Tôi cũng xin chân thành cảm ơn các đơn vị, phòng, ban của huyện ThuậnChâu, tỉnh Sơn La đã tạo mọi điều kiện để tôi có được những kinh nghiệm, kiếnthức cũng như những số liệu để đánh giá
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
NÔNG QUỐC HUY
CÔNG CUỘC XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO Ở HUYỆN THUẬN CHÂU(TỈNH SƠN LA)
GIAI ĐOẠN 2006-2012
Chuyên ngành: Lịch sử Việt Nam
Mã số: 60 22 03 13
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LỊCH SỬ
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS: Đào Tố Uyên
HÀ NỘI - 2015
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới các thầy cô giáo trong bộmôn Lịch sử Việt Nam- Khoa Lịch sử, Trường Đại Học Sư phạm Hà Nội đãgiúp đỡ, giảng dạy, truyền đạt những kiến thức, kinh nghiệm quí báu cho tôitrong suốt quá trình theo học chương trình cao học Nhờ những kiến thức màthầy cô truyền đạt, tôi đã trưởng thành hơn rất nhiều trong suốt quá trình học,đồng thời những kiến thức đó cũng giúp tôi hoạt động tốt hơn trong công việchiện tại và sau này của mình
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn các đơn vị, phòng, ban của huyện ThuậnChâu, tỉnh Sơn La đã tạo mọi điều kiện để tôi có được những kinh nghiệm, kiếnthức cũng như những số liệu để đánh giá một cách toàn diện về đói nghèo, xóađói giảm nghèo cũng như những số liệu nội bộ trong huyện để có thể hoàn thiệnluận văn của mình
Cuối cùng, tôi xin gửi lời biết ơn sâu sắc nhất tới PGS.TS Đào Tố Uyên, giảng viên hướng dẫn khoa học đã tận tình giúp đỡ, truyền đạt những
kiến thức, kinh nghiệm để tôi có thể hoàn thành luận văn của mình.
Hà Nội, ngày 18 tháng 10 năm 2015
Tác giả
Nông Quốc Huy
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề: 3
3 Mục đích nghiên cứu, đối tượng, phạm vi nghiên cứu 4
4 Đóng góp của luận văn 5
5 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tài liệu 5
6 Bố cục luận văn 6
Chương 1: KHÁI QUÁT VỀ HUYỆN THUẬN CHÂU (TỈNH SƠN LA) VÀ VẤN ĐỀ XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO 7
1.1 Khái quát về huyện Thuận Châu 7
1.1.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên 7
1.1.2 Lịch sử hình thành huyện Thuận Châu 8
1.1.3 Dân cư 10
1.1.4 Tình hình kinh tế 12
1.2 Một số vấn đề liên quan đến xóa đói giảm nghèo 27
1.2.1 Khái niệm về đói nghèo 27
1.2.2 Nguyên nhân đói nghèo: 32
1.2.3 Sự cần thiết của công tác xóa đói giảm nghèo 34
Tiểu kết chương 1 36
Chương 2: QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN XOÁ ĐÓI GIẢM NGHÈO Ở HUYỆN THUẬN CHÂU GIAI ĐOẠN 2006 - 2012 37
2.1 Chủ trương, chính sách xoá đói giảm nghèo của Đảng, Nhà nước và Tỉnh Sơn La 37
2.1.1 Chủ trương, chính sách xóa đói giảm nghèo của Đảng và Nhà nước .37
Trang 42.1.2 Chủ trương, chính sách phát triển kinh tế và xóa đói giảm
nghèo của Tỉnh Sơn La 41
2.2 Quá trình thực hiện các chính sách, chương trinh xóa đói giảm nghèo trên địa bàn huyện Thuận Châu 45
2.2.1 Chính sách tín dụng ưu đãi hộ nghèo 45
2.2.2 Chương trình dạy nghề ngắn hạn cho lao động nông thôn, cho người nghèo 49
2.2.3 Chương trình khuyến nông – khuyến lâm và hỗ trợ phát triển sản xuất, ngành nghề 50
2.2.4 Dự án phát triển cơ sở hạ tầng thiết yếu ở các xã đặc biệt khó khăn 51
2.2.5 Chính sách hỗ trợ y tế cho người nghèo 58
2.2.6 Chính sách hỗ trợ người nghèo về nhà ở 60
Tiểu kết chương 2 64
Chương 3: MỘT SỐ NHẬN XÉT VỀ CÔNG CUỘC XOÁ ĐÓI GIẢM NGHÈO Ở HUYỆN THUẬN CHÂU 65
3.1 Thành tựu, hạn chế 65
3.1.1.Thành tựu 65
3.1.2 Hạn chế 70
3.2 Một số vấn đề đặt ra trong công tác xoá đói giảm nghèo ở huyện Thuận Châu 76
3.2.1 Mục tiêu trong các giai đoạn tiếp theo 76
3.2.2 Định hướng xoá đói giảm nghèo của huyện Thuận Châu hiện nay 77
Tiểu kết chương 3 93
KẾT LUẬN 94
TÀI LIỆU THAM KHẢO 97
Trang 5PHỤ LỤC
Trang 6DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1: Cơ cấu theo ngành kinh tế huyện Thuận Châu giai đoạn 2006
-2012 18
Bảng 1.2: Giá trị sản xuất các ngành kinh tế của huyện Thuận Châu giai đoạn 2006 - 2012 20
Bảng 2.1: Kết quả thực hiện chính sách tín dụng ưu đãi hộ nghèo huyện Thuận Châu 47
Bảng 2.2: Bảng tổng hợp công tác đào tạo nghề giai đoạn 2006 - 2010 49
Bảng 2.3: Các hạng mục công trình đã thực hiện giai đoạn 2006-2012 53
Bảng 2.4: Một số dự án đã hoàn thành 54
Bảng 2.5: Một số chỉ tiêu y tế 59
Bảng 3.1: Kết quả giảm nghèo toàn huyện Thuận Châu năm 2012 66
Bảng 3.2: Kết quả giảm nghèo từ năm 2008-2012 68
Bảng 3.3: Thực trạng tái nghèo của huyện Thuận Châu năm 2009 72
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài.
Thực trạng đói nghèo tư lâu không chỉ là vấn đề nhức nhối của Việt
Nam mà còn là thách thức lớn đối với toàn nhân loại Theo số liệu thống kê
cho thấy, hiện nay trên thế giới có ¼ dân số vẫn đang phải sống trong điềukiện cùng cực của sự nghèo khổ, không đủ khả năng đáp ứng được những nhucầu cơ bản
Trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế tài chính, sản xuất đình trệ, tốc độtăng trưởng kinh tế giảm thì vấn đề thất nghiệp, nghèo đói lại gia tăng nhanhchóng Thực trạng này không chỉ làm cho hàng triệu người không có cơ hộiđược hưởng những thành quả văn minh tiến bộ của loài người mà còn gâynhững hậu quả nghiêm trọng về kinh tế, xã hội đối với sự phát triển, tàn phámôi trường sinh thái Vì vậy, nếu đói nghèo không được giải quyết, thì cácmục tiêu cho sự phát triển mà cộng đồng quốc tế, cũng như các quốc gia đặt
ra như: tăng trưởng kinh tế, cải thiện đời sống, hợp tác hòa bình ổn định vàphát triển, đảm bảo các quyền con người …khó trở thành hiện thực
Xóa đói, giảm nghèo trở thành mối quan tâm lớn của cộng đồng quốc tế
và của mỗi quốc gia Vì vậy, những năm gần đây nhiều quốc gia và tổ chứcquốc tế rất quan tâm tìm các giải pháp hạn chế nghèo đói và giảm dần khoảngcách phân hoá giàu, nghèo trên phạm vi toàn thế giới
Ở Việt Nam, xóa đói giảm nghèo được coi là mục tiêu xuyên suốt trongquá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Sinh thời Chủ tịch Hồ ChíMinh đã từng nói: “Tôi chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc là làm saocho dân tộc ta, ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành” Ngườicũng chỉ rõ, Đảng và Nhà nước phải tạo điều kiện: làm cho người nghèo đủ
ăn Người đủ ăn thì khá, người khá giàu thì giàu thêm
Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII (năm 1996) đã khẳng định:
Trang 8"Thực hiện tốt chương trình xoá đói giảm nghèo, nhất là đối với vùng căn cứ quân sự cách mạng, vùng đồng bào dân tộc thiểu số" Đại hội IX (năm 2001) tiếp tục khẳng định hướng đi đó và nhấn mạnh: "Việc tăng trưởng kinh tế phải
đi đôi với xóa đói giảm nghèo ngay trong từng bước đi và trong suốt quá trình Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa đất nước Phấn đấu đến năm 2010, về
cơ bản không còn hộ nghèo"
Công cuộc đổi mới của đất nước đã đạt được những thành tựu vượt bậc
về phát triển kinh tế - xã hội, đời sống của đa số dân cư được cải thiện, côngtác xoá đói giảm nghèo đã thu được thành tựu đáng kể Song, mức sống củangười dân vẫn còn thấp, phân hóa thu nhập có xu hướng tăng lên Cuối năm2005,cả nước vẫn còn khoảng 22% số hộ nghèo đói, con số đó đến năm 2011
là 14% Chương trình mục tiêu quốc gia xoá đói giảm nghèo đã triển khaimạnh mẽ ở tất cả các tỉnh, thành trong cả nước, nhưng hiệu quả chưa cao.Nhiều hộ thoát nghèo vẫn chưa vững chắc, rất dễ tái nghèo khi gặp thiên taihay rủi ro bất thường trong đời sống và sản xuất kinh doanh
Thuận Châu là một huyện miền núi nằm ở phía bắc tỉnh Sơn La Trongnhững năm qua, thực hiện chương trình xóa đói giảm nghèo với sự quan tâm,chỉ đạo sát xao của các ngành các cấp, và sự đồng thuận của nhân dân trên địabàn huyện, Thuận Châu đã đạt được những kết quả nhất định trong xóa đóigiảm nghèo Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đạt được, tỷ lệ hộ nghèo ởnhiều xã trên địa bàn huyện vẫn còn cao, nhiều hộ tái nghèo, hoặc nguy cơthoát nghèo không bền vững Đây đang đặt ra những vấn đề bức xúc chohuyện Thuận Châu nói riêng và tỉnh Sơn La nói chung
Luận văn nghiên cứu, lý giải một cách tương đối đầy đủ về công tácxóa đói giảm nghèo ở huyện Thuận Châu trong giai đoạn 2006 - 2012, chỉ ranhững thành tựu đạt được và những hạn chế Từ đó, khẳng định đường lối,chính sách của Đảng và Nhà nước là hoàn toàn đúng đắn
Trang 9Bên cạnh đó, luận văn nêu lên một số vấn đề đặt ra cho công cuộc xóađói giảm nghèo của huyện nhằm thực hiện triệt để hơn việc xoá đói giảmnghèo trong những giai đoạn tiếp theo.
Từ những ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn trên, chúng tôi chọn đề
tài: “Công cuộc xóa đói giảm nghèo ở huyện Thuận Châu (tỉnh Sơn La) giai đoạn 2006 - 2012” làm đề tài luận văn thạc sĩ khoa học Lịch sử của mình.
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề:
Trong những năm gần đây đã có rất nhiều đề tài cấp bộ, các luận ánTiến sĩ, luận văn thạc sĩ, các bài báo, tạp chí nghiên cứu về công cuộc xoá đóigiảm nghèo ở Việt Nam và thế giới Đề tài cấp bộ có: “Đánh giá cuối kỳ Chương trình mục tiêu quốc gia về xóa đói giảm nghèo và Chương trình 135-I” BộLao động Thương binh và Xã hội và UNDP tại Việt Nam năm 2004; đề tài:
“Xây dựng bộ chỉ số theo dõi đánh giá hoạt động của hệ thống bảo hiểm xã hội, bảo trợ xã hội và xóa đói giảm nghèo” có mã số CB 2008-03-05 do Viện Khoa học Lao động và Xã hội thực hiện năm 2008; đề tài “Tổng kết và đánh giá thực tiễn thực hiện chính sách xóa đói giảm ở nước ta giai đoạn 2001-
2010, xây dựng cơ chế chính sách và giải pháp xóa đói giảm nghèo phục vụ cho công tác quản lý và điều hành của đảng trong giai đoạn 2011-2020”, của
Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh do PGS.TS Lê Quốc
Lý chủ biên đã tổng kết 10 năm thực hiện công tác xóa đói giảm nghèo
Nguyễn Thị Hằng, “Vấn đề xoá đói giảm nghèo ở nông thôn nước ta hiện nay”, nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1997; Dương Phú Hiệp, Vũ Văn Hòa, “Phân hóa giàu - nghèo ở một số Quốc gia khu vực Châu Á - Thái Bình Dương”, nhà xuất bản Khoa Học Xã Hội, Hà Nội, 1999; Ngô Quang Minh, “Tác động kinh tế của nhà nước góp phần xoá đói giảm nghèo trong quá trình Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa ở Việt Nam, nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1999; Trần Thị Hằng “ Vấn đề xóa đói giảm nghèo trong
Trang 10nền kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay”, 2001; Ngân hàng thế giới cũng
đã đề cập đến vấn đề “ Đói nghèo và bất bình đẳng ở Việt Nam năm 2014”.
Ngoài ra còn nhiều công trình nghiên cứu khác liên quan đến vấn đềxóa đói giảm nghèo nói chung của thế giới và Việt Nam
Ở Sơn La, trong nhiều năm qua, đã có nhiều cơ quan, tổ chức cá nhânvới những bài viết, tổng kết, tham luận, tiểu luận, đề tài nghiên cứu, phóng sự,nêu gương điển hình… đã đề cập đến công tác xóa đói giảm nghèo trên địabàn tỉnh và một số địa phương điển hình Ở huyện Thuận Châu, trong nhữngnăm gần đây, các báo cáo, Nghị quyết của Đảng bộ huyện cũng đã đề cậpnhiều đến công tác xoá đói giảm nghèo
Như vậy, mặc dù có nhiều công trình nghiên cứu về công tác xoá đóigiảm nghèo nói chung, tuy nhiên cho đến nay vẫn chưa có công trình nghiên cứunào chuyên sâu về công cuộc xoá đói giảm nghèo ở huyện Thuận Châu, đặc biệttrong những năm từ 2006 đến 2012 Các công trình nghiên cứu trên đây dù ởkhía cạnh khác nhau, những cũng đã góp phần cung cấp, bổ sung nguồn tư liệuquý báu giúp chúng tôi có cách thức tiếp cận và phương pháp nghiên cứu, đồngthời đây còn là tư liệu cung cấp cho chúng tôi những nhận định đánh giá, làm cơ
sở để đối chiếu, so sánh với kết quả nghiên cứu của mình
3 Mục đích nghiên cứu, đối tượng, phạm vi nghiên cứu
* Mục đích nghiên cứu
Để thực hiện được mục tiêu đề ra, luận văn có nhiệm vụ :
- Thứ nhất: Nghiên cứu toàn diện về công cuộc xóa đói giảm nghèothực hiện trên địa bàn huyện, kết quả và những mặt còn vướng mắc trong việcthực hiện chính sách xóa đói giảm nghèo giai đoạn 2006 – 2012
- Thứ hai: Trên cơ sở những nguồn tư liệu, kết hợp với điền dã thu thập
và xử lí dữ liệu, tham khảo một số tấm gương điển hình về xóa đói giảmnghèo để nêu lên một số vấn đề đặt ra cho công cuộc xóa đói giảm nghèo ở
Trang 11* Đối tượng:
Luận văn tập trung nghiên cứu quá trình thực hiện chương trình xoá đóigiảm nghèo huyện Thuận Châu giai đoạn 2006 – 2012
* Phạm vi nghiên cứu:
- Về không gian: Luận văn tập trung nghiên cứu công cuộc xoá đói
giảm nghèo trên địa bàn huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La Tuy nhiên, luận văncòn tìm hiểu công tác xoá đói giảm nghèo ở tỉnh Sơn La và các địa phươngkhác để làm rõ những kết quả đạt được cũng như những mặt còn hạn chế củacông cuộc xoá đói giảm nghèo của huyện Thuận Châu
- Về thời gian: Luận văn nghiên cứu về công cuộc xoá đói giảm nghèo ở
huyện Thuận Châu trong giai đoạn 2006 – 2012 Tuy nhiên, bối cảnh lịch sử,thực trạng đói nghèo của huyện ở giai đoạn trước, các chủ trương, chính sáchcủa Đảng, Nhà nước về chỉ đạo công tác xoá đói giảm nghèo cũng được đề cập
4 Đóng góp của luận văn
Trong quá trình nghiên cứu, luận văn sẽ tiếp tục kế thừa và phát huy kếtquả của các công trình khoa học liên quan đến xóa đói giảm nghèo Đồng thờiluận văn cũng đóng góp điểm mới :
- Chỉ ra diễn biến đói nghèo, công tác xóa đói giảm nghèo trên địa bànhuyện Thuận Châu (Sơn La), những kết quả đạt được cũng như những mặtcòn tồn tại giai đoạn từ năm 2006 đến năm 2012
- Nêu lên một số vấn đề có tính thực tiễn, tính đặc thù nhằm góp phầnthực hiện tốt công tác xóa đói giảm nghèo trên địa bàn huyện trong thời gian tới
- Góp thêm tư liệu vào việc nghiên cứu, giảng dạy lịch sử địa phươngtrong các trường phổ thông của huyện
5 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tài liệu
* Phương pháp nghiên cứu.
Trong quá trình nghiên cứu đề tài, chúng tôi kết hợp sử dụng nhiều
Trang 12phương pháp nghiên cứu: Kết hợp giữa phương pháp lịch sử và phương pháplogic; kết hợp sử dụng các phương pháp liên ngành so sánh, thống kê, phântích, tổng hợp Bên cạnh đó chúng tôi còn chú trọng công tác điền dã và côngtác tư liệu khi nghiên cứu đề tài.
* Nguồn tài liệu:
- Các tài liệu lý luận: Các Nghị quyết, quyết định, văn bản chỉ đạo vềchủ trương, biện pháp thực hiện xoá đói giảm nghèo của Đảng và Nhà nướcViệt Nam
- Các văn bản, chỉ thị, nghị quyết của Đảng bộ và Ủy ban nhân dân tỉnhSơn La
- Tài liệu lưu trữ ở Uỷ ban nhân dân, Hội đồng Nhân dân, Đảng bộ, cácphòng, ban huyện Thuận Châu; Nghị quyết đại hội, niên giám thống kê, báocáo công tác xoá đói giảm nghèo,…
- Sách, báo, tạp chí và những công trình có liên quan đến đề tài
- Nguồn tư liệu điền dã: Thực tế khảo sát tình hình thực hiện chính sáchxoá đói giảm nghèo tại các xã, bản nghèo trong huyện
6 Bố cục luận văn
Ngoài phần mở đầu, mục lục, phụ lục và tài liệu tham khảo, nội dungluận văn được chia làm 3 chương:
Chương 1: Khái quát về huyện Thuận Châu (tỉnh Sơn La) và vấn đề
xóa đói giảm nghèo
Chương 2: Quá trình thực hiện xóa đói giảm nghèo ở huyện Thuận
Châu giai đoạn 2006 – 2012
Chương 3: Một số nhận xét về công cuộc xoá đói giảm nghèo ở huyện
Thuận Châu (Tỉnh Sơn La) giai đoạn 2006-2012
Trang 13Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ HUYỆN THUẬN CHÂU (TỈNH SƠN LA)
VÀ VẤN ĐỀ XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO 1 Khái quát về huyện Thuận Châu
.1.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên
Huyện Thuận Châu nằm ở phía Tây Bắc của tỉnh Sơn La, cách Thànhphố Sơn La 34 km về phía Tây Bắc và cách huyện Tuần Giáo (tỉnh Lai Châu)
52 km về phía Đông Nam Phía đông giáp thành phố Sơn La, phía Tây và TâyBắc giáp huyện Tuần Giáo, Điện Biên, phía Nam giáp huyện Sông Mã, phíaBắc giáp huyện Quỳnh Nhai, Mường La, tỉnh Sơn La Là một huyện nằm phíacuối tỉnh Sơn La, Thuận Châu có vị trí quan trọng trong chiến lược phát triểnkinh tế xã hội (có trên 80 km đường địa giới tiếp giáp với tỉnh bạn) và có 85%diện tích tự nhiên thuộc lưu vực sông Đà, có trục Quốc lộ 6 đi qua 11 xã từMuổi Nọi đến Mường É đã tạo điều kiện cho huyện có những cơ hội giao lưu,trao đổi với các huyện trong tỉnh và các tỉnh trong vùng Tây Bắc
Thuận Châu có địa hình đặc trưng của các tỉnh miền núi phía Bắc, độdốc lớn và chia cắt mạnh Địa hình có các dãy núi chạy theo hướng Tây Bắc -Đông Nam có độ cao trung bình 700 - 750 mét so với mặt nước biển Dãy núicao nhất là dãy Copia có đỉnh cao nhất 1.821 mét chia địa hình Thuận Châulàm 2 phần: phía tây thuộc lưu vực Sông Đà, phía Đông thuộc lưu vực Sông
Mã Hướng dốc của địa hình thấp dần theo hướng từ Tây sang Đông, thấp nhất
là khu vực ven sông Đà, xen kẽ giữa những dãy núi là những thung lũng,phiềng bãi, ruộng nước tương đối bằng phẳng, tuy nhiên diện tích không lớn
Thuận Châu nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa vùng núi với 2mùa rõ rệt: mùa mưa tù tháng 4 cho đến tháng 9, lượng mưa tập chung từtháng 6 cho đến tháng 8, mùa khô từ tháng 10 cho đến tháng 3 năm sau, mùakhô ảnh hưởng của gió Lào nên rất hanh khô Khí hậu mang đặc trưng của
Trang 14miền núi Tây bắc thích hợp cho sự phát triển đa dạng về sinh học, phù hợpcho phát triển nhiều loại cây trồng khác nhau như cây ăn quả, cây lương thực,cây công nghiệp chè, cà phê, cao su, sơn tra và thích hợp cho chăn nuôi đạigia súc, gia cầm Tuy nhiên cũng có những ảnh hưởng nhất định đến sản xuất
và đời sống sinh hoạt của nhân dân
Thuận Châu thuộc lưu vực 2 con sông lớn là sông Đà và sông Mã, cónhiều suối lớn tạo thành mạng lưới sông suối khá dày, là nguồn nước quantrọng phục vụ nhân dân Tuy nhiên địa hình huyện cao, chia cắt nên hệthống sông suối phân bố không đều nên khả năng khai thác nguồn nướcphục vụ sản xuất và đời sống còn hạn chế Huyện nghèo về khoáng sản, chỉ
có đá vôi và đất sét với trữ lượng lớn cho phép phát triển ngành sản xuất,khai thác vật liệu xây dựng
Như vậy, do địa hình đặc trưng của vùng núi phía Bắc nên đất đai huyệnphần lớn là đất dốc thiếu ẩm, độ chua không cao, đất dễ bị xói mòn, thoái hóa.Nhìn chung, địa hình huyện khá phức tạp, chia cắt mạnh, phần lớn là địa hìnhcao và dốc tạo ra nhiều tiểu vùng cho phép phát triển nhiều loại hình sản xuấtnông lâm nghiệp khác nhau Tuy nhiên với kiểu địa hình trên việc xây dựng vàphát triển cơ sở hạ tầng gặp rất nhiều khó khăn, tốn kém, ảnh hưởng đến quátrình phát triển kinh tế xã hội địa phương và đây cũng chính là một nguyênnhân dẫn đến đói nghèo của người dân trong huyện
1.1.2 Lịch sử hình thành huyện Thuận Châu
Thuận Châu tên địa phương còn gọi là Mường Muổi là một mảnh đấthình thành từ rất sớm Một loạt các di chí khảo cổ thuộc loại hình di chỉ thềmsông, hang động, mái đá được phát hiện ở Thuận Châu cho ta thấy những đặcđiểm cư trú của các bộ lạc săn bắn, hái lượm của thời đại đá mới, điều đóchứng tỏ nơi đây đã có người Việt cổ sinh sống Từ thời dựng nước ThuậnChâu thuộc bộ Tân Hưng- là một trong 15 bộ của nước Văn Lang; thời Hán
Trang 15thuộc đất Nam Trung; thời Lý (thế kỷ XI) thuộc đất Lâm Tây; thời nhà Trần(thế kỷ XIII) nằm trong đạo Đà Giang, sau đổi gọi là trấn Thiên Hưng, sau đólại đổi lộ thành phủ Đất Thuận Châu trước đây rất rộng gồm cả vùng đất từMai Sơn đến Tuần Giáo ( Điện Biên) Đến đời Lê mới tách ra thành lập thêm
ba châu, đó là châu Mai Sơn, Châu Sơn La và châu Tuần Giáo Năm 1466,vua Lê Thánh Tông chia cả nước thành 12 đạo thừa tuyên, phủ Gia Hưngthuộc đạo thừa tuyên Hưng Hóa Đến thời Minh Mạng chia cả nước thành 30tỉnh và phủ Thừa Thiên, phủ Gia Hưng thuộc tỉnh Hưng Hóa
Dưới thời Pháp thuộc, có một thời gian Thuận Châu bị đặt dưới chế độquân quản Năm 1895, Thuận Châu thuộc tỉnh Vạn Bú (được tách từ tỉnhHưng Hoá); năm 1904 tỉnh Vạn Bú đổi thành tỉnh Sơn La Sau chiến dịch TâyBắc 1952, Thuận Châu trực thuộc tỉnh Lai Châu Đến tháng 2 năm 1954,Thuận Châu trực thuộc tỉnh Sơn La
Đến năm 1955 thành lập khu Tự trị Thái - Mèo, bỏ cấp tỉnh, ThuậnChâu trực thuộc khu Tự trị Ngày 27/12/1962, tại kỳ họp thứ 5 Quốc hội khóa
II đã ra Nghị quyết đổi tên khu Tự trị Thái - Mèo thành khu tự trị Tây Bắc,lập lại 2 tỉnh Sơn La, Lai Châu và thành lập tỉnh Nghĩa Lộ; huyện ThuậnChâu thuộc tỉnh Sơn La Đến năm 2003 toàn huyện có 34 xã và 1 thị trấn,huyện lỵ đặt tại Thị trấn Thuận Châu
Thực hiện Nghị quyết số 43/2002/NQ - HĐND ngày 11/1/2002 của Hộiđồng nhân dân tỉnh Sơn La khóa XI - kỳ họp thứ 5, về xây dựng phương ánđiều chỉnh địa giới hành chính một số huyện, xã của tỉnh do ảnh hưởng di dântái định cư xây dựng nhà máy thủy điện Sơn La Ngày 2 tháng 12 năm 2003,chuyển 25.911 ha diện tích tự nhiên và 26.659 nhân khẩu gồm toàn bộ các xãMường Giàng, Chiềng Bằng, Mường Sại, Liệp Muội, Nặm Ét, ChiềngKhoang của huyện Thuận Châu về huyện Quỳnh Nhai quản lý Đến nayhuyện Thuận Châu có 28 xã và 01 thị trấn
Trang 161.1.3 Dân cư
Tính đến năm 2012, toàn huyện có 156.965 người, tỷ lệ tăng dân số tựnhiên là 1,58%; bao gồm có 6 dân tộc sinh sống, đó đó dân tộc Thái chiếm70,9%, dân tộc Mông 11,97%, Kinh 10,9%, Khơ Mú 2,2%, Kháng 1,96% vàdân tộc La Ha 1,81% Các dân tộc có sự khác nhau về nhân khẩu trong mỗi hộgia đình, bình quân có 5 - 6 người/hộ
Các dân tộc huyện Thuận Châu phân bố không đều, người Môngthường sống trên rẻo cao, dân tộc Khơ Mú hay sống ở rẻo giữa, dân tộc Thái,
La Ha, Kháng sống ở vùng thấp Đặc điểm cư trú của đồng bào các dân tộc làsống xen kẽ thành từng bản, nhưng mỗi dân tộc đều có một tâm lý, trình độphát triển kinh tế, văn hóa và tiếng nói khác nhau tạo cho Thuận Châu có sắcthái văn hóa phong phú và đa dạng
Sự hình thành tập quán canh tác của từng dân tộc phụ thuộc vào địa thế.Dân tộc Mông, Khơ Mú sống chủ yếu bằng nương rẫy, trồng lúa, ngô và cácloại hoa màu, chăn nuôi gia súc, gia cầm Các dân tộc sống dưới vùng thấpnhư Thái, La Ha, Kháng sống chủ yếu bằng ruộng lúa nước và làm nương rẫy,trồng ngô, lúa, hoa màu, chăn nuôi gia súc, gia cầm, nuôi cá ruộng, cá ao Dân tộc Mông có kinh nghiệm về chăn nuôi, giỏi về kỹ thuật rèn, đúc, mộcnhư đúc, khoan nòng súng, làm súng kíp, đúc lưỡi cày nương, làm cuốc, rìu,dao các loại, kỹ thuật tôi sắt, thép khá hoàn hảo, nghề mộc thể hiện kỹ thuậtcao như ghép gỗ thành thùng đựng nước, đẽo, gọt làm bát, muôi, thìa Dân tộcThái sớm có nền văn minh lúa nước nên bản, mường thường nằm dọc theonhững thung lũng ven suối, có đồng ruộng lớn, nhỏ liên tiếp kéo dài, họ kháthuần thục về kỹ thuật khai khẩn đồng ruộng, lấy nước tưới ruộng như đắpphai, khơi mương, bắc máng hay làm guồng, cọn quay lấy nước từ thấp đưa lêncao Ngoài ra người Thái rất thành thục trong việc làm nương rẫy, chăn nuôigia súc, gia cầm để đảm bảo sức kéo và thực phẩm Nam giới thông thạo việc
Trang 17làm công cụ, đan nát các đồ dùng trong gia đình, phụ nữ Thái thạo nghề trồngbông, dệt vải, cắt may, thêu thùa, những hoa văn trên khăn piêu, thổ cẩm của
họ muôn màu, muôn vẻ, thể hiện qua việc trang trí diềm màn, mặt gối, mặtchăn, nẹp đệm Người Khơ Mú có kỹ thuật đan lát hết sức điêu luyện, bằngnhững nguyên liệu như tre, nứa, song, mây mà đan thành rổ, rá, ghế, ca bem, catẹm, ép khảu có các hình hoa văn rất đẹp Người phụ nữ Mông tự lấy lanh dệtvải và may mặc, họ có kỹ thuật nhuộm màu và thêu thùa nhiều hình hoa vănđẹp mà tiêu biểu là váy áo của người phụ nữ
Như vậy, sự hình thành tập quán canh tác của từng dân tộc phụ thuộcvào địa thế và bà con các dân tộc Mông, Khơ Mú, Thái, La Ha, Kháng củahuyện chủ yếu làm nông nghiệp và chăn nuôi Tuy nhiên, do điều kiện tựnhiên của huyện có địa hình phức tạp, chia cắt và khí hậu khắc nghiệt thiêntai, hạn hán, sâu bệnh thường xuyên xảy ra, đất đai bị xói mòn, cằn cỗi dochặt phá rừng, thiếu nước phục vụ sinh hoạt và sản xuất, địa hình chủ yếu làđồi núi hiểm trở, cơ sở hạ tầng tuy đã được đầu tư nhưng còn thiếu và yếunhất là giao thông nông thôn gây ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất nông - lâmnghiệp Hàng năm, thiệt hại do thiên tai, sâu bệnh đối với sản xuất nông -lâm nghiệp lên tới hàng tỷ đồng, đặc biệt đầu năm 2008 rét đậm, rét hại kéodài làm chết: 3.687 con trâu, bò, ngựa; 1.842 con lợn; 1.700 con dê; trên30.000 con gia cầm đã gây ảnh hưởng lớn đến ngành trồng trọt và chăn nuôi;sâu bệnh hại lúa chiêm xuân xuất hiện trên diện rộng, tổng số diện tích bị
nhiễm sâu bệnh là 1.193 ha (trong đó diện tích bị nhiễm rầy nâu, rầy lưng trắng: 1.167 ha; diện tích bị nhiễm bệnh đạo ôn: 123,3 ha); sâu năn hại vụ mùa 997 ha (trong đó sâu bệnh hại lúa bao thai: 575 ha; sâu bệnh hại lúa nếp 87: 404 ha); cơn bão số 4 và số 6 đã gây thiệt hại nặng nề: Ngập lụt 150,41ha ruộng, 205,7 ha hoa mầu, (riêng xã Liệp Tè lũ cuốn trôi 200 tấn ngô), nhiều công trình giao thông, thuỷ lợi và nhà cửa của nhân dân, tổng
Trang 18thiệt hại trên 21.765 triệu đồng Đây chính là nguyên nhân khách quan dẫnđến đói nghèo cao ở huyện trong những năm vừa qua.
1.1.4 Tình hình kinh tế
1.1.4.1 Giai đoạn trước năm 1986
Trước Cách mạng tháng Tám năm 1945 nền kinh tế Thuận Châu mangđặc trưng của nền kinh tế nông nghiệp, tự cấp tự túc, trình độ kỹ thuật canhtác lạc hậu, nông cụ sản xuất thô sơ, một năm chỉ trồng một vụ, vì vậy năngxuất thấp Đồng bào vùng cao sống chủ yếu phụ thuộc vào nương rẫy, canhtác ruộng nước cũng có nhưng ít làm cho đất đai nhanh bạc màu và cuộc sống
du canh du cư luôn tiếp diễn Các ngành tiểu thủ công nghiệp hầu như chưa
có, chỉ có nghề dệt vải phục vụ cho cái mặc hàng ngày Ở Mường Phiêng,Mường Sại có nghề đóng thuyền độc mộc, chợ búa hầu như chưa hình thành,giao thông chưa phát triển từ huyện đi các vùng đều bằng đường mòn
Năm 1975 Tổ quốc ta, nhân dân ta đã giành được thắng lợi hoàn toàn vàtrọn vẹn trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước Xuất phát từ yêu cầunhiệm vụ cách mạng và đời sông nhân dân các dân tộc trong huyện, với đặcđiểm điều kiện địa phương, huyện đã phát động các phong trào: đẩy mạnh thâmcanh tăng năng xuất lúa ruộng; tích cực bảo vệ rừng, củng cố phong trào hợp táchóa, toàn dân làm công tác giao thông…Nhân dân các dân tộc trong huyện đãthực hiện mục tiêu đề ra và hoàn thành vượt kế hoạch nhà nước năm 1975
Bước sang năm 1976 mặc dù thời tiết khắc nghiệt, sương muối bănggiá kéo dài làm cho 34 tấn mạ giống bị chết, sâu bệnh, mưa đá ở Mương Sại,Chiềng Bằng, Chiềng Ly….Nhưng với sự chỉ đạo sát sao của Huyện ủy, nhândân gieo thêm 9 tấn lúa giống, phát động chăm bón kịp thời, đề ra các biệnpháp chống sâu bệnh, đảm bảo nước tưới nên vụ chiêm xuân giành thắng lợi.Tổng diện tích gieo trồng 4.244 ha, năng xuất đạt gần 3 tấn/ha Trong nhữngnăm 1977-1980 nhân dân các dân tộc Thuận Châu đã nỗ lực phấn đấu mang
Trang 19* Về Nông nghiệp
Diện tích gieo trồng: Tổng diện tích gieo trồng hằng năm tăng 1,6%.Diện tích lúa xuân từ 21 ha năm 1977 tăng lên 119 ha năm 1979, bình quânhai vụ đạt 5 tấn / ha Tổng sản lượng lương thực bình quân hàng năm đạt23.500 tấn trong đó màu chiếm tỷ trọng 50,2% Có 6 xã và 25 hợp tác xã đạt
5 tấn thóc trở lên/ha
Chăn nuôi: Mặc dù thời tiết khắc nghiệt sương muối, giá rét và bệnhdịch xảy ra, thức ăn dự trữ cho gia súc thiếu, kỹ thuật chăn nuôi chưa đổi mớinhưng các hợp tác xã và gia đình đã chủ động tự giải quyết nên đàn trâu tăng8,3%, đàn bò tăng 13,5%, đàn ngựa tăng 22,3%, đàn lợn tăng 11,3%, gia cầmtăng 2,27% ngoài ra nhân dân còn nuôi ong và chăn tằm
* Về sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp:
Các xí nghiệp của tỉnh đóng trên địa bàn như nhà máy xi măng ChiềngPấc hoàn thành vượt mức kế hoạch 7,9% Xí nghiệp đường nhiều năm hoànthành vượt mức kế hoạch được Chính phủ tặng bằng khen
Tổng giá trị sản lượng thủ công nghiệp hằng năm tăng 12,8%, gạch đạt1,5 triệu viên, ngói 75.000 viên, vôi 470 tấn, cát 1.065 khối, khai thác 1.100khối gỗ, 9.0000 cây tre và 18.0000 cây nứa Ngành cơ khí sản xuất nông cụ
và chế biến lương thực cũng được đẩy mạnh
* Công tác giao thông vận tải và bưu điện:
Giao thông vận tải và bưu điện phát triển mạnh, góp phần cải thiện sinhhoạt và đi lại của nhân dân kịp thời và thuận tiện Trong những năm 1977-
1980 huyện đã huy động được 396.000 ngày công, mở rộng 125,5 km đường
ra ruộng lên nương, vào khu khai thác lâm nghiệp tổng khối lượng đào đắp129.000 m3 đất, làm mới và sửa chữa 19 cầu treo Với địa bàn rộng lớn, đi lạikhó khăn, cán bộ thiếu nhưng ngành bưu điện vẫn đảm bảo thông tin liên lạcthông suốt, phục vụ tốt công tác lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ chínhtrị của Đảng bộ
Trang 20* Ngành ngân hàng, tài chính:
Không ngừng tăng nguồn thu nâng mức thu hàng năm tăng lên 17,6%
Xã Noong Lay và Bản Lầm có 100% số hộ tham gia gửi tiết kiệm Đi đôi vớităng nguồn thu là phấn đấu giảm bội chi, tích cực huy động lương thực, thumua lâm sản và thực phẩm
* Các ngành kinh doanh phục vụ khác:
Cửa hàng ăn uống, ngoại thương, thương nghiệp đều hoàn thành vượtmức kế hoạch Vận chuyển hàng năm hơn 300 tấn hàng hóa đi các vùng tronghuyện Xong chưa thực sự khai thác và tận dụng được tiềm năng, thế mạnhcủa địa phương
Từ những năm 1980-1986 thực hiện Nghị quyết Trung ương sáu (khóaIV) nhân dân các dân tộc Thuận Châu đã vươn lên giành nhiều thắng lợi trênmặt trận sản xuất
* Sản xuất nông, lâm, thủy sản:
Diện tích gieo trồng năm 1980 đạt 14.849ha, năm 1981 đạt 15.191,4ha,năm 1982 đạt là 16.438ha, tăng 7,1% so với kế hoạch Tổng sản lượng năm
1982 đạt 27.057 tấn tăng 7.175 tấn so với năm 1981 Hàng năm Thuận Châuđóng góp cho nhà nước từ 2000 đến 3.5000 tấn lương thực và từ 150 đến 180tấn thực phẩm Với phương châm nông lâm kết hợp, huyện đã tiến hành quyhoạch rừng và đất rừng cho từng vùng, từng tiểu khu, từng xã và hợp tác xãquản lí Sản xuất cây công nghiệp được chú trọng, có quy hoạch cụ thể nhưchè, mía, đậu tương…và có nhiều triển vọng như chè từ 7ha năm 1980 tănglên 23ha năm 1982 Cây mía cung cấp gần 4000 tấn Chăn nuôi tăng trưởngmạnh năm 1982 đàn trâu tăng 3%, đàn bò tăng 4-5%, gia cầm tăng 7,2%, nuôi
cá tăng gấp 3 lần so với năm 1977
* Sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp:
Trong ba năm (1980-1982) đã khắc phục khó khăn về nguyên liệu,
Trang 21đảm bảo cung cấp các công cụ sản xuất nông nghiệp và gạch ngói, xi măngcho xây dựng, gốm ,sứ cho nhu cầu tiêu dùng… đưa tổng giá trị từ 12,6%tăng lên 15%.
và đời sông nhân dân Tổng doanh thu năm 1982 đạt 27.500.000 đồng, vượt10% so với kế hoạch Đẩy mạnh khai thác và xuất khẩu các nguyên liệu sẵn có ởđịa phương: cần câu trúc, sắn lát, ngô, gỗ lát…
1.1.4.2 Giai đoạn từ năm 1986 đến năm 2012
Đại hội lần thứ sáu của Đảng (12-1986) đã khởi sướng công cuộc đổimới toàn diện đất nước, chuyển cơ chế quản lý từ tập trung bao cấp sanghạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa, thực hiện chính sách kinh tế nhiềuthành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa Từ năm 1986-1990 Đảng bộ
và nhân dân các dân tộc huyện Thuận Châu đã cải tiến quản lý trong kinh
tế, khoán sản phẩm đến nhóm và người lao động, hạch toán kinh doanh xãhội chủ nghĩa, do vậy vụ đông xuân 1986-1987 toàn huyện trồng được14,441 ha cây lương thực, 873,6 ha cây công nghiệp thực phẩm Đàn giasúc năm 1987 có 32.300 con lợn, 14.950 con bò, 12.640 con trâu Công táckhoanh nuôi bảo vệ rừng trồng có nhiều chuyển biến, thu hơn 1 triệu đồngthuế nuôi rừng và bảo vệ 10 ngàn hec ta rừng , đạt 100% kế hoạch Sảnxuất công nghiệp đã sản xuất ra nhiều mặt hàng gia dụng hợp với thị hiếucủa người tiêu dùng Mở 7,5 km đường từ Co Mạ đi Mường Bám, sửa
Trang 22chữa, thông xe các tuyến đường Muổi Nọi, Bản Lầm, Chiềng Mường Sại phục vụ 30 ngàn lượt khách trong năm, đảm bảo thông tinthong suốt từ vùng thấp tới vùng cao trong mọi thời tiết.
Khoang-Công tác lưu thông phân phối tài chính, ngân hàng cũng có nhiều tiến
bộ, chợ thị trấn được sắp xếp lại, mở chợ mới ở Chiềng Pấc Tổng thu ngânsách trong toàn huyện đạt 64,5 triệu đồng, tổng chi là 65 triệu đồng
Những năm 1991-2000 toàn huyện đã có sự chuyển biến tích cực trongsản xuất, kinh tế nông-lâm nghiệp theo hướng phát triển sản xuất hàng hóa,tạo tiền đề cho việc mở rộng quy mô sản xuất hàng hóa với khối lượng sảnphẩm lớn cho những năm tiếp theo phù hợp với lợi thế kinh tế của huyện.Công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp có chuyển biến rõ rệt nhất là trong sảnxuất xi măng và thủy điện Ngoài thủy điện Chiềng Ngàm cấp điện tới sáu xã
và thị trấn còn có các trạm thủy điện nhỏ ở các xã Nậm Lầu, Chiềng Bôm,Phỏng Lái, Bó Mười, Mường Khiêng, Mường Sại Hoạt động tốt và pháttriển mạnh ở các gia đình vùng sâu, vùng xa góp phần cải thiện sinh hoạt củanhân dân Việc sản xuất gạch ngói, các dịch vụ rèn, mộc, sữa chữa, may mặc,xay xát lương thực tiếp tục phát triển đáp ứng yêu cầu sản xuất và đời sống.Công tác tài chính-ngân hàng được chấn chỉnh và đổi mới chống thất thu, đápứng nhu cầu chi Kinh tế hợp tác xã được đổi mới với cơ chế quản lý gọn, phùhợp với địa phương Kinh tế hộ gia đình thúc đẩy sản xuất phát triển và hìnhthành cơ cấu kinh tế mới Cơ sở hạ tầng từng bước được xây dựng với tống sốvốn đầu tư từ 900 triệu đồng năm 1992 lên gần 4 tỷ đông năm 1993 chủ yếutrong các lĩnh vực: giao thông, thủy lợi, bệnh viện, trường học, nước ăn
Bước sang thế kỷ 21 kinh tế của huyện tiếp tục phát triển với tốc độtăng trưởng khá; cơ cấu kinh tế chuyển dịch tích cực, chất lượng, hiệu quả
và sức cạnh tranh của nền kinh tế từng bước được nâng lên; các ngành, cáclĩnh vực, các vùng, các thành phần kinh tế đều có bước phát triển tiến bộ
Trang 23Thu ngân sách vượt kế hoạch; thu hút và sử dụng có hiệu quả các nguồn lựcđầu tư Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội được tăng cường; thực hiện có hiệuquả các giải pháp bảo đảm ổn định kinh tế, kiềm chế lạm phát, ngăn chặnsuy giảm kinh tế; chủ động đối phó với những diễn biến bất lợi của khí hậu,thiên tai; công tác di dân tái định cư dự án thuỷ điện Sơn La, công tác bồithường, giải phóng mặt bằng dự án cải tạo, nâng cấp quốc lộ 6 giai đoạn II(Sơn La - Tuần Giáo), chương trình phát triển cây cao su được Uỷ bannhân dân huyện triển khai toàn diện và đạt được những kết quả quan trọng.
Tổng sản phẩm nội địa năm 2012 ước đạt 638,92 tỷ đồng, bằng247,54% so với năm 2005; tốc độ tăng trưởng bình quân 7 năm (2006 - 2012)đạt 13,83%/năm (Nghị quyết đại hội là 13%/năm) Với sự tăng trưởng nhưvậy, Tổng sản phẩm nội địa bình quân đầu người năm 2012 ước đạt 12,04triệu đồng, tăng 2,6 lần so với năm 2005, tốc độ tăng trung bình qua 7 năm là14,61% Tuy nhiên, Thuận Châu vẫn là huyện có thu nhập thấp hơn so vớimột số huyện trong toàn tỉnh Thu nhập bình quân đầu người thấp nên vốn nộilực cho phát triển kinh tế của vùng còn hạn hẹp Quy mô kinh tế huyện ThuậnChâu còn nhỏ lẻ, thiếu sức cạnh tranh, tập quán sản xuất lạc hậu Chính vìvậy, trong quá trình phát triển kinh tế hiện nay, so với cả nước thì ThuậnChâu vẫn là vùng nghèo về kinh tế
Cơ cấu ngành kinh tế có sự chuyển dịch tích cực theo hướng giảm tỷtrọng nông - lâm nghiệp, tăng tỷ trọng công nghiệp - xây dựng và dịch vụ Trong
7 năm (2006 - 2012), tỷ trọng tổng sản phẩm nội địa ngành nông - lâm nghiệpgiảm từ 59,01% năm 2005 xuống 47,85% năm 2012; tỷ trọng tổng sản phẩmnội địa ngành công nghiệp - xây dựng tăng từ 13,82% lên 21,21% năm 2012; tỷtrọng tổng sản phẩm nội địa ngành dịch vụ tăng từ 27,17% lên 30,93% Tuy cơcấu tổng sản phẩm nội địa đã có sự chuyển biến tích cực, nhưng tỷ trọng củangành công nghiệp, xây dựng hiện đang rất thấp Vì vậy, trong tương lai huyện
Trang 24Thuận Châu cần tiếp tục chuyển dịch cơ cấu tổng sản phẩm nội địa theo hướnggiảm tỷ trọng nông , lâm nghiệp, tăng tỷ trọng công nghiệp , xây dựng và dịch
Thự c hiện năm 2005
Thực hiện giai đoạn 2006 – 2012
Nă m 2006
Nă m 2007
Nă m 2008
Nă m 2009
Nă m 2010
Nă m 2011
Nă m 2012
Tốc độ tăng trưởn
g bình quân
Cơ cấu theo
ngành kinh tế % 100 100 100 100 100 100 100 100 100
- Nông, lâm
nghiệp, thuỷ sản %
59.0 1
57.2 2
55.7 2
53.2 1
52.1 8
50.2 6
49.1 3
15.8 3
16.6 8
18.0 5
18.6 8
20.3 3
20.6 5
27.6 0
28.7 4
29.1 4
29.4 1
30.2 1
30.9
3 101.88
(Nguồn: Báo cáo kinh tế hàng năm của Ủy Ban Nhân Dân huyện Thuận Châu)
* Sản xuất nông, lâm nghiệp, thuỷ sản:
Mặc dù trong những năm gần đây bị ảnh hưởng bởi thời tiết rét đậm,rét hại, hạn hán, sâu bệnh, giá cả đầu vào tăng cao Song sản lượng lươngthực liên tục tăng, an ninh lương thực được bảo đảm; tập trung thâm canhdiện tích cây lương thực, giảm diện tích lúa nương trên đất dốc, tăng cườngứng dụng giống mới, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất đểnâng cao chất lượng nông sản hàng hoá và thu nhập trên 1 đơn vị diện tíchđất canh tác
Giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp, thuỷ sản năm 2012 ước đạt 336,49 tỷđồng, bằng 158,2% so với năm 2005, bình quân tăng 6,94%/ năm (không đạtchỉ tiêu đề ra 8 - 9%)
Trang 25Sản xuất lương thực theo quan điểm đảm bảo an ninh lương thực và sảnxuất hàng hoá, đẩy mạnh thâm canh, tăng vụ, đưa giống mới có năng suất cao,
áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất Sản lượng lương thực có hạtnăm 2012 ước đạt 51.685 tấn - không đạt chỉ tiêu đề ra (chỉ tiêu đề ra là 55.000tấn); bình quân lương thực đầu người năm 2010 ước đạt 343 kg/người (mục tiêu
đề ra là 370 kg/người) Nguyên nhân của sản lượng lương thực có hạt không đạt
so với chỉ tiêu đề ra là do: bị ảnh hưởng bởi thời tiết rét đậm, rét hại, hạn hán,sâu bệnh, giá cả đầu vào tăng cao, trình độ dân trí còn thấp, một số vùng cònchưa có điện, chưa có sóng tivi nên việc tiếp cận với các thông tin dự báothời tiết còn hạn chế (Phụ lục-bảng 1.2)
Trang 26Bảng 1.2: Giá trị sản xuất các ngành kinh tế của huyện Thuận Châu giai đoạn 2006 - 2012
Chỉ tiêu Đơn vị tính
Thực hiện năm 2005
Thực hiện giai đoạn 2006 - 2012
Năm 2006
Năm 2007
Năm 2008
Năm 2009
Năm 2010
Năm 2011
Năm 2012
Tốc độ tăng trưởng bình quân
Trang 27* Sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp:
Sản xuất công nghiệp, thủ công nghiệp duy trì mức tăng trưởng cao,
có chuyển biến tích cực về nâng cao chất lượng sản phẩm và hiệu quả sản
xuất kinh doanh, tăng tỷ trọng các sản phẩm qua chế biến, nhất là các sảnphẩm có lợi thế sử dụng nguyên liệu của địa phương; đã hình thành một
số cụm, điểm chế biến nông sản và khai thác đá làm vật liệu xây dựng cóquy mô lớn tại xã Tông Lạnh, Chiềng Pấc, Phổng Lái, Noong Lay, ChiềngPha, Bon Phặng, Muổi Nọi, Tông Cọ Huyện đã chủ động kêu gọi và tạođiều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư đến đầu tư vào địa bàn Trong giaiđoạn 2006-2010, đã thu hút được 3 dự án với số vốn đăng ký 750 tỷ đồng(thuỷ điện Nậm Hoá 1, 2, công suất 26 MW, vốn đầu tư 498 tỷ đồng, thuỷđiện Chiềng Ngàm Thượng, công suất 10MW, vốn đầu tư 240 tỷ đồng,nhà máy sản xuất gạch Tuynel Chiềng Pha, công suất 20 triệu viên/năm,vốn đầu tư 12 tỷ đồng) Giá trị sản xuất công nghiệp, thủ công nghiệp giaiđoạn (2006 - 2010) ước đạt 215,2 tỷ đồng (trong đó năm 2010 là 57,5 tỷđồng, bằng 90,1% so với chỉ tiêu kế hoạch đề ra, bằng 231,48% so vớinăm 2005); mức tăng trưởng bình quân 18,76%/năm Nguyên nhân giá trịsản xuất công nghiệp, thủ công nghiệp giai đoạn này không đạt so mớimục tiêu đề ra một phần do trình độ quản lý của các cấp, do không hoànthành kế hoạch lương thực có hạt năm 2012
* Các ngành dịch vụ:
Phát triển các loại hình dịch vụ có thế mạnh và lợi thế so sánh, có giátrị gia tăng cao Tăng cường phát triển hệ thống dịch vụ phục vụ sản xuất vàđời sống của nhân dân, nhất là việc đảm bảo cung ứng các loại hàng hoá phục
vụ nhu cầu thiết yếu cho địa bàn vùng sâu, vùng xa; tổ chức tốt việc tiêu thụhàng hoá nông, lâm sản cho nông dân, hạn chế tối đa hiện tượng đầu cơ, gămhàng, nâng giá và gian lận thương mại Thị trường không ngừng được mở
Trang 28rộng, nhất là thị trường nông thôn, hệ thống các chợ trung tâm xã, cụm xã,chợ phiên được quan tâm đầu tư xây dựng và duy trì phát triển Trong giaiđoạn 2006-2010, đã đầu tư xây dựng và đưa chợ trung tâm thị trấn ThuậnChâu, trung tâm thương mại Thuận Châu và 04 chợ trung tâm cụm xã: NậmLầu, Muổi Nọi, Thôm Mòn, Mường Bám, chợ buôn bán gia súc tại xã CoMạ phục vụ nhu cầu trao đổi, buôn bán hàng hoá của nhân dân Giá trị sảnxuất ngành dịch vụ năm 2010 ước đạt 315 tỷ đồng, bằng 183,61% so với năm
2005, bình quân tăng 15,31%/năm, bằng 105% so với chỉ tiêu đề ra.
Các hoạt động dịch vụ được tăng cường, mở rộng và phát triển, nhất làdịch vụ vận tải, tín dụng ngân hàng góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, giảiquyết việc làm và tăng thu nhập cho nhân dân Số lượng hàng hoá vận chuyểntăng 3,4%/năm, số lượng hành khách đạt trung bình 49.172 người/năm, tăngbình quân 12,87%/năm
Hệ thống bưu chính viễn thông có bước phát triển khá, mạng lưới bưuchính viễn thống phát triển mạnh, đáp ứng yêu cầu thông tin, phục vụ cho cáchoạt động chính trị, kinh tế xã hội và an ninh quốc phòng; các điểm bưu điệnvăn hoá xã được mở rộng, toàn huyện có 29/29 điểm bưu điện văn hoá xã;100% số xã có điện thoại; 27/29 xã và thị trấn được phủ sóng điện thoại diđộng, đến hết năm 2010, mật độ máy điện thoại đạt 30 máy/100 dân, vượt cao
so với mục tiêu kế hoạch đề ra đến năm 2012 (6 máy/100 dân)
Như vậy, trong giai đoạn vừa qua, kinh tế của huyện Thuận Châu đã cónhững chuyển biến tích cực cả về chiều rộng lẫn chiều sâu, tuy nhiên sự pháttriển này không đồng đều giữa các vùng, các xã, thôn bản trong huyện Sựphát triển kinh tế vẫn tập trung ở nơi có điều kiện phát triển như: Thị trấnhuyện Thuận Châu, và các xã bản dọc theo trục quốc lộ 6 và một số xã đượcđầu tư cơ sở hạ tầng tốt Còn một số xã ở vùng xâu, vùng xa hơn, nơi chưa cóđiện, chưa có đường bê tông cố hóa, thông tin liên lạc còn hạn chế thì kinh tế
Trang 29vẫn còn trì trệ và bà con nghèo nơi đây vẫn nghèo, một số còn tái nghèo Nhưvậy, với chủ trương của huyện là phát triển kinh tế để xóa đói giảm nghèo cho
bà con nghèo chưa thực sự đạt kết quả cao, tỷ lệ nghèo đói vẫn còn gia tăng
1.1.5 Đặc điểm văn hóa - xã hội
* Một vài nét về văn hóa truyền thống
Tây Bắc, một vùng văn hoá, xứ sở hoa ban, quê hương xoè hoa, miềnđất dịu ngọt của những thiên tình sử tiễn dặn người yêu nhưng cũng đầy tiếngthan thở của những thân phận người làm dâu
Tây Bắc là vùng có tiềm năng, thế mạnh phát triển du lịch, văn hóa Lànơi sinh sống của hơn 30 dân tộc anh em với một không gian văn hóa rộnglớn và phong phú Đây cũng là vùng đất có nhiều nét văn hóa dân tộc rất đặctrưng, có cảnh quan hùng vĩ, hệ sinh thái phong phú; quê hương của nhữngđiệu xòe; miền đất dịu ngọt của những điệu hát then, hát lượn gắn với các lễhội truyền thống.
Trong những năm qua, được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, cơ sở
hạ tầng của huyện được tập trung đầu tư xây dựng, từng bước đáp ứng nhucầu cho sản xuất và sinh hoạt của nhân dân; các lĩnh vực văn hóa, giáo dục, y
tế được quan tâm và phát triển, các lĩnh vực xã hội được quan tâm hỗ trợ, đờisống vật chất và tinh thần của đồng bào dân tộc từng bước được nâng lên
Trải qua suốt chiều dài lịch sử, cộng đồng các dân tộc huyện ThuậnChâu đã sáng tạo nên những di sản văn hóa đặc sắc và mang nhiều giá trị.Trong đó, các di tích lịch sử được gìn giữ và lưu truyền qua nhiều thế hệ, có
vị trí, vai trò quan trọng trong đời sống con người, là sự kết tinh trí tuệ, sứcsáng tạo của người dân
Trên địa bàn huyện có một số địa danh đã được công nhận là địa điểm
để khách thập phương có thể đến thăm quan du lịch như: Di tích lịch sử kỳđài Thuận Châu - nơi Bác Hồ đến thăm và nói chuyện với đồng bào khu Tây
Trang 30Bắc nhân kỷ niệm 5 năm chiến thắng Điện Biên Phủ; di tích quốc gia ThápMường Bám; khu căn cứ du kích xã Long Hẹ, hang bản Thẳm, xã Tông Lạnh;đèo Pha Đin - con dốc huyền thoại chị gánh anh thồ ra tiền tuyến, tiếp lươngtải đạn cho chiến dịch Điện Biên Phủ; khu bảo tồn thiên nhiên Copia; hangMái Đá bản Mòn, xã Thôm Mòn; cầu Nà Hày - di tích lịch sử xã Thôm Mòn.
Trong dân gian, từ quá trình lao động và sản xuất, người dân Thuận Châu
có nhiều nét văn hóa đã được lưu giữ và truyền lại cho thế hệ con cháu như một
số lễ hội đặc sắc là nơi quần cư của cộng đồng 6 dân tộc anh em, trong đó dântộc Thái chiếm chủ yếu Thuận Châu là miền đất có truyền thống văn hóa phongphú, đa dạng, các hoạt động tín ngưỡng, phong tục tập quán và lễ hội dân gianđặc sắc như: Lễ hội Xên Lẩu Nó, Lễ hội Xên Bản, Lễ hội mừng cơm mới củadân tộc Khơ Mú…
Văn hoá - xã hội có nhiều tiến bộ, đời sống vật chất tinh thần nhân dânđược cải thiện, công tác xoá đói, giảm nghèo đạt được kết quả quan trọng, cácvấn đề xã hội được quan tâm và tập trung giải quyết
Về giáo dục: Được củng cố và phát triển khá toàn diện, các cấp học,
ngành học, từng bước được đào tạo theo hướng chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hộihoá Cho đến nay, huyện đã hoàn thành công tác phổ cập giáo dục tiểu họcđúng độ tuổi và phổ cập giáo dục trung học cơ sở, đẩy mạnh triển khai thựchiện phổ cập trung học phổ thông; phổ cập giáo dục Mầm non cho trẻ 5 tuổitrong toàn huyện (đã có 8/29 xã, thị trấn hoàn thành phổ cập giáo dục mầmnon cho trẻ em 5 tuổi) Tập trung chỉ đạo các trường học, bậc học, nâng caochất lượng giảng dạy và học tập, hoàn thành kế hoạch năm học 2010 - 2011;chuẩn bị tốt các điều kiện để khai giảng và triển khai năm học 2011-2012; ràsoát kết quả phổ cập giáo dục tiểu học
Hệ thống cơ sở vật chất, trang thiết bị của các nhà trường được quan tâmđầu tư, phục vụ cho công tác giảng dạy và học tập của giáo viên và học sinh, ưu
Trang 31tiên các trường, cụm trường còn khó khăn Tính đến nay, trên địa bàn toàn huyện
đã có 1.752 phòng học được đầu tư xây dựng kiên cố và bán kiên cố (trong đó có
721 phòng học cao tầng, 528 phòng học cấp IV, 503 phòng học tạm)
Văn hoá, thể dục thể thao: Các hoạt động văn hoá, văn nghệ, truyền thanh,
truyền hình phát triển cả chiều rộng lẫn chiều sâu, góp phần nâng cao đời sốngvăn hoá của nhân dân, làm tăng hiệu quả công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, phổbiến pháp luật; tập trung vào các lĩnh vực như: Tuyên truyền công tác di dân, táiđịnh cư thuỷ điện Sơn La, chương trình phát triển cây cao su, cây sơn tra, chươngtrình xây dựng nông thôn mới, phát triển chăn nuôi đại gia súc; tuyên truyền cácbản sắc văn hoá dân tộc gắn với đảm bảo thời lượng phát sóng phục vụ nhân dân.Tiếp tục đẩy mạnh phong trào "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá”,triển khai kế hoạch đầu tư thiết chế văn hóa cơ sở Trong năm 2012 đã tổ chứcđược 310 buổi tuyên truyền cổ động; có 26% số xã, thị trấn đạt tiêu chuẩn vănhoá, 55% gia đình văn hóa, 19,5% số gia đình thể thao; 25% số người luyện tậpthể dục, thể thao thường xuyên, duy trì hoạt động của 420 đội văn nghệ Chuẩn bịcác điều kiện, nội dung tổ chức kỷ niệm 60 năm ngày giải phóng Thuận Châu
Công tác bảo vệ, chăm sóc sức khỏe ban đầu cho nhân dân: Thực hiện
có hiệu quả các chương trình y tế quốc gia; làm tốt công tác khám chữa bệnhcho nhân dân tại các cơ sở y tế Trong năm 2012, đã tổ chức khám chữa bệnhcho trên 100.000 lượt người; điều trị nội trú cho 6.675 lượt người Tính đếnnay, 100% số xã có trạm xá, trạm y tế được xây dựng kiên cố; 14 trạm y tế đạtchuẩn quốc gia, 19/29 trạm y tế xã có bác sĩ, 554/569 số bản có y tá bản
Chương trình dân số - kế hoạch hóa gia đình và trẻ em: Được triển khai
thực hiện có hiệu quả; đã đưa dịch vụ chăm sóc sức khoẻ sinh sản, kế hoạch hóagia đình đến 29/29 xã, thị trấn Đến nay, 100% số xã, bản trên địa bàn huyện đã cócộng tác viên về dân số kế hoạch hoá gia đình và trẻ em; tỷ lệ tăng dân số tự nhiêngiảm xuống còn 1,59%; quy mô dân số ước 2012 là 156.965 người, tỷ lệ trẻ emsuy dinh dưỡng dưới 5 tuổi giảm xuống còn 17,5%
Trang 32* Về xã hội:
Thuận Châu là một huyện miền núi, địa hình hiểm trở, phức tạp, là mộttrong những huyện nghèo của tỉnh Sơn La, xuất phát điểm của nền kinh tế - xãhội thấp, sản xuất chủ yếu là tự cung tự cấp, thu nhập bình quân đầu người thấp,
tỷ lệ hộ nghèo cao Đơn vị hành chính toàn huyện gồm có 28 xã và 1 thị trấn,phân ra 3 vùng:
- Vùng I là vùng kinh tế động lực dọc quốc lộ 6 gồm 5 xã và 1 thị trấn:Thị trấn Thuận Châu; Chiềng Ly, Chiềng Pấc, Thôm Mòn, Tông Lạnh, Liệp Tè
Vùng II là vùng có điều kiện kinh tế khó khăn về phát triển kinh tế
-xã hội, thuộc phía Nam quốc lộ 6 gồm 13 -xã: Bon Phặng, Chiềng La, ChiềngPha, Mường É, Phổng Lái, Phổng Lăng, Tông Cọ, Bó Mười, Chiềng Ngàm,Muổi Nọi, Mường Khiêng, Noong Lay, Púng Tra
- Vùng III gồm 10 xã đặc biệt khó khăn: Bản Lầm, Chiềng Bôm, Co Mạ,
Co Tòng, É Tòng, Long Hẹ, Mường Bám, Nậm Lầu, Pá Lông, Phổng Lập
Năm 2012 toàn huyện có 31.371 hộ trong đó có 12.519 hộ nghèo tươngứng với 58.740 nhân khẩu nghèo; chiếm tỷ lệ 39,91% số hộ trong toàn huyệntrong đó: Tỷ lệ hộ nghèo ở khu vực nông thôn chiếm 99,92%; khu vực thành
thị chiếm 0,08%, tỷ lệ hộ nghèo là người dân tộc thiểu số chiếm 98,47% (so với tổng số hộ nghèo).
Tỷ lệ hộ nghèo theo tiêu chí mới ban hành tại Quyết định số170/2005/QĐ-TTg ngày 08/7/2005 của Thủ tướng Chính phủ về việc banhành chuẩn nghèo áp dụng cho giai đoạn 2006 - 2010 trên địa bàn huyệnđược điều tra năm 2005 là 43,7%, tới tháng 11/2009, tỷ lệ hộ nghèo còn33,38%; thực hiện chương trình xoá đói giảm nghèo giai đoạn 2006 - 2010,
tỷ lệ hộ nghèo trên địa bàn huyện đã giảm 10,32% Như vậy có thể thấytrong vòng 5 năm số hộ nghèo của huyện giảm 10,32%, số hộ giàu, hộ khátrung bình tăng lên
Trang 33Tỷ lệ hộ nghèo giảm nhanh, năm 2006 tỷ lệ hộ nghèo toàn huyện là43,33%, đến năm 2012 tỷ lệ hộ nghèo còn 39,91% Đây là kết quả đúng, sátvới tiêu chí hộ nghèo và tình hình thực tế của các xã, thị trấn trong huyện Đa
số hộ nghèo được hỗ trợ thoát nghèo, tỷ lệ hộ nghèo của 19 xã và thị trấn có
xã Co Tòng tỷ lệ hộ nghèo giảm nhanh từ 77,72% ở năm 2006 xuống còn37,88% năm 2012
1.2 Một số vấn đề liên quan đến xóa đói giảm nghèo
1.2.1 Khái niệm về đói nghèo
Đói nghèo, hiểu theo nghĩa chung, là tình trạng thiếu hụt những điềukiện cần thiết để đảm bảo mức sống tối thiểu của một cá nhân hay một cộngđồng dân cư Theo cách hiểu này, đói nghèo là tình trạng thiếu hụt những điềukiện vật chất như: thức ăn, nước uống, quần áo… Đói nghèo cũng có thể làtình trạng thiếu hụt những điều kiện về mặt xã hội như: giáo dục, chăm sócsức khỏe, cung cấp thông tin, quan hệ cộng đồng Trong xã hội phát triển, sựthiếu hụt còn có thể bao hàm cả tự do tôn giáo, tự do tín ngưỡng
Năm 1993, Uỷ ban Kinh tế - xã hội khu vực châu Á – Thái Bình Dương
đã đưa ra định nghĩa nghèo đói như sau: “Nghèo là tình trạng một bộ phận dân
cư không được hưởng và thỏa mãn nhu cầu cơ bản của con người, mà nhữngnhu cầu này được xã hội thừa nhận tuỳ theo trình độ phát triển kinh tế - xã hội
và phong tục tập quán của địa phương”[10, Tr 5.] Đây được xem là định nghĩachung nhất về nghèo đói Nó mang tính chất hướng dẫn cho phương pháp đánhgiá, nhận diện nét chính yếu của sự nghèo đói với các tiêu chí còn để ngỏ vềmặt định lượng Quan niệm hạt nhân có trong định nghĩa này là nhu cầu cơ bảncủa con người, tức là những yếu tố thiết yếu để duy trì sự sống cho con ngườinhư ăn, ở, mặc Căn cứ để xác định đói hay nghèo là ở chỗ con người khôngđược hưởng và thỏa mãn những nhu cầu cơ bản ấy
Năm 1995, hội nghị thượng đỉnh thế giới về phát triển xã hội tổ chức
Trang 34tại Copenhaghen - Đan Mạch đưa ra định nghĩa đói nghèo như sau: Ngườinghèo là tất cả những cái mà thu nhập thấp hơn 1USD/ngày, là số tiền đượccoi như đủ mua những sản phẩm tất yếu để tồn tại.
Tháng 6 - 2000 ở Giơneve, trong cuộc họp đặc biệt của Đại hội đồngLiên Hiệp quốc về phát triển xã hội Cộng đồng quốc tế tiếp tục cam kết thựchiện mục tiêu xoá đói giảm nghèo: đến năm 2015 giảm một nửa người nghèotrên thế giới Hội nghị đã kêu gọi Cộng đồng quốc tế đẩy mạnh chiến dịch
“Tấn công vào nghèo đói” và khuyến nghị các quốc gia cần có chiến lượctoàn diện về xóa đói giảm nghèo Tiếp đó, tháng 9 - 2000, Hội nghị Thiênniên kỷ của Liên Hiệp quốc tại Oasinhtơn một lần nữa khẳng định chống đóinghèo được coi `là một trong những nội dung quan trọng, ưu tiên hàng đầutrong các mục tiêu phát triển của thế giới hiện nay
Tuy có nhiều quan niệm khác nhau về đói nghèo, nhưng các quan niệm
đó đều được phản ánh trên các khía cạnh: Không có hoặc ít được hưởng thụnhững nhu cầu cơ bản ở mức tối thiểu của cuộc sống con người; mức sốngthấp hơn mức sống trung bình của cộng đồng dân cư địa phương; thiếu hoặckhông có cơ hội lựa chọn để tham gia vào quá trình phát triển của cộng đồng
Từ những điểm chung đó, có thể đưa ra các khái niệm đói nghèo như sau:
Đói là tình trạng một bộ phận dân cư có mức sống dưới mức tối thiểu
và thu nhập không đủ bảo đảm nhu cầu về vật chất để duy trì cuộc sống Đó lànhững hộ dân cư hàng năm thiếu ăn, đứt bữa từ một đến hai tháng, thườngvay nợ của cộng đồng và không có khả năng chi trả Tuỳ thuộc vào khả năngđảm bảo nhu cầu lương thực, thực phẩm để duy trì cuộc sống trong năm
Nghèo là khái niệm chỉ tình trạng mà thu nhập thực tế của người dânhầu như chỉ chi đủ cho nhu cầu ăn, thậm chí không đủ chi cho nhu cầu ăn,phần tích lũy hầu như không có Ngoài ra, các nhu cầu khác như ở, mặc, y tế,văn hóa, giáo dục, đi lại, giao tiếp chỉ được đáp ứng một phần rất ít ỏi Khái
Trang 35niệm nghèo thường được sử dụng với hai cấp độ, đó là: Nghèo tuyệt đối vànghèo tương đối.
+ Nghèo tuyệt đối: Là tình trạng của một bộ phận dân cư không có khảnăng thoả mãn các nhu cầu tối thiểu nhằm duy trì cuộc sống Nhu cầu tốithiểu là những bảo đảm ở mức tối thiểu những nhu cầu thiết yếu về ăn, mặc, ở
và nhu cầu sinh hoạt hàng ngày gồm: văn hoá, y tế, giáo dục, đi lại, giao tiếp
+ Nghèo tương đối: Là tình trạng một bộ phận dân cư có mức sốngdưới mức trung bình của cộng đồng tại địa phương mà bộ phận dân cư đóđang sinh sống
Tuy nhiên, khái niệm nghèo có thể thống nhất về mặt định tính songkhông thể thống nhất về mặt định lượng Bởi vì mỗi quốc gia khác nhau thì cómức sống của người dân khác nhau hoặc ngay trong một quốc gia mức sốnggiữa các vùng, miền cũng có sự khác nhau Hơn nữa mặt định lượng của mứcnghèo cũng biến động theo thời gian tương ứng với sự biến động về sự pháttriển kinh tế xã hội của quốc gia đó Vì vậy mỗi quốc gia sẽ tự khảo sát và xâydựng một thước đo mức độ đói nghèo riêng thông qua những tiêu chí cụ thểđược xác định và gọi đó là chuẩn nghèo
Đói nghèo không chỉ là vấn đề của riêng những người rơi vào cảnh đóinghèo, mà còn là một vấn đề xã hội, cần tới sự quan tâm của toàn xã hội Bởi
vì đói nghèo có thể gây ra những tác động tiêu cực về mặt kinh tế và xã hộisâu sắc: Đói nghèo gây suy thoái kinh tế; gia tăng tội phạm xã hội; tăng dịchbệnh do không đủ sức khỏe chống chọi với bệnh tật; gây bất ổn chính trị thậmchí dẫn tới nội chiến, chiến tranh; làm tăng sự phân biệt đối xử giữa ngườinghèo và người giàu; làm giảm tuổi thọ của con người Những hậu quả nàycòn có tính chất xoáy vòng ốc, làm cho người nghèo đã càng nghèo thêm
Chính vì vậy, xóa đói giảm nghèo là mục tiêu quan trọng của bất kỳquốc gia nào nhằm hướng tới phát triển một xã hội công bằng và văn minh
Trang 36Đó là tổng thể các biện pháp của Nhà nước và xã hội, của chính những đốitượng thuộc diện đói nghèo nhằm tạo ra các điều kiện để họ tăng thêm thunhập, thoát khỏi tình trạng thu nhập không đáp ứng nhu cầu tối thiểu trên cơ
sở các chuẩn nghèo được quy định theo từng địa phương và từng giai đoạn
Như vây, xóa đói giảm nghèo, một mặt là sự can thiệp của Nhà nước và
xã hôi, mặt khác là sự tự vận động của chính các đối tượng thuộc diện đóinghèo Trong đó sự can thiệp của Nhà nước và xã hội là sự quan trọng nhưngchỉ mang tính tạo lập môi trường và hỗ trợ, sự tự vươn lên của các đối tượngthuộc diện đói nghèo mới mang tính quyết định Đông thời cũng cần lưu ýrằng, mục tiêu xóa đói giảm nghèo (liên quan đến nghèo tuyệt đối) có thể thựchiện được vì có thể tạo ra được những điều kiện để người đói có thu nhập đápứng các nhu cầu dinh dưỡng Trong đó, nghèo tương đối chỉ có thể giảm màkhông xóa bỏ được hoàn toàn, bởi vì khoảng cách về thu nhập là tồn tại tấtyếu của xã hội, vấn đề là khoảng cách này là rộng hay hẹp mà thôi
Khái niệm về chuẩn nghèo: Chuẩn nghèo (hay còn gọi là đường nghèo,ngưỡng nghèo, hoặc tiêu chuẩn nghèo) là mức thu nhập (hoặc chi tiêu) bìnhquân đầu người mà một quốc gia quy định dùng để làm tiêu chuẩn để xác địnhngười nghèo hoặc hộ nghèo Theo đó: Những người hoặc những hộ có thunhập (hoặc chi tiêu) bình quân đầu người thấp hơn chuẩn nghèo được coi làngười nghèo hoặc hộ nghèo
Giai đoạn 1993-1995:
- Hộ đói: Bình quân thu nhập đầu người quy gạo/tháng dưới 13 kg đốivới thành thị, dưới 8 kg đối với khu vực nông thôn
- Hộ nghèo: Bình quân đầu thu nhập đầu người quy gạo/ tháng dưới 20
kg đối với khu vực thành thị và dưới 15 kg đối với khu vực nông thôn
Giai đoạn 1995-1997:
- Hộ đói: là hộ có mức thu nhập bình quân một người trong hộ mộttháng qui ra gạo dưới 13 kg, tính cho mọi vùng
Trang 37- Hộ nghèo: là hộ có thu nhập:
+ Vùng nông thôn miền núi, hải đảo: dưới 15kg/người/tháng
+ Vùng nông thôn đồng bằng, trung du: dưới 20kg/người/tháng
- Hộ nghèo: là hộ có thu nhập tuỳ theo từng vùng ở các mức tương ứngnhư sau:
+ Vùng nông thôn miền núi, hải đảo: dưới 15kg/người/tháng (tươngđương 55 nghìn đồng)
+ Vùng nông thôn đồng bằng, trung du: dưới 20kg/người/tháng (tươngđương 70 nghìn đồng)
+Vùng thành thị: dưới 25kg/người/tháng (tương đương 90 nghìn đồng).Theo quyết định số 1143/2000/Quyết định, Bộ Lao động Thương binh
xã hội ngày 01/11/2000 quy định chuẩn nghèo áp dụng cho giai đoạn
2001-2005 trên phạm vi toàn quốc đối với từng vùng như sau:
+ Vùng nông thôn miền núi, hải đảo là 80.000đồng/người/tháng
+ Vùng nông thôn đồng bằng là 100.000đồng/người/tháng
Trang 38Cùng với quá trình phát triển, đời sống của nhân dân ngày càng đượccải thiện đồng thời để từng bước tiếp cận với trình độ của các nước đang pháttriển trong khu vực, chuẩn nghèo giai đoạn 2011-2015 đã được điều chỉnh lại
có tính đến các nhân tố ảnh hưởng để tiếp tục công cuộc xóa đói giảm nghèotrong giai đoạn tiếp theo góp phần phát triển kinh tế, xã hội đất nước Quyếtđịnh số 09/2011/Quyết định của Thủ tướng ngày 30/01/2011 ban hành chuẩn
hộ nghèo, hộ cận nghèo như sau:
+ Hộ nghèo ở nông thôn là hộ có mức thu nhập bình quân từ 400.000đồng/người/tháng (từ 4.800.000 đồng/người/năm) trở xuống
+ Hộ nghèo ở thành thị là hộ có mức thu nhập bình quân từ 500.000đồng/người/tháng (từ 6.000.000 đồng/người/năm) trở xuống
+ Hộ cận nghèo ở nông thôn là hộ có mức thu nhập bình quân từ401.000 đồng đến 520.000 đồng/người/tháng
+ Hộ cận nghèo ở thành thị là hộ có mức thu nhập bình quân từ501.000 đồng đến 650.000 đồng/người/tháng
1.2.2 Nguyên nhân đói nghèo:
Đói nghèo là một hiện tượng kinh tế xã hội do lịch sử để lại đồng thờicũng là vấn đề nảy sinh trong quá trình phát triển và hội nhập Đói nghèo ảnhhưởng trực tiếp đến cuộc sống của con người, xã hội và cộng đồng Muốn xóađói giảm nghèo một cách nhanh chóng, hiệu quả nhất thì cần xác định đúngnguyên nhân đói nghèo của mỗi vùng, mỗi khu vực trong mỗi quốc gia để cóbiện pháp, giải pháp… hạn chế, triệt tiêu nguyên nhân gây ra đói nghèo Córất nhiều nguyên nhân khác nhau giữa các vùng, khu vực như khí hậu, thờitiết, giao thông, trình độ dân trí Có thể nhóm các nguyên đó thành hai nhómlớn cụ thể sau:
* Nguyên nhân khách quan
Do điều kiện tự nhiên như: Khí hậu khắc nghiệt, thời thời tiết khôngthuận lợi cho sản xuất, đất đai cằn cỗi, địa hình dốc, đồi núi hiểm trở khócanh tác, thiên tại, bệnh dịch bất ngờ…
Trang 39Do hậu quả chiến tranh tàn khốc đã làm hàng triệu người hi sinh hoặc
bị tàn phế, một số vùng tài nguyên môi trường bị hủy diệt gây ra những hậuquả nặng nề và lâu dài như chất độc màu da cam, đồng ruộng bị hoang hóa dobom mìn…
Do xuất phát điểm nền kinh tế thấp hoặc nền kinh tế kém phát triển như
cơ sở hạ tầng (giao thông, thủy lợi, thông tin, điện thắp sáng, nước sinh hoạt)chưa đáp ứng được yêu cầu sản xuất; thiếu thị trường để giao lưu sản phẩmhàng hóa…
* Nguyên nhân chủ quan
Do bản thân người nghèo: người nghèo thường có trình độ dân trí, họcvấn thấp; không có kinh nghiệm làm ăn, không biết cách sản xuất, kinhdoanh, không biết cách phân bổ chi tiêu hoặc chi tiêu lãng phí thậm chí còn
do lười biếng; do đông con; do gặp phải rủi ro như tại nạn, ốm đau…; dothiếu hoặc không có khả năng lao động, vốn; do mắc tệ nạn xã hội như cờbạc, nghiện hút, lô đề…
Nguyên nhân chủ quan của các cấp chính quyền: trước hết là đội ngũcán bộ giảm nghèo thiếu và yếu; công tác quản lý, đánh giá, giám sát các hoạtđộng giảm nghèo còn nhiều hạn chế; cơ chế chính sách chưa phù hợp, quản lý
vĩ mô kém…
Trên đây là những nguyên nhân cơ bản dẫn đến đói nghèo Song thực tếkhông có một nguyên nhân riêng lẻ, biệt lập dẫn tới nghèo đói nhất là nghèo đóikinh niên, nghèo đói trên diện rộng, có tính chất xã hội Nguyên nhân dẫn tới đóinghèo có sự đan xen giữa chủ quan và khách quan Do đó phải phân tích đóinghèo bằng cách nhận diện chuẩn xác các nguyên nhân, rồi tác động trực tiếpđến các nguyên nhân chủ yếu dẫn đến đói nghèo Đồng thời cũng cần phân tíchnhững tiềm năng, lợi thế, tính chất và đặc điểm đói nghèo của mỗi nhóm hộnghèo, vùng nghèo để phát huy những tiềm năng nội tại kết hợp với các biệnpháp giảm nghèo phù hợp để hiệu quả giảm nghèo bền vững nhất
Trang 401.2.3 Sự cần thiết của công tác xóa đói giảm nghèo
Đói nghèo là một hiện tượng lịch sử, xã hội xuất hiện và tồn tại trong đờisống hiện thực của cộng đồng loài người từ bao đời nay và cho đến nay vẫn chưagiải quyết xong Đây là một trở ngại, một rào cản nghiêm trọng, một thách thứcnghiệt ngã đối với sự phát triển Xuất phát từ những ảnh hưởng của đói nghèo tới
sự phát triển kinh tế xã hội, xóa đói giảm nghèo nổi lên như một nhu cầu bức xúccần phải giải quyết Chính vì vậy, xóa đói giảm nghèo đóng một vai trò hết sức tolớn trong tất cả các mặt của đời sống xã hội, cụ thể như sau:
Xóa đói giảm nghèo là tiền đề của ổn định và phát triển xã hội Xóa đóigiảm nghèo là bộ phận cấu thành quan trọng của phát triển kinh tế xã hội, nếunhư xóa đói giảm nghèo ở đâu đạt hiệu quả cao thì kinh tế xã hội ở đó pháttriển, góp phần vào sự phát triển kinh tế xã hội chung của quốc gia, khuvực…Nếu như quốc gia nào không giải quyết được vấn đề xóa đói giảmnghèo thì quốc gia đó luôn ẩn chứa nguy cơ phát triển không bền vững vànhững hậu quả bất ổn định về chính trị, xã hội sẽ luôn rình rập Vai trò củaxóa đói giảm nghèo đói với phát triển kinh tế xã hôi ở Việt Nam thể hiệnnhững mặt cụ thể như sau:
Thứ nhất, xóa đói giảm nghèo giúp cho bộ phận dân cư nghèo nhậnthức được việc phát triển kinh tế xã hội là mục tiêu phấn đấu của tất cả mọingười thuộc mọi tầng lớp dân cư Phát triển kinh tế xã hội là nhiệm vụ củatoàn dân tộc không kể giàu nghèo, địa vị, tầng lớp… người nghèo cũng phải
có trách nhiệm gánh vác nhiệm vụ với mọi người theo khả năng của mình
Thứ hai, xóa đói giảm nghèo góp phần ổn định chính trị, xã hội Bởi vì
bộ phận dân cư nghèo thường là những người có ít điều kiện tiếp cập các dịch
vụ xã hội cơ bản, thông tin liên lạc… nên hiểu biết và nhận thức còn hạn chế,
dễ tự ty, mặc cảm và dễ bị kẻ xấu lợi dụng Xóa đói giảm nghèo giúp nângcao trình độ nhận thức, trình độ dân trí, hỗ trợ người nghèo các dịch vụ thiết