Giáo trình đã tổng kết những vấn đề khái quát nhất về phát triển kinh tế như: lí luận về tăng trưởng và phát triển kinh tế, các nguồn lực của tăng trưởng kinh tế và phát triển kinh tế, c
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC ĐỊA LÍ
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Thị Sơn
HÀ NỘI - 2016
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên, xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc và trân trọng nhất tới
PGS.TS Nguyễn Thị Sơn, người đã trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo và giúp đỡ tác
giả trong suốt quá trình thực hiện và hoàn thành luận văn.
Xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, Ban chủ nhiệm khoa Địa Lý cùng các thầy, cô giáo bộ môn đã tham gia giảng dạy, tạo mọi điều kiện tốt nhất cho quá trình học tập và nghiên cứu của tác giả Tác giả cũng xin trân trọng cảm ơn UBND huyện Tứ Kỳ, phòng Thống kê huyện Tứ Kỳ, phòng Kinh tế hạ tầng, phòng Tài nguyên môi trường huyện Tứ Kỳ… đã tạo điều kiện giúp đỡ và cung cấp cho tác giả những tư liệu cần thiết và quý báu trong quá trình thực hiện đề tài của mình.
Cuối cùng, tác giả xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, bạn bè và đồng nghiệp
đã giúp đỡ, động viên tác giả trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và thực hiện đề tài.
Hà Nội, tháng 6 năm 2016
Tác giả
Nguyễn Thị Thanh
Trang 3DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt Chữ viết đầy đủ
CNH – HĐH Công nghiệp hóa – hiện đại hóa
CN - TTCN Công nghiệp – Tiểu thủ công nghiệp
CN – XD Công nghiệp – xây dựng
VKTTĐPB Vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc
VKTTĐPN Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam
MỤC LỤC
Trang 4DANH MỤC BẢNG
Bảng 4.2: Dự kiến QH ngành chăn nuôi huyện Tứ Kỳ đến năm 2020,
104 định hướng năm 2030 104
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1: Cơ cấu sử dụng đất huyện Tứ Kỳ năm 2014 37
Bảng 4.2: Dự kiến QH ngành chăn nuôi huyện Tứ Kỳ đến năm 2020,
104 Bảng 4.2: Dự kiến QH ngành chăn nuôi huyện Tứ Kỳ đến năm 2020,
104 định hướng năm 2030 104 định hướng năm 2030 104
Trang 5DANH MỤC BẢN ĐỒ
Bản đồ hành chính huyện Tứ Kỳ
Bản đồ Một số nguồn lực phát triển kinh tế huyện Tứ KỳBản đồ Hiện trạng phát triển kinh tế huyện Tứ Kỳ
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lí do lựa chọn đề tài
Phát triển kinh tế là một nội dung quan trọng trong quá trình CNH – HĐH đất nước, bởi đây là tiền đề vật chất trực tiếp để giải quyết các vấn đề khác về văn hóa – xã hội, an ninh – quốc phòng và bảo vệ môi trường, hướng tới mục tiêu chung là cải thiện chất lượng cuộc sống, phát triển con người
Cùng với công cuộc Đổi mới của đất nước, quá trình phát triển kinh tế của tỉnh Hải Dương nói chung và huyện Tứ Kỳ nói riêng đã có những bước đi quan trọng theo xu hướng tiến bộ, phù hợp với tiến trình CNH – HĐH Với vị trí địa chính trị, kinh tế quan trọng, là địa bàn kết nối giao thông với nhiều huyện, tiếp giáp với TP Hải Dương và TP Hải Phòng, huyện Tứ Kỳ có nhiều tiềm năng cho việc phát triển kinh tế Những năm gần đây, kinh tế huyện đã đạt tốc độ tăng trưởng khá cao và tương đối ổn định; cơ cấu kinh tế chuyển dịch tích cực theo hướng CNH, thể hiện rõ nét ở sự thay đổi toàn diện trong cơ cấu ngành, cơ cấu lãnh thổ và thành phần kinh tế Những kết quả của chuyển dịch kinh tế đã và đang có tác động tích cực trong việc làm thay đổi bộ mặt kinh tế huyện trước đây vốn là vùng sản xuất thuần nông trong tỉnh
Mặc dù đã đạt được nhiều thành tích trong phát triển KT và hội nhập song
so với yêu cầu đặt ra của bối cảnh mới, tốc độ tăng trưởng kinh tế của toàn huyện còn chậm, chất lượng chưa cao và có sự phân hóa rõ nét giữa các địa phương trong huyện Bởi vậy, đẩy mạnh phát triển kinh tế một cách toàn diện không chỉ là xu hướng tích cực mà còn là vấn đề tất yếu, mang tính quyết định đến sự phát triển bền vững của huyện Tứ Kỳ trong thời gian tới
Chính vì những lí do trên, tác giả đã lựa chọn nghiên cứu vấn đề “Phát
triển kinh tế trên địa bàn huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương giai đoạn 2005 - 2014” làm đề tài luận văn của mình.
Trang 72 Lịch sử nghiên cứu
Trên phương diện lí luận và thực tiễn đã có một số công trình tiêu biểu như:
- Các công trình về cơ sở lí luận chung về phát triển kinh tế như:
Giáo trình phát triển kinh tế của tác giả Vũ Thị Ngọc Phùng [Nguồn 13]
được đánh giá là một trong những công trình nghiên cứu khoa học có ý nghĩa lớn Giáo trình đã tổng kết những vấn đề khái quát nhất về phát triển kinh tế như:
lí luận về tăng trưởng và phát triển kinh tế, các nguồn lực của tăng trưởng kinh tế
và phát triển kinh tế, các chính sách phát triển kinh tế,…
Giáo trình Địa lí KT – XH đại cương của tác giả Nguyễn Minh Tuệ (chủ
biên) [Nguồn 20] đã tổng hợp các khái niệm cơ bản về phát triển kinh tế của một lãnh thổ như: cơ cấu kinh tế, nguồn lực phát triển kinh tế, sự phân hóa lãnh thổ,…
Giáo trình Địa lí KT – XH Việt Nam tập 1,2, của tác giả Đỗ Thị Minh Đức
[Nguồn 4,5] Giáo trình này đã đề cập đến các nguồn lực phát triển kinh tế cũng như thực trạng KT – XH của Việt Nam
Sách Việt Nam các vùng kinh tế và vùng kinh tế trọng điểm của các tác giả
Lê Thông – Đồng Quý Thao (đồng chủ biên) và nnk [Nguồn 15] Cuốn sách là nguồn tài liệu tổng hợp về sự phát triển kinh tế - xã hội của 7 vùng kinh tế và các vùng KTTĐ với nhiều thông tin cập nhật
Các tài liệu khác như: Sách Địa lí dịch vụ, tập 1, 2 của tác giả Nguyễn
Minh Tuệ - Lê Thông (đồng chủ biên) [Nguồn 21]; Đề tài nghiên cứu khoa học
cấp Bộ Nghiên cứu các hình thức tổ chức lãnh thổ nông nghiệp chủ yếu ở Việt Nam phục vụ giảng dạy Địa lí (ở bậc THPT và Đại học) của tác giả Nguyễn Thị Sơn [Nguồn 23]; Giáo trình Tổ chức lãnh thổ nông nghiệp Việt Nam của tác giả Đặng Văn Phan [Nguồn 9]; Tập bài giảng Cao học Địa lí môn Tổ chức lãnh thổ công nghiệp – Nguyễn Minh Tuệ [Nguồn 22] Các giáo trình này đã đi sâu
Trang 8nghiên cứu sự phân hóa lãnh thổ và các hình thức tổ chức sản xuất của các ngành kinh tế ở Việt Nam
- Nghiên cứu về tình hình phát triển kinh tế địa phương cấp huyện cũng có
không ít tác giả đã lựa chọn như: Đề tài “Kinh tế huyện Văn Lâm trong thời kì CNH – HĐH” của tác giả Phạm Thị Thu Huyền, đề tài “Phát triển kinh tế huyện Kim Động giai đoạn 2001 – 2011” của tác giả Triệu Thị Dung [Nguồn 3],
đề tài “ Bước đầu tìm hiểu phát triển kinh tế huyện Cẩm Giàng – tỉnh Hải Dương” của tác giả Vũ Thị Yến,… Các đề tài đã bước đầu vận dụng cơ sở lí
luận và thực tiễn về phát triển kinh tế gắn với lãnh thổ cụ thể, phân tích được các nguồn lực, hiện trạng phát triển kinh tế và phương hướng phát triển của địa phương đó
Nghiên cứu cụ thể hơn về quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế huyện có
các đề tài như: “Chuyển dịch cơ cấu kinh tế huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa
1998 – 2004” của Mã Thị Tới, “Cơ cấu và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn tỉnh Hưng Yên theo hướng CNH – HĐH” của tác giả Trần Kiều Hương…Ngoài ra còn có tài liệu của các cơ quan địa phương như: “Báo cáo tình hình thực hiện kế hoạch phát triển KT – XH huyện Tứ Kỳ 2004 – 2011,
2011 – 2015” [Nguồn 10] đã tổng kết được những thành tựu và tồn tại trong phát triển kinh tế của địa phương Các công trình “Báo cáo quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất đến năm 2020” [Nguồn 11], “Lịch sử Đảng bộ huyện Tứ Kỳ” [Nguồn 24] đã trình bày tóm tắt về lịch sử phát triển, điều kiện tự nhiên –
tài thiên nhiên, điều kiện KT – XH và hiện trạng sử dụng đất của huyện Tứ Kỳ đến năm 2014, quy hoạch tới 2020
Nhìn chung, các đề tài đã cung cấp những vấn đề về phương pháp luận cho
đề tài nghiên cứu của cá nhân Các đề tài đã nêu và phân tích được những nguồn lực tự nhiên và KT – XH, phân tích và đánh giá được hiện trạng phát triển của kinh tế địa phương Từ đó so sánh với xu hướng chung của tỉnh, vùng và cả
Trang 9nước cũng như đánh giá được nét nổi bật của địa phương trong phát triển kinh tế.
3 Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu
+ Phân tích, tổng hợp, làm nổi bật được hiện trạng phát triển kinh tế huyện
về tốc độ tăng trưởng, cơ cấu và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo ngành, theo thành phần kinh tế, tình hình phát triển cụ thể của các ngành kinh tế (nông – lâm – ngư nghiệp, công nghiệp, dịch vụ) và các hình thức tổ chức lãnh thổ sản xuất của ngành nông nghiệp và công nghiệp
- Về phạm vi nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu trong phạm vi lãnh thổ huyện
Tứ Kỳ (gồm 26 xã, 1 thị trấn) và so sánh với các huyện khác trong tỉnh
Trang 10- Về thời gian nghiên cứu: Tập trung vào giai đoạn 2005 – 2014.
5 Những đóng góp của đề tài
- Đúc kết và làm sáng tỏ cơ sở lí luận và thực tiễn về phát triển kinh tế, xác định các tiêu chí đánh giá sự phát triển KT và áp dụng vào địa bàn nghiên cứu
- Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển KT của huyện Tứ Kỳ
- Làm rõ bức tranh hiện trạng phát triển kinh tế của huyện Tứ Kỳ trong giai đoạn 2005 – 2014 và chỉ ra những thành tựu và hạn chế của huyện trong quá trình phát triển
- Đề xuất định hướng phát triển và các giải pháp góp phần đẩy mạnh tốc độ phát triển kinh tế huyện đến năm 2030
6 Các quan điểm và phương pháp nghiên cứu
6.1 Các quan điểm nghiên cứu
6.1.1 Quan điểm tổng hợp lãnh thổ
Mọi sự vật hiện tượng Địa lý đều tồn tại và phát triển trong một không gian lãnh thổ nhất định Các hoạt động KT trong vùng lãnh thổ là kết quả của những điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên phù hợp với hoàn cảnh KT – XH của từng địa phương, từng dân tộc Vì vậy, đề tài đã dựa trên quan điểm tổng hợp lãnh thổ để tiến hành nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế trên địa bàn huyện Tứ Kỳ và đặt vị trí của huyện trong bối cảnh toàn tỉnh Hải Dương và vùng KTTĐ phía Bắc
6.1.2 Quan điểm hệ thống
Đây là một trong những quan điểm quan trọng trong quá trình nghiên cứu
đề tài này Dựa trên quan điểm này, tác giả xem xét đối tượng một cách toàn diện hơn, đặt trong nhiều mối quan hệ khác nhau, trong trạng thái vận động và phát triển với việc phân tích những điều kiện nhất định để tìm ra bản chất và quy luật vận động của đối tượng
Bản chất của “hệ thống” là tổng thể các thành phần nằm trong sự tác động tương hỗ lẫn nhau nên mọi đối tượng và hiện tượng địa lí đều có mối quan hệ
Trang 11biện chứng tạo thành một chỉnh thể gọi là một hệ thống Hệ thống đó bao gồm nhiều thành phần có mối quan hệ mật thiết, chuyển hóa lẫn nhau Trong luận văn, huyện Tứ Kỳ được xem như một hệ thống lãnh thổ KT – XH Trong đó quá trình chuyển dịch kinh tế chịu ảnh hưởng tác động của nhiều nhân tố từ tự nhiên đến KT – XH.
6.1.3 Quan điểm lịch sử - viễn cảnh
Trong luận văn quan điểm này được vận dụng để thể hiện sự chuyển dịch trong quá trình phát triển các ngành kinh tế huyện Tứ Kỳ, qua đó thấy được sự thay đổi của nền kinh tế trên phương diện cơ cấu ngành, cơ cấu lãnh thổ và thành phần kinh tế Các đề tài nghiên cứu về chuyển dịch cơ cấu kinh tế đã có từ khá sớm, trên cơ sở kế thừa những nghiên cứu trước đó đề tài đã chọn lọc để phù hợp với địa bàn nghiên cứu cụ thể Quan điểm này cho phép đề tài đánh giá đúng sự vật, hiện tượng theo một quá trình phát triển
6.1.4 Quan điểm phát triển bền vững
Khi nghiên cứu bất cứ một yếu tố KT – XH nào cũng phải xem xét trong mối quan hệ phát triển bền vững giữa các yếu tố kinh tế - xã hội - môi trường và gắn liền với tăng trưởng xanh Đây là quan điểm quan trọng nhất đối với xu thế hiện nay vì vừa phát triển vừa đi đôi với bảo vệ thì mới đem lại hiệu quả lâu dài
6.2 Các phương pháp nghiên cứu
6.2.1 Phương pháp thu thập, phân tích tài liệu
Đây là phương pháp quan trọng xuyên suốt cả quá trình nghiên cứu Trước hết, phương pháp này được sử dụng để hệ thống lại các tri thức, tìm ra các cơ sở
lí luận thích hợp để vận dụng vào nghiên cứu đề tài Hơn nữa, các tiêu chí đánh giá sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế cấp huyện có mối quan hệ qua lại với nhau và luôn chịu tác động của các nhiều yếu tố Vì vậy, để làm rõ bức tranh về thực trạng phát triển kinh tế, đề tài phải tổng hợp, phân tích các số liệu thống kê và tài liệu liên quan… Từ đó đưa ra nhận xét, đánh giá về vấn đề nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu đề tài, tác giả đã thu thập các tài liệu liên quan
Trang 12từ các cơ quan chuyên ngành, cơ quan thống kê,…Đặc biệt là các tài liệu liên quan đến các số liệu về sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế tại Phòng thống kê huyện
Tứ Kỳ, các báo cáo của Phòng kinh tế - hạ tầng về phát triển kinh tế trên địa bàn huyện, số liệu về cơ cấu sử dụng đất của Phòng TNMT, số liệu thống kê cấp tỉnh của Cục thống kê tỉnh Hải Dương,…Tất cả số liệu, tư liệu sau khi được thu thập đều được tác giả chọn lọc, xử lí để phù hợp với mục đích nghiên cứu
6.2.2 Phương pháp phân tích hệ thống, so sánh, tổng hợp
Những tài liệu liên quan đến quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế của huyện Tứ Kỳ là những số liệu mang tính định lượng Từ các nguồn tài liệu, các
số liệu có được, đề tài phân tích, xử lí và so sánh để rút ra kết luận, đánh giá toàn
bộ quá trình phát triển kinh tế huyện
6.2.3 Phương pháp điều tra, khảo sát thực địa
Để có số liệu bổ sung, hình ảnh minh chứng cụ thể làm cơ sở đánh giá thực chất về quá trình phát triển kinh tế huyện Tứ Kỳ Tác giả đã tiến hành khảo sát thực tiễn tại địa bàn, thu thập các số liệu thực tế và rút ra những đánh giá tổng hợp về vấn đề nghiên cứu
6.2.4 Phương pháp bản đồ, biểu đồ và ứng dụng công nghệ GIS
Trên cơ sở những bản đồ đã được thành lập trước đó như: bản đồ hành chính huyện, tỉnh; bản đồ giao thông vận tải,… được tác giả sử dụng như tài liệu tham khảo
Ngoài ra để đưa được những kết quả nghiên cứu của luận văn lên bản đồ, tác giả đã sử dụng hệ thống thông tin địa lí (GIS), các phần mềm Arc GIS,
Mapinfo để thành lập các bản đồ chuyên ngành trong luận văn như: Bản đồ hành chính huyện Tứ Kỳ, Bản đồ nguồn lực phát triển kinh tế huyện Tứ Kỳ, Bản
đồ hiện trạng phát triển kinh tế huyện Tứ Kỳ.
7 Cấu trúc luận văn
Đề tài “Phát triển kinh tế trên địa bàn huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương giai
đoạn 2005 - 2014” ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung gồm có 4 chương: Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn về phát triển kinh tế
Trang 13Chương 2: Các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế huyện Tứ Kỳ Chương 3: Thực trạng phát triển kinh tế huyện Tứ Kỳ giai đoạn 2005
- 2014
Chương 4: Định hướng và giải pháp phát triển kinh tế huyện Tứ Kỳ đến
năm 2020 và tầm nhìn 2030
Trang 14NỘI DUNGCHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ
1 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN
1.1.1 Các khái niệm
1.1.1.1 Tăng trưởng kinh tế
Tăng trưởng kinh tế là một phạm trù kinh tế, phản ánh quy mô tăng lên hay giảm đi của nền kinh tế ở năm này so với năm trước đó hoặc của thời kì này so với năm trước đó hoặc của thời kì này so với thời kì trước đó [Nguồn 13]
Tăng trưởng kinh tế được biểu hiện bằng: quy mô tăng trưởng và tốc độ
tăng trưởng Trong đó, quy mô tăng trưởng phản ánh sự tăng lên hay giảm đi nhiều hay ít, còn tốc độ tăng trưởng được sử dụng với ý nghĩa so sánh tương đối
và phản ánh sự gia tăng nhanh hay chậm của nền kinh tế giữa các năm hoặc giữa các thời kì
Để đo lường mức tăng trưởng kinh tế thường dùng các chỉ số chủ yếu là: tốc độ tăng trưởng kinh tế (tính theo GDP) hoặc phần tăng – giảm quy mô của nền kinh tế (tính theo GDP) Các nhân tố là động lực của tăng trưởng kinh tế bao gồm: nguồn nhân lực, nguồn tài nguyên, tư bản (nguồn vốn) và công nghệ Trong đó, nhân tố quan trọng nhất là nguồn nhân lực (đặc biệt là chất lượng nguồn nhân lực – kĩ năng, kiến thức và tính kỉ luật) Các yếu tố như máy móc, thiết bị, nguyên liệu hay công nghệ sản xuất chỉ có thể phát huy được tối đa hiệu quả bởi đội ngũ lao động có trình độ văn hóa, có sức khỏe và kỉ luật lao động tốt.Tăng trưởng kinh tế thể hiện sự thay đổi về lượng của nền kinh tế, do đó không phản ánh được sự biến đổi của cơ cấu KT – XH, đời sống tinh thần và văn hóa của dân cư, sự chênh lệch giàu – nghèo, chênh lệch nông thôn – thành thị hoặc bình đẳng xã hội
Tăng trưởng kinh tế có thể cao nhưng chất lượng cuộc sống có thể không tăng, môi trường có thể bị hủy hoại, tài nguyên bị khai thác quá mức, cạn kiệt, nguồn nhân lực có thể sử dụng không hiệu quả Mặc dù vậy, các chỉ tiêu đo lường mức tăng trưởng kinh tế vẫn được sử dụng làm thước đo trình độ phát
Trang 15triển kinh tế một cách cụ thể, dễ hiểu và nó trở thành mục tiêu phấn đấu của một chính phủ, một vùng, địa phương vì nó là tiêu chí để người dân đánh giá hiệu quả điều hành đất nước, địa phương của chính phủ, của người lãnh đạo.
1.1.1.2 Phát triển kinh tế
Theo quan điểm Triết học, phát triển là khái niệm chỉ sự thay đổi về quy
mô và chất lựợng của một sự vật, hiện tượng trong thời gian và không gian nhất định Sự thay đổi này bao hàm cả tăng lên hoặc giảm đi về số lượng và chất lượng của sự vật, hiện tượng đó Tóm lại, phát triển là khái niệm về sự tồn tại và phát triển không ngừng của sự vật, hiện tượng trong một thời gian và không gian
cụ thể
Theo đó, phát triển kinh tế được hiểu là quá trình tăng tiến về mọi mặt của
nền kinh tế ở một địa phương trong một thời kì nhất định, bao gồm cả sự tăng thêm về quy mô, sản lượng và sự tiến bộ về mọi mặt của xã hội để hình thành cơ cấu kinh tế hợp lí [Nguồn 13]
Phát triển kinh tế mang nội hàm rộng hơn tăng trưởng kinh tế Nó bao gồm tăng trưởng kinh tế cùng với những thay đổi về chất của nền kinh tế (như phúc lợi xã hội, tuổi thọ…) và những thay đổi về cơ cấu kinh tế (giảm tỉ trọng của nông – lâm – ngư nghiệp, tăng tỉ trọng công nghiệp và dịch vụ) Phát triển kinh
tế là một quá trình hoàn thiện về mọi mặt của nền kinh tế bao gồm: kinh tế, xã hội, môi trường, thể chế trong một thời gian nhất định
Tóm lại, tăng trưởng và phát triển kinh tế có mối quan hệ mật thiết với nhau Tăng trưởng là điều kiện, tiền đề cho sự phát triển, ngược lại sự phát triển
về mọi mặt của nền kinh tế sẽ là động lực để đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng
1.1.1.3 Cơ cấu kinh tế
Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam (1995), cơ cấu kinh tế là tổng thể các
ngành, lĩnh vực, bộ phận kinh tế có quan hệ hữu cơ tương đối ổn định hợp thành Nói một cách tổng quát cơ cấu kinh tế được nhấn mạnh bới 2 nội dung chính: một là tổng thể các bộ phận hợp thành và hai là chúng có mối quan hệ hữu cơ tương đối ổn định theo một tương quan hay tỉ lệ nhất định [Nguồn 20]
1.1.1.4 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Một trong những tính chất quan trọng của cơ cấu kinh tế là tính lịch sử Cơ
Trang 16cấu kinh tế thay đổi theo từng thời kì lịch sử do các yếu tố cấu thành nên nó không phải là bất biến, mà luôn có sự thay đổi về số lượng và tương quan tỉ lệ giữa các ngành, các vùng và các thành phần kinh tế Sự thay đổi diễn ra không phải đơn thuần về mặt vị trí mà cả về số lượng và chất lượng trong nội bộ cơ cấu kinh tế Chuyển dịch cơ cấu kinh tế là sự thay đổi cơ cấu kinh tế từ trạng thái này sang trạng thái khác sao cho phù hợp với môi trường phát triển Về bản chất, đó
là sự điều chỉnh cơ cấu trên các phương diện: ngành, lãnh thổ và thành phần kinh
tế [Nguồn 20]
Để phát triển theo hướng tích cực và bền vững, sự chuyển dịch cơ cấu kinh
tế cần dựa trên các yếu tố cơ bản sau:
Thứ nhất, chuyển dịch cơ cấu kinh tế cần giữ được tính ổn định, tạo nên sự cân đối trong nền kinh tế, đáp ứng được yêu cầu tiêu dùng của xã hội
Thứ hai, sự chuyển dịch đó nhằm khai thác có hiệu quả mọi nguồn lực trong nước cũng như thu hút và sử dụng cao nhất các nguồn lực bên ngoài để thực hiện thành công mục tiêu phát triển KT – XH trong các thời kì ngắn hạn và trung hạn
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế phải theo xu hướng chung, tiến bộ, thích ứng với nhu cầu hội nhập của nền kinh tế thị trường và mở rộng hợp tác quốc tế
1.1.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển kinh tế của huyện
1.1.2.1 Vị trí địa lý
Vị trí địa lí bao gồm: vị trí tự nhiên, vị trí kinh tế, giao thông, chính trị Nhân tố này không có tính chất quyết định mà chỉ tạo ra những khả năng để trao đổi, tiếp cận hay cùng phát triển giữa các vùng trong một nước, giữa các quốc gia với nhau Trong xu thế hội nhập kinh tế thế giới, vị trí địa lí trở thành nhân tố góp phần định hướng có lợi nhất trong phân công lao động quốc tế và xây dựng mối quan hệ song phương hay đa phương của một quốc gia [Nguồn 20]
Vị trí địa lí quy định những đặc điểm chung của thiên nhiên mà trước hết là khí hậu, đất đai, sinh vật, khoáng sản… từ đó bước đầu nhận thấy được những thế mạnh và hạn chế của tài nguyên thiên nhiên ở lãnh thổ nghiên cứu
Trang 171.1.2.2 Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên
Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên (TNTN) là nền tảng để phát triển kinh tế, là những điều kiện cần nhưng chưa đủ ĐKTN và TNTN bao gồm các yếu tố như: địa hình, khí hậu, thủy văn, tài nguyên đất, tài nguyên sinh vật, tài nguyên khoáng sản [Nguồn 4, 5, 20]
Tài nguyên khoáng sản được coi như “bánh mì” trong công nghiệp Số
lượng, quy mô và chất lượng của khoáng sản ảnh hưởng lớn đến quy mô, cơ cấu
và phương thức khai thác của công nghiệp
Tài nguyên đất, nước, khí hậu và sinh vật ảnh hưởng chủ yếu đến hoạt
động sản xuất nông – lâm – ngư nghiệp Sự phong phú, đa dạng của những tài nguyên này góp phần tạo dựng một nền nông nghiệp đa dạng về sản phẩm
Các TNTN sẽ trở thành sức mạnh kinh tế khi được con người khai thác và
sử dụng một cách hiệu quả và bền vững Cũng giống như vị trí địa lí, tài nguyên thiên nhiên không đóng vai trò quyết định đối với sự phát triển kinh tế mà chỉ là tiền đề vật chất cơ bản cho sự phát triển KT – XH Bất kì một quốc gia nào nếu thiếu vắng tài nguyên thì đều gặp một số khó khăn trong sự phát triển
TNTN tạo ra những thuận lợi để xây dựng cơ cấu kinh tế đa dạng, là nguồn hàng xuất khẩu có giá trị, thu hút vốn đầu tư và công nghệ… Nhưng nhân tố này cũng có thể trở thành mối tranh chấp của nhiều nước tư bản, hơn nữa TNTN không phải là vô tận, vì vậy trước khi khai thác con người phải đánh giá tài nguyên để có kế hoạch sử dụng một cách hợp lí, tiết kiệm, hạn chế tình trạng lãng phí tài nguyên và ô nhiễm môi trường
1.1.2.3 Điều kiện kinh tế - xã hội
a Dân cư và nguồn lao động
Con người là chủ thể tiến hành các hoạt động sản xuất và xã hội, cải tạo và
sử dụng tự nhiên Quy mô dân số, cơ cấu dân số đóng vai trò quan trọng trong việc hoạch định kế hoạch và chính sách phát triển của một địa phương
Nguồn lao động là nhân tố quyết định việc tái tạo, sử dụng và phát triển các nguồn lực khác Nguồn lao động được xem xét dưới hai khía cạnh: số lượng và chất lượng
Số lượng lao động phụ thuộc vào tốc độ gia tăng dân số, cơ cấu dân số, chất
Trang 18lượng cuộc sống… Nguồn lao động đông trong một khoảng thời gian nhất định
sẽ tạo ra những thuận lợi trong việc thu hút vốn đầu tư nhờ ưu thế về giá nhân công rẻ, song về lâu dài nếu chỉ có phát triển nhanh về số lượng thì sẽ không bền vững Trình độ lao động có ý nghĩa lớn trong việc thực hiện các mục tiêu KT –
XH và mức độ áp dụng KHCN vào trong sản xuất và đời sống, quyết định tốc độ phát triển kinh tế, nâng cao năng suất lao động Vì vậy quan tâm tới tăng trưởng
và phát triển kinh tế cần quan tâm tới việc bồi dưỡng, đào tạo và phát triển nguồn nhân lực
Mặt khác, con người cũng chính là thị trường tiêu thụ các sản phẩm và dịch
vụ xã hội Dân số càng đông, mức sống và nhu cầu càng cao, càng có tác dụng đẩy mạnh sự phát triển của các ngành kinh tế
b Tiến bộ của khoa học và công nghệ
Ngày nay, KHCN đã trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất vì vậy nó cũng trở thành một nhân tố quan trọng trong sự phát triển kinh tế KHCN có khả năng làm thay đổi chất lượng nguồn nhân lực cũng như các yếu tố đầu vào khác của sản xuất, làm cho danh mục các loại TNTN đa dạng hơn, từ đó góp phần tăng chất lượng sản phẩm
KHCN thúc đẩy nhịp độ tăng trưởng kinh tế qua việc tăng năng suất lao động, đẩy nhanh quá trình hình thành và chuyển dịch cơ cấu kinh tế KHCN góp phần tăng khả năng cạnh tranh của hàng hóa trong nền kinh tế thị trường Các nước hoàn toàn có khả năng đi tắt đón đầu trong việc mua hoặc chuyển giao công nghệ
Đối với các nước có nền kinh tế đang phát triển như Việt Nam, đang ngày càng đẩy mạnh việc tiếp thu những chuyển giao công nghệ của các nước tiên tiến để sử dụng hiệu quả các nguồn lực trong nước, đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng và phát triển kinh tế, góp phần thực hiện thành công quá trình CNH – HĐH đất nước Tuy nhiên cần chọn lọc hợp lí nếu không rất dễ biến thành “bãi rác công nghệ” của các nền kinh tế phát triển
c Nguồn vốn
Nguồn vốn là yếu tố đầu vào cần thiết cho các quá trình sản xuất Để đảm
Trang 19bảo cho quá trình phát triển ổn định nền kinh tế, phải đầu tư kết cấu hạ tầng, cơ
sở vật chất kĩ thuật, máy móc, trang thiết bị, công nghệ, đào tạo nguồn nhân lực
và các dịch vụ khác Vì vậy, việc gia tăng nguồn vốn và sử dụng nguồn vốn có hiệu quả góp phần đẩy mạnh tốc độ tăng trưởng, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tăng cường tích lũy nội bộ của nền KT
Nguồn vốn thường được huy động từ nhiều nguồn khác nhau, trong nước
và ngoài nước Trong đó nguồn vốn trong nước có ý nghĩa quyết định chính trong phát triển KT
Nguồn vốn trong nước bao gồm: Ngân sách của Nhà nước, vốn của các
doanh nghiệp và tích lũy của người dân
Nguồn vốn ngoài nước gồm: viện trợ chính thức (ODA), viện trợ của các tổ
chức phi chính phủ (NGO), đầu tư trực tiếp của nước ngoài (FDI) và vốn đầu tư gián tiếp của nước ngoài
Đối với các nước đang phát triển và bước vào thời kì CNH như Việt Nam hiện nay thì nguồn vốn để đầu tư phát triển sản xuất đang là một vấn đề khó khăn, thiếu vốn cho đầu tư Vì vậy, việc “tranh thủ” được nguồn vốn đầu tư nước ngoài có vai trò rất quan trọng, vì nó tạo ra những cơ hội mở rộng sản xuất theo chiều sâu, giảm khoảng cách tụt hậu về công nghệ với các quốc gia trong khu vực và trên thế giới
d Thị trường
Thị trường là cầu nối giữa sản xuất và tiêu dùng, vừa cung cấp các yếu tố đầu vào cho một quá trình sản xuất (như nguyên nhiên liệu, công cụ máy móc…) vừa giúp tiêu thụ đầu ra của sản phẩm Đây là yếu tố quyết định vấn đề điều tiết tái sản xuất của một dòng sản phẩm
Trong nền kinh tế thị trường luôn có sự thay đổi do thị hiếu của người tiêu dùng, theo đó các yêu cầu đối với sản xuất không ngừng thay đổi, từ đó thúc đẩy
sự tăng trưởng và phát triển kinh tế
e Đường lối, chính sách phát triển kinh tế
Đường lối chính sách là yếu tố mang tính chất quyết định đến sự thành công hay không của chiến lược, mục tiêu phát triển kinh tế của các nước trên thế
Trang 20giới Bởi nó có khả năng cân đối ngân sách, kiềm chế lạm phát và có tích lũy nội
bộ kinh tế, từng bước tăng tỉ lệ đầu tư cho phát triển Trên thế giới, ở mỗi quốc gia, mỗi thời điểm đều có đường lối chính sách phát triển KT – XH riêng do có hoàn cảnh lịch sử và KT – XH khác nhau
Ở nước ta bước đầu có sự thành công về đường lối chính sách phát triển kinh tế và hiện đang đẩy mạnh thực hiện quá trình CNH – HĐH để đưa nước ta
cơ bản trở thành một nước công nghiệp vào năm 2020 Việc xây dựng và hoàn
thiện hệ thống đường lối chính sách tạo điều kiện thuận lơi, môi trường kinh doanh để phát huy tổng hợp sức mạnh nội lực và ngoại lực thúc đẩy KT – XH phát triển Ngoài ra còn góp phần mở rộng quan hệ ngoại giao, hợp tác 2 bên cùng có lợi và không can thiệp vào nội bộ của nhau
f Cơ sở hạ tầng – vật chất kĩ thuật
Cơ sở hạ tầng bao gồm: mạng lưới giao thông vận tải, cung cấp điện
nước…có vai trò đảm bảo điều kiện vật chất thuận lợi nhất để các cơ sở sản xuất
và dịch vụ hoạt động có hiệu quả Kết cấu hạ tầng hiện đại, đồng bộ sẽ tạo điều kiện rút ngắn thời gian sản xuất và lưu thông, giảm bớt chi phí sản xuất và góp phần nâng cao chất lượng sản phẩm Đồng thời thực hiện mối liên hệ giữa các bộ phận và giữa các vùng kinh tế Ngược lại, sẽ trở thành yếu tố kìm hãm sự phát triển của các hoạt động sản xuất
Cơ sở vật chất kĩ thuật bao gồm: hệ thống máy móc, trang thiết bị, trình độ
công nghệ cho từng ngành sản xuất, đây là một trong nhân tố quan trọng ảnh hưởng tới năng suất lao động và giá thành sản phẩm
g Bối cảnh trong nước và thế giới
Sự phát triển tổng thể của mỗi quốc gia, vùng lãnh thổ luôn chịu tác động trực tiếp của những yếu tố nội tại trong quốc gia, vùng lãnh thổ đó Song cũng không thể tách rời ảnh hưởng của bối cảnh quốc tế, nhất là trong điều kiện mở rộng hội nhập quốc tế, xu thế toàn cầu hóa như hiện nay Nắm bắt những tác động của bối cảnh trong nước và quốc tế có ý nghĩa quan trọng trong việc tranh thủ được các điều kiện thuận lợi, cơ hội và khắc phục được các yếu tố bất lợi,
Trang 21khó khăn cho phát triển KT – XH của địa phương.
+ Quy mô canh tác nhỏ bé, ở Việt Nam thường từ 0,5ha (miền Bắc), từ 0,6 – 1ha ở Đồng bằng sông Cửu Long Ở nước ta các hộ gia đình chỉ có quyền sử dụng đất mà không có quyền sở hữu ruộng đất
+ Về nguồn vốn, đại bộ phận rất ít, quy mô thu nhập nhỏ, khả năng tích lũy thấp làm hạn chế khả năng đầu tư tái sản xuất Vật tư được mua phục vụ cho sản xuất từ tiền bán nông phẩm
+ Về lao động, chủ yếu sử dụng lao động gia đình
+ Kĩ thuật canh tác và công cụ sản xuất ít biến đổi, mang nặng tính truyền thống
- Trang trại
Trang trại có nguồn gốc từ hộ gia đình, được phát triển dần lên trong quá trình chuyển dịch của nền kinh tế tiểu nông tự cấp tự túc sang nền kinh tế hàng hóa [Nguồn 9, 23] Các đặc điểm nổi bật của trang trại bao gồm:
+ Mục đích chủ yếu của trang trại là sản xuất nông phẩm hàng hóa theo nhu cầu của thị trường
+ Tư liệu sản xuất (đất đai) thuộc quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng của một người chủ độc lập
+ Quy mô đất đai tương đối lớn, ở Việt Nam trung bình khoảng 6,3 ha
Trang 22+ Cách thức tổ chức sản xuất tiến bộ, đẩy mạnh hướng chuyên môn hóa, tập trung vào những sản phẩm có lợi thế so sánh và khả năng sinh lợi cao.+ Các trang trại đều có thuê mướn lao động.
- Hợp tác xã (HTX)
HTX là một tổ chức kinh tế do nông dân tự nguyện lập ra với nguồn vốn hoạt động do chính họ góp cổ phần và huy động từ các nguồn khác nhằm duy trì, phát triển kinh tế hộ gia đình và tăng nhanh tỉ suất hàng hóa, đạt hiệu quả kinh tế cao cho các hộ, chủ trang trại [Nguồn 9, 23]
Ở Việt Nam, từ sau năm 1986, dựa trên chính sách khoán đến hộ gia đình, các HTX trao quyền sử dụng đất, quyền tự chủ sản xuất cho xã viên Hoạt động của HTX chỉ tập trung cho các khâu mà từng hộ không làm được hoặc làm không có hiệu quả, hay thực hiện các dịch vụ, chế biến và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp, hướng dẫn sản xuất, chuyển giao kĩ thuật và hỗ trợ cho kinh tế hộ phát triển
1.1.3.2 Tổ chức lãnh thổ công nghiệp
- Điểm công nghiệp
Điểm công nghiệp thường chỉ là một, hai xí nghiệp phân bố đơn lẻ, có kết cấu hạ tầng riêng Nó được phân bố gần nguồn nguyên liệu với chức năng khai thác hay sơ chế nguyên liệu hoặc ở những điểm dân cư nằm trong một vùng nguyên liệu nông, lâm, thủy sản nào đó Cũng có thể nó ở ngay trong vùng tiêu thụ để phục vụ cho những nhu cầu nhất định của dân cư [Nguồn 20] Đặc trưng của điểm CN là:
+ Lãnh thổ nhỏ với một (hai) xí nghiệp, phân bố lẻ tẻ, phân tán
+ Hầu như không có mối liên hệ sản xuất với các xí nghiệp khác
+ Thường gắn với một điểm dân cư nào đó
- Cụm công nghiệp (CCN)
Trang 23CCN bao gồm một vài xí nghiệp công nghiệp, được phân bố trên một khu vực nhỏ, không có ranh giới rõ ràng, không có ban quản lí riêng CCN được phân bố ở các thị trấn, thị xã, dọc theo các trục giao thông Trong quá trình phát triển, CCN có thể là hạt nhân để tạo các KCN [Nguồn 22].
- Khu công nghiệp (KCN)
KCN do Chính phủ quyết định thành lập, có ranh giới xác định, chuyên sản xuất công nghiệp và thực hiện các dịch vụ hỗ trợ sản xuất công nghiệp, không có dân cư sinh sống [Nguồn 20] KCN có một số đặc điểm chính sau:+ Có ranh giới rõ ràng với quy mô đất đai đủ lớn, vị trí địa lí thuận lợi.+ Tập trung tương đối nhiều xí nghiệp CN cùng sử dụng chung cơ sở hạ tầng, được hưởng quy chế ưu đãi riêng khác với các xí nghiệp phân bố ngoài KCN (như giá thuê đất, thuế quan…), không có dân cư sinh sống
+ Có ban quản lí thống nhất để thực hiện quy chế quản lí nhưng có sự phân cấp rõ ràng về quản lí và tổ chức sản xuất Các xí nghiệp có khả năng hợp tác sản xuất, liên kết với nhau
Ngoài ra, còn có các hình thức tổ chức lãnh thổ của ngành dịch vụ, tuy nhiên luận văn không đề cập cụ thể vì trong kinh tế huyện Tứ Kỳ các hình thức này không nổi bật Chủ yếu là hệ thống chợ, cửa hàng bán lẻ, siêu thị (quy mô nhỏ) và một số địa điểm có tiềm năng phát triển du lịch nhân văn
1.1.4 Các chỉ tiêu đánh giá phát triển kinh tế huyện
a Quy mô và tốc độ tăng trưởng GTSX
- Quy mô GTSX là chỉ tiêu biểu thị toàn bộ giá trị của sản phẩm vật chất và
dịch vụ (do sản xuất) của tất cả các ngành kinh tế được tạo nên trên phạm vi lãnh thổ, trong một thời kì nhất định (thường là một năm) [Nguồn 29.1]
+ GTSX công nghiệp: là chỉ tiêu tổng hợp phản ánh kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của ngành CN tạo ra dưới dạng sản phẩm vật chất và dịch vụ trong thời gian nhất định GTSX công nghiệp bao gồm giá trị nguyên vật liệu, năng lượng, phụ tùng thay thế, chi phí dịch vụ sản xuất, khấu hao tài sản cố định,
Trang 24chi phí lao động, thuế sản xuất và giá trị thặng dư tạo ra trong cấu thành giá trị sản phẩm CN.
+ GTSX nông – lâm – thủy sản: là chỉ tiêu tổng hợp phản ánh kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh ngành nông – lâm – thủy sản dưới dạng sản phẩm vật chất và dịch vụ trong một thời gian nhất định Trong đó GTSX ngành nông nghiệp (nghĩa hẹp) bao gồm giá trị sản phẩm trồng trọt, chăn nuôi và giá trị của các dịch vụ nông nghiệp GTSX lâm nghiệp bao gồm: giá trị trồng mới, nuôi dưỡng, chăm sóc tu bổ, bảo vệ rừng, giá trị cây, hạt giống và các hoạt động dịch
vụ nông nghiệp khác Các hoạt động ngành thủy sản bao gồm: nuôi trồng và đánh bắt thủy hải sản (cá, tôm, baba, ếch, lươn…) và các dịch vụ có liên quan
- Tốc độ tăng trưởng GTSX
Là chỉ tiêu đo lường, thể hiện mặt định lượng tăng trưởng kinh tế của lãnh thổ ở quy mô nhỏ như cấp huyện Chỉ tiêu này được tính theo giá so sánh một năm cố định [Nguồn 29.1]
b Giá trị sản xuất/ người
GTSX/người được tính bằng cách lấy GTSX chia cho tổng số dân của địa phương tại một thời điểm nhất định (một năm) [Nguồn 29.1]
Đây là một tiêu chí phản ánh sự phát triển kinh tế nói chung và nâng cao mức sống của người dân nói riêng Sự gia tăng liên tục ngày càng cao của quy
mô, tốc độ tăng trưởng của GTSX/người là một dấu hiệu thể hiện sự phát triển kinh tế ổn định, bền vững theo hướng CNH của lãnh thổ Mặt khác, nó còn được
sử dụng làm công cụ so sánh mức sống giữa các địa phương với nhau
c Cơ cấu giá trị sản xuất theo các nhóm ngành, thành phần kinh tế và sự chuyển dịch cơ cấu GTSX
Để đánh giá trình độ phát triển kinh tế của một lãnh thổ nhỏ (cấp huyện), chỉ tiêu thường được sử dụng là cơ cấu GTSX (thay cho cơ cấu GDP ở cấp tỉnh
và quốc gia)
Cơ cấu GTSX cho biết quy mô, tỉ trọng của các ngành, thành phần kinh tế, lãnh thổ trong nền kinh tế của cấp huyện Đồng thời qua đó, xác định vai trò, vị trí, tầm quan trọng của mỗi đối tượng và có thể đánh giá được trình độ phát triển
Trang 25KT – XH của huyện [Nguồn 29.1].
Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế cho thấy sự điều chỉnh, chuyển biến của nền kinh tế theo chiều hướng nào Đây là tiêu chí rất quan trọng đối với một lãnh thổ kinh tế
1.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN
1.2.1 Khái quát vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc
Vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc (VKTTĐPB) tuy có diện tích nhỏ nhất nhưng là vùng có tiềm lực kinh tế lớn thứ hai cả nước sau VKTTĐPN, là hạt nhân phát triển của vùng ĐBSH và các tỉnh phía Bắc VKTTĐPB bao gồm 7 tỉnh và thành phố (từ sau 1/8/2008) là: Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh, Hưng Yên, Hải Dương, Bắc Ninh, Vĩnh Phúc Với diện tích tự nhiên là 15593.9km2 (chiếm 4.7% diện tích cả nước), dân số là 15.335,7 nghìn người năm 2014 (chiếm 17,0% dân số cả nước) [Nguồn 29.1]
Vùng có vị trí chiến lược về phát triển và hợp tác quốc tế ở phía Bắc với nhiều tuyến đường giao thông huyết mạch đi qua Trong vùng có thủ đô Hà Nội – trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học công nghệ của cả nước Vùng KTTĐPB có địa hình tương đối bằng phẳng, đất đai màu mỡ, chủ yếu được phù
sa của hệ thống sông Hồng và sông Thái Bình bồi đắp Khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa có một mùa đông lạnh, mạng lưới sông ngòi phát triển, có vùng biển rộng Đây là những thuận lợi cơ bản để vùng phát triển kinh tế, đặc biệt là phát triển nền nông nghiệp nhiệt đới với cơ cấu sản phẩm đa dạng
Hiện nay, quy mô tổng sản phẩm trong nước (GDP) của VKTTĐPB ngày càng lớn với tỉ lệ đóng góp vào GDP của cả nước ngày càng cao, chỉ đứng sau VKTTĐPN Năm 2005 GDP của vùng là 165.027 tỉ đồng, đến năm 2010 tăng lên là 462.402 tỉ đồng, năm 2014 là 695.958,7 tỉ đồng (chiếm gần 20% GDP cả
nước) Tốc độ tăng GDP trung bình năm của vùng khá cao, giai đoạn 2005 –
2014 đạt khoảng 11.9%, cao hơn mức tăng trưởng bình quân của cả nước Nhờ tốc độ tăng trưởng cao, quy mô lớn nên GDP/người hàng năm liên tục tăng, từ
Trang 2612.1 triệu đồng năm 2005 lên 55 triệu đồng (năm 2014) Năm 2014, trong số 10 tỉnh, thành phố dẫn đầu cả nước về GDP bình quân theo đầu người thì VKTTĐPB có 5 tỉnh, thành phố (Bắc Ninh, Quảng Ninh, Vĩnh Phúc, TP.Hà Nội, TP.Hải Phòng) [Nguồn 29.1].
Cơ cấu GDP khá hiện đại và có sự chuyển dịch tích cực Năm 2005 tỉ lệ lần lượt là 12,1% – 42,1% – 45,8% đến 2014 là 9,5% - 45,5% - 45,0%
Công nghiệp của vùng phát triển tương đối nhanh, đóng vai trò chủ đạo (chiếm 45,5% GDP), tập trung nhiều ngành công nghiệp trọng điểm của cả nước như: công nghiệp chế biến lương thực thực phẩm, sản xuất hàng tiêu dùng, điện
tử - tin học, sản xuất vật liệu xây dựng, công nghiệp cơ khí và dệt may – da giày, công nghiệp năng lượng Trong đó, một số ngành đạt trình độ tương đương với các nước trong khu vực và trên thế giới GTSX công nghiệp của vùng hiện
chiếm 25,5% so với cả nước Các xí nghiệp được trang bị công nghệ tiên tiến,
sản phẩm bước đầu có sức cạnh tranh, khẳng định được vị trí trên thị trường GTSX công nghiệp của các tỉnh trong vùng luôn đứng ở vị trí cao so với cả nước: Năm 2014, GTSX công nghiệp của Hà Nội lớn thứ 4 cả nước, Bắc Ninh (thứ 6), Quảng Ninh (thứ 8), Vĩnh Phúc (thứ 9), TP.Hải Phòng (thứ 10), Hải Dương (thứ 12), Hưng Yên (thứ 14)
Nhờ kinh tế phát triển mà các hoạt động dịch vụ của vùng trở nên sôi động,
có mức tăng trưởng khá và tỉ trọng cao năm 2014 chiếm 45,0% GDP toàn vùng (lớn thứ 2 sau CN – XD) Thủ đô Hà Nội và TP Hải Phòng là hai đầu mối giao thông vận tải quan trọng của vùng và cả nước Vùng KTTĐPB tập trung nhiều địa danh du lịch hấp dẫn, nổi tiếng như: chùa Hương, Cát Bà, vịnh Hạ Long, Cô Tô,
Đồ Sơn Trong đó có vịnh Hạ Long được bình chọn là 1 trong 7 kì quan thiên nhiên thế giới mới Vùng còn phát triển mạnh mẽ các hoạt động bưu chính, viễn thông Hà Nội là trung tâm thông tin, tư vấn và chuyển giao công nghệ, đồng thời còn là một trong hai trung tâm tài chính, ngân hàng, thương mại và dịch vụ lớn nhất cả nước Trong tương lai, vùng định hướng phát trỉển mạnh ngành dịch vụ và
Trang 27đẩy mạnh hơn nữa việc phát triển du lịch, khai thác các tiềm năng sẵn có.
Khu vực nông, lâm, ngư nghiệp có tốc độ tăng trưởng nhanh hơn trước, mặc dù về tỉ trọng có xu hướng giảm, năm 2014 chỉ chiếm 9,5% GDP Nông nghiệp có sự chuyển đổi cơ cấu theo hướng sản xuất hàng hóa hướng đến xuất khẩu Ngoài trọng điểm về sản xuất cây lương thực, hầu hết các tỉnh trong vùng đều phát triển được một số cây ưa lạnh đem lại hiệu quả kinh tế lớn như: cây ngô đông, khoai tây, su hào, bắp cải, cà chua và trồng hoa xen canh Hiện nay vụ đông đang trở thành vụ chính của một số địa phương trong vùng Hoạt động chăn nuôi gia súc nhỏ, gia cầm và nuôi trồng thủy sản cũng là thế mạnh của vùng Trong những năm qua, cơ cấu kinh tế nông nghiệp có sự chuyển dịch theo hướng giảm tỉ trọng trồng trọt, tăng tỉ trọng chăn nuôi và thủy sản; riêng trồng trọt thì giảm tỉ trọng cây lương thức, tăng tỉ trọng cây công nghiệp
và cây thực phẩm Sự chuyển dịch cơ cấu trong ngành nông nghiệp theo hướng CNH – HĐH đã có những tác động tích cực đến việc tăng GTSX, cải thiện đời sống của nhân dân
1.2.2 Khái quát kinh tế tỉnh Hải Dương
Hải Dương là một tỉnh nằm ở đồng bằng sông Hồng, thuộc vùng KTTĐ phía Bắc, Việt Nam Trung tâm hành chính của tỉnh là thành phố Hải Dương nằm cách thủ đô Hà Nội 57 km về phía đông, cách thành phố Hải Phòng 45 km
về phía tây Phía tây bắc giáp tỉnh Bắc Ninh, phía bắc giáp tỉnh Bắc Giang, phía đông bắc giáp tỉnh Quảng Ninh, phía đông giáp thành phố Hải Phòng, phía nam giáp tỉnh Thái Bình và phía tây giáp tỉnh Hưng Yên Diện tích tự nhiên 1656,0 km², dân số khoảng 1.712.841 người (năm 2014) [Nguồn 2]
Về mặt tổ chức hành chính, Hải Dương có 1 thành phố, 1 thị xã và 11 huyện Địa hình Hải Dương khá bằng phẳng (vùng đồng bằng chiếm 89% diện tích tự nhiên) do phù sa sông Thái Bình bồi đắp, đất màu mỡ Còn lại khoảng 11% là khu vực đồi núi thấp ở thị xã Chí Linh và huyện Kinh Môn Khí hậu nằm trong vùng nhiệt đới ẩm gió mùa, có sự khác biệt giữa mùa nóng (mùa mưa), lạnh (mùa khô) Mạng lưới sông ngòi khá phát, triển với hệ thống sông Hồng –
Trang 28sông Thái Bình tạo nên cảnh quan trù phú ven hai bờ.
Với mật độ dân số vào loại khá cao của cả nước 1.035 người/km² (năm 2014), tỉnh Hải Dương có lực lượng lao động dồi dào, chất lượng nguồn lao động đang ngày càng được cải thiện (năm 2014 có 55,0% lào động đã qua đào tạo) Cơ cấu lao động trong lĩnh vực công nghiệp – xây dựng và dịch vụ có xu hướng ngày càng tăng lên, giảm tỉ lệ lao động trong nông – lâm – ngư nghiệp
Về mặt kinh tế, Hải Dương hiện đang phát triển khá mạnh với tốc độ tăng trưởng cao Mức tăng trưởng kinh tế bình quân chung của tỉnh giai đoạn 2005 - 2014 đạt 8,5%/năm Trong đó nông – lâm – thủy sản tăng 2,3%; công nghiệp, xây dựng tăng 11,6% còn dịch vụ tăng 12,2% Giá trị GDP của tỉnh tăng từ 33.578 tỉ đồng năm 2005 lên 68.546 tỉ đồng vào năm
2014 (đã tăng 34.968 tỉ đồng so với năm 2005)
Bảng 1.1: Quy mô và cơ cấu GDP theo khu vực kinh tế tỉnh Hải Dương giai đoạn 2005 – 2014 (giá thực tế)
2014 là 44,2 triệu đồng/người (tăng 9,8 triệu đồng so với năm 2005)
Trong cơ cấu thành phần kinh tế của tỉnh Hải Dương, khu vực kinh tế nhà nước có tỉ trọng thấp nhất, tạo ra khoảng 18,8% GDP năm 2014, đã giảm 4,7%
so với năm 2005 Khu vực kinh tế ngoài nhà nước chiếm tỉ trọng cao nhất và có
Trang 29sự giảm nhẹ về tỉ trọng (từ 53,3% năm 2005 xuống 50,7% năm 2014) do tốc độ tăng của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng nhanh hơn.
Bảng 1.2: Cơ cấu GDP theo thành phần kinh tế tỉnh Hải Dương
9,5% so với năm 2005 Trong đó, khu vực kinh tế nhà nước luôn giữ vai trò chủ
đạo với việc nắm giữ các ngành kinh tế quan trọng Với cơ cấu kinh tế như vậy, Hải Dương đã và đang từng bước đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế trong nước, phù hợp với xu hướng chung và chủ động hội nhập quốc tế
Trong những năm qua, ngành nông nghiệp của Hải Dương bước đầu đã
có sự phát triển tích cực với nhịp độ tăng trưởng khá Trên cơ sở chú trọng khai thác và phát huy lợi thế sinh thái nông nghiệp của một địa bàn nằm ở trung tâm vùng ĐBSH và là bộ phận hợp thành của vùng KTTĐ phía Bắc đã tạo được sự chuyển dịch quan trọng trong cơ cấu sản xuất theo hướng phát triển hàng hóa: diện tích gieo trồng các cây ngắn ngày như cây công nghiệp, rau đậu thực phẩm và cây hàng hóa khác (hoa, cây cảnh ), diện tích cây ăn quả lâu năm, quy mô đàn gia súc, gia cầm và thủy sản có sự tăng trưởng đáng
kể GTSX nông, lâm nghiệp, thuỷ sản của tỉnh năm 2014 đạt 16.125 tỷ đồng (giá so sánh 2010), trong đó GTSX vụ Đông tăng 11,5% Hiệu quả sản xuất tiếp tục được nâng lên, giá trị sản phẩm thu hoạch trên 1ha đất trồng trọt và nuôi trồng thủy sản đạt 129,2 triệu đồng
- Trồng trọt: tiếp tục chuyển dịch cơ cấu cây trồng theo hướng mở rộng
diện tích những cây trồng có giá trị kinh tế cao, dễ tiêu thụ Tổng diện tích gieo
Trang 30trồng cây hàng năm ước đạt 163.996 ha Diện tích lúa cả năm đạt 124.910 ha, năng suất lúa bình quân ước đạt 59,3 tạ/ha/vụ Diện tích rau các loại đạt 29.355
ha, sản lượng vải quả đạt 48.206 tấn, tăng gần 2.531 tấn so với năm trước Một
số địa phương đã triển khai lập quy hoạch vùng sản xuất chuyên canh rau, màu tập trung
- Chăn nuôi, thuỷ sản: Tình hình chăn nuôi cơ bản ổn định, không có dịch
bệnh bùng phát trên diện rộng, sản phẩm chăn nuôi được giá, góp phần cải thiện thu nhập của người dân Theo kết quả điều tra chăn nuôi đàn lợn tăng 2,3%, đàn gia cầm giảm 0,1%, sản lượng thịt hơi xuất chuồng tăng 4,3% so với năm 2014 Diện tích nuôi trồng ước đạt 10.067 ha, tăng 0,2%, sản lượng thủy sản tăng 2,4%
so với năm 2014
- Lâm nghiệp: Thực hiện tốt công tác chăm sóc, quản lý và bảo vệ rừng,
nhất là diện tích rừng đặc dụng và rừng phòng hộ; trồng mới được 23,5 ha rừng Trong ngành công nghiệp, xây dựng: sản xuất công nghiệp có đà phục hồi tích cực, GTSX công nghiệp ước đạt 99.190 tỷ đồng, tăng 12,7% so với năm
2010 Các khó khăn, vướng mắc của DN về cơ bản đã được giải quyết kịp thời Một số dự án đầu tư lớn đang được đẩy nhanh tiến độ đầu tư để sớm đưa vào sản xuất như: Dự án dệt Pacific, dự án May Tinh Lợi (mở rộng),
Tiếp tục đôn đốc đầu tư hạ tầng các KCN theo quy hoạch được duyệt; điều chỉnh quy hoạch chi tiết một số KCN; hoàn thành nhận bàn giao KCN Lai Vu về tỉnh quản lý, các DN đầu tư vào KCN Lai Vu đang được tạo điều kiện thuận lợi nhất để đẩy nhanh tiến độ đầu tư dự án
Quan tâm phát triển TTCN và làng nghề, đến nay trên địa bàn tỉnh có 65 làng nghề được công nhận Hoàn thành bình chọn sản phẩm công nghiệp nông thôn cấp tỉnh, công nhận 52 sản phẩm tiêu biểu; 03 sản phẩm công nghiệp nông thôn của tỉnh được công nhận sản phẩm tiêu biểu cấp Vùng Phong tặng nghệ nhân nghề cho 12 nghệ nhân Hoàn thiện hồ sơ quyết toán kinh phí Dự án Ree
II, bàn giao dự án tại 37 xã cho Công ty TNHH MTV Điện lực Hải Dương
Trang 31Giá trị sản xuất các ngành dịch vụ (giá 2010) ước đạt 25.857 tỷ đồng, tăng 6,9% so với năm trước Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ cả năm ước đạt 34.368 tỷ đồng Công tác xúc tiến thương mại được đẩy mạnh, đã tổ chức thành công gian hàng của tỉnh tham gia Hội chợ Thương mại quốc tế lần thứ 24 (Vietnam Expo 2014) và Hội chợ thương mại quốc tế hành lang Đông - Tây Đà Nẵng Tình hình giá cả thị trường tương đối ổn định, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tăng thấp nhất trong 5 năm gần đây, chỉ số giá tiêu dùng bình quân tăng 3,6% so với năm 2010
Xuất khẩu đạt kết quả tích cực, giá trị hàng hóa xuất khẩu ước đạt 4 tỷ 18 triệu USD, tập trung chủ yếu ở khu vực FDI (chiếm tỷ trọng 97%, tăng 15,4%) Giá trị nhập khẩu ước đạt 3 tỷ 529 triệu USD, tăng 12,2% so với năm trước Doanh thu vận tải, kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 5.470 tỷ đồng, tăng 14,7% so với năm 2010
Năm 2014 toàn tỉnh ước đón và phục vụ khoảng 2,8 triệu lượt khách, tăng 0,8% so với năm 2010, trong đó có 1 triệu lượt khách lưu trú, tăng 10%, trong đó khách quốc tế đạt 215.000 lượt, giảm 0,3%, khách nội địa đạt 785.000 lượt, tăng 36% so với năm 2013 Doanh thu du lịch ước đạt 1.225 tỷ đồng, tăng 9,6 % so với năm 2010
1.3 TIỂU KẾT
Tăng trưởng và phát triển kinh tế luôn là vấn đề hàng đầu được các nhà lãnh đạo đất nước, các nhà quản lí, các nhà khoa học trong nước cũng như trên thế giới quan tâm, nghiên cứu, tìm hiểu Việc hiểu rõ cơ sở lí luận chung về phát triển và vận dụng sáng tạo phù hợp với hoàn cảnh thực tế của địa phương sẽ làm cho địa phương giàu mạnh, ngược lại sẽ dẫn địa phương đó đến nghèo khổ, yếu kém về kinh tế nếu con đường phát triển không phù hợp với quy luật
Để phát triển kinh tế, việc nắm rõ các nhân tố ảnh hưởng (vị trí địa lý, các nhân tố tự nhiên và KT – XH) và xác định được những tiêu chí để đánh giá phát triển kinh tế của một lãnh thổ là điều quan trọng
Nghiên cứu về phát triển kinh tế của vùng KTTĐPB nói chung và tỉnh
Trang 32Hải Dương nói riêng đã cho thấy bức tranh tổng quát về kinh tế: tốc độ tăng trưởng cao, cơ cấu kinh tế đã có sự chuyển dịch mạnh mẽ theo hướng CNH – HĐH Tuy nhiên tốc độ tăng trưởng và phát triển kinh tế chưa thực sự bền vững và chưa tương xứng với tiềm năng của các địa phương trong vùng.
Tứ Kỳ vốn là một huyện thuần nông của Hải Dương nhưng kinh tế của huyện trong những năm gần đây đã có những thay đổi mạnh mẽ, song đời sống nhân dân vẫn còn nghèo so với nhiều địa phương khác Vì vậy, phát triển kinh tế huyện Tứ Kỳ theo hướng CNH – HĐH được coi là mục tiêu hàng đầu nhằm nâng cao chất lượng đời sống của nhân dân
CHƯƠNG 2.
CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN
KINH TẾ HUYỆN TỨ KỲ
2.1 VỊ TRÍ ĐỊA LÍ, PHẠM VI LÃNH THỔ
Trang 33Tứ Kỳ là một huyện trong 12 đơn vị hành chính thuộc Tỉnh Hải Dương – một tỉnh nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc và ở trung tâm đồng bằng Bắc Bộ
Huyện Tứ Kỳ kéo dài từ vĩ độ 20043’ đến 20055’ Bắc, trải rộng từ kinh độ
106018’ đến 106030’ Đông Tứ Kỳ nằm hoàn toàn ở giữa vùng hạ lưu của hệ thống sông Thái Bình
- Phía Đông Bắc giáp huyện Thanh Hà (ranh giới là sông Thái Bình), phía Tây Bắc giáp thành phố Hải Dương, phía Tây giáp huyện Gia Lộc và phía Tây Nam giáp huyện Ninh Giang, đều thuộc tỉnh Hải Dương
- Phía Đông Nam giáp huyện Vĩnh Bảo (ranh giới là sông Luộc), phía Đông giáp huyện Tiên Lãng (ranh giới là một đoạn sông Thái Bình), đều là các huyện của thành phố Hải Phòng
Huyện có diện tích tự nhiên 17.019,01 ha; chiếm 9,77% diện tích tự nhiên của tỉnh Huyện gồm có 26 xã và 1 thị trấn (thị trấn Tứ Kỳ, An Thanh, Bình Lãng, Cộng Lạc, Đại Đồng, Đại Hợp, Dân Chủ, Đông Kỳ, Hà Kỳ, Hà Thanh, Hưng Đạo, Kỳ Sơn, Minh Đức, Ngọc Kỳ, Ngọc Sơn, Nguyên Giáp, Phượng Kỳ, Quang Khải, Quảng Nghiệp, Quang Phục, Quang Trung, Tái Sơn, Tân Kỳ, Tây
Kỳ, Tiên Động, Tứ Xuyên, Văn Tố)
Huyện Tứ Kỳ có vị trí tương đối thuận lợi với hệ thống giao thông thủy, bộ gồm: quốc lộ 5B, 10, 37; trục đường tỉnh lộ 391 nối từ Hải Dương đi Hải Phòng, Thái Bình, Quảng Ninh; có tuyến sông Luộc và sông Thái Bình
Với vị trí nằm giữa tam giác động lực phát triển kinh tế Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh, tạo cho Tứ Kỳ có tiềm năng, lợi thế nổi bật về thu hút đầu
tư phát triển nhiều ngành công nghiệp, dịch vụ khác nhau bao gồm: công nghiệp
cơ khí, công nghiệp may mặc, công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng, công nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu, dịch vụ vận chuyển Có lợi thế để tiếp nhận phát triển công nghiệp công nghệ cao, công nghiệp hỗ trợ, dịch vụ đào tạo, khoa học - công nghệ Nằm ở khu vực trung độ của các hành lang kinh tế Hà Nội -
Trang 34Hải Phòng, quốc lộ 37 được lưu thông sẽ giúp Tứ Kỳ có cơ hội về hợp tác, liên kết không gian phát triển kinh tế hình thành trục công nghiệp, đô thị kết nối TP.Hải Phòng - TP.Hải Dương - TP.Hà Nội.
Bảng 2.1: Các đơn vị hành chính của huyện Tứ Kỳ năm 2014
STT Tên xã, thị trấn
Diện tích (km2)
Dân số (người) STT
Tên xã, thị trấn
Diện tích (km2)
Dân số (người)
bị nhiễm mặn Tuy vậy, so với các huyện nằm trong vùng đất phù sa sông Thái Bình, huyện vẫn có địa hình tương đối bằng phẳng Do được sự bồi lắng phù sa của sông Thái Bình và sông Hồng dưới hình thức pha trộn nên đất đai của huyện
Tứ Kỳ mang đầy đủ các tính chất của đất phù sa được bồi đắp lâu ngày, đất có màu xám, cấu trúc hạt nhẹ, xen với đất thịt nhẹ, tầng canh tác từ 10 – 15cm thuận lợi cho việc thâm canh cây lúa nước, cây ăn quả và các loại rau màu thực
Trang 35phẩm khác.
2.2.2 Khí hậu
Huyện nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, với đặc trưng nóng ẩm, mưa nhiều vào mùa hè và hanh khô vào mùa đông Nhiệt độ trung bình khoảng 23,30C Sự thay đổi nhiệt độ giữa các tháng trong năm khá lớn, tháng nóng nhất nhiệt độ lên tới 37 – 380C (tập trung vào các tháng 7, tháng 8), tháng lạnh nhất xuống tới 5 – 60C (tập trung vào tháng 1, tháng 2) Độ ẩm trung bình hàng năm khoảng 85%
Lượng mưa trung bình năm khoảng 1.500 – 1.600 mm, năm cao nhất lên tới 2.300 mm và năm thấp nhất 1.260 mm và phân bố không đồng đều theo thời gian Lượng mưa tập trung chủ yếu từ tháng 5 đến tháng 10 (chiếm khoảng 80%) nên thường gây ra hiện tượng ngập úng
Nhìn chung, thời tiết, khí hậu huyện Tứ Kỳ thuận lợi cho phát triển nông nghiệp với đa dạng hóa các loại cây rau, cây thực phẩm Khí hậu với số giờ nắng trong năm tương đối thích hợp cho việc canh tác 3 vụ trong năm tạo cho huyện lợi thế về phát triển nông nghiệp, hình thành các vùng sản xuất nông sản hàng hóa tập trung, các vùng chuyên canh Khí hậu thuận lợi, là một lợi thế cơ bản cho phát triển kinh tế - xã hội huyện
2.2.3 Thủy văn
Tài nguyên nước của huyện bao gồm tài nguyên nước mặt và nước ngầm
Nguồn nước mặt: Trên địa phận huyện Tứ Kỳ có 2 con sông là sông Thái
Bình, đoạn qua Tứ Kỳ có chiều dài 28,5 km, sông Luộc đoạn qua Tứ Kỳ có chiều dài là 20 km Nước thủy triều theo cửa sông Văn Úc và cửa sông Thái Bình ảnh hưởng trực tiếp đến hệ thống thủy văn cũng như môi trường thiên nhiên của huyện
Bên cạnh sông lớn, huyện còn có trên 57,5 km sông Bắc Hưng Hải, đây là điểm cuối của hệ thống sông Bắc Hưng Hải nên toàn bộ nước dồn về Tứ Kỳ để
đổ ra hệ thống sông Thái Bình (qua cống Cầu Xe) và ra sông Luộc (qua cống An Thổ) Do hầu hết hệ thống bơm tiêu úng của Hà Nội, Bắc Ninh, Hưng Yên, Hải
Trang 36Dương đổ nước ra sông Bắc Hưng Hải nên vào mùa mưa nhiều gặp lúc thủy triều cao, hệ thống bờ kênh Bắc Hưng Hải ở Tứ Kỳ chịu áp lực lớn như sông Thái Bình và sông Luộc Đặc biệt vào mùa hạ, nước thượng nguồn đổ về kết hợp với triều cường Với đặc điểm thủy văn như vậy nên nhiệm vụ phòng chống lụt luôn được quan tâm hàng đầu vào mỗi mùa mưa bão
Nguồn nước ngầm: Theo kết quả khảo sát sơ bộ nguồn nước ngầm trên địa
bàn huyện Tứ Kỳ có trữ lượng lớn, phân bố ở độ sâu 15 – 25 m Nguồn nước ngầm hiện mới được khai thác ít cho một số cơ sở sản xuất nước khoáng, đây là nguồn nước dự trữ cho phát triển kinh tế trong tương lai
Nhìn chung, với nguồn nước mặt của 3 con sông lớn và các ao hồ, đầm ngòi cộng với nguồn nước ngầm chưa khai thác là nguồn cung cấp nước dồi dào, quan trọng đối với phát triển sản xuất công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ Ngoài
ra, hàng năm hệ thống sông ngòi còn cung cấp một lượng lớn phù sa cho cây trồng và nhiều giá trị kinh tế khác
Tuy nhiên, lượng mưa lớn và phân bố không đồng đều giữa các tháng trong năm gây ra hiện tượng ngập úng và hiện tượng sạt lở ở một số đoạn sông Các tháng 7, 8 mưa nhiều, cường độ lớn gây ngập úng ở một số xã vùng trũng và ven sông, ảnh hưởng đến sản xuất vụ mùa Nguồn nước ngầm có tiềm năng và trữ lượng lớn nhưng để sử dụng cần đầu tư về thăm dò và xử lý nguồn nước sạch
Trang 371.4 Đất nông nghiệp khác 19,26 0,1
2.5 Đất sông suối và mặt nước chuyên dùng 52,04 0,31
là đất đồng bằng xen kẽ các vùng trũng Đất được hình thành do sự bồi lắng phù
sa sông Thái Bình và sông Hồng, do đó mang đặc tính của đất phù sa, kết hợp với địa hình tương đối bằng phẳng thích hợp trồng cây lương thực, thực phẩm và cây công nghiệp ngắn ngày Ngoài lúa gạo, các sản phẩm nông nghiệp khác của huyện khá phong phú như rau, quả, cá nước ngọt
Hiện nay, khoảng 65,7% diện tích đất của huyện Tứ Kỳ là đất nông nghiệp, chủ yếu là đất trồng lúa và các cây hàng năm khác như: ngô, lạc, đậu, rau các loại… (chiếm 49,8% tổng diện tích đất của huyện) Diện tích đất nông nghiệp dành cho trồng cây lâu năm chỉ chiếm khoảng 8,0% và đất nuôi trồng thủy sản chỉ chiếm 7,8% tổng diện tích đất của huyện Đất phi nông nghiệp chiếm khoảng 1/3 diện tích của huyện (34,1%), trong đó chủ yếu là đất chuyên dùng (21,9%)
và đất ở (10,9%) Đất chưa sử dụng trên địa bàn huyện hiện còn 38,26 ha, chiếm khoảng 0,2% diện tích của huyện Cơ cấu sử dụng đất của huyện gần tương đương với cơ cấu sử dụng đất của toàn tỉnh Hải Dương năm 2014: tỉ lệ đất nông nghiệp là 63,2%; đất phi nông nghiệp là 36,5% và đất chưa sử dụng là 0,3%
Trang 38Trong quá trình phát triển theo hướng CNH hiện nay, cơ cấu sử dụng đất của huyện sẽ có nhiều thay đổi Với diện tích gần 40 ha đất chưa sử dụng và một phần lớn quỹ đất nông nghiệp là điều kiện thuận lợi để chuyển đổi sang đất phi nông nghiệp phục vụ phát triển kinh tế và quy hoạch đô thị Vấn đề đặt ra là phải quy hoạch và sử dụng thật hiệu quả nguồn lực quan trọng này để phục vụ cho sự phát triển bền vững KT – XH của huyện.
2.2.5 Tài nguyên sinh vật
Là vùng đất trũng, có vùng nước lợ, Tứ Kỳ là huyện có nhiều loài thủy sản cư trú và sinh sống Theo số liệu báo cáo quy hoạch thủy sản của huyện, trên lãnh thổ huyện có khoảng 30 loài cá, tôm và đặc sản sinh sống, bao gồm các loại như: cá mè trắng, cá mè hoa, trôi, trắm, chép, baba, ếch… Một số giống mới như: rô phi đơn tính, cá trê lai, cá chim trắng, tôm càng xanh, các loại động vật đặc hữu vùng nước lợ như: con rươi, con cáy, con cà ra, con rạm, con ruốc, ốc xoắn, tôm rảo, cá đối, cá mòi…
Tứ Kỳ hiện có 1.327,48 ha đất nuôi trồng thủy sản, hơn 50 ha đất mặt nước chuyên dùng Ngoài ra huyện còn có diện tích đất trũng cấy lúa (khoảng 2.000 ha), những diện tích này cấy lúa thường cho năng suất thấp ở
cả 2 vụ (chiêm xuân, mùa) nên có thể chuyển đổi sang cấy lúa vụ xuân kết hợp với thả cá vụ mùa, mang lại hiệu quả kinh tế cao trên mỗi đơn vị đất canh tác Như vậy, tiềm năng nuôi trồng thủy sản của huyện còn rất lớn, cần được đầu tư lớn cả về vốn và kĩ thuật nuôi trồng, quan tâm vấn đề môi trường sinh thái, đảm bảo phát triển hiệu quả và hài hòa giữa phát triển thủy sản và các ngành kinh tế khác
Trang 392.2.6 Tài nguyên khoáng sản
Khoáng sản huyện Tứ Kỳ không nhiều và chủ yếu là cát, sỏi xây dựng, đất sét thuận lợi cho việc sản xuất vật liệu xây dựng, đặc biệt là gạch, ngói Với mục tiêu phát triển KT – XH của huyện thì nguồn cát, sỏi để san lấp mặt bằng và xây dựng công trình cũng là tiềm năng lớn Tuy nhiên, huyện cần có quy hoạch chi tiết để vừa đảm bảo khai thác tốt nguồn cát cho xây dựng vừa bảo vệ hệ thống đê điều tránh gây sạt lở, ảnh hưởng đến đê kè lũ lụt vào mùa mưa
2.3 CÁC NHÂN TỐ KT – XH
2.3.1 Dân cư và nguồn lao động
2.3.1.1 Dân cư
Bảng 2.3: Diện tích, dân số và mật độ dân số tỉnh Hải Dương
phân theo huyện, thành phố năm 2014
STT Đơn vị hành chính Diện tích
(km 2 )
Dân số (người)
Mật độ DS (người/km 2 )
Trang 40mật độ trung bình của cả nước.