Xuất phát từ những thực tế trên, với mong muốn góp một phần nhỏ bécủa mình vào việc nâng cao chất lượng môn học GDCD nói chung và phần“Công dân với đạo đức” nói riêng trong trường THPT,
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
TRẦN THỊ NGOÃN
THIÕT KÕ BµI D¹Y THEO PH¦¥NG PH¸P TR¶I
NGHIÖM TRONG D¹Y HäC PHÇN “ C¤NG D¢N VíI §¹O
§øC”
ë TR¦êNG THPT HåNG §øC, Hµ NéI
Chuyên ngành: LL&PP giảng dạy Giáo dục chính trị
Mã số: 60.14.01.11
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Phan Trọng Ngọ
Trang 2HÀ NỘI – 2015 LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên, tác giả xin gửi lời cảm ơn trân trọng và sâu sắc nhất tới
PGS.TS Phan Trọng Ngọ – Người thầy đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo cho
tác giả trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn.
Tác giả trân trọng cảm ơn ban Giám hiệu trường Đại học sư phạm Hà Nội, ban Chủ nhiệm khoa Giáo dục chính trị, các thầy cô giáo bộ môn đã tham gia giảng dạy, truyền đạt kiến thức, hướng dẫn khoa học, đóng góp ý kiến quý báu và giúp đỡ tác giả trong suốt quá trình học tại trường cũng như quá trình thực hiện luận văn.
Cuối cùng tác giả xin cảm ơn gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã cổ vũ, động viên nhiệt tình và tạo điều kiện giúp đỡ mọi mặt để tác giả hoàn thành tốt chương trình học tập và nghiên cứu đề tài khoa học này.
Hà Nội, tháng 11 năm 2015
Tác giả
Trần Thị Ngoãn
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài: 1
2 Lịch sử nghiên cứu: 2
3 Mục đích nghiên cứu của luận văn 10
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 10
5 Phương pháp nghiên cứu 10
6 Những luận điểm cơ bản và đóng góp mới của tác giả: 11
7 Kết cấu của luận văn 11
Chương 1: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC THIẾT KẾ BÀI DẠY THEO PHƯƠNG PHÁP TRẢI NGHIỆM TRONG DẠY HỌC PHẦN “CÔNG DÂN VỚI ĐẠO ĐỨC” Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 12
1.1 Cơ sở lý luận của việc thiết kế bài dạy theo phương pháp trải nghiệm trong dạy học phần “Công dân với đạo đức” ở trường THPT Hồng Đức, Hà Nội 12
1.1.1 Phương pháp dạy học môn GDCD 12
1.1.2 Phương pháp dạy học trải nghiệm 14
1.1.3 Dạy học trải nghiệm trong môn GDCD 29
1.2 Cơ sở thực tiễn của việc thiết kế bài dạy theo phương pháp trải nghiệm trong dạy học phần “Công dân với đạo đức” ở trường THPT Hồng Đức, Hà Nội 34
1.2.1 Khái quát về trường THPT Hồng Đức, Hà Nội và đặc điểm của học sinh lớp 10 THPT 34
1.2.2 Thực trạng thiết kế bài dạy theo phương pháp trải nghiệm trong dạy học phần “ Công dân với đạo đức” ở trường THPT Hồng Đức, Hà Nội 38
1.2.3 Đánh giá nguyên nhân thực trạng 44
Kết luận chương 1 46
Trang 5Chương 2: THIẾT KẾ BÀI DẠY THEO PHƯƠNG PHÁP TRẢI
NGHIỆM TRONG DẠY HỌC PHẦN “CÔNG DÂN VỚI ĐẠO ĐỨC”
Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG HỒNG ĐỨC, HÀ NỘI 48
2.1 Các nguyên tắc thiết kế bài dạy 48
2.1.1 Nguyên tắc đảm bảo mục tiêu, nội dung của bài học 48
2.1.2 Nguyên tắc đảm bảo khai thác tối đa vốn kinh nghiệm của cá nhân học sinh 49
2.1.3 Nguyên tắc đảm bảo sự thống nhất giữa vai trò chủ thể tích cực, tự giác học tập của HS và vai trò tổ chức, hướng dẫn của GV 50
2.2 Thiết kế bài dạy theo phương pháp trải nghiệm 51
2.2.1 Thiết kế bài dạy 51
2.2.2 Quy trình thiết kế 52
2.2.3 Tổ chức dạy học môn GDCD theo phương pháp trải nghiệm 67
Kết luận chương 2 70
Chương 3: THỰC NGHIỆM VẬN DỤNG THIẾT KẾ BÀI DẠY THEO PHƯƠNG PHÁP TRẢI NGHIỆM TRONG DẠY HỌC PHẦN “ CÔNG DÂN VỚI ĐẠO ĐỨC” Ở TRƯỜNG THPT HỒNG ĐỨC, HÀ NỘI 71
3.1 Kế hoạch thực nghiệm 71
3.1.1 Mục đích thực nghiệm 71
3.1.2 Đối tượng, thời gian, địa bàn thực nghiệm 71
3.1.3 Nội dung thực nghiệm 71
3.1.4 Phương pháp thực nghiệm 72
3.2 Các bước tiến hành thực nghiệm 72
3.2.1 Khảo sát trình độ ban đầu của thực nghiệm 72
3.2.2 Thiết kế giáo án và bài giảng thực nghiệm 76
3.2.3 Tiến hành dạy thực nghiệm, đối chứng 87
Trang 63.3 Kết quả thực nghiệm 88
3.2.1 Kết quả định lượng 88
3.3.2 Kết quả định tính 92
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 94
TÀI LIỆU THAM KHẢO 96
PHỤ LỤC 1
Trang 7DANH MỤC BẢNG – BIỂU
Bảng 1.1 Kết quả điều tra về các phương pháp mà GV thường sử
dụng khi dạy học 39Bảng 1.2 Kết quả mức độ sử dụng phương tiện hỗ trợ trong quá trình dạy
học 40Bảng 1.3 Thống kê mức độ sử dụng các tiêu chí kiểm tra, đánh giá
kiểm tra đánh giá kết quả học tập 41Bảng 1.5 Thống kê kết quả học tập môn GDCD khối 10 trường
THPT Hồng Đức học kì I (năm học 2014 - 2015) 42Bảng 3.1: Bảng kết quả kiểm tra ban đầu của hai lớp TN và ĐC 75
Bảng 3.2 Kết quả đánh giá về mặt kiến thức của học sinh lớp 10 môn
GDCD khi học theo thiết kế bài dạy theo phương pháp trảinghiệm
BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1 Biểu diễn mức độ nhận thức của HS lớp thực nghiệm
và lớp đối chứng trước thực nghiệm trường THPTHồng Đức, Hà Nội
Biểu đồ 3.2 Biểu đồ biểu diễn mức độ nhận thức sau thực nghiệm
của 2 lớp TN và ĐC
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài:
Sự nghiệp đổi mới của đất nước ta đang diễn ra trong bối cảnh quốc tếhóa, toàn cầu hóa với những đặc trưng bởi xã hội tri thức đã và đang đặt ranhững yêu cầu mới đối với sự nghiệp giáo dục thế hệ trẻ và đào tạo nguồn nhânlực hiện nay Để đáp ứng được những yêu cầu đó đòi hỏi các cấp học, các ngànhhọc phải đổi mới về nội dung, phương pháp, phương tiện dạy học Trong đónhấn mạnh đến đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính tích cực,chủ động, sáng tạo của người học, lấy người học làm trung tâm Việc tổ chứccác hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong dạy học là một phương pháp hiện đạigiúp định hướng và phát huy tối đa năng lực người học
Trong nhà trường phổ thông, GDCD là môn học có tầm quan trọng đặcbiệt trong việc giáo dục nhân cách, rèn luyện kỹ năng sống, nuôi dưỡng vàphát triển cảm xúc, hình thành thái độ và hành vi tốt đẹp, trong sáng của HS
Để thực hiện nhiệm vụ đó, cùng với việc đổi mới nội dung, phương pháptrong quá trình giảng dạy cho phù hợp, thì việc thiết kế bài dạy vừa đảm bảonội dung, mục tiêu bài học vừa tạo hứng thú cho HS trải nghiệm sáng tạo là
vô cùng quan trọng đối với mỗi người GV
Môn GDCD không phải chỉ dạy để HS thuộc những lý thuyết về luân
lý, đạo đức, pháp luật và hình thành những thói quen trong sinh hoạt, ứng xử,giao tiếp… Môn học này phải được dạy để HS “học qua làm” và “tiến bộ quatrải nghiệm” Nói cách khác, dạy GDCD là dạy HS biết huy động những hiểubiết từ cuộc sống vào bài học và biết vận dụng những kiến thức đã học đượcvào cuộc sống Đó chính là sự trải nghiệm Vì vậy, học GDCD, học đạo đứcphải thông qua trải nghiệm thì mới thực hiện được mục tiêu và nhiệm vụ đặt
ra của môn học này
Trang 9Xuất phát từ những thực tế trên, với mong muốn góp một phần nhỏ bécủa mình vào việc nâng cao chất lượng môn học GDCD nói chung và phần
“Công dân với đạo đức” nói riêng trong trường THPT, tôi đã mạnh dạn lựa
chọn đề tài: “Thiết kế bài dạy theo phương pháp trải nghiệm trong dạy học phần công dân với đạo đức ở trường THPT Hồng Đức, Hà Nội ” để làm đề tài
luận văn thạc sĩ của mình
2 Lịch sử nghiên cứu:
* Trên thế giới
Có thể nói học tập bằng kinh nghiệm thực tế đã có từ rất lâu cùng với
sự xuất hiện của loài người nhưng giáo dục trải nghiệm mới được các nhàgiáo dục đưa vào từ cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX Ở phương pháp giáo dụctrải nghiệm, HS được thực hành chủ động, tự tạo kiến thức, thu thập kiếnthức, hình thành kĩ năng, thái độ cho bản thân
Theo Cral Rges: “Chỉ có cách học tập dựa trên sự khám phá bản thânhoặc tự lĩnh hội thì mới giúp con người thay đổi hành vi của mình Bản chấtcủa nó chính là giáo dục trải nghiệm”[46]
Saymour Papert cũng đã nói: “Bạn không thể dạy học sinh mọi thứchúng cần Cách tốt nhất bạn có thể làm là đặt chúng vào nơi mà chúng có thểtìm ra những thứ đó, giúp chúng xác định được cái mình cần biết là gì và khinào thì cần đến nó” [46]
Richard Ponzio và Sally Stanley cho rằng: “Giáo dục trải nghiệmkhông đơn thuần là phải thực hiện một hoạt động, từ đó rút ra những kết luận
và vận dụng vào các tình huống khác nhau Mà thông qua việc kết hợp nhiềucảm giác trong quá trình chia sẻ kinh nghiệm, tất cả người học đều được mởrộng hiểu biết của mình” [24].
Lev Vygotsky (1896 - 1934), nhà tâm lý học người Nga, đã viết một sốbài báo và một số sách về tâm lý học Một trong số các nghiên cứu của
Trang 10Vygotsky về việc trẻ em giải quyết những vấn đề chúng gặp phải vượt lêntrên mức độ phát triển của chúng như thế nào đã đưa ông đến chỗ sáng tạo ra
lý thuyết về “Vùng phát triển gần” (the Zone of Proximal Development) haycòn được gọi là “Vùng cận phát triển” “Vùng cận phát triển” chính là kháiniệm chỉ khu vực kinh nghiệm của cá nhân nằm giữa trình độ phát triển tiềmtàng (ở dạng tiềm năng) được đặc trưng bằng năng lực giải quyết vấn đề có sự
hỗ trợ từ bên ngoài và trình độ phát triển hiện tại có đặc trưng là năng lực giảiquyết vấn đề độc lập [29] Nội dung của vùng cận phát triển chính là nhữnggiá trị và kinh nghiệm thường trực ở cá nhân Mỗi cá nhân do trải nghiệm,học tập và tố chất di truyền đều có kinh nghiệm nền tảng khác nhau, nó quyđịnh ở mức tương đối cho tiềm năng của cá nhân Khi tương tác với môitrường: khi giao tiếp, học tập, làm việc, , tiềm năng đó vốn từ kinh nghiệmnền tảng được huy động ra, thể hiện rõ và được định hướng vào nhiệm vụ mộtcách tập trung, coi như đó là kinh nghiệm thường trực lúc đó Nhờ sự tươngtác, kinh nghiệm thường trực ở cá nhân được chia sẻ, được thử thách, đượccải thiện, dẫn cá nhân đến chỗ đạt được trình độ phát triển mới cao hơn, đượcđặc trưng bằng năng lực giải quyết vấn đề độc lập Trình độ này lại trở thànhkinh nghiệm nền tảng trong hiện tại, điều chỉnh và làm giàu kinh nghiệm nềntảng trước kia, làm cơ sở xuất phát cao hơn cho chu kỳ phát triển tiếp sau
Năm 1938, John Dewey (1859 - 1952), nhà triết học Hoa Kỳ trong thế
kỷ XX, đã tìm kiếm một khái niệm dân chủ trong các lĩnh vực của cuộc sống,trong đó có giáo dục Một số công trình nghiên cứu có liên quan đến giáo dục
của Dewey là: Trường học và Xã hội (School and Society, 1899), Cách chúng
ta nghĩ (How we think, 1910), Dân chủ và giáo dục (Democracy and Education, 1916) và Kinh nghiệm và giáo dục (Experience and Education,
1938) Dewey được đánh giá là “nhà lý luận giáo dục có ảnh hưởng nhất của
thế kỷ XX” [31] Trong Kinh nghiệm và giáo dục, Dewey phân biệt giữa nền
Trang 11giáo dục truyền thống và nền giáo dục tiến bộ, đề cập đến những nhược điểm
cơ bản của cả hai nền giáo dục Ông nhấn mạnh rằng: “Cả hai nền giáo dục đóđều chưa đáp ứng được sự đòi hỏi, mỗi nền giáo dục đều có những sai lầm vềmặt giáo dục Bởi vì, cả hai đều không vận dụng những nguyên tắc của nhậnthức dựa trên kinh nghiệm được phát triển thấu đáo” [33] Trong công trìnhnghiên cứu này, Dewey đã làm sáng tỏ ý nghĩa của kinh nghiệm cá nhân vàmối quan hệ giữa kinh nghiệm cá nhân người học với hoạt động dạy học
Thật không sai khi nói người đặt nền móng cho giáo dục trải nghiệm làJonh Dewey Thuyết trải nghiệm của ông dựa trên hai nguyên lý chủ đạo là sựliên tục và tác động ảnh hưởng lẫn nhau Sự liên tục được ông chứng minh ởluận điểm: Một điều gì đó từ một trải nghiệm kể cả điều tốt, điều dở chúngđều tích lũy thành kinh nghiệm ảnh hưởng tới những bản chất, bản tính củacon người trong những hành động tương lai của mỗi cá nhân Còn sự tác độngảnh hưởng qua lại lẫn nhau được xây dựng dựa trên khái niệm liên tục TheoJonh Dewey, trải nghiệm trong quá khứ ảnh hưởng tới những tình huống hiệntại [31, tr 370-390]
Theo triết lý giáo dục của Dewey, trường học không phải đơn thuần
là nơi người lớn dạy cho trẻ con các bài học kiến thức và bài học luân lý.Trường học phải là một cộng đồng dân chủ trong đó mọi hoạt động đượctập trung nhằm tạo ra hiệu quả cao nhất trong việc chia sẻ cho người học disản tri thức nhân loại và làm cho họ có thể sử dụng tài năng của mình vàomục đích xã hội Do đó, giáo dục là một hoạt động của đời sống, là bảnthân quá trình sống của các em chứ không phải là sự chuẩn bị cho một cuộcsống tương lai mơ hồ nào đấy Nhà trường và GV phải tạo ra một môitrường học tập và vui chơi mà trong đó người học tự tìm tòi và xây dựngkiến thức thông qua “kinh nghiệm” và “tư duy”, thông qua “trải nghiệm”của chính bản thân [32, tr 34-67]
Trang 12Thuyết giáo dục trải nghiệm của Jonh Dewey sau này được các nhàgiáo dục học, các nhà nghiên cứu lấy làm tiền đề, làm điểm tựa, coi như gốc
rễ quan trọng khi nghiên cứu về giáo dục trải nghiệm
Năm 1946, Zadek Kurt Lewin (1890 - 1947), người sáng lập của tâm lýhọc xã hội Mỹ, được biết đến với công việc nghiên cứu trong lĩnh vực hành vi
tổ chức, động lực nhóm và sự phát triển phương pháp luận của nghiên cứuhành động Mối quan tâm chính của Lewin là sự kết hợp giữa lý thuyết vàthực hành Qua nghiên cứu, Lewin cho ta thấy việc học tập đạt hiệu quả tối đakhi có một sự xung đột căng thẳng biện chứng giữa kinh nghiệm cá nhân vớiviệc phân tích giải quyết nhiệm vụ học tập.Theo ông, cuộc xung đột này cóvai trò rất quan trọng làm thay đổi và giúp con người tiến bộ hơn Công trìnhnghiên cứu có liên quan đến học tập dựa vào trải nghiệm của Lewin là “T-nhóm và phương pháp phòng thí nghiệm” Lewin đã khẳng định kinh nghiệmchủ quan của cá nhân là một thành phần quan trọng của học tập dựa vào trảinghiệm Ông đã phát triển chu kỳ học tập như “một quá trình liên tục củahành động và đánh giá hệ quả của hành động đó [45].Trong công trình nghiêncứu của mình, Kurt Lewin đã đưa ra mô hình học tập dựa vào trải nghiệm
Mô hình 1: Mô hình học tập dựa
vào trải nghiệm của Kurt Lewin Chú thích mô hình:1 Reflect - Suy nghĩ về tình
huống
2 Plan - Lập kế hoạch giải quyết tình huống
3 Act - Tiến hành kế hoạch
4 Observe - Quan sát các kết quả đạt được
Mô hình học tập dựa vào trải nghiệm của Lewin bao gồm: giai đoạn đầutiên, người học suy nghĩ về tình huống; tiếp đến là lập kế hoạch giải quyết tình
Trang 13Năm 1960, Jean Piaget (1896 - 1980), nhà tâm lý học phát triển ngườiThụy Sỹ, một trong những người theo dòng phái lý luận nền tảng của giáodục hiện đại, đã góp phần chỉ rõ bản chất và nguồn gốc của tri thức và trí tuệ.Ông đã nghiên cứu bản chất và quá trình phát triển của trí thông minh Ôngthấy rằng quá trình phát triển của trí thông minh có liên quan đến tuổi của mỗingười, cũng như sự khác biệt trong cách nghĩ của mỗi trẻ em về những điềutrẻ nhận thức Từ những hiểu biết này, Piaget đã thực hiện một nghiên cứu vềkinh nghiệm và kiến thức của con người Ông đã dành nhiều thời gian đểkhám phá những ý tưởng này Lý thuyết của Piaget cho rằng: “Trí thông minhđược định hình bởi kinh nghiệm và trí thông minh đó không phải là một đặctính bẩm sinh mà là một sản phẩm của sự tương tác giữa con người và môitrường sống của mình” [29].
Trên cơ sở những nghiên cứu của Dewey về kinh nghiệm và học tậpdựa vào kinh nghiệm, David Kolb (sinh năm 1939), nhà lý luận giáo dục Hoa
Kỳ, đã nghiên cứu và cho xuất bản một công trình về học tập dựa vào trải
nghiệm: Trải nghiệm học tập: Kinh nghiệm là nguồn học tập và phát triển (Study experience: Experience is the source of Learning and Development).
David Kolb đã chính thức giới thiệu lý thuyết học tập dựa vào trải nghiệm,cung cấp một mô hình học tập dựa vào trải nghiệm để ứng dụng trong trườnghọc, tổ chức kinh tế và hầu như bất cứ nơi nào con người được tập hợp vớinhau Ông đã liệt kê các đặc điểm của học tập dựa vào trải nghiệm và xácđịnh các giai đoạn trong học tập dựa vào trải nghiệm Đối với Kolb, “Học tập
là quá trình mà trong đó kiến thức được tạo ra thông qua việc chuyển đổi kinhnghiệm”[44] Các kinh nghiệm học tập liên quan đến việc áp dụng các thôngtin nhận được từ giáo dục đến kinh nghiệm của người học Các HS không tiếpthu kiến thức của mình chỉ từ các GV, mà thay vào đó, người học thông quaquá trình trải nghiệm dựa trên các kinh nghiệm hiện có của bản thân để thu
Trang 14nhận thông tin mới trong môi trường học tập thực tiễn và kiểm tra nó lại bằngkinh nghiệm của mình Mô hình học tập dựa vào trải nghiệm của Kolb baogồm bốn giai đoạn trong một vòng tròn khép kín [44].
Mô hình 2: Mô hình học tập dựa vào trải nghiệm của Kolb
Từ năm 1984 đến nay, từ mô hình học tập dựa vào trải nghiệm trên,David Kolb cùng một số tác giả khác đã có nhiều công trình nghiên cứu cóliên quan đến học tập dựa vào trải nghiệm, tập trung vào các lĩnh vực khácnhau như: kinh tế, giáo dục, văn hóa, Trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo, cóthể kể đến các công trình nghiên cứu sau:
- Phong cách học tập và không gian học: Tăng cường học tập dựa vào trải nghiệm trong giáo dục đại học (Learning Styles and Learning Spaces: Enhancing Experiential Learning in Higher Education) (2005) của Kolb, KY,
Kolb, DA Các tác giả đã giới thiệu khái niệm về không gian học tập như làmột khuôn khổ cho sự hiểu biết giữa việc học tập của HS và môi trường, thểchế học tập; minh họa việc học tập trong khuôn khổ sử dụng một không giannhất định và trình bày các nguyên tắc cho việc tăng cường học tập dựa vàotrải nghiệm trong giáo dục đại học Bên cạnh đó, các tác giả cũng đã đề nghị
Kinh nghiệm
cụ thể
Quan sát, đối chiếu và phản hồi
Hình thành khái niệm trừu tượng
Thử nghiệm trong tình huống mới
Trang 15học tập dựa vào trải nghiệm có thể được áp dụng trong suốt môi trường giáodục cho các chương trình phát triển, bao gồm: việc đánh giá; việc giảng dạy,việc đào tạo HS; đào tạo, bồi dưỡng giảng viên ở trường đại học.
- Học cách học từ kinh nghiệm là con đường để suốt đời học tập và phát triển (The Learning Way-Learning from Experience as the Path to Lifelong Learning and Development) (2011) của Passarelli, A., Kolb, DA.
Các tác giả đã trình bày lý thuyết về học tập dựa vào trải nghiệm Theo đó,kiến thức được tạo ra từ kinh nghiệm thông qua một chu kỳ học tập: hànhđộng → phản ánh kinh nghiệm → trừu tượng hóa khái niệm → thử nghiệm,vận dụng Qua đó, cung cấp một cái nhìn tổng quan về phương thức học tậpcũng như các không gian diễn ra quá trình tổ chức học tập Trong chu kỳ họctập dựa vào trải nghiệm, các giai đoạn được liên kết thành một không giankinh nghiệm để tạo ra một chu kỳ học tập xoắn ốc nhằm thu nhận được kiếnthức mới và phát triển học tập suốt đời Học tập suốt đời cũng được định hìnhbởi bản sắc của cá nhân người học, người học có thể tìm hiểu các mối quan hệtrong học tập, kết nối với nhau nhằm thúc đẩy quá trình học tập suốt đời
Như vậy, trên thế giới quan niệm về giáo dục trải nghiệm đã được nhắcđến từ lâu Mặc dù có nhiều quan điểm nhưng đều đề cập đến cách học thôngqua hoạt động trải nghiệm sẽ giúp HS nhớ lâu kiến thức, kết hợp lý thuyết vớithực hành trên thực tế Quan trọng hơn nó giúp hình thành nhân, phẩm chấtcủa người học và góp phần thay đổi hành vi của họ
* Ở Việt Nam
Mặc dù trên thế giới, học tập dựa vào trải nghiệm được bắt đầu nghiêncứu từ rất sớm nhưng ở Việt Nam, việc tiếp cận nghiên cứu về học tập dựavào trải nghiệm còn nhiều hạn chế: có ít công trình, tài liệu nghiên cứu và vậndụng Có thể kể đến một số chương trình, dự án tiêu biểu sau :
Trang 16- Năm 2006, học tập dựa vào trải nghiệm được đề cập ở Việt Nam
trong tài liệu “Học mà chơi - Chơi mà học: Hướng dẫn các hoạt động giáo dục môi trường trải nghiệm” do Dự án giáo dục môi trường Hà Nội và Trung
tâm Con người và Thiên nhiên biên soạn Chương trình Dự án này được triểnkhai tại 12 trường tiểu học và 11 trường trung học cơ sở tại Hà Nội Nội dungtài liệu dự án giới thiệu tóm tắt khái niệm liên quan đến giáo dục môi trườngnói chung và học tập dựa vào trải nghiệm nói riêng, giới thiệu một số hoạtđộng trò chơi thực hành nhằm giáo dục môi trường cho HS tiểu học và trunghọc cơ sở [14]
- Năm 2011, lần đầu tiên môn học “Giáo dục trải nghiệm” đượcgiảng dạy cho sinh viên thuộc chương trình đào tạo Cử nhân khoa họcngành Quản lý, liên kết giữa khoa Quốc tế - Đại học Quốc gia Hà Nội vớiĐại học Keuka, Mỹ Nội dung và mục tiêu của môn học là nhằm giúp sinhviên gần gũi hơn với cuộc sống, với xã hội và có thêm được những trảinghiệm thực tế, những điều mà các em có thể chưa nắm bắt được khi họcqua sách vở tại trường đại học
Bên cạnh đó, cũng có nhiều trường học, đa số là các trường tiểu học,trường dạy nghề cũng đã áp dụng giáo dục trải nghiệm trong quá trình giảngdạy cho HS
Đối với môn GDCD là môn học trực tiếp giáo dục tư tưởng chính trị,đạo đức, phong cách, chuẩn mực cho người lao động mới, đồng thời trang bịnhững kiến thức lý luận một cách có hệ thống của chủ nghĩa Mác- Lênin, tưtưởng Hồ Chí Minh, bồi dưỡng năng lực và phương pháp khoa học trong hoạtđộng thực tiễn
Giảng dạy phần đạo đức nói riêng và môn GDCD nói chung không đơnthuần chỉ là hoạt động nhận thức, mà còn là hoạt động thực tiễn nhằm hiệnthực hoá nhận thức lý luận về đạo đức của cả người dạy và người học Đây làđặc điểm đặc biệt quan trọng của giảng dạy môn GDCD so với các môn khác
Trang 17Đối tượng của công tác giáo dục đạo đức là HS THPT Ở lứa tuổi bắt đầu pháttriển về mọi mặt, tâm lý thường có những biến đổi thất thường đầy xúc cảmcho nên thái độ học tập đối với môn đạo đức bị xem nhẹ, tiết học bị coi làbuổi “giáo huấn’’ về đạo đức HS học tập môn GDCD vừa là đối tượng củagiáo dục vừa là chủ thể của quá trình giáo dục về mặt nhân cách con người.Mục đích của môn GDCD là chuẩn bị hành trang lối sống, ứng xử, tác phongcủa con người văn hoá, văn minh, hình thành nhân cách cho người học.
Chính vì vậy, dạy học trải nghiệm trong bộ môn này giữ vai trò hết sứcquan trọng Tuy nhiên, những công trình nghiên cứu về phương pháp dạy họctrải nghiệm trong môn học GDCD, đặc biệt là phần giáo dục đạo đức chưađược đề cập nghiên cứu
3 Mục đích nghiên cứu của luận văn
Thiết kế và thực nghiệm bài dạy theo phương pháp trải nghiệm phần
“Công dân với đạo đức” trong chương trình GDCD lớp 10 THPT
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Thiết kế bài dạy môn GDCD phần “Công dânvới đạo đức” cho HS lớp 10 THPT Hồng Đức, Hà Nội
- Phạm vi nghiên cứu: Xây dựng, thiết kế các bài dạy theo phươngpháp trải nghiệm phần “Công dân với đạo đức” môn GDCD cho HS lớp 10trường THPT Hồng Đức, Hà Nội
5 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp luận
Phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử
5.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể.
5.2.1.Phương pháp nghiên cứu lí luận
Tra cứu các tài liệu có liên quan đến đề tài, phân tích, tổng hợp, kháiquát và hệ thống hóa các nguồn tài liệu để xây dựng cơ sở lý thuyết và nộidung của đề tài
Trang 185.2.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Phương pháp điều tra, quan sát, phỏng vấn GV
5.2.3.Phương pháp thiết kế
phương pháp sử dụng kĩ thuật thu thập thông tin, xây dựng các môhình, thiết kế bài dạy
5.2.4 Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Tổ chức dạy một số bài phần “ Công dân với đạo đức” có sự vận dụngphương pháp trải nghiệm
6 Những luận điểm cơ bản và đóng góp mới của tác giả:
- Hệ thống hóa lý thuyết về dạy học trải nghiệm, các phương pháp dạy họctrải nghiệm, lý thuyết về thiết kế bài giảng theo phương pháp dạy học trải nghiệm
- Thiết kế một số bài dạy cho phần “Công dân với đạo đức” trongchương trình GDCD lớp 10 THPT theo phương pháp dạy học trải nghiệmphục vụ cho GV bộ môn GDCD trong quá trình dạy học
- Phác thảo quy trình thiết kế bài dạy, quy trình lên lớp theo phươngpháp trải nghiệm với GV và HS trong dạy và học phần “Công dân với đạođức” môn GDCD ở trường THPT
7 Kết cấu của luận văn
Luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở khoa học của việc thiết kế bài dạy theo phương pháp
trải nghiệm trong dạy học phần “Công dân với đạo đức” ở trường THPT
Chương 2: Thết kế bài dạy theo phương pháp trải nghiệm trong dạy
học phần “Công dân với đạo đức” ở trường THPT Hồng Đức, Hà Nội
Chương 3: Thực nghiệm vận dụng thiết kế bài dạy theo phương pháp
trải nghiệm trong dạy học phần “Công dân với đạo đức” ở trường THPTHồng Đức, Hà Nội
Trang 19Chương 1
CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC THIẾT KẾ BÀI DẠY THEO PHƯƠNG PHÁP TRẢI NGHIỆM TRONG DẠY HỌC PHẦN “CÔNG DÂN VỚI ĐẠO ĐỨC” Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
1.1 Cơ sở lý luận của việc thiết kế bài dạy theo phương pháp trải nghiệm trong dạy học phần “Công dân với đạo đức” ở trường THPT Hồng Đức, Hà Nội
1.1.1 Phương pháp dạy học môn GDCD
1.1.1.1 Khái niệm về phương pháp
Ngày nay, thế giới đang biến đổi từng giây, từng phút bởi sự phát triểnmạnh mẽ của khoa học và công nghệ, nhà tương lai học Thierry Gaudin đãđưa ra một thông điệp khẩn thiết: Hãy học phương pháp chứ đừng học dữliệu! Thật vậy, phương pháp có ý nghĩa to lớn trong đời sống xã hội.Vậyphương pháp là gì luôn là câu hỏi lớn cần giải đáp
Phương pháp là thuật ngữ bắt nguồn từ tiếng Hi Lạp “Methodos” nghĩa
là “con đường nghiên cứu”, “cách thức nhận thức”, nguyên căn là con đường
đi tới một cái gì đó, có nghĩa là cách thức đạt tới mục đích Theo nghĩa chungnhất phương pháp là cách thức, con đường, phương tiện để đạt tới mục đíchnhất định, là hoạt động được sắp xếp theo một trật tự nhất định để giải quyếtnhững nhiệm vụ nhất định trong nhận thức và trong thực tiễn [23,Tr 9]
Phương pháp là phạm trù gắn liền với hoạt động có ý thức của conngười, giúp con người nhận thức được hiện thực khách quan, nhận thức đượcthực tiễn Tuy nhiên, hiện thực khách quan và thực tiễn được vận động theonhững qui luật khách quan của bản thân và chịu sự tác động hợp quy luật củathế giới xung quanh Do đó, là một trong những yếu tố quyết định thành cônghay thất bại trong hoạt động nhận thức và cải tạo thế giới của con người
Trang 20Chính vì vậy mà trong Từ điển bách khoa, phương pháp được định nghĩa: là cách thức, con đường, phương tiện để đạt đến mục đích nhất định, để giải quyết những nhiệm vụ nhất định trong nhận thức và thực tiễn [27].
Phương pháp là sự đúc rút kinh nghiệm, vừa là khoa học, đồng thời lànghệ thuật, nó đòi hỏi tính sáng tạo và mang dấu ấn của chủ thể sử dụngphương pháp Trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người đều cần đếnphương pháp
1.1.1.2 Khái niệm về phương pháp dạy học
Dạy học là một lĩnh vực hoạt động đặc trưng, bởi cả chủ thể và đốitượng đều là con người Hoạt động dạy học là quá trình giảng dạy của người
GV và học tập của HS– quá trình xử lý, chuyển giao thông tin, ứng dụng, pháttriển của HS Trong quá trình đó nhất thiết phải được thực hiện thông qua cácphương pháp đặc thù gọi là phương pháp dạy học Như vậy, bản chất của quátrình dạy học chính là sử dụng hệ thống các phương pháp giảng dạy và họctập nhằm thực hiện mục đích, yêu cầu đặt ra về trang bị, cung cấp và tiếp thu,lĩnh hội (chiếm lĩnh), ứng dụng kiến thức, kĩ năng của GV và HS Để đạt hiệuquả cao trong quá trình đó, phải xuất phát từ phương pháp dạy của GV vìphương pháp dạy quyết định và tác động đến phương pháp học của HS
Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về phương pháp dạy học:
- Theo Lu.K.Babanxki: “phương pháp dạy học là cách thức tương tácgiữa thầy và trò nhằm giải quyết các nhiệm vụ giáo dưỡng, giáo dục và pháttriển trong quá trình dạy học” [1, tr 46]
- Theo Nguyễn Ngọc Quang, phương pháp dạy học là cách thức làmviệc của thầy và trò trong sự phối hợp thống nhất và dưới sự chỉ đạo của thầynhằm làm cho trò tự giác, tích cực, tự lực đạt đến mục đích dạy học
- Theo tác giả Phan Thị Hồng Vinh: “Phương pháp dạy học là cáchthức hoạt động phối hợp thống nhất của giáo viên và học sinh trong quá trình
Trang 21dạy học được tiến hành dưới vai trò chủ đạo của giáo viên nhằm thực hiện tối
ưu mục tiêu và nhiệm vụ dạy (41, tr 204)
Phương pháp dạy học được hiểu là cách thức hoạt động phối hợp thốngnhất của giáo viên và học sinh nhằm thực hiện tối ưu mục tiêu và nhiệm vụdạy học [23,Tr 13]
1.1.1.3 Khái niệm về phương pháp dạy học GDCD
Phương pháp dạy học GDCD là cách thức hoạt động phối hợp thốngnhất của giảng viên và sinh viên nhằm phát hiện những quy luật của quá trìnhdạy học môn GDCD, xây dựng hệ thống các nguyên tắc, hình thức và phươngpháp dạy học cụ thể để tổ chức thành công hoạt động dạy học môn GDCD ởtrường Trung học [23, Tr 20]
1.1.2 Phương pháp dạy học trải nghiệm
1.1.2.1 Khái niệm về phương pháp dạy học trải nghiệm
Học tập qua kinh nghiệm
Kinh nghiệm là những hiểu biết do trông thấy, nghe thấy, do từng trải,tiếp xúc với cuộc sống mà có hoặc là những điều coi như những kiến thức họcđược bằng lí luận, đã thu nhận được trong quá trình thực sự hoạt động (cư xử,giao thiệp, hành nghề,…) [18, tr 441] Kinh nghiệm còn được định nghĩa lànhững gì liên quan tới bản chất của sự kiện đã diễn ra mà sự kiện đó xảy rabởi một con người hoặc một vật nào đó Kinh nghiệm là những gì xảy ra liênquan đến chúng ta trong toàn bộ thời gian mà chúng ta tồn tại [38]
Kinh nghiệm được sử dụng trong thời gian quá khứ, liên quan tớinhững gì đã được tích lũy (hoặc những thứ còn tồn đọng) của những kinhnghiệm trước đây Kinh nghiệm quá khứ thường ảnh hưởng tới kinh nghiệmhiện tại và kinh nghiệm tương lai Ý tưởng kinh nghiệm quá khứ ảnh hưởngđến kinh nghiệm tương lai đã được John Dewey đề cập đến trong triết lý vềgiáo dục của mình Tất cả những kinh nghiệm ảnh hưởng tới tương lai của nó
Trang 22( nghĩa là kinh nghiệm về sau) hoặc là tốt hơn hoặc là xấu đi Về cơ bản, kinhnghiệm, kinh nghiệm tích lũy hoặc sẽ bị mai một đi, hoặc là sẽ mở ra cơ hội
để cho những kinh nghiệm tương lai [30]
Học tập qua kinh nghiệm: là quá trình người học tạo dựng kiến thức, kĩnăng và quan điểm về giá trị từ việc trải nghiệm trực tiếp từ chính bản thân
Học tập qua kinh nghiệm gồm có hai hoạt động học tập khác nhau: Tựhọc và giáo dục trải nghiệm Nó thể hiện sự trưởng thành và thành công củacác cá nhân và nhóm người qua chu trình: Lĩnh hội – hành động – phản ánh –lĩnh hội để đạt được kinh nghiệm [14]
Học tập qua kinh nghiệm còn được hiểu là quá trình học tập dựa trênnhững kinh nghiệm có sẵn Nó khác với phương pháp giáo dục truyền thống ởchỗ, quá trình giáo dục theo cách truyền thống thu nhập thông tin thông quaviệc nghiên cứu các chủ đề mà không cần sự trải nghiệm thực tế Học tậpthông qua kinh nghiệm rất thích hợp để tiếp thu những kỹ năng thực hành.Trong phương pháp học tập này, thực hành và thí nghiệm những bài tập thực
Tự học đồng nghĩa với giáo dục không chính thức hoặc tự giáo dục làhình thức người học tự tổ chức cho bản thân, phản ánh qua sự tham gia trảinghiệm trực tiếp của chính người học với các sự việc, sự kiện của cuộc sốngdiễn ra hằng ngày
Trang 23 Học tập dựa vào trải nghiệm
Trải nghiệm là quá trình cá nhân tiếp xúc trực tiếp với môi trường, với
sự vật, hiện tượng, vận dụng vốn kinh nghiệm và các giác quan để quan sát,tương tác, cảm nhận về sự vật, hiện tượng đó Trải nghiệm diễn ra dựa trênvốn kinh nghiệm của cá nhân về sự vật, hiện tượng
Học tập dựa vào trải nghiệm là hình thức học tập gắn liền với các hoạtđộng có sự chuẩn bị ban đầu về kinh nghiệm và có phản hồi, trong đó đề caokinh nghiệm chủ quan của người học Ngoài ra, học tập dựa vào trải nghiệmcòn được định nghĩa là “triết lý giáo dục, triết lý này nhấn mạnh vào quá trìnhtác động qua lại giữa GV và HS cùng với những kinh nghiệm trực tiếp của HStrong môi trường và nội dung học tập” [6]
Học tập dựa vào trải nghiệm còn được coi như là triết lý cũng nhưphương pháp luận mà ở đó nhà sư phạm thiết lập một cách có chủ đích vớingười học trong hoạt động trải nghiệm trực tiếp ở môi trường học tập và phảnánh để làm rõ ý nghĩa của bài học, nâng cao kiến thức và phát triển kỹ năngcủa người học kết hợp trên vốn kinh nghiệm hiện có của họ
Trong luận văn này, chúng tôi hiểu học tập dựa vào trải nghiệm làphương pháp dạy học, trong đó GV là người thiết kế, tổ chức, hướng dẫn cáchoạt động để HS bằng vốn kinh nghiệm của cá nhân kết hợp tiếp xúc trực tiếpvới môi trường học tập, sử dụng các giác quan, tự lực chiếm lĩnh kiến thức,hình thành kỹ năng và thái độ, hành vi
Khái niệm phương pháp dạy học trải nghiệm
Giáo dục trải nghiệm ( Experiential Education) hay học tập qua kinhnghiệm dựa trên các hoạt động có hướng dẫn là phương pháp học tập gắn liềnvới các hoạt động có sự chuẩn bị ban đầu và có phản hồi trong đó đề cao kinhnghiệm chủ quan của người học [14, tr 11]
Trang 24Ngoài khái niệm trên, giáo dục trải nghiệm còn được định nghĩa là
“triết lí giáo dục, triết lí này nhấn mạnh vào quá trình tác động qua lại giữagiáo viên và học sinh cùng với những kinh nghiệm trực tiếp của họ trong môitrường và nội dung học tập” [44]
Giáo dục trải nghiệm là quá trình giáo dục, trong đó chú trọng khai tháctối đa kinh nghiệm và kiến thức có sẵn của học sinh, tạo mọi điều kiện để họcsinh phát huy khả năng của bản thân trong hoạt động học tập [7, tr 50]
Giáo dục trải nghiệm được coi như là triết lý cũng như phương phápluận mà ở đó nhà sư phạm thiết lập một cách có chủ định với người học tronghoạt động thực nghiệm trực tiếp và phản ánh để làm rõ ý nghĩa của bài học,nâng cao kiến thức và kĩ năng
Như vậy, chúng ta có thể khái quát như sau: Phương pháp dạy học trảinghiệm là một quá trình dạy học trong đó dưới vai trò tổ chức của người GV,
HS chủ động tự tạo kiến thức, thu thập kiến thức, hình thành kĩ năng và thái
độ cho bản thân thông qua việc tiếp xúc trực tiếp với môi trường học tập Đây
là hoạt động học tập có sự phản hồi và đề cao kinh nghiệm chủ quan củangười học theo sự định hướng của GV
1.1.2.2 Bản chất của phương pháp dạy học trải nghiệm
Quá trình dạy học là một quá trình hoạt động thống nhất giữa GV và
HS Trong đó GV giữ vai trò hướng dẫn, tổ chức, điều chỉnh hoạt động của
HS nhằm làm cho HS tự giác nắm vững hệ thống tri thức, kĩ năng, kĩ xảo vàtrong đó phát triển được năng lực nhận thức, năng lực hoạt động và hìnhthành cơ sở của thế giới quan khoa học [6] Xét về bản chất, đây là hoạt độngcủa HS HS là chủ thể tích cực chiếm lĩnh tri thức bằng hoạt động học tập củamình còn đối tượng nhận thức ở đây chính là hiện thực khách quan, được cácthế hệ trước tích lũy thành kinh nghiệm lịch sử - xã hội và được đưa ra quanội dung dạy học [28]
Trang 25Giáo dục trải nghiệm là quá trình học tập dựa trên những kinh nghiệm.
Nó khác với phương pháp giáo dục truyền thống ở chỗ, quá trình giáo dụctheo cách truyền thống thu nhận thông tin qua việc nghiên cứu các chủ đề màkhông cần trải nghiệm thực tế Ở giáo dục trải nghiệm, kinh nghiệm củangười học được tích lũy và phản hồi thông qua những kiến thức và hiểu biếtmới mà họ tiếp thu được từ những trải nghiệm thực tế Điều đáng lưu ý ở đây
là giáo dục trải nghiệm không đơn thuần là thực hiện một hoạt động trong môitrường xung quanh, mà trải nghiệm trở thành một quá trình học tập khi vậndụng vào các tình huống khác nhau ( Richatrd Ponzio và Stanley) [24].Trongquá trình này, GV phải tạo ra môi trường học tập thuận lợi nhất cho HS thựchiện quá trình nhận thức của mình Dưới sự tổ chức, hướng dẫn của GV, HS
tự mình trải nghiệm thực tế nhằm tìm ra những điều mới lạ, hình thành kĩnăng, hành vi, tri thức khoa học bổ ích, hấp dẫn chứ không phải ghi nhớ, nhắclại lời GV hay những nội dung có sẵn trong sách giáo khoa hoặc làm theomẫu một cách máy móc
Như vậy, bản chất của phương pháp dạy học trải nghiệm là cách dạyhọc lấy hoạt động của HS làm trung tâm.Cả lớp học tự trải nghiệm một tiếntrình cụ thể Đây là cách dạy học khai thác tối đa kinh nghiệm và kiến thứcsẵn có của HS, đồng thời tạo mọi điều kiện cho HS phát huy khả năng làmviệc tự lập, làm việc theo nhóm, tư duy sáng tạo, biết đánh giá qua sự trảinghiệm trực tiếp của bản thân mình Hay nói cách khác, bản chất của phươngpháp dạy học trải nghiệm là dạy học dựa trên việc học tập từ kinh nghiệm trựctiếp và sử dụng tất cả các giác quan Như vậy, bản chất của dạy học trảinghiệm là phương pháp dạy học tập trung vào các giác quan và kinh nghiệmcủa người học
Trang 261.1.2.3 Đặc điểm của phương pháp dạy học trải nghiệm
Về vai trò của GV và HS trong dạy học trải nghiệm
Phương pháp dạy học trải nghiệm là quá trình tác động qua lại giữa GV
và HS về kiến thức Kiến thức không chỉ là vài con chữ trong bài giảng màkiến thức còn trở nên chủ động, có tác động đối với cuộc sống và các tìnhhuống thực tế Ở đây, GV chỉ đóng vai trò là người tổ chức, hướng dẫn, thúcđẩy việc trực tiếp trải nghiệm đảm bảo quá trình học tập và lĩnh hội kiến thứccủa HS có ý nghĩa và giữ được lâu dài chứ không chỉ là người cung cấp cáckiến thức có sẵn HS trở thành người tự tạo dựng và thu thập kiến thức chobản thân Kiến thức HS thu được không chỉ là những kiến thức trong nhàtrường, trong sách giáo khoa mà đó còn là những kiến thức ngoài trường học,ngoài xã hội Điều đáng lưu ý là trong quá trình dạy học trải nghiệm nhiều khidiễn biến của nó ngoài tầm dự kiến của giáo viên Chính vì vậy mà việc lập kếhoạch bài dạy cho việc tổng hợp kiến thức tổng hợp của HS đòi hỏi ở GV sựsáng tạo Vì vậy, GV cũng trở thành người học chủ động cùng trải nghiệm vớihọc sinh GV cũng như HS đã tạo cho mình những kiến thức và kĩ năng mới
Với phương pháp dạy học trải nghiệm này, còn khuyến khích HS chủđộng đóng góp tiếng nói của mình vào việc xác định mục đích học tập, chophép HS soạn thảo chương trình học tập và thực hiện dự án của mình, thậm chí
HS được tự đánh giá kết quả học tập của mình ( David Lemper, 1996) [44]
Như vậy, dạy học bằng phương pháp trải nghiệm, GV là một chuyêngia trong việc thiết kế, tổ chức, hướng dẫn các hoạt động độc lập hoặc theonhóm để HS trải nghiệm tự lực chiếm lĩnh nội dung học tập, chủ động đạt cácmục tiêu kiến thức, kĩ năng, thái độ theo chương trình và HS có điều kiệnphát huy cao độ vai trò chủ thể tích cực, độc lập, chủ động, sáng tạo củamình Qua đó, HS không những tìm ra, tự phát hiện ra tri thức mới, cách thứchành động mới mà còn rèn luyện các nét tính cách tích cực cho bản thân
Trang 27 Học tập dựa vào trải nghiệm là một quá trình liên tục dựa vào kinh nghiệm [44]
Trong học tập dựa vào trải nghiệm, quá trình học tập tiến hành từ mộttập hợp các giả định khác nhau Ý tưởng được hình thành và tái hình thànhthông qua kinh nghiệm Việc học tập như là một quá trình mà khái niệm nàyđược bắt nguồn và liên tục được sửa đổi bởi kinh nghiệm Piaget (1970) xemxét việc tạo ra các kiến thức HS cần mới là vấn đề trung tâm của nhận thứcluận, di truyền, vì mỗi hành động của sự hiểu biết là kết quả của một quá trìnhxây dựng và phát minh liên tục thông qua các quá trình tương tác
Trong học tập dựa vào trải nghiệm, kiến thức liên tục bắt nguồn và thửnghiệm trong những kinh nghiệm của người học Dewey cho rằng, mỗi cánhân đều có sự kế thừa và phát triển các kinh nghiệm để tổn tại trong cuộcsống “Nguyên tắc liên tục của kinh nghiệm có nghĩa là kinh nghiệm lấy từnhững người đã đi trước và những người đến sau sửa đổi cho nó tốt hơn để ápdụng vào giải quyết một tình huống khác ở thế giới của mình, ở môi trường
mà mình đang sống” (Dewey, 1938) Học tập dựa vào trải nghiệm là một quátrình liên tục căn cứ vào kinh nghiệm Điều này có ý nghĩa quan trọng đối vớigiáo dục, bởi tất cả những gì học tập trước đó sẽ được tái học tập Trong họctập dựa vào trải nghiệm, HS khi tham gia vào mọi tình huống học tập đều ítnhiều có ý về chủ đề, nội dung học tập; công việc của GV không chỉ là để đưa
ra những ý tưởng mới, mà còn để vứt bỏ hoặc sửa đổi những ý tưởng cũ Nếuquá trình giáo dục bắt đầu bằng cách đưa ra niềm tin và những hiểu biết củangười học, kiểm tra và thử nghiệm chúng trong môi trường thực tế, sau đótích hợp những ý tưởng mới tinh tế hơn vào các hệ thống niềm tin của ngườihọc, thì quá trình học tập sẽ được thuận lợi hơn
Trang 28 Phương pháp dạy học trải nghiệm là quá trình dạy học thông qua tổ chức các hoạt động của học sinh
Dạy học trải nghiệm tập trung vào người học và kinh nghiệm của ngườihọc.Để có được kinh nghiệm thì người học phải trực tiếp được trải nghiệmbằng các hoạt động cụ thể Xuất phát từ mục tiêu của từng bài học mà người
GV có kế hoạch để tổ chức cho HS các hoạt động thích hợp giúp HS chủđộng chiếm lĩnh tri thức, kĩ năng, kĩ xảo cần thiết Với dạy học trải nghiệm,
HS bị cuốn vào các hoạt động cụ thể do GV tổ chức chứ không chỉ đơn thuầntiếp thu những kiến thức có sẵn Ở đây, GV không chỉ là người giản đơntruyền đạt kiến thức mà còn là người hướng dẫn, tổ chức hoạt động
Phương pháp dạy học trải nghiệm luôn khuyến khích HS sử dụngnhiều giác quan Các hoạt động vận động luôn tạo ra sự thích thú, thay đổitích cực và thành công của tất cả học sinh tham gia Đồng thời thông quacác hoạt động sẽ tăng cường sự tham gia của HS, nhất là các hoạt độngthảo luận và phản hồi
Phương pháp dạy học trải nghiệm rất thích hợp để tiếp thu những kĩnăng thực hành, trong phương pháp học tập này việc thực hành, thí nghiệmhay bài tập, tình huống thực tế là những hoạt động chủ đạo Ap dụng cách tiếpcận như trên sẽ giúp HS trải nghiệm bằng các hoạt động cụ thể, đem lại cơ hộicho các em, tạo dựng sự tự tin và bộc lộ các điểm mạnh cũng như các kĩ năngcủa mình kĩ năng lãnh đạo, kĩ năng tổ chức,… [14]
Phương pháp dạy học trải nghiệm cũng là việc học tập thông qua sai lầm
Như đã trình bày ở trên, để có được kinh nghiệm thì người học phảiđược trải nghiệm trực tiếp bằng cách hoạt động cụ thể Hơn nữa, bản chất củaphương pháp dạy học trải nghiệm là quá trình trình dạy học dựa trên việc họctập từ kinh nghiệm trực tiếp và sử dụng tất cả các giác quan của HS Dạy họctrải nghiệm không đơn thuần là thực hiện một hoạt động Trải nghiệm trở
Trang 29thành một quá trình học được HS động não và phản hồi từ đó rút ra những kếtluận để ghi nhớ và vận dụng vào các tình huống khác nhau… Mục đích củaviệc động não và phản hồi là có được một sự đánh giá trung thực về toàn bộhoạt động , trong đó mọi sai lầm đều được nhìn nhận là tất yếu xảy ra và thậmchí còn có giá trị Ông cha ta từ ngàn xưa cũng đúc kết được bài học này quacâu thành ngữ “Thất bại là mẹ thành công”.
Nhà giáo dục Roger Mucchielli cũng đã khẳng định “Sai lầm trong tìnhhuống cá nhân phải phát kiến là bổ ích cho việc học tập, vì nó giúp học sinhthấy rằng có một số biến số khác nào đó liên quan đang ở trong trạng tháichưa được phân tích đầy đủ Và ngoài ra, sai lầm còn giảm bớt trong sốnhững con đường và hướng tới việc tìm kiếm một con đường khác.Như vậy,sai lầm đã tham gia vào sự thích nghi động thái, chính trong quá trình thíchnghi đó, câu trả lời đúng sẽ được tìm ra” [24] Như vậy, trong học tập dựa vàotrải nghiệm, cần ý thức rằng sự thất bại là để sửa đổi các ý tưởng và thói quenkhông tốt, hoặc những kinh nghiệm không đúng đã tồn tại trong bản thân HS.Khi vận dụng phương pháp này, GV phải luôn khuyến khích HS trải nghiệm,
tự phát hiện ra hình thức mới và chấp nhận những kết quả sai lầm trong quátrình hình thành khái niệm
Trong học tập trải nghiệm, các phương pháp dạy học được liên kết chặt chẽ nhau trong một tổng thể
Trong học tập trải nghiệm, các hoạt động học tập của HS thể hiện quaviệc thảo luận, quan sát, thực hành, làm thí nghiệm, chơi trò chơi, xử lý tìnhhuống… Do vậy, học tập trải nghiệm thường bị hiểu nhầm với các phươngpháp, hình thức tổ chức dạy học đó Tuy nhiên, các phương pháp và hình thứcdạy học này ngoài mối quan hệ tương đồng với học tập trải nghiệm, chúngcũng có những khác biệt Trước hết, trong học tập dựa vào trải nghiệm, GVthiết kế các hoạt động sử dụng những phương pháp, hình thức tổ chức dạy
Trang 30học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo của người học[24].Ngoài ra, trong học tập dựa vào trải nghiệm còn có tính linh động của cáchoạt động cá nhân, nhóm, thảo luận dựa trên nguyên lý hợp tác, bồi dưỡng kỹnăng lãnh đạo và quản lý cho HS Chính vì bản chất của học tập dựa vào trảinghiệm là quá trình học tập dựa trên vốn kinh nghiệm cá nhân và sử dụng cácgiác quan nên việc quan sát, cảm nhận là một hoạt động rất quan trọng trongquá trình trải nghiệm Học tập dựa vào trải nghiệm tập trung vào người học vàkinh nghiệm thực tế của người học - HS tự tạo dựng và thu thập kiến thức,biết đánh giá qua sự trải nghiệm trực tiếp của bản thân Quan sát, thảo luận,trò chơi, chỉ là một trong các hoạt động trong quá trình trải nghiệm Hay nóicách khác, học tập trải nghiệm nhấn mạnh vào kinh nghiệm chủ quan và việcquan sát, cảm nhận sự vật, hiện tượng của người học, nó yêu cầu việc trảinghiệm thực tế và phản ánh kinh nghiệm của người học về sự vật, hiện tượng.
Về việc đánh giá
Trong dạy học, việc đánh giá HS không chỉ nhằm mục đích nhận địnhthực trạng và điều chỉnh hoạt động mà đồng thời còn tạo điều kiện nhận định
và điều chỉnh hoạt động dạy của thầy
Trong dạy học truyền thống, cách đánh giá truyền thống là cho điểmthông qua các bài kiểm tra, bài thi hoặc phần trả lời những câu hỏi mà giáoviên đưa ra Cách này chỉ giúp HS tái hiện được tri thức, giúp HS củng cốkiến thức mà không đánh giá được kĩ năng của HS Kết quả của phươngpháp dạy học trải nghiệm rất có ích trong các kĩ năng thực tế.Vì vậy, trongdạy học trải nghiệm, HS được đánh giá thông qua việc đánh giá tích cực
[44] Ở đây, ngoài việc đánh giá tri thức của HS bằng việc thi viết còn đánh
giá HS vận dụng kỹ năng để giải quyết các bài toán thực tế thông qua thựchành (như tình cảm với gia đình, ý thức với cộng đồng hay việc chấp hànhluật giao thông…)
Trang 31Trong dạy học truyền thống GV giữ vai trò độc quyền đánh giá còntrong dạy học trải nghiệm giáo viên ngoài đánh giá HS thì HS còn được thamgia đánh giá lẫn nhau, có thể tự đánh giá kết quả của bản thân mình hoặc kếthợp đánh giá của thầy và với tự đánh giá của trò.
Việc tự đánh giá khuyến khích sự suy ngẫm và hoạt động có chủ đíchhướng tới những mục tiêu hữu ích, đồng thời nó cũng khuyến khích HS cótrách nhiệm với công việc học tập của bản thân
Sự khác biệt giữa dạy học trải nghiệm với dạy học truyền thống
Dạy học trải nghiệm là quá trình giáo dục dựa trên những kinh nghiệm
Nó khác với giáo dục truyền thống ở chỗ, trong giáo dục truyền thống họcsinh thu nhận thông tin thông qua việc nghiên cứu các chủ đề mà không cần
sự trải nghiệm thực tế Ở giáo dục trải nghiệm, kinh nghiệm của người họcđược tích lũy và phản hồi thông qua những kiến thức và hiểu biết mới mà họtiếp thu được từ những trải nghiệm thực tế
Dạy học trải nghiệm thường đối lập hình thức học tập truyền thống khivai trò của GV chỉ là truyền đạt thông tin và kiến thức cho HS theo một chiều.Việc dạy học truyền thống là một hoạt động được thực hiện riêng rẽ giữa cácđồng nghiệp và đằng sau những cánh cửa khép kín Trong khi đó, trong dạyhọc trải nghiệm, GV chỉ là người thiết kế, tổ chức còn HS chủ động chiếmlĩnh tri thức, đây là cách dạy học giúp HS, GV thích ứng với hoạt động làmviệc theo nhóm giữa các HS và các GV ở trong môi trường thực tế
Trong giáo dục truyền thống, quy trình hình thành kiến thức hay kĩnăng thường là: Cung cấp thông tin liên quan đến kiến thức hay kĩ năng mới,sau đó là thực hành để củng cố kiến thức, rèn luyện kĩ năng để đối chứng lýthuyết với thực tế Còn dạy học trải nghiệm được thực hiện theo quy trìnhngược lại: Người học được trải nghiệm, sau đó suy nghĩ và phản hồi nhữngtrải nghiệm đã qua, tổng hợp và khái quát để rút ra kiến thức và kĩ năng Hay
Trang 32nói cách khác, nếu giáo dục truyền thống thường đi từ lý thuyết đến thực tiễnthì giáo dục trải nghiệm lại đi từ thực tiễn.
Giáo dục trải nghiệm như là một chiếc dù để liên kết các phương phápkhác nhau trong tổng thể [44].Trong học tập trải nghiệm HS thường tham giathảo luận, quan sát, thực hành, làm thí nghiệm hay chơi trò chơi Chính vìvậy, giáo dục trải nghiệm thường bị hiểu nhầm với các phương pháp hìnhthức tổ chức dạy học đó Các phương pháp và hình thức dạy học này ngoàimối quan hệ tương đồng với giáo dục trải nghiệm chúng cũng có những khácbiệt Trước hết, chúng là những phương pháp dạy học theo hướng tích cực,chủ động, sáng tạo của người học[24] Ngoài ra, giáo dục trải nghiệm có tínhlinh động của hoạt động nhóm, thảo luận dựa trên nguyên lí hợp tác, bồi
dưỡng kĩ năng lãnh đạo và quản lý cho Vì bản chất của giáo dục trải nghiệm
là quá trình giáo dục dựa trên việc học tập từ kinh nghiệm trực tiếp và sửdụng tất cả mọi giác quan nên quan sát là một hoạt động rất quan trọng trongtrải nghiệm Phương pháp quan sát được chia thành hai loại quan sát trực tiếp
và quan sát gián tiếp [26] Phương pháp quan sát là phương pháp nhận thứccảm tính tích cực nên nó tập trung vào đối tượng quan sát để hình thànhnhững biểu tượng và những khái niệm về các sự vật và hiện tượng [16] Giáodục trải nghiệm tập trung vào người học và kinh nghiệm thực tế của ngườihọc Họ tự tạo dựng và thu thập kiến thức, biết đánh giá qua sự trải nghiệmtrực tiếp của bản thân Việc trải nghiệm ở đây có thể là quan sát, thí nghiệm,thực hành, chơi trò chơi, xử lý tình huống,…
1.1.2.4 Mô hình giáo dục trải nghiệm
Như chúng ta đã biết, bản thân kinh nghiệm không đảm bảo một sự họctập nó Để học được từ kinh nghiệm, ta phải suy ngẫm về kinh nghiệm củamình, cố gắng liên hệ chúng với lý thuyết, rồi lên kế hoạch làm sao lần sau ta
có thể làm tốt hơn Sau khi thực hiện kế hoạch này, ta lại cần phải suy ngẫmlại và cứ như vậy mà tiếp tục quá trình này Quá trình giáo dục có tính chu kỳ
Trang 33Chu kỳ giáo dục trải nghiệm được khởi xướng lần đầu tiên bởi David Kolb(1984) David Kolb là nhà lý luận giáo dục đầu tiên nghiên cứu về học tậpdựa vào trải nghiệm và là giáo sư về hành vi tổ chức trong trườngWeatherhead, Case Western Reserve University, Cleveland, Ohio, Mỹ DavidKolb đã phát triển một mô hình học tập dựa vào trải nghiệm (experientiallearning, thường được biết đến với cái tên “Chu trình học tập Kolb”) nhằm
“quy trình hoá” việc học với các giai đoạn và thao tác được định nghĩa rõràng Thông qua chu trình này, cả người học lẫn người dạy đều có thể cải tiếnliên tục chất lượng cũng như trình độ của việc học Đây là một trong số các
mô hình được sử dụng rộng rãi nhất trong việc thiết kế chương trình học, thiết
kế bài giảng, trong việc giảng dạy và hướng dẫn học tập cho HS
Chu kỳ này được thể hiện trong mô hình sau:
Mô hình 3: Chu trình học tập Kolb
Mô hình học tập trải nghiệm của David Kolb là một chu trình tuần hoànhình xoắn ốc gồm 4 giai đoạn Trong đó, người học thử nghiệm và điều chỉnh cáckhái niệm mới như là kết quả của hoạt động phản hồi và hình thành khái niệm
Trang 34Trong mô hình trên, người học có thể tiếp cận tai bất cứ giai đoạn nàotrong bốn giai đoạn của chu trình học Tùy vào từng bài, từng hoàn cảnh,…hoặc sở thích của từng người để áp dụng Những người thích bắt đầu bằnggiai đoạn thứ hai là người thích thẩm định.
Có thể bắt đầu quá trình học tập của mình bằng bước (Trải nghiệm) Ởđây, học sinh được tham gia vào các hoạt động thực tế hoặc trò chơi, sắm vai
và quan sát tác động của hoạt động đó trong bối cảnh thực tế
Bước tiếp theo (Quan sát và phản hồi) sẽ giúp HS hiểu các tác độngtrong các tình huống cụ thể để thấy rằng nếu hoạt động tương tự xảy ra nhưtrong bối cảnh ban đầu thì có thể dự đoán các diễn biến tiếp theo Đây làgiai đoạn đánh giá khách quan, có hệ thống về kinh nghiệm cụ thể của HSđồng thời xem xét cảm xúc của HS vào lúc đó.GV cần tạo cho HS niềm tinvào khả năng học tập từ kinh nghiệm của chính mình để HS tự đánh giákinh nghiệm của mình hoặc kinh nghiệm của bạn để HS có thói quen và kĩnăng suy ngẫm về hoạt động của chính họ Khi đó, HS sẽ trở thành “ngườithực hành có… Mục đích của việc làm này là có được một sự đánh giátrung thực về toàn bộ hoạt động Trong đó mọi sai lầm đều được nhìn nhận
là tất yếu xảy…
Bước thứ ba ( Hình thành khái niệm trừu tượng) sẽ là hình thành hiểu biết
về các nguyên lí chung tương ứng với các tình huống cụ thể Mục đích của giaiđoạn này là để HS liên hệ “kinh nghiệm cụ thể” của mình với lí thuyết
Bước cuối cùng ( Thử nghiệm chủ động) Nhiệm vụ của HS trong giaiđoạn này là lập kế hoạch cho lần tích lũy kinh nghiệm sau hay nói cách khác
là HS giải quyết câu hỏi “làm thế nào để tôi làm ở lần sau tốt hơn?” HS ápdụng các hiểu biết đã thu được vào hoàn cảnh mới thông qua các hành vi cótính phổ biến nhất Có thể kiểm tra câu trả lời của câu hỏi này trong một “kinhnghiệm cụ thể tiếp theo”, “không ai có thể làm tốt hơn bất kì việc gì, trừ
Trang 35trường hợp thực hiện theo quy trình này” [24] Tuy nhiên các giai đoạn 2, 3, 4trong chu kì này đôi khi hòa lẫn vào nhau song nên có một tuyên bố rõ ràngrằng “ lần sau mình sẽ làm việc đó tốt hơn thế nào?”, lấy đó làm kế hoạch cho
“ Kinh nghiệm cụ thể tiếp theo” [24, tr 308]
Quá trình học tập này có tính chu kì và có thể tiếp tục vô tận Dù có ýthức hay không việc học tập trải nghiệm thành công đều tuân theo chu kì này
Như vậy, giáo dục trải nghiệm được hình dung như một “ Mô hình họctập” Trong đó nó được khởi động bằng việc tích lũy kinh nghiệm, sau đó tiếptục bởi các quá trình phản hồi, thảo luận, phân tích và đánh giá kinh nghiệm.Sức mạnh của chu kì học tập là ở chỗ nó phát triển được ở HS sự hiểu biết về
lí thuyết và thực hành gắn kết với nhau như thế nào
Việc chấp nhận các kĩ thuật học tập theo chu kì giáo dục trải nghiệmkhông nhất thiết đòi hỏi phải có một cách tiếp cận có tính cách mạng trongviệc dạy và học Tuy nhiên, kĩ thuật này lại đòi hỏi người học phải cố gắng vàcũng đòi hỏi cách dạy học nhạy cảm
1.1.2.5 Ưu, nhược điểm của phương pháp dạy học trải nghiệm
- Khi HS được chủ động tham gia tích cực vào quá trình học, các em sẽ
có hứng thú và chú ý hơn đến những điều học được và ít gặp vấn đề về tuânthủ kỷ luật
Trang 36- HS có thể học các kỹ năng sống mà được sử dụng lặp đi lặp lại quacác bài tập, hoạt động, từ đó tăng cường khả năng ứng dụng các kỹ năng đóvào thực tế.
- Phương pháp đòi hỏi nhiều sự chuẩn bị hơn từ người dạy và có thểcần nhiều thời gian hơn để thực hiện với người học
- Thường là không có câu trả lời đơn thuần “đúng” cho các câu hỏitrong các bước thực hiện của phương pháp
- Phương pháp đòi hỏi sự kiên nhẫn và hướng dẫn của người dạy
- Đối với GV mới vào nghề, kinh nghiệm quản lý lớp và xử lý tìnhhuống sư phạm chưa thuần thục sẽ khó khăn trong việc áp dụng phương phápnày vì không gian học được mở rộng, khó quản lý HS
1.1.3 Dạy học trải nghiệm trong môn GDCD
1.1.3.1 Đặc trưng của tri thức phần “ Công dân với đạo đức” trong
chương trình GDCD 10, THPT
Giáo dục đạo đức xã hội chủ nghĩa cho HS THPT là trách nhiệm củanhà trường, gia đình và xã hội, trong đó nhà trường giữ vai trò định hướng vàthen chốt Đồng chí Lê Duẩn đã từng nói: “Đào tạo thế hệ trẻ là sự nghiệp củaĐảng, là trách nhiệm của toàn dân, của xã hội nhưng vai trò chủ yếu nhất lànhà trường” [33, tr182] Để thực hiện tốt sự nghiệp “trồng người”, nhà trườngphải có chương trình, nội dung giáo dục, giáo dưỡng phù hợp với thực tiễn đấtnước, với con người Việt Nam, với thời đại Yêu cầu khách quan đó được
Trang 37quán triệt trong tất cả các chương trình và nội dung học tập của toàn bộ cácmôn học trong nhà trường nói chung và THPT nói riêng Từ năm học 1991-
1992, HS trung học cơ sở và THPT ở nước ta đã được học môn GDCD và nóđược xác định là một môn khoa học xã hội trong trường phổ thông, điều nàynói lên vị trí của môn GDCD nói chung và vị trí của phần “Công dân với đạođức” nói riêng trong trường học là hết sức quan trọng
Trong nhà trường, tất cả các môn học và các hoạt động giáo dục ngoàigiờ lên lớp đều có tác dụng giáo dục đạo đức cho HS Nói cách khác đó là haicon đường chủ yếu nhất để tăng cường, bồi dưỡng đạo đức cho HS Tuynhiên, trong tất cả các môn học, phần học, thì phần “Công dân với đạo đức”giữ vị trí trọng yếu, trực tiếp thực hiện nhiệm vụ giáo dục đạo đức cho HS,bởi vì việc giáo dục đạo đức cho HS qua phần “Công dân với đạo đức” đượctiến hành trên cơ sở nội dung khoa học của các bài học cụ thể, với những vấn
đề gần gũi, thiết thực, dễ nắm, dễ hiểu, dễ nhớ
Xuất phất từ đặc trưng và mục tiêu của phần học “Công dân với đạođức” là trang bị cho HS những hiểu biết cơ bản về hệ thống chuẩn mực đạođức, những giá trị cơ bản của người công dân trong giai đoạn mới, trực tiếpgiáo dục đạo đức cho HS, cùng với các môn học, phần học khác giúp HS pháttriển toàn diện nhân cách, có đức, có tài, có tri thức, có phẩm chất, có nănglực hoạt động thực tiễn, có phẩm chất chính trị tư tưởng, có ý thức tráchnhiệm với bản thân, với gia đình, với cộng đồng Vì vậy, phần “Công dân vớiđạo đức” có vị trí vô cùng quan trọng trong hệ thống các môn học, phần họccủa nhà trường nói chung và chương trình GDCD lớp 10 nói riêng
Phần “Công dân với đạo đức” là một trong năm phân môn của chươngtrình môn GDCD ở THPT và là một trong hai phần của chương trình GDCD
10 Phần này có vai trò quan trọng trong việc trang bị cho HS những hiểu biết
về các phạm trù cơ bản của đạo đức và trách nhiệm của người công dân trong
Trang 38giai đoạn hiện nay Đây cũng là phần tổng kết, khái quát lại những nội dunggiáo dục đạo đức mà HS đã nhận thức, ý thức tình cảm, niềm tin và hành viđạo đức, chuẩn bị thật tốt hành trang để các em tiếp tục học lên bậc học caohơn hoặc trực tiếp tham gia lao động sản xuất và bảo vệ Tổ quốc Thông quanội dung phần “Công dân với đạo đức” sẽ góp phần hoàn thiện nhân cách cho
HS, giúp các em, bước vào đời tự tin hơn, vững vàng hơn Phần “Công dânvới đạo đức có những đặc trưng sau:
Một là, góp phần chuyển các quan niệm đạo đức từ tự phát sang tựgiác, từ bị động sang chủ động, không ngừng nâng cao trình độ nhận thứckhoa học
Hai là, góp phần tạo ra ở các em những giá trị đạo đức mới phù hợp vớithực tiễn đất nước, xây dựng cho các em những quan niệm, những phẩm chấtđạo đức mới, những quan niệm sống tích cực; từ đó khắc phục ở các emnhững hiện tượng phi đạo đức, đạo đức giả, những thói hư tật xấu Qua đóthúc đẩy quá trình tự giáo dục ở các em, tạo ra cơ chế phòng ngừa các phảngiá trị đạo đức, phản giá trị văn hóa
Ba là, góp phần truyền lại cho thế hệ trẻ những giá trị đạo đức mà cácthế hệ cha ông đã tạo ra, từ đó giúp các em giữ gìn và phát triển những giá trịđạo đức tốt đẹp của người Việt Nam, phù hợp với thời kỳ công nghiệp hóahiện đại hóa đất nước
Phần “ Công dân với đạo đức” gồm hai mạch nội dung:
- Một là, những hiểu biết lý luận về đạo đức, về chuẩn mực đạo đức, đó là:+ Quan niệm về đạo đức (Bài 10)
+ Một số phạm trù cơ bản của đạo đức học: nghĩa vụ, lương tâm, nhânphẩm và danh dự, hạnh phúc (Bài 11)
- Hai là, các giá trị đạo đức, thể hiện trong ba mối quan hệ cơ bản củacon người, đó là:
Trang 39+ Quan hệ bản thân: Tự hoàn thiện bản thân (Bài 16)
+ Quan hệ với người khác: Công dân với tình yêu, hôn nhân và gia đình(Bài 12)
+ Quan hệ với cộng đồng, đất nước, nhân loại gồm các bài: Công dânvới cộng đồng (Bài 13); Công dân với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc(Bài 14); Công dân với một số vấn đề cấp thiết của nhân loại (Bài 15)
Thông qua những nội dung cơ bản, phần nội dung kiến thức này đề cậpđến các giá trị đạo đức của người công dân trong giai đoạn hiện nay, giúp HS cóhiểu biết cơ bản, khoa học, tương đối toàn diện về các vấn đề Công dân với đạođức Phần “Công dân với đạo đức” giúp HS rút ra các kết luận về nhân sinh;những bài học về tinh thần, thái độ đối với lao động, về mối quan hệ giữa cánhân với tập thể, xã hội, về truyền thống đạo đức của dân tộc; bồi dưỡng cho HStình yêu quê hương, đất nước, yêu nhân dân, yêu lao động, yêu khoa học, yêuchủ nghĩa xã hội; ủng hộ cái mới, cái tiến bộ, cái tích cực; đấu tranh chống cáitiêu cực, lạc hậu; biết trân trọng, kế thừa những truyền thống tốt đẹp của dân tộc.Những tri thức mà các em thu được từ phần “Công dân với đạo đức” trong mônhọc GDCD lớp 10 sẽ góp phần hoàn thiện hành vi của các em, sẽ tạo thuận lợicho HS tiếp thu kiến thức các môn học khác, tiếp thu, vận dụng, rèn luyện, tudưỡng đạo đức để hoàn thiện nhân cách của bản thân
Như vậy, tri thức phần “Công dân với đạo đức” trong chương trìnhmôn học GDCD lớp 10 có vai trò quan trọng, có ý nghĩa trực tiếp, thiết thựcquyết định chất lượng giáo dục đạo đức cho HS trong trường THPT ở nước tahiện nay
1.1.3.2.Nội dung dạy học theo phương pháp trải nghiệm trong phần
“Công dân với đạo đức”
Trong phần “ Công dân với đạo đức”- chương trình GDCD lớp 10, cóthể thiết kế giảng dạy một số nội dung sau theo phương pháp trải nghiệm:
Trang 40- Bài 10:
+ Quan niệm về đạo đức
+ Vai trò của đạo đức đối với sự phát triển của cá nhân, gia đình và xã hội
+ Công dân với một số vấn đề cấp thiết của nhân loại
1.1.3.3 Dạy học trải nghiệm trong môn GDCD
Với những phân tích và các khái niệm có liên quan như đã trình bàytrên đây, trong luận văn này, tôi hiểu GDCD dựa vào trải nghiệm như sau:GDCD dựa vào trải nghiệm là quá trình hình thành ở người học những kiếnthức, thái độ, kỹ năng và hành vi ứng xử đúng đắn với xã hội dựa trên vốnkinh nghiệm của cá nhân kết hợp với việc sử dụng các giác quan để quan sát,cảm nhận các sự vật và hiện tượng, xử lý tình huống, sự việc có liên quan.Trong quá trình đó, GV là người thiết kế, tổ chức, hướng dẫn các hoạt động
để HS trải nghiệm, tự lực chiếm lĩnh nội dung học tập, chủ động đạt các mục