mật khi sử dụng mạng xã hội., lừa đảo và nhận diện kẻ lừa đảo trên mạng xãhội, bảo mật các kết nối mạng, bảo mật giao dịch trực tuyến, an toàn tronggiao tiếp Email, bảo mật thiết bị di đ
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành, sâu sắc nhất đến cô giáo TS Vũ Thị Khánh Linh, cô luôn tận tụy hướng dẫn về mặt khoa học, luôn khích lệ, động viên tôi trong quá trình thực hiện đề tài.
Tôi xin trân trọng cảm ơn sự giúp đỡ quý báu của các em sinh viên trường Cao Đẳng Sư Phạm Thái Bình đã nhiệt tình cộng tác để tôi có thể hoàn thành đề tài này.
Luận văn không thể tránh khỏi những thiếu sót, với tinh thần thực sự cầu thị, rất mong nhận được sự chia sẻ, góp ý kiến của quý thầy cô cùng các bạn để đề tài được hoàn thiện hơn !
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 26 tháng 10 năm 2016
Tác giả
Phan Thị Mai
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 3
3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 3
4 Giả thuyết khoa học 3
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 4
6 Giới hạn về phạm vi nghiên cứu 4
7 Phương pháp nghiên cứu 5
8 Cấu trúc của luận văn 5
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KỸ NĂNG TỰ BẢO VỆ KHI THAM GIA MẠNG XÃ HỘI 6
1.1 Sơ lược lịch sử nghiên cứu vấn đề 6
1.1.1 Những nghiên cứu về kỹ năng ở nước ngoài 6
1.1.2 Những nghiên cứu về kỹ năng tự bảo vệ ở Việt Nam 8
1.2 Một số vấn đề lý luận cơ bản 21
1.2.1 Lý luận về mạng xã hội 21
1.2.2 Một số lí luận về an toàn thông tin mạng 29
1.2.3 Lý luận kĩ năng 33
1.2.4 Một số đặc điểm tâm lý tuổi sinh viên 39
1.2.5 Ảnh hưởng của mạng xã hội đến đời sống và học tập của sinh viên 41
1.2.6 Kĩ năng tự bảo vệ khi tham gia MXH 42
Tiểu kết chương 1 44
Chương 2 TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 45
2.1 Tổ chức nghiên cứu 45
2.1.1 Khách thể và địa bàn nghiên cứu 45
Trang 32.1.2 Tổ chức nghiên cứu 46
2.2 Phương pháp nghiên cứu 47
2.2.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu văn bản 47
2.2.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn 48
2.2.3 Phương pháp xử lý số liệu bằng thống kê toán học 49
Tiểu kết chương 2 52
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU THỰC TIỄN VỀ KĨ NĂNG TỰ BẢO VỆ KHI THAM GIA MẠNG XÃ HỘI CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG CAO ĐẲNG SƯ PHẠM THÁI BÌNH 53
3.1 Nhận thức của sinh viên về mạng xã hội và thực trạng sử dụng mạng xã hội của sinh viên 53
3.1.1 Mức độ sử dụng MXH và các MXH sinh viên thường dùng 53
3.1.2 Thời gian và nội dung sinh viên vào mạng xã hội 56
3.1.3 Số lượng đối tượng giao lưu trên mạng của sinh viên 64
3.1.4 Nhận thức về tính năng của MXH 67
3.1.5 Nhận thức về những thuận lợi và khó khăn khi sử dụng mạng xã hội 69
3.2 Nhận thức của sinh viên về kỹ năng tự bảo vệ khi tham gia mạng xã hội 77
3.2.1 Nhận thức về khái niệm tự vảo vệ và tính cần thiết phải trang bị kĩ năng tự bảo vệ khi tham gia các mạng xã hội của sinh viên 77
3.2.2 Nhận thức về các hiện tượng tiêu cực/rủi ro có thể xảy ra khi tham gia mạng xã hội 79
3.2.3 Nhận thức về mức độ hiệu quả của cách cách ứng phó với các hiện tượng tiêu cực khi tham gia các mạng xã hội 90
3.3 Các biểu hiện của kỹ năng tự bảo vệ của sinh viên khi tham gia mạng xã hội 93
3.3.1 Kĩ năng xác định các mục đích khi sử dụng mạng xã hội 93
3.3.2 Kĩ năng nhận biết các hiện tượng tiêu cực và các cách ứng phó phù hợp 102
Trang 43.3.3 Kĩ năng xác định mức độ các hành vi tự bảo vệ phù hợp/ kĩ năng lựa
chọn các ứng phó/tự bảo vệ phù hợp 104
3.3.4 Kĩ năng cập nhật các thông tin/cách thức sử dụng MXH 108
3.3.5 Một số kĩ năng sử dụng MXH cụ thể 110
3.3.6 Một số tình huống cụ thể khi sử dụng Facebook 120
3.4 Đánh giá chung về nhận thức và kĩ năng tự bảo vệ của sinh viên khi tham gia các mạng xã hội 127
3.4.1 Nhận thức của sinh viên trường CĐSP Thái bình về MXH và các kĩ năng tự bảo vệ khi tham gia MXH 127
3.4.2 Thực trạng kĩ năng tự bảo vệ của sinh viên trường CĐSP Thái Bình khi tham gia các MXH 129
3.5 Các hệ quả của mạng xã hội tác động đến sinh viên và vai trò của kỹ năng tự bảo vệ khi tham gia mạng xã hội 129
3.5.1 Các hệ quả của mạng xã hội tác động lên sinh viên 129
3.5.2 Vai trò của kĩ năng tự bảo vệ khi tham gia các mạng xã hội 138
3.6 Các nguyên nhân của thực trạng kỹ năng tự bảo vệ bản thân của sinh viên còn thấp 139
3.7 Đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao kỹ năng tự bảo vệ cho sinh viên khi tham gia mạng xã hội 140
Tiểu kết chương 3 141
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 142
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 149 PHỤ LỤC
Trang 5DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1.1a Thống kê số lượng sinh viên theo năm học và theo giới tính(%)
N=245 45
Bảng 2.1.1b Số lượng sinh viên theo chuyên ngành, nơi sinh 46
Bảng 3.1.1 Nhận thức về khái niệm MXH (1≤X≤ 3) 53
Bảng 3.1.1 Các loại MXH sinh viên tham gia 54
Bảng 3.1.2a Thời gian và nội dung sinh viên vào mạng xã hội (1≤x≤3) 57
Bảng 3.1.2b Thời gian truy cập mạng xã hội của sinh viên xét theo năm học 58
Bảng 3.1.2c Thời gian truy cập mạng xã hội của sinh viên xét theo giới tính (1≤X≤3) 61
Bảng 3.1.3 Số bạn trên mạng xã hội của sinh viên(%) 64
Bảng 3.1.4 Nhận thức về tính năng của MXH (1≤X≤8) 67
Bảng 3.1.5 Những khó khăn khi sử dụng MXH (1≤X≤5) 69
Bảng 3.1.5b Những thuận lợi khi sử dụng MXH (1≤X≤5) 73
Bảng 3.2.2a Nhận thức về các hiện tượng tiêu cực của MXH (1≤X≤3) 81
Bảng 3.2.2.b Nhận thức về các hiện tượng tiêu cực của MXH theo giới tính (1≤X≤3) 84
Bảng 3.2.2d Nhận thức về các hiện tượng tiêu cực do MXH gây ra theo khoá học (1≤X≤3) 86
Bảng 3.2.3 Nhận thức về mức độ hiệu quả của cách cách ứng phó với các hiện tượng tiêu cực khi tham gia các mạng xã hội (1≤X≤3) 90
BẢNG 3.3.1a Mục đích truy cập MXH của sinh viên 94
Bảng 3.3.1b Mục đích và nội dung truy cập MXH của sinh viên theo năm học 96
Bảng 3.3.2 Kĩ năng nhận biết các hiện tượng tiêu cực và các cách ứng phó phù hợp (1≤x≤3) 102
Bảng 3.3.3 Kĩ năng lựa chọn các ứng phó/tự bảo vệ phù hợp 104
Trang 6Bảng 3.3.4 Kĩ năng cập nhật các thông tin/cách thức sử dụng MXH(1≤X≤3) 109
Bảng 3.3.5.1 Kĩ năng bảo vệ tài khoản MXH 111
Bảng 3.3.5.2 Cách quản lí thông tin cá nhân 116
Bảng 3.3.5.3 Cách thức kiểm tra tính xác thực của thông tin 119
Bảng 3.3.6.1 Kĩ năng bảo vệ tài khoản Facebook 121
Bảng 3.3.6.2 Kĩ năng xử lí tình huống lừa đảo trên trang cá nhân 124
Bảng 3.3.6.3 Kĩ năng bảo vệ tài khoản Facebook khỏi bị đánh cắp 126
Bảng 3.5.1.2 Đánh giá của sinh viên về những ảnh hưởng tiêu cực của MXH(%) 134
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài.
Hiện nay, với ảnh hưởng của sự bùng nổ và phát triển mạnh mẽ củacông nghệ thông tin, các ứng dụng của nó len lỏi tới mọi ngõ ngách của cuộcsống, đến mọi người hơn Thế giới thực sự “phẳng”, chỉ với một chiếcsmartphone với cái chạm tay, cả thế giới hiện ra trước mắt bạn
Mạng xã hội là dịch vụ nối kết các thành viên cùng sở thích trên lại vớinhau với nhiều mục đích khác nhau không phân biệt không gian và thời gian.Những người tham gia vào mạng xã hội còn được gọi là cư dân mạng
Mạng xã hội có những tính năng như phim ảnh, voice chat, chia sẻ file,blog và xã luận Mạng đổi mới hoàn toàn cách cư dân mạng liên kết với nhau
và trở thành một phần tất yếu của mỗi ngày cho hàng trăm triệu thành viênkhắp thế giới.Các dịch vụ này có nhiều phương cách để các thành viên tìmkiếm bạn bè, đối tác: dựa theo group (ví dụ như tên trường hoặc tên thànhphố), dựa trên thông tin cá nhân (như địa chỉ e-mail hoặc screen name), hoặcdựa trên sở thích cá nhân (như thể thao, phim ảnh, sách báo, hoặc ca nhạc),lĩnh vực quan tâm: kinh doanh, mua bán
Bên cạnh những mặt tích cực thì việc sử dụng mạng xã hội cũng gâykhông ít “phiền toái” cho người dùng đặc biệt là những người trẻ, phổ biếnnhất là đã làm nảy sinh biểu hiện “nghiện” mạng xã hội ở một số thành viênnhư tiêu tốn thời gian “lướt mạng” truy cập và tìm kiếm những thông tin vô
bổ, thậm chí có hại; chơi game online bất kể giờ giấc và nhiều người sa vàonhững game bạo lực, khiêu dâm Mạng xã hội còn tiềm ẩn nguy cơ khinhững thông tin, nội dung, hình ảnh riêng tư được đưa lên mạng để chia sẻvới người thân, bạn bè… nhưng vô tình bị kẻ xấu lợi dụng và sử dụng vàomục đích xấu, hoặc là người sử dụng mạng xã hội chưa có ý thức, vô tráchnhiệm trong việc đưa thông tin xấu lên mạng gây ảnh hưởng không tốt đến
Trang 8suy nghĩ của một bộ phận cư dân mạng và dư luận xã hội Những cá nhân dễ
“nổi tiếng” nhờ mạng xã hội nhưng cũng dễ bị mạng xã hội “ném đá”, vùi dậpnhân cách, có khi dẫn đến những tai hoạ khôn lường Sự tương tác tức thời và
“không biên giới” của thế giới mạng có sức quyến rũ mê hoặc ghê gớm đồngthời là một sức mạnh có thể“hủy diệt”một cá nhân chỉ trong chốc lát Thế giớimạng như một tấm gương của cuộc sống, chỉ có điều cần lưu ý, nó là tấmgương phóng đại nhiều lần những tốt đẹp hay xấu xa của mỗi con người, củamột xã hội
Hiện nay theo quan sát giới trẻ là lực lượng tham gia các mạng xã hội
là nhiều nhất Tuy nhiên, sinh viên nói riêng hay giới trẻ nói chung lại khôngđược trang bị những kiến thức cần thiết nhất và những kỹ năng để có thể tựbảo vệ các thông tin và dữ liệu của mình Họ không nắm đươc những kháiniệm cơ bản về các mối nguy hiểm khi sử dụng máy tính và hệ thống mạng ví
dụ như nhận diện hình thức đánh cắp thông tin, gian lận trong thanh toán thẻtin dụng, lừa đảo trong thanh toán trực tuyến qua ngân hàng (phishing), virusand backdoor, lừa đảo qua email (emails hoaxes), mất cắp thông tin mật, tấncông phá hoại và lừa đảo qua mạng xã hội
Do nhu cầu học tập, do đời sống của người dân được nâng cao nên hầuhết sinh viên đều có thể tự trang bị cho mình các thiết bị thông minh như điệnthoại thông minh, máy tính đây là điều kiện để sinh viên có thể dễ dàng truycập vào các trang mạng xã hội
Chúng ta có thể dễ dàng truy cập những trang nhật kí trên các mạng xãhội hay việc thành lập ra các hội nhóm , bình luận những sự kiện diễn ra trongđời sống Và đây chính là những nguy cơ tiềm ẩn dể những kẻ xấu lợi dụng ácthông tin cá nhân
Giới trẻ nói chung và sinh viên nói riêng, thực sự chưa tiếp cận và nắmvững những khái niệm về bảo vệ cá nhân khi tham gia mạng xã hội như bảo
Trang 9mật khi sử dụng mạng xã hội., lừa đảo và nhận diện kẻ lừa đảo trên mạng xãhội, bảo mật các kết nối mạng, bảo mật giao dịch trực tuyến, an toàn tronggiao tiếp Email, bảo mật thiết bị di động…
Từ những phân tích sơ bộ như trên, chúng tôi lựa chọn đề tài luận văn
là “Kỹ năng tự bảo vệ khi tham gia các mạng xã hội của sinh viên trường Cao đẳng sư phạm Thái Bình”, nhằm tìm hiểu về thực trạng sử dụng mạng
xã hội, khả năng tự bảo vệ các thông tin cá nhân, đề xuất các biện pháp nângcao kỹ năng tự bảo vệ cho sinh viên khi tham gia mạng xã hội
2 Mục đích nghiên cứu
Đề tài tiến hành tìm hiểu thưc trạng kỹ năng tự bảo vệ bản thân khitham gia các mạng xã hội của sinh viên trường Cao đẳng sư phạm Thái Bình.Các nguyên nhân ảnh hưởng đến kỹ năng này của sinh viên Từ đó đề xuấtmột số biện pháp nhằm phát triển kỹ năng tự bảo vệ bản thân khi tham gia cácmạng xã hội cho sinh viên trường Cao đẳng sư phạm Thái Bình
3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Kỹ năng tự bảo vệ bản thân khi tham gia mạng xã hội của sinh viên
trường Cao đẳng sư phạm Thái Bình
3.2 Khách thể nghiên cứu
Sinh viên các khoa Khoa học Tự nhiên, khoa Xã hội Nhân văn, KhoaNgoại ngữ, khoa Giáo dục Tiểu học, Khao Giáo dục Mầm non thuộc trườngCao đẳng Sư phạm Thái Bình
4 Giả thuyết khoa học
Nhìn chung kỹ năng tự bảo vệ bản thân của sinh viên khi tham giamạng xã hội đều ở mức thấp Có sự khác biệt về mức độ kỹ năng giữa nhómsinh viên nam và sinh viên nữ, sinh viên ở các khoá học khác nhau Nguyênnhân chủ yếu ảnh hưởng đến thực trạng này là do sinh viên chưa có nhận thức
Trang 10đầy đủ về các biện pháp bảo vệ bản thân khi sử dụng các mạng xã hội Nângcao nhận thức cho sinh viên về các cách thức tự bảo vệ mình trên mạng xã hội
là một trong những biện pháp hiệu quả giúp phát triển kỹ năng tự bảo vệ bảnthân của sinh viên khi sử dụng các mạng xã hội
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu một số vấn đề lý luận về kỹ năng, tự bảo vệ, kỹ năng tự bảo
vệ của sinh viên, mạng xã hội làm cơ sở lý luận cho vấn đề nghiên cứu
- Tìm hiểu thực trạng kĩ năng tự bảo vệ của sinh viên khi sử dụngmạng xã hội và các nguyên nhân ảnh hưởng đến thực trạng này
- Đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao kỹ năng tự bảo vệ khi sửdụng mạng xã hội cho sinh viên
6 Giới hạn về phạm vi nghiên cứu
6.1 Giới hạn về đối tượng nghiên cứu
Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu về kỹ năng tự bảo vệ của sinh viên khi
sử dụng/tham gia mạng xã hội trên các khía cạnh nhận thức và hành vi thựchiện một số cách thức tự bảo vệ, cụ thể gồm:
Về nhận thức của sinh viên:
- Nhận thức về khái niệm MXH
- Nhận thức về khái niệm tự bảo vệ
- Nhận thức về tính năng của MXH
- Nhận thức về sự ảnh hưởng của MXH tới người dùng
- Nhận thức về những thuận lợi khi tham gia
- MXH Nhận thức về những khó khăn khi tham gia MXH
- Nhận thức về các hiện tượng tiêu cực có thể xảy ra trên các MXH
- Nhận thức về sự cần thiết trang bị kĩ năng tự bảo vệ
- Nhận thức về các cách tự bảo vệ/ ứng phó
Về các nội dung cảu kỹ năng tự bảo vệ bản thân như:
- Kĩ năng xác định các mục đích khi sử dụng mạng xã hội
Trang 11- Kĩ năng xác định mức độ các hành vi tự bảo vệ phù hợp/ kĩ năng lựachọn các ứng phó/tự bảo vệ phù hợp
- Kĩ năng cập nhật các thông tin/cách thức sử dụng MXH
- Kĩ năng bảo vệ tài khoản MXH
- Kĩ năng bảo mật thông tin cá nhân trên tài khoản MXH
- Kĩ năng kiểm chứng tính xác thực của thông tin
- Kĩ năng tự bảo vệ khi tham gia Facebook
- Kĩ năng xử lí khi gặp tình huống giả mạo/lừa đảo trên trang cá nhân
- Kĩ năng bảo vệ tài khoản Facebook khỏi bị đánh cắp
6.2Giới hạn về khách thể nghiên cứu
Chúng tôi tiến hành nghiên cứu 245 sinh viên của trường Cao đẳng Sưphạm Thái Bình
Trong đó, 65 sinh viên năm nhất, 90 sinh viên năm 2, 90 sinh viên nămba; 35 sinh viên nam và 210 sinh viên nữ
7 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu văn bản
- Phương pháp quan sát
- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
- Phương pháp phỏng vấn sâu
- Phương pháp xử lý số liệu bằng thống kê toán học
8 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, danh mục tài liệu thamkhảo, phụ lục, thì luận văn còn có 3 chương:
Chương 1 Cơ sở lý luận về kỹ năng tự bảo vệ khi tham gia các mạng
xã hội
Chương 2 Tổ chức và phương pháp nghiên cứu
Chương 3 Kết quả nghiên cứu thực trạng kĩ năng tự bảo vệ khi thamgia các mạng xã hội của sinh viên trường Cao đẳng Sư phạm Thái Bình
Trang 12Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KỸ NĂNG TỰ BẢO VỆ KHI THAM
GIA MẠNG XÃ HỘI
1.1 Sơ lược lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1 Những nghiên cứu về kỹ năng ở nước ngoài
Nghiên cứu về kỹ năng và kỹ năng hoạt động nói chung, trước tiên phải
kể đến Nhà bác học Hy lạp cổ đại lỗi lạc Arixtốt (384 - 322 TCN) Trong
cuốn sách đầu tiên của loài người “Bàn về tâm hồn” của ông đã nói đến tâm
lý học và đặc biệt quan tâm đến phẩm hạnh của con người Theo ông, nộidung của phẩm hạnh là “biết định hướng, biết việc làm, biết tìm tòi”[64] cónghĩa là con người có phẩm hạnh là con người có kỹ năng làm việc
Trong các công trình nghiên cứu của các nhà giáo dục học nổi tiếng ởthế kỷ XIX như: G.Rutxô (Pháp), K.Đ.Usinxki (Nga), J.A.Cômenxki (TiệpKhắc) cũng đã đề cập đến kỹ năng trí tuệ và hình thành kỹ năng Tiếp đó cácnhà tâm lý học Xô viết cũng đi sâu nghiên cứu về kỹ năng của con ngườitrong học tập, lao động, có thể kể đến các tác giả: X.I Kixegôv, ông đã phântích khá sâu về kỹ năng, ông phân biệt kỹ năng ở hai mức độ: Kỹ năng bậc
thấp - được hình thành lần đầu bằng hoạt động đơn giản, là cơ sở hình thành
kỹ xảo và Kỹ năng bậc cao - hình thành lần thứ 2 sau khi đã có tri thức và kỹ xảo [42] Các tác giả A.V.Pêtrôvxki [53] và V.A.Cruchetxki đi sâu nghiên
cứu kỹ năng của những hành động phức tạp, trong điều kiện không ổn định,
và nhấn mạnh rằng cơ sở của việc hình thành kỹ năng là các tri thức và kinhnghiệm đã có do thực hiện các hành động tương tự trước đó mang lại
Tâm lý học hành vi ra đời đầu thế kỷ XX, đại diện là: J Watson,B.Ph.Skinner, Bandura, E.Tolmen, K.Hull [70] Theo thuyết hành vi, thựcchất của sự học là nhằm làm cho hành vi phù hợp với những điều kiện mới,
đó là quá trình rèn luyện công phu và có phương pháp trong quá trình thao tácvới máy móc Với quan điểm của trường phái tâm lý học hành vi, theo chúng
Trang 13tôi, đây là vấn đề mà các nhà tâm lý học và giáo dục học cần quan tâm bởivấn đề không chỉ là rèn luyện kỹ năng hành động mà cần phải hình thành kỹnăng tổ chức hành động tìm ra được cách giải quyết đạt hiệu quả cao trongmọi tình huống, mọi hoàn cảnh.
Trong tâm lý học lao động, các nhà tâm lý học phương tây khi nghiêncứu kỹ năng lao động đã đề cập đến kỹ năng, kỹ xảo, vai trò của kỹ năngtrong lao động, vấn đề hình thành kỹ năng cho người lao động trong quá trìnhhoạt động, sự thành thạo về thao tác là điều kiện quan trọng để nâng cao hiệuquả lao động, nhưng không có nghĩa là mọi hoạt động của con người cần phảiđạt đến kỹ xảo Trên thực tế nhiều hoạt động đòi hỏi người lao động phải linhhoạt, mềm dẻo, con người không chỉ thành thạo các thao tác nghề nghiệp, màcòn cần có sự linh hoạt, sáng tạo, đại diện là K.K.Platonov, G.G.Golubev,V.V.Tsêbưsêva [69]
Lĩnh vực quản lý cũng có nhiều công trình nghiên cứu về kỹ năng Cácchuyên gia hàng đầu về khoa học quản lý như Harold Koontz, CyrilO’Donnell và Heinz Weihrich [36] chỉ ra những kỹ năng cơ bản của nhà quản
lý là: Kỹ năng kỹ thuật, kỹ năng thực hiện các mối quan hệ con người, kỹnăng nhận thức Theo các tác giả thì tầm quan trọng của các kỹ năng này thayđổi tùy theo cấp độ quản lý (cấp cao, cấp trung gian, cấp cơ sở) Nghĩa là cấpquản lý càng cao thì kỹ năng nhận thức và thiết kế càng có ý nghĩa Ngược lạiđối với cấp quản lý thấp thì kỹ năng kỹ thuật lại có ý nghĩa hơn Trong cuốn
“Các kỹ năng lãnh đạo giành cho nhà quản trị” của tác giả Marlene Caroselli
cũng đề cập đến các kỹ năng cụ thể cần có của nhà quản trị [14], các nhóm kỹnăng cần thiết để công tác tổ chức quản lý có hiệu quả TheoP.M.Kecgientsev [37] đã phân tích và đề xuất những yếu tố cơ bản của côngtác tổ chức như mục đích các kiểu tổ chức, các phương pháp tổ chức, cácphương tiện, điều kiện tổ chức, đặc điểm tâm lý quần chúng được tổ chức,
Trang 14những yêu cầu về phẩm chất của người làm công tác tổ chức…tất cả đều cầnthiết cho mọi hoạt động, nhưng người làm công tác tổ chức phải nắm vững trithức về lĩnh vực hoạt động cụ thể đó và phải có sự mềm dẻo, sáng tạo trongquá trình tổ chức để đạt hiệu quả cao.
* Như vậy: vấn đề kỹ năng đã được các nhà tâm lý học nước ngoài đề
cập đến từ lâu và đến nay vẫn tiếp tục được nghiên cứu, ứng dụng trong thựctiễn để đáp ứng được yêu cầu của sự phát triển xã hội
1.1.2 Những nghiên cứu về kỹ năng tự bảo vệ ở Việt Nam
Ở Việt Nam, vấn đề kỹ năng cũng được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm
làm rõ các khái niệm kỹ năng, kỹ năng lao động, kỹ năng sư phạm và kỹ năng
tổ chức…Ở đây chúng ta có thể nhìn thấy các công trình nghiên cứu kỹ năngtheo ba hướng cơ bản như sau:
Hướng thứ nhất: Những công trình có tính khái quát về kỹ năng, kỹ
xảo, mối quan hệ giữa kỹ năng và kỹ xảo và các điều kiện hình thành kỹnăng, kỹ xảo trong các hoạt động nói chung và trong lao động công nghiệpnói riêng Tiêu biểu là các tác giả Trần Trọng Thủy trong “Tâm lý học laođộng” đã trình bày về khái niệm kỹ năng, các điều kiện hình thành kỹ nănghoạt động lao động [67] Tác giả Phạm Tất Dong thì cho rằng có 4 giai đoạnhình thành kỹ năng, mỗi giai đoạn có những đặc điểm đặc trưng, yêu cầu nhấtđịnh đó là: Giai đoạn hình thành kỹ năng sơ bộ; Giai đoạn hoạt động vớinhững kỹ năng chưa thành thạo; Giai đoạn hình thành những kỹ năng chung,
kỹ năng phát triển cao và giai đoạn con người sử dụng một cách sáng tạonhững kỹ năng khác nhau, giai đoạn kỹ năng cao nhất
Hướng thứ hai: Những nghiên cứu về kỹ năng hoạt động sư phạm nói
chung, kỹ năng dạy học của giáo viên và kỹ năng học tập của học sinh nóiriêng Các nhà nghiên cứu Nguyễn Quang Uẩn, Nguyễn Như An, Ngô CôngHoàn đã có những công trình chuyên sâu về kỹ năng hoạt động sư phạm và
Trang 15quy trình hình thành kỹ năng hoạt động sư phạm cho sinh viên các trường sưphạm Một số tác giả nghiên cứu về kỹ năng giải quyết tình huống sư phạmcủa giáo viên, sinh viên sư phạm, tiêu biểu như tác giả Nguyễn Đình Chỉnh[16]; Tác giả Trần Thị Quốc Minh [48] Tác giả Nguyễn Hữu Dũng quan tâm
và khẳng định vai trò cần thiết của việc hình thành kỹ năng sư phạm cho sinhviên là: “Cần hết sức coi trọng việc hình thành kỹ năng sư phạm cho giáo sinh
sư phạm” Một số tác giả như Nguyễn Đình Chỉnh, Trần Hữu Luyến, TrầnNgọc Diễm đã trình bày kỹ năng giải quyết tình huống sư phạm theo một quytrình xác định Các tác giả đưa ra một hệ thống các tình huống sư phạm vàhướng dẫn cách giải quyết theo quy trình nhất định
Hướng thứ ba: Nghiên cứu về kỹ năng trong công tác quản lý, tổ chức
hoạt động Tác giả Trần Quốc Thành [68] đã đi sâu nghiên cứu cấu trúc của
kỹ năng tổ chức hoạt động Theo tác giả này, hệ thống kỹ năng tổ chức rấtphong phú với 5 thành phần cơ bản: Nhận thức, Thiết kế, Phân công - phốihợp, giao tiếp, thực hiện nhiệm vụ Các thành phần này có mối quan hệ chặtchẽ, chi phối lẫn nhau trong quá trình hoạt động Trong cuốn “Kỹ năng trongquản lý” [29] của Giang Hà Huy tác giả đề cập đến các kỹ năng mà nhà quản
lý cần rèn luyện như kỹ năng tổ chức hoạt động, kỹ năng quản lý con người
và các mối liên hệ, bên cạnh đó tác giả đã giải thích và đơn giản hoá suy nghĩcủa các chuyên gia quản lý hàng đầu thế giới và các nhà quản lý khác bằngcác suy nghĩ thực tế thông thường nhưng rất có ích cho tất cả các đối tượnglàm công tác quản lý từ giám đốc công ty, các nhà quản lý trường đại học,công chức nhà nước, sĩ quan quốc phòng, quản đốc nhà máy và rất có giá trịcho sinh viên khoa quản lý Trong đó tác giả đã thực tế hoá hầu hết các kỹnăng quản lý như tổ chức quản lý, xây dựng êkíp, quản lý con người, mốiquan hệ người với người, các nhân tố tổ chức Tác giả Nguyễn Đình Chỉnh và
Phạm Ngọc Uyển [17] cho rằng: kỹ năng quản lý có vai trò quyết định đối
Trang 16với chất lượng và hiệu quả của việc giải quyết các nhiệm vụ của các hoạtđộng như giao tiếp quản lý của chủ thể quản lý Kỹ năng quản lý được coinhư một hệ thống cấu trúc, bao gồm các kỹ năng bộ phận như biết định hướngđúng, biết tổ chức, chỉ đạo việc thực hiện tốt kế hoạch và biết kiểm tra, đánhgiá, hiệu chỉnh một cách hợp lý các quá trình giải quyết nhiệm vụ quản lý.Các tác giả Nguyễn Ngọc Phú, Trần Ngọc Khuê, Nguyễn Hải Khoát [39], HồVân Chiểu thì cho rằng: kỹ năng khai thác trí lực của nhiều người khác, củatập thể là một trong những phẩm chất trí tuệ cơ bản của người lãnh đạo.
Các công trình nghiên cứu luận văn thạc sĩ, tiến sĩ của Trần Thị TuyếtMai, Trần Thị Tú Quyên [58] đã nghiên cứu về kỹ năng giải quyết tình huốngquản lý và đã khẳng định tầm quan trọng của kỹ năng giải quyết tình huốngquản lý của người lãnh đạo, các tác giả đã phân tích được thực trạng của kỹnăng giải quyết tình huống và quan tâm đến kết quả giải quyết tình huống,song chưa đi sâu vào biện pháp rèn luyện kỹ năng và quá trình giải quyết tìnhhuống cụ thể cho các đối tượng làm công tác quản lý
* Nhìn chung: xuất phát từ các đối tượng hoạt động khác nhau, các luận
điểm khác nhau, các tác giả đã có các hướng nghiên cứu khác nhau để tìm ramột kết quả chung nhất cho vấn đề kỹ năng nên các tác giả không có nhữngquan điểm trái ngược
*Tổng quan nghiên cứu về mạng xã hội
1.1.2.1 Các công trình nghiên cứu trên thế giới về mạng xã hội
Mạng xã hội (Social network) hay còn gọi là Mạng xã hội ảo là dịch vụkết nối các thành viên cùng sở thích trên internet lại với nhau, với nhiều mụcđích khác nhau Khi các cá nhân tham gia vào xã hội ảo - mạng xã hội thìkhoảng cách về không gian địa lý, giới tính, độ tuổi, thời gian trở nên vônghĩa Nhờ vào những ưu việt này mà mạng xã hội đang có tốc độ lây lanchóng mặt ở mọi lứa tuổi, đặc biệt là ở thanh niên trên toàn thế giới
Trang 17Mạng xã hội xuất hiện lần đầu tiên vào năm 1995 với sự ra đời của trangClassmate với mục đích kết nối bạn học Tiếp theo là sự xuất hiện củaSixDegrees vào năm 1997 với mục đích giao lưu kết bạn dựa theo sở thích[23] Năm 2002, Friendster trở thành một trào lưu mới tại Hoa Kỳ với hàngtriệu thành viên ghi danh Năm 2004, MySpace ra đời với các tính năng nhưphim ảnh (embedded video) đã nhanh chóng thu hút hàng chục ngàn thànhviên mới mỗi ngày [24] MySpace trở thành mạng xã hội đầu tiên có nhiềulượt xem hơn cả Google và được tập đoàn News Corporation mua lại với giá
580 triệu USD Cùng năm 2004, Facebook ra mắt Ban đầu đây là địa chỉ dànhcho sinh viên đại học kết nối và chia sẻ Ngay sau khi ra đời tại trụ sở trườngđại học Harvard, Facebook đã có tới 19.500 sinh viên đăng kí trong tháng đầutiên Hai năm sau, Twitter cũng kịp thời ra đời, ghi dấu mốc quan trọng trongquá trình phát triển của mạng xã hội Tại thời điểm năm 2008, mỗi giây ngườidùng Twitter đăng lên 3.283 thông điệp và mỗi ngày mạng xã hội Twitter cũngthực hiện hơn 800 triệu lượt tìm kiếm [25] Năm 2006 đánh dấu bước ngoặtmới cho hệ thống mạng xã hội Facebook trực tuyến cho phép người dùng tạo ranhững công cụ mới cho cá nhân mình, cũng như các thành viên kết nối khác.Hiện nay Facebook có tốc độ phát triển chóng mặt, với số lượng người dùngkhoảng 600 triệu Theo khảo sát vừa được công bố tại Mỹ, Facebook nói riêng
và mạng xã hội nói chung chính là điểm đến tiêu tốn nhiều thời gian nhất củangười dùng
Hiện nay, trên thế giới có hàng trăm mạng xã hội khác nhau mà mọi lứatuổi có thể tham gia, như mạng Myspace và Facebook nổi tiếng Ở Bắc Mỹ vàTây Âu, Orkut và Hi5 tại Nam Mỹ, Friendster tại Châu Á và các đảo quốcThái Bình Dương, Bebo tại Anh Quốc, CyWorld tại Hàn Quốc, Mixi tại NhậtBản và Zing Me tại Việt Nam [26]
Từ góc độ kinh tế, mạng xã hội là một phương tiện để các nhà sản xuất,
Trang 18kinh doanh quảng cáo sản phẩm, xây dựng mạng lưới người tiêu dùng, đánhgiá và điều chỉnh thị thường…
Vai trò và những ảnh hưởng tích cực của mạng xã hội đã được chứngminh bằng số lượng người dùng là điều không thể phủ nhận Tuy nhiên, mạng
xã hội cũng có những mặt trái của nó Thay vì đến với nhau ngoài đời thực đểthăm hỏi, chuyện trò thì giới trẻ chỉ suốt ngày dán mắt vào màn hình máy tính
để trao đổi, “vui chơi” Như vậy, các kỹ năng sống, kỹ năng xử lý tình huốngcủa họ dần dần bị mất đi và thay thế bằng các kỹ năng của xã hội ảo Cónhững trường hợp trở nên “nghiện” mạng xã hội, biểu hiện ở việc nếu khôngonline họ có thể bị rơi vào trạng thái nôn nao, khó chịu, buồn bực… Mạng xãhội nhanh chóng tạo hiệu ứng xã hội bằng cách truyền tải những thông tin,hình ảnh cho hàng ngàn, hàng triệu thành viên khác về những chuyện xấu như
nữ sinh cởi áo giữa lớp học, cấu xé nhau nơi công cộng, “lộ hàng” Điều nàygây nên hiện tượng bắt chước, lây lan trong xã hội, ảnh hưởng đến lối sốngcủa giới trẻ
Nhiều nhà khoa học hàng đầu của Anh cảnh báo rằng các trang webcộng đồng đang gây nên nhiều thay đổi tiêu cực đối với não của trẻ em tại xứ
sở sương mù Susan Greenfield, một chuyên gia thần kinh nổi tiếng của Anh,khẳng định Facebook, Twitter và Bebo khiến trẻ em trở nên ích kỷ hơn, đồngthời làm giảm khả năng tập trung và làm tăng tính tự mãn BaronessGreenfield, một nhà thần kinh học của Đại Viện Hoàng gia Anh, cho rằng,việc tiếp xúc liên tục với mạng xã hội sẽ đảo ngược mọi hoạt động của não:
“Các mạng xã hội, trò chơi điện tử bạo lực, chương trình truyền hình sẽ làm chậm tốc độ phát triển của não trẻ, vì chúng rất dễ bị thu hút bởi âm thanh và ánh sáng mạnh” Baroness cũng khẳng định việc việc chơi game, chat và
tham gia mạng xã hội có thể khiến cả một thế hệ mất đi khả năng tập trung trí
óc: “Tôi luôn sợ rằng một ngày nào đó, cách giao tiếp truyền thống sẽ bị thay
Trang 19thế bởi những hộp thoại trên màn hình máy tính”, bà tâm sự [29].
Nhiều nhà tâm lý cũng cho rằng công nghệ số đang thay đổi cách tưduy của con người Họ chỉ ra rằng học sinh ngày nay không cần phải lập dàn
ý trước khi viết bài luận vì sự phổ biến của các chương trình xử lý văn bản
trên mạng Sue Palmer, tác giả của cuốn tiếng Toxic Childhood, phát biểu:
“Sự phát triển trí óc của trẻ em ngày nay đang bị cản trở vì chúng không tham gia vào những hoạt động mà loài người đã thực hiện từ hàng nghìn năm nay Tôi không phản đối việc cho trẻ tiếp cận với công nghệ số và máy tính, nhưng trước khi tham gia vào xã hội ảo, chúng cần phải biết cách tạo mối quan hệ với người thực” Trong một cuốn tên Alone Together vừa xuất bản
mới đây, tiến sĩ Turkle đã kêu gọi người dân nên bớt thời gian dành cho cáctrang mạng xã hội như Twitter hay Facebook Thay vào đó, chúng ta nên tăngcường các hoạt động giao tiếp trong xã hội thực [30]
Không thể phủ nhận rằng các mạng xã hội như Facebook, Twitter rất
dễ gây nghiện và một nghiên cứu mới đây chỉ ra rằng việc sử dụng mạng xãhội đang ngày càng trở nên phổ biến và dễ gây nghiện hơn cả việc dùng rượuhay hút thuốc (Nghiên cứu được thực hiện bởi trường Đại học Chicago BoothSchool of Business, với 205 tình nguyện viên tham gia cung cấp số liệu)[31]
Theo một khảo sát gần đây nhất của WeAreSocial, một tổ chức có trụ
sở chính ở Anh nghiên cứu độc lập về truyền thông xã hội toàn cầu cho biết:
“Trong số 30.8 triệu người sử dụng Internet ở Việt Nam có trên 8.5 triệungười dùng Facebook và đây là mạng xã hội phổ biến nhất ở Việt Nam cuốinăm 2012” Số người dùng Facebook ở Việt Nam tăng thêm 500.000 chỉtrong 2 tuần, 28% người sử dụng Internet ở Việt Nam có tài khoản Facebook.Trung bình ở Việt Nam cứ mỗi ba giây lại có người đăng kí dịch vụ facebook.Chỉ một năm trước đây có khoảng 2.9 triệu người sử dụng facebook, nhưnghiện nay con số này đã tăng lên trên 8.5 triệu người- tăng gần 200%
Trang 20Facebook được sử dụng mọi lúc mọi nơi, tạo ra sức cuốn hút ghê gớm và tốc
độ lan truyền mạnh mẽ đặc biệt là trong giới trẻ
1.1.2.2 Các công trình nghiên cứu về mạng xã hội ở Việt Nam
Nếu như giai đoạn 2005- 2008 đa số các mạng xã hội chỉ cung cấp nộidung thông tin đơn giản dưới dạng blog và hình ảnh, với đại diện tiêu biểu làYahoo 360, thì đến 2009, mô hình mạng xã hội thế hệ thứ ba mới bắt đầubước vào Việt Nam với đại diện “nội địa” tiêu biểu là Zing Me Mạng xã hộithế hệ mới của người Việt Nam đã nhanh chóng chiếm được sự ưa chuộngcủa giới trẻ Việt Nam và phát triển bùng nổ về số lượng người dùng cũng nhưthời lượng sử dụng
Theo một thống kê toàn cầu của Google công bố tháng 8/2010, mạng
xã hội lớn nhất ở Zingme của công ty VNG (Tập đoàn Vinagame), nơi phần
đông người sử dụng là những thanh thiếu niên từ độ tuổi 15 – 22 [32] Với
thế hệ này, internet đã trở thành một phần không thể thiếu trong cuộc sốnghàng ngày của họ Học hành, giao tiếp, đọc thông tin… tất cả đều quainternet Đây là thế hệ không ngại chia sẻ trên internet - mức độ thông tin
mà họ không ngại ngần bày tỏ qua internet thật là đáng ngạc nhiên đối vớithế hệ già hơn Như nhận xét của tạp chí Time trong bài viết về nhân vật của
năm: “Ý thức về bản thân của chúng ta thay đổi nhiều hơn, trong khi ý thức
về sự riêng tư mở rộng hơn Những gì đã từng được coi là thầm kín thì nay được chia sẻ với hàng triệu người chỉ bằng một cú nhấp chuột” [33].
Theo ông Effendy Ibrahim, giám đốc kiêm cố vấn Luật về An toànInternet của Symantec Châu Á: “Chúng ta đang cho đi một cách hào phóngnhững thông tin mà tin tặc có thể lợi dụng để tấn công chính chúng ta” Chỉbằng những thông tin công khai có được, tin tặc có thể dễ dàng nắm được sởthích chiếm được niềm tin của người dùng Chúng có thể dễ dàng truy cập vàtấn công trang profile để rồi từ đây mở rộng vùng tấn công sang toàn bộ bạn
Trang 21bè trong Frendlist [34].
Tại Việt Nam, Zing Me có 6,1 triệu người sử dụng chiếm xấp xỉ 20 %tổng số người dùng Internet Việt Nam; Yume.Vn có 2,9 triệu người dùng;Facebook có 2,6 triệu người dùng Hiện nay, cộng đồng mạng ngày càng thuhút đông đảo học sinh, sinh viên, doanh nhân, doanh nghiệp Theo ước tínhcủa VNG thì đến năm 2014 tỉ lệ sử dụng mạng xã hội của người Việt Nam cóthể lên tới 50% [35]
Giới trẻ Việt Nam hiện nay năng động và thành thạo với công nghệthông tin Việc tham gia vào các mạng xã hội của giới trẻ như là một nhu cầutất yếu Tuy nhiên tính kết nối toàn cầu của mạng xã hội Việt Nam còn thấp.Các mạng xã hội riêng của Việt Nam như Tamtay.vn; Truongxua.vn;Banbe.net hay Zing me cũng ít người dùng dù giao diện dễ sử dụng, có cácchức năng thuận lợi cho việc tìm lại bạn học cũ ở mọi miền đất nước, giaolưu, chia sẻ tâm tình Theo khảo sát của tổ chức Cimigo Việt Nam, số ngườidùng mạng xã hội tính tới cuối năm 2010 tại Việt Nam đã đạt gần 10 triệu
người [34] Khảo sát này chưa đi sâu vào thói quen và hành vi lướt mạng xã
hội của người dùng Việt, nhưng chắc chắn chân dung ảo của đại đa số ngườidùng không hề mờ nhạt chút nào, thậm chí là rất chi tiết từ tên tuổi, nơi làmviệc, địa chỉ, ngày sinh cho đến ảnh chân dung, tình trạng hôn nhân, concái tất cả đều được hiển thị công khai trên trang profile
Với rất nhiều người trẻ tuổi đang sử dụng mạng xã hội, thông tin về họrất dễ dàng tìm kiếm Facebook góp phần rất lớn khiến cho sự nhận dạng trênmạng xã hội của họ là con người thực, chứ không phải là một nhân vật vôdanh núp bóng đằng sau một cái tên ảo nữa Mạng xã hội cung cấp thông tinchi tiết về cá nhân từ các mối quan hệ xã hội, bạn bè họ, đến sở thích, quanđiểm sống của họ và đến cả thói quen ăn uống mua sắm của họ nữa Ở ViệtNam rất nhiều người “add” bạn bè ồ ạt và công khai hóa mọi thông tin “Với
Trang 22đa số những người trẻ, bảo vệ sự riêng tư không phải là ưu tiên hàng đầu củahọ” Ông Nguyễn Bảo Hoàng, giám đốc điều hành quỹ đầu tư mạo hiểm IDGViệt Nam nhận xét “Họ vẫn đang ở độ tuổi loay hoay xác lập bản thân mình
và có nhu cầu thể hiện khẳng định mình” [33]
Hiện nay, không ít thanh niên Việt Nam mắc chứng “nghiện” facebook
Họ lang thang trên facebook để đọc và bình luận cho hết thì giờ rảnh rỗi vàdùng blog như một góc riêng để viết nhật kí để đọc của bạn bè và chia sẻ cùngnhau Tất cả những điều này đáng được nghiên cứu
* Các đề tài nghiên cứu liên quan
Mạng xã hội là một lĩnh vực tương đối mới mẻ, đo đó những công trìnhnghiên cứu về lĩnh vực này chưa nhiều Trong đề tài này, tác giả tổng hợpđược một số báo cáo công trình nghiên cứu sau:
- Tác giả Trần Hữu Luyến với đề tài: “Mạng xã hội đối với thanh niên Việt Nam- Thực trạng và giải pháp”.Mã số VI 1.1- 2011.04 (
04/2012/V/HĐXH) Đề tài nghiên cứu thực trạng và giải pháp sử dụng mạng xãhội của thanh niên Việt Nam hiện nay Đề tài đang được triển khai chưa cónghiệm thu kết quả
- Xem xét những tác động của internet đến hoạt động học tập của sinhviên, Nguyễn Quý Thanh cùng nhóm tác giả Nguyễn Vân Anh, Nguyễn
Khánh Hòa, Nguyễn An Ni nghiên cứu đề tài “Mối quan hệ của việc sử dụng internet và hoạt động học tập của sinh viên” Mã số Q.CL.05.01[13] Đề tài đã
tiến hành khảo sát 640 sinh viên của 10 trường đại học, trong đó 5 trường ở
Hà Nội và 5 trường ở Thành phố Hồ Chí Minh
Đề tài đã đưa ra những kết quả chính như: Mối liên hệ giữa hành vi họctập chủ động tích cực của sinh viên với việc sử dụng internet đó là, internet chỉ
có liên hệ tới hành vi lên thư việc đọc tài liệu theo chiều hướng tích cực, tức lànhững người càng truy cập càng nhiều thì càng chăm lên thư viện.Về dạng
Trang 23hành vi phản học tập có mối liên hệ với việc truy cập Internet ở khía cạnh
khác Có một nghịch lý là tần xuất truy cập Internet càng cao thì tỷ lệ nghỉ họclại càng giảm Sinh viên sử dụng mạng với mục đích giao tiếp nói chuyện riêngtrong lớp nhiều hơn Sinh viên truy cập Internet hàng ngày làm việc trái giờchiếm tỷ lệ lớn nhất nhưng ở mức độ thường xuyên thì những người không baogiờ truy cập vi phạm nhiều hơn Đặc biệt, những người sử dụng Internet phục
vụ học tập ít có hành vi giờ này học bài môn khác so với những người truy cậpmạng không với mục đích đó Tần suất truy cập Internet cũng liên hệ tới hành
vi ngủ, chơi cờ hoặc đánh bài trong giờ học Những người truy cập mạng hàngngày vi phạm nhiều nhất nhưng nếu sử dụng ở mức độ trung bình thì tỷ lệ nàythấp hơn so với những người không truy cập Internet
Trên cơ sở những kết quả nghiên cứu, đề tài đi đến kết luận Internet làmột công cụ hữu hiệu bổ trợ cho quá trình giảng dạy- học tập của sinh viên.Tuy nhiên, cho dù nó đã tạo ra những sự thay đổi nhất định trong cách họccủa sinh viên, xét về cơ bản mức độ ảnh hưởng này không sự lớn như kìvọng Việc phổ cập và tạo điều kiện cho sinh viên có thể truy cập vào mạnginternet phục vụ cho việc học là cần thiết, nhưng đi kèm nó phải là việc thayđổi một cách căn bản quá trình dạy Vì nếu không, sinh viên cũng chẳng cầnchủ động hơn, không cần có thêm những thông tin từ internet thì họ vẫn cókết quả cao Nhóm tác giả cũng khẳng định rằng, điểm bất hợp lý này cầnđược giải quyết đồng bộ từ phía giảng viên, sinh viên cũng như những nhàquản lý giáo dục
- Đề tài nghiên cứu “Xu hướng sử dụng Internet ở Việt Nam” do tập
đoàn thông tin thị trường toàn cầu thực hiện tháng 12 năm 2008 Cuộc nghiêncứu được khảo sát trên 1200 người sử dụng Internet tại 4 thành phố Hà Nội,TPHCM, Đà Nẵng và Cần Thơ bằng phương pháp phỏng vấn trực tiếp Nghiêncứu mang tính chất khảo sát và chỉ dừng lại ở mục đích nhằm cung cấp thông
Trang 24tin cho các nhà tiếp thị và truyền thông những thông tin về thói quen sử dụngInternet của người Việt Nam, từ đó hoạch định các chiến lược Maketing trênInternet phù hợp hơn với người Việt Nam.
Kết quả nghiên cứu chuyên sâu qua cuộc nghiên cứu về xu hướng sửdụng Internet tại các thành phố lớn ở Việt Nam cho thấy, một tầm nhìn tổngquát về các hoạt động trực tuyến của người sử dụng bao gồm thói quen sửdụng các phương tiện truyền thông liên kết, lối sống tâm lý của người sử dụngInternet và việc nghiên cứu thương hiệu mà họ quan tâm và ưa chuộng Quakết quả nghiên cứu cho thấy: Thời gian bình quân sử dụng Internet mỗi ngày
đã tăng gần gấp đôi, từ 22 phút năm 2006 lên 43 phút năm 2008 Chi phí bìnhquân cho việc truy cập Internet (bao gồm phí thuê bao) là 174.000đồng/tháng Xu hướng truy cập Internet tại nhà (66%) đã vượt trội hơn so vớiviệc ra quán café Internet (53%) Tuy nhiên, lứa tuổi thanh thiếu niên lại haytruy cập Internet ở các quán café Internet hơn Cập nhật thông tin và sử dụngcông cụ tìm kiếm là các hoạt động online phổ biến 82% số người được hỏi sửdụng các công cụ tìm kiếm và gần 90% trong số họ đọc tin tức trên Internet.Hơn 95% người sử dụng Internet ở Việt Nam dùng các dịch vụ Yahoo!Messenger và Email [36]
- “Thực trạng sử dụng Internet ở thanh thiếu niên Việt Nam”, 2004 trên
trang web chungta.com Bài viết sử dụng phương pháp quan sát và phỏngvấn một số đối tượng là thanh, thiếu niên và một vài giáo viên Kết quả chothấy được Internet có vẻ như đã trở thành một phương tiện rất quen thuộc đốivới đông đảo thanh thiếu niên nhất là ở các thành phố lớn Bài viết chỉ rarằng: đa số khách hàng ở các quán café Internet là thanh thiếu niên với mụcđích vào Internet để chat (tán gẫu) và tình trạng truy cập Internet một cách tựphát mà không được ai hướng dẫn trước ngay cả ở nhà và trong trường học từ
đó sẽ dẫn đến tình trạng “lợi bất cập hại” Bài viết cũng đưa ra được sự cần
Trang 25thiết có những kế hoạch đào tạo định hướng sử dụng máy tính và Internet mộtcách cơ bản và rộng rãi cho học sinh, sinh viên.
Tác giả Nguyễn Quý Thanh với bài viết “Internet và định hướng giá trị của sinh viên về tình dục trước hôn nhân” [12] Bài viết được rút ra từ cuộc
nghiên cứu thực nghiệm khảo sát trên 640 sinh viên trên quy mô tại 5 trườngđại học ở Hà Nội và 5 trường đại học ở TP.HCM Từ kết quả nghiên cứu củamình, Nguyễn Quý Thanh đã đưa ra mô thức sử dụng Internet phổ biến nhấtcủa sinh viên Việt Nam đó là: Sử dụng cho mục đích Chat (66.3%), còn việctìm kiếm thông tin học tập và đọc báo, truyện tranh trên mạng (65.6%) Từphân tích trên có thể dễ dàng nhận thấy rằng sinh viên lên mạng tìm kiếmthông tin cho nhu cầu giải trí nhiều hơn là để thu thập thông tin cho việc họctập, thu thập kiến thức Qua bài viết, tác giả nhấn mạnh đến việc sử dụngInternet thường xuyên có ảnh hưởng đến định hướng giá trị của sinh viên.Đồng thời cũng đưa ra nhận định về số lượng các nghiên cứu về tác động củaInternet đối với lối sống sinh viên là còn nhiều hạn chế và chưa nhiều
- Tác giả Phạm Hồng Tung có bài nghiên cứu về “Văn hóa và lối sống của thanh niên Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế”[16] Trong khuôn khổ bài nghiên cứu này, tác giả không đi sâu phân tích
và trình bày kỹ về những vấn đề lý thuyết và cách tiếp cận đối với các đốitượng nghiên cứu phức tạp là thanh niên, văn hóa thanh niên và lối sống thanhniên Tuy nhiên, để bước đầu xây dựng những nguyên tắc cho cách tiếp cậnđối với chủ đề chính và góp phần nhận diện những xu hướng biến đổi của vănhóa và lối sống của thanh niên Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa và hộinhập quốc tế hiện nay, tác giả đã đề cập tới một số khái niệm công cụ và khíacạnh phương pháp luận của các vấn đề nghiên cứu Trên cơ sở của các cáchtiếp cận, tác giả trình bày cho phép nhận diện và đánh giá xu hướng và mức
độ biến đổi của lối sống của thanh niên Việt Nam trong bối cảnh đẩy nhanh
Trang 26công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước chủ động hội nhập quốc tế.
- Tác giả Nguyễn Bích với bài viết “Internet và những tác động làm thay đổi tại Việt Nam” Tác giả nhận định rằng, một trong những dịch vụ hàng
đầu của thông tin đại chúng là sự xuất hiện của Internet Nó là một phươngtiện không thể thiếu của nhân loại hiện nay, một dịch vụ nhanh gọn, tiện ích,một hệ thống thông tin toàn cầu có thể được truy cập cộng đồng Chính vìnhững ưu thế đó, Internet đã và đang thâm nhập vào mọi lĩnh vực từ kinh tế,chính trị, văn hóa, xã hội và hoạt động sống của con người thuộc mọi tầng lớptrong xã hội
Qua tổng quan các tài liệu trên, tác giả đề tài nhận thấy Internet nói chung
và mạng xã hội nói riêng là một sản phẩm công nghệ mới đồng thời dưới góc độtâm lý học, nó là một hình thức mang nhiều đặc trưng mới làm phong phú chocuộc sống của con người Tuy nhiên, với nhiều chức năng vừa mang tính tíchcực vừa mang tính tiêu cực, mạng xã hội đã và đang là mối quan tâm cũng như
đã gây nhiều lo ngại cho các nhà quản lý và nhiều tổ chức liên quan, trước nhucầu hiểu biết ngày càng cao về loại hình phương tiện truyền thông mới mẻ nàycủa giới trẻ Qua đó, tác giả luận văn cũng nhận thấy được sự bỏ ngõ đối với lĩnhvực quan trọng này dưới góc độ khoa học xã hội
Về phương pháp nghiên cứu trong các tài liệu trên, các tác giả sử dụngphương pháp và công cụ xã hội học là chủ yếu, tùy thuộc vào cách tiếp cận
mà người nghiên cứu đưa ra Một số nhà nghiên cứu sử dụng phương phápđịnh lượng với công cụ nghiên cứu là bảng hỏi Một số tác giả khác lại sửdụng phương pháp nghiên cứu theo kiểu định tính với công cụ là phỏng vấnsâu, quan sát và phân tích nội dung… Thấy được những lợi thế cũng nhưnhững nhược điểm trong từng phương pháp nghiên cứu trên, chúng tôi đồng ývới phương pháp nghiên cứu là cần thiết phải kết hợp cả hai phương phápnghiên cứu định lượng và định tính trong nghiên cứu của mình để có thể thu
Trang 27được kết quả khách quan, phong phú hơn và sẽ được thể hiện trong phần mô
tả phương pháp nghiên cứu ở phần sau
1.2 Một số vấn đề lý luận cơ bản
1.2.1 Lý luận về mạng xã hội
1.2.1.1 Khái niệm mạng xã hội
Mạng xã hội là cụm từ rất quen thuộc trong thế giới của những người
sử dụng internet tại Việt Nam hiện nay Nhưng để định nghĩa mạng xã hội
là gì, tính năng và những ưu điểm của mạng xã hội thì hiện nay có rất nhiềuquan điểm khác nhau
Theo nhà xã hội học L Garton, nhà nghiên cứu chiến lược truờng đại họcToronto thì “khi một mạng máy tính kết nối mọi người hoặc cá nhân tổ chức lạivới nhau thì đó chính là mạng xã hội” Theo cách định nghĩa này, mạng xã hội làmột tập hợp người hoặc các tổ chức, các thực thể xã hội khác được kết nối vớinhau thông qua mạng máy tính Theo các hiểu này, mạng xã hội đơn giản là hệthống những mối quan hệ con người với con người, trên bình diện đó bản thânFacebook hay Twitter không phải là mạng xã hội mà chỉ là những dịch vụ trựctuyến được tạo lập để xây dựng và phản ánh mạng xã hội
Khi nói đến mạng xã hội, không thể không nhắc tới khái niệm MXHcủa ông Vũ Kiêm Văn, giám đốc công ty truyền thông VSMC: MXH như một
đồ thị trong đó các nút có thể là một cá thể, tổ chức, còn các liên kết là môphỏng các quan hệ trong xã hội thực Quan niệm này khẳng định mạng xã hộikhác rất nhiều so với blog, đó là một khái niệm rộng lớn hơn trong khi blogchỉ đơn thuần là một dịch vụ, một loại hình giao tiếp trong mạng xã hội Do
đó, sẽ có MXH được xây dựng trên nền tảng chính là blog, nhưng cũng cónhững MXH không có dịch vụ này
Như vậy, qua việc phân tích các khái niệm trên trong khuôn khổ đề tài
này chúng tôi định nghĩa: Mạng xã hội là một xã hội ảo với hai thành tố
Trang 28chính tạo nên đó là các thành viên và liên kết giữa các thành viên đó Mạng
xã hội là dịch vụ internet cho phép kết nối các thành viên cùng sở thích không phân biệt không gian và thời gian.
Mạng xã hội có những tính năng như chat, e-mail, phim ảnh, voicechat, chia sẻ file, blog và xã luận Mạng đổi mới hoàn toàn cách cư dân mạngliên kết với nhau và trở thành một phần tất yếu của mỗi ngày cho hàng trămtriệu thành viên khắp thế giới Các dịch vụ này có nhiều phương cách để cácthành viên tìm kiếm bạn bè, đối tác: dựa theo group (ví dụ như tên trườnghoặc tên thành phố), dựa trên thông tin cá nhân như (địa chỉ e-mail hoặcscreen name) hoặc dựa trên sở thích cá nhân (như thể thao, phim ảnh, sáchbáo hoặc ca nhạc), lĩnh vực quan tâm như: kinh doanh, mua bán
Hiện nay thế giới có hàng trăm mạng xã hội khác nhau, với MySpace
và Facebook nổi tiếng nhất trong thị trường Bắc Mỹ và Tây Âu; Orkut và Hi5tại Nam Mỹ; Friendster tại Châu Á và các đảo quốc Thái Bình Dương Mạng
xã hội khác gặt hái được thành công đáng kể theo vùng miền như Bebo tạiAnh quốc, CyWorld tại Hàn Quốc, Mixi tại Nhật Bản và Việt Nam xuất hiệnrất nhiều các mạng xã hội như Facebook, Zing Me, YuMe, Tamtay
1.2.1.2 Các đặc điểm của mạng xã hội
Hiện nay, sự phát triển của mạng xã hội là điều tất yếu vì các nguyên nhân,các nguyên nhân đó cũng chính là thể hiện các đặc điểm của mạng xã hội
Đầu tiên là tính mới của dịch vụ So với tuổi đời của các loại hình dịch
vụ trực tuyến khác thì mạng xã hội còn khá trẻ Xu hướng thích khám phá cáimới chính là nguồn động lực để người sử dụng mạng xã hội nhất là giới trẻnồng nhiệt đón nhận các mạng xã hội
Kế tiếp, ưu điểm của mạng xã hội so với các phương tiện truyền thôngtrước đây là độ tương tác, tính trò chuyện và kết nối cao hơn hẳn
Nguyên nhân thứ ba là mạng xã hội đáp ứng được nhu cầu đa dạng của
Trang 29con người một cách dễ dàng và nhanh chóng Con người sau những nhu cầuthiết yếu để tồn tại (ăn, uống) thì các nhu cầu về tinh thần như kết nối với cộngđồng, thể hiện khả năng liên lạc và cập nhật thông tin trở nên cực kì quan trọngtrong thời đại ngày nay.
Đặc điểm thứ tư là khả năng lan truyền không biên giới dựa trên nhữngmối quan hệ có sẵn (bắc cầu) Chính vì vậy, không có gì ngạc nhiên khi cácmạng xã hội phát triển một cách nhanh chóng về mặt số lượng người dùng
Với các tính năng trên, mạng xã hội đã duy trì mối quan hệ sẵn có vàphát triển thêm những mối quan hệ xã hội mới, dễ dàng kết bạn với người lạbất cứ nơi đâu và dễ dàng quản lý nhóm bạn bè Mạng xã hội đã “đánhtrúng” nhu cầu của nhiều người nhất là giới trẻ nên mạng xã hội không ngừngphát triển
Với các đặc điểm trên thì mạng xã hội có những vai trò rất tích cực
trong đời sống xã hội như:
- Giúp giao lưu, trao đổi “communication” giữa các thành viên dễ dàng.Giao lưu giao tiếp là vai trò cơ bản, truyền thống của các mạng xã hội Tươnglai việc giao tiếp sẽ ngày càng dễ dàng hơn không chỉ giới hạn bằng nhữngvăn bản, biểu tượng hay hình ảnh
- Mạng xã hội là một công cụ giải trí hữu hiệu
- Tích hợp và hỗ trợ phát triển thương mại điện tử Xu hướng tích hợpthương mại điện tử vào các trang mạng xã hội cũng là tất yếu và ngày càng nở
rộ Thương mại điện tử ngày càng phát triển và điều tất yếu là sự hợp tác giữanhững doanh nghiệp thương mại điện tử với mạng xã hội để tiếp cận dễ dàngmột lượng khách hàng khổng lồ và ổn định
- Tích hợp quảng bá thương hiệu, sản phẩm, công cụ quảng bá hữu hiệucủa doanh nghiệp trong thời đại internet Ngày nay, việc rao vặt, quảng bá sảnphẩm trên internet không còn là điều mới mẻ Các trang rao vặt mọc lên như
Trang 30nấm sau mưa và xu hướng chuyển dần một thị phần không nhỏ từ các trangrao vặt mua bán sang mạng xã hội đang xảy ra mạnh mẽ.
- Một số quốc gia sử dụng mạng xã hội như công cụ chính trị, kinh tế
- Mạng xã hội là công cụ quảng bá văn hóa (quốc gia, tổ chức, doanhnghiệp ) Hầu hết các quốc gia đang phát triển đều cố gắng xây dựng chomình một mạng xã hội với đặc điểm riêng của quốc gia mình
1.2.1.3 Phân loại mạng xã hội
Facebook là MXH có tính năng ưu việt, có độ tương tác cao, phổ biếnnhất - thâm nhập vào VN năm 2009, theo thống kê của We Are Social tháng
3 2013, ở Việt Nam đạt 12 triệu thành viên Mạng ZingMe của VN cũngnắm trong tay khoảng 4 triệu tài khoản, gần như thống lĩnh những thông tin
về giải trí, game, showbiz dành cho giới trẻ
Nhà nghiên cứu Eric K Clemons thuộc đại học Pennsylvania, Mỹ dựatrên sự tương đồng giữa mạng xã hội trong thực tế cuộc sống và mạng xã hộionline, như vậy mạng xã hội có thể được định nghĩa như là tập hợp những cánhân có cùng chung những mối quan tâm, cùng chia sẻ những giá trị tập hợplại để trao đổi thông tin, kết bạn hỗ trợ lẫn nhau và cùng là để giải trí, bộc lộcái tôi của mình Clemons phân chia mạng xã hội làm 6 loại căn bản tùy theomục đích sử dụng của người dùng:
- Để giải trí: Điển hình có Second Life của Mỹ, hoặc Vinagame củaViệt Nam và Garena của Singapore
- Để kết nối: Nổi bật nhất là Facebook, MySpace của Mỹ hay YuMe, Zing
Me của Việt Nam Có thể nói đây là mạng phổ biến nhất của mạng xã hội
- Để kết nối nhằm mục đích chia sẻ thông tin: Đây là những cộng đồngmạng có cùng mối quan tâm đến một vấn đề nào đó Ví dụ Yelp.com của Mỹ(và website tương tự yup.vn và thodia.vn của Việt Nam) là nơi cộng đồngchia sẻ thông tin đánh giá về những nơi mà cư dân cộng đồng quan tâm và
Trang 31thường lui tới (nhà hàng, siêu thị ) Hoặc tripadviser.com là cộng đồng dànhcho những người thích du lịch
- Để kết nối nhằm mục đích chia sẻ thông tin dành cho giới chuyên gia: điểnhình là Linkedln.com của Mỹ, Xing.com của Đức, CyVee.com của Việt Nam
- Để tìm kiếm sự hỗ trợ và hỗ trợ cộng đồng: thường nhắm đến nhữngnhóm đối tượng cụ thể, ví dụ webtretho.com, otosaigon.com
- Để giải trí, tạo và quản lý nội dung: không thể không nhắc đếnYouTube, Flickr, WordPress hay vnphoto.net của Việt Nam
Việc phân loại các mạng xã hội qua đó hiểu được mục đích của ngườidùng khi “ tìm đến” các mạng này giúp cho các nhà hoạch địch chiến lược tìm
ra những phương thức phù hợp nhằm tạo doanh thu từ những cộng đồng này
1.2.1.4 Những ảnh hưởng của mạng xã hội đến người sử dụng
1.2.1.4.2 Ảnh hưởng tiêu cực
Không thể phủ nhận vai trò “người bạn ảo” chia sẻ những vui buồntrong cuộc sống của các trang mạng xã hội thịnh hành với giới trẻ Việt Namhiện nay như Facebook, Yume Zing me Người trẻ đến với mạng xã hội xuấtphát từ lối sống nhanh, khi không gian chia sẻ đời thực bị thu hẹp Bên cạnh
đó, áp lực cuộc sống hiện đại, nhu cầu chăm chút cho hình ảnh bản thân ngày
Trang 32càng tăng Những tiện ích không thể chối cãi của mạng xã hội như dễ dàngkết bạn, tìm kiếm, quản lý nhóm, xây dựng quan hệ, sự tin tưởng từ cộngđồng là “mật ngọt” dẫn dụ người trẻ dễ sa vào cơn nghiện khó dứt Mạng xãhội giống như một quyển nhật kí điện tử ghi lại những ý nghĩ, cảm xúc bảnthân nhưng lại có dạng mở, mọi người có thể cùng đọc, chia sẻ, góp ý Để làmmới cuốn nhật kí này, người sử dụng phải liên tục cập nhật thông tin, chămchỉ đăng lên những hình ảnh đẹp Đối với những con “nghiện mạng xã hội”mỗi sáng thức dậy việc đầu tiên phải làm là check trang cá nhân của mình, trảlời những comment rồi viết vài lời cảm xúc lên đó rồi mới an tâm bắt đầucông việc của mình Thậm chí nhiều trường hợp các bạn trẻ sa đà một cáchquá trớn khi sáng, trưa, chiều tối đều vào các trang mạng xã hội chỉ với mụcđích duy nhất là “giết thời gian” Chính vì thế, ảnh hưởng tiêu cực đầu tiêncủa mạng xã hội cần nói đến là tốn thời gian Đối với nhiều bạn trẻ nhất làgiới sinh viên hiện nay mạng xã hội là niềm đam mê tìm hiểu xã hội, nhưngkhi lạm dụng thái quá sự đam mê ấy lại trở thành tiêu cực, ảnh hưởng đến họctập và cuộc sống.
Khó quản lý thông tin của đối tác mình tiếp cận: MXH mang lại nhiều
lợi ích nhưng cũng chứa đựng tiềm tàng những nguy cơ Đơn cử đó là nguy
cơ về an ninh thông tin: Một khi chúng ta đã tham gia vào mạng xã hội, cácthông tin cá nhân của chúng ta có thể bị khai thác một cách trái phép để nhằmmục đích không lành mạnh mà bản thân chúng ta không hề hay biết
Tiếp đó là sự riêng tư: sự riêng tư có thể bị xâm phạm khi thông tin của
chúng ta bị chia sẻ trên mạng xã hội cho dù chúng ta không hề muốn Đây làkhu vực bạn bè vừa làm quen vừa thể hiện đầy đủ thông tin của một ngườinhư họ tên, giới tính đến địa chỉ, từ trường đại học, trường phổ thông, công ty
và các tổ chức Bất cứ ai trên mạng cũng có thể nhìn thấy Profile của mình(trừ khi chúng ta chú ý đến tính bảo mật thông tin bằng các hình thức khác
Trang 33nhau) Bằng cách gia nhập một mạng, cơ hội gặp những người mà ta biết tănglên rõ rệt, bên cạnh đó chúng ta còn có thể gặp được những người muốn chia
sẻ cùng sở thích giống mình Như vậy, mạng xã hội cung cấp không gianriêng để mọi người được thể hiện mình nhưng lại không đảm bảo về tính bảomật Mọi điều nói về mình bằng hình ảnh hay lời nói đều hiển thị cho cả thếgiới xem Không phải chúng ta lúc nào cũng đủ chín chắn để hiểu hết hậu quảcủa những bài viết mà chúng ta đăng lên
Nguy cơ bị lừa đảo, lợi dụng, bôi xấu: Với nhiều tiện ích, mạng xã hội
đã nhanh chóng truyền tải những thông tin, hình ảnh cho hàng ngàn, hàngtriệu thành viên khác về những chuyện xấu như nữ sinh cởi áo giữa lớp học,
nữ sinh cấu xé nhau nơi công cộng, “lộ hàng” điều mà trước khi có mạng xãhội nó tương đối khó phát tán Vì thế, mạng xã hội đã ảnh hưởng không ít đếnlối sống của giới trẻ
Ảnh hưởng đến sức khỏe: đặc biệt là vấn đề giảm thị lực khi chúng ta
dành cả tiếng đồng hồ, thậm chí vài tiếng để cắm cúi nhìn vào màn hình máytính hoặc điện thoại di động Ngoài ra, với giới trẻ còn là vấn đề cong cộtsống, trì trệ sức khỏe, ảnh hưởng đến nhu cầu ăn uống, sinh hoạt hàng ngày.Nguy cơ cao bị đau dạ dày, mất ngủ, lo âu, trầm cảm
Ảnh hưởng tới tâm lý, tình cảm Rối loạn tâm lý, bao gồm các hành vi
chống đối xã hội, hoang tưởng, sống tiêu cực, uống rượu nhiều, khuynhhướng bạo lực Xa lánh gia đình, coi trọng những mối quan hệ ảo hơn mốiquan hệ thực tế Khi đã quá quen với việc trao đổi thông tin qua tin nhắn, hìnhảnh, bài viết và nút Like trên Facebook, bạn ngày càng phụ thuộc vào mạng
xã hội Điều này khiến cho thời gian dành cho những cuộc gặp gỡ, tán chuyệnngoài đời thực trở nên ít ỏi Chúng thực sự không tốt bởi giao tiếp mặt đốimặt luôn mang đến trải nghiệm, cảm xúc chân thật và thú vị hơn
Theo các chuyên gia tâm lý học, mạng xã hội có ảnh hưởng không nhỏ
Trang 34đến không gian giao tiếp công cộng của giới trẻ Giao tiếp của giới trẻ nóichung, sinh viên nói riêng đang chuyển từ truyền thông liên cá nhân sangtruyền thông đại chúng Thế nên mạng xã hội là tác nhân gây ra tình trạnggiảm giao tiếp trong không gian thực Biểu hiện là giới trẻ giảm giao tiếp mặtđối mặt, giảm tần suất đến và dần cách ly không gian thực.
Bùng nổ căn bệnh “vô cảm”: Đọc những trang nhật kí của giới trẻ trên
các mạng xã hội hay việc thành lập ra các hội nhóm làm thành viên, bình luậnnhững sự kiện diễn ra trong đời sống càng chứng tỏ nhiều lỗ hổng trong nhậnthức và hành vi Ví dụ như các nhóm hội mà nghe tên đã đủ “choáng” như: Hộinhững người ngu mà tỏ ra nguy hiểm, Hội những thằng thích hút thuốc lào, Hộinhững người thích cướp LX để đi chơi với người yêu Một ví dụ điển hình nữa
là vụ án hình sự về Lê Văn Luyện, thủ phạm nhẫn tâm giết cả gia đình chủ tiệmvàng ở Bắc Giang để chiếm một số lượng vàng lớn, gây nên một làn sóng cămphẫn của tất cả mọi người dân Điều đáng nói là ngay sau khi vụ án được sáng
tỏ, trên mạng xã hội xuất hiện không ít những sản phẩm nhảm nhí ăn theo nhậnđược sự đón nhận nồng nhiệt của cộng đồng mạng Nhiều hội, nhóm còn mởriêng một topic cho những người thích Luyện Sự việc nói trên chính là sự ngộđộc của giới trẻ trước câu chuyện về Luyện Đây cũng chính là lời cảnh báo về
sự vô cảm đang ăn mòn tâm hồn một số bạn trẻ Ngoài ra còn hàng loạt sự kiệndiễn ra xung quanh giới trẻ còn đang ngồi trên ghế nhà trường khiến dư luậnhết sức quan tâm Điều này cho thấy giới trẻ (bao gồm cả sinh viên, học sinh) ítnhiều đang bị môi trường sống làm ảnh hưởng trực tiếp và vai trò của truyềnthông mạng xã hội đã và đang tác động nhiều đến lối sống của giới trẻ
Tiếp xúc với những vấn đề không phù hợp như tiếp xúc với các trang
Web đen (web sex), các trang web mang tính kích động bạo lực, các bài viếttruyền bá tư tưởng phản động MXH là ảo, nhưng khả năng chi phối dư luận
xã hội, tầm ảnh hưởng và vai trò của nó rất lớn Nhiều thời điểm, nhiều thông
Trang 35tin trên MXH được công chúng đọc và bàn luận nhiều hơn những thông tinchính thống trên báo chí MXH do vậy cũng là kênh truyền thông để các thếlực thù địch lợi dụng đưa những thông tin mang tính chất chống đối, sai lạc, bịađặt, để nhằm mục đích công kích thể chế chính trị Nhà nước Nên truyền thôngchính thống mà không có kênh giao lưu kết nối với công chúng bạn đọc bằngMXH, thì rất khó nắm bắt kịp thời những thông tin xấu để kịp thời phản bác.
Chứng nghiện thế giới ảo: Không phủ nhận vai trò của mạng xã hội,
nhưng một thực tế là hiện nay đang nổi lên tình trạng giới trẻ phụ thuộc quánhiều vào mạng xã hội, thay vì đến với nhau ngoài đời thực để thăm hỏi, nóichuyện với nhau thì giới trẻ chỉ suốt ngày dán mắt vào màn hình máy tính đểnói chuyện, trao đổi, “vui chơi” trên mạng xã hội Dần dần, họ sẽ mất kĩ năngsống, kĩ năng xử lý tình huống Quá nhiều thứ để giải trí trên mạng khiếnngười dùng từ từ “ nghiện”, không online thì không chịu được Điều này đượcchứng minh khi hiện nay không ít công ty, văn phòng công sở đã có nhữngbiện pháp kĩ thuật chặn và nghiêm cấm vào Facebook trong giờ làm việc
1.2.2 Một số lí luận về an toàn thông tin mạng
1.2.2.1 Khái niệm an toàn thông tin mạng
An toàn thông tin mạng là sự bảo vệ thông tin, hệ thống thông tin trên mạng
tránh bị truy nhập, sử dụng, tiết lộ, gián đoạn, sửa đổi hoặc phá hoại trái phép nhằmbảo đảm tính nguyên vẹn, tính bảo mật và tính khả dụng của thông tin
1.2.2.2 Nguyên tắc bảo đảm an toàn thông tin mạng
- Cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm bảo đảm an toàn thông tinmạng Hoạt động an toàn thông tin mạng của cơ quan, tổ chức, cá nhân phảiđúng quy định của pháp luật, bảo đảm quốc phòng, an ninh quốc gia, bí mậtnhà nước, giữ vững ổn định chính trị, trật tự, an toàn xã hội và thúc đẩy pháttriển kinh tế - xã hội
Trang 36- Tổ chức, cá nhân không được xâm phạm an toàn thông tin mạng của
tổ chức, cá nhân khác
- Việc xử lý sự cố an toàn thông tin mạng phải bảo đảm quyền và lợiích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, không xâm phạm đến đời sống riêng tư, bímật cá nhân, bí mật gia đình của cá nhân, thông tin riêng của tổ chức
- Hoạt động an toàn thông tin mạng phải được thực hiện thường xuyên,liên tục, kịp thời và hiệu quả
1.2.2.3 Các hành vi bị nghiêm cấm
- Ngăn chặn việc truyền tải thông tin trên mạng, can thiệp, truy nhập,gây nguy hại, xóa, thay đổi, sao chép và làm sai lệch thông tin trên mạng tráipháp luật
- Gây ảnh hưởng, cản trở trái pháp luật tới hoạt động bình thường của
hệ thống thông tin hoặc tới khả năng truy nhập hệ thống thông tin của người
sử dụng
- Tấn công, vô hiệu hóa trái pháp luật làm mất tác dụng của biện phápbảo vệ an toàn thông tin mạng của hệ thống thông tin; tấn công, chiếm quyềnđiều khiển, phá hoại hệ thống thông tin
- Phát tán thư rác, phần mềm độc hại, thiết lập hệ thống thông tin giảmạo, lừa đảo
- Thu thập, sử dụng, phát tán, kinh doanh trái pháp luật thông tin cánhân của người khác; lợi dụng sơ hở, điểm yếu của hệ thống thông tin để thuthập, khai thác thông tin cá nhân
- Xâm nhập trái pháp luật bí mật mật mã và thông tin đã mã hóa hợppháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân; tiết lộ thông tin về sản phẩm mật mã dân
sự, thông tin về khách hàng sử dụng hợp pháp sản phẩm mật mã dân sự; sửdụng, kinh doanh các sản phẩm mật mã dân sự không rõ nguồn gốc
1.2.2.4 Bảo vệ thông tin cá nhân
Trang 37a Nguyên tắc bảo vệ thông tin cá nhân trên mạng
- Cá nhân tự bảo vệ thông tin cá nhân của mình và tuân thủ quy địnhcủa pháp luật về cung cấp thông tin cá nhân khi sử dụng dịch vụ trên mạng
- Cơ quan, tổ chức, cá nhân xử lý thông tin cá nhân có trách nhiệm bảođảm an toàn thông tin mạng đối với thông tin do mình xử lý
- Tổ chức, cá nhân xử lý thông tin cá nhân phải xây dựng và công bố côngkhai biện pháp xử lý, bảo vệ thông tin cá nhân của tổ chức, cá nhân mình
- Việc bảo vệ thông tin cá nhân thực hiện theo quy định của Luật này
và quy định khác của pháp luật có liên quan
- Việc xử lý thông tin cá nhân phục vụ mục đích bảo đảm quốc phòng,
an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội hoặc không nhằm mục đích thươngmại được thực hiện theo quy định khác của pháp luật có liên quan
b Thu thập và sử dụng thông tin cá nhân
- Tổ chức, cá nhân xử lý thông tin cá nhân có trách nhiệm sau đây:+ Tiến hành thu thập thông tin cá nhân sau khi có sự đồng ý của chủ thểthông tin cá nhân về phạm vi, mục đích của việc thu thập và sử dụng thông tin đó;
+ Chỉ sử dụng thông tin cá nhân đã thu thập vào mục đích khác mụcđích ban đầu sau khi có sự đồng ý của chủ thể thông tin cá nhân;
+ Không được cung cấp, chia sẻ, phát tán thông tin cá nhân mà mình đãthu thập, tiếp cận, kiểm soát cho bên thứ ba, trừ trường hợp có sự đồng ý của chủthể thông tin cá nhân đó hoặc theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền
- Cơ quan nhà nước chịu trách nhiệm bảo mật, lưu trữ thông tin cá nhân
Trang 38- Chủ thể thông tin cá nhân có quyền yêu cầu tổ chức, cá nhân xử lýthông tin cá nhân cập nhật, sửa đổi, hủy bỏ thông tin cá nhân của mình mà tổchức, cá nhân đó đã thu thập, lưu trữ hoặc ngừng cung cấp thông tin cá nhâncủa mình cho bên thứ ba.
- Ngay khi nhận được yêu cầu của chủ thể thông tin cá nhân về việccập nhật, sửa đổi, hủy bỏ thông tin cá nhân hoặc đề nghị ngừng cung cấpthông tin cá nhân cho bên thứ ba, tổ chức, cá nhân xử lý thông tin cá nhân cótrách nhiệm sau đây:
+ Thực hiện yêu cầu và thông báo cho chủ thể thông tin cá nhân hoặccung cấp cho chủ thể thông tin cá nhân quyền tiếp cận để tự cập nhật, sửa đổi,hủy bỏ thông tin cá nhân của mình;
+ Áp dụng biện pháp phù hợp để bảo vệ thông tin cá nhân; thông báocho chủ thể thông tin cá nhân đó trong trường hợp chưa thực hiện được yêucầu do yếu tố kỹ thuật hoặc yếu tố khác
- Tổ chức, cá nhân xử lý thông tin cá nhân phải hủy bỏ thông tin cánhân đã được lưu trữ khi đã hoàn thành mục đích sử dụng hoặc hết thời hạnlưu trữ và thông báo cho chủ thể thông tin cá nhân biết, trừ trường hợp phápluật có quy định khác
c Bảo đảm an toàn thông tin cá nhân trên mạng
- Tổ chức, cá nhân xử lý thông tin cá nhân phải áp dụng biện phápquản lý, kỹ thuật phù hợp để bảo vệ thông tin cá nhân do mình thu thập,lưu trữ; tuân thủ các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật về bảo đảm an toànthông tin mạng
- Khi xảy ra hoặc có nguy cơ xảy ra sự cố an toàn thông tin mạng, tổchức, cá nhân xử lý thông tin cá nhân cần áp dụng biện pháp khắc phục, ngănchặn trong thời gian sớm nhất
Trang 391.2.2.5 Ngăn chặn xung đột thông tin trên mạng
a Trách nhiệm của tổ chức, cá nhân trong việc ngăn chặn xung đột thông tin trên mạng
- Tổ chức, cá nhân trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình cótrách nhiệm sau đây:
+ Ngăn chặn thông tin phá hoại xuất phát từ hệ thống thông tin củamình; hợp tác xác định nguồn, đẩy lùi, khắc phục hậu quả tấn công mạngđược thực hiện thông qua hệ thống thông tin của tổ chức, cá nhân trong nước
và nước ngoài;
+ Ngăn chặn hành động của tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài
có mục đích phá hoại tính nguyên vẹn của mạng;
+ Loại trừ việc tổ chức thực hiện hoạt động trái pháp luật trên mạng cóảnh hưởng nghiêm trọng đến quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xãhội của tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài
b Ngăn chặn hoạt động sử dụng mạng để khủng bố
Các biện pháp ngăn chặn hoạt động sử dụng mạng để khủng bố gồm:+ Vô hiệu hóa nguồn Internet sử dụng để thực hiện hành vi khủng bố;+ Ngăn chặn việc thiết lập và mở rộng trao đổi thông tin về các tínhiệu, nhân tố, phương pháp và cách sử dụng Internet để thực hiện hành vikhủng bố, về mục tiêu và hoạt động của các tổ chức khủng bố trên mạng;
+Trao đổi kinh nghiệm và thực tiễn kiểm soát các nguồn Internet, tìm
và kiểm soát nội dung của trang tin điện tử có mục đích khủng bố
1.2.3 Lý luận kĩ năng
1.2.3.1 Khái niệm chung về kỹ năng
Trong bất kỳ hoạt động nào, muốn đảm bảo kết quả, con người khôngnhững chỉ cần có tri thức, có ý chí mà phải có kỹ năng, kỹ xảo nhất định.Trong Tâm lý học tồn tại hai quan điểm khác nhau về kỹ năng:
Trang 40Quan niệm thứ nhất: kỹ năng được xem xét nghiêng về mặt kỹ thuật
của thao tác hành động hay hoạt động Đại diện cho quan niệm này đó là cáctác giả như: Ph.N.Gônbolin, V.X.Cudin, V.A.Kruteski, A.G.Kovaliov, TrầnTrọng Thủy,…Các tác giả này cho rằng, muốn thực hiện được một hànhđộng, cá nhân phải có tri thức về hành động đó, tức là phải hiểu được mụcđích, phương thức và các điều kiện để thực hiện nó Vì vậy, nếu ta nắm đượccác tri thức về hành động, thực hiện được nó trong thực tiễn theo các yêu cầukhác nhau, tức là ta đã có kỹ năng hành động Chẳng hạn:
A.G.Kovalov trong cuốn “Tâm lý học cá nhân” cho rằng“Kỹ năng là phương thức thực hiện hành động phù hợp với mục đích và điều kiện của hành động” [13] Theo ông, kết quả hành động phụ thuộc vào nhiều yếu tố,
trong đó quan trọng hơn cả là năng lực của con người chứ không đơn giản là
cứ nắm vững cách thức hành động thì đem lại kết quả tương ứng
Khi bàn về kỹ năng, tác giả Trần Trọng Thủy cũng cho rằng: “Kỹ năng
là mặt kỹ thuật của hành động con người nắm được cách thức hành động tức
là kỹ thuật hành động có kỹ năng” [67].
Quan niệm thứ hai: Kỹ năng được xem xét nghiêng về mặt năng lực
của con người Theo quan niệm này, kỹ năng vừa có tính ổn định, vừa có tínhmềm dẻo, tính linh hoạt, sáng tạo và vừa có tính mục đích Đại diện cho quanđiểm này có các tác giả: N.D.Levitov, V.V.Bogxloxki, K.K.Platonov,G.G.Golubev, A.V.Barabasicoov (1963), Nguyễn Quan Uẩn, Ngô CôngHoàn, Hoàng Anh, Nguyễn Thạc, Trần Quốc Thành…
Nhà Tâm lý học người Nga A.V.Barabasicoov (1963) cho rằng: “Kỹ năng là khả năng sử dụng tri thức và các kỹ xảo của mình một cách có mục đích và sáng tạo trong quá trình của hoạt động thức tiễn Khả năng này là khả năng tự tạo của con người” A.V.Pêtrôvxki cho rằng KN là sự vận dụng