gọi khác là An, tên tự Chỉ Sơn,hiệu Cấn Trai; tổ tiên gốc người Trường Lạc, Phúc Kiến (Trung Quốc) Đầuđời nhà Thanh, ông nội là Trịnh Hội (hiệu Sư Khổng) di cư qua Việt Nam,ngụ tại Trấn Biên (Biên Hòa ngày nay)

Cha Trịnh Hoài Đức là Trịnh Khánh, đời Vũ vương Nguyễn PhúcKhoát (1738 - 1765) được bổ làm cai thu, sau được thăng Cai đội Khi chamất, Trịnh Hoài Đức mới 10 tuổi, sau theo mẹ vào Phiên Trấn (Gia Định –

TP Hồ Chí Minh ngày nay) Tại đây ông theo học Xử sĩ Võ Trường Toản và

là bạn học với Lê Quang Định và Ngô Nhân Tĩnh

Ba ông bạn đồng song này đã lập ra Bình Dương thi xã (Bình Dương là

tên huyện lỵ của Gia Định, nơi sinh hoạt của ba nhà thơ) và được liệt vàohàng “Gia Định tam gia thi” của miền Nam

Năm Mậu Thân (1788), khi Nguyễn Ánh chiếm Gia Định, Trịnh HoàiĐức cùng nhóm Lê Quang Định ra ứng cử, được bổ làm Hàn lâm viện Chếcáo Năm 1789, ông nhận chức Điền Tuấn sứ huyện Tân Bình Sau đó ôngqua bộ Hình, kế nhiệm chức Thị giảng Đông cung

Năm 1794, ông được bổ làm Ký lục dinh Trấn Định (Mỹ Tho ngàynay) Năm 1801, Trịnh Hoài Đức là Tham tri bộ Hộ

Năm 1802, Trịnh Hoài Đức được thăng làm Thượng thư bộ Hộ, làm

Trang 12

Chánh sứ sang Trung Quốc về việc dâng trả ấn, sách của nhà Thanh trước đãban cho Tây Sơn và giao nộp những hải phỉ bắt được ở miền biển phía Bắc.

Khi về nước ông đã mang về nộp cho triều đình hai bộ sách Lịch đại kỷ

nguyên và Khang tế lục.

Năm 1804, ông hộ giá Gia Long về Phú Xuân, vẫn đảm nhiệm chứcThượng thư bộ Hộ

Năm 1812, Trịnh Hoài Đức được triệu về kinh, cải nhiệm Thượng thư

bộ Lễ, kiêm quản Khâm Thiên giám Năm sau (1813), ông được chuyển sanglàm Thượng thư bộ Lại Đến năm 1816, ông lại được nhiệm chức Hiệp Tổngtrấn Gia Định thành

Sau khi Gia Long mất, Minh Mạng lên ngôi vẫn tin dùng Trịnh HoàiĐức Năm Minh Mạng thứ nhất (1820), ông tạm lãnh chức Tổng trấn GiaĐịnh thành, sau đó được triệu về kinh, lãnh chức Thượng thư bộ Lại

Năm 1821, Minh Mạng thăng cho Trịnh Hoài Đức hàm Hiệp biện Đạihọc sĩ, lãnh Thượng thư bộ Lại kiêm Thượng thư bộ Binh, trở thành nguyênlão của triều đình

Tháng 3 năm 1822, ông được sung làm Chánh chủ khảo trường thi Hội;tháng 11, ông kiêm lãnh Thượng thư bộ Lễ

Tháng 7 năm 1823, Trịnh Hoài Đức xin về Gia Định nghỉ vì sức khỏe.Đến tháng 9 cùng năm, ông trở lại kinh lãnh chức Thượng thư bộ Lại và bộLễ Tháng 10 cùng năm, ông trở về Gia Định liệu việc nhà

Tháng 3 năm 1824 trở ra kinh, lãnh chức Thượng thư bộ Lại kiêm quảnLễ bộ sự vụ Tháng 7 cùng năm, ông được sung chức Tổng tài và quyền lãnhcông việc ở ty Thương Bạc Chẳng bao lâu, do bệnh nặng, tuổi cao, ông từtrần tại Quỳ Viên (3/1825), thọ 61 tuổi

Khi ông mất, triều đình cho bãi triều 3 ngày, truy tặng ông hàm Tháibảo, Cần Chánh điện Đại học sĩ (hàm Chánh nhất phẩm), đặt tên Thụy là VănKhác Thi hài ông được đưa về chôn tại quê nhà: làng Bình Trước, huyện

Trang 13

Phước Chánh, phủ Phước Long (nay là phường Trung Dũng, TP Biên Hòa).

Gia Định tam gia thi tập: chung với Lê Quang Định, Ngô Nhơn Tĩnh

Đương thời, ông cùng với Lê Quang Định và Ngô Nhơn Tĩnh được mọingười tôn làm Gia Định tam gia

1.1.2 Tác phẩm Gia Định thành thông chí

Gia Định thành thông chílà tác phẩm ghi chép rất công phu tỉ mỉ về núi

sông, khí hậu, hành chính, thành trì, cũng như về phong tục tập quán, tínhcách và sinh hoạt của dân cư tại vùng đất Gia Định từ thời Nguyễn Hữu Cảnhvào kinh lược đất này (năm 1698) cho đến những năm đầu thế kỷ XIX GiaĐịnh hay Gia Định thành ban đầu vốn là tên gọi để gọi toàn bộ khu vực miềnNam Việt Nam Cho nên bộ sách viết về cả miền Gia Định hay Nam Bộ xưa

Nguyên bản hiện nay không thấy, nhưng theo bản chép tay lưu tại thưviện Viện Sử học Việt Nam (ký hiệu HV 151 (1-6)) thì sách gồm toàn bộ sáuquyển, đóng làm 3 tập khổ 17 × 30 cm, chữ hàng 8 (8 cột), mỗi hàng 21 chữ

Về hoàn cảnh ra đời của Gia Định thành thông chíthì các nhà nhiên cứu

có nhiều quan điểm khác nhau Theo GS Đào Duy Anh thì “sách ấy chắc làđược hoàn thành trong đời Gia Long” [3; 9] Cùng quan điểm trên, Hoài Anh,Huỳnh Văn Tới cho rằng: “Vào tháng sáu năm Gia Long thứ tư (1805), khiTrịnh Hoài Đức được điều về Gia Định làm Hiệp lưu trấn, vua sai ông “kêkhảo sự tích, cương vực, thổ sản trong địa hạt và đo xem đường xá xa gần,núi sông chỗ nào hiểm yếu hay bình thản, vẽ vào bản đồ, ghi chép biên bảntheo từng khoản, cước chú rõ ràng, dâng lên để làm hình lục Từ công việc đó,

Trang 14

ông đã viết sách Gia Định thành thông chí”” [17; 41].

Aubaret thì cho rằng sách này được biên soạn trong thời kỳ Minh Mạng(820 - 1841) Cadière, Pelliot tán thành quan điểm này Các nhà nghiên cứuNhật Bản đề nghị theo các ghi chép gần đây, cuốn sách này có ghi các sự kiệncủa năm Gia Long thứ 17 (1818) và Trịnh Hoài Đức mất năm 1825, nên thờigian biên soạn cuốn sách này phải giữa các năm 1820 và 1825 [26; 3]

Nhưng học giả Trần Kinh Hòa lại cho rằng ý kiến này là rất mơ hồ

Và ông viện dẫn sách Đại Nam thực lục chính biên nói rằng Nguyễn Phúc

Hiệu có công bố một Nghị định vào tháng 5, năm Minh Mạng thứ 1 (1820)

về việc sưu tập các tác phẩm cổ và “Trịnh Hoài Đức đã công bố bản Gia

Định thành thông chígồm ba tập” [85; 18] Rồi ông kết luận: “Sự trích dẫn

nguồn gốc lịch sử này chứng tỏ rằng Gia Định thành thông chí đã được

biên soạn vào năm Minh Mạng thứ nhất và cuốn sách này được viết theolệnh của triều đình” [85; 18]

Theo Tiến sĩ sử học Yang Baoyun (Dương Bảo Vận), một nhà nghiên cứucủa trường Đại học Bắc Kinh (Trung Quốc), không đồng ý với kết luận này Ôngđưa ra chứng cứ, cho là Trịnh Hoài Đức đáng lẽ ghi chú trong tác phẩm của mình

là vào năm 1818, nhưng lại ghi ngày thứ 15, tháng 3, năm Minh Mạng thứ nhất(1820) Thứ nữa, là Trịnh Hoài Đức đã cai trị trong thời gian tạm quyền Gia Địnhđến tháng 5 của năm đó và ông chỉ được phong Thượng thư bộ Lại ở tháng tiếpsau Nguyễn Phúc Hiệu công bố Nghị định của mình vào tháng 5 của năm đó.Như vậy, Trịnh Hoài Đức khó lòng mà biên soạn được một cuốn sách với nộidung rất súc tích chỉ trong vòng vài tháng

Theo ghi chú của Đại Nam thực lục chính biên, sau Nghị định thì việc

sưu tập các tác phẩm cổ được công bố “nhiều người ở trong và ngoài triềuđình xin dâng tác phẩm của mình Thượng thư Trịnh Hoài Đức đã dâng tác

phẩm Gia Định thành thông chígồm 3 tập ” [85; 20].

Trang 15

Dương Bảo Vận cho rằng sự trích dẫn đó không chính xác, nếu nhưTrịnh Hoài Đức công bố tác phẩm của mình trong cùng năm với Nghị định.Ông cũng lưu ý là Thực lục bao giờ cũng được biên soạn sau khi vua mất.Một chứng cứ nữa được Dương Bảo Vận đưa ra, cho là khả năng biên soạn

của Gia Định thành thông chí không vượt quá năm Minh Mạng thứ 3 (1822).

Trong phần chiêm tinh học của tác phẩm này có câu: “An Quảng sản xuất ngọc

trai” Theo Đại Nam quốc cương giới hội biên, tỉnh này có tên là “An Quảng Trấn

năm 1802 và tên này đổi thành Quảng An Trấn năm 1822” [85; 18 - 19]

Cuối cùng, ông kết luận một cách thận trọng, việc biên soạn Gia Định

thành thông chí được tiến hành vào khoảng giữa các năm 1820 đến 1822.

Cao Tự Thanh cho là Gia Định thành thông chí hoàn thành vào năm

1821 [73; 3]

Nguyễn Minh Tường đoán định Gia Định thành thông chí có thể được

viết trong khoảng thời gian Trịnh Hoài Đức làm Hiệp tổng Trấn Gia Địnhthành, tức vào các năm 1805 – 1808, 1816, dưới triều vua Gia Long [84; 9].Theo chúng tôi đây có lẽ là ý kiến hợp lý hơn cả

Gia Định thành thông chí ghi chép về 5 trấn: Phiên An, Biên Hòa, Định

Tường, Vĩnh Thanh, Hà Tiên thuộc Gia Định thành dưới triều vua Gia Long

(1802 - 1819) Chí là lối văn ký sự, là sự ghi chép, khảo tả về thiên nhiên, văn hóa, lịch sử ở một địa phương hay một vấn đề nào đó Vậy Gia Định thành

thông chí là một tác phẩm được viết theo lối văn ký sự, ghi chép, khảo cứu về

thành Gia Định

Sách gồm 6 quyển, với nội dung:

Quyển 1: Tinh dã chí (khu vực các ngôi sao), 6 tờ.

Tác giả căn cứ vào thiên văn chí và địa lý chí của các sách chính sử

Trung Quốc như Hán thư, Đường thư nhận định vị trí các đất Ngô Việt hay

Dương Châu đối với các vì sao để suy luận về vị trí của đất Việt Nam và đất

Trang 16

Gia Định.

Quyển 2: Sơn xuyên chí (chép về núi sông), 90 tờ.

Trịnh Hoài Đức phân biệt theo từng trấn của đất Gia Định mà mô tả cácnúi sông Lúc này Gia Định chia làm 5 trấn: Phiên An, Biên Hòa, ĐịnhTường, Vĩnh Thanh, Hà Tiên Đến năm Minh Mạng thứ 13 (1832), trấn Vĩnh

Thanh mới chia làm 2 tỉnh là Vĩnh Long và An Giang Sách Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn trước kia chưa nói đến núi sông của đất Gia Định Gia Định

thành thông chí là cuốn sách đầu tiên mô tả núi vùng này, các sách địa chí

được biên soạn về sau như Đại Nam nhất thống chí của đời vua Tự Đức cũng

không miêu tả kỹ càng

Quyển 3: Cương vực chí (Chép về bờ cõi), 85 tờ.

Phần đầu chép lịch sử khai thác đất Gia Định, tác giả thường dẫn sách

Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn và sách Việt Nam khai quốc chí truyện của

Nguyễn Bảng Trung, có những tài liệu hay về quan hệ ngoại giao giữa cácchúa Nguyễn với các vua chúa nước Cao Miên

Phần thứ hai chép về cương vực chung của đất Gia Định và cương vựctừng phần với vị trí, giới hạn hình thể của trấn và danh sách các phủ, huyện, tổng,

xã, thôn, lân Đây là tài liệu mô tả kỹ càng nhất về các khu vực hành chính của đấtGia Định thời Gia Long Về các trấn Định Tường, Vĩnh Thanh và Hà Tiên, tác giả

có chép thêm những sự kiện liên quan đến sự khai thác các trấn đó Về trấn HàTiên có nhiều tài liệu liên quan đến đất Cao Miên và Xiêm La

Quyển 4: Phong tục chí (chép về phong tục, tập quán), 18 tờ.

Sách ghi chép về phong tục, trang phục, nhà cửa,tín ngưỡng, lễ tết, hộihè… của Gia Định, nét văn hóa riêng của mỗi trấn Phần này cung cấp tài liệuquý về văn hóa xưa của đất Gia Định

Quyển 5: Sản vật chí (chép về sản vật), 25 tờ

Phần đầu nói về nông sản, ruộng đất của cả trấn, của một số huyện,

Trang 17

tổng, thời gian cấy gặt ở mỗi nơi, các giống lúa và các giống hoa màu.

Phần thứ hai tác giả nêu lên các sản vật địa phương, từ lâm sản, thổ sảnđến thủy sản

Đây là những tài liệu quý về tài nguyên thiên nhiên của đất Gia Định

Đặng Xuân Bảng sinh ra trong một gia đình nhà nho Ông nội của ĐặngXuân Bảng là Đặng Nguyên Quế, tức Xã Quế, vốn là nhà Nho chuyên dạyhọc Cụ Đặng Viết Hòe, tục gọi là Mền Hòe (1807 - 1877) là cha của ĐặngXuân Bảng Cụ Hòe kiên trì học tập và thi cử, bảy lần thi Hương liên tiếp đỗ

Tú tài vào các năm 1828, 1831, 1846, 1847, 1848, 1850, 1852 Đến năm 1852khi Đặng Xuân bảng thi đỗ, cụ mới từ bỏ nghiệp thi cử Cụ Hòe từng mởtrường dạy học ở làng, nhiều môn sinh đỗ đạt, hai người con của cụ mộtngười đỗ Tiến sĩ, một người đỗ Cử nhân

Tất cả những truyền thống đó đã tác động đến quá trình học tập, trưởngthành của Đặng Xuân Bảng Ngay từ thuở nhỏ, Đặng Xuân Bảng nổi tiếngthông minh, ham học Năm 1846, ông đi thi ân khoa đỗ Tú tài, đến năm 1848,lại đi thi và đỗ Tú tài một lần nữa, người đời gọi ông là Kép Bảng

Năm 1850, dưới triều vua Tự Đức, Đặng Xuân Bảng thi đỗ Cử nhân.Năm 1852, được cử làm giáo thụ Ninh Giang (Hải Dương), ông rất chịu khó

Trang 18

tranh thủ thời gian quan sát, ghi chép tài liệu, chuẩn bị viết về phong tục, tậpquán của nơi đang làm việc Đồng thời, ông vẫn không từ bỏ việc say mê họctập để tham gia thi Hội.

Năm 1856, Đặng Xuân Bảng đỗ Tiến sĩ Sau khi đỗ Tiến sĩ, ông được

vào làm việc ở Nội Các, tham gia chỉnh lý bộ sách Nhân sự kim giám bàn về

đạo trị nước của các bậc đế vương

Năm 1860, nhận chức tri phủ Yên Bình (Tuyên Quang), ông bắt đầu tìmhiểu dân tình, dò hỏi những tay trộm cướp, thầy cúng, thầy kiện, nhũng nhiễu dân

để tìm cách trừng trị Trong thời gian tại Tuyên Quang, Đặng Xuân Bảng viết

Tuyên Quang tỉnh phú để nói về lịch sử, văn hóa và con người xứ Tuyên.

Năm 1861, Đặng Xuân Bảng vào Kinh nhận chức Giám sát Ngự sử.Ông được tham gia bàn luận những việc trọng yếu như thăng bổ quan lại, vấn

đề tài chính Trong thời gian giữ chức Ngự sử, ông đã 3 lần dâng sớ thẳngthắn khuyên can nhà vua

Năm 1863, ông được thăng chức Chưởng Ấn Lại khoa với nhiệm vụduyệt các giấy tờ trước khi dâng lên vua Tính ông cương trực, thẳng thắn, kể

cả trong việc cất nhắc, bổ quan Thượng thư bộ Lại Thân Văn Nhiếp vàThượng thư bộ Binh Trần Tiễn Thành đều hiềm khích với ông về vấn đề này,

vì thế cùng dâng tấu đưa ông thay Phạm Hữu Thước vì đánh giặc thua chạy,

bị cách chức

Năm 1864, nhân lúc Án sát Quảng yên bị cách chức vì đánh giặcKhách (Trung Quốc) và giặc Thổ bị thua, hai ông Thượng thư họ Lại vàThượng thư họ Thân lại tiếp tục đề nghị cử ông ra Quảng Yên cầm quân đánhgiặc Ông vâng lệnh vua nhận chức Án sát Quảng Yên Ông vốn là quan văn,không am hiểu việc quân, nhưng tuân lệnh triều đình, gấp rút tìm đọc sách vềquân sự, tiếp xúc với các quan võ đã từng xông pha trận mạc để học hỏi họkinh nghiệm Sau đó ông đã hiến kế đánh thắng giặc Cuối năm 1865, vùng

Trang 19

đất Quảng Yên được yên bình trở lại Để ghi nhớ công lao dẹp giặc của ông,năm 1867, vua Tự Đức ban cho 2 cụ thân sinh của ông khi đó đã trên 70 tuổihàm Hàn Lâm thị giảng Học sĩ (tòng tứ phẩm) [1; 118].

Năm 1868, vua Tự Đức cử ông ra làm Bố chính Tuyên Quang để trấnyên vùng biên cương

Năm 1869, ông lại trở về làm Bố chính Thanh Hóa lần 2 do triều đìnhđánh giá ông chỉ “bàn luận xuông, không hiểu thời cuộc” Trong bản tâu lênTực Đức của Tổng đốc Hoàng Tá Viêm khi khảo xét chính tích của các quantrị nhậm tại các tỉnh biên giới cho biết: Bố chính Tuyên Quang là Đặng XuânBảng thì coi thường giấy tờ chỉ ngồi bàn luận không hiểu thời cục Xin đemquan này điệu về chức, để khuyết ở bộ, ở quán… Vua đều theo lời (sau XuânBảng đổi làm Bố chính Thanh Hóa)

Năm 1870, ông được thăng làm Tuần phủ Hưng Yên Năm ấy vỡ đêHưng Yên, dân bị đói, ông bàn với các quan Án sát, Bố chính cần phải mởkho phát chẩn cho dân Hai ông bảo phải tâu lên vua, đợi lệnh sẽ làm theo.Ông nói: “Nếu đợi lệnh dân đói gần chết đến nơi thì cứu vào đâu Việc lấythóc kho thì xin cứ lấy, tôi xin chịu một mình Chỉ xin nhờ các ông nghĩ việcphát chẩn như thế nào cho chu tuất”

Năm 1876, Đặng Xuân Bảng nhận sắc ra Đồn Vàng ( tức đồn ThụLuyện, tỉnh Hưng Hóa) theo quan đại thần Hoàng Kế Viêm khai hoang Cùnglúc ấy tỉnh Nam Định, Hà Nội, Ninh Bình đều rơi vào tay Pháp Khi xét tội,ông nói với vua Tự Đức: “Kẻ hạ thần xin thề trước Hoàng thượng rằng, hạthần và con cháu không bao giờ chịu đầu hàng trước giặc Tây Muốn đánhTây và chống ngoại xâm thì xin củng cố quân ngũ, luyện tập thường xuyên,chuẩn bị quân lương vũ khí cho tốt, dựa vào dân thì mới mong đánh thắnggiặc Tây” Sau đó, ông cùng một số quan lại được giảm án

Năm 1878, ở Đồn Vàng được hai năm thì có chiếu mời ông về Kinh,nhưng cũng từ đây Đặng Xuân Bảng tỏ ra không còn thiết tha với con đường

Trang 20

hoạn lộ nữa, muốn lui về sống an nhàn ở quê nhà.

Năm 1882, thân phụ của ông ra Hưng Yên chơi và tạ thế Ông xin vua

tự Đức cho nghỉ 3 năm để cư tang và đưa thi hài về quê an táng, vua cho ông

1 năm Nhưng chưa được nửa năm, Đặng Xuân Bảng được cử làm Tuần phủHải Dương [1; 119]

Năm 1886, Đặng Xuân Bảng được cử làm Đốc học Nam Định

Năm 1888, Đặng Xuân Bảng xin về nghỉ an dưỡng tại quê nhà và ông quađời ngày 7 tháng 2 năm 1910, tức ngày 01 tháng 11 năm Canh Tuất, thọ 83 tuổi

Đặng Xuân Bảng đã đểlại hàng chục tác phẩm bao gồm nhiều lĩnh vực

sử học, văn học, ngôn ngữ học, giáo dục

Về văn học, ngôn ngữ học: Như Tuyên thi tập, Nam phương danh vật

bị khảo, Huấn tục quốc âm ca…

Về sử học: Việt sử cương mục tiết yếu, Sử học bị khảo….

Về địa lý, lịch sử địa phương có: Tuyên Quang tỉnh phú.

Sách giáo dục: Cổ nhân ngôn hành lục, Thánh tổ hạnh thực diễn âm ca…

1.2.2 Tác phẩm Sử học bị khảo

Sử học bị khảo là công trình nổi tiếng về lĩnh vực khoa học lịch sử của

Đặng Xuân Bảng Cho đến ngày nay, giới khoa học cũng chưa khẳng địnhđược chính xác thời gian ra đời mà chỉ đoán định vào cuối thế kỷ XIX đầu thế

kỷ XX Chúng tôi xin đưa ra ý kiến cá nhân, nhằm góp thêm một giả thuyết

về thời điểm xuất hiện của Sử học bị khảo.

Năm 1897, con rể ông là Nguyễn Xuân Chức đầu tiên công bố danh mục

1 tác phẩm của Đặng Xuân Bảng, trong đó, lưu ý chỉ có 2 quyển viết về lĩnh vực

lịch sử học là Độc sử bị khảo và San bổ thông giám tập lãm tiện độc sử Cuốn

San bổ thông giám tập lãm tiện độc sử là sách do Đặng Xuân Bảng san định và

bổ sung bộ Thông giám tập lãm để thuận tiễn cho nhà Nho Việt Nam đọc và tra cứu, xuất bản năm 1897 Thông giám tập lãm (hay còn gọi là Ngự phê Thông

Trang 21

giám tập lãm) là bộ sách thông sử thể biên niên do Sử quan đời Thanh biên soạn

năm Càn Long thứ 32 (1767), gồm 160 quyển Nội dung bộ sách viết về lịch sử

từ Thượng cổ Trung Quốc đến cuối đời Minh (1368 - 1644)

Như vậy, chỉ còn cuốn Độc sử bị khảo có khả năng liên quan đến lịch

sử Việt Nam, vì ngay tên gọi cũng đã chứng tỏ được phần nào nội dung mà

tác giả muốn đề cập Độc sử bị khảo có thể thích nghĩa là: Khảo cứu bổ sung đầy đủ khi đọc sử (nước nhà) Có khả năng Độc sử bị khảo chính là bản phác thảo ban đầu để Đặng Xuân Bảng bổ sung, chỉnh lý, hoàn thiện cuốn Sử học

bị khảo sau này.

Sau khi Đặng Xuân Bảng từ trần 15 năm, vào năm 1925 con trai trưởng

là Đặng Xuân Viện (hay Đặng Nguyên Khu) đưa ra danh mục 8 tác phẩm,

trong đó lần đầu tiên xuất hiện tên gọi sách Sử học bị khảo Như vậy việc

công bố tác phẩm này khá muộn vào những năm 20 của thế kỷ XX, nhưngchắc chắn sách được Đặng Xuân Bảng biên soạn từ trước đó nhiều năm

Chúng ta đều biết, sau khi Đặng Xuân Bảng về hưu, bên cạnh việc thamgia các công tác xã hội của làng như: giữ việc Tư văn với vai trò Tiên chỉ, dạyhọc để gây dựng “học phong” trong làng và huyện… Ông vẫn tập trung thờigian và công sức cho niềm đam mê từ tuổi trẻ của mình là khảo cứu, biên soạnlịch sử Thời gian về hưu trở đi, thích hợp cho việc viết các trước tác lớn như

Sử học bị khảo Như vậy, theo chúng tôi đoán định, cuốn Sử học bị khảo được

hoàn thành vào trước năm 1900, tức là sau khi ông về nghỉ hưu

Khi nhận xét về tác phẩm Sử học bị khảo nhà thư mục học Trần Văn Giáp đã viết trong tác phẩm Tìm hiểu kho sách Hán Nôm – nguồn tư liệu văn

học sử học “Tên sử học nghĩa đen là khảo cứu bổ sung cho sử học Việt Nam”

[22; 188] Tác phẩm chuyên khảo về ba vấn đề chính:

1 Thiên văn khảo, gồm 22 mục: Cửu trùng thiên; Chu thiên độ;Khoảng cách nhau của 28 sao; Mười hai “thứ” quanh bầu trời; Những sao

Trang 22

thường hiện không ẩn; Phương đông 7 sao Thương long; Phương tây 7 saoBạch hổ; Phương nam 7 sao Chu tước; Hoàng cực và xích cực; Xích đạo,hoàng đạo, bạch đạo; Tả hữu đoàn; Đo bóng mặt trời; Tính độ đi của mặt trời;Ngắm tính trung tinh; Phương vị mặt trời mọc và lặn; Giờ mặt trời mọc vàlặn; Độ mặt trời đi thừa, thiếu; Tuế thực; Tiết, khí; Độ mặt trăng đi chậm, đinhanh; Thời khắc mặt trời mọc và lặn; Phép định ngày sóc đầu tháng; Phépđặt tháng nhuận; Nhật thực, nguyệt thực; Năm sao; Tứ dư; Tinh dã.

2 Địa lý khảo:

Địa lý khảo thượng: Núi sông; Đầm hồ to; Đường bộ, đường thủy xưanay; Đường biên giới; Những nơi đô hội xưa nay; Đô thành nước ta

Địa lý khảo hạ: Diên cách tên đất xưa nay; Đồng trụ; Hà đê

3 Quan chế khảo: Quan chế diên cách, phẩm cấp, Giai huân tước

Vào năm 1997, Viện Sử học đã cho công bố bản dịch Sử học bị khảo

với 690 trang, bản dịch khổ 14,5 × 20,5 để bạn đọc cùng giới nghiên cứutrong cả nước có điều kiện tiếp cận, tìm hiểu một tác phẩm sử học chuyênkhảo của Đặng Xuân Bảng Năm 2014, tác phẩm này được nhà xuất bản Vănhóa Thông tin tái bản

Trang 23

Tiểu kết

Trịnh Hoài Đức và Đặng Xuân Bảng không chỉ là những đại thần màcòn là nhà sử học, nhà địa lý với những tác phẩm có giá trị sử học, địa lý, vănhóa lớn của triều Nguyễn Tác phẩm của Trịnh Hoài Đức và Đặng Xuân Bảng

có giá trị sử liệu ở mọi thời đại, đặc biệt trong thời đại ngày nay khi nhu cầuphục dựng, trùng tu lại các dấu tích của cha ông trong quá trình dựng nước vàgiữa nước trở thành vấn đề cần thiết Với ý nghĩa, vị trí quan trọng, Trịnh HoàiĐức và Đặng Xuân Bảng cùng những trước tác của mình xứng đáng được giớihậu học tôn vinh

Trang 24

Chương 2

VẤN ĐỀ ĐỊA LÝ – LỊCH SỬ

TRONG TÁC PHẨM GIA ĐỊNH THÀNH THÔNG CHÍ

2.1 Về địa thế của vùng đất Nam Bộ, đất nước Việt Nam.

Khi tìm hiểu về địa thế của vùng đất Nam Bộ nói riêng và đất nướcViệt Nam nói chung, tác giả Trịnh Hoài Đức đã khai thác, vận dụng khá triệt

để các sách cổ của Trung Quốc nói về thiên văn, về tinh tú

Sách Xuân Thu nguyên mạnh bào chép: “Sao Khiên Ngưu chiếu làm

địa phận Dương Châu đó là nước Việt” [19; 15]

Sách Chu Lễ sớ chép: “Phân dã của Ngô Việt vào Dương Châu:sao

Nam Đẩu ở hạ lưu ngân hà, vào khoảng Hoài Hải, làm địa phận nước Ngô,sao Khiên Ngưu cách ngân hà hơi xa, từ Dự Chương đến Cối Kê, về phía namquá Ngũ Lĩnh, làm địa phận nước Việt”; “Các châu ở Việt Nam, thuộc vềphía đông của thượng nguyên Ngân hà nên thuộc sao Thuần Hỏa, mà sao Liễusao Tinh sao Trương, đầu chiếu vào trung châu, không được liền với các miềnven biển, cho nên lệ vào sao Thuần Vĩ” [19; 15]

Sách Tiền Hán thư (Địa lý chí) chép: “Đất Việt thuộc vào phân dã của

sao Khiên Ngưu và sao Vụ Nữ Sao Khiên Ngưu có 6 ngôi, ngôi thứ nhất vàngôi thứ nhì chủ Nam Việt” [73; 15]

Tác giả Thẩm Hoài Viễn đời Ngô chép ở sách Nam Việt chí rằng: “Đất

Nam Việt ở vào phân dã sao Ngưu sao Nữ” [19; 15]

Đường thư thiên văn chí chép: “Sao Nam Đẩu thuộc về phần nước

Ngô, sao Khiên Ngưu thuộc về phần nước Việt” [19; 15]

Sách Sơn Đường khảo sách viết rằng: “Sao Ngưu, sao Nữ là phân dã

của nước Việt” [19; 15]

Sách Sử ký, Thiên Quan thư chép: “Sao Hồ thẳng sao Lang, gần sao Lang

Trang 25

có sao lớn, gọi tên là sao Lão Nhân ở Nam cực, sao Lão Nhân trông thấy sang tỏthì nước trị yên, thường về tiết thu phân thì ở Nam Giao” [19; 16].

Tinh Kinh viết: “sao Hà Mậu có 6 ngôi giáp với sao Đông Tỉnh, ở chỗ

hai bờ sông nam bắc, mỗi bên có 3 ngôi, 3 ngôi Nam hà gọi là nam tuất, gầnvới sao Lão nhân chủ về cửa nước Việt” [19; 16]

Từ các tài liệu cổ của Trung Quốc, Trịnh Hoài Đức đã xác định được vịtrí của nước Việt Nam “Muốn xem sao của Việt Nam, thì xem sao Nam Tuất,xem sao Nam Tuất tức là xem sao Nam Đẩu Xét 6 ngôi sao Nam Đẩu, thìngôi thứ 3 ở về phương tây cách Nam cực 119 độ, chủ Nam Việt” và vị trí củađất Gia Định “Vậy ranh giới Gia Định gần sao Ngưu, đó là phía nam sao NamTuất, ngôi thứ nhất ở dưới sao Nam cực Lão nhân, kề bên phân sao Tỉnh, màsao Tỉnh lại không có chủ quyền được chi phối, vì rằng đất Gia Định tuy ởphía Nam nhưng nó lại có cái thế tiến lên phía Đông” [19; 16]

Xác định được vị trí địa lý, tác giả khẳng định ưu thế về mặt địa thế củađất nước Việt Nam “Nước Việt Nam ta, nền gây ở vùng trời nóng, rồng cuộn

ở miền biển thơm, thánh nối thần truyền dân giàu vật thịnh, vàng tốt sản ởThăng Điện, kỳ nam sinh ở đất Khánh Hòa, Yên Quảng, có trai châu, ThanhHoa có nhục quế, của nhiều đất báu, núi quý biển giàu, hóa vật đầy rẫy Đó là

do ở trên trời ứng với văn thái của các vị tinh tú, khí thiêng ngưng kết, điềmlành tụ tập, góp lại, dung hòa mà sinh ra vậy” [19; 15]

Từ việc xác định được địa thế của đất nước mà tác giả của Gia Định

thành thông chí đã cho độc giả biết khí hậu, đất đai, giải thích các hiện tượng

thiên tai của thiên nhiên nước ta “Nước Việt khí hậu nóng nực, mà đất thì ẩmthấp, âm hỏa đúc lại, khí biển nhanh mạnh, nhiều khi hoạt động thành sấm,cho nên hễ mưa thì sấm chớp liền theo Đất đai ở ven biển lại mỏng, khôngthể bền giữa hơi lửa, khí dương thịnh quá, khi gặp khí âm xông lên, thì nghingút chạm nhau mà làm thành sấm sét, những cột buồm và cây cao hay ngăn

Trang 26

cản khí dữ, nên nó đụng mạnh mà tàn phá Người và súc vật đụng phải thìchết Đó là tai vạ xảy ra ngẫu nhiên Mùa đông lại là mùa thường có sấm”[19; 17] và khí hậu của thành Gia Định “Khí hậu Gia Định thường nóng.Cuốimùa xuân mới bắt đầu mưa, đến hè là mùa mưa, thu hay mưa rào, nhiều khimưa to như đổ nước, nhưng chỉ trong 1, 2 giờ thôi, rồi tạnh giáo ngay Cũng

có khi mưa dầm 1, 2 ngày, mà không có cái khổ liên miên đến hàng tuần,hàng tháng Tuy bốn mùa có mưa, mà đến đông chí mới hơi lạnh Khí hậukhông thường, bốn mùa đều có hoa nở và thơm nhiều Trời mát trăng sáng,tức là trung thu” [19; 15]

Với những kiến thức về thiên văn học của mình, Trịnh Hoài Đức xácđịnh được sự khác biệt về thủy triều của Gia Định so với các xứ khác “Nướctriều của Gia Định mỗi tháng không lên xuống 2, 3 ngày, về mùa đông có khiđến 3, 4 ngày; tháng 8 tháng 9, nước triều lớn nhất; về hạ chí thì lớn về banngày; về đông chí lớn về ban đêm; ngày 25, 26 thì nước triều lên, đến ngàysóc thì nước lớn, ngày mồng 3 thì nước cường, sau dần rút xuống; ngày 11, 12lại lên, đến ngày vọng thì nước lớn, ngày 18 thì nước cường, sau lại rút dầnxuống” [19; 18] Đồng thời tác giả cũng giải thích vì sao Nam Bộ nước ta hay

bị ngập mỗi khi triều lên “Đất Gia Định sát tới biển, dưới có nhiều dòng chảyngầm, nên khi nước lên thì nhanh chóng, một chốc thấy đầy rẫy, chìm ngập cả

bờ bãi” [19; 18]

Qua nội dung trên cho chúng ta thấy rõ dù còn bị hạn chế bởi quanđiểm duy tâm thần bí, bởi “tư tưởng phong thủy thường gắn liền với các sách

địa lý, sách thiên văn” [37; 2] trước kia, tác giả Gia Định thành thông chí đã

khẳng định một thực tế lịch sử đanh thép Đó là sự tồn tại độc lập của nướcViệt Nam ta trong hoàn vũ Khẳng định được điều đó đã nói lên một tư tưởnglớn, một tình cảm thiết tha của dân tộc ta đã được hình thành và phát triểnngày càng vững chắc trong sự nghiệp đấu tranh dựng nước và giữ nước trảiqua hàng ngàn năm lịch sử

Trang 27

2.2 Quá trình hình thành và phát triển của vùng đất Nam Bộ.

Trịnh Hoài Đức cho rằngvùng đất Nam Bộ đã hình thành từ rất lâu

“Trời mở ở hội Tý thì trời của Gia Định cũng mở cùng lúc đấy; đất mở ở hộiSửu thì đất ở Gia Định cũng mở vào lúc ấy; người sinh ở hội Dần thì ngườiGia Định cũng sinh cùng lúc ấy” [19; 73] Nhưng do các Chúa Nguyễn chưanhàn rỗi mưu tính xa, tạm cho đất ấy là đất của nước Cao Miên, đời đời xưng

là nước phiên ở phương Nam, cống hiến không ngớt “Gia Định xưa là đất củanước Thủy Chân Lạp (tức là nước Cao Miên ngày nay, có biệt danh là ThủyChân Lạp và Lục Chân Lạp) đất ruộng béo tốt, sông nhiều, bể mặn có nhiềulợi thế như thóc, đậu, cá, muối” [19; 74]

Từ năm 1623, một phái bộ của chúa Nguyễn đến Oudong yêu cầu đượclập cơ sở ở Prei Nokor (vùng Sài Gòn) để thu thuế hàng hóa

Năm 1658, khi còn bận rộn giao tranh với chúa Trịnh ở phương Bắc,chúa Hiền cho quan Khâm mạng Trấn Biên dinh (Phú Yên) đem 2000 quânđến Mỗi Xuy (Mô Xoài) để đánh phá, bắt vua Nặc Ông Chăn giải về QuảngBình “Đến năm Mậu Tuất đời Thái Tông Hiếu triết hoàng đế năm thứ 11(1658), mùa thu, tháng 9 (tức Lê Thần Tông niên hiệu Vĩnh Thọ nguyên niên,Thanh Thuận trị năm thứ 14), vua nước Cao Mên là Nặc Ông Chăn xâmphạm biên giới Vua sai phó tướng dinh Trấn Biên (khi bắt đầu mở mang bờcõi, phàm chỗ đầu địa giới gọi là Trấn Biên, xét dinh Trấn Biên này, tức làtrấn Phú Yên ngày nay) là Yến Vũ hầu, Tham mưu là Minh Lộc hầu, Cai độisuất tiên phong là Xuân Thắng hầu, đem 2000 quân đi, đi hai tuần đến thànhMỗi Xoài, nước Cao Mên, đánh phá tan được, bắt vua nước ấy là Nặc ÔngChăn, đóng gông đem đến hành tại ở dinh Quảng Bình Vua dụ tha tội, vẫnphong Nặc Ông Chăn làm vua nước Cao Mên, cho làm phiên thần nộp cống,không được cho dân phiên xâm nhiễu Bèn sai quan quân hộ tống về nước.Khi ấy địa đầu trấn Gia Định là hai sứ Mỗ Xoài và Đồng Nai (đất trấn Biên

Trang 28

Hòa ngày nay) đã có dân lưu tán của nước ta cùng ở lẫn người Cao Mên, đểkhai khẩn ruộng đất, mà người Cao Mên sợ phụ uy đức của triều đình, lạinhường mà tránh, không giám tranh giành ngăn trở” [19; 74 - 75] Như vậy,ngay từ ngày đầu tiên mở đất, ở vùng Gia Định đã có lưu dân nước ta đếnchung sống với người Cao Miên.

Năm 1674, Cao Miên có loạn, chúa Nguyễn đem quân vào can thiệp,phá các đồn binh Cao Miên ở Sài Gòn, Gò Bích và Nam Vang “Giáp Dầnnăm thứ 27, mùa xuân, tháng 2, người nước Cao Mên là Nặc Đài đuổi vuanước đấy là Nặc Ông Non chạy sang nước ta Sai tướng dinh Thái Khang(trấn Bình Hòa ngày nay) là Dương Lâm hầu làm Thống suất và Tham mưu làDiên Phái hầu cùng phụ trách việc biên giới, đem quân đến đánh Mùa hạtháng 4, phá luôn ba lũy Sài Gòn, Gò Bích, Nam Vang” [19; 75]

Năm 1679, Trần Thắng Tài và Dương Ngạn Địch đem binh biền và giaquyến hơn 3000 người và chiến thuyền hơn 50 chục chiếc đến gần kinh đô.Hiền Vương cho người hướng dẫn bọn di thần nhà Minh vào Nam để khaikhẩn đất đai mở rộng lãnh thổ Điều này có thể chứng tỏ thời chúa Nguyễn bản

đồ và khung cảnh ở đồng bằng sông Đồng Nai và Cửu Long được nghiên cứukhá tường tận “Kỷ Mùi năm thứ 32 (1679) mùa hạ, tháng 5, bọn Trấn thủLong Môn thủy lục các xứ địa phương Tổng binh quan Dương Ngạn Địch, phótướng Hoàng Tiến và Trấn thủ Cao Lôi Liêm các xứ địa phương Tổng binhquan Trần Thắng Tài, Phó tướng Trần An Bình, ở tỉnh Quảng Đông nước ĐạiMinh, đem quân lính và người nhà hơn 3000 người, chiến thuyền bơi 50 chiếc,đến hai cửa biển Tư Dung, Đà Nẵng (tức của Hàn Hải thuộc dinh Quảng Namngày nay) ở đất kinh đô, tâu lên nói là bề tôi xiêu dạt ở nhà Minh, vì nước tỏlòng trung, sức hết thế cùng, phúc nhà Minh đã hết, không chịu làm tôi thờ nhàThanh, đến phương nam thực lòng hàng phục, xin làm tôi tớ Khi ấy vì ở Bắc

Hà thường loạn mà quân nước ấy từ xa đến, thực dối chưa rõ, huống chi lại ăn

Trang 29

mặc khác, tiếng nói khác, cũng khó sai khiến, nhưng họ cùng quân đến theo,tiết trung bầy tỏ, nghĩa không thể dứt được Vả lại địa phương Đông Phố (tênriêng của Gia Định ngày trước) ở nước Cao Mên, đồng lầy nghìn dặm, triềuđình chưa dỗi kinh lý, không gì bằng nhân sức lực của chúng, cho vỡ đất mà ở,

đó là làm một việc mà được cả ba Bèn cho khao quân yên ủi khen gợi, vẫn chomang chức là trước mà vẫn phong bổ tước quan, cho đến Nông Nại để ở, mởmang bờ cõi, cố sức làm việc, đồng thời bảo cho vua nước Cao Mên biết, để tỏ

là không cự tuyệt Bọn họ Dương, họ Trần đến cửa khuyết tạ ơn, phụng chỉ tiếnhành Quân lính thuyền ghe của bọn tướng Long Môn họ Dương đi đến cửa bểXoài Rạp (nay gọi là Soi Rạp) và cửa Đại, cửa Tiểu (thuộc trấn Định Tường),đóng ở xứ Mỹ Tho lính thuyền ghe của bọn tướng Cao Lôi Liêm là họ Trầntiến đến cửa bể Cần Giờ, đóng ở địa phương Bàn Lâu xứ Đồng Nai, vỡ đất pháhoang, dựng làm phố chợ, buôn bán với người Trung Quốc, Tây Dương, NhậtBản và thuyền buôn tấp nập, phong hóa Trung Quốc đã dần dần thấm thía xanhtốt khắp đất Đông Phố” [19; 76]

Có thể nói, công đầu trong việc khai phá và phát triển vùng đất Nam

Bộ thuộc về những lưu dân người Việt và người Hoa Cũng phải kể đến chínhsách, chủ trương đúng đắn của các đời chúa Nguyễn và cả các vua nhàNguyễn sau này Từ cái nhìn xa trông rộng về một tiềm lực phát triển phồnthịnh của các chúa Nguyễn, từ công sức của những người đầu tiên, đến sự gópsức của những nhóm người di dân đến sau đã làm nên một vùng đất Nam Bộphát triển rực rỡ từ thế kỷ XVIII đến ngày nay (tuy có những gián đoạn, đứtgãy do loạn lạc, chiến tranh…)

Sau khi mở rộng lãnh thổ về sâu phía Nam, chúa Nguyễn rất chú trọngviệc định ra các địa giới hành chính cho vùng đất mới Vùng Nam Bộ lúc bấygiờ được Trịnh Hoài Đức gọi là đất Gia Định “Đất Gia Định có 5 trấn khácnhau: Phiên An, Biên Hòa, Vĩnh Thanh, Định Tường và Hà Tiên Ở trong trấn

Trang 30

ấy xứ sở danh mục vẫn cũng nhiều, mà thổ dân thường nói thì chỉ gọi đấtBiên Hòa là Đồng Nai, Bà Rịa, gọi đất Phiên An là Bến Nghé, Sài Gòn, gọiđất Định Tường là Vũng Gù, Mỹ Tho, gọi đất Vĩnh Thanh là Long Hồ, SaĐéc, gọi đất Hà Tiên là Cà Mau, Rạch Giá Ấy là lấy tên chỗ lỵ sở hoặc chỗnhóm họp đông lớn, hoặc chỗ địa đầu, nói tổng quát đại khái mà không phảikỹ thuật những chỗ nhỏ mọn linh tinh ” [19; 31].

Trịnh Hoài Đức xác định rõ địa giới cương vực của thành Gia Định ởđầu thế kỷ XIX, cũng như khoảng cách xa gần khác nhau của các vùng trongthành “Gia Định là đất Chân Lạp xưa, phía Đông, phía Nam giáp biển, có 17cửa biển lớn là Xích Lam, Tắc Khái, Cần Giờ, Đồng Tranh, Soi Rạp, Cửa Đại,Cửa Tiểu, Ba Lai, Băng Côn, Ngao Châu, Cổ Chiên, Ba Thắc, Mỹ Thanh, HàoBàn, Long Xuyên, Kiên Giang, Hà Tiên, còn cửa biển nhỏ thì gấp đôi…… PhíaTây Bắc thì giáp với đất Sơn Man nước Cao Miên Phía Bắc giáp với núi ThầnMẫu trấn Bình Thuận (tục gọi là mũi Bà Khé).” [19; 85]; “Từ Đông sang Tâycách nhau 352 dặm rưỡi, hạn đi đường mất 5 ngày; từ Nam sang Bắc cách nhau

742 dặm rưỡi hạn đi đường mất 10 ngày Từ thành lớn đến Kinh là 2.344 dặmrưỡi, hạn đi đường mất 30 ngày; đến đầu địa phận Cao Mên là 447 dặm, hạn điđường mất 7 ngày” [19; 86] Phải là một người rất gắn bó với vùng đất Gia Định

và đi nhiều thì tác giả mới biết rõ về địa hình cũng như khoảng cách xa gần củaGia Định với các vùng xung quanh Đặc biệt tác giả còn tính được cả số ngày, sốdặm cụ thể để đến các vùng đó

2.3 Nguồn gốc tên gọi núi sông, dinh, trấn.

Trịnh Hoài Đức đã nghiên cứu về những tên gọi của từng vùng trongthành Gia Định như: Gia Định (Nông Nại, Đồng Nai), Mô Xoài (Mô Xoài, MỗiSuy, Mỗi Xuy, Bà Rịa, Bà Lỵ), Vĩnh Thanh (Long Hồ, Sa Đéc), Hà Tiên(Mường Khảm, Phương Thành,Cà Mau, Rạch Giá), Sài Gòn (Sài Côn), Rí Rang(Phan Rí – Phan Rang)… Ông lý giải các tên gọi trên với nhiều cách khác nhauquan sát, khảo tả, tra sổ sách, thư tịch cổ của nước ta và của Trung Hoa…

Trang 31

“Bằng nay, Gia Định mà gọi là Đồng Nai là vốn có căn bản, bởi vìnguyên ban đầu mới ở đất Gia Định thì bắt đầu từ Đồng Nai, cho nên ngườitrước chỉ gốc và kiêm cả ngọn, chỉ đầu mà liền cả đuôi, bèn gọi chung làĐồng Nai” [19; 31].

“Mùa thu năm Nhâm Tuất, năm đầu Gia Long (1802), nước ta sangcống nước Đại Thanh, thì thấy sử sách Trung Quốc đã chép người Đồng Nai

là người Nông Nại” [19; 31]

“Đồng Nai là một tên riêng của trấn Biên Hòa… Vì là trước kia nơi đó

là cánh đồng hươu nai ở nên gọi là Đồng Nai, chữ Hán là “Lộc dã” lại gọi là

“Lộc động”” [19; 30]

Ông đưa ra các nghi vấn xung quanh các tên gọi, để người đời sau khảobiên thêm “Xét Bà Rịa là đất Lục Chân Lạp xưa Khảo sách Tân Đường thưnói: “Nước Bà Lỵ ở thẳng phía đông nam Chiêm Thành, từ cửa biển GiaoChâu vượt biển trải qua các nước Xích Thổ, Đan Đan mới đến… Phía Nam

có nước Thù Nại, sau đời Vĩnh Huy bị nước Chân Lạp thôn tính”… Tra ởsách Chính vận, chữ lỵ âm là lực địa thiết, ngờ Bà Rịa tức là nước Bà Lỵ xưachăng mà Thù Nại lại cùng với tiếng Đồng Nai, Nông Nại nghe hơi giốngnhau, hoặc may là đất Sài Gòn chăng?” [19; 31]

Khi viết về các núi, sông, dinh, trấn… ở bất cứ địa phương nào, ôngcòn nêu lên tên tục (thường gọi) của các núi, sông, dinh, trấn,… bằng chữNôm Ngoài ra, ông còn mô tả kỹ lưỡng vị trí địa lý, phương hướng, mô tả chitiết từng ngọn núi, con sông, dinh, trấn… Mặt khác, Trịnh Hoài Đức cũng dẫnchứng thêm các câu chuyện xung quanh núi, sông, dinh, trấn… và giải thíchtên gọi, các điểm tích xung quanh núi, sông, dinh, trấn đó một cách rõ ràng,dễ hiểu Không phải tác giả nào cũng làm được điều này Như Đặng Xuân

Bảng trong Sử học bị khảo cũng khảo cứu về núi sông… các tỉnh Nam Bộ

nhưng ông không nêu lên được tên tục bằng chữ Nôm, chưa viết được đầy đủ

Trang 32

số núi sông của từng địa phương, ít giải thích về nguồn gốc, vị trí của từngdãy núi, con sông ở đây Điều này chứng tỏ Trịnh Hoài Đức đã gắn bó mậtthiết với mảnh đất Gia Định xưa và ông đi khảo sát, điều tra, hỏi thăm ngườidân địa phương về từng ngọn núi, con sông… Tất cả cho chúng ta thấy TrịnhHoài Đức là một nhà văn, nhà địa lý học, sử học có tài, một nhà nghiên cứu

có kiến thức rất rộng

Như khi viết về núi Trấn Biên của trấn Biên Hòa: “Núi Trấn Biên (tụcdanh là núi Mỗi Xoài), cách trấn lỵ về phía đông 145 dặm, núi cao cây cổ,hươu nấp, thông reo, mây đùn suối chảy, cảnh trí rất là u tịch, làm án viễntriều cho thành Gia Định phơi bày sáng sủa, lưng núi có một hang đá thẳmsâu eo hẹp, người ta không thể đi hết được Có một nhà sư tịch cốc là NgộChân, làm chùa Đức Vân ở cửa động để trụ trì, chỉ ăn rau quả và niệm Phậthiệu cùng hổ báo quen thuộc, lại hay vẽ bùa chữa bệnh, được người thù tạcung dưỡng của cải, đều chia cấp hết cho những người nghèo khổ, khốn khó,cũng là một vị cao tăng đắc đạo vậy” [19; 22]

Nói về tên sông Bảo Định, trấn Định Tường, tác giả viết: “Sông BảoĐịnh (tục danh là Kênh Vụng), cửa sông gối vào sông Hưng Hòa, cách trấn lỵ

về phía đông bắc 47 dặm rưỡi Thời trước sông nhỏ Vụng Cù ở phía đông bắcchảy đến quán Thị Gai thì thôi; phía tây từ sông nhỏ Mỹ Tho, cũng sang phíađông đến chợ Lương Phú (tục danh bến Tranh ở đất thôn Lương Phú) thì thôi

Ở khoảng giữa thì ruộng đất Nam Bắc nối liền nhau Đời Hiển Tông HiếuMinh hoàng đế, năm Ất Dậu thứ 15 (1705), Khâm mạng chính thống VânTrường hầu đi đánh Cao Mên, quân địch kia thường ra đất này quấy rối saulưng quân ta, Vân Trường hầu bèn đắp lũy dài từ quán Thị Gai đến chợLương Phú, đào chỗ đầu cùng của hai con sông Vụng Cù và Mỹ Tho chonước chảy liền nhau, để làm hào ngăn ở ngoài cho chắc việc phòng bị Saunhân đường nước chảy thông, lại đào cho sâu thêm, bèn thành đường kênh đi

Trang 33

thuyền vậy Nhưng đường thủy từ Đông sang Tây rất xa, cho nên đến VọngThê (tục gọi là Thang Trông, vì là ban đầu dựng thang trông ở đó để xem xét

đo đạc, nên mới gọi tên như thế), cùng nước thủy triều giao hội, tức là chỗgiáp nước, lênh đênh lơ lửng, nước không có thể chảy mạnh, lại có nhiều chỗquanh co nhỏ hẹp, cho nên bùn cỏ chứa chất, ngày thêm cạn lấp, thuyền tođến đấy phải đợi nước triều đầy rồi mới đi được Gia Long năm thứ 18 KỷMão (1819), vâng chỉ đạc thẳng từ Vọng Thê đến Hóc Môn dài 40 dặm rưỡi,sai trấn thủ trấn Định Tường là Bảo Thiện hầu Nguyễn Văn Phong đem dânphu của trấn 9.679 người, nhà nước cấp cho tiền gạo (mỗi người mỗi thángtiền 1 quan, gạo 1 phương), chia làm ba phiên thay nhau mà khơi đào, ngang

15 tầm sâu 9 thước, hai bên có đường quan rộng 6 tầm, hoặc nhân đường cũcắt xén đi mà đào cho sâu rộng thêm hoặc đào kênh mới nối liền vào, đều chotùy tiện Bắt đầu từ 28 tháng Giêng đến mồng 4 tháng 4 nhuận thì xong Vuacho tên là sông Bảo Định” [19; 46]

Hay đoạn ghi chép về Lũy Phức Tứ: “Ở phía đông trạm Hương Phướcngang giữa quan lộ Trước đây Chánh vương Cao Mên là Sô ngự trị ở thànhVũng Long, Phó vương là Nộn ngự trị ở thành Sài Gòn Con trưởng của Sô là

Bô Tâm không được làm vua,bèn giết cha rồi tự lập, sợ Nộn không phục, báocáo lên triều để đem binh hỏi tội, bèn đắp đồn đất ở Khu Bích Nam Vang, kết

bè nổi giăng dây sắt để tự vệ, lại cầu Tiêm La ứng viện, mưu đánh giết Nộn.Thế Nộn lúc bấy giờ bị nguy bức phải chạy qua nương tựa dinh Thái Khang,

Bô Tâm bèn chiếm cứ Sài Gòn, mà binh Tiêm không đến, Bô Tâm đắp lũy đất

ở địa đầu Mô Xoài, ngoài trồng tre gai, đem binh tượng phòng thủ rất chặtchẽ Trải hơn một năm thấy binh ta không hề động tĩnh, Bô Tâm trễ nải khôngphòng bị, binh sĩ tứ tán ra ngoài ruộng nương Tháng Giêng năm Giáp Dần(1674) đời vua Thái Tôn thứ 27, Trấn thủ dinh Thái Khang là Nguyễn TriềuĐắc đem việc đề đạt lên, tháng 2 vua sai chủ tướng dinh Thái Khang là

Trang 34

Nguyễn Dương xuất chinh, giao cho Nguyễn Diên làm Cai cơ thống lãnh binhtiên phong, phải đi rất mau chóng cả ngày lẫn đêm Tháng 3 Diên Lộc hầuđến trước tại lũy Mô Xoài, nhân chúng không phòng bị xông vào đánh úp,binh sĩ không ai bị sát hại cả; cách 3 ngày bọn chúng nhóm lại vây đánh rấtgắt, Diên Lộc hầu đóng cửa lũy không ra ứng chiến, đợi binh Dương Lâm hầuđến bèn hiệp lực ra đánh, binh Cao Miên tan rã, bị tử thương rất đông Nhânvậy mới gọi tên là lũy “Phức Tứ”” [19; 189-190].

Với kiến thức uyên bác, tinh thần học hỏi và đặc biệt qua các chuyếnkhảo cứu, đã giúp Trịnh Hoài Đức có những nghiên cứu sâu sắc, cái nhìnkhách quan, sự mô tả chi tiết, tỉ mỉ về những tên gọi núi, sông, dinh, trấn ởvùng đất Nam Bộ Và đóng góp quan trọng của ông ở vùng đất này là đã dựavào sự mô tả của mình, cộng với việc tra lại thư tịch cổ và cả những câuchuyện mang tính huyền thoại của người dân địa phương để đưa ra những lýgiải, chính kiến của mình về nguồn gốc những tên gọi núi, sông, dinh, trấn…

2.4 Kinh tế, đời sống, văn hóa của cư dân trên vùng đất Nam Bộ từ cuối thế kỷ XVIII – đầu thế kỷ XIX

Kinh tế

Nam Bộ là vùng đất trù phú, với đất đai màu mỡ, nhiều sản vật từ rừng(các loại gỗ quý, trầm hương, đồi mồi, thú rừng, thảo dược…), các mỏkhoáng sản được người dân khai thác, sử dụng, lại có sông lớn, cảng biển,thuận lợi cho giao thương, vị trí địa lý nằm ở vùng cửa ngõ (vào Nam, ra Bắc,giáp Xiêm La, Cao Miên…) Tất cả những thứ đó đã tạo điều kiện cho GiaĐịnh phát triển một nền kinh tế đa dạng

Nông nghiệp ở Nam Bộ chủ yếu là trồng lúa nước và cây màu vì ở đây

có đất đai màu mỡ, sông ngòi nhiều “Gia Định đất mầu rộng lớn” [19; 153].Ruộng ở Nam Bộ có ruộng núi, ruộng thấp, ruộng sớm ở vào nơi trũng thấpđược nước mưa thấm trước, ruộng muộn ở vào nơi cao ráo Trịnh Hoài Đức

Trang 35

đã mô tả kỹ lưỡng đặc điểm của từng loại ruộng “Ruộng núi khi mới khaikhẩn thì đẵn chặt cỏ, đợi cho khô đốt thành tro, đến khi mưa xuống cứ thế màgieo thóc, không phải cày bừa,… 3 hay 5 năm lại đổi trồng chỗ khác” [19;155]; “Ruộng thấp thì cỏ lác, cỏ năn và bùn lầy, ngày nắng ráo thì đất rạn nẻnhư vân mu rùa, kẽ nẻ sâu to, phải đợi nước mưa ngấm no cho bùn tan rã rồimới cày được” [19; 155] Với ruộng thấp tác giả còn nêu cụ thể năng suất thuđược trong một vụ của từng địa phương khi có điều kiện canh tác phù hợp “Ởtrấn Phiên An và trấn Biên Hòa, những ruộng cày bằng trâu thì một hộc thócgiống thu được 100 hộc thóc Trấn Vĩnh Thanh toàn là ruộng chằm khôngdùng trâu cày được, đợi đến cuối mùa hạ sang mùa thu, nước mưa đầy tràn,chặt phá cỏ lác, cỏ năn, bừa cỏ đi be đắp làm bờ, trang đất cắm mạ, một hộcthóc giống thì thu được 300 hộc thóc, ruộng rất tốt màu Ở trấn Định Tường,

có huyện Kiến Đăng ruộng chằm một hộc thóc giống cũng thu được 300 hộcthóc, còn lại ruộng cày trâu thóc cũng bội thu Trấn Phiên An ở vào bực thứhai, trấn Biên Hòa vào bực thứ ba” [19; 155]

Để người đời sau có thêm những hiểu biết về thời điểm canh tác từng loạicây trồng, Trịnh Hoài Đức đã ghi chép cẩn thận về thời gian gieo trồng và thuhoạch của từng loại cây ở từng huyện trong 5 trấn của Gia Định thành Ví dụ khinói về huyện Kiến Đăng của phủ Kiến An, trấn Định Tường tác giả viết:

“Huyện Kiến Đăng, hai tổng Kiến Lợ và Kiến Long, đều ruộng chằm.Thổ nghi có khoai, đậu, khoai lang, dưa mía

Ruộng chằm thì tháng 6, 7 gieo mạ, tháng 8, 9 cấy, tháng Giêng, tháng 2 gặt.Khoai thì tháng 4 trồng, tháng 11 thu hoạch

Đậu thì tháng 6 trồng, tháng 7 thu hoạch

Ngô thì tháng 4 trồng, tháng 7 thu hoạch

Khoai lang thì tháng 4 trồng, tháng 6 thu hoạch

Mía thì tháng 12 cắm ngọn, tháng 9 năm sau thu hoạch” [19; 158]

Trang 36

Cây trồng ở Nam Bộ rất đa dạng có lúa, ngô, đậu, gai, khoai, dưa (qua),bầu cà… Trong đó, Trịnh Hoài Đức nói nhiều và cụ thể về lúa gạo: “Trongngũ cốc thì lúa hợp với thổ ngơi và trồng nhiều hơn cả Lúa có hai loại: Lúa tẻ

và lúa nếp, trong hai loại này chia ra làm nhiều thứ Lúa tẻ là loại lúa không

có chất dính, hột nhỏ, mềm thơm và có râu ở đầu Lúa nếp là loại lúa có chấtdính, hột tròn mà to và chia ra làm nhiều thứ: nếp tàu, nếp đồ, nếp móng tay,nếp ô trảo, nếp mô cải, nếp càn đông, nếp ý nhi, nếp tráng nhất, nếp tràng co.Trong các thứ lúa nếp này, có thứ sớm, có thứ muộn, có thứ dính, có thứ khô.Nhưng thơm ngon thì nếp tàu là thứ nhất, rồi đến nếp ý nhi Gạo lốc thì cónhững thứ: hương biên, lốc sáp, lốc đen hay lốc than Gạo này sắc tím thẫm,nước gạo cốt đen có thể làm thuốc nhuộm đỏ được Khi đem nấu cơm khôngcần phải giã, chỉ bỏ vào chõ xôi hấp cho chín, rồi cho mỡ hành và muối trắngvào trộn đều, ăn rất ngon” [19; 153- 154]

Qua các đoạn trích dẫn ở trên ta thấy Trịnh Hoài Đức phải là một conngười thực sự gắn bó với cuộc sống nông dân, tuy ông không trực tiếp laođộng, nhưng nhờ sống gần gũi với nông dân, ông mới có thể có những tri thứcphong phú và xác đáng như vậy về sản xuất nông nghiệp ở vùng đất nôngnghiệp này

Viết về lâm nghiệp tác giả Trịnh Hoài Đức cho biết: ở Nam Bộ vớinhiều ưu đãi của thiên nhiên “Của nhiều đất báu, núi quý biển giàu, hóa vậtđầy rẫy” [19; 15], vì vậy thổ sản có rất nhiều thứ quý hiếm (các loại gỗ quý,trầm hương, đồi mồi, thú rừng…)

Gỗ ở Nam Bộ thì có gỗ sao với rất nhiều loại như sao xanh, sao vầng,sao chân tôm, sao đá… Gỗ sao là một loại gỗ tốt “Gỗ sao có lá màu xanh,nhọn đầu, to đọ 2 tấc, hoa màu biếc nở lan man Quả nhỏ bằng đầu ngón tay,lắm hạt, dưới cuống có hai cái râu như cánh chuồn chuồn Cây to đến 4,5vầng ôm, cao đến 10 thước (thời Nguyễn 1 thước bằng 10 tấc bằng 40cm hiệnnay), thớ gỗ chắc mịn, đóng thuyền làm nhà là gỗ tốt nhất” [19; 162]

Trang 37

Thổ sản thì có: sừng tê, ngà voi, đậu khấu, sa nhân, nhung hươu, hồtiêu….Tác giả ghi chép rất tỉ mỉ về từng loại thổ sản ở Nam Bộ “sa nhân (mỗinăm sản xuất 8 vạn cân), nhung hươu, hồ tiêu mỗi năm sản xuất 10 vạn cân (1cân thời Nguyễn bằng 604,5g), cây vang, sáp ong mỗi năm sản xuất 3 vạncân, bông mỗi năm sản xuất 400 vạn cân, yến sào, hải sâm mỗi năm sản xuấthơn 5 vạn cân; đồi mồi, hổ phách đen, vây cá mỗi năm có thể được 5 vạn cân,cam thảo, sừng linh hương, vảy tê tê, rắn ô điều, mật gấu…” [19; 161].

Như vậy, viết về thổ sản của vùng Gia Định xưa Trịnh Hoài Đức khôngchỉ liệt kê chi tiết về từng loại thổ sản trong vùng mà tác giả còn nói rõ sảnvật đó có nhiều ở đâu, miêu tả chi tiết đặc điểm, mỗi năm sản xuất ra bao

nhiêu cân… Trong đó khi viết về thổ sản của các tỉnh Nam Bộ sách Đại Nam

nhất thống chí của Quốc sử quán triều Nguyễnchỉ liệt kê ra từng loại thổ sản

của địa phương mà không miêu tả chi tiết đặc điểm, số lượng sản xuất ra hàngnăm Điều này cho thấy Trịnh Hoài Đức đã đi và đọc rất nhiều, khảo cứu kỹ

từng mảnh đất Gia Định xưa, hơn nữa phạm vi khảo cứu của sách Gia Định

thành thông chí chỉ là vùng đất Gia Định xưa bên cạnh đó sách Đại Nam nhất thống chí viết về tất cả các tỉnh trong cả nước dưới triều Nguyễn nên tác giả

có điều kiện khảo cứu chi tiết, cụ thể hơn

Tiểu thủ công nghiệp phát triển với rất nhiều ngành nghề như làm gốm,nghề khai thác mỏ, nấu sắt, làm muối, dệt vải, nấu rượu, làm đường… Ở đâytác giả cũng dành khá nhiều trang sách để ghi chép về các nguyên liệu để pháttriển các nghề thủ công nghiệp Nghề làm đường có: “Mía thì có bốn loạihồng, trắng, xanh và hồng trắng xen nhau Mía dùng để ép mật, làm đườngcát, đường đen” [19; 159]; nghề khai thác khoáng sản thì có “Mỏ bạc ở núiChân Sum, trấn Hà Tiên, quặng rất giàu; mỏ sắt ở huyện Long Thành, trấnBiên Hòa; đá ong thì trấn Biên Hòa có nhiều mỏ đất, ở mặt đá có nhiều lỗ nhỏtrông như tổ ong nên gọi như thế” [19; 159]

Trang 38

Thương nghiệp có sự trao đổi buôn bán tấp nập giữa các vùng miềntrong thành và cả với các nước Tây Dương, Trung Quốc, Nhật Bản thông quahoạt động của các chợ lớn, những phố thị ở 5 trấn Chợ ở Gia Định buôn bán

đủ các mặt hàng, người mua bán nườm nượp, mỗi trấn phải khoảng 7 – 8 cáichợ lớn “Chợ phố Bến Thành, nhà cửa trù mật, theo ven sông họp chợ…, haibên cầu có phố ngói bách hóa tụ họp Ven sông thì thuyền buôn lớn nhỏ đi lạinườm nượp” [19; 183], hay ở phố Sài Gòn “Nhà mái liền nhau, góc nhà cùngnhau, người Kinh người Trung Quốc ở lẫn với nhau, buôn bán các thứ gấmđoạn đồ sứ, các thứ giấy, các thứ châu báu Hàng sách, hiệu thuốc, phố chè,hàng miến, bến sông phía Nam phía Bắc không thứ gì không có” [19; 187], ởchợ Bến Cá của tổng Phú Vang, trấn Biên Hòa chuyên bán những mặt hàngmiền núi cho thuyền buôn trong nước và nước ngoài “các nhà buôn tụ họp,trên bến dưới thuyền hàng ngoại, thổ sản, giang vị sơn hào, vật gì cũng có”[19; 195]

Bên cạnh việc các nước ngoài chủ động đến giao thương với ta thì nhữngngười đứng đầu các trấn của Gia Định thành cũng chủ động tìm thị trường mởrộng buôn bán, thúc đẩy hoạt động ngoại thương của vùng phát triển Ngay khikhai phá vùng đất Hà Tiên, được chúa Nguyễn Phúc Chú giao quyền được phépđúc tiền để lưu hành, miễn thuế môn bài và cấp thuyền Long Bài để lui tới buônbán với các cảng ở Đàng Trong và các nước có quan hệ ngoại giao mà khôngphải đóng thuế Mạc Cửu đã chủ động đặt quan hệ buôn bán với các nước Năm

1728 và 1729, Mạc Cửu cử Lưu Vệ Quân và Huỳnh Tập Quan đưa hai thươngthuyền sang Nhật Bản để tìm thị trường, đặt quan hệ mậu dịch Đoàn thuyềnbuôn của Mạc Cửu được chính quyền Nhật Bản – Mạc Phủ Đức Xuyên cấp giấyphép buôn bán Trong hai năm 1731 – 1732, Mạc Cửu lại cử thuyền sang Nhật

để buôn bán Cùng thời điểm đó, Mạc Cửu cử nhiều thuyền sang Trung Quốc đểgiao dịch với nhiều mặt hàng xuất khẩu từ Hà Tiên như hải sâm, cá khô, tôm

Trang 39

khô… Với sự chủ động trong việc mở rộng thị trường nên thị trường buôn báncủa Hà Tiên ngày càng mở rộng ngoài Đàng Trong còn có Chân Lạp, các tỉnhNam Trung Hoa, Xiêm La, Manila, Battavia, Ấn Độ….

Để có một nền kinh tế phát triển như vậy là nhờ những chính sách chútrọng phát triển vùng Gia Định của các chúa Nguyễn và vua Nguyễn

Năm 1698, khi Nguyễn Hữu Cảnh đặt hai huyện đầu tiên, đất đai mởrộng 1000 dặm, dân số được hơn 40.000 hộ, chiêu mộ lưu dân từ Bố Chínhchâu trở về Nam đến ở khắp nơi, đặt ra phường ấp, xã thôn, chia cắt địa phận,mọi người phân chiếm ruộng đất, chuẩn định thuế đinh điền và lập hộ tịchđinh điền Từ đó con cháu người Tàu ở nơi Trấn Biên thì lập thành xã Thanh

Hà, ở nơi Phiên Trấn thì lập thành xã Minh Hương rồi ghép vào sổ hộ tịch.Nhóm di thần nhà Minh đến ở Cù Lao Phố và vùng Mỹ Tho gồm 3000 ngườikhi tiên khởi Hai mươi năm sau, con cái của họ lớn dần Một số người TrungHoa khác lần hồi đến làm ăn, mua bán, rồi định cư luôn Ta thấy còn lại trên

ba chục ngàn gia đình Việt Nam gồm có: những người lập nghiệp từ trước ở

Mô Xoài (Bà Rịa) và những người từ Bố Chánh (Quảng Bình) trở vào đến lậpnghiệp Số người này sống rải rác từ Bà Rịa đến Cù Lao Phố (Biên Hòa),vùng Sài Gòn, Mỹ Tho

Đời sống của cư dân Nam Bộ

Qua những ghi chép của Trịnh Hoài Đức chúng ta được biết đầy đủ hơn

về tình hình đời sống của nhân dân miền Nam từ nửa cuối thế kỷ XVIII đếnđầu thế kỷ XIX

Trong những năm cuối thế kỷ XVIII, đặc biệt là trong khoảng từ cuốinăm 1777 đến giữa năm 1778 khi Nguyễn Ánh dùng bộ binh đánh lấy lại phủGia Định từ tay nhà Tây Sơn thì đời sống của nhân dân miền Nam vô cùng cơcực: “Trong thời gian đó, các đường bộ và đường thủy đều mắc nghẽn, dângian thức ăn đều dùng hết, không tiếp tế cho nhau được Trong chợ chỉ bán

Trang 40

ếch nhái, muối nhạt, bánh đậu, tương nhạt, lấy lá dâu, lá khế, lá bồ quỳ làmchè, lấy rễ bìm bìm thay cho cau Còn những việc dùng thế phẩm khác khôngthể kể hết Muối to một chén con nặng độ 3 lạng giá 5 tiền, nhưng cũng không

có mấy, cho nên nhiều người giắt muối vào lưng như giắt của báu Gạo 1phương giá đến 2 quan tiền, quan và dân đều khổ” [19; 161]

Từ đầu thế kỷ XIX khi đất nước thống nhất về một mối với nhữngchính sách quan tâm, chú trọng phát triển vùng đất Gia Định của nhà Nguyễn

đã làm cho đời sống của nhân dân Nam Bộ khá giả, sung túc hơn Nhà gỗ,nhà ngói, tường gạch mọc lên san sát, đường xá được mở rộng, phố chợ lập ranhiều buôn bán tấp nập Nhất là ở các trấn lỵ, ở những nơi đô hội phồn hoađời sống kinh tế - văn hóa của nhân dân được thể hiện rõ nét

Trịnh Hoài Đức đã ghi chép việc Thành Gia Định được khởi công xâyđắp từ ngày 4 tháng 2 năm Canh Tuất (1790) với nhà Thái miếu, Hành cung,Kho lương thực, Kho tiền, Xưởng chế tạo binh khí, Trại súng, Kho thuốcsúng, Kho tứ trấn, Xưởng đóng chiến thuyền, Xưởng voi, Khám đường vàNgục thất, Sứ quán, Trường học, Trường diễn võ, các đồn lũy; còn ở trấn Phiên

An có các dinh thự, các miếu Hội đồng, Thành hoàng, Hải thần (cửa Cần Giờ),Hỏa tinh…; các chùa Kim Chưởng, Giác Lâm; các chợ Khung Dung (cây đa),Bến Thành, Bến Sạn, Điều Khiển, Tân Cảnh; các cầu Cao Miên, Sơn; đườngthiên lý ra Bắc, đường thiên lý đi về phía Tây Đặc biệt là phố Sài Gòn xưa vớicảnh phồn hoa tấp nập đã được Trịnh Hoài Đức ghi lại như sau: “Nhà mái liềnnhau, góc nhà cùng nhau, người Kinh người Trung Quốc ở lẫn với nhau, dài độ

3 dặm, buôn bán các thứ gấm đoạn đồ sứ, các thứ giấy, các thứ châu báu Hàngsách, hiệu thuốc, phố chè, hàng miến, bến sông phía Nam phía Bắc không thứ gìkhông có Vào những buổi sáng đẹp, đêm tốt, tam nguyên, sóc vọng, thì treo bàyđua khéo khoe đẹp, như cây lửa cầu sao, thành gấm hội ngọc,trống kèn huyênnáo, trai gái thành đàn, là một phố chợ đông đúc náo nhiệt” [19; 187]; trấn Biên

Ngày đăng: 25/02/2017, 17:40

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w