Mục đích của các bài luyện nói theo nghithức là luyện tập cho các em tự tin tham gia vào các cuộc hội thoại, tiếp đến là có kĩ năng giao tiếp với mọi người xung quanh theo đúng các nghi
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
HÀ THỊ YẾN
Trang 2HÀ NỘI - 2016
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêngtôi Mọi tham khảo dùng trong luận văn đều được trích dẫn nguồn gốc đầy đủ, rõ ràng Các số liệu trong luận văn là chính xác và trung thực
Hà Nội, ngày 12 tháng 10 năm 2016
Tác giả
Hà Thị Yến
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn Tích hợp giáo dục “Đạo đức” cho học sinh qua các bài “Nghi thức lời nói” trong phân môn Tập làm văn lớp 2, tôi đã
nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của các thầy cô giáo, bạn bè, người thân
Trước hết, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến cô giáo – TS ĐặngThị Kim Nga, người đã trực tiếp hướng dẫn, tận tình chỉ bảo, giúp đỡ emtrong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn này
Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong khoa Giáo dục Tiểu học,trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã giảng dạy, truyền thụ cho em những kiếnthức quý báu trong suốt thời gian em học tập tại trường
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Ban giám hiệu, các thầy cô vàcác em học sinh lớp 2 của trường Tiểu học Cẩm Thượng, trường Tiểu họcBình Minh, thành phố Hải Dương đã tạo điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôitrong quá trình điều tra thực tế và tiến hành thực nghiệm
Cuối cùng, tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn tới gia đình, bạn bè, cácđồng nghiệp, các bạn học viên lớp Cao học K24 đã tận tình giúp đỡ, độngviên, tiếp thêm tinh thần để tôi hoàn thành luận văn này
Mặc dù đã có nhiều cố gắng và nỗ lực để hoàn thành tốt luận vănnhững chắc chắn sẽ không thể tránh khỏi thiếu sót Kính mong nhận được sựchỉ bảo của các thầy cô cũng như ý kiến đóng góp của các bạn để luận vănđược hoàn thiện hơn
Tôi xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày 12 tháng 10 năm 2016
Tác giả
Hà Thị Yến
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3
3 Mục đích, nhiệm vụ của đề tài 5
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6
5 Phương pháp nghiên cứu 6
6 Đóng góp mới của luận văn 7
7 Bố cục của luận văn 7
NỘI DUNG 9
Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC DẠY HỌC TÍCH HỢP GIÁO DỤC “ĐẠO ĐỨC” QUA CÁC BÀI “NGHI THỨC LỜI NÓI" TRONG TẬP LÀM VĂN LỚP 2 9
1.1 Cơ sở lí luận của việc dạy học phân môn Tập làm văn trong mối quan hệ với nhiệm vụ giáo dục Đạo đức cho học sinh lớp 2 9
1.1.1 Tích hợp và dạy học tích hợp 9
1.1.2 Giao tiếp và hội thoại trong dạy học Tập làm văn 14
1.1.3 Các giai đoạn của hoạt động lời nói và các kĩ năng làm văn 30
1.1.4 Quan điểm dạy học tích hợp và vấn đề dạy “Nghi thức lời nói” trong mối quan hệ với nhiệm vụ giáo dục “Đạo đức” cho học sinh lớp 2 32
1.1.5 Lí thuyết về hoạt động, quy luật nhận thức và vấn đề thực hiện nhiệm vụ giáo dục “Đạo đức” qua các bài dạy “Nghi thức lời nói” 35
1.2 Cơ sở thực tiễn của việc dạy học phân môn Tập làm văn trong mối quan hệ với nhiệm vụ giáo dục Đạo đức cho học sinh lớp 2 37
1.2.1 Nội dung các bài dạy “Nghi thức lời nói” trong SGK TV lớp 2 và nội dung dạy học “Đạo đức” trong SGK Đạo đức lớp 2 37
Trang 61.2.2 Thực trạng dạy học “Đạo đức” và dạy học các bài “Nghi thức lời nói” trong phân môn Tập làm văn lớp 2 46 1.2.3 Khả năng tích hợp giáo dục “Đạo đức” trong dạy học các bài
“Nghi thức lời nói” trong phân môn Tập làm văn lớp 2 51
Chương 2: CÁC BƯỚC THỰC HIỆN TÍCH HỢP GIÁO DỤC “ĐẠO
ĐỨC” CHO HỌC SINH THÔNG QUA VIỆC DẠY “NGHI THỨC LỜI NÓI” TRONG PHÂN MÔN TẬP LÀM VĂN LỚP 2 54 2.1 Nguyên tắc thực hiện tích hợp giáo dục Đạo đức với rèn kĩ năng nghe, nói cho học sinh lớp 2 54
2.1.1 Đảm bảo mục tiêu, chương trình dạy Tập làm văn và dạy học Đạo đức ở lớp 2 54 2.1.2 Đảm bảo nguyên tắc giao tiếp 55
2.1.3 Đảm bảo dạy học Tập làm văn, Đạo đức qua thực hành trải
nghiệm……….……… 56 2.1.4 Đảm bảo phối hợp nhuần nhuyễn các kiến thức, kĩ năng của các môn học 57
2.2 Các bước thực hiện tích hợp giáo dục Đạo đức với rèn kĩ năng nghe, nói cho học sinh 58
2.2.1 Xây dựng kế hoạch lồng ghép giáo dục “Đạo đức” cho học sinh lớp 2 qua các bài dạy “Nghi thức lời nói” trong phân môn Tập làm văn 58 2.2.2 Xây dựng quy trình dạy “Nghi thức lời nói” trong phân môn Tập làm văn tích hợp giáo dục “Đạo đức” 60 2.2.3 Thiết kế kế hoạch dạy học một số bài dạy “Nghi thức lời nói” trong phân môn Tập làm văn lớp 2 có tích hợp nội dung giáo dục “Đạo đức” 65
2.3 Thực hành dạy các bài “Nghi thức lời nói” có tích hợp giáo dục
“Đạo đức” trên lớp 84
Trang 72.3.1 Sắp xếp thời khóa biểu hợp lí cho việc tích hợp giáo dục “Đạo
đức” với dạy “Nghi thức lời nói” trong phân môn Tập làm văn 84
2.3.2 Chủ động thiết kế thêm một số bài tập có khả năng tích hợp các nội dung giáo dục Đạo đức để bổ sung hoặc thay thế 85
Chương 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 90
3.1 Mục đích thực nghiệm 90
3.2 Nhiệm vụ của dạy học thực nghiệm 90
3.3 Đối tượng và địa bàn thực nghiệm 91
3.3.1 Đối tượng thực nghiệm 91
3.3.2 Địa bàn thực nghiệm 91
3.4 Phương pháp thực nghiệm 92
3.5 Nội dung và cách tiến hành thực nghiệm 92
3.5.1 Nội dung thực nghiệm 92
3.5.2 Tiến hành thực nghiệm 93
3.6 Kết quả thực nghiệm 107
3.6.1 Đánh giá kết quả các bài kiểm tra 107
3.6.2 Đánh giá kết quả giờ dạy 111
3.7 Những kết luận rút ra từ dạy thực nghiệm 112
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 114
TÀI LIỆU THAM KHẢO 116 PHỤ LỤC
Trang 9DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 Bảng hệ thống số lượng bài học và bài tập luyện nói 38Bảng 1.2 Bảng thống kê các Nghi thức lời nói trong chương trình Tập
làm văn lớp 2 39Bảng 1.3 Bảng thống kê số lượng bài tập luyện nói theo hai dạng 40Bảng 1.4 Bảng thống kê các bài học môn Đạo đức lớp 2 42Bảng 1.5 Một số nội dung Tập làm văn có thể tích hợp giáo dục Đạo
đức ……… …… 42Bảng 1.6 Một số nội dung giáo dục Đạo đức ở các lớp học khác có thể
tích hợp trong phân môn Tập làm văn lớp 2……… 42Bảng 3.1 Bảng thống kê số bài giải đúng các bài tập trong phiếu kiểm
tra số 1 107Bảng 3.2 Bảng thống kê số bài theo thang điểm 10 trong phiếu kiểm
tra số 1 108Bảng 3.3 Bảng thống kê số bài giải đúng các bài tập trong phiếu kiểm
tra số 2 109Bảng 3.4 Bảng thống kê số bài theo thang điểm 10 trong phiếu kiểm
tra số 1 110
Trang 10DANH MỤC BIỂU ĐỒBiểu đồ 3.1 Biểu đồ biểu diễn số liệu thống kê số bài giải đúng các bài
tập trong phiếu kiểm tra số 1 107Biểu đồ 3.2 Biểu đồ biểu diễn số liệu thống kê số bài theo thang điểm
10 trong phiếu kiểm tra số 1 108Biểu đồ 3.3 Biểu đồ biểu diễn số liệu thống kê số bài giải đúng các bài
tập trong phiếu kiếm tra số 2 109Biểu đồ 3.4 Biểu đồ biểu diễn số liệu thống kê số bài theo thang điểm
10 trong phiếu kiểm tra số 2 110
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
1.1 Trong thời đại hiện nay, khoa học kĩ thuật ngày càng có những bướctiến bộ vượt bậc, giáo dục càng được coi trọng và trở thành vấn đề chiến lượcđối với mỗi quốc gia Thời đại mới là thời đại công nghệ thông tin hiện đại củanhững con người năng động, tích cực, sáng tạo, tự tin - thời đại của những chủnhân tương lai Vì vậy, cách người giáo viên truyền thụ tri thức cho học sinhriêng rẽ, thụ động đã dần trở nên lạc hậu và không đem lại hiệu quả tối ưu
Tích hợp là một xu thế giáo dục phổ biến trên thế giới trong nhiều nămqua Trong những năm gần đây, dạy học tích hợp góp phần nâng cao chấtlượng giáo dục được triển khai rộng rãi và thu được kết quả dáng ghi nhận ởcác trường phổ thông Quan điểm dạy học tích hợp cũng được thể hiện khá rõtrong Dự thảo chương trình giáo dục phổ thông sau năm 2015 Trong Dự thảonày, quan điểm tích hợp thể hiện rõ nhất trong hệ thống các môn học và hoạtđộng giáo dục ở cấp Tiểu học
1.2 Trong chương trình Giáo dục Tiểu học hiện hành và Dự thảochương trình Giáo dục phổ thông sau 2015, môn Tiếng Việt là môn học có vaitrò rất quan trọng vì trang bị cho học sinh kĩ năng ngôn ngữ đủ để các em họctập các môn học khác Mục tiêu của môn Tiếng Việt được xác định là:
(a) Bước đầu dạy cho học sinh nhận biết được những tri thức sơ giản,cần thiết bao gồm ngữ âm, chữ viết, từ vựng, ngữ nghĩa, ngữ pháp, chính tả.Trên cơ sở đó rèn luyện các kĩ năng ngôn ngữ: nghe, nói,đọc, viết nhằm giúphọc sinh sử dụng tiếng Việt có hiệu quả trong suy nghĩ và trong giao tiếp
(b) Dạy học tiếng Việt nhằm phát triển các năng lực trí tuệ và phát huytính tích cực hoạt động của học sinh Thông qua môn tiếng Việt dạy cho họcsinh những thao tác tư duy cơ bản, dạy cách học tập và rèn luyện những thóiquen cần có ở học sinh Tiểu học
Trang 12(c) Bồi dưỡng tình yêu tiếng Việt và hình thành thói quen giữ gìn sựtrong sáng, giàu đẹp của tiếng Việt, góp phần hình thành và phát triển ở họcsinh những phẩm chất tốt đẹp.
Mục tiêu trên đã quy định nhiệm vụ hàng đầu của môn Tiếng Việt ởTiểu học là giúp học sinh rèn kĩ năng nghe,nói, đọc, viết bằng tiếng Việt
Trong các phân môn của môn Tiếng Việt, Tập làm văn có vị trí đặc biệtquan trọng trong việc thực hiện các mục tiêu của môn học Phân môn Tập làmvăn sử dụng và hoàn thiện một cách tổng hợp các kiến thức và kĩ năng tiếngViệt mà các phân môn khác đã hình thành; những kĩ năng tiếng Việt mà họcsinh có được từ các phân môn khác được tổng hợp thành các kĩ năng sản sinh
và tiếp nhận lời nói toàn diện Nhiệm vụ cơ bản của dạy học Tập làm văn làgiúp cho học sinh tạo ra được các ngôn bản nói và viết theo các phong cáchkhác nhau do chương trình quy định Ở Tiểu học, phân môn Tập làm văn cónhiệm vụ rèn kĩ năng nói theo các nghi thức lời nói, nói- viết các ngôn bảnthông thường, viết một số văn bản nghệ thuật như kể chuyện, miêu tả Nhưvậy, phân môn Tập làm văn đã thực hiện được nhiệm vụ đầu tiên cũng lànhiệm vụ quan trọng nhất của dạy học tiếng Việt đó là dạy học sinh sử dụngđược tiếng Việt để giao tiếp, tư duy và học tập
Ở Tiểu học, nội dung các bài nói theo nghi thức được phân bố chủ yếutrong chương trình Tập làm văn lớp 2 Mục đích của các bài luyện nói theo nghithức là luyện tập cho các em tự tin tham gia vào các cuộc hội thoại, tiếp đến là
có kĩ năng giao tiếp với mọi người xung quanh theo đúng các nghi thức lời nói
và phù hợp với tình huống giao tiếp, vai trò giao tiếp một cách có văn hóa
Với học sinh lớp 2 nói riêng và học sinh tiểu học nói chung, đây là giaiđoạn các em bắt đầu thiết lập các mối quan hệ rộng lớn hơn, ở một môitrường mới, đó là trường học Những mối quan hệ mới này đòi hỏi các emphải biết cách ứng xử cho phù hợp Do vậy luyện nói theo các nghi thức là
Trang 13một nội dung quan trọng, cần thiết cho học sinh, để các em giao tiếp một cách
có văn hóa trong thực tiễn, từ đó, tạo điều kiện cho các em áp dụng vào môitrường giao tiếp xã hội nói chung
1.3 Đạo đức là môn học trang bị cho học sinh những chuẩn mực đạo đức
cơ bản, những hành vi đúng mực, lối sống lành mạnh, sống có lí tưởng, có vănhóa
Trong nhà trường hiện nay, việc giáo dục đạo đức cho học sinh nhằmgiúp các em có những hiểu biết ban đầu về một số chuẩn mực hành vi đạo đức
và pháp luật phù hợp với lứa tuổi trong các mối quan hệ của các em với bảnthân, gia đình và cộng đồng, môi trường tự nhiên Ý nghĩa của việc thực hiệncác chuẩn mực đạo đức đó là nhằm phát triển nhân cách của các em một cáchtrọn vẹn, là nền tảng cơ bản đề hình thành cho các em ý thức đạo đức, tình cảmđạo đức và thói quen đạo đức, nguyên tắc đạo đức để ứng xử trong cuộc sống
Nhận thấy giữa phân môn Tập làm văn của môn Tiếng Việt với mônĐạo đức có mối quan hệ rất gần gũi và mật thiết với nhau, chúng tôi chọn và
thực hiện đề tài “Tích hợp giáo dục “Đạo đức” cho học sinh qua các bài
“Nghi thức lời nói” trong phân môn Tập làm văn lớp 2” với mong muốn là
qua giờ Tập làm văn không chỉ giúp các em đạt được chuẩn kiến thức kĩ năngcủa phân môn, của bài học đó mà còn có thể đạt được chuẩn kiến thức củamôn Đạo đức Nghĩa là làm cho việc dạy học “tiết kiệm” hơn nhưng vẫn đạthiệu quả và đặc biệt là làm cho việc dạy học Đạo đức trở nên gần gũi với họcsinh hơn Học sinh dễ dàng tiếp nhận và vận dụng nó một cách tự nhiên chứkhông chỉ là những chuẩn mực mang tính lí thuyết
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Trên thế giới, nhất là ở những quốc gia đang phát triển, vấn đề dạy họctheo quan điểm tích hợp đã và đang rất được quan tâm Nhiều quốc gia đãtriển khai thực hiện dạy học tích hợp và mang lại những kết quả rất khả quan
Trang 14Đầu những năm 90 của thế kỉ XX, tài liệu giới thiệu về chương trìnhCuriculum – A comprehensive Introduction của Hoa Kì đã dành hẳn một mụcbàn về vấn đề dạy học tích hợp trong các cơ hội học tập Tài liệu này khẳngđịnh dạy học tích hợp trong giáo dục là nhằm đáp ứng mong muốn làm chochương trình giáo dục thích ứng được với các yêu cầu của xã hội, làm chochương trình giáo dục trở nên có ý nghĩa.
Ở Việt Nam, việc kết hợp nhiều nội dung và nhiều kĩ năng học tậptrong một bài học vốn đã có trong truyền thống dạy học Tuy nhiên, dạy họctích hợp hiện nay được nhấn mạnh, phát huy và nâng lên thành lý luận vàđược đưa vào áp dụng ở hầu hết các môn học từ Tiểu học đến Trung học phổthông Một số tác giả tiêu biểu quan tâm đến vấn đề này là Trần Bá Hoành,Nguyễn Thị Minh Phương, Nguyễn Thanh Sơn, Nguyễn Trọng Hoàn…
Ở bậc Tiểu học, gần đây cũng đã có một số tác giả nghiên cứu về vấn
đề dạy học Tiếng Việt theo quan điểm tích hợp Trong tài liệu “Hỏi- đáp vềdạy học Tiếng Việt 2”, tác giả Nguyễn Minh Thuyết đã làm rõ vấn đề thế nào
là dạy học Tiếng Việt theo quan điểm tích hợp, tích hợp theo chiều ngang, tíchhợp theo chiều dọc
Trong cuốn Tài liệu bồi dưỡng thường xuyên cho giáo viên Tiểu học chu
kì III, tác giả Nguyễn Đắc Diệu Lam đã đề cập đến nhiều vấn đề như: Kháiniệm về dạy học Tiếng Việt theo quan điểm tích hợp; quan điểm tích hợp thểhiện trong chương trình và sách giáo khoa Tiếng Việt; thực hành xây dựng kếhoạch bài học và thực hành dạy học Tiếng Việt theo quan điểm tích hợp
Một số công trình luận văn thạc sĩ cũng đã bàn luận đến vấn đề dạy họctích hợp trong môn Tiếng Việt, như “Dạy học Tập đọc lớp 2 theo quan điểmtích hợp” của tác giả Hoàng Thị Lệ Quyên (2007); “Dạy học Tập đọc lớp 5theo quan điểm tích hợp” của tác giả Vũ Thị Hiền (2007); “Xây dựng tài liệu
Trang 15giả Nguyễn Thị Dịu (2010); và một số công trình của các tác giả khác đãnghiên cứu vấn đề dạy học tích hợp, xong hầu như các tác giả mới chỉ dừnglại ở mức độ tích hợp giữa các phân môn trong môn Tiếng Việt chứ chưaquan tâm nhiều đến vấn đề tích hợp các môn học khác vào môn Tiếng Việt.
Kết quả nghiên cứu của các công trình trên giúp chúng tôi định hướngđúng đắn trong việc tìm hiểu và nghiên cứu việc dạy học “Nghi thức lời nói”trong phân môn Tập làm văn theo quan điểm tích hợp
Tóm lại, đã có một số công trình đề cập đến vấn đề dạy học tích hợp,song chưa có công trình nào nghiên cứu chuyên sâu về việc dạy Tập làm văntrong mối quan hệ với nhiệm vụ giáo dục Đạo đức - một việc làm mà theo tôi
là cần thiết, góp phần hiện thực hóa quan điểm tích hợp được đề cập đếntrong sách giáo khoa, chương trình Tiếng Việt ở Tiểu học hiện nay
3 Mục đích, nhiệm vụ của đề tài
3.1 Mục đích nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu nhằm mục đích: Đề xuất các biện pháp xây dựngnội dung và lựa chọn biện pháp dạy học để tích hợp giáo dục đạo đức trongdạy học nội dung các bài về “Nghi thức lời nói” trong phân môn Tập làmvăn, nhằm tối ưu hóa việc dạy thực hành lời nói và giáo dục Đạo đức chohọc sinh lớp 2
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích trên, đề tài có nhiệm vụ thực hiện các nhiệm vụ sau:3.2.1 Nghiên cứu cơ sở lí luận và thực tiễn của việc dạy nội dung
“Nghi thức lời nói” trong phân môn Tập làm văn trong mối quan hệ với giáodục “Đạo đức” cho học sinh lớp 2
3.2.2 Khảo sát các bài Tập làm văn có nội dung dạy “Nghi thức lờinói” để xây dựng kế hoạch lồng ghép tích hợp cho phù hợp
Trang 163.2.3 Xây dựng quy trình, thiết kế giáo án hoặc các trích đoạn trong giáo
án dạy Tập làm văn để lồng ghép các câu hỏi, tình huống, bài tập giáo dục Đạođức phù hợp với nội dung bài học, tạo điều kiện cho học sinh có cơ hội thế hiệncác chuẩn mực đạo đức (thông qua hành vi, cử chỉ, nét mặt, điệu bộ…)
3.2.4 Dạy thực nghiệm để kiểm chứng tính hiệu quả của việc dạy Tậplàm văn trong mối quan hệ với nhiệm vụ giáo dục Đạo đức
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là nội dung dạy học Tập làm văn,đặc biệt là các tiết Tập làm văn có nội dung dạy học “Nghi thức lời nói” trongsách giáo khoa Tiếng Việt lớp 2 và nội dung chuẩn kiến thức kĩ năng của mônĐạo đức ở lớp 2, thực tiễn dạy học Tập làm văn và Đạo đức ở lớp 2
4.2 Phạm vi
Luận văn tập trung nghiên cứu việc dạy học những bài Tập làm văn cónội dung dạy học Nghi thức lời nói trong sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 2 cóthể lồng ghép, tích hợp nhiệm vụ giáo dục đạo đức cho học sinh
5 Phương pháp nghiên cứu
Chúng tôi dự kiến sẽ sử dụng các phương pháp sau đây để nghiên cứu
đề tài:
5.1 Phương pháp nghiên cứu lí luận
Nghiên cứu lịch sử của vấn đề dạy học tích hợp nói chung và vấn đềtích hợp giáo dục “Đạo đức” qua các bài “Nghi thức lời nói” trong phân mônTập làm văn lớp 2
Nghiên cứu các cơ sở khoa học của việc dạy Tập làm văn trong mốiquan hệ với nhiệm vụ giáo dục Đạo đức trong các tài liệu về dạy học phânmôn Tập làm văn, dạy học theo quan điểm tích hợp giữa các môn học để xác
Trang 17lập cơ sở lí luận cho việc dạy Tập làm văn lớp 2 trong mối quan hệ với nhiệm
vụ giáo dục Đạo đức
5.2 Phương pháp quan sát, điều tra
Ghi nhận những biểu hiện cuả học sinh trong quá trình học tập và thựchành nói theo các Nghi thức lời nói Việc quan sát này không chỉ diễn ra trongcác giờ học Tập làm văn mà cần quan sát việc thực hành của các em trong cáctình huống giao tiếp thực tế
Thu nhận những thông tin về thực trạng dạy tích hợp giáo dục Đạo đứctrong các bài Tập làm văn nội dung Nghi thức lời nói
5.3 Phương pháp thống kê, phân loại
Thống kê, phân loại số lượng các bài Tập làm văn có nội dung dạy học
“Nghi thức lời nói” có thể tích hợp giáo dục “Đạo đức”
Thống kê, chia nhóm các phẩm chất đạo đức, các chuẩn mực đạo đức,liệt kê các bài Đạo đức có thể tích hợp trong dạy học Tập làm văn
5.4 Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Tiến hành thực nghiệm sư phạm sau khi đã đưa ra các bài Tập làm văn
có nội dung dạy thực hành “Nghi thức lời nói” có thể tích hợp để giáo dục
“Đạo đức” ở lớp 2 để đánh giá hiệu quả cũng như tính khả thi của đề tài
6 Đóng góp mới của luận văn
Xây dựng được các bước, quy trình dạy các bài “Nghi thức lời nói” cótích hợp giáo dục “Đạo đức” và thiết kế được một số giáo án, trích đoạn giáo
án minh họa
Thiết kế được một số bài tập về “Nghi thức lời nói” có thể tích hợpgiáo dục “Đạo đức” để bổ sung vào hệ thống bài tập
Trang 187 Bố cục của luận văn
Mở đầu
Nội dung
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc dạy học tích hợp giáo
dục “Đạo đức” qua các bài “Nghi thức lời nói” trong phân môn Tập làm văn lớp 2
Chương 2: Các bước thực hiện tích hợp giáo dục “ Đạo đức” cho học
sinh thông qua việc dạy “ Nghi thức lời nói” trong phân môn Tập làm văn lớp 2
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
Kết luận
Tài liệu tham khảo
Phụ lục
Trang 19Theo từ điển Anh- Anh (Oxford Advanced Learner’s Dictionary,
Oxford university press, 1998), từ Integrate có nghĩa là kết hợp những phần,
những bộ phận với nhau trong một tổng thể Những phần, những bộ phận này
có thể khác nhau nhưng tích hợp với nhau
Theo Từ điển Tiếng Việt (Viện Ngôn ngữ học, Nhà xuất bản Khoa học
Xã hội, 1992) thì: “Tích hợp là sự kết hợp những hoạt động, chương trình
hoặc các thành phần khác nhau thành một khối chức năng Tích hợp có nghĩa
là sự thống nhất, sự hòa hợp, sự kết hợp”.
Theo cuốn Tài liệu tập huấn Dạy học tích hợp ở Trung học cơ sở,Trung học phổ thông (Cục nhà giáo và cán bộ quản lí cơ sở, Nhà xuất bản Đại
học Sư phạm, 2014) có viết: Tích hợp có nghĩa là sự hợp nhất, sự hòa nhập,
sự kết hợp Nội hàm khoa học khái niệm tích hợp có thể hiểu một cách khái quát là sự hợp nhất hay nhất thể hóa các bộ phận trên những nét bản chất nhất của các thành phần đối tượng, chứ không phải là phép cộng giản đơn những thuộc tính của các thành phần ấy.
Trang 20Như vậy, tích hợp có hai tính chất cơ bản, liên hệ mật thiết với nhau,quy định lẫn nhau, đó là tính liên kết và tính toàn vẹn.
Nhờ có tính liên kết mà có thể tạo nên một thực thể toàn vẹn trong đókhông cần phân chia giữa các thành phần kết hợp
Tính toàn vẹn dựa trên hệ thống nội tại các thành phần liên kết, chứkhông phải sự sắp đặt các thành phần bên cạnh nhau Không thể gọi là tíchhợp nếu các tri thức, kĩ năng không có sự liên kết, phối hợp với nhau tronglĩnh hội nội dung hoặc giải quyết một vấn đề tính huống Tích hợp là khái niệm được sử dụng trong nhiều lĩnh vực Trong lĩnhvực khoa học giáo dục, khái niệm tích hợp giáo dục xuất hiện từ thế kỉ thứXVIII, dùng để chỉ một quan niệm giáo dục toàn diện con người, chống lạihiện tượng làm cho con người phát triển thiếu hài hòa, cân đối Tích hợp còn
có nghĩa là thành lập một loại hình nhà trường mới, bao gồm các thuộc tínhtrội của các loại hình nhà trường vốn có
Trong dạy học, tích hợp được hiểu là sự kết hợp, tổ hợp các nội dung từcác môn học, lĩnh vực học tập khác nhau (theo cách hiểu truyền thống từtrước tới nay) thành một “môn học” mới hoặc lồng ghép các nội dung cầnthiết vào những nội dung vốn có của môn học Ví dụ: lồng ghép nội dung giáodục môi trường, giáo dục tiết kiệm năng lượng, giáo dục kĩ năng sống, giáodục an toàn giao thông, giáo dục về biến đổi khí hậu… trong các môn TiếngViệt, Tự nhiên xã hội, Khoa học … xây dựng môn học tích hợp từ các mônhọc truyền thống
Theo từ điển Giáo dục học (Nguyễn Văn Giao, Nguyễn Hữu Quỳnh,
Nhà xuất bản Từ điển Bách khoa, 2001) “Tích hợp là hành động liên kết các
đối tượng nghiên cứu, giảng dạy, học tập của cùng một lĩnh vực hoặc vài lĩnh vực khác nhau trong cùng một kế hoạch dạy học”.
Theo cuốn Meeting Standards Through Integrated Curriculum (Drake
Trang 21and Burns, 2004) việc định nghĩa chương trình tích hợp đã là đề tài được bànbạc từ đầu thế kỉ XX Hơn một thế kỉ qua, các nhà lí thuyết đã đưa ra ba loại
cơ bản về hoạt động tích hợp Các loại tích hợp này được xác lập giống nhaumặc dù tên gọi của chúng thường khác nhau Có thể thấy rằng tích hợp như làvấn đề của phương pháp và mức độ Từ nhìn nhận này, Drake and Burns đềxuất các định nghĩa của mình về các định hướng tích hợp mà theo họ, chúngtương thích với các định nghĩa đã được các nhà giáo dục đề ra qua nhiều thập
kỉ qua Ba loại này cung cấp điểm khởi đầu cho việc nhận thức về các cáchtiếp cận tích hợp khác nhau:
- Tích hợp đa môn (Multidisciplinary Integration)
- Tích hợp liên môn (Interdisciplinary Integration)
- Tích hợp xuyên môn (Transdisciplinary Integration)
Khi bàn về quan điểm tích hợp và cách tiếp cận tích hợp thì các nhàkhoa học cũng có nhiều quan điểm khác nhau, nhiều tài liệu trình bày khácnhau nhưng trong phạm vi của luận văn này, chúng tôi xin được thống nhấtchọn cách hiểu như sau:
a Tích hợp đa môn (The Multidisciplinary Integration)
Các cách tiếp cận tích hợp đa môn tập trung trước hết vào các môn học.Các môn liên quan với nhau có chung một định hướng về nội dung và phươngpháp dạy học nhưng mỗi môn lại có một chương trình riêng Tích hợp đa mônđược thực hiện theo cách tổ chức các chuẩn từ các môn học xoay quanh mộtchủ đề, đề tài,dự án, tạo điều kiện cho người học vận dụng tổng hợp nhữngkiến thức của các môn học có liên quan
Ví dụ: Tích hợp đa môn có thể được thể hiện như sau: Khi dạy nội dung
hình học trong môn toán, môn Mĩ thuật được tích hợp thông qua hoạt động vẽcác hình hình học, tưởng tượng để vẽ lại các khối hình hình học không gian,sắp xếp các khối hình cho trước thành một hình cụ thể theo yêu cầu….Hay
Trang 22môn Địa lí được tích hợp bằng cách coi nó là công cụ để kiểm chứng kết quảbài toán: Trên tỉ lệ bản đồ 1: 2500 000, quãng đường Thành phố Hồ Chí Minh– Quy Nhơn đo được 27cm Tìm độ dài thật của quãng đường Thành phố HồChí Minh- Quy Nhơn.
b Tích hợp liên môn (Interdisciplinary Integration)
Theo cách tiếp cận tích hợp liên môn, giáo viên tổ chức chương trìnhhọc tập xoay quanh các nội dung học tập chung: các chủ đề, các khái niệm,các khái niệm và kĩ năng liên ngành, liên môn Họ kết nối các nội dung họctập chung nằm trong các môn học để nhấn mạnh các khái niệm và kĩ năngliên môn Các môn học có thể nhận diện được nhưng họ cho rằng ít quantrọng hơn so với cách tiếp cận tích hợp đa môn
Tích hợp liên môn còn được hiểu như là phương án trong đó nhiều mônhọc liên quan được kết lại thành một môn học mới với một hệ thống nhữngchủ đề nhất định xuyên suốt qua nhiều cấp lớp Ví dụ: Địa lí, Lịch sử, Sinh
học, Hóa học, Vật lí, Giáo dục công dân được tích hợp thành môn Nghiên cứu
xã hội và môi trường ở chương trình giáo dục bậc tiểu học tại nước Anh, nước
Úc, Singapore, Thailand
Ví dụ: Môn Vật lí, Hóa học, Sinh học hợp lại với nhau tạo thành mônKhoa học tự nhiên Các kiến thức về khoa học xã hội như Lịch sử, Địa lí, Vănhọc hợp lại với nhau thành môn Khoa học xã hội
c Tích hợp xuyên môn (Transdisciplinary Integration)
Trong cách tiếp cận tích hợp xuyên môn, giáo viên tổ chức chương trìnhhọc tập xoay quanh các vấn đề mà người học quan tâm Học sinh phát triển các
kĩ năng sống khi họ áp dụng các kĩ năng môn học và liên môn vào ngữ cảnhthực tế của cuộc sống Hai con đường dẫn đến tích hợp xuyên môn học: học tậptheo dự án (project-based learning) và thương lượng chương trình học(negotiating the curriculum) Đây là cách thức tích hợp ở mức độ cao nhất
Trang 23Ví dụ: Trong các môn học ở Tiểu học, hầu như môn nào cũng nội dung
liên quan đến chủ điểm Môi trường Chính từ những điểm chung này nên cóthể xây dựng các nội dung liên quan của các môn học đó thành một chuyên đềGiáo dục môi trường
Khi đánh giá học sinh, ngoài kiến thức còn cần đánh giá học sinh vềkhả năng sử dụng kiến thức ở các tình huống khác nhau trong cuộc sống Đâycũng chính là mục tiêu của dạy học tích hợp
- Dạy học tích hợp giúp thiết lập mối liên hệ giữa các khái niệm đã họctrong cùng một môn học và giữa các môn học khác nhau Đồng thời, dạy họctích hợp giúp tránh những kiến thức, kĩ năng, nội dung trùng lặp khi nghiêncứu riêng rẽ từng môn học, nhưng lại có những nội dung, kĩ năng mà nếu theomôn học riêng rẽ sẽ không có được Do đó vừa tiết kiệm thời gian, vừa có thểphát triển kĩ năng, năng lực xuyên môn học cho học sinh thông qua giải quyếtcác vấn đề phức hợp
- Thực hiện dạy học tích hợp giúp xác định rõ mục tiêu, phân biệt cáicốt yếu và cái ít quan trọng hơn khi lựa chọn nội dung Cần tránh đặt các nộidung học tập ngang bằng nhau, bởi có một số nội dung học tập quan trọnghơn vì chúng thiết thực cho cuộc sống hằng ngày và vì chúng là cơ sở cho quátrình học tập tiếp theo Từ đó có thể dành thời gian cho việc nâng cao kiếnthức cho học sinh khi cần thiết
- Thực tế dạy học ở nhiều nước đã chứng tỏ rằng: áp dụng quan điểmtích hợp trong giáo dục và dạy học sẽ giúp phát triển những năng lực giảiquyết những vấn đề phức tạp và làm cho việc học tập trở nên ý nghĩa hơn đốivới học sinh so với các môn học, các mặt giáo dục được thực hiện riêng rẽ.Tích hợp là một trong những quan điểm giáo dục nhằm nâng cao năng lực củangười học, giúp đào tạo những người có đầy đủ phẩm chất và năng lực để giảiquyết các vấn đề của cuộc sống hiện đại Nhiều nước trong khu vực châu Á
Trang 24và trên thế giới đã thực hiện quan điểm dạy học tích hợp và cho rằng quanđiểm này đã đem lại những hiệu quả nhất định trong dạy học.
Như vậy, dạy học tích hợp là một trong những quan điểm giáo dụcnhằm nâng cao năng lực của người học, giúp đào tạo những người có đầy đủphẩm chất và năng lực để giải quyết các vấn đề của cuộc sống hiện đại Dạyhọc theo hướng tích hợp phát huy được tính tích cực của học sinh, góp phầnđổi mới nội dung và phương pháp dạy học
Có thể nói, dạy học tích hợp có 3 tác dụng cơ bản như sau:
- Tránh trùng lặp về nội dung thuộc các môn học khác nhau
- Tạo mối quan hệ giữa các môn học với nhau và với kiến thức thực tiễn
- Tạo cơ hội để hình thành và phát triển các năng lực, đặc biệt là nănglực giải quyết các vấn đề thực tiễn
1.1.2 Giao tiếp và hội thoại trong dạy học Tập làm văn
1.1.2.1 Giao tiếp
1.1.2.1.1 Khái niệm giao tiếp
Theo Từ điển Thuật ngữ Ngôn ngữ học (Diệp Quang Ban, Nhà xuất bản
Giáo dục Việt Nam, 2002) thì Giao tiếp là sự thông báo hay truyền đạt thông
báo một hệ thống mã nào đó Theo đó, chúng ta có thể hiểu giao tiếp là một hoạt
động giữa hai hay nhiều người nhằm bày tỏ với nhau thông tin trí tuệ hoặc thôngtin cảm xúc, một ý muốn hành động hay một nhận xét về sự vật, hiện tượng nàođó
1.1.2.1.2 Các hình thức giao tiếp
Hoạt động giao tiếp có thể được thực hiện bằng nhiều cách thức, quanhững phương tiện khác nhau như ánh sáng, màu sắc, âm thanh, cử chỉ, điệubộ… Giao tiếp bằng ngôn ngữ là hình thức giao tiếp cơ bản và quan trọngnhất của xã hội loài người Về nguyên tắc, giao tiếp bằng ngôn ngữ mang tínhchất xã hội, trong đó, những người tham gia giao tiếp phải có những mối quan
Trang 25hệ nhất định với nhau, đó là quan hệ giao tiếp Quan hệ giao tiếp được xâydựng trên hệ thống các mối quan hệ xã hội nói chung, trên cấu trúc xã hội vàtrên quan hệ giữa các giai cấp, tầng lớp hoặc nhóm người trong xã hội Giaotiếp ngôn ngữ có thể thực hiện bằng “lời” (ngôn ngữ âm thanh) hoặc bằng văn
tự (giao tiếp viết) Giao tiếp miệng là sự giao tiếp được thực hiện bằng lời nhờ
sự hoạt động của bộ máy pháp âm Giao tiếp viết là sự giao tiếp được thựchiện ngờ việc thể hiện các kí hiệu đồ họa chung cho những người tham giagiao tiếp trên một bề mặt nào đó (thường trên giấy) Trong hai dạng giao tiếpvừa nói trên, giao tiếp bằng lời là cơ sở
1.1.2.1.3 Các chức năng của giao tiếp
Nói đến chức năng của giao tiếp là nói đến vai trò mà giao tiếp phảiđảm nhiệm trong đời sống cộng đồng Giao tiếp có rất nhiều chức năng, trong
đó, các chức năng cơ bản của giao tiếp là chức năng thông tin, chức năng tạolập quan hệ, chức năng giải trí, chức năng biểu hiện và chức năng hành động
a) Chức năng thông tin (còn gọi là chức năng thông báo)
Đây là chức năng thường gặp nhất và quan trọng của giao tiếp, có thểđược thực hiện qua nhiều phương tiện Trong chức năng này, giao tiếp giúpnhững người tham gia hoạt động giao tiếp trao đổi cho nhau những tin tứcdưới dạng nhận thức, những tư tưởng có được từ hiện thực Những thông tinnày thường có tình chất trí tuệ và những nội dung thu nhận được đều có thểđánh giá theo tiêu chuẩn đúng - sai logic
Ví dụ: Các tấm biển quảng cáo là một ví dụ rõ nhất về chức năng thông
báo của giao tiếp Một cửa hàng thuốc treo một tấm biển quảng cáo có dòngchữ: “Nhà thuốc Minh Tâm, bán các loại thuốc tân dược, thực phẩm chứcnăng, bán thuốc theo đơn” Như vậy, đọc các thông tin ghi trên tấm biển làmọi người có thể biết được nội dung mà nhà thuốc này muốn thông báo đếnngười mua hàng
Trang 26b) Chức năng tạo lập quan hệ
Thông tin không phải là chức năng duy nhất của giao tiếp, đặc biệt làgiao tiếp bằng ngôn ngữ Giao tiếp còn có chức năng tạo lập quan hệ Nhiềukhi ta trò chuyện với nhau không phải vì muốn thông báo với người khác môtnội dung trí tuệ, một hiểu biết, một nhận thức mà vì muốn thiết lập một mốiquan hệ mới hoặc duy trì một mối quan hệ đã được thiết lập từ trước Thậm trí,
vì ta muốn phá vỡ một mối quan hệ đã có nhưng nay không muốn duy trì nữa
Ví dụ: Khi đang ở trong trạm chờ xe buýt, ta ngồi cạnh một người
không quen và ta nói: “Trời hôm nay nóng quá chị nhỉ!” Người đó đáp “Ừ,ngồi ngoài đường lại càng nóng hơn nữa.” Chúng ta có thể thấy rằng hoạtđộng giao tiếp này không có mục đích chính là trao đổi nội dung thông tin vềthời tiết Việc giao tiếp đã làm nảy sinh một mối quan hệ mới giữa hai ngườichưa từng quen biết nhau Còn nếu trong trường hợp hai người đã quen nhau,gặp nhau, nói những câu chuyện như vậy thì cuộc giao tiếp đó có tác dụngduy trì mối quan hệ
Chức năng tạo lập quan hệ bao hàm cả tác dụng phá vỡ mối quan hệ.Còn trò chuyện được có nghĩa là có thể tiếp tục duy trì quan hệ thân hữu giữanhững người tham gia giao tiếp Nhưng cũng có khi giao tiếp lại góp phần phá
vỡ mối quan hệ vốn có giữa họ Sự phá vỡ này có thể do những người trongcuộc cố tình tạo ra, nhưng cũng có mối quan hệ bị phá vỡ một cách vô tình do
ta “chậm miệng” hay lỡ lời hoặc vì một lí do khách quan nào đó
Ví dụ: Trong câu chuyện “Mất cái ví” của nhà văn Nguyễn Công Hoan,
cuộc hội thoại mà ông Tham cố tình dựng lên đã làm cắt đứt mối quan hệ cậucháu giữa ông Tham và ông cậu của mình
Tạo lập quan hệ là chức năng giao tiếp cộng tác giữa người với người Cóthể nhiều người không biết đến những ngôn ngữ vẫn luôn âm thầm đảm nhậnchức năng này Đây là một chức năng rất cần thiết cho sự tồn tại của xã hội
Trang 27c) Chức năng tự biểu hiện
Qua giao tiếp, con người tự biểu hiện mình Một cách có ý thức hoặckhông có ý thức, qua lời nói, ta có thể để lộ tình cảm, sở thích, khuynh hướng,trạng thái tâm hồn, nguồn gốc địa phương, trạng thái sức khỏe của bản thân
Ví dụ: Sáng nay, Hà đến trường Trong lán xe, Hà gặp cô Mai là đồng
nghiệp trong trường Hà cất lời “Cháu chào cô ạ Hôm nay cô đi sớm thế ạ?”Qua lời chào này, người nghe biết nhiều điều về Hà Thứ nhất, chúng ta biếtmối quan hệ giữa Lan và Hoa là quan hệ trên - dưới (quan hệ không nganghàng) Thứ hai, mục đích câu hỏi của Hà là để chào cô Mai chứ không phải
Hà muốn biết vì sao hôm nay cô Mai đi sớm thế Thứ ba, ta thấy Hà là người
có tính cách lễ phép, hòa nhã, thân thiện… Qua ví dụ này, chúng ta thấyđược chức năng tự biểu hiện của giao tiếp
d) Chức năng giải trí
Nghỉ ngơi, giải trí là một nhu cầu của con người Có nhiều cách giải tríkhác nhau: xem ca nhạc, chơi cờ, đi pic-nich… nhưng giao tiếp là mộtphương thức giải trí dễ thực hiện và đỡ “tốn kém” hơn cả - không yêu cầu cao
về hoạt động tổ chức, thậm chí hoàn toàn không cần tổ chức, không cần nhiềuthời gian, không tốn tiền bạc! Nhiều lúc, sau buổi làm việc căng thẳng, ta nóichuyện phiếm với bạn bè, và những câu chuyện trong lúc tán gẫu, những bàithơ vui hay những câu chuyện cười mà ta sưu tầm được… nếu không lạmdụng đều làm cho tinh thần ta thư giãn, thoải mái
Ví dụ: Trong sách giáo khoa Tiếng Việt 2, trang 74 có câu chuyện vui
như sau:
Cá sấu sợ cá mập
Có một khu du lịch ven biển mới mở khá đông khách Khách sạn nào cũng hết sạch cả phòng Bỗng xuất hiện một tin đồn làm cho mọi người sợ hết hồn: hình như ở bãi tắm có cá sấu.
Trang 28Một số khách đem ngay chuyện này hỏi chủ khách sạn:
- Ông chủ ơi! Chúng tôi nghe nói bãi tắm này có cá sấu Có phải vậy không, ông?
e) Chức năng hành động
Hành động là chức năng thông qua giao tiếp mà người ta thúc đẩy nhauhành động Không phải người nghe mới hành động mà người nói cũng phảihành động dưới sự thúc đẩy của lời nói trong giao tiếp Sự thúc đẩy nàykhông phải khi nào cũng được thực hiện một cách chủ động từ nhân vật giaotiếp, mà có thể xuất hiện một cách tự nhiên trong tình huống giao tiếp cụ thể
Ví dụ: Trong câu chuyện “Thánh Gióng”, khi nghe tiếng loa của sứ giả
tìm người tài giỏi cứu nước, Gióng nói với mẹ: “Mẹ mời sứ giả vào đây chocon !” Câu nói của Gióng đã thúc đẩy mẹ thực hiện hành động, đó là ra mời
sứ giả vào
Mặt khác, chức năng hành động của giao tiếp còn thể hiện ở chỗ quacuộc giao tiếp, các nhân vật có thể thay đổi về nhận thức, tình cảm; nhữngthay đổi này, ở những mức độ khác nhau, sẽ tác động đến hành động của họ
Trang 29Ví dụ: Sau bài “Dế Mèn bênh vực kẻ yếu” chúng ta thấy được tấm lòng
nghĩa hiệp, sẵn sàng giúp đỡ, bênh vực những kẻ yếu ớt như chị Nhà Trò của
Dế Mèn Học sinh có nhận thức, có thái độ trước sự áp bức, bất công Từ đóthúc đẩy các em có những hành động đẹp, noi gương Dế Mèn giúp đỡ cácbạn, giúp đỡ lẫn nhau trong cuộc sống
Phối hợp hành động được thể hiện khi có một công việc chung, mọingười muốn thực hiện được tốt thì cần bàn bạc, lên kế hoạch và phân công cụthể Muốn vậy họ phải giao tiếp với nhau Trong giao tiếp chúng ta ảnhhưởng, tác động đến người khác và người khác tác động ngược trở lại mìnhbằng nhiều hình thức khác nhau như thuyết phục, bắt chước, ám thị…
Trong cuộc sống, nhiều khi chúng ta có những cảm xúc cần bộc lộ.Niềm vui, nỗi buồn, sung sướng hay đau khổ mất mát Chúng ta đều muốnđược người khác cùng chia sẻ Chỉ có trong giao tiếp, chúng ta mới tìm thấy
sự đồng cảm, cảm thông và được giải tỏa cảm xúc của mình Cả năm chứcnăng trên của giao tiếp đều là những điều chúng ta cần phải lưu ý trong nhữngtrường hợp cụ thể để cho cuộc giao tiếp đạt hiệu quả Các chức năng này cũng
là căn cứ để xem xét, đánh giá các sản phẩm ngôn ngữ nói hoặc viết hìnhthành trong giao tiếp Không có cuộc hội thoại nào chỉ thực hiện một chứcnăng duy nhất Ngay cả các cuộc hội thoại để giải trí cũng phải không phảichỉ có mỗi chức năng giải trí, tiêu khiển, giết thời gian Mà thực chất, quanhững cuộc hội thoại như thế, các thành viên vẫn có thể thu nhận thêm thôngtin mới, có thể thấy hiểu nhau hơn, thân thiết với nhau hơn…
Ví dụ: Trong câu chuyện Người ăn xin, cuộc trò chuyện giữa chú bé và
ông lão ăn xin đã thực hiện rất nhiều chức năng Cuộc hội thoại ấy tạo cho haingười có thêm thông tin mới về nhau (chú bé chẳng có gì cho ông lão, người
ăn xin lại có thứ để cho) từ đó nảy sinh sự đồng cảm giữa hai con người (cậu
bé tỏ sự áy náy, băn khoăn trước người ăn xin, ngược lại người ăn xin lại thấy
ấm áp trước tấm lòng của cậu bé)
Trang 301.1.2.1.4 Các nhân tố giao tiếp
Nhân tố giao tiếp là những yếu tố có mặt trong hoạt động giao tiếp vàảnh hưởng đến hoạt động giao tiếp đó Hiện thức đươc nói tới, ngôn ngữ được
sử dụng, nhân vật giao tiếp, mục đích giao tiếp, hoàn cảnh giao tiếp là nhữngnhân tố giao tiếp thông thường
a) Nội dung giao tiếp
Hiện thực được nói tới bao gồm những sự vật, hiên tượng trong thực tếkhách quan, những tâm trạng, tình cảm … được đưa vào ngôn bản Đó lànhững hiện thực được đề cập tới trong ngôn bản hoặc những điều người nói,người viết muốn gửi gắm người nghe, người đọc
Khi thực hiện một cuộc giao tiếp, để xác định hiện thực được nói tới,người nói, người viết phải trả lời câu hỏi: Mình sẽ nói, viết vấn đề gì? Mình
sẽ gửi gắm điều gì (thông điệp nào) tới người nghe, người đọc?
Ví dụ: “Nói lời cảm ơn của em khi được bạn cùng lớp cho đi chung áo
mưa” Khi thực hiện cuộc giao tiếp này, người nói cần xác định được mìnhchuẩn bị nói lời cảm ơn, đối tượng là với bạn, nội dung là vì bạn đã cho đichung áo mưa Qua lời cảm ơn, người nói muốn gửi gắm đến người nghe tìnhcảm, sự biết ơn của mình
b) Cách thức giao tiếp
Ngôn ngữ được sử dụng là ngôn ngữ được người nói, người viết dùng
để tạo thành ngôn bản Trong giao tiếp, ngôn ngữ có thể được sử dụng ở dạngnói (giao tiếp miệng, khẩu ngữ) hoặc dạng viết (giao tiếp viết, bút ngữ) Haidạng của ngôn ngữ có nhiều đặc điểm chung như cùng dùng chung kho từvựng, hệ thống các quy tắc ngữ pháp và phong cách, cùng chịu sự chi phốicủa các đặc điểm truyền thống và văn hóa dân tộc, tâm lí dân tộc và cộngđồng Tuy vậy, mỗi dạng ngôn ngữ cũng mang những đặc điểm riêng khácnhau Vì vậy, dù đã có nội dung, nhưng để lựa chọn hình thức ngôn ngữ giao
Trang 31tiếp phù hợp nhất, người nói, người viết cần trả lời các câu hỏi: Nên nói hayviết? Nên sử dụng ngôn ngữ thế nào? Lựa chọn xưng hô thế nào, dẫn dắt vấn
đề theo cách nào?
Ví dụ: Với yêu cầu “Kể lại câu chuyện Nỗi dằn vặt của An- đrây-ca
bằng lời của cậu bé” thì giáo viên nên đưa ra yêu cầu học sinh chọn giao tiếp
ở dạng nói Bởi vì ngoài khả năng truyền đạt nội dung thông tin thì nó còn cóthể truyền tải cảm xúc ,biểu đạt thái độ thông qua ngữ điệu hoặc các yếu tốphi ngôn ngữ Bên cạnh đó giao tiếp bằng ngôn ngữ dạng nói trong tìnhhuống này còn có thể kèm theo cả những sáng tạo riêng của cá nhân (ngônngữ cá nhân) góp phần làm nên thành công của giao tiếp
c) Nhân vật giao tiếp
Nhân vật giao tiếp là người tham gia vào hoạt động giao tiếp Tronggiao tiếp, các nhân vật giao tiếp luân phiên đảm nhiệm vai trò người phát (nói,viết) hoặc người nhận (nghe, đọc) Tùy từng tình huống cụ thể, người nhận cóthể có mặt hay vắng mặt (ví dụ người nghe đài truyền thanh, người đọc báo…
là người nhận vắng mặt), có thể là một hay nhiều người, tích cực (có thể đáplời, đảm nhiệm vai người nói, như khi trò chuyện tay đôi) hay tiêu cực (chỉnghe hay đọc mà không đáp lời ngay lập tức) Để cuộc giao tiếp thành công,người phát phải điều chỉnh lời nói của mình cho phù hợp với các tình huốngnói trên của người nhận
Giữa các nhân vật giao tiếp có thể có quan hệ cùng vai (như quan hệbạn học, đồng nghiệp với nhau …), hoặc quan hệ khác vai (như quan hệ cha
mẹ với con, thầy cô giáo với học sinh …) Muốn cuộc giao tiếp đạt kết quảnhư mong muốn, người phát cần phải xác định đúng quan hệ vai giữa mìnhvới người nhận để lựa chọn hình thức giao tiếp thích hợp nhất
Tuổi tác, quan hệ gia đình, địa vị xã hội, trình độ hiểu biết, trạng tháitâm lí, sinh lí … của nhân vật giao tiếp, quan hệ vai giữa các nhân vật giaotiếp đều để lại dấu vết trong lời nói (câu văn viết) của họ Trước khi bắt đầu
Trang 32cuộc giao tiếp, các nhân vật giao tiếp phải trả lời câu hỏi: Mình nói cho ainghe/ viết cho ai đọc? Những câu trả lời là căn cứ để người nói, viết lựa chọnphương tiện ngôn ngữ, và thậm chí điều chỉnh cả nội dung giao tiếp sao chophù hợp nhất với đối tượng tiếp nhận Khi nói với người lớn cần chọn cáchxưng hô như thế nào, thái độ, ngữ điệu ra sao? Hay đối với bạn bè bằng vaiphải lứa thì cần xưng hô như thế nào? …
Ví dụ: Hai đề bài “Nói lời xin lỗi của em khi em lỡ bước, giẫm chân
vào bạn” và “Nói lời xin lỗi của em khi em đùa nghịch, va phải một cụ già.”
có cùng yêu cầu về nội dung giao tiếp nhưng khác nhau về nhận vật giao tiếp
và vai giao tiếp thì sẽ chi phối đến việc sử dụng ngôn ngữ giao tiếp như thếnào cho phù hợp từng tình huống Cùng là nội dung “nói lời xin lỗi” nhưngkhi nói với một cụ già, chúng ta sẽ lựa chọn cách xưng hô (cháu- cụ) ngữ điệu(to đủ nghe, rõ ràng, không được lên giọng…) thái độ (lễ phép nhận lỗi) Cònkhi nói với bạn ta chọn cách xưng hô (tớ- cậu, mình- bạn,…) ngữ điệu (to đủnghe, rõ ràng) thái độ (chân thành nhận lỗi)
d) Mục đích giao tiếp
Mỗi hoạt động giao tiếp đều nhằm một hoặc một số mục đích nào đó(gọi tắt là đích của giao tiếp) Mục đích giao tiếp có liên quan đến chức năngcủa giao tiếp: thông báo, tạo lập quan hệ, biểu hiện, giải trí, hành động Giaotiếp có thể nhằm mục đích làm quen, bày tỏ nỗi vui mừng, lo sợ, thông báo chongười nghe một tư tưởng, một nhận thức nào đó của mình, đưa ra một lời mời,hay một yêu cầu đòi hỏi người nghe phải thực hiện, đặt ra một câu hỏi về mộtvấn đề mà mình chưa rõ để người nghe giải đáp… Có thể nói ngắn gọn, giaotiếp có ba đích chính Đó là đích thuyết phục, đích truyền cảm và đích hànhđộng Tuy nhiên sự phân chia này cũng chỉ mang tính chất tương đối Cónhững cuộc giao tiếp có nhiều đích, cần xác định rõ đích chính và đích phụ
Ví dụ: Trong bài Tập làm văn “Cảm ơn, xin lỗi” – Tiếng Viêt 2, tập 1
Trang 33có bài tập: Nói lời cảm ơn của em khi bạn cùng lớp cho em đi chung áo mưa.Mục đích của bài tập này không chỉ là giúp học sinh biết nói lời cảm ơn mộtcách phù hợp, đúng lúc, đúng chỗ, với đúng người mà còn nhằm mục đíchgiáo dục học sinh ý thức biết cảm ơn khi được người khác giúp đỡ Học sinhcần nhận thức được rằng khi được người khác giúp đỡ là người đó đã làm mộtviệc tốt cho mình, bản thân mình cần biết nói lời cảm ơn để bày tỏ sự biết ơncủa mình với người đó.
Khi đích giao tiếp đạt được thì cuộc giao tiếp đạt hiệu quả: hoặc đạtđược hoàn toàn, hoặc đạt một phần Cũng có khi cuộc giao tiếp thất bại hoàntoàn vì không hề đạt mục đích được đặt ra từ đầu
Mục đích giao tiếp là một trong những yếu tố chi phối việc lựa chọnnội dung và cách thức giao tiếp Ví như, để kể về một buổi biểu diễn xiếc vànói lên cảm xúc của mình (ở đây là đích truyền cảm) thì người viết sẽ lựachọn những từ ngữ, chi tiết, dữ liệu, ngữ điệu khác hoàn toàn khi bày tỏnguyện vọng của mình là muốn đi thăm viện bảo tàng với bố mẹ (ở đây làđích thuyết phục)
Khi trò chuyện với một người, sự lựa chọn ngôn ngữ để gây thiện cảmvới người đó không giống với các yếu tố ngôn ngữ mà ta lựa chọn khi muốnchấm dứt cuộc thoại hay chấm dứt một mối quan hệ mà mình không muốntiếp tục duy trì Do vậy, những người tham gia giao tiếp rất cần xác định ngay
từ đầu, từ đó lựa chọn nội dung, cách thức giao tiếp thích hợp để đạt tới đích
đó một cách tốt nhất trong thời gian ngắn nhất
e) Hoàn cảnh giao tiếp
Hoàn cảnh giao tiếp là hoàn cảnh diễn ra cuộc giao tiếp Có hoàn cảnhgiao tiếp rộng và hoàn cảnh giao tiếp hẹp Hoàn cảnh giao tiếp rộng bao gồmhoàn cảnh địa lý, xã hội, lịch sử, kinh tế … chung của dân tộc, của đất nước.Hoàn cảnh giao tiếp hẹp là nơi chốn, thời gian cụ thể diễn ra cuộc giao tiếp
Ngôn bản có hai thành phần là nội dung và hình thức Nội dung của
Trang 34ngôn bản chính là hiện thực được nói tới, còn hình thức của ngôn bản làphương tiện để thể hiện nội dung (trong đó, phương tiện quan trọng nhất làngôn ngữ được sử dụng) Sự lựa chọn nội dung giao tiếp và ngôn ngữ được sửdụng trong lời nói chịu sự chi phối của các nhân tố giao tiếp khác Trong cuộcgiao tiếp, những người tham gia cần biết những điều này để tạo và tiếp nhậnlời nói sao cho hoạt động giao tiếp đạt hiệu quả tốt đẹp nhất.
1.1.2.2 Giao tiếp bằng ngôn ngữ nói
1.1.2.2.1 Ngôn ngữ nói
a) Đặc điểm của ngôn ngữ nói
Ngôn ngữ nói là ngôn ngữ của âm thanh Nó là một phương tiện tao đổithông tin trong xã hội, có khả năng truyền cảm rất lớn Trong giao tiếp bằngngôn ngữ nói, ngữ điệu có vai trò đặc biệt quan trọng Nhịp điệu lời nói nhanhhay chậm, độ cao hay thấp của giọng nói, sự ngắt đoạn … đều có ảnh hưởngtới hiệu quả của giao tiếp Cùng với ngữ điệu, các phương tiện phụ trợ phingôn ngữ như ánh mắt, vẻ mặt, cử chỉ, điệu bộ có ảnh hưởng rất lớn tới hiệuquả biểu đạt của lời
Ngôn ngữ nói đòi hỏi sự ứng xử linh hoạt về lời nói So với ngôn ngữviết, ngôn ngữ nói sử dụng câu ngắn hơn, có cấu tạo đơn giản hơn Thậm chítrong giao tiếp miệng, có những câu không trọn vẹn về cấu tạo và nội dung,nhưng nhờ hoàn cảnh giao tiếp mà người nghe vẫn hiểu được những điềungười nói muốn truyền đạt tới mình một cách chính xác
Ví dụ:
Hải: Cậu đã đọc truyện Dế mèn phiêu lưu kí chưa?
Minh: Rồi Tớ rất thích Dế Mèn Thế còn cậu?
Trang 35rồi” Hay câu hỏi “Thế còn cậu?” Đúng ra thì phải là “Thế còn cậu thích nhânvật nào?” Mặc dù câu nói của các nhân vật không đầy đủ về mặt cấu tạo,nhưng dựa vào hoàn cảnh giao tiếp ta vẫn có thể hiểu được ý nghĩa câu nóicủa hai bạn Câu đáp của Hải: “Tớ cũng vậy” nếu đặt ngoài hoàn cảnh giaotiếp này là một câu chưa đầy đủ về mặt nội dung Nhưng đặt trong cuộc hộithoại này có thể hiểu được là Hải cũng thích Dế Mèn như Minh.
b) Các dạng ngôn ngữ nói
Ngôn ngữ nói có hai dạng đó là:
- Lời hội thoại (còn gọi là lời đối thoại): là lời xuất hiện trong giao tiếphội thoại của hai hay nhiều người với nhau
- Lời độc thoại: là lời của một người nói cho những người khác nghe,
có khi là lời nói với chính bản thân Đó có thể là lời tự sự, lời tâm sự, tâmtình, bộc bạch suy nghĩ, tâm tư, tình cảm của bản thân
1.1.2.2.2 Lời hội thoại
a) Hội thoại
Hội thoại là hoạt động giao tiếp bằng lời miệng giữa các nhân vật giaotiếp, nhằm trao đổi thông tin trao đổi tư tưởng, tình cảm … theo một mục đíchxác định Căn cứ vào số lượng người tham gia hội thoại, có thể chia hội thoạithành các hiểu: song thoại (hai người tham gia) và đa thoại (nhiều người thamgia) Các bài hội thoại trong chương trình Tiếng Việt lớp 2 chủ yếu là song thoại
Ví dụ: Trong câu chuyện vui “Đi chợ” (Tiếng Việt 2, tập 1, 92) cuộc
hội thoại của hai bà cháu là song thoại
Trang 36vậy, người trao cần:
+ Xác định vị thế xã hội của mình với người nhận (ngang vai haykhông ngang vai) để quyết định nội dung (chủ yếu là đề tài), cách nói (đặcbiệt là dùng các từ xưng hô, từ tình thái và kiểu cấu trúc câu)
+ Giữ vai trò khởi xướng hội thoại: gây sự chú ý lắng nghe, nêu đề tàihội thoại, lái hội thoại theo chiều đã định
+ Bộc lộ rõ ràng sự quan tâm, chú ý đến nội dung cuộc hội thoại, mongmuốn được nghe và được chú ý lắng nghe lời đáp
- Vận động đáp lời là nhu cầu bức thiết của nói năng Khi đã có trao lời
thì phải có đáp lời (hỏi phải có trả lời, chào phải có đáp lại ) Vận động đáplời là vận động của người nghe tạo lời nói đáp lại lời trao Đáp lời có thể bằnghành động, hoặc bằng lời nói kết hợp với hành động Khi đáp lời cần chú ý:
+ Xác định quan hệ với người trao lời
+ Lời đáp phải ăn khớp với lời trao, tránh hiện tượng không ăn ý hoặclời nhát gừng
- Vận động tương tác là vận động tác động lẫn nhau giữa các nhân vật
đối thoại và tác động tới bản thân cuộc hội thoại, làm cho cuộc hội thoại tiếntriển thuận lợi Vận động tương tác gồm:
+ Tương tác giữa các nhân vật giao tiếp: Sự tương tác này thể hiện ởchỗ trong quá trình hội thoại và sau khi hội thoại, các nhân vật giao tiếp cóthể có những chuyển biến trong nhận thức, tình cảm, hành động
+ Tương tác đối với bản thân cuộc hội thoại: Người trao và người đápchủ động điều chỉnh để sao cho cuộc hội thoại diễn ra nhịp nhàng, có sự ănkhớp giữa lời trao và lời đáp để hai bên đều đạt mục đích đề ra, vấn đề đưa ratrao đổi được giải quyết một cách trọn vẹn
Ví dụ: Mẩu chuyện “ Đôi bạn” (Tiếng Việt 2, tập 1, 75)
Đôi bạn
Búp Bê làm việc suốt ngày, hết quét nhà lại rửa bát, nấu cơm Lúc ngồi
Trang 37nghỉ, Búp Bê bỗng nghe có tiếng hát rất hay Nó bèn hỏi:
- Ai hát đấy?
Có tiếng trả lời:
- Tôi hát đây Tôi là Dế Mèn Thấy bạn vất vả, tôi hát để tặng bạn đấy Búp Bê nói:
- Cảm ơn bạn Tiếng hát của bạn làm tôi hết mệt.
Cuộc hội thoại giữa Búp Bê và Dế Mèn đã thể hiện vận động trao lời(Búp Bê hỏi) vận động đáp lời (Dế Mèn trả lời) Vận động tương tác được thểhiện ở chỗ: sau cuộc hội thoai, Búp Bê hiểu được tình cảm tốt bụng, sự quantâm và hành động muốn chia sẻ mệt nhọc với Búp Bê của Dế Mèn
c) Cấu trúc hội thoại
Hội thoại gồm các đơn vị: Cuộc thoại, đoạn thoại và cặp thoại
- Cuộc thoại là toàn bộ đối đáp, trò chuyện giữa các nhân vật giao tiếp
từ lúc bắt đầu đến khi kết thúc quá trình giao tiếp
- Đoạn thoại là một phần của cuộc hội thoại, các đoạn thoại trong mộtcuộc thoại thống nhất với nhau về đề tài và đích hội thoại
- Cặp thoại là những cặp lời kế cận gồm một vận động trao lời và mộtvận động đáp lời
Một cuộc hội thoại thông thường bao gồm 3 đơn vị này Tuy nhiêncũng có những cuộc hội thoại không điển hình Nghĩa là nó có thể thiếu mộtđơn vị nào đó (thiếu đoạn mở đầu hoặc đoạn kết thúc…)
d) Các quy tắc hội thoại
Để cuộc hội thoại có kết quả, các nhân vật tham gia hội thoại cần tuânthủ một số quy tắc hội thoại sau:
- Quy tắc thương lượng hội thoại
Các nhân vật hội thoại cần thống nhất với nhau về đề tài, nội dung và vịthế xã hội trong giao tiếp Việc thống nhất về đề tài, nội dung làm cho cuộchội thoại diễn ra ăn khớp với nhau, tránh tình trạng mỗi người nói một
Trang 38chuyện, không hiểu ý nhau Tuy nhiên, trong một cuộc thoại không phải chỉnói về một đề tài, nội dung duy nhất mà có thể thay đổi khi có sự đồng ý,thống nhất của cả hai người Các nhân vật hội thoại cần thống nhất với nhau
về vị thế xã hội có cách xưng hô, cách nói chuyện phù hợp
- Quy tắc luân phiên lượt lời
+ Một cuộc hội thoại phải có người nói và người nghe Quy tắc nàyđảm bảo cho vai nói thường xuyên thay đổi nhau trong cuộc hội thoại
+ Mỗi lần chỉ một người nói Do đó cần nhận ra các dấu hiệu kết thúcmột lượt lời để có người tiếp lời
+ Hiện tượng cùng một lúc có nhiều người cùng nói có thể diễn ranhưng không thể kéo dài Lúc này cần đến vai trò của người điều khiển đểđưa cuộc hội thoại về đúng quy tắc của nó
+ Bên cạnh đó cũng không nên để sự chuyển tiếp từ người nói này sangngười nói khác quá lâu Như vậy thì hội thoại sẽ không liền mạch và tạo cảmgiác nặng nề, đứt đoạn
- Quy tắc tôn trọng thể diện
Các nhân vật hội thoại phải tôn trọng nhau Điều đó được thể hiện:+ Tôn trọng lượt lời, không cướp lời, ngắt ngang lời người khác
+ Không có hành động hoặc lời nói làm ảnh hưởng tới thể diện củangười đối thoại (ví dụ không nói xấu hay chạm vào điểm yếu của họ)
+ Biết chú ý lắng nghe, tôn trọng ý kiến của người đối thoại
- Quy tắc khiêm tốn
Người tham gia hội thoại phải thực sự khiêm tốn
+ Không khoe khoang, không nói về mình nhiều quá
+ Sử dụng các phương tiện ngôn ngữ khiêm tốn, lịch sự
- Quy tắc cộng tác
+ Nói đúng đề tài đã thống nhất, phù hợp với đích của cuộc hội thoại.+ Không nói những điều không đúng hoặc chưa có sức thuyết phục
Trang 39+ Nói rõ ràng, ngắn gọn, tránh nói tối nghĩa và nói mập mờ.
Như vậy, lời đối thoại bao giờ cũng nằm trong một mạch của nhiều lờinói thuộc nhiều người nối tiếp nhau hoặc chủ đề hội thoại thì nó mới có ýnghĩa Các lời đối thoại thường ngắn gọn, giúp người tiếp nhận dễ theo dõi,
có sức phản xạ nhanh, có thể đáp lời đúng mạch giao tiếp Lời đối thoại cầnphù hợp với vị trí xã hội của người nói hoặc thích hợp với mối quan hệ xã hộigiữa người nói với những người tham gia hội thoại
Ví dụ: Trong câu chuyện “Cuộc họp của chữ viết” (Tiếng Việt 3, tập 1,
44), quy tắc thương lượng hội thoại đã được bác Chữ A thực hiện bằng cáchnêu ra nội dung của cuộc họp Quy tắc luôn phiên lượt lời thể hiện qua lời nóicủa từng thành viên tham gia họp, không có hiện tượng tranh lời, cướp lời.Quy tắc cộng tác thể hiện ở việc tất cả các thành viên trong cuộc họp đều bànbạc đúng nội dung mà bác Chữ A đưa ra
1.1.3.3 Nghi thức lời nói
Theo Từ điển tiếng Việt (Viện Ngôn Ngữ học, Nhà xuất bản Khoa học
Xã hội, 1992) “Nghi thức” là toàn bộ những điều quy định, theo quy ước xãhội hoặc thói quen, cần phải làm đúng để đảm bảo tính nghiêm túc của sựgiao tiếp hoặc một buổi lễ “Lời nói” là những gì con người nói trong mộthoàn cảnh giao tiếp cụ thể (lời nói có tính chất tổng quát) Là một sản phẩm
cụ thể của hoạt động ngôn ngữ, trong quan hệ đối lập với ngôn ngữ (lời nói cótính chất cá nhân)
Như vậy, “lời nói” trong “Nghi thức lời nói” là một định từ nhằm hạnđịnh khái niệm “nghi thức” Lời nói là những đơn vị giao tiếp bằng ngôn ngữ,cách phát ngôn có liên quan đến người nói, người nghe, hoàn cảnh giao tiếp.Lời nói là những câu nói cụ thể được tạo ra trong hoàn cảnh nói năng Lời nóicần thiết để phát triển ngôn ngữ
“Nghi thức lời nói” là tổng thể các phát ngôn có tính khuôn mẫu điển
Trang 40hình bền vững, mang đậm tính đặc thù dân tộc Việt Nam, được xã hội quyđịnh, nhằm ứng xử đứng mực và có văn hóa trong từng tình huống giao tiếp
cụ thể
1.1.3 Các giai đoạn của hoạt động lời nói và các kĩ năng làm văn
Hoạt động lời nói là một cấu trúc bao gồm bốn giai đoạn kế tiếp nhau:định hướng, lập chương trình, hiện thực hóa chương trình và kiểm tra Có thểtrình bày mối quan hệ này trong sơ đồ sau:
Cấu trúc hoạt động lời nói Hệ thống kĩ năng làm văn
2 Lập chương trình nội dung biểu đạt
Kĩ năng tìm ý( thu thập tài liệu chobài viết)
Kĩ năng lập dàn ý( hệ thống hóa, lựachọn tài liệu)
3 Hiện thực hóa chương trình
Kĩ năng diễn đạt (dùng từ đặt câu) thểhiện chính xác, đúng đắn phong cáchbài văn, tư tưởng bài văn
Kĩ năng viết đoạn, viết bài theo phongcách khác nhau ( miêu tả, kể chuyện,viết thư….)
hiện và sửa lỗi)Mỗi bài Tập làm văn đều chứa đựng trong nó một nhiệm vụ giao tiếp,việc xác định nhiệm vụ giao tiếp sẽ được thực hiện dưới dạng tìm hiểu đề bài.Việc tìm hiểu bài phải trả lời được các câu hỏi nói ,viết để làm gì (mục đích)nói, viết cái gì( nội dung) nói, viết theo thể loại nào (hình thức), nói, viết cho
ai (đối tượng) Các đề bài tập làm văn bao giờ cũng phải có đầy đủ thông tin